Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

Ván bài lật ngửa - Phần 3 + 4

PHẦN 3

CHƯƠNG 1

Khuôn viên rợp tàn cổ thụ êm ả đến nỗi từ gian phòng lớn – xưa kia, Toàn quyền Đông Pháp và Đại Nam Hoàng đế Bảo Đại vẫn ngự mỗi khi vào Sài Gòn. Tổng thống Ngô Đình Diệm nghe rõ cả tiếng lá rơi bên ngoài. Qua cửa sổ, tổng thống mơ màng nhìn chiếc thảm cỏ sân trước trải rộng một màu xanh dịu dàng. Các chuyên gia quả không uổng công du học: thảm cỏ đã cho tổng thống cảm giác là dinh Độc Lập bồng bềnh giữa một thảo nguyên mênh mông.
Tổng thống thích đi bách bộ vòng quanh dinh, ông vừa làm xong việc đó mà ông muốn mọi người xem như thói quen của một tổng thống – đi bách bộ để suy gẫm quốc gia đại sự. Dưới ánh nắng bình minh, lâu đài quét vôi màu vàng nhạt nổi lên với tất cả phong thái bệ vệ. Tổng thống thầm cảm ơn kiến trúc sư Hermitte, người thiết kế, phó đô đốc De La Grandière, người đặt viên đá đầu tiên, đã lưu lại một công trình thi công vỏn vẹn 19 tháng – từ 23-2-1868 – góp vào vẻ đẹp của “Hòn ngọc Viễn Đông”. Đôi khi ông chợt so sánh dinh Norodom này – mà ông quyết định gọi là dinh Độc Lập – với Viện Cơ mật ẩm ướt nằm trong Hoàng thành Huế, nơi có lúc ông giữ ấn đầu triều kiêm Thượng thơ bộ Lại. Lúc đó, ông chưa kịp đánh giá – đúng ra, ông hơi choáng ngợp, bởi dầu sao Viện Cơ mật vẫn đồ sộ hơn dinh Tuần vũ Bình Thuận và dinh Tuần vũ vẫn đồ sộ hơn chỗ làm việc của viên tri huyện Hải Lăng. Nhưung, thời gian giữ ngôi tể tướng quá ngắn ngủi – chưa được một năm – ông đã phải cay đắng bàn giao cho Phạm Quỳnh, cái gọi là “cuộc cách mạng cung đình” (nhằm đưa số trẻ vào nội các thay cho số già) xì hơi nhanh hơn bánh xe thủng ruột. Lý do thất sủng của ông được hiểu mỗi người một phách. Lúc đầu ông sợ nhưng về sau ông thấy hay hay về cái dư luận cho ông vì “chống Tây”, “chống vua bù nhìn” nên phải ra rìa. Cũng có lúc cái dư luận gán ông là “thân Nhật”, “muốn đem Cường Để về thay Bảo Đại” đe dọa đẩy ông vào khám, song khi Nhật nổ súng ở Lư Cầu Kiều, ông được an ủi ít nhiều và mơ mộng ít nhiều. Còn dư luận cho rằng ông quá trẻ - bấy giờ ông mới 32 tuổi – để đảm đương trọng trách tể tướng, ông thích thú. Nó mơn trớn tính tự phụ của ông. Gia tộc ông đều “Nhất phẩm đại thần” – cha từng là Phụ chính, anh ruột làm Tổng đốc nhưng chưa ai rút ngắn hoạn lộ bằng ông và chưa ai vừa đến tuổi “thành nhân chi mỹ” đã trèo lên ghế cực phẩm như ông. Một dư luận khác, có vẻ thâm thúy hơn, giúp ông tính toán bước đi sau này: những năm 1930, Pháp muốn thực hiện một chính sách phỉnh phờ ở Đông Dương, Phạm Quỳnh là nhà báo làm Thượng thư bộ Học thích hợp hơn ông – quá khứ của ông đánh dấu bằng những vụ sát phạt đẫm máu suốt dải Bình Trị Thiên, sẽ hữu dụng lúc khác. Vả lại, ông thuộc một gia đình đạo Thiên Chúa toàn tòng, khó mà thuận thảo với các đồng liêu hấu hết nếu không theo Khổng cũng là tín đồ đạo Phật.
Mười bảy năm – kể cũng khá dài – ông đứng ngoài lề chính sự. Đôi lúc, ông ao ước nhà vua hồi tâm. Nhưng, nhà vua làm gì có thể nhớ đến ông: vợ của Nguyễn Duy Quang, vợ của các viên quan sẵn sang nhận ơn vũ lộ. Hoàng thượng bận rộn với những chương trình tính hằng đêm… Các người bạn Pháp – họ tiếp cận Toàn quyền, Khâm sứ khuyên ông cứ ẩn nhẫn chờ thời. Về mặt kinh tế, ông chẳng gặp một chút khó khăn nào. Ông đứng ngoài lề chính sự - nói theo nghĩa ông không đảm đương một chức vụ. Chẳng lẽ ông nài nỉ Hoàng đế xin một cương vị thấp hơn cái ông đã mất. Dù sao, ông không thể bắt chước Nguyễn Công Trứ một mực tuân phục ý chỉ của quân thượng, từ Thị lang tụt xuống làm tên lính thú sơn phòng, rồi bò lên Án sát… Chữ “Trung” trong ông không còn giữ nguyên chất. Trên tất cả, ông có Chúa Trời. Vả lại, vua nào chớ vua Bảo Đại thì khó mà cảm hóa ông thành lương tể được.
Ông tự an ủi: Ông Khương Tử Nha ngày xưa đến 80 mới nhận lời thỉnh của Võ Vương Cơ Phát, cầm búa Việt cờ Mao phạt Trụ, hà huống tuổi ông chưa bằng nửa ông Khương. Hơn thế, sau mấy năm đọc sách, quan sát và suy nghĩ, ông tự thấy không nên quá khiêm tốn, dừng ước vọng ngang mức ông Khương.
Từ khi ông thôi quan, tình hình trong và ngoài nước phát triển vùn vụt. Trong nước, Cộng sản lộng hành, ngay ở vùng ông trị nhậm xưa kia và ông đã trừng trị chúng với tất cả sự cứng rắn, vượt qua luật Gia Long hà khắc. Phong trào Mặt trận Bình Dân bên Pháp trực tiếp yểm trợ cho Cộng sản bản xứ và ông thắc mắc mãi vì sao nhà nước Pháp mềm yếu như vậy. Ngoài nước, Hitler lên nắm quyền ở Đức, chương trình Đại Đông Á của thủ tướng Nhật Bản Đông Điều (1) gây bàn tán xôn xao trong các giới mà ông thân quen.
Ông đi lại luôn giữa Huế, Hà Nội, Sài Gòn. Ở Hà Nội, ông ngụ tại nhà luật sư Trần Văn Chương – sau này là bố vợ Ngô Đình Nhu, em ông. Ở Sài Gòn, ông quen bác sĩ Nguyễn Văn Nhã – người không che giấu lòng ngưỡng mộ đối với Chiêu Hòa Thiên hoàng (2), kế tục sự nghiệp vang dội của Minh Trị Thiên hoàng (3). Có thể nói là ông giao du rộng, được sự kính trọng của giới thượng lưu. Sống độc thân, nổi tiếng chính trực và thanh liêm, dám “bỏ ấn tể tướng” vào cái tuổi vừa hơn 30, học rộng – ông thạo văn hóa Hán lẫn Tây phương – thuộc một đại thế gia: gia đình ông đi vào ca dao đương thời ở đất Thần kinh với câu “Đày vua không Khả” (4), ông hội đủ điều kiện để trở nên một chí sĩ mà tầng lớp quý tộc vẫn khao khát. Với tầng lớp này, lòng tin rạn nứt sau khi cụ Phan Sào Nam (5) bị giam lỏng, cụ Phan Tây Hồ (6) qua đời, cụ Huỳnh Thúc Kháng và ông Nguyễn An Ninh không phải là mẫu người mà họ kỳ vộng bởi tư tưởng dân chủ quá gần gũi với nhóm Mác-xít, trong khi Bùi Quang Chiêu, Lê Quang Liêm, Trần Văn Khá thân Pháp quá lộ liễu. Cho nên ông nổi bật như là một điềm báo trước. Sự úy kỵ đối với tín ngưỡng của ông được giải tỏa dễ dàng: không bao giờ ông chen Đức Chúa Trời vào các buổi trao đổi thời cuộc – nhiều người ngỡ ông theo đạo Phật, đạo Khổng hơn là đạo Cơ Đốc. Nhưng, ở Phát Diệm, Xã Đoài, việc ngoan đạo của ông và của một gia đình toàn tòng từ xa xưa lại là một ưu thế khác của ông: các cha cố rao giảng về ông một cách rộng rãi, nhất là khi anh ông thụ phong Giám mục. Thân hào đất Nghệ hỗ trợ ông đắc lực. Sau này, khi Ngô Đình Nhu vào đời, ông hưởng thêm sự ủng hộ của lớp trí thức trẻ, bạn của Nhu và vợ Nhu.
Chiến tranh thế giới bắt đầu. Theo ông, đó là cơ hội. Ông nghiễm nhiên thành một chính khách, tên tuổi gắn liền với giải pháp A hay B nào đó. Nhật đổ bộ vào Đông Dương, ông được hỏi ý kiến, bí mật, tất nhiên. Những người bạn Pháp lại cho ông lời khuyên quý báu: chưa phải lúc.
Đầu năm 1945, ông có mặt ở Hà Nội, ung dung đi nghe Trần Văn Giáp diễn thuyết về đạo Phật tại Viện bảo tàng Finot, đọ tin về Hội nghị Yalta, giữa một mùa rét chưa từng có: 4 độ. Ông đi vào Sài Gòn được íi hôm, Nhật đảo chính Pháp, giới thượng lưu rộn ràng hẳn. Tuy nhiên, tuyên cáo của Hoàng đế khiến ông buồn cười: Bảo Đại mà “đích thân” cầm quyền thì vui thật!
Suốt ngày, khách khứa đầy nhà, đủ loại dự đoán, đủ loại ước mơ, đủ loại “đường lối”. Ai cũng tin là ông sắp được vời ra Huế - ông cũng tin chắc như vậy. Ông chờ đợi. Ông suy tính sẽ lập ra một nội các như thế nào, gồm những ai…
Đùng một cái, nội các do Trần Trọng Kim làm tổng lý ra đời! Ông bị bỏ quên. Bực tức, ông ngả bệnh, phải vào bệnh viện. Điều an ủi ông ít nhiều là Phạm Quỳnh không còn được trọng dụng và nghe đâu đã bị Trần Đình Nam, Tổng trưởng Nội vụ tống giam.
Nằm trên giường bệnh, qua báo chí và bạn bè, ông lần lần thấm thía ông không “lai kinh” là không ngoan. Nội các Trần Trọng Kim như một màn hài kịch – loại kịch dở. Sau này, ông được biết Bảo Đại từng đánh điện vời ông – bấy giờ có một giải pháp gọi là “giải pháp Ngô Đình Diệm”: ông lập nội các với một ít bộ, coi như lát đường để chờ thời cuộc ngã ngũ. Người Nhật ỉm bức điện đó. Nhật không thích một người biết tính toán như ông.
Về sau, ông cho rằng ông may - thanh danh ấy không bị hoen ố - ông suy nghĩ như vậy.
Song cái lo lắng ghê gớm lại là Việt Minh. Việt Minh lù lù, đâu cũng có. Một số thuộc giới thượng lưu cảm tình với Việt Minh. Không thể ở Sài Gòn được. Ông lên Đà Lạt.
Cách mạng tháng Tám nổ bùng. Cái mà ông ghét nhất đã xảy ra. Chế độ Dân chủ Cộng hòa thiết lập với lãnh tụ Hồ Chí Minh. Vua Bảo Đại thoái vị. Anh Khôi của ông bị xử tội chết. Ông bị bắt. Gần đây, thiên huyền thoại về ông được tô vẽ đầy những nét ly kỳ, ông thích thú với mọi sự tâng bốc. Song, ông không dám quá trớn vì một điểm: ông sống sót là nhờ cụ Hồ tha ông… Hú hồn, chính Phạm Quỳnh đã thế mạng ông! Tốt nhất là lờ đi vậy.
Năm 1947, ông trở lại Đà Lạt. Lúc bấy giờ gia đình Nhu ở đó. Pháp móc với ông, nhưng chưa phải “giải pháp Ngô Đình Diệm”. Vẫn là Bảo Đại. Người Pháp chưa hiểu rằng họ đã trễ tàu.
Linh mục Huệ, như đấng tiên tri Gabriel trông kinh thánh, với nhiều sáng kiến đã lôi ông ra khỏi sự lãng quên và đã định giá ông trên thị trường: đánh tiếng với người Mỹ. Rồi linh mục Cao Văn Luận đưa ông sâu vào vòng tay cơ quan tình báo Mỹ, bấy giờ chưa gọi là CIA mà OSS (7). Một linh mục khác, Emmanuel Jaques Houssa – người Bỉ, từng sống ở Phát Diệm từ 1939 đến 1945, rất quen ông – sửa soạn với chính giới Mỹ. Cao Văn Luận làm con thoi nối Đà Lạt – Ba Lê – Nữu Ước.
Mọi sự đến năm 1950 đã khá rõ rang: Pháp chẳng những không thể quét sạch Việt Minh trong vòng vài tuần lễ, thậm chí vài năm như Leclerc cam đoan mà đang tự hỏi: bao giờ thì bỏ cuộc? Sau trận đại bại trên biên giới Việt Trung, Pháp mất 5.000 quân tinh nhuệ và hai đại tá Lepage và Charton – những kẻ cuồng tín nhất về một nước Pháp gì thì gì chứ không thể thua bọn “Annamít” đã suy sụp tinh thần. Ván bài tuy chưa kết thúc, song triển vọng thì bi thảm. Cho nên, ván bài khác được hối hả xếp đặt. Mượn cớ đi dự năm Thánh bổn mạng, ông sang Mỹ. Fishell, một trong những chỉ huy trung tâm tình báo Mỹ cùng với linh mục Houssa và Cao Văn Luận thu xếp cho ông vào dòng tu Maryknoll ở bang New Jersey. Giám đốc tu viện Keagan bị ông lừa: ông ta nghĩ rằng Diệm sẽ suốt đời làm tông đồ của Chúa bởi không ai trong tu viện cần mẫn hơnn ông – 5 giờ sáng ông đã cầu kinh và kéo dài 3 năm ròng rã. Giữa năm 1953, ông rời tu viện trước sự kinh ngạc của Keagan và mọi người: ông quả quyết khi vào và cũng quả quyết khi ra. Thế là giới chính trị Mỹ lần lượt quen ông. Fishell tổ chức cho ông đi diễn thuyết ở các trường đại học, nhiều trường như Cornell giữ vai trò chi phối dư luận xã hội Mỹ. Giải pháp về Đông Dương do ông trình bày trực tiếp bằng ngôn ngữ và tư tưởng Mỹ là đề tài lôi cuốn, bởi nước Mỹ đang chìm trong hỏa mù chiến tranh lạnh, đặc biệt sau khi Mao Trạch Đông giành quyền bính ở Hoa lục và cuộc xung đột trên bán đảo Triều Tiên còn nóng hổi. Ông trao đổi quan điểm với tổng thống Mỹ Eisenhower, Phó tổng thống Nixon, ngoại trưởng Foster Dulles. Ông đánh bạn với các nhà báo, các nghị sĩ, các nhà doanh nghiệp. Còn hồng y Spellman thì là chỗ cố cựu, ông được Đức Hồng y chiếu cố ngay từ những ngày đầu đặt chân lên đất Mỹ, coi ông như đứa con tinh thần. Linh mục Cao Văn Luận và Houssa thật có công to: từ những năm 1940, họ đã chăm sóc, đào tạo cán bộ cho ông, tiếp tục đều đặn như vậy – hàng mấy chục người được học bổng nay đã thành tài, ở Mỹ, ở Pháp, Tây Đức và các nước khác. “Một đường lối cổ truyền phương Đông phải do các trí thức tiêm nhiễm kỹ thuật phương Tây thực hiện” – chủ trương của ông được em ông – Ngô Đình Nhu, tán đồng. Đương nhiên, hai anh em ông đều hiểu: người Mỹ không quảng đại đến mức tình nguyện cung cấp vây cánh cho ông mà không đòi hỏi một chút gì “có đi có lại”. Fishell và Houssa chăm sóc cực kỳ tỉ mỉ các du học sinh do linh mục Cao Văn Luận gửi sang và chính linh mục Cao Văn Luận đã sàng lọc cẩn thận khi tuyển chọn.
Ông vốn rất tự cao, tự đại. “Thi ân bất cầu báo” của các hủ nho thời xa xưa, ông thích đọc chơi chứ không hề thích ý nghĩa của nó. Người Pháp nói khác: mỗi chiếc mề đay đều có bề trái. Bây giờ, ông thấy óc thực dụng Mỹ đáng noi theo hơn là sự bay bướm Pháp. Người Mỹ nói: không có cái gì gọi là cho không. Ờ, đúng vậy. Chẳng qua đây là cuộc đấu trí cuối cùng, ông sẽ làm chủ. Vấn đề then chốt là ông về nước, chấp chánh. Mọi thứ đều thứ yếu. Tuổi ông đã vượt con số 50. Tất cả đã chín muồi…
Năm đó, ông sang Ba Lê, ở nhà của một hoàng tộc là Tôn Thất Cần. Người Mỹ khuyên ông giữ quan hệ với Bảo Đại, dù cho bằng sợi chỉ mỏng manh. Cần phải tạo thế hợp pháp trong giai đoạn đầu. Người Mỹ hạ quyết tâm thay chân Pháp ở vùng Đông Nam Á, nhưng thay chân từng bước.
Ông gặp Nguyễn Đệ - đổng lý văn phòng của “Quốc trưởng”. Gã lái buôn dốt đặc cán mai nầy – như ông đánh giá – chẳng vồn vã. Bởi người Pháp nghi ngờ ông. Tuy vậy, do một áp lực ở đâu đó, Quốc trưởng tiếp ông, tại Cannes. Bấy giờ, cựu hoàng sống chính thức với Mộng Điệp – thiên hạn gọi là thứ phi; còn ông, ông gớm ghiếc.
Khá lâu rồi, ông mới gặp nhà vua. Ông kính cẩn chào và bồi hồi trong khoảnh khắc. Gia đình ông đến ba đời phò các vua Nguyễn, ân sủng ấy vẫn chưa phai. Song trong khoảnh khắc ấy, ông lấy lại tư thế để khỏi cúi rạp người như thói quen trước mặt đấng kim thượng. Trước mặt ông chỉ là một cựu hoàng trác táng – nơi sân cỏ cạnh lâu đài Thorene dưới ánh nắng Địa Trung Hải, Mộng Điệp đang phơi mình và ông ngượng nghịu nhìn lên tường, khốn nạn thay: tường treo toàn những bức tranh giống hệt cảnh tắm nắng của “thứ phi”.
Quốc trưởng mỏi mệt. Buổi nói chuyện nhạt nhẽo. Bửu Lộc được chọn thay Nguyễn Văn Tâm chứ không phải Ngô Đình Diệm.
Trên đường trở về Ba Lê, ông hả dạ. Bảo Đại tiêu pha bừa bãi chút thông minh cuối cùng và rõ ràng ông ta nhập nhòa như cái bóng của quá khứ. Đối thủ của ông có lẽ không cần so găng cũng ngã.
Ông chỉ phiền là tình thế thì cấp bách mà cơn mặc cả Mỹ - Pháp lại nhùng nhằng. Việt Minh thừa thắng đánh mạnh, ông sẽ phải đương đầu với bao phức tạp.
Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn cử linh mục Cao Văn Luận sang thúc giục ông. Houssa và Fishell bảo ông hãy thong thả.
Hội nghị Genève khai mạc. Pháp gãy đổ ở Điện Biên Phủ. Và, như một công thức toán học mà Fishell trù liệu 4 năm trước, người ta vời ông ra gánh vác cái cơ ngơi hầu như chẳng còn gì để gánh.
Ông bắt tay vào việc…
*
Sáng nay, trong dinh Độc Lập, ông muốn làm một cái gì đó cho vơi bớt niềm sung sướng đang hành hạ ông và tương xứng với khung cảnh mà ông bỗng phát hiện vẻ huy hoàng như chưa một lần ông cảm thấy.
Ngày nầy, năm ngoái, một ngày trọng đại. Sân trước dinh Độc Lập đông nghịt. Mấy vạn người dự buổi công bố kết quả cuộc trưng cầu dân ý. Tổng trưởng Nội vụ Bùi Văn Thinh dõng dạc thông báo cho quốc nội và quốc ngoại các con số - đầy tin cậy vì có cả số lẻ - 5.838.907 người bỏ phiếu, 5.721.735 người tán thành truất phế Bảo Đại và suy tôn Ngô Đình Diệm lên ngôi tổng thống. Thật nực cười, một tuần lễ trước, chính Bảo Đại ra lệnh cách chức thủ tướng của ông. Thay vì cãi vã, ông lấy nguyện vọng của dân để trả lời cho ý tưởng ngông cuồng và đần độn của ông vua cuối cùng triều Nguyễn. Hẳn là nhà vua phải hiểu: nửa thế kỷ ăn chơi là quá đủ.
Nền Đệ nhất cộng hòa khai sinh. Ông long trọng đọc bản hiếu ước tạm thời và, mặc dù lời lẽ nhuộm màu dân chủ, ông đón nhận sự hoan hô của công chúng như đón nhận lòng chiêm ngưỡng của thần dân. Tiếc là ông đăng quang nơi dinh Độc Lập chứ không phải điện Thái Hòa. Rời Viện Cơ mật năm 1933, non phần tư thế kỷ sau, ông ngồi lên chiếc ghế bành lót nhung đỏ giữa gian phòng tràn ánh sáng. Một chút ân hận: chiếc ghế không chạm rồng.
Có tiếng người rón rén vào phòng.
- Thưa bác con với mẹ con đi dạo một lúc!
Ngô Đình Lệ Thủy đến gần ông. Con bé đã vào lứa nữ sinh, hội nét đẹp của cha và mẹ. Trần Lệ Xuân đứng ngoài cửa phòng, ngoan ngoãn như một cô em dâu mẫu mực.
- Ờ… Con đi với mẹ con đi, nớ về kịp cơm trưa.
Ông vuốt tóc đứa cháu gái.
Chín năm trước, trên Đà Lạt, không phải sự thể êm đềm với ông như vầy. Bấy giờ, Trần Lệ Xuân đanh đá, ngay cả với ông. Cô ta chưa khám phá cái tiềm ẩn trong họ Ngô Đình vào buổi cả nhà điêu đứng. Chồng cô ta, một công chức giữ thư viện, không thể đáp ứng các khát vọng của cô. Còn ông, ông đang mai danh ẩn tích. Chỉ những chuyện bình thường, Trần Lệ Xuân cũng trút nỗi bất bình lên đầu Lệ Thủy. Cô mắng con – bằng tiếng Pháp – và đó là điệp khúc mà ông phải nghe suốt ngày, trước cái lắc đầu ngao ngán của em ông. Bây giờ, Lệ Xuân đang thập thò ở cửa.
Đúng ra, Lệ Xuân đã ngoan ngoãn từ khi cô ta sang Pháp, mùa xuân năm 1954. Nghe ông phàn nàn về chuyến gặp Bảo Đại vô ích, cô ta an ủi ông với những phân tích sắc sảo. Cô ta xuống Cannes và xin yết kiến cựu hoàng. Họ đi tắm biển. Ông nghe đồn và ông giận. Ngô Đình Luyện, em trai ông, được Bảo Đại bổ làm đại sứ lưu động, khuyên ông chớ nghe lời thị phi. Lệ Xuân ở Cannes ngót tuần lễ, cô ta rạng rỡ cho hay là ông sửa soạn về nước gấp.
Những tháng cuối năm 1954 thật đáng lo ngại. Tướng Nguyễn Văn Hinh chống đối ông quyết liệt. Binh mã của ông còn non yếu, làm sao chọi nổi với cả một đạo quân và nhất là đạo quân ấy dựa vào binh lính Pháp? Một lần nữa Lệ Xuân tự nguyện đi thương lượng. Lại đồn đãi, thậm chí, có người dám cam đoan với ông là bà vợ người Pháp của tướng Hinh dọa bắn Lệ Xuân và bà ta có trong tay những tấm ảnh khỏa thân của cả hai người. Ông nổi giận, Nhu khuyên ông chớ để lọt tai những điều nhảm nhí, ông yên lòng, vì ai hiểu vợ hơn chồng. Rồi tướng Hinh “đầu bò” riu ríu giao chức Tổng tham mưu trưởng cho tướng Tỵ, lên máy bay sang Pháp.
Nói thật công bằng, Lệ Xuân vất vả vì nhà chồng. Ông cảm động, quên những gì cô ta làm phiền ông trước kia.
Trần Lệ Xuân cung kính chào ông, khoác vai con gái, ra tiền sảnh. Ông lại chìm vào ký ức…
Thế là 2 năm thử thách gay gắt đã qua. Trong vòng 26 tháng kể từ ngày ông chấp chánh, ông đã xoay chuyển cả một tình thế. Suốt đời chưa bao giờ ông phải xử lý hàng loạt vấn đề lớn lao cỡ đó và ông làm trót lọt. Sau vụ tướng Hinh đến vụ Bình Xuyên rồi giáo phái – không ai đủ sức cự nổi với ông. Bảy Viễn lưu vong. Năm Lửa đầu hàng. Ba Cụt bị chém đầu – Phạm Công Tắc sợ quá trốn qua Nam Vang. Quốc hội lập hiến bầu xong. Quân đội được xây dựng lại. Người của ông nắm hết các ngành, các địa phương. Gần một triệu dân di cư đứng sau lưng, ông bảo họ nhảy vào lửa họ cũng không từ chối. Ông sang Băng Đung và xuất hiện như một nguyên thủ quốc gia cách tân và giàu ý chí. Từ Nam vĩ tuyến 17 đến Cà Mau, giang sơn đang biến đổi theo chỉ thị của ông. Tất nhiên, góc nhỏ này còn quá chật chội. Ông sẽ là lãnh tụ cả nước, chuyện đó không có gì cần bàn cãi; toàn ông sẽ là lãnh tụ toàn bán đảo Đông Dương, chuyện đó cũng không có gì cần bàn cãi. Tại sao ông không thể là lãnh tụ tinh thần của cả Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Phi Luật Tân?
Ông tự hào – những binh lính Pháp cuối cùng đã rời Sài Gòn, sau ngót 100 năm thống trị đất nầy. Chính ông chứng kếi lễ từ giã Việt Nam của tướng Jacquot và đô đốc Jozan. Từ nay không còn Toàn quyền, Cao ủy mà chỉ có đại sứ Pháp, Jean Fayart vừa trình ủy nhiệm thư – chứ không phải quốc thư – trong một không khí biết thân biết phận.
Đôi điều khiến tổng thống chưa hài lòng. Tổng hội Phật giáo Việt Nam họp đại hội lần thứ hai, đặt trụ sở tại chùa Ấn Quang với các quyết định ẩn ý: xin chánh phủ công nhận ngày lễ Phật đản như ngày Chúa Giáng sinh, trong tinh thần chính sách bình đẳng tôn giáo. Mấy lão thầy chùa nầy muốn gì? Để xem. Quốc hội cứ loay hoay mãi mà không chọn được quốc kỳ, quốc ca, giữa 350 mẫu cờ, 50 bài nhạc dự thi. Có kẻ phá chăng? Đại sứ Mỹ Rheinartd nhắc ông đến lần thứ mười: cố gắng mở rộng căn bản đoàn kết quốc gia. Những người như Phan Quang Đán phải đâu là của hiếm? Đại sứ Mỹ muốn ông trở thành viên thơ lại của Hoa Thịnh Đốn chăng?
Còn Việt Minh, cho đến giờ phút nầy, không đáng sợ như ông từng sợ. Chiến dịch tố Cộng thu kết quả. An ninh lần hồi khôi phục tận xóm ấp. Họ đã không nhân lúc ông và các giáo phái xung đột mà lấn đất thì bây giờ, họ chỉ có nước rút sâu vào chốn thâm sơn cùng cốc. Không phải chuyện Cộng sản ở Việt Nam Cộng hòa làm bận tâm ông. Xóa miền Bắc Cộng sản mới là điều mà mỗi bữa cầu kinh ông đều nhắn gửi với Thượng đế…
Hiệu kỳ “Tiết trực tâm hư” (8) đặt trước mặt ông. Thợ thêu khéo tay thật. Cặp ngà voi cực to bày giữa phòng. Ông lẩm bẩm:
- Phải bảo thằng tỉnh trưởng Đắc Lắc tìm cho vài cặp nữa, gửi biếu ông Lý Thừa Vãn, với ông Tưởng Giới Thạch!
---
(1) tức Hideki Tojo (1884-1945), quân phiệt hiếu chiến, thủ tướng Nhật Bản 1941-1944, tội phạm chiến tranh, bị xử treo cổ năm 1948.
(2) tức Nhật hoàng Showa Hirohito (1901-1989), trị vì Nhật Bản 1926-1989
(3) tức Nhật hoàng Meiji Mutsuhito (1852-1912), trị vì Nhật Bản 1867-1912
(4) Ngô Đình Khả (1857-1923), phụ chánh đại thần triều Nguyễn, cha của anh em Diệm-Nhu, người phản đối việc Pháp đày vua Thành Thái năm 1907.
(5) tức Phan Bội Châu
(6) tức Phan Chu Trinh
(7) Office of Strategic Services: Cơ quan Tình báo Chiến lược
(8) “Tiết thẳng lòng ngay”, hay Chính trực vô tư, chỉ cây tre, hiệu kỳ của Diệm.

CHƯƠNG 2

Viên bí thư cóm róm vào. Ông ta chờ đã trót 15 phút, không dám kinh động tổng thống. Mãi khi tổng thống lầm bầm, ông ta mới cúi rạp người, nâng chiếc cặp giấy, đặt thật nhẹ lên mặt bàn.
- Việc chi? – Diệm hỏi.
- Trình cụ, báo cáo của Bộ ngoại giao.
Diệm mở cặp, khẽ liếc viên bí thư. Bên trong cặp một xấp giấy đánh máy, trên góc từ đầu ghi hàng chữ đỏ: “Kính trình cụ”. Diệm bỗng nhỏm lên lật tiếp các tờ còn lại, tìm tờ cuối.
- Răng mà như thế ni?
Ông đẩy cặp giấy về phía viên bí thư. Thường chỉ khi quá vui hoặc quá bực Diệm mới nói giọng Quảng Bình pha Thừa Thiên.
Viên bí thư luống cuống. Ông ta chưa rõ tổng thống nhận xét về cái gì. Luống cuống, râu mép ông ta động đậy như lính thủy đánh semaphore.
Hai người bước vào phòng, nghiêng mình chào Diệm.
- À! Chú Nhu, cháu Luân... - Diệm hờ hững đáp lễ vừa châm một điếu thuốc.
Nhu nhìn Luân, cả hai ngồi xuống ghế đặt sát bàn làm việc của tổng thống. Viên bí thư, ngỡ thoát nạn, chào vui vẻ:
- Thưa ông cố vấn... Chào thiếu tá!
Diệm dụi thuốc mà ông vừa rít hơi, sẵng giọng:
- Tôi bảo đến cả vạn lần: Bộ trưởng không có quyền phê chữ đỏ trên đầu các công văn trình cho tôi. Hiểu chưa! Thầy nói với ông Mẫu, là luật gia phải biết là cuối công văn trình cho tôi cần ghi câu gì chứ?
Diệm không có vẻ chỉ nói với viên bí thư. Trước mặt ông, còn có Nhu và Luân, và ông muốn dặn luôn cả hai người.
Viên bí thư không dám cười nữa. Ông ta “dạ” “dạ” liên hồi, dù rằng ông ta thật tình chưa hoàn toàn nắm được ý nghĩa câu sau của tổng thống.
- Thầy coi đây!
Diệm lôi xấp công văn trở lại, lật tờ chót, mang chữ ký của Bộ trưởng Bộ ngoại giao Vũ Văn Mẫu.
- Nay kính trình... - Diệm trỏ vào hàng chữ nghi thức đó – Cụt như rứa! Trình lên Tổng thống mà chi gọn lỏn hàng tôm hàng cá rứa, coi sao được.
Viên bí thư vẫn ngơ ngác. Diệm nổi nóng, tất nhiên vô cớ mà nổi nóng thì khó giống như thật được. Điều đó chỉ Nhu và Luân thấy rõ, còn viên bí thư, ông ta toát mồ hôi.
- Trước kia, họ trình cho ông Bảo Đại, kết thúc các văn bản mần răng?
Viên bí thư vỡ lẽ, nói trong giọng khấp khởi:
- Trình cụ, cụ dạy chí phải! Kết thúc công văn phải ghi: “ Xin cụ nhận nơi đây tấm lòng tri ân cung kính và trung thành... ”
Nhu nhìn Luân cười nhẹ - nụ cười đượm buồn.
- Thầy nói đúng có một phần. – Diệm đã dịu giọng – Từ này, tôi cấm dùng tiếng “cụ” thay cho tiếng “Tổng thống”. Hiểu chưa?
- Dạ...
Diệm lật một trang trong xấp công văn, hỏi:
- Thằng ni ai bổ nhiệm mà sang Nhật buôn lậu? Tùy viên chi thứ lưu manh đó!
Viên bí thư lại luống cuống. Ông ta phải lấy khăn tay chậm mồ hôi trán.
- Tôi hỏi sao thầy không trả lời? Ai bổ nhiệm Nguyễn Hữu Thế... - Diệm dồn viên bí thư.
Nhu đủng đỉnh đứng lên, lại bàn, lấp xấp công văn.
- Anh bổ nhiệm, chứ ai!
Diệm trợn mắt:
- Chú nói chi lạ rứa? Tôi?
Diệm gạt phăng chiếc gạt tàn thuốc rơi xuống nền, vỡ tan. Gói Ruby Queen cũng rơi theo. Viên bí thư lăng xăng lượm các thứ.
Nhu vẫn điềm đạm trỏ vào một tờ giấy đính trong xấp công văn:
- Thì đây, anh xem!
Tờ giấy có hàng chữ bút chì đỏ của Diệm: Phê chuẩn việc bổ nhiệm này.
Diệm thừ mặt:
- Ai mà lường nổi...
Rồi, như để lấp liếm, Diệm hỏi viên bí thư:
- Hắn là con ai?
Viên bí thư hối hả:
- Trình Tổng thống, con của bác sĩ Nguyễn Hữu Thanh... .
Diệm lại sừng sộ:
- Thầy vẫn chưa bỏ tật hồ đồ! Con của bà nào? Bác sĩ Thanh có tới ba, bốn vợ...
Viên bí thư đành gãi tai, lúng búng:
- Dạ...
- Thôi, thầy sang Bộ ngoại giao...
Viên bí thư mừng rỡ, xếp lại công văn.
- Khoan! – Diệm lại đổi ý. - Thầy gọi cho tôi ông Bộ trưởng tài chính... Bảo ông ấy đến ngay, với tất cả các con của ông ấy.
Viên bí thư đến chỗ đặt điện thoại. Diệm hỏi Nhu:
- Chú với cháu Luân đi đâu về?
- Em với anh Luân đến Bộ thông tin. Em muốn biết lệnh cấm ngoại kiều làm 11 nghề của ta ảnh hưởng tốt xấu ra sao...
- Thế à? Ra sao?
- Xôn xao dữ! Các bang Hoa kiều họp mấy hôm nay, họ cử một đoàn đại biểu do ông Trần Thành cầm đầu xin yết kiến Tổng thống.
- Gây áp lực, hử?
- Chắc là có. Đại sứ Trung Hoa Dân quốc cũng xin gặp ngoại trưởng Mẫu.
- Chú thay tôi mà tiếp Trần Thành. Nói cho họ hiểu: tôi cấm 11 nghề là nhân đạo, đáng lý tôi tịch thu tài sản của họ. Dư luận trong nước thế nào?
- Dĩ nhiên, người ta hoan nghênh. Đã có hai chục nghìn người Việt xin phép hành nghề xuất nhập cảng, thay cho Denis Frères, Poiosard et Veyret, Ismael... và bây giờ thay cho các công ty Hoa...
- Tốt quá!
- Em sẽ thưa với Tổng thống sau...
- Chú không tán thành?
- Nói phải dài. Ngày mai em xin phép làm việc... Anh cần nghỉ, tối nay chiêu đãi Quốc khánh. Chiều nay anh phát biểu với đài truyền hình Mỹ và thu thanh đài quốc gia... Xin nhắc anh: hôm nay, ngày ban bố Hiến pháp.
- Được... Ý chú với cháu Luân thống nhất không?
Nhu tế nhị nhường lời cho Luân.
- Thưa Tổng thống,về căn bản, tôi đồng ý với anh cố vấn!
Viên bí thứ gọi điện xong, báo cáo:
- Trình Tổng thống, 10 phút nữa, ông Bộ trưởng và các con tới. Ông ấy đang ngủ trưa.
- Ủa? Giờ này mà ngủ trưa sao? – Diệm trợn mắt.
- Sắp 12 giờ rồi thưa anh! – Nhu xem đồng hồ.
- Chà tôi không dè... Đợi cháu Lệ Thủy về ăn cơm luôn thể. À! Lịnh cho dân đốt pháo 3 ngày, chú đã kiểm tra lại chưa?
Nhu gật đầu. Viên bí thư lùi ra cửa.
- Này! – Diệm gọi giật ông ta – Sao tên thầy lại là Vương Văn Mì? Sửa lại đi! Mì chẳng có nghĩa gì cả. Một nước văn hiến không nên có người mang tên cục mịch... Hiểu chưa?
Viên bí thư dạ dạ.
- Mỹ được không? Vương Văn Mỹ! Đẹp quá!
Viên bí thư chắp tay:
- Xin tri ân Tổng thống!
Diệm chợt hỏi:
- Sao thầy để râu?
Viên bí thư chưa biết làm gì, Nhu gỡ rối cho ông ta:
- Anh ra đón ông Bộ trưởng.
Diệm ngã người lên ghế bảo:
- Tôi đã ký sắc lệnh đổi tên các tỉnh, các quận. Một nước văn hiến không thể có tên tỉnh Bến Tre, Sóc Trăng, Thủ Dầu Một... Căn cứ vào Đại Nam Nhất thống chí mà sửa. Bến Tre là phủ Kiến Hòa. Mỹ Tho nguyên là trấn Định Tường... B’lao nghe mọi rợ quá, tôi đổi là Bảo Lộc. Bù Đốp chẳng có nghĩa gì, nên kêu là Bố Đức, Tônglêcham nêu kêu là Tống Lê Chân...
Rồi Diệm chép miệng:
- Dân ta còn nặng thói nô lệ. Người Pháp đặt tên gì họ kêu tên ấy. Các chính phủ như ông Xuân, ông Hoạch, ông Tâm, chẳng có đầu óc Quốc gia.
Trước thái độ kiêu hãnh của Diệm, Nhu đăm chiêu, Luân lặng lẽ ngồi nghe.
- Chú thấy thế nào? – Diệm hỏi Nhu, khó chịu.
- Em nghĩ nhưng việc anh nêu ra đều quan trọng. Song...
- Song, – Diệm cướp lời Nhu – Chú cho rằng sự chống đối lệnh cấm nhảy đầm là quan trọng hơn, phải không?
Diệm ngồi ngay trở lại, giọng hậm hực:
- Một xã hội xa rời đạo đức cha ông thì còn gì là xã hội. Tôi xem ảnh một đoàn xiếc, con gái đàn bà gần như lõa thể. Ra chợ tôi thấy món lạ, hỏi thì mới biết đó là thứ ngừa thai. Bậy quá, ai cho nhập cảng thứ phản thiên nhiên đó? Sao cứ thổi phồng nhu cầu sinh lý? Chỉ có những kẻ mang hạ bộ trên đầu mới chống luật lệ của Chính phủ!
Nhu, mặt đau khổ, nói chậm rãi:
- Thưa anh, thưa Tổng thống... chúng ta thuộc về một gia đình mà số phận gắn liền với vận mệnh quốc gia. Em thấy bất kỳ việc lớn nhỏ, Tổng thống nên hết sức thận trọng.
- Chú chậm hiểu hơn thím Nhu! – Diệm kêu lên – Chú học rộng, thông minh, có tài, sao lại lờ mờ quá vậy? Gia đình là nền tảng của xã hội. Lý thuyết Cần lao Nhân vị của chú không dựa trên sự củng cố đạo đức gia đình thì mong gì thi thố được ngoài xã hội!
Nhu khẽ lắc đầu. Diệm ngó anh ta trừng trừng. Có vẻ Tổng thống sắp nổi cơn thịnh nộ.
Viên bí thư trở vào, và lần này ông ta cứu Nhu:
- Trình Tổng thống, ông Bộ trưởng tài chánh và bốn con đã tới...
- Vậy hử? Thầy lấy cái máy ảnh Polaroiid của Đông cung Thái tử Nhật biếu tôi...
Diệm chợt thấy Vương Văn Mì đã cạo bộ ria mép, hỏi:
- Ủa, sao thầy cạo râu?
Mì không trả lời, lầm lũi rời phòng.
- Chú với Luân ngồi chơi. Tôi gặp ông Bộ trưởng năm ba phút... Trưa nay Luân ăn cơm với gia đình, nghe!
- Anh thấy ở anh Diệm có điều gì khác lạ không? – Nhu hỏi. Luân im lặng, ngó theo làn khói thuốc.
- Không chỉ một điều mà nhiều điều khác lạ. - Nhu nói trầm ngâm – Chẳng hạn vừa rồi, Tổng thống nghiêm cấm các Bộ trưởng trưởng châu phê trên công văn. Trước đây, Tổng thống nghiêm cấm các Bộ trưởng cắm quốc kỳ trên xe, nghiêm cấm các quan chức đi lại có hộ tống, kể cả Tổng tham mưu trưởng. Tổng thống đòi cuối công văn phải ghi công thức tâng bốc Người. Tôi còn biết, Tổng thống ra lệnh các báo đài đăng ảnh của Tổng thống, ảnh nào, mỗi ngày mấy ảnh, khôi phục “kim khánh” coi như là huân chương cao nhất của Việt Nam Cộng hòa. Chưa hết, Tổng thống quyết định sáng mồng Một Tết, Nội các phải đến dinh Độc Lập chúc mừng năm mới Tổng thống...
Nhu nói một thôi, càng nói càng nặng giọng.
- Tất cả những điều khác lạ đó chứng tỏ Tổng thống chú ý những cái vặt vãnh. Tổng thống dồn tâm trí đổi tỉnh lỵ Bến Tre ra Trúc Giang, đổi Vương Văn Mì ra Vương Văn Mỹ, bắt bẻ từng dấu chấm phẩy trong công văn... đồng thời lấy cá nhân mình làm trung tâm chân lý. Chỉ còn đổi dinh Độc Lập ra điện Thái Hòa, tôi không bào đệ mà hoàng đệ, lấy bài “Đăng đàn cung” làm quốc ca, cờ “Long Tinh” làm quốc kỳ là đủ! Ngay Tổng trưởng phải hạ xuống là Bộ trưởng, không phải vì sự chính xác của ngôn từ mà vì anh tôi muốn hạn chế chia sẻ chữ “Tổng” cho người khác! Khi đầy quyền uy, người ta thêm tính xấu, tính ganh tị...
- Tôi e rằng anh quá bi quan! - Luân nói giọng vui.
- Không! – Nhu phản ứng – Giữa Tổng thống và tôi có một khoảng cách về sự đánh giá tình hình. Tổng thống cho rằng chúng ta đã lên đến đỉnh của sự thành công, tôi cho rằng chúng ta đang bắt đầu leo núi. Còn biết bao việc cũ chưa xong, đã nảy ra biết bao nhiều việc mới phải đối phó... Tôi nhớ lời Trần Bình nói với Hán Cao tổ: Bệ hạ có thể ngồi trên lưng ngựa mà cái trị thiên hạ...
Nhu ngó thẳng Luân, giọng tha thiết:
- Tôi mong anh, được Tổng thống tin cậy, đôi trường hợp, Tổng thống nghe anh hơn nghe tôi và thường lấy anh để soi rọi lại tôi, nên có lời khuyên Tổng thống... Anh thạo Lê-nin hơn tôi. Tôi chống Lê-nin về toàn bộ ý thức hệ của ông ấy, song tôi tán thành nhiều ý của Lê-nin, trong đó có ý rằng: Một khi người ta bắt bào chữa cho sai lầm thì đó là nguy cơ chính trị... Tổng thống đang bào chữa cho sai lầm!
Luân lựa lời nói với Nhu. Anh thừa hiểu, giọng Nhu tha thiết như mắt Nhu lại chứa chất hoài nghi – Anh che sai lầm của Tổng thống và giúp Tổng thống bào chữa sai lầm!
- Tôi sẽ làm hết sức mình... Có điều sự thể chưa đến nỗi như anh nghĩ, đó là theo ý riêng của tôi. Tổng thống thích quyết đoán – không phải lúc nào cũng không cần thiết cả!
... Ngoài sân, Bộ trưởng tài chánh và bốn con nhỏ ngơ ngác. Diệm đứng trên tam cấp. Viên bí thư mang cho ông chiếc máy ảnh.
- Trình Tổng thống, đã chỉnh xong. Tổng thống bấm chỗ này...
Diệm nhận máy ảnh, tươi cười bảo:
- Đông cung Thái tử Nhật Bản vừa tặng tôi chiếc máy ảnh loại mới, chụp lấy liền... Gọi ông và các cháu tới để tôi tặng một tấm. Ông với các cháu đứng gần nhau... Rứa... Tôi bấm đây... Chú ý!
Diệm bấm. Bấm xong, trao máy ảnh cho viên bí thư, còn ông thì bước xuống thềm,vò đầu mấy đứa bé. Chúng sợ đến xanh mặt. Viên bí thư rút tấm ảnh, đưa lên ánh sáng mặt trời, sau đó trình cho Diệm tấm ảnh màu đã chụp xong.
- Đẹp hỉ! – Diệm thỏa mãn - Chỉ có cái là chẳng ai cười cả!
- Thầy Mỹ! - Diệm bảo – Vào lấy bọc kẹo!
Diệm phân phát kẹo cho bốn đưa bé và tặng Bộ trưởng tài chánh tấm ảnh.
- Ông Bộ trưởng có thể về!
Bộ trưởng tài chánh nghiêng mình chào Diệm, bốn đứa bé khoanh tay lí nhí thưa. Tất cả lủi thủi ra xe.
Diệm trông theo:
- Ông Bộ trưởng khéo dạy con, hỉ!
Diệm ngồi vào ghế, châm thuốc.
- Chà! Nghe Tỉnh trưởng Quảng Nam phúc tình mà tội cho dân. Việt Cộng ngăn cản mà dân cứ ùa ra quận lỵ, tỉnh lỵ thỉnh ảnh của tôi. Lễ “thượng ảnh” thật long trọng, khắp thôn xã...
- Tối nay, sau chiêu đãi, anh định tiếp ai, ngoài ngoại giao đoàn? – Nhu như vô tình ngắt lời Diệm.
- Mời cho tôi đại biểu quốc hội, đại biểu các hiệp hội...
- Thưa anh, em muốn gặp một số trí thức, nhà báo...
Diệm xua tay:
- Thôi! Họ hay lý sự lắm. Lúc nào cũng dân chủ... Họ chẳng hiểu thế nào là dân chủ Đông phương. Ở nước ta, dân chủ tồn tại trong đời sống dân tộc cả ngàn năm rồi: trong nhà có cha anh, trong họ có tộc trưởng, trong hương thôn có chức việc. Trên cao nhất, cần một minh quân và một lương tể. Chính ông Ayub Khan bên Hồi, thư cho tôi nói rằng nước ông ấy đang học tập nước ta để xây dựng nền dân chủ đó!
Rồi Diệm cười hả hê:
- Chú rất giỏi. Gọi chú là bác học cũng không quá. Song, không phải hễ bác học là đã nghĩ chu đáo mọi thứ!
Diệm cười to, đỏ mặt. Nếu là Ngô Đình Lệ Thủy và Trần Lệ Xuân chưa về, không biết ông còn cười đến bao giờ.

CHƯƠNG 3

Tin tức trên các báo hàng ngày:
Lựu đạn nổ tại rạp Nguyễn Văn Hảo giữa lúc đoàn Kim Thoa đang diễn vở “Lấp sông Gianh” của Duy Lân. Nữ nghệ sĩ Tâm Ái chết. Duy Lân gãy một chân. Nhạc sĩ Tám Sự mù mắt. Nhiều người bị thương. Hung thủ mặc quần áo An ninh quân đội, bị cảnh sát hạ tại chỗ...
Phóng sự của báo buổi sáng:
Như bổn báo đưa tin, tối hôm kia, một quả lựu đạn nổ trên sân khấu Nguyễn Văn Hảo. Phóng viên Văn Hồng, người chứng kiến từ đầu đến cuối nội vụ, tường thuật như sau:
“Sài Gòn... tháng 11-1956. Mặt tiền rạp Nguyễn Văn Hảo rực rỡ trong ánh điện nhiều màu. Khán giả chen nhau mua vé. Gánh Kim Thoa khai trương với vở dã sử của soạn giả Duy Lân: Lấp sông Gianh.
Chẳng rõ vì hiếu kỳ hay vì danh tiếng của Duy Lân và của cô đào trẻ đang lên Tâm Ái, cùng toàn ban Kim Thoa với Tám Vân, Minh Chí mà người xem đông đảo khác thường như vậy. Chưa đến giờ, không còn một ghế trống. Đặc biệt khá nhiều quân nhân hoặc ngồi các ghế “súp” hoặc đứng. Cốt truyện theo “Programe”: Thời chúa Nguyễn Phúc Chu, có một đôi trai gái yêu nhau và gia đình đồng ý cho họ cưới. Song, cô Ngọc Lê (Tâm Ái) sinh sống ở bờ Nam sông Gianh, còn Thành Duy (Tám Vân) lại ở bờ bắc con sông bị chúa Trịnh và chúa Nguyễn lấy làm ranh giới chia hai đất nước. Thành Duy toan vượt sông đón người yêu thì bị quân chúa Trịnh bắt và đày lên mạn ngược. Ngọc Lê bởi nhan sắc kiều diễm, bị sung vào cung chúa Nguyễn để đàn hát giúp vui cho Chúa. Thế tử Phúc Đông (Minh Chí) say Ngọc Lê tìm cách chiếm đoạt nhưng Ngọc Lê một lòng chung thủy với Thành Duy, lại nhờ bà đầu gánh che chở, nên giữ được tiết trinh. Một hôm, Chúa (Hoàng Giang) gọi gánh hát vào phủ. Ngọc Lê hát một bài dâng lên Chúa. Chúa khen và cho phép cô xin một điều bất cứ điều gì Chúa cũng sẽ làm cô vừa lòng, Ngọc Lê xin được về bên bờ Bắc để sum họp với chồng. Chúa nổi giận, ra lệnh cho cô phải chọn giữa việc vào nhà ngục với việc lấy Phúc Đông. Ngọc Lê chọn nhà ngục. Phúc Đông cảm phục Ngọc Lê, tìm cách cứu cô. Chẳng may, Chúa phát giác và Phúc Đông bị đày ra đồn Nhật Lệ. Thành Duy trốn thoát trại giam, trà trộn theo quân chúa Trịnh và đánh chúa Nguyễn, dùng lời hơn lẽ thiệt gợi lòng yêu đồng bào ruột thịt của bình sĩ và, tiếng sáo của anh làm xúc động cả binh lính bờ nam. Ngọc Lê, nhờ bà đầu gánh giúp, có mặt vào lúc đó. Lính và dân hai bờ, mặc kệ quan hăm dọa, khiêng đất lấp sông Gianh...
Tuồng diễn trót lọt từ đầu đến phút lấp sông Gianh. Khi các diễn viên bằng động tác tượng trưng ùa ra giữa sân khấu nhảy múa thì đèn vụt tắt và một quả lựu đạn nổ dữ dội... Tiếng rú thê thảm vang lên. Gần như đồng thời với tiếng lựu đạn, một tiếng súng ngắn nổ tiếp, một nạn nhân trúng đạn chết liền. Khi đèn sáng lại, người chết và người bị thương nằm đầy sân khấu. Cảnh sát rúc còi. Hình như trước đó đã xảy ra xô xát ở chỗ đặt cầu dao điện. Nội vụ đang trong vòng điều tra. Tổn thất cả gánh Kim Thoa rất nặng. Sau đây là danh sách người chết và bị thương... Có tin gì thêm, chúng tôi sẽ đăng số báo ngày mai.
Báo cáo của Nha cảnh sát Đô thành.
Top Secret(1) số 22/TS.
Sài Gòn, November (2)...
Kính gởi Nha tổng giám đốc cảnh sát Quốc gia.
Kính Thiếu tướng Nguyễn Ngọc lễ, Tổng Giám đốc.
Tiếp báo cáo số 19-TS chung quanh việc lựu đạn nổ ở rạp Nguyễn Văn Hảo, nay kết quả giám định và điều tra cho biết:
1) Một nhóm An ninh quân đội đã đánh trọng thương trung úy cảnh sát Lê Văn Minh, tòng sự tại Nha cảnh sát Đô thành – người do bà Hoàng Thị Thùy Dung, Bí thư của Thiếu tướng tổng giám đốc gọi đến giữ trật tự trong rạp – để cắt cầu dao điện. Cầu dao bị cắt 45 giây. Đó là lúc lựu đạn được ném lên sân khấu.
2) Hung thủ dùng lựu đạn O.F loại mới. Lựu đạn nổ vào 23 giờ 37 phút.
3) Vào 23 giờ 37 phút 2 giây, đèn chưa cháy lại, một kẻ lạ mặt dùng súng ngắn bắn chết một quân nhân. Kẻ lạ mặt lẫn lộn trong khán giả trốn thoát.
4) Theo một số người chứng kiến, kẻ lạ mặt dong dỏng cao, tuổi lối 25, mặc quần áo cảnh sát. Khám nghiệm tử thi quân nhân, biêt rằng kẻ lạ mặt dùng súng Vesson ngắn nòng. Điều đó xác minh thêm kẻ lạ mặt.
5) Người chết, trúng đạn ngay đầu, đạn xuyên óc. Tên là Vũ Đình Chu, thiếu úy An ninh quân đội. Khám nghiệm xác nhận đây là hung thủ ném lựu đạn, trong túi Chu còn một quả O.F.
6) Công việc điều tra gặp một số khó khăn:
a) Thiếu tướng giám đốc Nha An ninh quân đội không tạo điều kiện dễ dàng cho thiểm nha hỏi những nhân viên An ninh quân đội cùng đi với Vũ Đình Chu và thiểm Nha tin rằng đồng bọn hành động có chỉ huy, theo một kế hoạch định trước.
b)Linh mục Hoàng Quỳnh trực tiếp gặp giám đốc nha cảnh sát đô thành sáng nay, buộc thiểm nha phải chấm dứt cuộc điều tra, tống giam trung úy Lê Văn Minh và giao nộp cho linh mục kẻ đã bắn Vũ Đình Chu.
7) Dư luận dân chúng rất bất lợi cho chính phủ, nhất là các báo tung tin trái ngược nhau. Báo Em của Nguyễn Tấn Sĩ (Dương Từ Giang) quả quyết “Bàn tay của bọn chia rẽ Bắc Nam nhúng vào máu nghệ sĩ”, Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai và Sài Gòn Mới của bà Bút Trà thì nghi nghi hoặc hoặc: Tự do, Ngôn luận, Cách mạng, Quốc gia... cáo buộc Cộng sản, mà lý lẽ hàm hồ, nên tác dụng ngược lại.
Xin kính trình Thiếu tướng để tường.
Trung tá Giám đốc
*
Luân, cùng Dung vào rạp trước giờ mở màn. Thạch và Lục tháo mồ hôi mới vẹt được đường cho họ. Khi tất cả ngồi vào chỗ - trên lầu, hàng ghế đầu – Dung dùng khăn tay quạt lấy quạt để, Luân mua cho cô chiếc quạt giấy và tiện thể mua luôn mấy gói hạt dưa.
- Khủng khiếp! – Dung vừa quạt vừa cắn hạt dưa, giọng nũng nịu – Không có anh, đời nào em vào đây. Từ bé, lần đầu em xem cải lương. Em không thích. Giá ban Việt kịch Năm Châu diễn tiếp những vở như “Người mặt cháy”, nóng mấy em cũng xem.
Luân thông cảm với Dung, Dung lớn lên trong một môi trường khác, chưa quen nghệ thuật dân gian. Một lần, anh rủ cô xem tuồng cổ, cô gắng gượng ngồi vì ngại Luân buồn – cô chẳng hiểu gì cả. Trái lại, xem kịch “Người mặt cháy”, cô sôi nổi hẳn. Kịch gần gũi cô hơn, ngoài lý do cô đã đọc nguyên tác “Tính cách người Nga” của A. Tolstoi mà Nguyễn Thành Châu Việt hóa thành kịch. Anh cũng đã đưa cô đi xem phim “Không một mái nhà” và “Lòng nhân đạo” – những bước chập chững của nền điện ảnh có xu hướng tiến bộ ở Sài Gòn. Tất nhiên, Dung thích.
Luân còn thông cảm với Dung bởi rạp hát cải lương quá ngột ngạt. Hơi nóng hừng hực – dù mùa này thời tiết khá dịu. Quang cảnh hỗn tạp càng ngột ngạt hơn: trẻ con khóc, người lớn cãi vã tục tằn, nào khạc nhổ, nào rao hàng.
Dung đọc khe khẽ tờ chương trình cho Luân nghe. Anh đã biết sơ sơ nội dung vở tuồng và vì vậy mà anh rủ Dung đi xem. Gần đây, một sự thôi thúc vô hình khiến Luân luôn muốn chia sẻ niềm vui riêng với Dung. Từ từ nhưng vững chắc, Dung chiếm một chỗ trong tình cảm sâu kín của Luân, tuy chưa bao giờ hai người vượt quá làn ranh cho phép và riêng Luân, chưa bao giừo phát triển mối quan hệ xa hơn mối quan hệ cộng tác giữa hai người.
- Lính xem đông dữ! – Thạch nhận xét.
Từ trên lầu, Luân nhìn tòan rạp và anh thấy ngay cảnh tượng không bình thường: quân nhân chiếm một tỷ lệ khá trong khán giả. Một nhóm áp sát sân khấu, số còn lại ngồi rải rác trên ghế “súp” dài theo đường dẫn từ cửa ra vào sân khấu. Trên lầu, quanh Luân, không có một bóng quân nhân nào cả. Nội dung vở tuồng khó mà lôi cuốn những người lính, nhất là những người lính mặt mũi hung tợn, có vẻ sẵn sàng xung trận hơn là thưởng thức nghệ thuật.
“Thanh toán với nhau chăng?”. Luân ngẫm nghĩ. Chuyện các sắc lính ẩu đả, đâm chém, thậm chí bắn lộn... xảy như cơm bữa. Dẫu sao, cũng cần đề phòng. Anh bảo Thạch xuống lầu quan sát.
Thạch trở lên thì màn đã mở. Thạch cho biết hầu hết quân nhân là An ninh quân đội, dân di cư. Một toán lảng vảng nơi đặt cầu dao điện.
“Hay là chúng định hành hung đoàn Kim Thoa. Tuồng Lấp sông Gianh mang ý nghĩa chống chia cách đất nước, tuy tố cáo chúa Trịnh và chúa Nguyễn, song vẫn đập chúa Nguyễn mạnh hơn”.
- Cô gọi điện cho Nha cảnh sát đô thành yêu cầu phái cảnh sát đến giữ trật tự. Tôi ngại bọn An ninh quân đội gây rối. - Luân bảo Dung.
Thạch đưa Dung xuống phòng chủ rạp, nhờ điện thoại. Sân khấu lắng đọng với tiếng hò cao vút của Ngọc Lê.
- Xong rồi! – Dung trở lại bảo Luân.
Bây giờ, màn một đang hồi vui vẻ: Ngọc Lê và Thành Duy đang tỏ tình bên bờ sông.
- Nếu em là Ngọc Lê em sẽ bảo anh chàng Thành Duy: nên về học cách tỏ tình với phụ nữ. Chưa chi đã: Nàng đẹp tựa tranh Tố Nữ, suối tóc dài lay gợn trong mây, mắt hồ thu vừa ngó đã say, màu da ngọc làu làu bông tuyết... - Dung cười nắc nẻ.
- Cô quên là câu chuyện cách chúng ta hai trăm năm!
- Anh nói sai rồi! Cách hai trăm năm mà dám khen: môi nàng tựa đóa hải đường vừa hé nụ... Hồi đó, nhận xét thế các cụ đét cho mà chết!
Tuy phê phán lời lẽ ba hoa của vở tuồng, Dung lại vỗ tay hăng hái khi màn một kết thúc. Và, cô rưng rưng nước mắt với hàm hai, khi Thành Duy vượt sông bị bắt, bị đày. Không chỉ có Dung, mà Lục cũng khụt khịt mũi.
Thạch dẫn hai sĩ quan cảnh sát đến trước Dung.
- Thưa, tôi là trung úy Lê Văn Minh, tòng sự ở Nha cảnh sát đô thành, được lệnh đến trình diện với bà!
Một trong hai người chập gót chân, báo cáo.
- Cùng đi với tôi có thiếu úy Lê Ngân và hai tiểu đội!
Dung vội vã chậm nước măt, chạm nhẹ tay Luân, cầu cứu. Luân ngồi yên. Không thể khác được, Dung phải đứng lên bắt tay hai sĩ quan. Trung úy Minh thẳng người, nhưng môi cố mím. Anh rất trẻ và chắc chắn đã kinh ngạc vì Dung còn trẻ hơn anh. Một cô gái đẹp, rụt rè, chưa lau sạch nước mắt thương cảm với số phận một cô gái khác trên sân khấu, lại là người đủ quyền lực gọi sĩ quan như anh đến nghe lệnh.
Dung phát bực. Luân không giúp cô. Dung đâu biết Luân đang sững sờ. Thiếu úy Lê Ngân chính là Quyến, trung đội trưởng truyền tin của tiểu đoàn 420, cùng với Sa được Luân chọn về thành giúp anh. Từ khi chia tay ở Phụng Hiệp, anh bặt tin Quyến. Ai dè Quyến lò mò vào nha cảnh sát! Mắt Quyến hấp háy!
“Nó không ngờ gặp mình” – Luân nghĩ.
Khán giả trên đầu ngó Dung. Cô càng quýnh.
- Cám ơn hai anh. Đây là anh Luân của tôi! - Dung giới thiệu Luân. Nói xong, như trút gánh nặng, cô thở phào, ngồi xuống.
Luân đứng lên, bắt tay hai sĩ quan. Dĩ nhiên anh và Quyến bóp ngầm tay nhau đến mức xương tay muốn vỡ.
- Có triệu chứng An ninh quân đội gây rối trong buổi hát. Phiền trung úy và thiếu úy cho cảnh sát theo dõi, nhất là nơi đặt cầu dao điện và sân khấu...
Hai sĩ quan cảnh sát đi làm nhiệm vụ. Dung càu nhàu:
- Anh ác ghê! Không tiếp họ ngay lúc đầu. Em xấu hổ đến chín người.
- Họ đến trình diện với “bà” chớ có phải với “ông” đâu!
Luân đùa. Và anh vội né Dung đấm anh. Sau này, mỗi khi vui, Dung thường đấm anh.
Màn ba đang diễn. Dung quên việc vừa rồi, nói khẽ:
- Cải lương hay, phải không anh? Em thích quá!
*
Kịch bản màn ba và màn năm vở Lấp sông Gianh:
Màn ba: Phủ chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn và vương phi vừa nhắm rượu vừa xem múa. Đoàn vũ nữ múa một điệu Chàm.
Chúa Nguyễn (khoát tay): Múa như vậy là đủ. Bây giờ ta muốn nghe hát. Trong bọn ngươi ai hát hay, ta trọng thưởng cho.
Bà đầu gánh quỳ xuống.
Bà đầu gánh: Nàng kia (trỏ Ngọc Lê) hát hay nhất...
Chúa Nguyễn (ngó Ngọc Lê): Nàng hát đi... Nàng tên gì, quê quán ở đâu? Sao mặt mày buồn bã lắm vậy?
Ngọc Lê (quỳ): Dạ tiện nữ làm nghề dệt lụa bên bờ Nhật Lệ, tên Ngọc Lê, họ Trần...
Chúa Nguyễn: Tên và người cùng đẹp!Hát đi!
Vương phi (ngó Ngọc Lê): Nàng là Trần Ngọc Lê?
Ngọc Lê: Thưa vâng!
Vương phi (với chúa Nguyễn): Chúa công không biết nàng sao? (chúa Nguyễn lắc đầu). Vì nàng mà Thế tử Phúc Đông ốm o gầy mòn đó!
Chúa Nguyễn: Vậy sao?... Ta sẽ tác thành cho!
Ngọc Lê: Tiện nữ xin dâng chúa thượng cùng vương phi một bài hát. Nếu bài hát vừa lòng hai vị, xin hai vị cho tiện nữ một lời thỉnh cầu...
Vương phi: Được! Vàng bạc, gấm vóc... (cười) và ngôi chánh thất của Thế tử.
Ngọc Lê: Tiện nữ sẽ trình thỉnh cầu sau. Bây giờ, tiện nữ dâng hai vị bài hát (Ngọc Lê nắn phím đàn, mắt ngó mông lung): Chàng ở bờ bắc sông Gianh, em ở bờ nam, nhớ nhau mà không sao gặp mặt, dù hai ta vẫn cùng uống chung dòng nước...
(Vọng cổ câu 1)... in bóng hai đưa đôi bờ... Nước trong veo và nước chảy hững hờ. Ai chia cắt mối tình vốn trắng tinh như hồn ta con gái và như nụ hoa còn giấu mùi hương, nhìn màu xanh bên kia là gặp bóng người thương nghe sóng vỗ ngỡ lời than, nghe gió khuya như ai đó thì thầm. Đêm khẽ gọi: chàng ơi! Mà đáp lại chỉ lạnh lẽo vầng trăng chia Nam Bắc...
Hậu trường, Thành Duy đệm: Hỡi em gái nhỏ bờ nam mỗi sáng không còn ra bờ sông ngồi giặt lụa, tận biên thùy gối kiếm, ta nghe em như tiếng nhạn sương sầu thảm, cành liễu ta vịn u buồn như hoàng hôn nhuộm xám...
(Vọng cổ, câu 2) Ta đếm bước đi và nghe cát sỏi cũng sụt sùi.
Ngọc Lê (ca nối): Anh ở đầu non, trăm nỗi ngầm ngùi. Em nhặt lá khóc tình duyên cuối bãi. Sỏi cát sụt sùi hay chính lòng ta...
Thành Duy (ca nối): Trách ai? Muốn hỏi trăng ngà.
Trăng im. Hỏi trúc. Là đà, trúc im!
Ngọc Lê (ca nối và dứt): Trời cao dẫu hỏi, trời cao nữa
Còn lại đôi bờ vọng xót xa...
(Hậu trường tấu nhạc, bài “Tình trong lá thiếp” của Phan Huỳnh Điểu). Sân khấu lắng một lúc.
Chúa Nguyễn: Hát hay mà buồn quá!
Vương phi: Bây giờ, nàng hãy vào trong thay đổi xiêm y. Ta cho gọi thế tử nơi đồn Ái Tử...
Ngọc Lê: Không! Tiện nữ là gái có chồng... Xin vương thượng giữ lời hứa, tha cho tiện nữ về bờ bắc sông Gianh!
Vương phi (sửng sốt): Nhà ngươi nói chi?
Ngọc Lê: Tiện nữ muốn sum họp với chồng! Chồng tiện nữ ở bờ bắc...
Chúa Nguyễn (vỗ bàn): Cha chả, giỏi cho con tiện tì!
Vương phi: Nàng điên loạn rồi sao chớ? Nàng không biết sông Gianh là quốc giới hay sao?... Nàng không biết là lệnh chúa cấm qua lại con sông đó, hay sao?
Chúa Nguyễn (cười gằn): Rồi nhà ngươi sẽ mãn nguyện. Nhà người vượt sông khi ta tuốt gươm và trở cờ bắc phạt... Ta phải diệt hết lũ vô đạo đang ngự trị bờ bắc. Thượng đế trao cho ta sứ mệnh đó...
Ngọc Lê (đứng thẳng): Chúa công lầm rồi! Non nước này từ Lạng Sơn đến Cà Mau chung một nòi giống. Sông Gianh làm sao là biên giới được? Sự chia cắt bấy lâu đau lòng trăm họ, chúa công nỡ nào vấy máu đồng bào mình...
Vương phi: Con nhỏ này lớn mật! Ta hỏi mi lần cuối: chọn lầu son gác tía cùng con ta hay chọn ngục đá gômg cùm?
Ngọc Lê: Tôi chọn một dải gian sơn toàn vẹn!
Chúa Nguyễn: Con tiện tì phải đền tội!
Ngọc Lê: Trăm họ sẽ hỏi tội chúa công. Một đầu rơi chớ vạn đầu rơi, chúng dân cũng nhất quyết đòi xóa lằn ranh sông Gianh vô lý!
Chúa Nguyễn: Võ đao quân! (Dạ!)
Tiếng Phúc Đông, hậu trường: Xin vương phụ hay dằn cơn thịnh nộ, đừng làm cho họ Nguyễn nhà ta phạm tội ác giết một người con gái kiên trinh và bị lịch sử lên án đã vì lòng tham ích kỷ nỡ cắt đôi non nước chung máu thịt tự bao đời...
Màn năm: Cảnh lấp sông Gianh
(Hò lơ) Lấp sông này! Lấp sông này...
Lấp sông lấp cả những bầy sói lang!
Thanh bình ta đón nhau sang
Nghìn năm con cháu Hồng Bàng cầm tay!
(Ngọc Lê ngã đầu vào ngực Thành Duy. Nhạc đánh bài Câu hò bên bờ Hiền Lương của Văn Cận).
*
Dung sụt sùi mãi.
- Chị Ngọc Lê chinh phục em! Em nhớ quê quá...
Luân suy tư về hiệu quả của nghệ thuật. Tuy vậy, vở tuồng lộ liễu, không thể diễn tiếp được. Duy Lân giở gắm nhưng chưa làm đủ liều lượng. Bộ Thông tin không phải là những thằng ngu...
Khi vở diễn đến đoạn cao trào thì chừng chục tên An ninh quân đội xông vào nơi đặt cầu dao điện. Trung úy Minh giang tay cản chúng.
- Các anh định làm gì?
- Chúng ông đánh bỏ mẹ mày! – Một tên không đeo cấp hiệu, mặt choắt, cằm phất phơ mấy sợi lông đen, thét to. Cả bọn túm lấy Minh, tước súng. Tên mặt choắt nện lên đầu Minh một thanh sắt, Minh ngã quỵ.
Quyến vẫn theo dõi đám An ninh quân đội áp sát sân khấu, chợt thấy một trong số đó – một gã to béo – móc túi ra một vật tròn tròn.
Khán giả vỗ tay hoan hô. Đèn vụt tắt. Từ tay gã to béo, vật ấy bay lên sân khấu.
- Lựu đạn! – Quyến hô hoán. Anh nâng nòng khẩu Vesson. Ánh lửa lóe, kèm một tiếng nổ dữ dội. Quyến bóp cò, nhắm đúng gã to béo đang khom lưng tránh miểng lựu đạn, dưới ánh mờ của lóe lửa.
Luân nhìn thấy tất cả. Anh rút súng, kéo Dung vào lòng, Thạch đâu lưng vào anh, còn Lục, tuy chậm chạp, song cũng án trước Dung.
- Chết tôi, trời ơi! – Tiếng của cô đào Tâm Ái, thủ vai Ngọc Lê.
- Nó đấy! – Mấy tên An ninh quân đội lao vào Quyến. Một ghế đẩu, ném thật mạnh, trúng ngực anh.
- Bắn nó!
Quyến nghe tiếng cò súng khua. Nhịn đau, anh đạp tung cửa hông, thoát ra hẻm cạnh rạp, vừa chạy vừa thổi còi báo động.
Trung úy Minh tỉnh dậy. Anh cố sức đẩy một tên giữ chặt cầu dao. Cầu dao đóng lại. Đèn bật sáng.
Bọn An ninh quân đội tháo lui. Bấy giờ, còi cảnh sát đã rộ.
... Cảnh náo loạn kéo dài 15 phút. Sân khấu đẫm máu. Sau cùng Luân dìu Dung ra khỏi rạp. Anh đích thân chỉ huy cứu cấp nạn nhân của đoàn Kim Thoa và gọi riêng một xe Hồng thập tự chở trung úy Minh và Quyến vào bệnh viện quân đội. Quyến bị chấn thương nơi ngực. Anh thều thào:
- Anh đừng lo...
Luân dặn thật khẽ.
- Vào nhà thương chú đề phòng tụi nó trả thù... Tôi sẽ nhờ quân cảnh coi chừng giúp.
Trên xe về nhà, Dung khóc thành tiếng:
- Tội nghiệp chị Ngọc Lê!
(1) Tối mật
(2) Tháng 11.

CHƯƠNG 4

Nhu rít hết hơi thuốc này đến hơi thuốc khác. Trước mặt anh ta, một linh mục đẫy đà, tóc cắt ngắn, áo chùng đen, ngực lủng lẳng tượng Chúa.
- Con phải hạ lệnh tống giam tên trung úy cảnh sát đã đưa lính đến can thiệp, cho bác sĩ Tuyến bắt và điều tra ngay con Thùy Dung nào đó, cảnh cáo giám đốc cảnh sát đô thành và tổng giám đốc cảnh sát quốc gia! Bọn ăn hại! Con ra lệnh trong vòng ba ngày phải lôi cho ra kẻ bắn chết thiếu úy Vũ Đình Chu. Trong ngành cảnh sát thôi. Đạn Vesson mà!
Giọng ông linh mục thật hách. Đôi mắt lương ti hí của ông không thèm ngó Nhu.
Nhu cố kềm chế.
- Cha đợi kết quả. Con cho biết bao giờ thì ý cha được thi hành?
- Cha nói hết chưa? – Nhu dụi thuốc. Anh ta nhỏm dậy, ém từng lời trong kẽ răng:
- Cha hành động mà không hỏi ai hết! Cha đọc tin trên báo này thì biết.
Nhu đẩy tờ Tiếng chuông sang ông linh mục. Báo chạy “tít” màu đỏ, suốt 8 cột: “Côn đồ nổ lựu đạn giết nghệ sĩ”. Ông linh mục cầm tờ báo, liếc qua, rồi vứt xuống bàn, lấy khăn lau tay, nói lạnh lùng:
- Con ra lệnh đóng cửa tờ báo Cộng sản này nội hôm nay!
- Thế, có cần đóng cửa trụ sở hội Ái hữu nghệ sĩ, cấm đoàn Kim Thoa và lôi quan tài nạn nhân vứt ra đường không? - Nhu hỏi thô lỗ.
- Làm chính trị mà nhân đạo kiểu con, có ngày chết không đất mà chôn! - Linh mục vẫn khinh khỉnh – Cha cho con hay, hôm nay giáo dân Hố Nai, Xóm Mới biểu tình đập phá rạp Nguyễn Văn Hảo, đánh cho tụi nào dính đến tuồng “Lấp sông Gianh” một trận tơi bời...
- Cha ra lịnh?
Linh mục cười mỉa:
- Tất nhiên!
Nhu vụt đứng lên. Linh mục bấy giờ mới ngó theo anh ta. Nhu lại máy nói, quay số, tay run bần bật:
- Alô! Tôi, Nhu đây – Giọng Nhu khản đặc – Tôi muốn nói chuyện với trung tướng tổng tham mưu trưởng... Nhanh lên! – Trong lúc chờ đợi, tay Nhu nhịp liên hồi trên bàn – Ông Tỵ đó phải không? Tôi, Nhu... có mấy việc: Một, ông cho cấm trại số An ninh quân đội vào đêm hôm qua có mặt ở rạp Nguyễn Văn Hảo... Phạt một tuần trọng cấm trung tá phó giám đốc Nha an ninh quân đội... Sao? Ông Mai Hữu Xuân không đồng ý à? Phạt ông ta luôn! Sẽ xét sau vụ truy tố...Ông ghi kỹ cho. Hai, điều ngay ba đại đội dù, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, dẹp tất cả trò biểu tình bất kỳ ai... Cho phép lính dù được tước vũ khí các đám quân nhân biểu tình, giam giữ tụi nó. Ai chống cự bằng vũ khí thì lính dù được phép bắn! Bảo vệ rạp Nguyễn Văn Hảo trụ sở hội Ái hữu nghệ sĩ, đoàn hát Kim Thoa... bảo vệ lễ cầu siêu các nạn nhân, giúp họ an toàn đưa đám... Di cư à? Tôi cho quyền ông tống giam tất... Cả linh mục làm xằng, cách ly tạm thời. Xin ý kiến giám mục? Tôi đồng ý... Chào trung tướng...
Nhu gác máy, trở lại chỗ ngồi. Linh mục tái mặt.
- Con xử sự với cha như thế sao?
Nhu bốp chát:
- Thế cha không tự hỏi cha xử sự như vậy thì còn ra cái thể thống gì nữa. Ở đây không phải là Bùi Chu, Phát Diệm! Cha không còn là tổng chỉ huy bộ tự vệ!
Chuông điện thoại reo, Nhu đến, cầm ống nghe.
- Vâng, tôi, Nhu đây... Chào giáo sư Mẫu... Thế à? Ông bà Unu, có thể hỏi chúng ta vụ Kim Thoa sao? Chà... Rối quá... Tùy giáo sư... Cứ cho là kẻ giả làm an ninh quân đội... Đang điều tra... Đại sứ Mỹ Rheinardt cũng hỏi à? Tôi sẽ trực tiếp trả lời đại sứ...
Nhu ngó xéo linh mục:
- Cha thấy đấy, ngoại trưởng Vũ Văn Mẫu đang rồi ruột vì... Xin lỗi cha, tôi đành phải vô lễ, vì cái kém thông minh của cha! Ông bà Unu đang là quốc khách của ta, họ chẳng hiểu ta làm ăn thế nào. Họ vừa ở Hà Nội vào, ngoài đó đâu có loạn xạ như vầy... Quái lạ thật! Làm chính trị vào thời đại này mà cha ngỡ như vào thời buổi trung cổ, không bằng!
- Anh không được xấc xược! Tôi có quần chúng trong tay, anh hiểu chưa? Anh có cái gì? - Linh mục nhìn Nhu thách thức.
- Thế à? - Nhu làm vẻ kinh ngạc – Cha có quần chúng ư? Quần chúng ngu xuẩn như mấy thằng ném lựu đạn vừa rồi, tôi bắn ráo! Tôi không yêu cầu cái tuồng xỏ lá đó... Tôi không yêu gì bọn nghệ sĩ bị Cộng sản đầu độc đó... Song, tôi cũng ghét lũ người cục súc, chẳng biết lường hậu quả chính trị... Ai đời, Hiến pháp vừa ban bố, lại chào Hiến pháp bằng lựu đạn, loại tấn công, mới chết chứ! Thằng nào hạ tay thiếu úy cưng của cha, tôi mà biết được, tôi gắn mề đay ngay... Nó đỡ cho chính phủ bị nhục, bị chửi... Tôi sợ cái thằng đó lại là thằng Cộng sản, ta mới bí lối... Quốc gia giết nghệ sĩ, Cộng sản trừng phạt kẻ giết nghệ sĩ!... Sao, cha thấy chỗ hay ho đó chưa?
Nhu rít thuốc, lừ lừ nhìn linh mục:
- Còn cha, nếu cần tôi nói với Đại sứ Rheinardt một tiếng, quỹ cứu trợ dân đi cư chuyển qua người khác, là xong! Là hết sạch quần chúng...
Linh mục vụt xìu xuống. Ông ta không biết làm gì, hai tay chùi lia lịa mặt bàn đầy sợi thuốc cả tàn thuốc.
- Thôi được! Ta rút kinh nghiệm. Con cho hủy lệnh bố trí lính dù đi, kẻo náo động dân chúng... Mà, cũng thương dùm số An ninh quân đội bị phạt... Có nên kỷ luật trung tá phó giám đốc không?.... Còn việc này nữa, cha sẽ làm lễ cho thiếu úy Chu ở nhà thờ lớn...
Giọng linh mục nhẹ nhàng như ông ta hát kinh đạo.
Nhu lắc đầu:
- Tôi nhốt bọn An ninh quân đội, ít ra một tháng! Cha đừng cho thăm nuôi. Ai thăm nuôi, tôi bỏ tù! Thằng trung tá chịu khó ăn gạo lứt khô vài bữa, để nó hiểu ai là cấp trên của nó... Còn lễ cầu hồn, cha muốn thì mang về xứ đạo Bình An mà làm... Cha làm lễ, báo chí nó vạch ra chính cha chỉ huy vụ ném lựu đạn, dư luận rùm lên, có khi cha phải ra tòa... Đừng hòng làm lễ ở Vương cung thánh đường... Đức giám mục chẳng chịu đâu... Nhiều linh mục không tán thành cha, cả giáo dân nữa... Nói để cha liệu mà từ nay dè dặt. Thôi, cha về được rồi!
Linh mục uể oải đứng lên, Nhu dặn với:
- Cha muốn bắn Cộng sản, tôi không cản. Thiếu gì dịp. Miễn phải khôn ngoan một chút... Đã bắn thì bắn công khai, đàng hoàng, bắn theo pháp luật! À! Đừng bày đặt lạc quyên cho thằng thiếu úy an ninh... Cha đâu có thiếu tiền xài, phải không?
Linh mục khuất sau cửa, Nhu ngả người, thở dài.
Chuông điện thoại reo.
- Alô! Nhu đây... À, anh Luân... Sao? Anh có mặt ở hiện trường? Bậy bạ vô cùng... May quá... Ồ! Cả nàng của anh cũng “lâm trận” nữa? Chính cô Dung gọi điện cho nha cảnh sát? Bravo! Tôi sẽ thưởng trung úy Minh, cho anh ta lên đại úy. Sao? Anh nói lại đi... lẽ nào loạn đến thế?
*
Bệnh viện Cộng hòa giữa khuya.
Trung úy Minh, mặc quần áo bệnh nhân, đầu quấn băng, nặng nhọc nhỏm dậy... Anh rời giường chuệnh choạng bước vào phòng vệ sinh.
... Anh mở cửa phòng. Tấm gương gắn trên bồn rửa mặt chợt hiện lên một chiếc mũ. Minh quay lại... Một người, blouse trắng, ghì anh. Anh kêu ú ớ... Một người nữa từ ngoài vào, khép cửa. Cả hai đè anh. Anh vùng vẫy... Chúng bịt mũi anh bằng chiếc khăn long. Anh lịm dần... Một tên, cằm phe phẩy mấy sợi lông đen, cột một dây điện lên bồn nước. Cả hai xốc thi thể Minh, đã mềm nhũn, tròng dây vào cổ. Thi thể Minh lo lửng như người tự vận.
... Cũng tại bệnh viện Cộng hòa, đêm đó tương tự xảy ra ở phòng khác.
Quyến thức giấc. Cánh cửa phòng khua khẽ. Trước khi ngủ, Quyến cẩn thận chèn cửa bằng chiếc bàn con. Đồng hồ tay của Quyến chỉ hơn 1 giờ. Không phải y tá vào thăm bệnh, hẳn rồi. Quyến nghiêng người, kéo khăn trùm kín đầu, chừa một khoảng trống nhỏ quan sát.
Cửa phòng hé từ từ bởi vướng chiếc bàn con. Ánh đèn hành lang in hai bóng người lên cửa kính. Hai người vận blouse của nhân viên bệnh viện.
Quyến tháo chạy khỏi dám an ninh quân đội. Xe cấp cứu đưa anh vào đây và anh mê man suốt đêm hôm đó, lên cơn sốt suốt ngày nay. Chập tối, anh tỉnh dậy. Bác sĩ cho biết ngực anh va chạm mạnh, may mà xương sườn và nội tạng không thương tổn. Sau khi ăn bát súp, Quyến khỏe dần. Anh đòi khẩu Vesson và đặt nó lên đầu giường.
Bây giờ, Quyến mới sống lại giây phút gặp Luân. Quyến không nghĩ rằng anh sẽ gặp Luân trong trường hợp như vậy. Chia tay Luân ở Phụng Hiệp cuối năm kia, Quyến và Sa lại chia tay ở Trà Ôn. Quyến theo kế hoạch của anh Sáu Đăng, về nhà người bác ruột, chủ sự bưu điện quận Lái Thiêu. Bác của Quyến, vợ mất sớm, không con, nuôi Quyến lúc Quyến vừa biết nói, cho ăn học và cũng lén cho Quyến đi kháng chiến. Ông đón Quyến với tấm lòng của người cha, xoay sở cho Quyến một tờ lý lịch và tấm thẻ kiểm tra bảo đảm: con trai một “ách” (1) trong quân đội Pháp, quê Ninh Hòa, cha bị Việt Minh thủ tiêu, trình độ văn hóa năm thứ hai chương trình trung học Pháp. Với chừng đó vốn liếng, Quyến được nhận vào trường sĩ quan cảnh sát đào tạo cấp tốc theo đòi hỏi của chế độ mới. Tháng 7 năm nay, sau một năm học tập, anh thi tốt nghiệp, đỗ cao, hạng tối ưu, cùng đôi người nữa là khôi nguyên của khóa. Lập tức, anh được gắn lon thiếu úy cảnh sát trù bị, tập sự tại nha cảnh sát, chuyên trách an ninh.
Anh vẫn thường để ý tìm Luân. Lúc đầu, không có tin tức gì. Anh không được quyền liên lạc với Sa, nhưng tình cờ một lần anh gặp Sa. Qua Sa, anh biết tin Luân. Thế là yên tâm.
Tối hôm qua, không nhằm phiên trực, anh định dạo phố, đã thay quần áo. Trung úy Lê Văn Minh, trưởng toán an ninh, hớt hải đến buồng anh - ở ngay trong vòng rào nha, khu dành riêng cho sĩ quan độc thân. Trung úy cho biết cần đưa hai tiểu đội cảnh sát đến rạp hát Nguyễn Văn Hảo ngay, theo mật lệnh của người tên là Hoàng Thị Thùy Dung, vì không sẵn sĩ quan trực, trung úy nhờ anh cùng đi. Vốn chơi thân với Minh, anh vui vẻ đồng ý. Thạch đón họ trước cửa rạp. Thạch là cảnh sát bảo vệ, họ biết, còn Thùy Dung là ai họ không rõ. Cả Minh và Quyến đều bật ngửa: Thiệt là khó gọi cô gái ấy bằng bà. Nhưng, Quyến mới thật sự lảo đảo. Luân ngồi cạnh Thùy Dung. Cha mẹ ơi, anh Bảy Luân đây... Không thấy thằng Sa, Quyến đã vồ tay Luân bằng cả hai tay mình. Và, bây giờ thì vỡ lẽ thêm. Cái “bà” tên Thùy Dung há chẳng giới thiệu: Anh Luân của tôi, đó sao? Quyến như đi trên ngọn cỏ. Chà, anh Bảy xáp vô một chị, chưa chắc “Hoa hậu Vespa” qua mặt nổi... Vậy là chị này cũng “đàng mình”chẳng sai!
Quyến dò la Thạch, Thạch “lên lớp” Quyến:
- Biết ít thì sống lâu, biết nhiều quá chết yểu!
Chị Thùy Dung làm chức gì mà nha cảnh sát te te theo lệnh? Coi bộ ngon lành dữ đa!
Rồi lựu đạn nổ. Rồi Quyến hạ thằng An ninh quân đội. Anh hành động hoàn toàn theo lương tâm. Một tên giết người, nó phải đền tội. Sự việc tiếp sau phức tạp quá, song Quyến không ân hận. Anh sửa soạn trước thái độ: sẽ nhận và nói rõ lý do... Anh tin là cái vỏ hợp pháp đó che được anh. Rồi Luân ân cần dặn dò...
... Cuối cùng, cánh cửa hé rộng. Hai bóng người lách vào. Cả hai mặc blouse trắng, đội mũ trắng.
Quyến một tay bấm công tắc đèn, một tay nắm gọn khẩu Vesson, khoát chăn, bật dậy. Hai người lạ mặt chói mắt vì ánh đèn đột nhiên sáng rực, chưa kịp phản ứng thì họng súng đã chĩa vào họ:
- Giơ tay lên! – Quyến ra lệnh.
Hai người líu ríu giơ tay.
- Quay lưng lại! – Quyến ra lệnh tiếp.
Đúng như Luân liệu trước, bọn An ninh quân đội trả thù. Một trong hai đứa cằm dính mấy sợi lông trông như khỉ đột. Quyến suy tính nhanh.
- Tụi bây là An ninh quân đội, tao biết! Tao có thể bắn chết tụi bây như chơi. Tao có thể hô hoán, lính gác vô còng tụi bây... - Quyến nhăn mặt: ngực anh nhói – trong hai thằng chắc có thằng ném ghế vào anh.
- Nhưng mà, tao tha cho lần này. Lần này thôi! Nhớ nghen. Ra ngay khỏi đây...
Có tiếng chân người rậm rịch.
- Quân cảnh tới đó... Hai đưa bước đi tự nhiên, đừng để linh nghi!
Hai tên không kịp cám ơn, lách vội ra ngoài. Quyến chùi khẩu Vesson dưới gối, ôm ngực. Toán quân cảnh thò vào phòng:
- Có chuyện gì vậy thiếu úy?
- Không có chuyện gì... Hai bác sĩ vào thăm bệnh tôi! – Quyến trả lời điềm tĩnh.
- Thăm bệnh gì vào giờ này? Thiếu úy có gọi họ không?
Một quân cảnh chợt thấy sợi dây điện rơi dưới đất:
- Không phải bác sĩ... Tụi giết người!
Lập tức báo động khắp khu bệnh viện.
Dĩ nhiên, Quyến không thể biết quân cảnh vừa tìm thấy xác trung úy Minh, phòng bên cạnh.
---
(1) Adjudant: hạ sĩ quan Pháp, tương đương với thượng sĩ.

CHƯƠNG 5

Ly Kai đinh ninh là gã không thể nào lọt vào cuộc họp, mặc dù Suần Quài hứa chắc là gã sẽ được tiếp đón, thậm chí còn thân tình hơn số thương gia, nghiệp chủ người Hoa có mặt hôm nay. Dương Tái Hưng, qua Loẽng, bảo gã phải lân la với nhóm “Lâm Sử”, nhờ nhóm đó bắc cầu mà phăng ra nhóm Hoa vận “Giải Liên”… Nói chung gã mù tịt những phe nhóm trong đám người Hoa này.
- Thây kệ, chúng nó nói chính trị, nó nói cái gì thì nị ừ cái nấy… Nhóm “Giải Liên” có thể dính đến thằng cha gì mà ông chủ biểu nị theo dõi đó! – Loẽng bảo.
Từ khi nhận được chỉ thị của Dương Tái Hưng, Ly Kai bám sát Luân. Cả khi Luân học trên Đà Lạt, Ly Kai cũng lên đó vài lần dò hỏi. Tuy nhiên, tài liệu về Luân chẳng được là bao. Ly Kai vấp một khó khăn: Ngô Đình Nhu và bác sĩ Tuyến lạnh nhạt dần với gã. Gã hiểu lờ mờ nguyên cớ: Họ không tin gã thoát chết nhờ phóng xuống nước. Có thể họ cho gã đầu hàng Lại Văn Sang, phun hết bao nhiêu điều cơ mật. Có thể họ nghi gã dính líu vào cái chết của Tiểu Phụng. Và cũng có thể họ ghép gã trong danh sách điệp viên của CIA – lý do sau chót vững hơn hết, bởi họ chỉ giảm tin dùng gã chớ chưa đuổi gã hoặc làm một cái gì khác ghê rợn hơn.
Dương Tái Hưng không hài lòng nhiều về gã. Một trong yêu cầu mà Dương Tái Hưng chỉ thị là gã phải dụ cho được Thạch hoặc Lục, hay tiếp cận với bác sĩ Soạn và vợ ông ta – người thân của Thùy Dung – gã không làm được. Khó lắm! Thằng Thạch láu lỉnh, không khéo nó biết gã dò la Luân, báo với Luân, Luân hỏi Nhu – tất nhiên Nhu không giao gã việc đó, họ sẽ trị gã. Thằng Lục lù đù, cạy răng không nói. Gia đình bác sĩ Soạn chẳng có quan hệ nào với Hoa kiều, làm sao xáp vô được? Trần Vĩnh Đắt làm việc vói Dung khi lão ta còn ở ngành công an, song lão “dê xồm” tán những thứ linh tinh về cô gái mà lão đam mê, ngoài ra chẳng cung cấp được một chút gì bổ ích. Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lễ biết Dung trong công vụ - ông ta ngại, dòm ngỏ việc riêng của cô sẽ phật ý Luân mà Luân thì đang được họ Ngô trọng dụng.
Bây giờ, Dương Tái Hưng lại chỉ thêm cách cho gã lần mối…
Pô Xường Thài, do nghị định của chính phủ buộc mọi công dân phải lấy tên theo âm ngữ Việt Nam, nên đổi ra Bá Thượng Đài, ngụ trong một ngôi nhà hai tầng kiến trúc lối Pháp vào đầu thế kỷ khá đồ sộ, nằm giữa vòng rào sắt mà mỗi thanh giống như ngọn giáo chĩa lên trời, trên đường lớn Gaudot, vừa cải danh thành Khổng Tử.
Pô Thường Xài nổi tiếng là “vua sắt” – chuyên mua bán vật liệu xây dựng. Ông ta thuộc hạng ngươi Hoa điển hình ở Chợ Lớn: Từ Quảng Châu sang đây, khi vừa biết nói, tài sản của gia đình ông – cha, mẹ và ông ta gọn lỏn trong hai cần xé. Nghề đầu tiên của cha mẹ ông ta là mua ve chai, đôi dép lốp xe mỏng dính bấu vào chân bằng một sợi thun phía sau giữ lấy gót và một sợi thun phía trước ghì ngón chân cái, đã lội khắp hang cùng ngõ hẻm thành phố, từ Bà Chiểu đến Phú Lâm. Hai cần xé, vẫn là hai cần xé mây theo họ sang đây, nhứn nhẩy trên vai, dưới chiếc nón mây rộng vành và trong bộ quần áo xanh vá chằng vá chịt. Đó là hình ảnh mà Pô Xường Thài lưu giữ trong ký ức về cha mẹ mà cũng là về bản thân mình. Hồi lên 7, Pô Thường Xài bắt đầu nối nghiệp cha mẹ, mặc dù nhà đã khấm khá – rời khoảng trống cạnh rạp Casino Chợ Lớn, mướn một căn phố lùi phía sau đường Thủy Binh.
Khi Pô Xường Thài lên 15, bang Quảng Đông cho phép cha của ông ta hùn vốn mở một tiệm lạc son (1) ngay dưới chân cầu Palikao. Năm lên 20, gia đình ông tách riêng, làm chủ một tiệm bán sắt vụn trên đường La Ceinture, trước cổng đồn Cây Mai. Đó là năm Thế chiến thứ nhất kết thúc. Pô Xường Thài đã khôn lớn, cha mẹ ông vẫn ngày ngày quảy cần xé len lỏi các xóm trong thành phố, giao cho ông mở mang cơ nghiệp theo lối khác. Mãi năm lên 30, Pô Xường Thài mới cưói vợ, con một chủ hiệu lạc son ở cầu Ông Lãnh. Ông ta cưới vợ chưa bao lâu thì cha qua đời. Đám tang đơn giản. Rồi đến lượt mẹ ông. Khi những người thuộc thế hệ cũ khuất bóng, Pô Xường Thài một mặt xây cho họ mồ mả thật lộng lẫy để đền ơn, một mặt mua nhà đồ sộ ngay mặt tiền đại lộ.
Những tiệm lạc son nhỏ lần lượt về tay Pô. Sau cùng, chính cha vợ ông bán cơ ngơi ở cầu Ông Lãnh cho ông. Thế chiến thứ hai mang tiền vào nhà ông như nước: sắt là của quý, mà ông có hằng kho đầy ắp, ngay Dainan Koosi cũng phải tìm đến ông để xưởng tàu vủa họ ở Chánh Hưng có thể hoạt động. Chiến tranh Việt - Pháp tiếp tục hỗ trợ ông. Ngày nay, tuy còn danh nghĩa “vua sắt” ông thật sự đã là vua dệt, vua chất dẻo, và cũng có lẽ được gọi là vua ngân hàng: cổ phiếu của Pô – ông chưa bao giờ tiết lộ, song chẳng có gì là khó hiểu – khá cao trong Bank of China, Bank of Communication, và cả trong chi nhánh Hong Kong Exchange office (2). Dụ 53 của chính phủ Diệm, gây trở ngại cho Pô – trong 11 nghề ngoại kiều không được làm, có nghề sắt đồng – nhưng chỉ vài hôm, mọi sự đâu vào đấy: Pô Xường Thài lãnh thẻ căn cước với tên Bá Thượng Đài, dù cho mãi tới bây giờ, câu tiếng Việt mà Pô nói suôn sẻ nhất vẫn là câu: de chai pể, sắt pể pán hôn…(3).
Ấy vậy mà Bá Thượng Đài lại dám mời Lâm Sử mở hội nghị tại nhà.
Vì sao đại thương gia Bá Thượng Đài quan hệ với Lâm Sử, ta sẽ tìm hiểu sau. Ta hãy làm quen với Lâm Sử.
Người Triều Châu, thầy giáo dạy học ở Bạc Liêu, Lâm Sử đi kháng chiến, cán bộ của Hoa kiều giải phóng liên hiệp hội, gọi tắt Giải Liên, thành viên của mặt trận Việt Minh – và sau này, của Liên Việt. Lâm Sử được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1947, lần lượt công tác trong hội Giải Liên cấp quận, cấp tỉnh rồi lên tổng hội. Năm 1951, Lâm Sử trở thành một trong những cán bộ chủ chốt của ban Hoa vận xứ ủy, tổng biên tập báo Giải Liên. Năm đó, Lâm Sử đang học lớp chỉnh huấn thì vợ anh có thai – té sông chết đuối. Tin đến giữa lúc anh đang “ngồi thị phạm” (4). Anh chỉ biến sắc một thoáng, tiếp túc hành thành bản tự kiểm điểm. Bấy giờ, anh được nhà trường nêu lên tấm gương kiên cường có một không hai.
Sau hiệp định Genève, Lâm Sử được phân công về hoạt động ở Sài Gòn. Anh lấy vợ kế. Do sự thỏa thuận giữa trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lâm Sử - cùng một số cán bộ - tác khỏi đảng Việt Nam, trực thuộc Bắc Kinh. Nhiệm vụ của ban cán sự này là chuyên trách với Hoa kiều tầng lớp trên, còn quần chúng lao động Hoa kiều thì do đảng Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, qua một số cán bộ vốn công tác chung với Lâm Sử trong tổng hội Giải Liên.
Tới đây, xuất hiện sự khác biệt có tính nguyên tắc trong phương châm vận động quần chúng, Hoa kiều giữa hai đảng. Trực tiếp nhận chỉ thị từ Bắc Kinh, nhóm Lâm Sử đưa ra khẩu hiệu “Trường kỳ mai phục, xúc tích lực lượng diện hương Tổ quốc” (5) trong nhóm Giải Liên, theo quan điểm “Ở đâu có áp bức ở đó có đấu tranh” của đảng Việt Nam mở rộng phòng trào và gắn phong trào của lao động người Hoa với phòng trào lao động nói chung. Đảng Việt Nam xem những tư sản mại bản người Hoa câu kết với đế quốc ngụy quyền – kẻ áp bức bóc lột quần chúng Hoa Việt – là đối tượng đấu tranh, còn nhóm Lâm Sử xem bọn chúng như đồng minh, xuất phát từ huyết thống chứ không từ giai cấp.
Bá Thượng Đài chẳng biết ất giáp gì – ông ta thoạt đầu cũng ngán tiếp đón một “Trung cộng” như Lâm Sử, nhưng Suần Quài giải thích cho ông ta hiểu: Trung Cộng hay Trung Hoa Dân quốc chẳng qua là bề ngoài, tương lai sẽ chỉ là một nước Trung Hoa bá chủ; cái cần đối phó là bọn “Ố nàm chảy” (6) , nhất là bọn Cộng sản “Ố nàm” (7) chúng nó vừa đánh bại Pháp, nếu chúng nó đánh bại Mỹ nữa, con đường thu hồi Đông Nam Á của Trung Quốc sẽ tắc nghẽn. “Không có hai mặt trời”, Suần Quài lý luận như vậy. Bá Thượng Đài hỏi: Mà tại sao Trung Cộng lại ủng hộ Việt Cộng?
- Hà! – Suần Quài tỏ ý thương hại cho sự tối dạ của “vua sắt” – Giả tỷ như Mỹ thắng Việt Cộng, làm sao nước Tàu xuống phía Nam được? Con cò con ngao cắn nhau, ngư ông mới thủ lợi được chứ! Mỹ với Việt Cộng đánh nhau, đứa thắng đứa bại đều yếu xìu… Biết chưa?
Bá Thượng Đài phục lăn. Ông ta vững bụng hơn nữa vì biết rõ sự họp mặt sẽ có Tào Phu, thân cận với Lý Lương Thần – được hiểu ngầm là dính dáng chặt chẽ với đặc vụ Tưởng Giới Thạch.
Cuộc họp gồm tất cả sáu người: Lâm Sử, Tần Hoài (8), Bá Thượng Đài, Tào Phu – Giám đốc Mekong Rice Export (9), Diệu Thọ, chủ nhà thuốc Vạn An Đường với hiệu cù là tự nhận “chánh gốc Miến Điện” – tóc đen nhánh dù tuổi đã hơn 70. Người thứ sau là Ly Kai – nguyên chủ chứa sòng bạc Đại Thế Giới, bây giờ vẫn tiếp tục nghề cũ, nhưng gom lại còn một món “đề 36 con” dành cho giới giàu có, mở lưu động. Khi thì Đại La Thiên, khi thì khách sạn Bồng Lai, khi thì nhà hàng Đồng Khánh.
Suần Quài – bao giờ cũng phì phò chiếc điếu cán dài, người xương xẩu – giới thiệu Lâm Sử khi sáu người ngồi chiếc bàn đặt ở gian phòng tĩnh mịch phía sau. Ông ta nói tiếng Bắc Kinh, chưa sõi lắm.
- Các vị đã biết, ông Lâm Sử muốn làm quen với chúng ta. Tôi đã nhiều lần nói về ông với các vị…
Lâm Sử - trẻ nhất trong số có mặt – đi vòng, bắt tay từng ngươi. Anh ta nắm tay Ly Kai thật lâu:
- Hẩu! Tôi nghe danh tiếng xếnh xáng từ khi còn kháng chiến trong khu…
Suần Quài đã nói đúng: Ly Kai được đón tiếp đặc biệt thân tình – đến khi tan cuộc họp gã mới hiểu lý do.
- Tôi hân hạnh gặp các vị hôm nay. – Lâm Sử nói, tiếng Bắc Kinh thật trôi chảy, văn hoa – Tôi thay mặt cho Tổ quốc chào các vị!
“Lại Tổ quốc!” – Ly Kai nói thầm.
- Đối với chúng ta, – Lâm Sử nói tiếp – Những người tha phương cầu thực, tuy sống nghìn dặm xa nơi sinh trưởng, vẫn không bao giờ quên Tổ quốc vĩ đại của mình. Nhà thơ lớn Thôi Hiệu đời Đường, đã nói về quê hương:
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu. (10)
Chúng ta còn hơn Thôi Hiệu, bởi vì Thôi Hiệu đề thơ nơi Hoàng Hạc lâu đất Giang Nam trên núi sông Hoa Hạ, chúng ta thì đang ngồi tận chót vót bán đảo Đông Dương.
Lâm Sử nói khá dài. Thỉnh thoảng, anh ta chen thơ, phú và kết thúc bằng hai câu cuối bài từ “Vịnh tuyết” của Mao Trạch Đông anh ta không hài tên tác giả:
Sổ phong lưu nhân vật
Hoàn khán kim triều (11)
Cả Suần Quài, Bá Thượng Đài, Diệu Thọ đều dốt đặc văn chương – cuộc sống của họ chỉ lách cách của bài toán – nên há hốc mồm nghe Lâm Sử. Người học cao hơn hết trong bọn là Tào Phu – kiếng trắng, dáng vẻ trí thức – thạo văn học phương Tây hơn Trung Quốc. Ly Kai dĩ nhiên còn quá tệ: gã nói sành sỏi tiếng Pháp, tiếng Anh nhưng đọc không xuôi một trang sách chữ Tàu!
Mở đầu thì long trọng – đôi lúc, Bá Thượng Đài ngại bài nói hay ho của Lâm Sử nhằm vào tủ sắt của ông ta – mà công việc lại thật giản đơn. Có thể tóm tắt “lời kêu gọi của Tổ quốc” qua miệng của Lâm Sử như sau: Hãy làm giàu nữa, làm giàu gấp năm gấp mười như hiện nay, hãy mua nhiều cổ phần các hãng Hồng Kông, Nhật, Singapore, Nam Triều Tiên và… Đài Loan. Tất nhiên, trước hết hãy làm chủ những ngành kinh tế có thể làm chủ ở Việt Nam Cộng hòa, càng nhiều càng tốt. Hãy đổi quốc tịch. Chẳng ăn nhằm gì những thứ lặt vặt ấy. Tên gì thì tên, miễn nuôi dòng máy Hoa Hạ sôi sục!
- Té ra Trung Cộng không chống lại người giàu có.
- Té ra Trung Cộng không thù địch Đài Bắc, mặc dù ngày nào họ cũng bắn đại bác vào Kim Môn, Mã Tổ, cảnh cáo Quốc quân đến lần thứ nghìn lẻ…
- Té ra “diện hướng Tổ quốc” không mấy gì làm khó.
Đại loại những người có mặt hiểu bài nói của Lâm Sử như vậy.
Và, bữa cơm của Bá Thượng Đài – nấu theo lối Nam Hải – dùng rượu Mao Đài chính gốc, hút thuốc Penda Thượng Hải…
Lâm Sử, lúc uống trà, thì thầm với Ly Kai.
- Ông vẫn còn làm việc với Ngô Đình Nhu?
- Còn!
- Từ nay, ông cung cấp cho tôi những tin tức cần thiết, qua ông Suần Quài. Ông sẽ giúp ích cho Tổ quốc rất nhiều…
“Tổ quốc! Và, cũng Suần Quài!”. Ly Kai ngẫm nghĩ bởi chính Suần Quài móc nối gã với Dương Tái Hưng.
- Tôi muốn làm quen với nhóm “Giải Liên”. – Ly Kai đề nghị.
- Chi vậy?
- Có việc…
- Khó! Họ không tiếp ông đâu. Có thể họ khử ông nữa! Họ thuộc Việt Cộng lãnh đạo. Mà, việc gì?
- Tôi tìm hiểu một người…
- Ai?
- Nguyễn Thành Luân.
- À!
- Ông quen?
- Quen… Đúng hơn, vì cùng kháng chiến, biết ông ta. Tôi nghĩ là nhóm “Giải Liên” không liên hệ gì với Luân. Luân đang làm việc cho Nhu, nghe đâu anh ta cắt mọi quen biết cũ. Nhóm “Giải Liên” chắc chắn sợ anh ta. Nhu nghi ngờ anh ta?
Ly Kai hơi lúng túng. Gã không dám nói đến Dương Tái Hưng – Suần Quài đã dặn gã đến chục lần: muốn còn thở thì quên hẳn Dương Tái Hưng khi đến đây.
- Nghi ngờ! – Ly Kai trả lời liền.
- Về mặt nào?
- Anh ta đi sâu vào gia đình Diệm để làm gì!
- Biết bấy nhiêu, rồi thôi?
- Sẽ liệu!
- Định khống chế anh ta?
Ly Kai do dự một lúc rồi gật đầu.
- Khống chế cho ai?
Câu hỏi ngược của Lâm Sử làm Ly Kai chới với. Gã cũng nói liều:
- Cho Nhu!
Lâm Sử nhẹ cười…Cái cười rất tươi song Ly Kai lấm tấm mồ hôi.
- Tôi sẽ giúp ông. Chưa nói được bằng cách nào và bao giờ, nhưng tôi hứa. Phần ông, ông nhớ cho tui tin về Nhu. Ông có biết một chỗ gọi là P.42 không?
Ly Kai biết lờ mờ về căn hầm giam người dưới lòng đất trong vườn bách thú, song gã lắc đầu, giả ngơ ngác:
- P.42? Tôi chưa nghe bao giờ…
- Thôi được, ông dò la chỗ đó giúp tôi.
Lâm Sử trao cho Ly Kai bao thuốc Cotab hút dở, bên trong thò ra mấy tờ đô la.
- Ông cất mà hút!
Lâm Sử chào mọi người, về trước. Anh ta từ chối xe riêng của Bá Thượng Đài, gọi taxi.
Tào Phu cùng Ly Kai ra khỏi nhà cùng một lượt.
- Tôi đưa ông. – Tào Phu mở cửa xe, mời Ly Kai. Ông ta tự ái.
- Ông muốn làm quen với Đại sứ Trung Hoa Dân quốc không? - Tào Phu hỏi – Tôi sẽ giúp ông! Tôi tin là đại tá tùy viên Tôn Phương Truyền sẽ rất vui nếu ông đến sứ quán…
“Tiểu na má!” – Ly Kai rủa thầm – “Lại đặc vụ Đài Loan!”
- Ông sẽ chẳng thiệt chút nào. Tôn đại tá biết người biết của lắm. Qua nhất định nặng hơn bao Cotab kia nhiều!
Vậy là nó thấy mình nhận tiền của Lâm Sử!
- Tôi cũng muốn làm quen với sứ quán!
Ly Kai trả lời xong, gã và Tào Phu cùng cười hơn nữa, nháy mắt với nhau…
*
Báo cáo hàng ngày của Sở nghiên cứu chính trị.
Tin đáng chú ý:
1) Có dấu vết về kẻ giết trung úy Lê Văn Minh: hung thủ đi giày bata cỡ to (chân không to tương xứng với giày, như vết in trên bờ rào bệnh viện lúc chúng vượt rào tẩu thoát cho thấy), mang găng tay nên không để lại dấu tay. Tuy vậy, nhiều bằng chứng gián tiếp xác nhận an ninh quân đội gây ra vụ này.
2) Thiếu úy Lê Ngân, đội phó đội trinh sát an ninh thuộc Nha cảnh sát đô thành đã bắn chết thiếu úy An ninh quân đội Vũ Đình Chu, theo nhiệm vụ của anh ta. Chính anh ta báo cáo với trung tá giám đốc nha.
3) Tin tái đắc cử Tổng thống Mỹ của ông Eisenhower khiến số trí thức “đối lập” thối chí. Phan Quang Đán nói tại một cuộc gặp gỡ giới thầy thuốc mừng thạc sĩ Trần Vỹ được Bộ trưởng bộ y tế: “Il faudra encore quatre ans pour un changement” (12)
4) Nhân Chu Lai sang Hà Nội, Hoa kiều hoạt động mạnh ở Chợ Lớn. Theo nguồn tin chắc chắn, hôm kia, tại ngôi nhà số 3 đường Khổng Tử, có một cuộc họp gồm chủ nhà (Bá Thượng Đài, “vua sắt”), Tào Phu “vua lúa gạo”, Tần Hoài, chủ nhà hàng Đại La Thiên, Diệu Thọ “vua thuốc bắc” với một người lạ tên là Lâm Sử thay mặt cho Trung cộng. Nội dung cuộc họp chưa thẩm tra. Chỉ biết là sau đó Tào Phu gặp riêng đại tá Tôn Phương Truyền, phụ trách đặc vụ sứ quán Đài Loan, có lẽ thông báo về cuộc họp đó.
5)Tình hình Hung Ga Lợi được khai thác tối đa trên báo chí, đài phát thanh của ta. Số tiền 2.450.000 đồng của Việt Nam đã chuyển tới hội Cứu trợ quốc tế. Bộ ngoại giao ta điện cho thủ tướng Hung Imre Nagy, song ông ta đã bị Janos Kadar lật đổ.
6) Giữa Việt tấn xã và báo Tự do đưa tin không ăn khớp về việc 19 người từ Nghệ An vượt tuyến Đà Nẵng ngày 19-11 vừa rồi: Việt tấn xã nói họ là ngư dân bị bão, được chính quyền địa phương giúp đỡ v.v… còn báo Tự do thì đăng một bài phóng sự dài, kèm ảnh, nói họ là những người khởi nghĩa Quỳnh Lưu trốn thoát. Sở Công an Trung bộ nghi một số trong họ là do Cộng sản cho trà trộn vào Nam.
7) Một điện đài bí mật vừa lên tiếng tại vùng rừng Bời Lời (Tây Ninh). Công suất máy cỡ 15W, chắc chắn là dùng pin, dây trời định hướng phía Nam, chưa rõ mỗi ngày, mỗi tuần phát bao nhiêu lượt, vào giờ thay đổi cố hay cố định. Lượt đầu tiên kéo dài 27 phút, bộ phận mã thám chưa đọc được bức điện, nhóm chữ số khác các điện ta chưa bắt được. Sẽ nhờ trung tâm tình báo Mỹ giải mã. Điều đáng chú ý là manip của đài này với đài phát hiện trước đây ở B’lao giống nhau.
Bên lề báo cáo của Sở nghiên cứu chính trị, Ngô Đình Nhu ghi bút đỏ:
- Khoản 1 và 2: Chấm dứt điều tra.
- Khoản 3: Tin lếu láo! Sau này, nhớ cho tin có giá trị hơn.
- Khoản 4: Hỏi Ly Kai chi tiết. Nguồn tin chắc chắn có phải là Ly Kai không? Y dự họp hay nghe tin? Cần chú ý tin của Ly Kai - cung cấp tin cho ta hay phao tin? Đã bố trí theo dõi chặt y chưa? Vô lý: Trung Cộng nào dám công khai vỗ ngực xưng tên, nhất là với Tào Phu, đặc vụ của Đài Loan? Thẩm tra bằng mọi cách, kể cả xác định Ly Kai, nếu tung tin thì để làm gì. Điều tra Ly Kai thật khéo (ba gạch đậm dưới chữ “thật khéo”).
- Khoản 5:Vô duyên! Báo cáo làm gì? Tin tức “đặc biệt” mà chỉ cóp nhặt trên báo!
- Khoản 6: Lưu ý Sở công an Trung bộ sớm kết luận về ý kiến của họ. Nghi? Bằng chứng? Mơ hồ quá!
- Khoản 7: Không được nhờ Mỹ déchiffrer (13) (gạch đậm). Cố mà tự lực. Cần máy móc gì không?
*
Tin tức báo chí ngày 11-12-1956
Trung tướng Lê Văn Tỵ được phong đại tướng. Đại tá Phạm Xuân Chiểu thay thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lễ làm tổng giám đốc cảnh sát công an quốc gia. Các thiếu tướng Nguyễn Ngọc Lễ, Trần Văn Đôn, Trần Văn Minh, Thái Quang Hoàng được thăng trung tướng. Đại tá Lê Văn Kim thăng thiếu tướng.
*
Liên lạc của họ với A.07 nối lại vài tuần nay. Các báo cáo do Dung mã và Luân chuyển qua một trạm lưu động nào đó mà Dung không được quyền biết, đến cả điện đài bây giờ đặt ở vùng rừng Tây Ninh. A.07 thỉnh thoảng gởi cho họ một dòng động viên, còn ngoài ra các yêu cầu, hoặc xác minh, hoặc sưu tra tình hình, hoặc nhận định của Luân về những sự kiện quan trọng. Nói chung, A.07 chỉ thị họ sử dụng điện đài thật thưa, không định kỳ, không theo quy luật. Có lần, Dung được một điện riêng: “CR hỏi thăm sức khỏe Mimosa tại ông cụ. Cẩn thận hơn, tuy ông cụ đối phó tốt”. CR tức là “Centre de Recherche”, ký hiệu chỉ trung tâm tình báo Sài Gòn. Như vậy chúng cho điệp viên ở Hà Nội điều tra về Dung qua bố của cô. Lý do có lẽ liên quan đến điện đài ở B’lao. May mà nửa năm nay, điện đài ngưng hoạt động ở hướng đó.
Đọc điện, Dung nhớ nhà điếng người. Tội nghiệp, tuổi cha đã cao, có ai giúp đỡ không? Vì công tác của Dung, chú Thuận chắc ít đến – hoặc có đến cũng kín đáo. Dung mong tin tức của cha, gần đây, ông cụ nhắn tin trên đài, giọng còn rất khỏe. Ông cụ gởi cả bưu thiếp cho vợ chồng bác sĩ Sự - tất nhiên là gởi cho Dung. Dung bồi hồi đọc nét chữ của cha, dù sao, cũng đã yếu đi nhiều. Vợ bác sĩ Sự cũng gởi cho ông bưu thiếp, báo tin Dung. Ông cụ chắc đỡ lo.
Xe Dung nối dòng xe sáng sáng vẫn nghệt con đường môt chiều Nguyễn Trãi, trước khi giáp với đại lộ Cộng hòa. Ngang Lycéc Franco Chinoise (14) Dung chợt thấy điều khác thường: mỗi ống cống xi măng xếp đứng của ngành giao thông đặt ven đường – mang một chữ viết bằng sơn xanh. Ghép các chữ ấy lại ra khẩu hiệu với hai dấu than cẩn thận: Đả đảo Ngô Đình Diệm! Hồ Chí Minh muôn năm!
Một cơn lạnh chạy dài theo sống lưng Dung. Khẩu hiệu của anh em mình! Dòng xe như chậm lại, mọi người cố kéo dài thời gian qua ống cống. Khẩu hiệu nhất định viết đêm qua. Các đồng chí hẳn phải canh gác vất vả để viết được chừng ấy chữ - Dung nhẩm tính: 32 chữ và hai dấu than. Hai người viết nhanh mấy cũng phải mất 15 phút. Chữ to, bề cao đến 40 phân, bề ngang 20, nét khá sắc, chữ Đ mở đầu viết kiểu và toàn bộ chữ đầu các từ Hồ Chí Minh đều viết hoa. Công trình của dũng cảm và theo Dung, của nghệ thuật. Tuy chỉ 32 chữ nhưng là một thứ tuyên cáo về sức mạnh của phong trào cách mạng thành phố. Không có tổ chức vững vàng, quyết không thể làm nổi việc này – cách Nha tổng giám đốc cảnh sát công an quốc gia không đến 50 mét.
Trong công vụ, Dung thường đọc báo cáo các nơi nói về “Việt Cộng rải truyền đơn, lưu hành báo, dán khẩu hiểu”, phần lớn ở nông thôn. Còn đây là Sài Gòn.
Từ ngày 20-7, Dung cảm giác phong trào cách mạng chuyển mình. Nha tổng giám đốc ngày một nhận được nhiều hơn các loại tài liệu của “Việt Cộng” – danh nghĩa chưa thống nhất, khi thì “Những người kháng chiến cũ”, khi thì “Ủy ban đấu tranh bảo vệ hiệp định Genève”, khi thì “Lực lượng nhân dân miền Nam” in bằng giấy sáp. Dung biết, Nha tổng giám đốc nhìn những tờ giấy thô sơ ấy với tất cả sự lo lắng, kinh hãi. Bởi đây không phải là các giáo phái, không phải chỉ lời nói suông. Chẳng có gì khó hiểu: những người kháng chiến cũ cảnh cáo sự phản bội của chính quyền Ngô Đình Diệm. Hai năm đã qua từ khi ký hiệp đình Genève, không có tổng tuyển cử, mà hiệp thương và quan hệ bình thường giữa hai miền cũng không có nốt. Vào đúng ngày 20-7, Sài Gòn báo cáo cho Ngô Đình Diệm biết sự phản bội sẽ bị trừng phạt: trong vòng 2 giờ, thành phố vắng tanh – bãi chợ, bãi công, bãi khóa và mọi người ở trong nhà. Hôm đó, Luân còn học ở Đà Lạt, Dung đành nâng ly nước cam chào mừng những công dân của thành phố, quả xứng đáng là thành đồng Tổ quốc.
Mấy chiếc xe Jeep màu ô liu, biển số “VN” đầy cảnh sát dã chiến, quần áo rằn ri, đổ lại. Chúng thổi còi inh ỏi, xua người đi đường tản khỏi khu vực đã bị phong tỏa bằng kẽm gai. Chẳng rõ chúng bôi xóa hay dời các ông cống. Cách nào thì cách, cả thành phố sẽ sôi nổi với tin này. Dung cười rạng rỡ, lái xe vào cổng Nha… Chắn cổng nhấc lên, Dung vẫy tay chào viên sĩ quan trực…
---
(1) Nguyên gốc: à la solde (tiếng Pháp) – đồ ve chai , bán rẻ bán tháo
(2) Trung Quốc Ngân hàng – Giao thông Ngân hàng – Ngân hàng hối đoái Hồng Kông.
(3) Ve chai bể, sắt bể bán không?
(4) Người bị kiểm điểm ngồi nghe phê phán, chỉ được tiếp thu chứ không được thanh minh dù sự phê phán không đúng (kiểu chỉnh huấn của Trung Cộng).
(5) Mai phục lâu dài, xúc tích lực lượng, hướng về Tổ quốc.
(6) Thằng An Nam.
(7) An Nam
(8) tức Suần Quài
(9) Xuất khẩu lúa gạo Cửu Long.
(10) Quê hương khuất bóng hoàng hôn.
Trên sông khói cho buồn lòng ai
(Tản Đà dịch)
(11) Bao nhiêu nhân vật đó (tức Hạng Vũ, Lưu Bang, Lý Thế Dân). Hãy nhìn ngày hôm nay.
(12) Cần thêm bốn năm nữa cho một thay đổi.
(13) Giải mã.
(14) Trung học Pháp - Hoa

CHƯƠNG 6

Dung lái chiếc Nash mui trần dọc theo đường Nguyễn Trãi, chiếc xe mới tinh của bác sĩ Sự, nói là quà đám cưới Dung. Dung nhận xe mà trằn trọc với nó: Đám cưới ư?...
Khi Luân hỏi về chiếc xe, Dung không nhắc tới ý nghĩa đó. Không phải Dung mà Luân, chính Luân là người phá vỡ sự yên lặng. Luân có thể mang tất cả ra ánh sáng không? Bao giờ thì cái phải tới sẽ tới. Luân quí Dung, cái đó rõ quá rồi. Một năm rưỡi cộng tác, Luân bao giờ cũng chu đáo với Dung - và Dung đã có thề quả quyết cô là cô gái duy nhất được Luân giành tất cả cảm tình. Khi học trên Đà Lạt, không chiều nào Luân không gọi dây nói về hỏi han Dung, bận mấy cũng để ra vài phút. Lục và Thạch, những người tiếp cận, đinh ninh Luân và Dung chỉ còn định ngày cưới. Tổng giám đốc mới Phạm Xuân Chiểu, vốn ít lời, ngay vừa nhậm chức, câu đầu tiên là mong sớm được chia vui với Dung.
Tuy nhiên, trong Luân vẫn chưa có sự ổn định giữa một cô Dung em gái - và là đồng chí, cộng tác viên, với một cô Dung gắn bó trọn đời. Đó là theo xét đoán bằng cảm giác của Dung, bởi Dung chưa có một chút kinh nghiệm về lĩnh vực này. Hai người gặp nhau hằng ngày, trao đổi công việc - và cả hai rất bận, cho nên Dung chỉ thoáng suy nghĩ vào những lúc không có Luân bên cạnh.
Liên lạc của họ với A.07 nối lại vài tuần nay. Các báo cáo do Dung và Luân chuyển qua một trạm lưu động nào đó mà Dung không được quyền biết, đến cả điện đài bây giờ đặt ở vừng rừng Tây Ninh. A.07 thỉnh thoảng gửi cho họ một dòng động viên, ngoài ra là các yêu cầu, hoặc xác minh, hoặc sưu tra tình hình, hoặc nhận định của Luân về những sự kiện quan trọng. Nói chung, A.07 chỉ thị họ sử dụng điện đài thật thưa, không định kì, không theo qui luật. Có lần, Dung được một điện riêng: “CR hỏi thăm sức khoẻ Mimosa tại ông cụ. Cẩn thận hơn, tuy ông cụ đối phó tốt.”
CR tức là “Centre de Recherche”, ký hiệu chỉ trung tâm tình báo Sài Gòn. Như vậy chúng cho điệp viên ở Hà Nội điều tra về Dung qua bố của cô. Lý do có lẽ liên quan đến điện đài ở Blao. May là nửa năm nay, điện đài ngưng hoạt động ở hướng đó.
Đọc điện, Dung nhớ cha điếng người. Tội nghiệp, tuổi cha đã cao, có ai giúp đỡ không? Vì công tác của Dung, chú Thuận chắc ít đến - hoặc có đến cũng kín đáo. Dung mong tin tức của cha, gần đây, ông cụ nhắn tin trên đài, giọng còn rất khỏe. Ông cụ gửi cả bưu thiếp cho vợ chồng bác sĩ Sự - tất nhiên là gửi cho Dung. Dung bồi hồi đọc nét chữ của cha, dù sao, cũng đã yếu đi nhiều. Vợ bác sĩ Sự cũng gửi cho ông bức thiếp, báo tin Dung. Ông cụ chắc đỡ lo.
Xe Dung nối đuôi dòng xe sáng sáng vẫn nghẹt con đường một chiều Nguyễn Trãi, trước khi giáp với đại lộ Cộng Hòa. Ngang Lycée Franco Chinoise, Dung chợt nhận thấy điều khác thường: mỗi ống cống xi măng xếp đứng của ngành giao thông đặt ven đường - mang một chữ viết bằng sơn xanh. Ghép các chữ ấy lại ra hai khẩu hiệu với hai dấu than cẩn thận: Đả đảo Ngô Đình Diệm! Hồ Chí Minh muôn năm!
Một cơn lạnh chạy dài theo xương sống Dung. Khẩu hiệu của anh em mình! Dòng xe như chậm lại, mọi người cố kéo dài thời gian qua hàng ống cống. Khẩu hiệu nhất định viết đêm qua. Các đồng chí hẳn phải canh gác vất vả để viết được chừng ấy chữ - Dung nhẩm tính: 32 chữ và hai dấu than. Hai người viết nhanh mấy cũng phải mất 15 phút. Chữ to, bề cao tới 40 phân, bề ngang 20, nét khá sắc, chữ Đ mở đầu viết kiểu và toàn bộ chữ đầu các từ Hồ Chí Minh đều viết hoa. Công trình của dũng cảm và theo Dung, của nghệ thuật. Tuy chỉ 32 chữ nhưng là một thứ tuyên cáo về sức mạnh của phong trào cách mạng thành phố. Không có tổ chức vững vàng, quyết không thể làm nổi việc này cách Nha Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia không đến 50 mét.
Trong công vụ, Dung thường đọc báo các nơi nói về Việt Cộng rải truyền đơn, lưu hành báo, dán khẩu hiệu, phần lớn ở nông thôn. Còn đây là Sài Gòn.
Từ ngày 20- 7, Dung cảm giác phong trào cách mạng chuyển mình. Nha Tổng giám đốc ngày một nhận được nhiều hơn các loại tài liệu của Việt Cộng - danh nghĩa chưa thống nhất, khi thì “Những người kháng chiến cũ”, khi thì “Ủy ban đấu tranh bảo vệ hiệp nghị Genève”, khi thì “Lực lượng nhân dân miền Nam” in bằng giấy sáp. Dung biết, Nha Tổng giám đốc nhìn những tờ giấy thô sơ ấy với tất cả sự lo lắng, kinh hãi. Bởi đây không phải là các giáo phái, không phải chỉ lời nói suông. Chẳng có gì khó hiểu: những người kháng chiến cũ cảnh cáo sự phản bội của chính quyền Ngô Đình Diệm. Hai năm đã qua từ khi kí hiệp nghị Genève, không có tổng tuyển cử và hiệp thương, và quan hệ bình thường giữa hai miền cũng không có nốt. Vào đúng ngày 20- 7, Sài Gòn báo cho Ngô Đình Diệm biết và sự phản bội sẽ bị trừng phạt: trong vòng 2 giờ, thành phố vắng tanh - bãi chợ, bãi công, bãi khóa và mọi người ở trong nhà. Hôm đó, Luân còn học ở Đà Lạt, Dung đành nâng ly nước cam chào những công dân của thảnh phố, quả xứng đáng là thành đồng Tổ Quốc.
Mấy chiếc Jeep màu ô liu, biển số “VN” đầy cảnh sát dã chiến, quần áo rằn ri, đỗ lại. Chúng thổi còi inh ỏi, xua người đi tản khỏi khu vực đã bị phong tỏa bằng kẽm gai. Chẳng biết chúng bôi xóa hay dời các ống cống. Cách nào thì cách, thành phố sẽ sôi nổi với tin này. Dung cười rặng rỡ, lái xe vào cổng nhà... Chắn cổng nhấc lên, Dung vẫy tay chào viên sĩ quan trực...
*
... Dung vào văn phòng. Chỗ làm việc của cô chỉ cách phòng tổng giám đốc có một hành lang hẹp. Phòng tổng giám đốc hôm nay vắng lặng, cửa đóng im lìm.
Người thư ký già đứng lên chào Dung và trao cho cô một xấp công văn.
- Đại tá bảo giao cho cô các giấy tờ này và dặn cô theo ghi chú trong đó mà thực hiện. Đại tá bận, không đến Tổng nha.
Nhân viên phòng Bí thư của tổng giám đốc lần lượt vào, mỗi người làm việc của mình. Máy chữ khua lách cách.
Dung lật qua xấp công văn. Phần lớn là báo cáo của các nha, sở trực thuộc. Tình hình các nơi không có gì đặc biệt. Cuối xấp công văn, Dung vừa liếc tờ giấy đánh máy, đã phải cố giữ bình tĩnh.
“Báo cáo của một trinh sát kỹ thuật về một điện đài lạ - Tiếp các báo cáo trước phương vị của điện đài được xác lập giữa tam giác Núi Cậu- Bến Củi- Dầu Tiếng. Giờ phát thay đổi: lần thứ nhất (mà trinh sát kỹ thuật phát hiện) là ngày 28- 10, vào 9 giờ sáng, kéo dài 27 phút; lần thứ hai vào 4 giờ 12 phút chiều 4- 11, buổi phát kéo dài 8 phút; lần thứ ba 11 giờ sáng 9- 11, kéo dài 43 phút; lần thứ tư, 0 giờ rạng ngày 30- 12, kéo dài 25 phút... Ăng ten vẫn định hướng nam. Dự đoán: có một đài nhận ở Đồng Tháp Mười (có thể đặt vùng Giồng Dinh hoặc Ba Thu, đất Cam Bốt). Khả năng nhiều nhất là đài liên lạc của Việt Cộng hoặc của tàn dư giáo phái. Đề nghị: cho một máy bay túc trực mang theo máy móc trinh sát kỹ thuật, khi nghi đài lạ phát thì cất cánh kết hợp với trinh sát mặt đất để xác định thật chính xác phương vị của đài”.
Tổng Giám Đốc ghi dưới báo cáo: “Cô Dung, sao gửi Sở nghiên cứu chính trị, đồng gởi Bộ Tổng tham mưu đề nghị cung cấp một phi cơ thám thính, phần thiết bị, do trinh sát tổng nha phụ trách”.
Nhân viên mải miết làm việc nên không thấy mặt Dung đổi sắc “Phải tin ngay cho anh ấy!”. Dung đọc lại lần thứ hai báo cáo. “Tiếp các báo cáo trước...”. Vậy là đã có nhiều báo cáo. Tại sao tổng giám đốc không cho Dung đọc những báo cáo đó?
Cô lật trở lại các báo cáo khác, song tâm trí không rời tờ giấy đánh máy kia.
Điện thoại reo.
- Alô! Vâng, Tổng nha đây... Thưa, đại tá chưa đến văn phòng... Có lẽ hôm nay đại tá không đến. Xin cho biết ai ở đầu dây? Dạ. chào trung tá. Xin trung tá gọi số nhà riêng của đại tá. Không có chi!.
Dung vừa gác máy chưa đến hai phút, điện thoại lại reo:
- Alô! Vâng, tôi nghe đây... Đại tá không có ở nhà riêng? Tôi không rõ... Gấp lắm sao? Tôi sẽ cố gắng... Hay là Trung tá gọi Sở Nghiên cứu Chính trị. Đã gọi rồi mà không có đại tá ở đó? Được, tôi sẽ hỏi và trả lời. Xin lỗi, tôi sẽ trả lời ở số máy bao nhiêu? Dạ, xin đợi tôi ghi. - Dung cầm bút - Vâng, tôi nghe tổng đài 23017, xin số 416...
Dung chuyển máy, gọi Nha cảnh sát Nam Việt.
- Alô! Tôi ở phòng bí thư của đại tá Phạm Xuân Chiểu. Xin cho biết đại tá có ở đó không? Không có? Cám ơn...
Dung nghe thêm một chút, bực dọc cắt máy, lầm bầm:
- Lúc nào cũng cợt nhả!
Dung toan quay số của Nha an ninh quân đội thì điện thoại lại reo.
- Tôi nghe đây... Cái gì? - Dung sẵng giọng - Xin lỗi tôi? Tôi chỉ mong ông đừng khiếm nhã, là tốt. Phải, tôi là Thùy Dung... Tôi hứa là không nói với ai về những lời cợt nhã của ông... Tôi bận lắm, xin phép ông... Sao? Gọi sân bay Biên Hòa, đại tá vừa ghé chỗ ông? Sân bay quân sự Biên Hòa số điện thoại bao nhiêu? Ông không biết? Cám ơn ông... Được, tôi xin hứa!
Dung gác máy, lật danh bạ điện thoại. Số tổng đài sân bay Biên Hòa là 23017. Ủa?
Chuông reo.
- Alô! Thế à... Đại tá đã tới? Không có chi!
Đó là viên trung tá số điện thoại 416 thuộc tổng đài 23017, bây giờ thì Dung biết ở sân bay Biên Hòa.
Các cú điện thoại tới tấp, báo cáo về điện đài lạ, khẩu hiệu ở đường Nguyễn Trãi,. .. xáo trộn Dung suốt buổi sáng. Thật ra, nó xáo trộn Dung suốt ngày và đêm hôm đó, cả ngày hôm sau, Luân bận việc, ở lì trong dinh Độc Lập, chỉ gọi điện chúc Dung ngủ ngon.
*
Nhà hát lớn rực rỡ cờ, biểu ngữ. Ảnh Ngô Đình Diệm khăn be, áo dài nhiểu in chữ “Thọ” to tướng, treo ngay tiền sảnh, mỉm cười thỏa mản. Dưới ảnh, một băng vắt ngang “Đại Hội Văn Hóa Toàn Quốc (6-1 -- 15-1-1957)
Dưới thềm nhà hát, người ta đặt một chiếc lư đồng to hơn người thật, hương trầm nghi ngút.
Hai đại tự “Tổ Quốc” - chữ Hán viết thấu bằng mựa Tàu đen chiếm gần hết “phông” sân khấu trên nền vàng sọc đỏ. Bàn đoàn Chủ tịch, kê sau một cây trúc thẳng với hàng chữ - cũng là chữ Hán - “Tiết trực tâm hư”.
Đây là một đại hội long trọng nhất mà chính phủ bỏ nhiều tiền cảu và công sức, quyết tạo cho được tiếng vang, đáp lại cái gọi là ngược đãi văn nghệ sĩ ở miền Bắc của Cộng sản qua vụ án “Nhân dân giai phẩm”. Hiện diện đủ hết các đoàn ngoại giao, phái đoàn Thái Bình Dương tự do của cố đạo Raymond De Jaegher, phái đoàn văn hóa Trung Hoa Dân quốc, Đại Hàn, Phi Luật Tân. Trong nước, ngoài các nhà hoạt động văn hóa, hầu hết nhân sĩ tiếng tăm đều được mời.
Tổng thống đọc một thông điệp. Sau thông điệp là bản thuyết trình của cố vấn Ngô Đình Nhu - hai văn kiện quan trọng của đại hội.
Nhu nói suốt hai giờ liền. Chủ đề xoay quanh triết thuyết “Cần lao nhân vị”. Lần đầu tiên, những khái niệm quốc gia, duy linh, tự do, nhân bản, đồng tiến xã hội được Nhu lý giải có hệ thống từ góc độ lý luận chính trị trong bối cảnh cuộc đấu tranh ý thức hệ của thế giới hiện đại và vị trí hiện hữu của Việt Nam Cộng hòa trong thế giới ấy.
Luân đã bỏ qua mấy ngày viết bản thuyết trình theo yêu cầu của Nhu. Công việc không đơn giản một chút nào. Phải xếp đặt sao cho vấn đề mạch lạc, hợp lí, gieo ấn tượng mạnh đối với người nghe như một phát hiện độc đáo đủ sức làm nền cho đường lối đối nội và đối ngoại của Việt Nam Cộng hòa. Nó lại phải khớp với thông điệp của tổng thống - do Bộ Thông tin thảo và Diệm trực tiếp sửa. Tất nhiên nó không thể mang hơi thở của tín đồ đạo Thiên chúa. Song đồng thời cần tạo cho được cảm giác là nó tổng hòa các loại triết học tâm linh, không để phiền lòng những nhà Phật học, Khổng học,. .. Trên tất cả - đối với Luân - tính chất phản động của nó phải được dư luận xã hội dễ dàng nhận trong khi giới cầm quyền lại thích thú kể cả CIA và đài BBC bẻm mép.
Anh viết đi viết lại mấy lượt. Quả trò ngụy biện cũng đòi lắm công phu. Không thể đưa Nhu vào tròng theo lối thông thường. Nếu Luân thiếu tự kiềm chế, đẩy lập luận đến chỗ phi lí thì Nhu là người trước tiên xóa tên anh.
Luân trình bày với Nhu những chỗ mâu thuẫn - có thể bị bắt bẻ. Anh đưa ra nhiều phương án lập luận để Nhu chọn.
- Điểm gây cấn nhất là ta lí giải thế nào về sự chuyển hóa của chủ nghĩa dân tộc. Ta thiếu tính hợp lí ở chiều sâu - khó lòng thuyết phục người nghe rằng chủ nghĩa quốc gia của dân tộc ta là cách mạng. Trong trường hợp này, nói thật với anh, tôi đặt hi vọng vào tài hùng biện của anh hơn là logique học của tôi. - Luân nói thẳng với Nhu.
- Có lẽ phải vậy. - Nhu tán thành - Ngay chế độ cộng hòa của chúng ta vẫn còn dùng luật của chế độ thuộc địa Pháp trước khi! Anh có nhớ khi tòa án quân sự xử tịch thu tài sản của Lê Văn Viễn, căn cứ vào cái gì không? Decret du 2 Septembre 1939 pris en application de la loi du 11 Juillet 1938 surl'organisation del' Etat en temps de guerre! (1)
Luân biết rằng anh đã thắng một nước cờ. Trước đây, Nhu - rất cực đoan - yêu cầu các cơ quan phải làm luật mới thay cho luật cũ ở Pháp. Tỷ như không được dựa theo nghị định của toàn quyền Beau tận năm 1904 để tổ chức cơ quan thuế vụ của các tỉnh. Nhưng, chính Diệm không ủng hộ sáng kiến của Nhu “vì còn nhiều việc quan trọng hơn” nên đâu lại vào đấy. Bây giờ, Nhu bằng lòng dùng tài hùng biện để che lấp những lỗ hổng to tướng trong chủ thuyết của anh ta.
Bản thuyết trình được Nhu hỉ hả chấp nhận. Hai người uống đến mấy consommation Martell để duyệt lần chót bản đánh máy trước khi cho in cấp tốc.
Diệm không chịu đưa cho Nhu xem bản thông điệp ông sẽ đọc. Chính Diệm đích thân sửa soạn. Ông bảo:
- Chú lo bản thuyết trình của chú. Tôi còn sửa vài chỗ.
Thông điệp của tổng thống - dài 8 trang đánh máy, đọc mươi phút. Nó chia làm hai phần. Phần đầu là những nguyên lý. Đại khái tổng thống nhấn mạnh đến đạo đức phương Đông - tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Chẳng qua, những nguyên lý đóng vai trò bàn nhún để tổng thống xoáy vào điều mà tổng thống hằng mơ ước: định nghĩa nền dân chủ. Ông nói: Dân chủ là làm cho dân, dân cần người lãnh đạo; người lãnh đạo phải biết làm cho dân đừng “chơi chữ”: dân chủ là dân là chủ, một lầm lẫn nguy hiểm. Dân chủ là “giáo dân, dưỡng dân, ái dân”. Mạnh Tử đã nói rõ quan niệm này.
Nhiều nước trên thế giới thực hiện quan niệm này như Salazar ở Bồ Đào Nha (2), Péron ở Á Căn Đình (3), Ayub Khan ở Đại Hồi (4).
Phần thứ hai, nói trắng ra, là sự rầy quở. Tổng thống phê phán từ cái cà vạt thắt lệch đến mấy bà mệnh phụ xuất ngoại ăn mặc “quê mùa”, sự dạy dỗ con cái và nạn điếm lậu. Ông đặc biệt khiển trách thói vô lễ: gặp tổng thống, nhiều người dân không dở nón, - vì các chức việc không biết dạy dân!
Thông điệp của tổng thống đặt số công dân vụ có mặt vào thế có thể mất chức. Chẳng biết vỗ tay chỗ nào, cuối cùng rồi vẫn vỗ tay và mọi người đứng lên tiễn tổng thống ra về! Tổng thống rời bục mà mặt hầm hầm.
Nhu phải hùng biện gấp đôi: lấp lỗ hổng trong chủ thuyết Cần lao và lấp lỗ hổng do tổng thống vừa chọc thủng tại hội trường, vôi vữa tung toé ràng ràng ra đấy.
Giờ giải lao, hành lang nhà hát rộn rịp. Âu phục và khăn be, áo the. Dù âu phục hay khăn be, mọi người đều uống bia và hút thuốc lá loại đắt tiền - các cô chiêu đãi viên thanh lịch mời họ. Một số không ít các cô gái mặc jupe - trốn biệt lúc tổng thống có mặt - nhởn nhơ đi lại. Các nghệ sĩ sẽ trình bày các tiết mục văn nghệ xen kẽ trong đại hội.
Luân lững thững bước xuống tam cấp. Fanfani đón Luân, cô đi với một người châu Á nhưng không phải Việt Nam.
- Thiếu tá làm quen với ông Tráng Liệt đi!
Té ra ông là dòng dõi của Kỳ ngoại hầu Cường Đề.
Luân bắt tay Tráng Liệt.
- Thiếu tá Nguyễn Thành Luân! - Fanfani giới thiệu Luân. Tráng Liệt gật đầu, nhưng rõ ràng ông chưa biết Luân là ai.
- Thiếu tá làm việc trong Tham mưu biệt bộ phủ Tổng thống. - Fanfani nói thêm.
Câu nói thêm có hiệu lực trông thấy. Tráng Liệt bắt tay Luân lần thứ hai.
- Hân hạnh!
- Ông vừa về nước? - Luân hỏi.
- Vâng!
Ý chừng Tráng Liệt muốn nói cái gì đó, song luống cuống mãi. Luân hiểu ông ta không nói được tiếng Việt.
- Ông Tráng Liệt về nước nhận hài cốt Kỳ ngoại hầu. Đã nhận xong trên tòa thánh Tây Ninh. Sắp tới, có lễ truy điệu Kỳ ngoại hầu tại Tòa đô chính. - Fanfani đỡ lời.
Luân bắt tay Tráng Liệt.
- Chúc mừng ông... Xin phép ông...
Anh bước tiếp xuống tam cấp.
Fanfani theo Luân.
- Ông kĩ sư có đọc bài báo của tôi về vụ nổ lựu đạn ở rạp Nguyễn Văn Hảo không?
Luân có đọc - các chi tiết không hoàn toàn đúng như sự việc xảy ra vì Fanfani không có mặt tại chỗ, song nhận xét của cô thì đáng chú ý: cô nhấn mạnh đến nội dung vở tuồng mà theo cô “chủ nghĩa chống Cộng kiểu châu Á cùng một lúc mang ba đặc trưng: dập tắt nguyện vọng hòa bình, dập tắt bằng lựu đạn và dập tắt ngay trên sân khấu”. Cô nhắc đến “những quân nhân”, tác giả của “cuộc thảm sát” và “thủ phạm bị trừng phạt ngay tức khắc do một kẻ vô danh nào đó”.
Thấy Luân mỉm cười, Fanfani nhún vai:
- Có thể ông chưa hài lòng vì tôi chưa chỉ đích danh an ninh quân đội người di cư. Ông hiểu cho, sở kiểm duyệt yêu cầu tôi bỏ mấy chữ đó, bằng không bài báo sẽ vô sọt rác!
- Không! Tôi hài lòng. Cô là một nhà báo có tài...
Fanfani cười khúc khích:
- Ông còn có tài hơn: ông biết cách chinh phục người khác.
Rồi, Fanfani đột nhiên chuyển câu chuyện, khi hai người đi sóng dôi quanh nhà hát.
- Ông cũng thích các vấn đề văn hóa?
- Tất nhiên!
- Người ta đồn Việt Minh terre à terre (4), nhất là quân nhân...
Luân đứng lại, ngó Fanfani:
- Cô không nghĩ rằng cuộc chiến đấu của chúng tôi xét tới cùng, là vì văn hóa?
Fanfani nhíu mày, Luân nói luôn:
- Chúng tôi chiến đấu để bảo vệ sự tồn tại Việt Nam. Chẳng lẽ đó không phải với mục đích văn hóa?
Fanfani liếng thoắng:
- Bảo vệ những khăn xếp và phương ngôn: tu thân, tề gia?
- Có nhiều thứ văn hóa. Vừa rồi, cô giới thiệu ông Tráng Liệt với tôi. Ông ấy cũng là một thứ văn hóa.
- Sự phục cổ?
- Tôi muốn nói một thứ sinh hoạt tinh thần kì lạ: Nắm xương của ông Cường Đề vẫn bị mang ra quảng cáo. Còn tổng thống, cô nên hiểu ông ấy vẫn có cách suy nghĩ độc lập mà chắc người Mỹ không hoàn toàn hoan nghênh. Ông ấy nhắc Salazar, Ayub Khan, Péron nhưng lặng im về Linlcon... Đề tài hấp dẫn của cô đấy!
- Ông kỹ sư! - Fanfani thảng thốt - Ông là người, xin lỗi, tôi không biết diễn tả thế nào bằng tiếng Việt: Présence d'esprit. Rất présence d'esprit (5)!
Luân lắc đầu:
- Tôi không lanh trí đâu!
Fanfani rối rít:
- Lanh trí, phải, lanh trí!
- Tôi không lanh trí, tôi nói như tôi nghĩ. Văn hóa không nên là... Financial Affairs! (6)
Fanfani xịu mặt.
- Ông định kiến quá sâu về tôi. Đâu phải lúc nào trước giờ tôi cũng toàn là affairs financières (7). Tỷ như... - Fanfani ngập ngừng mấy giây - Tỷ như với ông!
Luân tin là Fanfani nói thật. Anh khoác vai cô, tiếp tục bước. Anh cảm được một cái rùng mình nhè nhẹ của cô nhà báo Mỹ khi anh đặt tay dịu dàng lên đôi vai trần của cô.
Từ trên thềm, đại sứ Mỹ Frederic Rheinardt như tìm kiếm ai đó. Ly Kai giống một kẻ tàng hình, đột ngột chận đường Luân và Fanfani.
- Chào ông kĩ sư! Thật may, ông đại sứ Hoa Kì muốn gặp ông. Ông ấy nhờ tôi tìm...
Fanfani nheo mắt.:
- Ông Ly Kai cũng có mặt ở một đại hội văn hóa?
Ly Kai tự ái rõ:
- Theo cô, hình như tôi chỉ biết tổ chức các sòng bạc thôi?
Gã nói câu đó bằng tiếng Anh, phát âm tuyệt hảo. Fanfani cười nhẹ, cô trả lời bằng tiếng Việt:
- Thì đây cũng là một thứ sòng bạc!
Fanfani và Ly Kai trố mắt khi Luân, giọng vui, nói một câu bằng tiếng Quảng Đông:
- Dách hì xỉu hẩy phim hẩy cô tài hẩy phim chúng (8)
Ly Kai gãi má. Có vẻ gã tự trách chưa phải đã hiểu những gì cần hiểu về tay kĩ sư mà Dương Tái Hưng đặc biệt quan tâm này. Vào đúng lúc đó, Rheinardt đến. Ông ta bắt tay Luân thật chặt sau khi hôn tay Fanfani.
- Tôi xin phép được nói chuyện riêng với thiếu tá. Cám ơn ông Ly Kai. Xin lỗi cô Fanfani. - Rheinardt nói tiếng Việt trôi chảy song âm sắc chưa thuần, rất khó nghe.
Ly Kai lẩn mất liền sau đó. Fanfani đặt tay lên ngựa, nghiêng đầu:
- Tôi xin nhường thiếu tá cho đại sứ. Và tôi chỉ nhường cho đại sứ mà thôi!
Rheinardt cười to, đôi mắt gốc người Đức tựa mắt mèo long lanh:
- Cô nhà báo không đủ nhạy để phát xét tình hình rồi! Thiếu tá từ lâu đã là tù binh của một cô gái mà người ta đồn đãi là tuyệt đẹp và bắn súng rất giỏi. Tôi và cô không ai có quyền với thiếu tá. - Rheinardt nói câu đó bằng tiếng Anh...
- Ông đại sứ đã nghe về cô gái, còn tôi, tôi đã gặp. Ông đại sứ nói đúng một nửa: cô gái lộng lẫy. Còn một nữa kia, tôi chưa có điều kiện xác minh... - Fanfani cũng cười to.
Cô chìa tay cho Luân.
- Bà thiếu tá có ghen không?
Fanfani hỏi dí dỏm nhưng mắt cô lại tối. Rheinardt đỡ lời giúp Luân:
- Tôi sẽ hỏi bà thiếu tá giúp cô. Tôi hỏi: bà thiếu tá sẽ như thế nào khi một cô gái đẹp như cô Fanfani sóng đôi với thiếu tá?
Rheinardt trông theo Fanfani:
- Những nhà báo: họ có thể ghi trong hồi kí cả những mối quan hệ tuyệt đối riêng tư!
Luân mỉm cười trước câu nói giống lời cảnh cáo của Rheinardt.
- Để cho tiện, tôi xin phép được trao đổi với thiếu tá bằng một trong hai thứ tiếng - Pháp hoặc Anh. Tôi mong thiếu tá hiểu vì tôi sử dụng tiếng Việt chưa thạo chứ không phải coi thường tiếng nói giàu âm điệu, đủ khả năng diễn đạt đó. - Rheinardt thủ thỉ y như với người tri kỷ.
Luân cười hóm hỉnh:
- English spoken! (9)
- Quả như tôi nghĩ. Thiếu tá là người hiểu rộng! - Rheinardt ngã người về phía Luân - Do đó, bài thuyết trình xuất sắc của ông cố vấn Ngô Đình Nhu chính từ những đêm thức trắng của thiếu tá. Bài thuyết trình tân kì đã xua cái bóng già nua của bản thông điệp...
Đối thủ của anh chính là tình báo Mỹ, như anh Hai nhắc. Màn mở đầu đây... Luân nghĩ bụng.
- Cám ơn ngài Đại sứ!
- Người có tài - tôi xin mượn một câu dí dỏm phương Đông như con thần long, chợt xuất hiện cái đầu, chợt xuất hiện cái đuôi. Thiếu tá là con thần long. Tướng Collins đã nhiều lần nói với tôi những lời tốt đẹp về thiếu tá...
- Lại phải cám ơn ngài đại sứ lần nữa...
- Từ lâu, tôi rất muốn làm quen với thiếu tá. Không, tôi đã nói thiếu chuẩn xác: từ lâu tôi rất muốn đánh bạn với thiếu tá.
- Ngài đại sứ cho tôi niềm vui lớn và đột ngột.
Rheinardt thở dài:
- Ngoại giao là nghề tôi chọn lầm. Tuy vậy, lạy Chúa, tôi vẫn đủ minh mẫn để tự tách làm hai. Cái áo đại sứ dù sao tôi vẫn chưa trút được khi chưa có lệnh của tổng thống nước tôi. Thiếu tá cứ xem tôi khi tiếp chuyện với thiếu tá như không mặc cái áo cực khổ đó và thẳng thắn mà nhận, chiếc áo không chỉ cực khổ, nó lố bịch nữa!
Rheinardt chìa tay:
- Thế nào?
Luân bắt tay Rheinardt - vồn vã vừa phải:
- Thiếu tá thích chơi gì? Golf, tennis, bơi, canoe, trượt ván trên nước? Tôi không hỏi môn bắn súng vì với thiếu tá, bắn súng hết còn là thể thao.
- Tôi chơi tàm tạm tennis...
- Cái mà thiếu tá gọi là tàm tạm đó có thể đưa thiếu tá sang Canberra, trong giải Davis... (10)
Chuông phòng họp reo.
- Ta thỏa thuận như thế này, chiều thứ bảy, câu lạc bộ bơi lội bờ sông... Được chứ?
Luân nhẩm tính - thật ra chẳng có gì phải nhẩm tính.
- Được!
- Bà Rheinardt sẽ có mặt và do đó, tôi hy vọng cô Thùy Dung cùng đi với Thiếu tá...
- Thank you! (11)
Hai người vào phòng họp bằng hai cửa khác nhau.
Phần cuối của buổi sáng khai mạc đại hội văn hóa dành cho những văn nhân, có tên tuổi phát biểu ý kiến. Sở nghiên cứu chính trị nhận xét từng người phát biểu như sau:
Phạm Việt Tuyền, chủ bút báo Tự Do: Quá hăng hái nên lạc đề.
Võ Huyền Đắc, Trần Tuấn Khải, Đông Hồ: Rất chung, không rõ lập trường.
Đinh Hùng: quan điểm chống Cộng nổi bật nhưng quá kiêu và nói về cá nhân mình hơi nhiều. Cử tọa xì xào.
Vũ Hoàng Chương:
- Xưa tôi làm “thơ say” nay tôi làm “thơ tỉnh”. Tại đại hội này tôi xin đọc một bài thơ...
(Có tiếng nói từ hàng quan khách: Thi vương dù say hay tỉnh vẫn: “Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”.)
Tôi làm bài này để cảm tác thời cuộc nhân có việc trưng cầu dân ý suy tôn Ngô chí sĩ...
(Nhà thờ đằng hắng lấy giọng)
Lá phiếu trưng cầu, một hiển linh.
Đốt lò hương gửi mộng bình sinh
Từ nay trăm họ câu hoan lạc
Đàn khúc đầm Dao, rượu chén Quỳnh
Có một ngày ta trở lại Cố Đô
Lưỡi lê no máu rửa Tây Hồ
Trên tầng chí sĩ ban tay vẫy
Đại định Thăng Long, một bóng cờ...
Vỗ tay…
Fanfani dạm hỏi người bên cạnh các từ “đầm Dao”, “chén Quỳnh” và le lưỡi khi cô dịch câu “Lưỡi lê no máu rửa Tây Hồ”. Ngô Đình Nhu cau mày. Rheinardt nửa như cười nửa như mím môi. Nguyễn Thành Luân lặng lẽ. Số khác, trong đó có Đông Hồ, Trần Tuấn Khải,... thở dài.
---
(1) Sắc lệnh của tổng thống Pháp ban hành để thực hiện luật của Quốc hội Pháp về tổ chức Nhà nước trong thời chiến.
(2) António de Oliveira Salazar (1889-1970), nhà độc tài, thủ tướng Bồ Đào Nha 1932-1968
(2) Juan Péron (1895–1974), nhà độc tài, tổng thống Argentina 1946-1955.
(3) Ayub Khan Muhammad (1907-1974), nhà độc tài, tổng thống Pakistan (1958-1969)
(4) cục súc, thô tục
(5) cá tính linh mẫn, lanh trí
(6) Vấn đề tài chính. Luân chơi chữ với tên tờ báo mà Fanfani làm phóng viên
(7) Vấn đề tài chính – tiếng Pháp
(8) Một trò lường gạt nhỏ trong trò lường gạt lớn
(9) Nói tiếng Anh! Luân chơi chữ, vì dòng chữ này thường đặt ở những khách sạn hoặc cửa hàng có thể sử dụng được tiếng Anh.
(10) một giải tenis quốc tế nổi tiếng, tổ chức tại thủ đô nước Úc.
(11) Cảm ơn!

CHƯƠNG 7

Gần đến Gò Đen, Luân bảo Lục ngừng xe. Anh không muốn mọi người thấy anh và nhất là không thích làng lính đón rước. Anh và Dung thả bộ. Thạch đi theo hai người.
Họ lọt ra một cánh đồng. Giữa đồng, trên một gò đất, xa xa lố nhố nhiều người, có cả cờ, băng và loa phóng thanh.
- Khai mạc đại hội tố Cộng. Tỉnh Long An được chọn làm thí điểm... - Luân bảo Dung, hất hàm về phía trước.
Dung, lần đầu đi trên bờ ruộng Nam Bộ, cứ phải vịn vai Luân mới khỏi ngã.
- Cô “công dân vụ” này còn phải học nhiều! - Luân đùa với Dung, do bộ quần áo bà ba đen của cô.
- Chúng nó đang lùng điện đài. - Dung nói khẽ sau khi nhìn Thạch đi cách họ một quãng.
- Mất rồi! - Luân đáp, buồn bã
Dung bấu vai Luân:
- Sao? Mất rồi?
- Chúng biệt kích giữa lúc điện đài đang làm việc. Một đồng chí hi sinh, một bị bắt. Bị bắt là hiệu thính viên...
- Tội quá! - Dung rên rỉ.
- Đang bị khai thác ở công an Trảng Bàng. Chúng “làm ổ” chờ bắt người liên lạc.
- Báo động kịp không?
- Chắc không kịp. Song, nếu liên lạc tinh ý và giữ đúng qui tắc thì không sao, vì đường vào căn cứ không có dấu hiệu. Dấu hiệu chỉ có khi tình hình yên tịnh.
- Đồng chí hiệu thính khai thì sao?
- Đồng chí đó không biết dấu hiệu báo tịnh.
- Có mất bản điện không?
- Mất hay không, chẳng có vấn đề gì. Chúng chưa giãi mã được. Nói chung chúng đều thu được các bức điện khi ta phát.
Hai người yên lặng hồi lâu. Dung vẫn bước khó khăn trên bờ mẫu.
- Đại tá Chiểu vắng mặt... Em thấy là lạ...
- Thế nào?
Dung thuật lại các việc cho Luân nghe.
- Sân bay Biên Hòa? - Luân nhắc lại - Bác sĩ Tuyến cũng vắng mặt. Trong đại hội văn hóa, không có ông ta. Sáng nay tôi dự buổi thông báo tin rằng hằng tuần chỗ Nhu, cũng không thấy ông ta... Ông Chiểu có dặn cô liên lạc với ông ta ở đâu không?
- Không, họ giữ bí mật ghê lắm... Gần đây, ông Chiểu cho in một loại thẻ gì đó tại nhà in của tổng nha, chính ông ấy đếm số lượng giấy và dặn in xong thì giao riêng cho ông ta. Có vẻ in không nhiều.
Luân trầm ngâm với các mẩu tin rời rạc của Dung.
- Họ đi Buôn Mê Thuột! - Sau cùng Luân quả quyết.
- Chi vậy?
- Trên đó có hội chợ kinh tế cao nguyên.
- Hội chợ kinh tế thì việc gì họ phải giữ bí mật? Báo đăng cả tuần nay. Phó tổng giám đốc nơi em đưa nhân viên lên bảo vệ hội chợ.
- Ông Chiểu, ông Tuyến cùng đi... Cô không thấy cái gì lạ sao? Lại đi bí mật!
Dung hớn hở:
- Em biết rồi!
Luân đưa tay lên môi ngăn Dung. Anh lại trầm ngâm.
- Làm thế nào báo tin này?
Luân hỏi Dung mà như tự hỏi.
*
Tin của Việt tấn xã.
Long An, 9-1-1957 (VTX): Đại hội tố Cộng thi điểm ở làng Long Định, quận Gò Đen, tỉnh Long An đã thu được kết quả mỹ mãn. Có đến hơn một nghìn dân tụ họp nghe đại úy quận trưởng Hoàng Xuân Thế nói chuyện dưới sự chứng kiến của thiếu tá phó tỉnh trưởng phụ trách nội an Lê Văn Tám. Phẫn nộ trước những hành động bán nước và phản tự do của Cộng sản, nhiều người đã xé cờ của Cộng sản. Đại hội thông qua một kiến nghị dâng lên Ngô Tổng thống lòng trung thành và tri ân. Đại hội kết thúc trong khẩu hiệu vang lừng và tất cả người dự đã tuần hành khắp làng Long Định.
... Đại hội tố cộng làng Long Định vỡ hồi 12 giờ trưa, đài phát thanh Sài Gòn đọc tin viết sẵn này hồi 13 giờ. Các báo ra buổi chiều đang tin này ở trang nhất theo chỉ thị của Bộ Thông tin. Đài phát thanh Sài Gòn lặp lại tin, sau một bản nhạc hùng.
... Ba người đến cái gò trống trải đó khi mặt trời lên gần đỉnh đầu. Nắng trưa gay gắt trút cả một khối lửa xuống - đúng hơn là một nghìn dân xếp hành quanh chiếc lồng kẽm khổng lồ nhốt ngót trăm người khác. Lính bao vây vòng ngoài, súng gắn lê. Số trong lồng kẽm đầu trần trùi trụi, da nám cháy.
Quan chức ngồi dưới những tấm bạt che tạm.
Có lẽ các bài diễn văn đã xong. Bởi, trước micro, một đại úy, da ngăm, lùn, tuổi trạc 40 đang oang oang:
- Đồng bào vừa nghe những lời dặn dò tha thiết của thiếu tá tỉnh phó. Ngài tỉnh phó tin tưởng vào tinh thần chống Cộng triệt để của đồng bào. Số Cộng sản được chính phủ tha chết, cho học tập, nay sắp về đoàn tụ với gia đình. Chúng ta hãy nhiệt liệt hoan nghênh chính sách nhân đạo của chính phủ Việt Nam Cộng hòa dưới sự lãnh đạo anh mình của Ngô Tổng thống!
Đại úy giơ tay lên cao vỗ. Không mấy người vỗ theo.
Viên thiếu tá - hẳn là tỉnh phó - tằng hắng. Đại úy hiểu đó là điểm chẳng lành bởi chiếc xe ca của đài phát tay chờ tiếng vỗ tay để thu băng và đến ba máy quay phim sẵn sàng bấm. Những nhân viên thông tin đang lắc đầu chán nản.
- Nhiệt liệt hoan nghênh chính sách chống Cộng của chính phủ!
Đại úy lại giơ cao tay, thét cực to. Vài tiếng hưởng ứng lẻ tẻ. Nhân viên đài phát thanh đóng máy. Nhân viên quay phim bỏ máy, vào rạp tránh nắng.
- Đả đảo bọn Cộng sản!
Đại úy nhảy dựng. Vẫn chẳng có tiến bộ về phía những người xếp hành hay những người trong lồng kẽm.
- Ngô tổng thống muôn năm, muôn năm, muôn năm!
Đại úy xổ liền ba cái “muôn năm”. Đó là cố gắng cuối cùng của hắn ta.
Vài đứa trẻ bỗng hô théo:
- Tô hủ tiếu! Tô hủ tiếu! Đôi ba tô! (1)
Mặc trời nắng, mặc cái không khí nặng chịch, mặc lính giương súng, tiếng cười chạy dài khắp gò.
Dung - đứng cạnh Luân - dùng khăn tay che cho hai người - cùng phì cười.
Đại úy tức nổ ruột. Hắn rống:
- Tụi con nít khiến chết! Còn tụi già cười cái gì!
Điên tiết, hắn rút phăng khẩu Colt, lên đạn, bắn chỉ thiên hết một băng.
- Quân cứng đầu! - Hắn không thèm nói văn hoa nữa. - Bây giờ, mấy thằng trong lồng kẽm nghe tao: đứa nào muốn về nhà thì đạp lên cờ Cộng sản... Trải cờ! - Hắn ra lệnh.
Ngọn cờ đỏ sao vàng trải ngay cửa lồng kẽm đã mở.
- Bước ra!
Không ai nhúc nhích. Im lặng dài đến mấy phút.
- Không ai chịu ra hết, phải không?
Đại úy sừng sộ.
Luân và Dung áp sát lồng kẽm. Họ trông rõ những người bị nhốt: gầy tọp, rấu tóc tua tủa.
- Tôi ra. - Một ông già lên tiếng. Có lẽ ông gầy nhất trong số tù.
- Hay lắm! - Đại úy mừng rỡ - Mời ông giáo Đầy.
- Ba! - Một cô gái gọi khẽ. Cô ta đứng gần nhóm Luân.
Ông già - ông giáo Đầy - quắc mắc ngó cô gái.
- Về nhà đi!...
Ông, tuy quắc mắc, mà lại nói như căn dặn, rất khẽ.
- Ba! Ba đừng làm vậy, mấy anh, mấy chú buồn lắm!
Cô gái khẩn khoản. Một thanh niên len lỏi vào cạnh cô gái.
- Ba! - Anh ta cũng gọi ông già.
- Tao biểu mày về trển, nghe chưa?
Luân chưa suy đoán ra ý nghĩ những câu đối đáp lạ tai nầy.
- Ông giáo! Tôi đợi ông...
Đại úy đứng ngay cửa, mời mọc.
Ông già ngó chung quanh một vòng, ung dung hướng về phía cửa. Cô gái gục đầu vào lưới kẽm, khóc nức nở. Người con trai vỗ về cô:
- Đừng khóc, em...
- Nhục lắm, anh ơi! - Cô gái vẫn nghẹn ngào.
Đại úy trở lại micro:
- Bà con thấy tận mắt đây. Ông giáo Đầy theo Việt Minh suốt 9 năm, con trai vô rừng Tây Ninh chống chính phủ, nay biết mình lỗi lầm, xin trở lại chính nghĩa. Cỡ ông giáo Đầy còn như thế, huống hồ bà con là Việt Minh hạng nhì, hạng ba. Tôi tin là hôm nay mọi người sẽ về nhà...
Giọng của Đại úy chẳng những hết thô lỗ mà còn dịu dàng, phấn khởi nữa.
Ông giáo Đầy sắp bước ra khỏi cửa. Hàng nghìn cặp mắt theo dõi ông.
Ông ra đến cửa. Còn nữa bước thì ông đạp lên lá cờ.
Lá cờ đỏ chói phản chiếu ánh mặt trời như càng đỏ hơn. Ngôi sao vàng năm cánh vươn rộng. Một cơn gió nhẹ chợt thổi qua, lá cờ như uốn mình lượn sóng.
Máy quay phim hối hả điều chỉnh cự ly để cố lấy cận cảnh bước chân ông già giẫm lên đúng vào giữa ngôi sao...
Luân có thể đếm được nhịp tim của anh: Ông giáo, một ông giáo từng kháng chiến, có con đang hoạt động. Một người cha mà đứa con gái hiểu rằng giẫm lên cờ Tổ quốc để giữ mạng sống là làm cho “các anh”, “các chú” buồn, là nhục... Không lẽ...
Ông giáo Đầy bỗng tránh lá cờ. Ông bước ra khỏi lồng kẽm mà không đạp lên cờ.
Có vẻ như hàng nghìn tiếng thở phào cùng cất lên một lượt.
- Ê! Đâu được... Mầy muốn khỏi ở tù thì phải đạp lá cờ... Nghe chưa, thằng già chó?
Viên đại úy bây giờ gọi những cái đang diễn ra bằng lời lẽ thích hợp với hàm răng vàng và dấu xăm chằng chịt trên cánh tay áo xắn tận nách: ở tù, thằng già chó... Thiếu tá tỉnh phó ực một hơi hết sạch cốc bia nửa lít, liếm môi, hừ một tiếng khô khan. Người con gái lần theo lưới kẽm, đến trước nhà bạt. Người con trai thì Luân thấy anh ăn bận giống như nhân viên Công dân vụ - vẫn đứng y chỗ cũ.
Ông giáo từ từ quỳ xuống.
- Ba! - người con gái gọi tuyệt vọng.
Viên đại úy chờ đợi cái lạy qui hàng. Máy quay phim hạ thấp, rình vồ lấy một trường đoạn hấp dẫn.
Nhưng ông giáo đã dùng cả hai tay, trịnh trọng nâng lá cờ lên, mắt nhìn lá cờ rồi nhìn quanh, từ từ đứng dậy, chòm râu khẽ xao động.
Hàng nghìn cặp mắt dán chặt vào ông giáo, Không ai bảo ai, tất cả thẳng lưng, đầu cúi thấp, Luân ngỡ đang dự buổi chào cờ của trung đoàn.
Viên đại úy sượng bộ. Điều diễn ra trước mắt hắn có vẻ như chuyện cổ tích. Nhưng, dù sao trên cái gò đất này, người của hắn nắm súng, lão giáo và đám dân - dù đông đến hàng nghìn đi nữa - vẫn là tụi tay không. Không trị lão giáo Cộng sản thì lễ phát động tố Cộng xẹp lép, hắn làm sao sống nổi với thằng cha tỉnh phó, lập tức bị lột hoa mai và chuyển ra một tiền đồn vùng chó ăn đá, gà ăn muối nào đó tận quân khu I.
- Vứt lá cờ Cộng sản xuống đất! Giẫm lên!
Viên đại úy vừa rút súng tra băng mới, lên cò vừa gào. Giữa không khí im lặng, đầy thành kính, sự hăm dọa của tên đại úy lạc lõng tựa hắn gào ngoài đồng vắng. Ông giáo, mắt nhìn cô gái và anh con trai, sau đó nhìn khắp mọi người, ghì lá cờ vào ngực - vòng ngực trần lõm sâu, từng vệt sườn in rõ sau làn da rám nắng.
- Coi chừng! - Dung gọi thảng thốt.
Luân nghĩ rằng viên đại úy nhiều nhứt là bắn cảnh cáo. Nhưng hắn bóp cò. Viên đạn xuyên lá cờ.
- Chết ba tôi, trời ơi! - Cô gái thét lạc giọng, lao tới.
Ông giáo ngã xuống - ngã từ từ. Lá cờ vẫn không rời ngực ông, bây giờ ướt sũng máu.
Người con trai nghiến răng - anh ta đứng sau lưng Luân. Luân kịp chặn tay anh - anh ta có súng:
- Chớ dại dột!
- Quận trưởng giết dân! Đánh chết mẹ thằng quận trường!
Một người nào trong lồng kẽm hô to, phẫn nộ.
- Đánh chết mẹ nó!
Trong và ngoài lồng kẽm, một âm thanh rùng rợn như núi lở. Vòng rào kẽm gai trong chớp mắt ngã rạp. Hàng nghìn người như trong cơn say, cướp lấy cái gì đó có thể chiến đấu được, xông vào đám tề lính.
Tỉnh phó là người chạy đầu tiên, kéo theo một dây tùy tùng và số bảo an, dân vệ. Đại úy quận trưởng, mặt cắt không còn hột máu, trong mấy bước, nhảy đến xe Jeep. Nhưng tài xế biến mất. Hắn đành chạy thục mạng ra xa lộ. Chạy đến lộ, hắn mới dám nhìn lại: mấy chục người nâng bổng chiếc Jeep của hắn vứt vào nhà bạt đang bén lửa.
Hắn bắn mấy phát súng ngắn. Từ trong vùng khói, mấy phát súng trường trả lời hắn.
*
Tất cả sự việc náo động Gò Đen đáng lẽ được hội đồng hương chính làng Long Định giấu nhẹm, nếu không có cái chi tiết “ghê rợn”: Một bọn phản động bắn vào ảnh Ngô tổng thống ba phát súng - có lẽ là súng ngắn. Tỉnh trưởng Long An, làm báo cáo, tỉnh trưởng không tiếc lời sỉ vả quận trưởng Gò Đen Hoàng Đình Thể và buộc tôi thiếu tá tỉnh phó Lê Văn Tám: nhu nhược, để cho Cộng sản len lỏi phá hoại, chỉ có vài tên Cộng sản mà làm hư cả một kế hoạch lớn lao. Bộ Thông tin và bộ Công dân vụ cũng có báo cáo: Họ phải giải thích vì sao không thể tường thuật thu thanh và cho ra lò một phim thời sự về buổi lễ phát động tố Cộng mở đầu cho chiến dịch?
Nhu đọc hết các báo cáo trước khi gặp Luân.
- Loạn mất! Nguy hiểm! - Nhu lắc đầu, trao cho Luân xấp báo cáo.
- Với tôi, như Racine đã cho Néron nói trong tác phẩm của ông: Ami ou ennemi il sufit qu'on me craigne (2). Chỗ khác giữa tôi và anh Diệm là ở đó. Anh Diệm thích sống với ảo giác - được người ta thương mến; tôi sống thiết thực hơn. Dân không sợ thì không có kỷ luật. Dân Gò Đen vốn cứng đầu, nổi tiếng chống nhà nước từ trước, thằng thiếu tá tỉnh phó, thằng đại úy quận trưởng vừa ngu, vừa thô lỗ, vừa nhát. Chúng nó chạy thì lính chạy theo... Sao không lôi tiếp mấy thằng Cộng sản ra bắn?
Luân trả xấp báo cáo cho Nhu, khoang tay, ngó ra ngoài khuôn viên. Nhu đã nói rất thật quan điểm của anh ta: không có cái gọi là tình cảm trong chính trị. Nhu hàng động bằng tính toán và anh ta chấp nhận Néron (3), kể cả cái chết bi thảm của vị hoàng đế La Mã nầy.
- Anh không đồng ý? - Nhu hỏi.
- Anh tin vào báo cáo trong khi tôi tin vào đôi mắt của tôi. Anh quên rằng tôi chứng kiến tại chỗ... - Luân nói, buồn bã.
- Xin lỗi anh! - Nhu cười gượng gạo - Đáng lẽ tôi phải hỏi anh... Thế nào?
- Tạm gác qua một bên lý lẽ của anh, tôi muốn nói rõ: nếu chỉ cần gây nên tâm lý sợ hãi, việc gì phải dùng hình thức tố Cộng - tốn công, tốn thì giờ. Lùng sục bắt bớ sẽ có kết quả hơn.
Nhu không trả lời. Anh ta liếm môi.
- Nghĩa là anh vẫn cần những tác động chính trị. Nghĩa là vẫn cần một hình thức giành giựt quần chúng thông qua thuyết phục...
- Nhưng, với những tên bất trị... - Nhu ngắt lời Luân.
- Anh hiểu chính phủ Mỹ định thi thố cái gì ở miền Nam chúng ta? - Luân không cho Nhu nói hết ý - Họ không thích lập lại chính sách của Pháp, nó lỗi thời và thất bại. Họ sẵn sàng thí nghiệm ở đây một cải tiến, xây dựng ở đây một tủ kiếng trưng bày hàng mẫu hấp dẫn cả Đông Nam Á. Họ tránh như các pháo thuyền buộc nổ súng vào thế kỉ trước mà vẫn cột được chúng ta với vận mạng của họ. Họ có nhiều mô hình để tham khảo: Péron, Batista (4), Phibul (5), Lý Thừa Vãn (6), Magsaysay (7), v. v... Tất cả đều chưa hoàn bích. Chúng ta ở vào thời kì sau kế hoạch Marshall. Chính De Gaulle đã đưa ra định nghĩa “interdépendance” - tạm dịch là “liên lập” - để nói về quan niệm giao tiếp của các nước độc lập nhưng độc lập tương đối. Chừng nào chúng ta còn nắm được quyền lực - nói trắng ra còn cai trị được đất nước một cách chính trị - gouverner politiquement - thì chừng đó, bất kì tổng thống thuộc đảng Cộng hòa hay đảng Dân chủ đều ăn ở với chúng ta lành lặn. Họ đo năng lực của chúng ta từ ba góc độ: ta biết tổ chức lực lượng chính trị, ta biết điều khiển guồng máy và ta biết tranh thủ dư luận dân chúng hay không. Họ viện trợ cho chúng ta, đồng thời cảnh cáo chúng ta: các anh phải cố mà xài, đừng để cho chúng tôi phải nhảy vào xài thay!
Luân thuyết phục một hồi, giọng đều đều. Lúc đầu, Nhu nghe miễn cưỡng, nhưng càng về sau, anh ta chăm chú hơn.
- Tôi nghĩ chúng ta cần rút từ hành động mở màn can thiệp của Mỹ sau hiệp định Genève những nhận xét cần thiết: Lansdale, bấy giờ còn là đại tá trong cục tình báo xộc đến Hà Nội và xướng xuất cuộc di dân khổng lồ. Chính phủ Mỹ đã cho thấy rõ rệt chiều hướng viện trợ của họ cho ông Ngô Đình Diệm... Họ hy vọng, gửi gắm, và họ cũng không loại trừ khả năng sẽ tính sổ với chúng ta. Tôi có quen một cô phóng viên Mỹ, cô vừa cho tôi xem bức ảnh: Một đại đội bảo an làng Vĩnh Lộc dùng đầu lâu một bí thư Cộng sản xã làm quả bóng đùa trên sân. Biết đâu cô ta lại không có bức ảnh viên đại úy Hoàng Đình Thể bắn ông giáo già ở Long Định?
Chưa bao giờ Luân lại dùng đại từ “chúng ta” trong trao đổi với Nhu, đây là lần đầu. Nhu rõ ràng vừa lòng với sự thay đổi ấy của Luân. Anh ta nói:
- Tôi sẽ trị tụi thằng Thể! Bậy quá...
Luân lắc đầu:
- Anh quên chính sách “Récupération de ferrailler” (8) của anh, hay sao?
Nhu cười, chịu thua.
- Một chuyện khác, tôi báo với anh. - Luân nói, cơ hồ như nối tiếp với câu chuyện đang bàn - Đại sứ Mỹ Rheinardt mời tôi chiều thứ bảy này đến Club Nautique (9) chơi tennis với ông ta... Ông ta mời tôi hôm đại hội văn hóa...
- Thì anh cứ đi. - Nhu buông thõng. Qua thái độ đó, anh ta thừa nhận đã đoán biết hoặc chờ đợi một việc như vậy.
- Đại sứ Mỹ Rheinardt muốn thêm nhiều bạn Việt Nam, điều bình thường đối với một đại sứ. - Nhu nói tiếp, cố ý cho Luân thấy anh ta không quan tâm đến cuộc gặp gỡ này.
- Tôi nghĩ, có thể đại sứ Mỹ không chỉ vì muốn thêm bè bạn mà ân cần mời tôi. Ông ta mời cả cô Dung.
- Giả tỷ như vậy, đâu có gì nguy hiểm hay bất tiện cho anh? - Nhu giả như kinh ngạc.
- Tôi không nói đến nguy hiểm hay bất tiện. Tôi muốn hỏi anh: Nên gặp không?
- Sao lại không gặp? Anh ngại cái gì? - Nhu nhìn Luân trân trân.
- Tôi xem cuộc gặp gỡ này là công vụ.
- Ồ! - Nhu kêu to - Anh hiểu lầm tôi rồi. Anh có toàn quyền trong tiếp xúc với ai và với tư cách nào, tùy anh. Tại sao anh không gặp ông ta với tư cách cá nhân?
- Với ông ta, dĩ nhiên là ông ta hiểu là tôi lấy tư cách cá nhân!
- Chẵng lẽ anh sẽ giấu tôi những gì ông ta nói với anh sao? - Nhu cười rộ.
Khi tiễn Luân ra cửa, Nhu sực nhớ:
- Quên bàn với anh. Sắp tới, tôi đi săn trên cao nguyên. Mời anh cùng đi. Mệt quá, nghỉ ít hôm...
- Cảm ơn anh... Hôm nào?
- Vài hôm nữa, tôi sẽ báo rõ ngày giờ với anh.
“Đi săn trên cao nguyên?”. Luân cau mày khi ra xe, cố tìm hiểu Nhu định bày trò gì đây, trò đó có dính dấp chút nào đến chàng trai mà Luân gặp ở Gò Đen không?
---
(1) Nhại lại tiếng “Ngô tổng thống”
(2) Bạn hãy thù, chỉ cần họ sợ tôi.
(3) Hoàng đế La Mã đã đốt kinh thành Roma để xây cung điện, bị đảo chính và phải tự sát
(4) Fulgencio Batista Zaldívar (1901-1973) nhà độc tài, tổng thống Cuba 1953-1959
(5) Phibul Songkhram (1897-1964), thống chế, thủ tướng Thái Lan 1948-1957
(6) Rhee Syng-man (1875-1965), nhà độc tài, tổng thống Hàn Quốc 1948-1960
(7) Ramon Magsaysay (1907-1957), nhà độc tài, tổng thống Philippin 1953-1957
(8) Nhặt sắt vụn: ý nói sử dụng hết mọi loại cán bộ
(9) Câu lạc bộ thể thao nước

CHƯƠNG 8

Bán đảo Bình Quới Tây nằm trong vòng uốn lượn của dòng sông Sài Gòn, man mác một màu xanh. Vườn cau chập chùng nghiêng bóng mát khu Club nautique với sân quần vợt, bể bơi, bến thuyền, quán ăn,. .. đang xây dở thành phố và vùng phụ cận biến đổi mau lẹ. Đồng dollar, ngay trong hiệp đầu, đã tỏ rõ quyền lực hơn hẳn đối với đồng quan (1).
Bên kia sông, trên bãi bồi dừa nước ven làng An Phú Đông, mấy con cò vụt bay vụt đậu.
Dưới tàn một cây vú sữa xoè rộng, Luân và Rheinardt tựa thoải mái trên chiếc ghế xếp quanh chiếc bàn tròn bên mấy bày rượu và cốc thủy tinh. Họ vừa chơi xong mấy ván tennis, vợt và cầu còn vất dưới chân. Đằng xa, vợ Rheinardt và Dung, hẳn đã bơi mệt lử, ngồi trên thành bể, kháo với nhau chuyện gì đó. Dưới bóng cây, rải rác khắp khu vực là giới thượng lưu Sài Gòn và nhân viên các đoàn ngoại giao. Tất nhiên là những nhà thể thao, vừa uống vừa tranh cãi.
Mặt sông thỉnh thoảng cồn lên vì những chiếc thuyền lướt ván lướt qua, nước tựa hồ bị xé thành hai mảng lớn, vỗ ầm ĩ vào bờ.
- Tôi nghe nói chỗ này xưa kia là một căn cứ kháng chiến. Nhưng, không rõ vì sao người ta gọi Bình Quới Tây là “chiến khu ma”?
Rheinardt hỏi Luân, sau khi chạm với anh một cốc Whisky, cả hai trao đổi với nhau bằng tiếng Anh.
- “Ma” là để đối lập với thật. Người Pháp muốn có trong tay lá bài “kháng chiến” nên cho một số người đến đây - lúc đó bán đảo này còn um tùm dừa nước - gọi là xây dựng căn cứ chống “thực dân”. - Luân vừa giải thích vừa cười mỉa.
- Như ông Trịnh Minh Thế ở Tây Ninh?
- Gần gần như vậy...
- Chiến khu ma kéo dài được bao lâu?
- Ngắn thôi. Tôi không nhớ chính xác, song không quá nửa năm... Chúng tôi đã đánh tan trò ảo thuật đó chẳng khó khăn mấy...
Rheinardt lặng im một lúc.
- Người Mỹ chúng tôi không thích chơi trò ảo thuật như người Pháp. - Rheinardt nhún vai - Cần có một chế độ tập trung và ổn định. Tất nhiên...
Rheinardt vụt bỏ lửng câu nói, xoay người sang Luân.
- Thiếu tá thấy gì qua cái chết của tướng Thể?
Luân không đổi cách nằm, mắt vẫn ngó tàn cây khế lung lay.
- Ngài đại sứ nhất định thấy rõ hơn tôi!
- Một tướng Cao Đài khác đã chất vấn tôi và hàm ý cho rằng, chúng tôi nếu không trực tiếp là tác giả của phát súng quái ác đó, thì cũng chấp tay sau lừng, mặc nhiên đồng tình...
- Tôi nghĩ khác ông tướng kia!
- Thế à! - Rheinardt chồm người lên chiếc ghế xếp, kêu răng rắc.
- Trong trường hợp này, người Mỹ đúng là vô can. Đại tá Lansdale phẫn nộ thật sự - tôi gặp ông ấy và ông ấy nói một câu, tôi nhớ mặt người nào tạo tiền lệ người đó sẽ gánh hậu quả do chính mình tạo ra.
Rheinardt nằm yên trở lại một lúc lâu. Giọng ông ta bỗng trở nên âu yếm lạ thường:
- Thiếu tá có nghĩ rằng có người nào đó, hoặc một số người nào đó, hoặc đông hơn một tí, đôi khi nhận xét không thiện cảm lắm về thiếu tá?
Luân không hề đổi tư thế nằm, giọng vui:
- Tôi không nghĩ như vậy! Tôi không nghĩ rằng ít người như vậy... Việt Nam chúng tôi có phương ngôn: Trâu cột ghét trâu ăn
Rheinardt lại đổi cách nằm, nghiêng hẳn sang phía Luân, đưa tay làm một cử chỉ ngăn Luân, sôi nổi:
- Không phải trâu cột, trâu ăn. Thưa thiếu tá, hoặc là cột ghét trâu hoặc là trâu ghét cột kìa!
- Kể cả như vậy, tôi vẫn thích thú!
- Tôi biết thiếu tá đeo quân hàm không do cái gì khác hơn là tài năng và tinh thần. Song, giữa chúng ta, tôi muốn thiếu tá tin, tôi rất thành thật khi nói rằng sự thể nghiêm trọng hơn thiếu tá tưởng.
- Nhiều lắm, người ta cho tôi mưu mô một cái gì khi tôi nhận cấp bậc sĩ quan này.
- Không phải mưu mô! - Rheinardt kêu lên, đắc thắng - Xin lỗi thiếu tá, mưu mô chỉ là một dự kiến, người ta nói thiếu tá đang hoạt động!
Rheinardt ngồi hẳn dậy, ngó về hướng piscine (2).
- Người ta đặt cả dấu hỏi về mối quan hệ giữa thiếu tá với cô Dung...
Luân cũng bật dậy.
- Tôi đang hoạt động? Đúng! Xét về một nghĩa nào đó và với một số người nào đó, tôi là phần tử “phiến Cộng” bởi lẽ tôi sẵn sàng lôi ra ánh sáng mọi biểu hiện xuẩn ngốc, thô bạo. Đại sứ muốn ví dụ? Đốt nhà ở Xóm Chiếu. Ném lựu đạn ở rạp hát. Bài thơ nịnh hót quá tiêu pha từ ngữ ở đại hội văn hóa. Phải chăng người ta định tự sát bằng loại thuốc độc cực mạnh cho chóng chết?
- Tôi chưa bao giờ nói khác thiếu tá về tính chất của những sự kiện bi đát đó!
- Cũng giữa chúng ta, tôi muốn nói thẳng với đại sứ: người Mỹ định thay chân người Pháp ở đây? Tôi nói rõ về hai chữ “thay chân”. Người Mỹ định đem bao nhiêu quân viện chinh sang Việt Nam? Và có định đưa sang ngay trong những thập niên 50 này, thậm chí, ngay khi ngài Rheinardt còn cương vị đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Hợp chủng quốc ở Việt Nam Cộng hòa?
Hai người gần như đối diện khoảng cách là chiếc bàn mây nhỏ.
- Tôi hiểu! Tôi rất hiểu. Hơn cả hiểu, tôi thật sự lo. - Reihnardt nói, rầu rầu.
- Có những phương pháp khác nhau đi đến mục đích giống nhau, lại có những phương pháp giống nhau đi đến những mục đích khác nhau. Tôi hy vọng những gì tôi ôm ấp và thực hành với những gì mà trọng trách đặt lên vai đại sứ tại mảnh đất này thuộc trường hợp thứ nhất... Đúng ngày mùng 3 Tết, kho đạn Gò Vấp nổ. Phải chăng, như lời tiên tri của đại tá Lansdale, đó là hậu quả sơ khởi của một tiền đề?
- Có thể là như vậy! Nước Mỹ kỳ vọng ở ông Diệm, ông Nhu. Tại Việt Nam, ham muốn bay bổng là cần thiết. Người Pháp không tìm ra đồng minh đủ bản lĩnh - họ không thích đáng hơn ở ông Bảo Đại, ông Hữu, ông Tâm, ông Xuân, ông Hoạch, ông Bửu Lộc (3), những người chỉ có thể làm đầy tớ, không hơn không kém. Tôi theo dõi thời sự Việt Nam, tiếc cho người Pháp, họ từng có ông Thinh song họ đã dí ông ta vào dây thòng lọng. Ông Nhu, ông Diệm đều thích bay bổng... Đó là điềm lành!
- Những cái đầu khá bướng bỉnh! - Luân chen vào.
- Thật vậy, những cái đầu khá bướng bỉnh. - Reihnardt đồng tình - Và bằng những cái đầu đó, nước Mỹ mới xuất hiện ở đất nước đầy ý thức của chủ nghĩa dân tộc này như một người bạn, khác người Pháp. Song, chính nước Mỹ cần luôn cả những thân hữu, biết và đủ sức kềm chế đường bay, để lúc nào nó cũng tỏ ra đúng hướng...
- Cám ơn ngài đại sứ đã nói với tôi điều không nên nói với người nào khác ngoài người Mỹ... Tôi mường tượng đại sứ nói đến cây kéo để xén cánh đại bàng!
- Không! Cây kéo không biết bay. Cần cả những con đại bàng vì chỉ đại bàng mới kềm chế nổi đại bàng! Khác chăng là đội hình bay theo một trật tự nào đó.
Giọng Rheinardt bỗng như cha cố giảng đạo:
- Trật tự của đội hình, thưa thiếu tá, không nhất thiết cố định!
Luân mỉm cười:
- Đại sứ vừa hỏi tôi về tướng Trịnh Minh Thế?
Rheinardt xua tay:
- Tướng Thế chưa xứng đáng là đại bàng! Ở vùng sa mạc Gobi, tôi nghe nói, có một loại chim giỏi tránh đạn của thợ săn và dù trúng đạn, nó cũng không dễ dàng rơi cánh, nhất là chỉ với một phát đạn!
Luân lảng tránh:
- Còn về việc tôi và cô Dung, có thể vì chúng tôi chậm cưới nhau. Tôi sẽ thử thuyết phục xem!
Rheinardt giống như ông ta cầm vợt, vụt mạnh quả bóng tréo chân đối phương, hỏi một câu như lạc đề:
- Tại sao đại tá rời bỏ chủ nghĩa Cộng sản?
Luân chưa dự kiến sẽ gặp câu hỏi này. Anh ngó thẳng mắt Rheinardt và trong lúc lựa chọn cách trả lời, anh khẽ nhún vai.
- Tôi phải hỏi, vì hai năm qua thiếu tá hoạt động theo một mục tiêu khác và càng ngày càng có nhiều dấu hiệu thiếu tá tách khá xa mục tiêu suốt 9 năm của mình. Tôi nhớ, hình như có lần thiếu tá bảo là, tuy chưa phải đảng viên Cộng sản, thiếu tá rất thích Cộng sản...
- Đúng, tôi từng nói như vậy với viên trưởng ty Công an Vĩnh Long... - Luân cười mỉm, anh đã chọn được cách trả lời - Bây giờ tôi vẫn chưa thay đổi ý nghĩ. Đảng Cộng sản đã làm nhiều việc tốt cho Tổ quốc tôi. Nhưng, tôi không cho rằng chỉ có đảng Cộng sản mới làm được điều tốt. Trước kia, các đảng quốc gia bất lực. Gọi là đảng Quốc gia là nói theo lễ tân, kỳ thực, chưa có một nhóm chính trị xu hướng Quốc gia nào tin tình thế đã thay đổi. Tôi thích một cuộc thi đua dẫu rằng tôi xác tín sự thay đổi của tình thế trước hết là do những người Cộng sản tạo ra. Nghĩa là, chúng tôi sẽ phải cố gắng rất nhiều.
Luân nói giọng bình tĩnh, hơi say sưa nữa. Rheinardt chăm chú nghe.
- Xin phép thiếu tá cho tôi đặt thêm một câu hỏi: Phải chăng thiếu tá bắt đầu thấy cái khác nhau về quan niệm chính trị và triết học của thiếu tá với những người Cộng sản?
- Đã có thể nói được như vậy! - Luân trả lời như không cần suy nghĩ.
- Chỗ khác nhau đó là gì? Thiếu tá có thể cho biết không?
- Ngài đại sứ hẳn đã xem các bài viết của tôi về chủ thuyết Cần lao Nhân vị?
- Rất hay! - Rheinardt gật gù. Ông ta trầm ngâm một lúc rồi đặt tay lên vai Luân.
- Ông thiếu tá! Ông đã làm tôi say mê ông. Thật ra, vài tháng nữa thôi, tôi sẽ rời đây. Một nhà ngoại giao kỳ cựu, bạn của tôi, ông Elbridge Durbrow thay tôi. Như tướng Collins từng dặn tôi chăm sóc ông, tôi cũng sẽ làm như vậy với đại sứ Durbrow. Nhiều đại sứ theo nhiệm kì qui định, nhiều tổng thống những lần nước tôi tuyển cử, song chỉ có một nước Mỹ!
Rheinardt rót đầy hai cốc rượu:
- Ta hãy mừng buổi nói chuyện lí thú này!
Hai người chạm cốc và sau đó đứng lên, ra hiệu cho bà Rheinardt và Dung.
---
(1) đồng franc: tiền Pháp
(2) bể bơi
(3) Lê Văn Hoạch, Nguyễn Văn Xuân, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, Bửu Lộc: các thủ tướng bù nhìn Việt Nam của Pháp (1946-1954)

CHƯƠNG 9

Chuyến máy bay riêng sáng mai sẽ cất cánh lên Ban Mê Thuột. Luân và Dung, có Thạch theo, tháp tùng vợ chồng Nhu.
Tới giờ này, gộp các sự kiện lại, Luân biết chắc là chính Diệm khai mạc hội chợ mặc dù trên các thông tin khai thì, hoặc phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ hoặc bộ trưởng cải cách điền địa Đỗ Văn Công làm việc đó.
Luân không cách nào báo cáo cho anh Sáu Đăng. Liên lạc điện đứt từ hôm căn cứ núi Cậu bị biệt kích, còn liên lạc với Sa phải tạm ngưng vì trong lần gặp Luân sau cùng, Sa cho hay hộp thơ của anh Sáu Đăng có lẽ lộ, đã dời mà chưa nối lại được.
Theo Luân nghĩ, sau khi các giáo phái bị đánh dẹp, nhứt là sau cái chết của tướng Ba Cụt, tình hình lần hồi bộc lộ bản chất của nó: chế độ Mỹ - Diệm đối đầu trực tiếp với nhân dân. Vụ sát hại nữ giáo sư Nguyễn Thị Diệu - một người kháng chiến cũ, con gái của cụ Nguyễn Văn Hiền, cựu thượng thơ triều đình Huế, ngay giữa lúc chị Diệu mang thai, vụ giết cò mi Nguyễn Văn Ngọc, ném lựu đạn lên sân khấu Kim Thoa, chiến dịch “tố Cộng” v. v. . báo hiệu bắt đầu giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc xung đột miền Nam. Ngô Đình Diệm cho thấy ông ta nóng lòng sớm rảnh tay ở miền Nam để bắt tay vào mơ ước lớn nhất của đời ông: Bắc tiến. Tất nhiên, Diệm và Nhu không phải lúc nào cũng có thể sai khiến âm binh một cách chặt chẽ, song bọn thuộc hạ vẫn làm theo ý đồ của Diệm Nhu. Xét trên đại thể Diệm- Nhu muốn trấn áp quần chúng đồng thời dằn mặt trí thức: giáo sư Nguyễn Thị Diệu là em của bác sĩ Vinh, chồng là thạc sĩ y khoa Trần Vĩ. Dám đụng giới đó, Diệm - Nhu tự đánh giá chế độ của họ đã đủ mạnh.
Đúng ra, thế lực của Diệm có vững hơn sau hai năm rưỡi cầm quyền. Hai công cụ quan trọng, nhất là quân đội và công an đều được tổ chức hẳn lại, gồm một hệ thống người thân tín của Diệm. Các tỉnh chia nhỏ và bộ máy hầu như thay đổi hoàn toàn, từ tỉnh trưởng đến viên đại diện hội đồng hương chính xã. Dân di cư được phân bố theo một loạt yêu cầu chiến lược: người có văn hóa thì giữ cương vị chỉ đạo, chỉ huy hoặc đi học. Số đông thì chia thành các mảng hình thành các cụm dân cư nơi xung yếu nhất: giữa trung tâm Sài Gòn, vùng ngoại ô, ven trục lộ dẫn vào thành phố, vùng rừng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên. Thậm chí, có bộ phận được cấy đến nơi rất hẻo lánh: Cái Sắn ở Rạch Giá và Bình Hưng, tận vịnh Thái Lan. Trong hoạt động kinh tế xã hội, những nhân vật di cư bao giờ cũng được ưu đãi. Diệm, theo lời khuyên của Lansdale thực hiện chính sách dựa vào dân di cư là lực lượng an ninh chính trị chủ yếu, dù cho sự lợi dụng đó đôi lúc khiến cho sự lưu manh trong dân di cư trở nên một loại “kiêu binh” ngang ngược, tạo nguy cơ cô lập chế độ ở miền Nam trong nhân dân.
Tuy nhiên, không phải là không có những dấu hiện đầu tiên của sự rạn nứt. Tổng hội Phật giáo Việt Nam, mùa xuân năm ngoái nhân lễ Phật đản, đã họp đại hội, quyết định lấy chùa Ấn Quang làm trụ sở và yêu sách chính phủ phải xem ngày Phật đản là ngày lễ chính thức của cả nước, như ngày Noel. Diệm rất khó chịu trước đòi hỏi đó mà ông cho là “vô lý”. Ông vẫn mơn trớn đạo Phật và đề cao đạo Khổng, nhưng ông tin rằng việc Chúa giao ông chiếc ghế tổng thống ở miền Nam đồng nghĩa với việc Chúa giao ông sứ mệnh thành lập một quốc gia toàn tòng đạo Thiên Chúa. Nơi đây - một vùng chịu ảnh hưởng đạo Phật sâu sắc và lâu đời. Điều phiền lòng ông Diệm hơn nữa là bản kiến nghị tổng hội Phật giáo mang nhiều chữ kí của các thượng tọa vừa di cư vào miền Nam, như Thích Tâm Châu, Thích Đức Nghiệp.
Trong những lần gặp Luân, Diệm phàn nàn về các nhà sư Phật giáo, song ông nhìn sự vật khác Luân. Với ông, chẳng thể nào có “vấn đề Phật giáo”, bởi lẽ Phật giáo chẳng thể nào tự nổi lên vấn đề. Cho nên, ông chú ý hướng khác: thăng Lê Văn Tỵ làm đại tướng, giải tán tiểu đoàn an ninh phủ tổng thống và thành lập cả một lữ đoàn liên binh phòng vệ, do đại tá Nguyễn Thế Như chỉ huy, thành lập lữ đoàn dù dưới quyền trung tá Cao Văn Viên, v.v... Diệm quyết định cai trị bằng tay sắt.
*
Chiều nay, Luân dạo mát với Dung ở vườn ông Thượng. Thạch theo sau họ, giữ khoảng cách khá xa: chẳng thể có gì nguy hiểm với Luân ngay trong khu vườn sau dinh Độc Lập. Vả lại, hai người nhất định sẽ nói những chuyện riêng tư mà người thứ ba không nên nghe.
Khu vườn vào giờ này còn vắng vẻ. Luân và Dung sóng đôi, bước chậm rãi.
“C'est à Capri
Que je l'ai rencontrée...” (1)
Luân hát khe khẽ. Nói chung, giọng Luân rất tồi, nên anh hát sai bét. Dung cười, cười rũ rượi.
- Lần đầu em nghe anh hát... Mà là một bài hát nhớ nhung! Gặp ai ở Capri, hở anh?
Luân cười theo:
- Tôi sẽ đổi lại: “C'est à Kitchener que jel'ai rencontrée! (2)
Dung chợt nghiêm mặt:
- Em không thích đùa như thế!
Luân ngừng hát thở dài.
- Chắc có gì vui anh mới hát? - Dung ái ngại nhìn Luân, đấu dịu.
- Vui à? Đại khái cũng vui. Ít nhất cô và tôi yên trí được nếu không lâu hơn thì cũng từ nay đến cuối năm. Rheinardt cấp cho chúng ta lá bùa hộ mạng và người sẽ lấy lại nếu cần lấy là Durbrow. Có thể CIA chưa biết gì về chúng ta, có thể chúng muốn sử dụng hiểu biết của chúng ta như là một thứ lông ngỗng Mỵ Châu hoặc một thứ bẫy rập.
Luân cơ hồ quên phút trước, câu nói đùa của anh làm phật lòng Dung và tự nhiên cảm thấy một nổi buồn vô hạn ập đến, anh nói giọng trầm trầm.
- Khả năng nào nhiều hơn? - Dung hỏi - Tức là khả năng biết chúng biết và chưa biết về chúng ta.
- Cả hai!
Bây giờ tới phiên Dung thở dài.
- Nhưng, nếu với khả năng đầu, chúng chỉ ngấm nghé ở mức cộng lại các hiện tượng lại thành nghi vấn...
Luân an ủi Dung. Chân họ âm thầm bước trên con đuờng sỏi.
Đến một ghế băng, Luân dừng lại lấy khăn tay phủi bụi và gọi Dung cùng ngồi với anh.
Dung linh cảm là Luân sắp nói một cái gì quan trọng. Tim cô đập mạnh. Luân nhìn Dung một thoáng rồi ngó lên ngọn cây đang từ từ sẫm màu theo bóng đêm.
- Một chuyện khó... - Luân cân nhắc từng lời - Chuyện khó do tự nhiên trở thành cái nút, Rheinardt hỏi, tôi chắc không chỉ là nhận xét của ông ta.
Luân nói rời rạc. Dung cố phán đoán, qua nét mặt rầu rầu của Luân.
- Màn kịch đòi hỏi các diễn viên chúng ta bám sát kịch bản, đó là quan hệ giữa tôi với cô trước dư luận. Trước dư luận có nghĩa là trước bọn chúng. - Luân nói thật khẽ, đăm đăm nhìn về Thạch, anh chàng cũng chọn một băng đá ở một góc và đang quan sát cả khu vực.
- Thế nào là khó? - Dung hỏi, giọng tinh nghịch.
- Như cô biết và tôi vừa nói, chúng ta phải thể hiện một kịch bản cho đạt... - Luân vẫn chưa tìm ra các diễn đạt rõ ràng hơn.
- Khó là không đạt vai kịch trong cuộc sống thực? - Dung hỏi và cười.
Luân lúng túng, càng lúng túng. Dung càng cười thích thú.
- A.07 bảo anh là một nhà hiền triết, lúc đầu em không tin, bây giờ thì thấy A.07 nói đúng!
Luân chẳng biết Dung ám chỉ cái gì. Anh đỏ mặt, chỉ dám khẽ liếc Dung. Cô gái, trong khi cười thoải mái, hài hòa, cái hồn nhiên bên trong với nét tạo hình cân đối bên ngoài - nhắc nhở Luân cuộc sống mà anh tự nguyện hiến dâng cả đời khi đội chiếc nón rơm, cắp ngọn tầm vông từ một mùa thu chưa xa lắm...
- Ông thộn ơi! Này nhé, với mọi người, anh và em yêu nhau, thậm chí, còn một bước ngắn nữa là cưới nhau. Đúng không nào? - Giọng Dung vẫn nhí nhảnh.
- Nhưng, chẳng lẽ không cưới nhau? - Luân hỏi, ngờ nghệch.
- Thì cưới! Có sao đâu... Anh lựa một dịp nào đó, mời bạn hữu đến nhà. Chính cô chú em còn thắc mắc, nói gì Rheinardt. - Dung nói, hơi nghiêm. Giọng cô nghe lạc đi một chút.
- Tôi thấy kịch bản này ác ác thế nào...
Giọng Luân rười rượi. Dung không cười nữa.
- Xin lỗi anh, em đùa không phải lúc... Hay là...
- Sao cô lại ngập ngừng? - Luân hỏi, lo lắng.
- Nếu anh thấy đóng vai gò bó, thì ta nên báo với anh Sáu Đăng hoặc A.07. - Dung hỏi, câu nói chua chát và mắt cô thì rơm rớm.
Luân thở dài. Dung bứt mấy chiếc lá xanh, mân mê.
- Sao anh thở dài? Em có nói gì xúc phạm anh đâu? Chúng ta nên làm lễ cưới sớm. Người yêu hay đã cưới nhau, có gì khác đâu? Hơn ai hết, anh hiểu chúng ta đang sống giữa cái gì? Không phải anh, không phải em có quyền vượt quá vai được giao.
Dung trở lại cái sắc sảo thường ngày.
- Với tôi, chẳng có gì phải thiệt thòi trong vở kịch này. Tôi là đàn ông. Trong cái nhìn của xã hội đương thời nước ta, đàn ông hàm nghĩa được trừ đi ít ra 50% trong loại sinh hoạt đơn thuần riêng tư. Còn cô, cô là gái. Tôi nói vở kịch ác ác theo tinh thần đó.
Luân thu hết can đảm, nói một mạch.
- Cám ơn anh! - Dung gay gắt hẳn - Chẳng lẽ anh không nghĩ rằng chúng ta sẽ thắng? Khi ấy, chỉ cần một lời, cát bụi sạch ngay thân hòn ngọc!
Luân nhìn sững Dung. Dung bóp nát mấy chiếc lá trên tay, mắt sụp tối giữa khu vưởn đã tắt chút nắng chiều còn sót.
- Còn nếu tôi cho vở kịch ác ác ở hướng khác, thì sao? - Bỗng nhiên Luân cảm thấy bạo dạn hơn - Đóng kịch với kẻ thù, tôi tin là mình không đến nỗi tồi. Còn...
Luân bỏ lửng câu nói. Anh kéo bàn tay Dung, nhẹ nhàng lau vết xanh lá cây. Dung để yên tay trong tay Luân.
- Ta về thôi! - Dung âu yếm kéo Luân đứng lên.
Hai người đi được vài bước.
- Ô kìa! Ông chồng sắp cưới, không biết quàng vai vợ mà đi dạo, hay sao?
Dung trêu Luân. Luân vụng về choàng vai Dung:
- Ngày mai, tôi đi Ban Mê Thuột!
- Thế à? - Dung nói lại, rồi cô ấp úng - Liệu...
Luân biết cô nghĩ đến anh chàng công dân vụ mà họ gặp ở Gò Đen.
- Chưa chắc... Nhưng, nếu có, không có gì đáng ngại đâu.
- Em cũng nghĩ như vậy... Chà, em thích Tây Nguyên lắm. Đọc trong sách đâu bằng đến tận nơi.
Rồi Dung bỗng cười giòn:
- Mấy giờ ta cất cánh?
Luân sượng bộ.
- Nói cho anh biết: bà Nhu rủ em cùng đi đó! - Dung nhí nhảnh, nép sát vào Luân.
- Vậy sao? - Luân không kềm được niềm vui.
Cả hai đều bước thật chậm. Dung chợt hát khẽ một bài hát.
- Hay! Bài hát và người hát đều hay! - Luân khen.
- Anh đừng nịnh đầm! Bài hát thì hay! Đúng rồi! Bài “Dấu chân trên rừng” của Vĩnh An đó.
- Em hát lần nữa đi! - Luân giục.
“Chiều nay ra đứng bên bờ suối vắng
Chợt nghe tiếng chim nó kêu lạc đàn... ”
Đèn vườn ông Thượng bật sáng.
---
(1) “Chính ở tại Capri tôi đã gặp nàng” - lời một bài tình ca nổi tiếng. Capri: một thành phố nước Ý.
(2) Kitchener: đường Nguyễn Thái Học, nơi lần đầu Luân gặp Dung

CHƯƠNG 10

Họ ngồi trên những cành khô, dưới vòm cây rừng Bời Lời kín mít. Nắng trưa theo gió, xuyên lá rải trên mình họ vài chấm lung linh.
Người gầy nhất, áo xá xẩu đen, gác chiếc vòng mây bên cạnh, hệt như một Hoa kiều thiến heo dạo, giọng miền Bắc pha:
- Tin tức Diệm có chắc không?
- Cô Ba Nọt Tông vừa ở trên đó về, cho biết tụi nó bài binh bố trận dữ dằn lắm. Như vậy, vợ chồng tay gì đó nói với thằng Phúc là thiệt.
Người trả lời, tác dềnh dàng, trán cao, mặc áo bành tô xám, khẩu “Côn” thò báng ra túi, là Năm Xếp – tỉnh ủy viên phụ trách an ninh, do công tác đó nên còn có tên là Năm Ninh, người gầy là Hoàng Lệ Kha, ủy viên thường vụ tỉnh ủy Tây Ninh.
- Tôi dò hỏi thằng cháu, theo nó, có triệu chứng Diệm lên Ban Mê Thuột. - Người thứ ba, nhỏ nhắn, giống một học sinh. Anh tên Nhì, tỉnh ủy viên.
- Nếu con của ông Phương hé tin, chắc đúng trăm phần trăm rồi!
Ông Phương mà Năm Ninh nhắc là Trần Hữu Phương, nguyên Bộ trưởng, anh ruột của Nhì.
Họ trầm ngâm hồi lâu. Ngoài tiếng hồng hoàng vỗ cánh, khu rừng chìm trong lặng lẽ.
- Anh Ba cho ý kiến để tôi còn sắp đặt! – Năm Ninh chừng sốt ruột, tiếng.
- Khó đa! – Ba Kha đắn đo. Việc này lớn quá, tôi không dám quyết định. Đợi tôi gặp anh Chín bí thư trao đổi trong thường vụ rồi xin ý kiến R….
- Trời đất! Chạy vòng vo kiểu đó, thằng Diệm lên Ban Mê Thuộc ăn ỉa đã đời, về Sài Gòn ngủ thẳng giấc, họa may người của tôi mới lò mò tới nơi – Năm Ninh bực dọc.
- Theo tôi, trao đổi thỉnh thị, anh Ba cứ làm còn bố trí anh Năm cứ bố trí. Để sẩy keo này uổng lắm. - Nhì chen vào.
- Chà! - Ba Kha do dự.
- Ít ra trong cấp ủy cũng có tới ba đồng chí bàn việc này, tôi thấy, mình chịu trách nhiệm với tập thể, bởi binh quý thần tốc, dễ gì có cơ hội. - Năm Ninh nhất quyết đốc vô.
- Mình ở một địa phương nhỏ, việc lại quá quan trọng, e quyết định có gì so thất chăng? - Ba Kha còn băn khoăn.
- Sơ thất gì mà sơ thất. Tội ác của thằng Diệm lút đầu lút cổ vậy mà anh còn sợ giết nó là phạm nguyên tắc. – Năm Ninh chì chiết – Nguyên tắc lớn nhất là trừ gian giệt ác, tôi nói vậy đó. Giết ẩu, giết càn là bậy,còn giết đúng để cứu dân là trúng nguyên tắc. Anh ngán kỷ luật, tôi chịu hết cho!
- Đâu phải vậy… - Ba Kha vẫn điềm đạm – Ta cân nhắc lợi hại về chính trị, giết Diệm bây giờ có lợi chưa?
- Tôi cho là có lợi – Nhì nói – Quần chúng tán thành. Nếu ta ra tay sớm, tỷ như năm ngoái, năm kia, thì có một số người chưa hiểu, bất lợi về chính trị. Nay, đến đồng bào di cư cũng có số bắt đầu thấy bộ mặt gian ác của Diệm. Nó đạp trên đạo họ để leo lên ngôi vua Mà, là thứ bạo chúa.
- Cho ý kiến của anh là đúng đi, làm cách nào để thi hành được? – Ba Kha rõ ràng đã xiêu lòng.
- Tôi lo cho! – Năm Ninh nhổm người, sôi nổi – Thằng Phúc được lệnh lên Ban Mê Thuột với đoàn công dân vụ Tây Ninh, nó nằn nằn đòi lãnh việc đó. Tôi tính kỹ rồi, nó làm là tiện hơn hết. Cô Ba Nọt Tông giúp nó.
- Súng lấy ở đâu? – Ba Kha hỏi.
- Có thể mượn chổ anh Bảy Môn.
- Từ đây qua chiến khu Đ lấy súng, trễ mất!
- Súng ngắn thì sẵn. Lấy khẩu của tôi cũng được!
- Muốn chắc ăn,dùng tiểu liên. Tôi có chổ lấy tiện hơn. - Nhì hạ thấp giọng.
- Quận trường Gò Dầu!
Sau đó, ba người chụm đầu, rù rì tới xế chiều.
*
Ngô Đình Diệm quyết định mở hội chợ Buôn Mê Thuột là việc có suy tính. Nhu đã nói tiếng nói chung cuộc trong vụ này.
Tây Nguyên – vùng đất chưa khai phá – giữ vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng đối với bán đảo Đông Dương. Đứng vững ở Tây Nguyên có nghĩa là giành thế chủ động cao trong các tình huống khác nhau. Nhu lập luận: Với Tây Nguyên, chúng ta “tấn khả dĩ công, thối khả dĩ thủ”. Đúng vậy, địa bàn cơ động tiếp giáp Nam, Bắc Việt Nam, Lào và Miên cho phép người nào làm chủ Tây Nguyên có thể linh hoạt xoay chuyển cục diện quân sự. Hơn nữa, Tây Nguyên gồm nhiều bộ tộc chưa phát triển, đất đai lại màu mỡ, chỉ cần cấy vào một mức sức người có tổ chức và một mức máy móc là chinh phục được nhân tâm.
Từ lâu, Pháp đã thấy tầm vóc Tây Nguyên. Tư bản người Pháp theo sau các nhà truyền giáo, lập ra các đồn điền cà phê. Tuy nhiên mức đầu tư của Pháp nói chung chưa đáng kể. Có lẽ thành công lớn nhất của Pháp là kéo được một bộ phận người Rhađê. Ưu đãi tầng lớp trên của bộ phận này và biến họ thành công cụ trấn áp người Rhađê và các dân tộc Tây Nguyên nói chung. Sự chần chừ của Pháp cũng dễ hiểu: Tây Nguyên xa xôi hiểm trở, đường xá đi lại cách bức, dễ nảy sinh tình trạng cát cứ. Thực tế đã có một vụ cát cứ rồi.
Một gã lưu manh nhưng rất tài hoa bắn cung nỏ, đánh kiếm giỏi, khỏe mạnh, đẹp trai tên là Mayrena, từ Pháp phiêu bạt sang Attôpơ tìm vàng. Toàn quyền Đông Dương thấy gã lanh lợi nên giao cho gã nhiệm vụ chinh phục người Thượng. Công sư Quy Nhơn Lamire giới thiệu gã với các linh mục đạo Thiên Chúa ở Komtum và gã được giúp đỡ khi vừa đặt chân lên vùng núi hẻo lánh này, nhất là của linh mục Guerlach. Đó là vào tháng 5 năm 1888.
Mayrena chọn Dakto làm chỗ đứng. Gã trổ tài bắn cung, đánh kiếm và bao giờ gã cũng vô địch. Người Sêđăng - vốn hiếu chiến - khâm phục gã. Chẳng bao lâu Mayrena lên ngôi vua, với tước hiệu Marie đệ nhất, vua nước Sêđăng, triệu tập đại hội bô lão để cử tể tướng. Một người Thượng tên Krui giữ ngôi vị này. Các bộ lạc Bana, Mơnông… lần lượt về với gã. Vương quốc Tây Nguyên có quốc kỳ, có giấy bạc, có cấp chức v.v…
Trước tình hình đó, chính phủ Pháp lo ngại. Bấy giờ, người Xiêm chiếm Attôpơ. Nếu để Mayrena liên minh với Xiêm coi như Pháp bị hất khỏi Tây Nguyên và địa vị ở Đông Dương càng lung lay. Quyết định kéo quân lên dẹp Mayrena đang sửa soạn thực hiện thì “quốc vương” về châu Âu nghỉ ngơi. Nhân cơ hội đó chính phủ Pháp bít đường trở qua của gã, đưa công sứ Quy Nhơn “đăng quang” thay Mayrena và vài năm sau giải tán luôn vương quốc.
Mãi đến khi phong trào Việt Minh lên mạnh, chính phủ Pháp mới thực hiện một loạt chính sách nhằm lôi léo người Tây Nguyên. Một trong những chính sách đó là lập khu tự trị Tây Kỳ. Tuy vậy, với cách nhìn thực dân cũ kỹ, người Pháp chỉ mới dám trao quyền cấp xã, cấp quận, còn trong quân đội, đại úy là quân hàm cao nhất dành cho người Thượng.
Chỗ dựa của Pháp là các linh mục, giám mục đạo Thiên Chúa. Trong khi đó, hội thánh Tin Lành, đến sau, lại mở rộng hoạt động và trở thành thế lực tôn giáo hàng đầu.
Vào giờ phút hấp hối ở Đông Dương, Pháp lại xoay sở thành lập cái gọi là Hoàng triều cương thổ - đặt Tây Nguyên dưới quyền trực tiếp của triều đình Huế, hy vọng tạo cho thế lực thân Pháp chốn nương náu lâu dài, nếu yếu thì vạn đại dung thân, nếu mạnh thì trong một hồi kèn, chế ngự từ biển Đông đến sống Mêkông. Đứng đầu Hoàng triều cương thổ Khâm mạng Nguyễn Đệ, còn khu bắc do Ecarlat, khu nam do Didelot, người Pháp phụ trách.
Khi người ta hấp hối sự suy tính thường không chính xác. Bởi vậy, bằng một sắc lệnh đơn giản, Ngô Đình Diệm cho Hoàng triều cương thổ ra mây khói. Hội thánh Tin Lành đóp góp đắc lực trong việc Diệm thu hồi Tây Nguyên, sau đó, đến giám mục đạo Thiên Chúa Kontum.
Diệm đưa lên Tây Nguyên một số lượng người Kinh và người Nùng đáng kể. Những dinh điền “nhảy dù” giữa một vùng đất bazan màu mỡ, trên các trục lộ và cứ điểm xung yếu. Ban Mê Thuột nhanh chóng đổi bộ mặt: một kinh đô Tây Nguyên.
Trong lúc đó, vấn đề phát sinh: các phần tử thân Pháp không dễ dàng buông vũ khí, cộng với ảnh hưởng Việt Minh người Thượng như Y Ngông, Y Blốc… đều tập kết ra Bắc Việt, song dấu ấn của cuộc kháng chiến vẫn còn in đậm trong lòng Tây Nguyên.
Điều mà Diệm cho là phải lợi dụng ngay, ấy là các phần từ thân Pháp chưa bắt tay với Việt Minh. Họ tính toán theo hướng khác: nước Miên độc lập, nuôi tham vọng bành trướng sẽ hỗ trợ họ, Lào rối tinh nội bộ, gần như bỏ ngỏ vùng Attôpơ.
Trong cách nhìn Tây Nguyên, Nhu có vài chỗ khác Diệm. Nhu không sợ những người Thượng thân Pháp, mà lo số dính dáng với hội truyền giáo Tin Lành và những tin tức về cái gọi là Fulro (1) – chắc chắn được Kossem, tham mưu phó Quân đội Hoàng gia Cambốt ủng hộ.
Gì thì gì, phải phô trương sự ổn định miền cao nguyên. Diệm chỉ thị cho Bộ Cải cách điền địa, Tổng ủy dinh điền, tướng tư lệnh quân khu II, các tỉnh trưởng Darlac, Pleiku, Komtum, Phú Bổn, Lâm Đồng, Tuyên Đức, Phước Long tổ chức hội chợ, danh xưng do Diệm đặt: “Hội chợ kinh tế đoàn kết Kinh - Thượng”.
Báo chí, đài phát thanh được lệnh tuyên truyền rùm beng cho hội chợ.
Hội chợ được sửa soạn nhiều tháng. Sau Tết Đinh Dậu, nhịp độ sửa soạn càng khẩn trương. Cả một khu vực quanh biệt điện rộn ràng: nhà triển lãm, nơi giải trí, quán ăn, hộp đêm. Hội chợ lôi kéo hàng vạn người từ miền biển Trung Bộ, từ Sài Gòn lên, chủ yếu là buôn bán. Ban Mê Thuột đột ngột được nhắc tới. Nguồn tin do Sở nghiên cứu chính trị tung ra: Phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ sẽ cắt băng khánh thành hội chợ. Nó phù hợp với công việc của Thơ bấy lâu – chủ tọa các ban tổ chức hội chợ từ khi nó ra đời.
*
Kể ra, mùa xuân năm 1957 khá rực rõ nhìn theo lăng kính của gia đình họ Ngô, tổng thống tái đắc cử Eisenhower, một quân nhân chống Cộng, một người bảo thủ hạng nặng của đảng Cộng hòa bắt đầu nhiệm kỳ hai ngày 20-1-1967 - một bảo đảm có sức nặng cho chế độ Nam Việt Nam. Phó tổng thống là Richard Nixon, một lính thủy giải ngũ, rất tán thành cung cách cai trị của Diệm. Điện văn trao đổi giữa hai tổng thống tràn đầy lời lẽ ngọt ngào. Bằng áp lực của Mỹ, tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc, 13 nước ký tên đòi Nam Việt Nam được chấp nhận làm hội viên của tổ chức quốc tế này. Tất nhiên, 13 nước không thể giúp ông Diệm vào Liên hiệp quốc, nhung ít nhất cũng khua trống cho dư luận biết Nam Việt Nam có một nhà nước với quốc kỳ như thế, quốc ca như thế, vị tổng thống như thế.
Giáo phái tan rã, Xét về đại thể, chính phủ ông Diệm kiểm soát tuyệt đại bộ phận lãnh thổ, bộ máy cai trị được thiết lập tận ấp xóm. Thanh niên, thanh nữ Cộng hòa xuất hiện, cái trước do Ngô Đình Nhu làm thủ lĩnh, cái sau thì Trần Lệ Xuân. Công việc ở miền Trung do Ngô Đình Cẩn đảm đương, với chức vụ cố vấn chỉ đạo.
Chiến dịch tố Cộng rầm rộ. Đôi khi, báo chí nước ngoài “xì” ra một vài tin chẳng hay ho gì lắm, tỷ như quân đội bắn giết bừa bãi, một số trường hợp mổ bụng moi gan những người bị “tình nghi” Cộng sản, thậm chí, có cả bức ảnh chụp toán dân vệ dùng đầu lâu một “Việt Cộng” làm quả banh trên sân cỏ. Trần Chánh Thành nhất loạt phủ nhận – phủ nhận trên mặt trận thông tin và che dấu luôn Ngô Đình Diệm. Thành không dám lừa Nhu. Vả lại, không cần lừa. Nhu cho rằng cai trị có cứng, có mềm. Giết chừng đó chứ giết hơn vài chục lần cũng không có gì đáng bận tâm. Bởi vậy, Nhu giả tai ngơ mắt điếc hoạt động của linh mục Nguyễn Lạc Hóa, một người Hoa, tại khu Bình Hưng. Nguyễn Lạc Hóa khét tiếng hung thần, cho tay sai nướng thịt ngươi, ăn gan người, lắt vú phụ nữ, tự do hãm hiếp cả vùng căn cứ kháng chiến Cà Mau. Nhu biết hết, chỉ dặn Hóa: chớ cho bọn báo chí léo hánh tới.
Năm 1957 mở đầu như vậy đó.
---
(1) Fronnt Unif de Libérotian des Races Opprimées: Mặt trận thống nhất giải phóng các sắc tộc bị áp bức .

CHƯƠNG 11

Người lính gác biệt điện kinh ngạc khi trời vừa sáng, một đoàn xe Jeep sơn màu ô liu ngừng trước cổng, bóp kèn inh ỏi. Anh ta không nhận được một lệnh nào sẽ có khách bất thường như vậy. Sỹ quan chỉ huy anh, một trung úy, có lẽ nghe tiếng ồn ào, chạy chân đất ra cổng.
Từ trên chiếc xe Jeep dẫn đầu, một người khoác áo choàng bước xuống, dùng mũi giày đá vào cánh cửa sắt, thét:
- Mở nhanh!
Trung úy đã biết người đó là ai, nên vội chập gót chân thẳng người:
- Thưa đại tá!
- Thôi đừng chào hỏi, mở cổng lẹ lẹ…
Chiếc cửa sắt nặng nề dang rộng. Đoàn xe lao nhanh vào tận thềm biệt điện.
- Ai như ông bà cố vấn… - Viên trung úy nói kẽ với người lính gác. Anh không giờ chỉ nửa giờ sau, anh bị lột lon trung úy vì anh không nghe được mấy câu đối đáp sau đây ngay tại thềm điện:
- Ông Như nầy! – Nhu bảo – Sĩ quan gì mà đi chân đất tiếp thượng cấp?
- Dạ! – Nguyễn Thế Như, chỉ huy trưởng liên binh phòng vệ phủ tổng thống ấp úng – Dạ… không ai báo trước với nó là ông bà cố vấn lên đây…
- Sao? - Nhu nhíu mày – Giặc đánh vào biệt điện có báo trước không?
Giọng Nhu đanh hẳn:
- Ông nên nhớ: Lính phòng vệ không phải là lính cậu, lính kiểng. Chúng tôi không thể giao sự an toàn bản thân cho những tên ngái ngủ, đến giày còn không kịp xỏ vào chân, còn nói gì đến đánh đấm.
Đại tá toát mồ hôi, dù sáng Ban Mê Thuột mùa này khá lạnh. Con mắt nghiêm khắc của Nhu soát xét ngay trên người của Như và dừng lại hơi lâu một chút ở một chiết áo choàng chưa gài. May mà Như đã cột dây giày cẩn thận. Đại tá hiểu Nhu không chỉ cảnh cáo một viên trung úy thuộc hạ quèn…
Luân và Dung nghe hết. Họ cùng đáp chuyến máy bay đặc biệt với vợ chồng Nhu, rời Sài Gòn từ tờ mờ sáng. Càng về sau, Luân càng nghiệm ra đối thủ của anh quá sắc sảo, hơn nữa, bao giờ cũng muốn chứng tỏ mình sắc sảo đằng sau cái trầm lặng cố ý.
Khi mọi người theo bậc thềm lên gian phòng khách, đại tá Nguyễn Thế Như tất tả chạy đi.
Vừa ngồi xuống ghế, Nhu bảo người thư ký riêng:
- Gọi ngay bác sĩ Tuyến, đại tá Chiểu và ông tiểu khu trưởng Ban Mê Thuột đến gặp tôi… À! Nếu nói trên dây nói thì bảo đến gặp đại tá Nguyễn Thế Như.
Luân và Dung như bận quan sát trần thiết của phòng khách, không để ý đến lệnh của Nhu. Tới đây, Nhu không dấu với hai người sự có mặt của bác sĩ Tuyến và đại tá Chiểu trên cùng cao nguyên.
Những người phục vụ mang cà phê đến.
- Ta uống cà phê Ban Mê Thuột tại gốc xem!
Nhu mời mọi người.
- Đây là lần đầu tiên tôi vào biệt điện. Kiến trúc hay quá phải không anh Luân?
Luân gật đầu, hớp từng ngụm cà phê thơm lừng, không dám ngó thẳng Trần Lệ Xuân đang ngồi đối diện với anh. Nhu và anh chưa từng quen biết ngôi biệt thự xây theo mô hình “nhà rông” của người dân tộc có cách tân, nhưng Lệ Xuân thì thành thạo nó từ khi Bảo Đại còn trong nước, và sau đó, khi tướng Nguyễn Văn Hinh lấy cớ đi săn lên đây.
Lệ Xuân mời Dung qua phòng bên cạnh: Nhu và Luân ra bao lơn. Họ nghe tiếng bảo ban của Lệ Xuân:
- Xếp phòng phía mặt cho ông cố vấn và tôi. Phòng phía trái gần đầu hồi cho ông kỹ sư và Dung.
Nhu cắn môi. Vợ của anh ta quá rành đười đi lối về của khu biệt điện…
- Mà không được! Anh kỹ sư với cô Dung chưa làm lễ cưới, ông bà phải ở riêng! – Lệ Xuân cười nắc nẻ.
- Lên đây, tôi chợt nhớ bài thơ di chúc đồng thời là mơ ước của vua Minh Mạng, - Ngô Đình Nhu nói lảng, làm vẻ nhìn bao quát khu điện – Chắc anh cũng biết bài thơ đó: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh; Bảo Quốc Định Long Trường… tổng cộng 20 từ, nghĩa là 20 thế hệ nhà Nguyễn nối nhau trị vì nơi đây. Không đến như lời sấm của Trạng Trình: Vạng đại dung thân; song 20 thế hệ ngắn nhất cũng 300 năm. Thế mà cơ nghiệp của họ vỏn vẹn có mỗi câu đầu, nghĩa là chỉ năm thế hệ; nếu kể luôn Gia Long và Minh Mạng, được bảy. Hơi mỏng. Từ 1802 đến 1955…
- Thật ra, từ 1802 đến 1862, khi mất Nam Kỳ. - Luân ngắt lời Nhu.
- Anh hơi khắc khe. Nếu vậy phải tính tới 1885.
- Còn như anh thích nhìn triều đại họ qua chiếc ngai, dù cho là bù nhìn, thì không phải chấm dứt vào năm 1955 mà, trước đó 10 năm.
Nhu vụt cười:
- Có lẽ tôi không nên tranh luận với anh! Vấn đề là bây giờ, ai giành chiến thắng!
Luân nhún vai. Lần đầu tiên, Luân nhún vai trước Nhu.
- Đường đến chiến thắng sau cùng còn xa. Tôi không đồng ý về bất cứ thỏa mãn nào.
Nhu bị chạm tự ái, da mặt như tím lại. Luân vẫn thản nhiên. Mấy giây nặng nề trôi qua. Nhu lấy lại tư thế, giọng xởi lởi:
- Anh có lý!
- Tỷ như miền Tây Nguyên mà chúng ta đang viếng thăm. - Luân nói tiếp, giọng rắn rỏi – Làm sao chúng ta dám cho là đã đứng vững tại đây? Anh có biết lịch sử Hỏa Xá và Thủy Xá, hai vương quốc từng phụ thuộc triều đình Việt Nam xưa kia không? Vua Minh Mạng lập ra Nha Nhu Viễn để giao thiệp với hai vương quốc…
Nhu có vẽ chăm chú nghe Luân:
- Sao là Hỏa Xá, Thủy Xá?
- Đó là gọi theo người Kinh. Tiếng Gia Rai, Hỏa Xá là Patau-Pui, vua lửa. Thủy Xá là Patau-Ya, vua nước… tiếng Rhađê là Mtau-Pui, Mtau-La… Tôi trở lại chính sách của vua Minh Mạng. Nha Nhu Viễn na ná như hội đồng sắc tộc của ta. “Nhu” là an, “Viễn” là xa, Nhu Viễn là là bậc đế vương bủa đức để yên ổn người ta. Lê Văn Quyền và sau này là Nguyễn Thông đã thực hiện thành công chính sách đó. Người Pháp thành công với bác sĩ Yersin vào cuối thế kỷ XIX nhưng thất bại với Prosper Odend-hal – người sau này bị giết chết năm 1904 chỉ vì ông ta đến khi Tây Nguyên đã được bình định và ông ta đến với tư cách kẻ cai trị thô bạo…
Nhu im lặng. Anh ta chưa đọc nhiều tư liệu Tây Nguyên, những gì Luân nói đều rất mới lạ.
- Anh nghiên cứu Tây Nguyên từ bao giờ?
Luân cười:
- Tôi đâu dám nhận hai chữ “nghiên cứu”. Tôi vừa đọc một cuốn sách. Hiểu biết của tôi chưa ăn thua. Ngay Tây Nguyên có bao nhiêu sắc tộc, tôi nắm còn không chắc.
- Anh giải thích hai chữ “Nhu Viễn” có dính tới tôi. – Nhu như muốn chấm dứt câu chuyện khoa học về Tây Nguyên. - Bữa nay đúng là “Nhu Viễn”: Nhu đi xa.
Luân cười:
- Chẳng rõ tên Nhu của anh viết như thế nào?
- Thầy tôi dựa theo tên mình mà đặt tên các con. Khả, tên của cụ, nghĩa là tốt. Khôi, Thục, Diệm, Nhu, Luyện, Cẩn chúng tôi đều lấy từ một đức tính. Nhu không phải là câu hương nhu, mà chính là Nhu trong Nhu Viễn…
- Nhu viết chín nét có phải không?
- Đúng! Anh cũng rành chữ Hán dữ…
- Bập bẹ thôi…
Trong một thoáng, Luân bắt gặp cái nhìn khâm phục pha lẫn ganh tị trong đôi mắt Nhu.
Câu chuyện giữa hai người đứt đoạn: Bác sĩ Trần Kim Tuyến, Đạt tá Nguyễn Xuân Chiểu và trung tá Vũ Xuân Quảng đến.
Nhu bắt tay từng người sau khi nhận lối chào quân sự của hai sĩ quan. Bác sĩ Tuyến cười mỉm với Luân. “Ông kỹ sư khỏe chứ?”. Đại tá Chiểu đôn đả: “Cô Thùy Dung cùng đi với ông kỹ sư?”.
Luân biết hai người tế nhị. Chưa bao giờ họ gọi Luân theo cấp bậc quân sự - còn thấp so với cương vị thật của Luân.
- Tình hình có gì phải thay đổi không? - Nhu hỏi mà không hướng vào một ai.
Bác sĩ Trần Kim Tuyến trả lời:
- Thưa, không có gì thay đổi. Ngày kia chúng ta lên đường.
- Vẫn gặp thằng cha đó?
- Dạ!
- Tại đâu?
- Dạ, tại buôn Krông Đê, vùng Buôn Hồ…
- Buôn Hồ?
- Dạ, mời ông cố vấn xem bản đồ.
- Anh Luân có biết Buôn Hồ không?
Nhu không rời bao lơn.
- Biết! Tôi qua đó hồi đầu kháng chiến. Gần đây, tôi quan sát từ máy bay khu vực Buôn Hồ vài lần, trong thực tập ở trường võ bị. Nó nằm phía Bắc tỉnh Đarlac, giáp giới Gia Lai, cách Ban Mê Thuột lối 80 cây số. Quận lỵ nằm tại thị trấn H’leo ngay trên quốc lộ 14. Còn buôn Krông Đê thì tôi chưa rõ, có điều chắc chắn là buôn đó phải có sông và nhiều tre. Krông là sông, Đê là tre… Tôi chưa hiểu ta đi săn hay…
Nhu cười cướp lời Luân.
- Thì anh coi như một chuyến đi săn! Về một nghĩa nào đó, cũng là việc săn bắn.
- Vậy, tôi hiểu. Krông Đê nhất định nằm về phía Tây quốc lộ, bởi phía tây nối liền với biên giới Cambốt, bên kia biên giới là tỉnh Mondikiri, nơi có Camp Rolland.
- Camp Rolland? Cái quỷ gì vậy?
- Ngày xưa, căn cứ của Pháp. Nay là đại bản danh của Fulro.
- À! - Nhu kêu lên.
Ngừng một lát, Nhu nói tiếp:
- Khỏi phải xem bản đồ. Anh Luân là bản đồ rồi… Tiện thể, tôi nói luôn cho anh Luân rõ: chúng ta thu xếp một cuộc tiếp xúc, gọi là đàm phán cũng được, với một trong những thủ lãnh của Fulro. Đàm phán ngay sào huyệt của tay thủ lãnh đó.
- Ta sẽ gặp một gã Eban nào đó. - Vũ Xuân Quang chen vào.
- Một gã Eban nào đó! – Nhu lặp lại lời Quang, giọng mỉa mai.
- Dạ! – Quang xui xị - Lai lịch của gã, bác sĩ Tuyến rành hơn tôi.
Câu nói cốt tránh né của Quang kiến Nhu nổi nóng.
- Một chỉ huy quân sự có quyền không biết đối thủ mình là ai! Trường học nào dạy trung tá như vậy?
Mồ hôi đượm trên tráng Quang. Trần Kim Tuyến phải vớt vát:
- Thưa, thiếu tá James Casey đã có mặt ở Krông Đê.
Nhu vẫn ném cho Quang cái nhìn kiển trách, sau đó mới hỏi:
- Còn gì nữa không?
Rõ ràng Tuyến ngập ngừng.
- Dạ… dạ… Trung tướng André đang nghỉ tại Ban Mê Thuột:
- Hử? Cái gì… - Nhu mất bình tĩnh trong một thoáng. Song anh ta kềm chế ngay và khẽ liếc Luân:
- Ông ta đi săn, phải không?
- Dạ! Trung tướng bảo như vậy…
Vừa lúc đó, Trần Lệ Xuân bước ra bao lơn:
- Anh với anh Luân vào rửa mặt, còn ăn sáng…
Mụ đã thấy ba người khách – cả ba đứng nghiêm, cúi đầu.
- Ồ! Chào ông bác sĩ, ông đạt tá, ông…
Mụ chưa quen Vũ Xuân Quang. Quang chập gót chân:
- Trung tá Vũ Xuân Quang, tiểu khu trưởng Ban Mê Thuột!
- À! Tôi có nghe nhà tôi nói về ông… Chào ông!
Cả ba, từng người kính cẩn cầm bàn tay trắng muốt của Lệ Xuân, coi như một ân huệ cao quý ban cho…
- Mời ba ông ăn sáng cùng với chúng tôi. – Nhu bảo, sau đó cùng Luân vào trong nhà.
Dung đón Luân ở căn phòng phía trái.
- Ở đây có ba phòng. Anh với em ở hai phòng, còn một dành anh tiếp khách.
Luân đưa tay lên miệng ra hiệu. Dung gật đầu.
- Chú Thạch ở đâu?
- Anh Thạch ở tầng dưới…
… Tại bữa ăn sáng. Nhu thản nhiên – cố gắn tỏ ra thản nhiên – bảo Lệ Xuân.
- Trung tướng André có mặt tại Ban Mê Thuột. Em mời ông ấy đến ăn trưa với chúng ta.
Lệ Xuân không trả lời, đưa lọ ớt cho chồng. Các bát phở bốc khói nghi ngút.
*
Nhu và Luân ngồi chung xe, chạy vòng quanh khu hội chợ. Phạm Xuân Chiểu và Vũ Xuân Quang, mỗi người một xe Jeep, dẫn đầu và đoạn hậu.
Công việc xây dựng khu hội chợ ở vào thời kỳ cao điểm. Hầu hết các gian hàng đã lắp ghép xong. Kỳ đài còn vài chi tiết nữa là hoàn tất. Cổng chính chỉ thiếu tấm bảng đề tên hội chợ. Các quán ăn, giải khác, tiệm chụp ảnh lưu niệm… - hầu hết dựa vào kiểu nhà “rông” của người Thượng, chen chúc hai bên hông khu hội chợ. Điều đập mạnh vào mắt Luân là tất cả sự rộn ràng ấy vẫn không thể giấu nổi vẻ giả tạo: người Thượng – trong chiếc khố tơi tả và chiếc gùi nặng vai – bàng quan, nếu không nói là khó chịu nhìn mọi cái đột ngột múa may trước họ. Ngồi cạnh Luân, Ngô Đình Nhu hoàn toàn không lưu ý đến khoảng cách lớn lao như vậy. Nhu cũng nhìn những người Thượng trần trụi và chép miệng:
- Còn man rợ quá! Bởi vậy, người ta gọi họ là Mọi.
Có lẽ nhận xét ấy chợt đến với anh ta khiến anh ta liền nghĩ sang vấn đề khác:
- Phải nhắc ông Chiểu kiểm soát những người Thượng vào hội chợ. Mỗi cái gùi có thể tải vài chục lựu đạn!
Luân cười thầm. Nhu định chinh phục Tây Nguyên bằng tâm trạng kỳ thị và sợ hãi đó thì thật là khôi hài. Anh ta chưa lãnh hội nỗi bài học “Nhu Viễn” của vua Minh Mạng…
- Anh thấy muốn bảo vệ chắc chắn khu hội chợ, nên bố trí lực lượng như thế nào?
Nhu hỏi Luân khi xe dừng trước kỳ đài. Luân trả lời – chứng tỏ anh để ý việc này từ lúc lên xe:
- Quả đồi kia, - Luân trỏ một mô đất nhô lên cách khu chợ vài trăm thước – Nếu bọn phá hoại đặt trên đó một khẩu trung liên hoặc khẩu cối 60 ly thôi, hội chợ hỗn loạn ngay.
Nhu lên xe, ra lệnh chạy lên ngọn đồi. Một ngọn đồi hoang, trọc. Và, rõ ràng không ai định bố trí lực lượng canh giữ ngọn đồi.
Ném cho Chiểu và Quang cái quắc mắt cảnh cáo, Nhu đóng sầm cửa xe trở về biệt điện.
Lệ Xuân và Dung cũng về đến – Họ đi chợ Ban Mê Thuột. Lệ Xuân vào phòng rửa tay khá lâu. Dung kẽ nói với Luân:
- Bà Nhu bắt tay với mấy người Thượng nên sợ bẩn!
Mặc dù bảo vợ mời trung tướng André ăn trưa, Nhu không gặp ông ta. Suốt ngày và gần đến nửa đêm, Nhu làm việc tại dinh tỉnh trưởng với bác sỹ Tuyến và Chiểu. Luân được phép đưa Dung đi chơi trong thị xã.
- Công việc mắm muối này không dám phiền anh.
Nhu cười xởi lởi, Luân hiểu Nhu không muốn anh đi sâu vào điều cốt lõi của hội chợ.
Thị xã Ban Mê Thuột không lớn lắm. Luân rủ Dung thả bộ cùng với Thạch.
- Đúng như ta đoán!
Luân bảo vào tai Dung.
- Cái gì sẽ xảy ra? – Dung hỏi.
- Có thể có cái gì đó. Có thể không có cái gì cả…
Họ đến gần một cổng phụ vào hội chợ. Mấy chiếc xe cam nhông đang cho xuống hàng trăm con heo, loại Yoshire, to béo. Cả những quả bí rợ nặng chục cân là ít. Một gốc sắn phải hai người khiêng, củ đeo kín, có củ bằng bắp chân.
- Các ông chở từ đâu đến? – Luân hỏi một tài xế đang lau mồ hôi.
- Ối, có cái từ Sài Gòn, có cái từ Quảng Nam, có cái dưới Cà Mau. – Người tài xế trả lời, không vui.
- Đó! Sự trù phú và sự thành công khai phá Tây Nguyên là vậy đó… - Luân nói với Dung.
Họ hiểu cái trò ảo thuật không chỉ có bấy nhiêu.
Bỗng Luân kéo Dung sát vào anh:
- Cô hỏi cái gì sẽ xảy ra. Bây giờ tôi dám cam đoan với cô: Chắc chắn cái gì đó sẽ xảy ra.
Dung hết ngơ ngác khi trông theo ngón tay chỉ kín đáo của Luân: anh chàng công dân vụ mà họ gặp ở Gò Đen đang mắc dây điện cho một chiếc loa đặt ngay cổng phụ.
Anh chàng công dân vụ cũng chợt nhận ra Luân và Dung. Song, anh ta lầm lì tiếp tục công việc của mình.

CHƯƠNG 12

Mai Hữu Xuân vừa bực tức vừa lo lắng. Ông ta không hề được phủ tổng thống hỏi một tiếng về việc giữ an ninh theo chức trách của ông ta. Hội chợ Ban Mê Thuột sắp khai mạc, Trần Kim Tuyến và Phạm Xuân Chiểu đều có mặt tại chỗ, còn ông, ông ru rú ở Sài Gòn.
“Tao đâu phải là thằng gác dang cho nhà bây!” - Xuân đay nghiến trong bụng. Tất nhiên, thiếu tướng Mai Hữu Xuân là con người cực kỳ khôn ngoan. Người ta không gọi ông nghĩa là mức độ tin cậy chưa cao. Ông đã làm tất cả những gì có thể để chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối của ông với chế độ mới, kể cả sẵn sang thủ tiêu những đồng ngũ ngày hôm qua của ông – những đồng ngũ rủi ro bị bác sĩ Tuyến lên danh sách. Có ít ra hai chục bức thư của vợ con loại nạn nhân kiểu đó sỉ vả ông. Còn bạn bè, hàng trăm cú điện thoại trách móc. Làm sao được? Ông cần sống, cần cầu vai lấp lánh thêm một ngôi sao cấp tướng nữa, cần chờ dịp phất cờ. Ông tin là ngày đó sẽ tới, nhất định tới. Không bỏ cái nhỏ thì khó mà đạt tới cái lớn. Đôi lúc ông tự cười: Savani, sĩ quan tình báo kiêm nhà văn, bạn của ông - thật ra là “sếp” của ông trước kia – bắt tay từ giã ông khi Pháp rút quân, bảo nhỏ một câu mà ông rất thích. Savani bảo: Ông Xuân, nếu cần có một biệt danh, thì biệt danh của ông là Mìn-nổ-chậm! Rồi Savani cười. Ông cũng cười. Chí của ông là vậy. Tất nhiên, ông không phải là loại mìn chống tăng thường. Ông là mìn tấn, đánh sụp cả một lâu đài….
Ông gườm hai đối thủ thôi: Ngô Đình Nhu và Nguyễn Thành Luân. Với Ngô Đình Nhu, ông biết rằng ông chỉ được dùng như một “ngọn giò lái” đá ngược vào các lực lượng thân Pháp. Nhu nắm mạng sống của ông như nắm những lằn chỉ tay của gã. Dùng ông là con đường ngắn nhất triệt tiêu mối nguy hiểm bước đầu khi gia đình họ Ngô giành được quyền bính. Tới một độ nào đó, ông giống như vỏ chanh; các biện pháp mà Nhu sẽ thực hiện với ông chẳng khác nào các biện pháp mà chính ông đã thực hiện với bao nhiêu kẻ - thực tế, có quá khứ y hệt ông, chỉ kém hơn ông tài luồn lách và hiểu biết những chuyện hậu trường, chuyện đi đêm. Ông dự kiến chi li mọi thứ. Phải tạo cái vẻ phục tùng nhà Ngô đến độ ai ai cũng chửi ông phản bội. Càng bị chửi, ông càng bám chắc cái phao. Mặt khác, phải nắm thật nhiều chủ bài – những chố nhược trí mạng của chế độ: ông không thiếu bản sao những bức thư tình nóng bỏng của Trần Lệ Xuân và các nhân vật nặng cân, kể luôn vài tấm ảnh. Ông có cả những tài liệu về sự trác táng của Ngô Đình Luyện, về hoạt động tuy mang áo tôn giáo song đích thị là kinh tài của giám mục, về các vụ buôn của bà Ngô Thị Hoàn tức Cả Lễ, về Ngô Đình Cẩn, Trần Trung Dung, về vợ của Nguyễn Hữu Châu – chị ruột Lệ Xuân…
Ông không quên la cà với tùy viên quân sự Mỹ, thiếu tá James Casey, nhưng chưa vồn vã. Để xem người Mỹ “biết người biết của” không.
Ông đã sẵn trong túi lá đơn gửi tổng thống, một lần nữa xin cho ra đơn vị trực tiếp bình định các nơi. Trong thời buổi nầy – giáo phái như ngọn đèn dầu le lói, còn Việt Cộng đang mai phục – những chiến dịch càn quét chắc sẽ nâng nhanh địa vị ông hơn là quanh quẩn với chức giám đốc an ninh quân đội… Lần trước, Diệm chấp nhận cho ông điều khiển chiến dịch “Trương Tấn Bửu” bình định Đông Nam Bộ kéo dài 3 tháng rưỡi từ giữa tháng 7-1956; kết quả dù được thổi phồng vẫn quá khiêm tốn.
Với Nguyễn Thành Luân, ông e dè không phải vì Luân được họ Ngô tin cậy, đầu che cái ô “con nuôi của giám mục”, được đại sứ Mỹ đặc biệt trọng thị. Ông đã so găng vài hiệp với Luân và tự thú mình chưa đủ bản lĩnh. Vả lại, ông hiểu biết Luân còn quá sơ sài. Mấy bẫy rập giương lên rồi sập xuống, chẳng thu được chút gì đáng kể. Khi nghe điện thoại của Tiểu Phụng hẹn Luân, ông khấp khởi. Ông không cần món quà của Tiểu Phụng định tặng Luân – chắc là bản danh sách điệp viên, một số tài liệu quan trọng nào đó – nhưng ông cần bắt quả tang Luân hành động lén lút, kiểu tình báo. Trong trường hợp đó, ông sẽ còng cổ Luân nộp cho Nhu, hoặc khống chế Luân. Đằng nào cũng có lợi. Thế mà, rốt lại, một thằng cha Hoa kiều vớ vẩn tên Lưu Kỳ Phong lạ hoắc thế mạng cho Luân và Tiểu Phụng cũng bị giết.
Ông chưa đưa nổi Luân vào tròng trong khi có vẻ Luân phát giác ở ông nhiều bí mật. Vụ ném lựu đạn đoàn Kim Thoa, vụ giết trung úy Minh, luôn vụ Tiểu Phụng, nhất là vụ Trịnh Minh Thế. Có lần, gặp ông, Luân hỏi:
- Thiếu tá Vọng, thiếu tá Hùng mạnh giỏi không?
Ông đã hớ hênh trả lời là mạnh. Đáng lý, phải giả bộ ngơ ngác. Dưới trướng ông đến hàng trăm thiếu tá, sao lại trả lời ngay.
Luân lại nói bâng quơ:
- Họ sài súng “mút” của Anh khá lắm!
Thiếu tá Vọng đã núp dưới biển dừa nước cạnh cầu Lăng Tô, dùng khẩu súng trường Anh hiệu Remington có máy ngắm khử Trịnh Minh Thế - chỉ bắn một phát.
Ông đã phản công:
- Tôi không biết tài súng trường của họ. Nhưng tôi biết tài bắn súng lục của ông!
Nói như vậy, ông ám chỉ Luân cũng có thể vấy vào một “xì căng đan”.
Luân cười rộ. Cô nhà báo Mỹ Fanfani – con quỷ cái nầy mê mệt thằng Luân – cười phụ họa. Và, ông phạm tiếp một sai lầm nghiêm trọng: ông im lặng, đỏ mặt….
“Phải cho thằng Luân đo ván!” – Ông thề với nghề nghiệp như vậy… Phải cho đo ván trước khi Lansdale hội đủ các dữ kiện về cái chết của Trịnh Minh Thế và rút ra kết luận.
Giết Trịnh Minh Thế, ông không chỉ đơn thuần làm theo khẩu lệnh của Nhu. Ông có tính toán riêng. Phải chăng đây là sự rạn nứt đầu tiên giữa anh em Diệm – Nhu với Mỹ? Thế có thể chưa phải là cái gì cả đối với họ Ngô và Mỹ, song Mỹ vỗ béo Thế và Nhu ra lệnh thủ tiêu Thế. Tốt lắm! Mỹ buộc phải suy nghĩ về mấy con ngựa đang kéo cỗ xe của họ ở Nam Việt. Bây giờ, đó là vết cào nhẹ trong mối quan hệ Mỹ - Ngô. Vài vết cào nữa sẽ thành vết thương tấy mủ… Cái quan trọng là đừng để lòi lưng ông – người trực tiếp chọn chỗ phục kích cho thiếu tá Hùng, thiếu tá Vọng. Trên đòn cân của Mỹ hiện thời, ông tự biết mình chỉ là chiếc lông so với tảng đá Ngô Đình Diệm
Ông đã từng nói xa nói gần cho Nhu hiểu là Luân nghi ông dính vào vụ Trịnh Minh Thế. Nghi ông tức là nghi Nhu. Nghe ông, Nhu phán một câu, ông lạnh xương sống:
- Ông kỹ sư nghi vì hành động ít nhiều có sơ hở. Ông kỹ sư nghi, nghĩa là tổng thống nghi, đại sứ Mỹ Nghi. Chỉ còn cách xóa hết dấu vết…
Tốt nhất là im lặng và cho Luân đo ván… “Xóa hết dấu vết” đã có, nghĩa là xóa ông bằng cách nào đó…
Hội chợ Ban Mê Thuột – một thứ “kẹc mết” (1) đấu xảo – mà lại được chăm sóc kỹ, quá kỹ. Trùm mật vụ Trần Kim Tuyến, trùm cảnh sát Phạm Xuân Chiểu, đích thân vợ chồng Nhu, luôn Luân và người yêu đều có mặt trên đó. Tất nhiên, Mai Hữu Xuân hiểu liền ý nghĩa của cái hội chợ ở nơi đèo heo hút gió kia.
Làm gì bây giờ? Thiếu tướng Mai Hữu Xuân đi lại cả tiếng đồng hồ trong phòng làm việc vủa ông. Lần lần, ông hình dung ra một chuỗi khả năng có thể xuất hiện: Fulro, giáo phái, phòng nhì Pháp, Đại Việt, tàn quân Bình Xuyên, Cộng sản… hàng tá phe nhóm nuôi mối thù không đội trời chung với Diệm, chắc chẳng bỏ lỡ cơ hội. Diệm mà ngã xuống lúc nầy, cũng hay. Cộng sản chưa đủ mạnh, giáo phái sụp đổ, Pháp ra đi và đang vướng ở Bắc Phi. Mỹ, dứt khoát là Mỹ sẽ bỏ bàn cờ cũ, xếp lại bang cờ mới. Tại sao trong các quân cờ quan trọng cỡ xe pháo mà lại không có tên Mai Hữu Xuân, người đầy đủ kinh nghiệm trị an nội địa? Diệm mà ngã xuống, Nhu và Luân trừ phi trốn vào sứ quán Mỹ, khó thoát tay ông. Ngược lại, chính ông khám phá một âm mưu ám sát tổng thống, đúng là sự kiện hấp dẫn. Tha hồ yêu sách, tha hồ vẽ rồng vẽ rắn. Tha hồ lái chính sự xứ nầy vào quỹ đạo mà ông và Savani từng vạch, từng chạm cốc, từng thề thốt…
Thiếu tướng bấm chuông. Thiếu tá Hùng – vẫn mấy sợi lông đen phe phẩy trên cằm – đứng nghiêm.
- Kêu luôn thiếu tá Vọng! Ta bàn công việc gấp…
*
Lần nầy, Ly Kai gặp Dương Tái Hưng trên tầng chót khách sạn Majestic. Dương Tái Hưng, trong bộ complet màu xanh nước biển, trẻ hẳn ra, không phảng phất một tí dáng dấp Hoa Kiều. Gặp Dương Tái Hưng, Ly Kai không được thoải mái lắm. Gã chưa tiến thêm một chút nà trong đòi hỏi của Dương Tái Hưng tìm hiểu “chỗ nhược” của Nguyễn Thành Luân. Tay kỹ sư nầy không uống rượu – uống khá khỏe song không nghiện – không gái. Còn tiền – do hai khoản trên – Ly Kai đoán chắc là không động tay va.
Con đường vòng qua Bá Thượng Đài và Lâm Sử coi mòi quá ngoằn ngoèo. Bá Thượng Đài, cả Diệu Thọ, Tào Phu, Tần Hoài, chẳng giúp ích gì cho gã. Ngay Lâm Sử, ông ta cốt khai thác Ly Kai, chớ tuyệt không môi giới cho Ly Kai tiếp cận Nguyễn Thành Luân. Có một lần, Lâm Sử bị Ly Kai nằn nì quá, tổ chức một buổi tiếp xúc với một người trong nhóm Giải Liên. Người đó được giới thiệu bí danh là Sáu Sơn. Còn tên thiệt, chính Lâm Sử tiết lộ: Nghị Lực – cán bộ nằm vùng của Việt Cộng, quê Bạc Liêu.
Buổi tiếp xúc diễn ra trong một căn phố lao động vùng Cầu Muối, có thể nói là một cú “nốc ao” đối với Ly Kai. Nghị Lực đón Ly Kai với vẻ lạnh nhạt và nghi kỵ. Tất nhiên, Lâm Sử giới thiệu Ly Kai trong một thân phận rất khả ái: Hoa kiều “khai minh” (2). Thế mà Nghị Lực lại hỏi thẳng Ly Kai: định mở sòng bạc ở đâu? Tay nầy quả là đáo để. Ly Kai nói tiếng Việt, Nghị Lực đối đáp tiếng Việt. Ly Kai nói tiếng Quảng, Nghị Lực nói tiếng Quảng. Rồi tiếng Tiều, Hẹ, Phúc Kiến, Bắc Kinh…
Sau cùng, Ly Kai cố gắng ném quả bóng vào khung thành: “Ông quen với Nguyễn Thành Luân?”
Nghị Lực cười – nụ cười như đi guốc trong bụng Ly Kai:
- Đây là điều chính yếu phải không?
“Tỉu na má!” – Ly Kai chửi thề thầm. Khi gã chửi thề, dù là thầm, gã vẫn dùng tiếng Xán Thầu mẹ đẻ.
- Tại sao ông lại để ý một kỹ sư đang cộng tác với ông Nhu? Tôi có biết kỹ sư Luân lúc ông ấy làm tiểu đoàn trưởng. Một người kháng chiến. Và, từ sau đình chiến có nhiều biến đổi. Ông muốn tìm hiểu kỹ sư Luân về phương diện nào?
Ly Kai lúng túng.
- Tôi là một người Hoa đã đi kháng chiến. Nếu ông muốn chúng ta làm quen trong công việc cứu trợ đồng bào Hoa nghèo của chúng ta thì tôi sẵn sàng trao đổi với ông. Còn ông định lôi kéo tôi vào công việc khác, thì xin lỗi ông; lần gặp nay coi như lần chót. - Nghị Lực bảo.
- Ông Lâm Sử… - Ly Kai ấp úng.
- Tôi và Lâm Sử khác nhau!
Ly Kai chợt nhớ câu thần chú mà Dương Tái Hưng và Lâm Sử đã đọc với gã:
- Tổ quốc…
- Ông muốn nói cái gì về Tổ quốc? Nơi nuôi tôi lớn, cho tôi tấm lòng, đó không phải là một Tổ quốc nữa của tôi hay sao?
- Ông là người lai? - Ly Kai hỏi một câu ngớ ngẩn.
- Không, tôi không lai. – Nghị Lực trả lời rất rõ – Song dòng máu mà tôi mang có phần do hạt gạo Việt Nam. Và trên hết tôi có cái đầu để suy nghĩ và điều khiển cho hành động. Chứ không phải cái đầu đặc cứng…
Ly Kai ngán ngẩm. Gã vốn dốt chính trị. Đời gã được rèn trong sấp ngửa, đỏ đen. Hoặc “tài” hoặc “xỉu”. Còn thằng cha Nghị Lực nầy coi bộ cứng cựa. Rút lui là thượng sách.
- Kỹ sư Luân mà biết ông điều tra ông ta, lại dính đến Lâm Sử thì tôi e rằng ông khó sống. Kỹ sư Luân theo ông Ngô Đình Nhu, ông ta dư sức khai tử ông. Còn tôi, tôi đến gặp ông, bạn bè Hoa Kiều đều biết. Nay mai, tôi bị quấy rầy gì thì ông đừng hòng yên ổn.
Nghị Lực ném lại câu dữ dằn đó rồi lại mất dạng.
… Vậy mà Dương Tái Hưng không trách mắng gì gã. Câu chuyện thủ thỉ quanh chuyến du lịch của Dương Tái Hưng. Ông ta chơi ở Hồng Kông, và hình như ông ta sang Mỹ. Sang Mỹ thì chắc, bởi ông thuật lại cho Ly Kai buổi họp báo của tướng Collins về vấn đề Việt Nam. Ông ta có ghé Bắc Kinh hay Đài Bắc hay không, ông ta không hé nửa lời.
Mãi khi uống cà phê, Dương Tái Hưng mới hỏi công việc của gã. Gã thông báo về việc Nhu và Luân vắng mặt ở Sài Gòn.
- Tôi tin rằng một âm mưu đang xúc tiến nhằm xóa ông Diệm. Điều quan trọng cấp bách là ông phải cung cấp cho tôi mọi dấu hiệu của âm mưu đó. Ông Diệm sẽ lên Ban Mê Thuột. Ai biết tin nầy thì kẻ đó liên quan gần hoặc xa với âm mưu. Ông hiểu chưa?
Ly Kai rối đầu. Gã tìm Lâm Sử còn nôn nóng hơn Dương Tái Hưng.
- Ông nghĩ xem ông có cách nào nắm tin tức nhanh nhất. Có thể ta đã chậm. Tôi giao ông một nhiệm vụ: Phá bất cứ âm mưu nào định ám hại ông Diệm. Phá, ông nghe chưa?
Thấy Ly Kai ngơ ngác, Lâm Sử nhấn mạnh:
- Lợi ích tổ quốc hiện giờ là bảo tồn ông Diệm. Sự sống của ông Diệm rất cần cho Tổ quốc!
Ly Kai càng ngơ ngác hơn.
- Ông kém khiếu chính trị quá!
Ly Kai vui vẻ nhận lời phê phán nầy.
- Ông Diệm chưa hoàn thành sứ mạng lịch sử của ông ta!
“Tỉu na má!” – Ly Kai đối lại bằng câu chửi thề thầm.
- Sứ mạng chính của ông Diệm là tiêu diệt, hoặc ít ra làm suy yếu lực lượng Việt Cộng. Ông ta mới mở đầu công việc lớn lao đó. Phải thêm thời gian nữa. – Lâm Sử nói thật hăng.
- Mà, người Hoa phản đối ông Diệm. Ông ta buộc người Hoa lấy quốc tịch Việt, cấm một số nghề…
Lâm Sử lắc đầu:
- Ông khờ khạo thật. Cấm nghề nầy ta làm nghề khác. Còn quốc tịch đó chỉ là giấy tờ. Gọi ông là Ly Kai hay Lý Giai, có sao đâu?
- Phá tất cả âm mưu, hành động toan ám hại ông Diệm. Ông nhớ cho! – Lâm Sử nhấn mạnh lần nữa.
Ly Kai thật sự hoang mang: Lắm ông Hoa và lắm chủ trương. Tất nhiên, gã vẫn im ỉm trước Lâm Sử về Dương Tái Hưng.
Gã lập một chương trình: sẽ có mặt ở Ban Mê Thuột. Còn bây giờ thì sục sạo, nghe ngóng…
*
Ngay ngày hôm Nhu và Luân – có Trần Kim Tuyến và Phạm Xuân Chiểu theo – lên đường đi Buôn Hồ, một dạ hội tưng bừng mở tại biệt điện vào 7 giờ tối.
Có mặt động đủ giới thượng lưu của thủ phủ Tây Nguyên và Trung phần: thiếu tướng Lê Văn Kim, tư lệnh quân đoàn và tư lệnh quân khu, đặc sứ Tôn Thất Hối, đại biểu chính phủ Nguyễn Đôn Duyến, giám đốc sở kinh tế Nguyễn Điền, giám đốc nha thông tin Vũ Văn Tĩnh… Nhưng người khách quý nhất lại là trung tướng André Trần Văn Đôn, tổng tham mưu phó, phụ trách lục quân. Ông lên Tây Nguyên săn bắn và do ông lên Tây Nguyên mà có buổi dạ hội nầy.
Trước hết, phu nhân của cố vấn Ngô Đình Nhu, người chủ dạ tiệc, nói mấy lời. Cũng rõ ràng thôi: nhân nhà tôi và tôi lên thăm Ban Mê Thuột, chúng tôi mời bạn hữu đến vui. Nhà tôi bận công việc bất khả kháng, nên xin lỗi bạn hữu. Mong bạn hữu xem tối nay như tối trong gia đình.
Trong chiếc áo hở tận vai, bộ mặt và đôi môi khéo trang điểm, bộ ngực cố ý phô bày, Trần Lệ Xuân lấn cả cành anh đào to tướng đặt giữa phòng.
Vỗ tay nồng nhiệt.
- Tiện thể, tôi xin giới thiệu cô Hoàng Thị Thùy Dung, vị hôn thê của thiếu tá kỹ sư Nguyễn Thành Luân, khách quý của vợ chồng tôi, có mặt hôm nay…
Lệ Xuân chìa tay về chỗ Dung. Cô đứng lên, khẽ gật đầu đáp tiếng vỗ tay. Trong chiếc áo dài màu thiên thanh, Dung nổi bật vẻ thùy mị. Cử tọa, gần nhu điều tất yếu, nhìn một lúc hai phụ nữ và so sánh. Nhưng, Dung đã ngồi xuống. Lệ Xuân chưa bàn trước với cô về việc giới thiệu nầy.
Sáng nay, trước khi lên xe, Luân đã dự đoán có cái màn nhảy nhót và dặn Dung cẩn thận.
- Cẩn thận như thế nào? - Dung hỏi vặn
- Tỷ như cô không quen uống rượu mạnh…
Luân chỉ nói bấy nhiêu, song trong đáy mắt anh, Dung hiểu hoàn toàn những lo âu.
“Phần anh, anh đi vào chỗ chẳng an toàn gì, sao không suy tính…” - Dung nói thầm, bởi vì cô hiểu chuyến đi Buôn Hồ của Luân na ná như ra trận. Còn khó hơn ra trận nữa. Cô không được quyền đi theo. Nhu không cho và Luân cũng vậy. Đành ngồi ở biệt điện thắc thỏm nghe tin. Xế nay, Vũ Xuân Quang mời Dung đến trước máy truyền tin. Từ chỗ nào đó, Luân nói chuyện với cô:
- Luân đây… Luân đây…
Cô quýnh quáng, không kịp bấm nút “nói”, gào to:
- Em đây, Dung đây…
Khi Vũ Xuân Quang chỉnh lại máy, cô mới trấn tĩnh:
- Anh đó hả? Em đây.. Vui. Khỏe. Không đi chơi đâu hết. Đợi anh về. Anh nhớ coi chừng…
Nói tới đó Dung quên phứt nên dặn Luân coi chừng cái gì. Một giọng vui chen vào máy của đại tá Chiểu:
- Coi chừng các cô gái Rhađê phải không?
- Coi chừng rắn! – Dung bí quá, nói bừa.
Tiếng cười nhộn ở đầu máy bên kia.
- A bientôt! (3) – Dung đáp lời Luân. Cô tần ngần mãi với chiếc ống nghe dù máy đã chuyển làn sóng.
- Cô không quen uống rượu mạnh!
Dung nhớ lời dặn dò đó. Trần Lệ Xuân là con quỷ cái. Nó dám làm tất cả những gì để hạ nhục và kềm chế Dung, Dung hiểu. Khi Dung đứng lên đáp lễ quan khách, cô đã bắt gặp tia mắt nham hiểm của mụ. Mụ ganh. Dung nhỏ hơn mụ cả chục tuổi, trang sức sơ sài, vẫn giành sự ngưỡng mộ của người có mặt.Cái trò đài các nầy khiến Dung lợm. Giá mà không phải là nhiệm vụ, giá mà không vì “anh ấy”, cô rời biệt điện ngay lập tức.
Một người tuổi lối 30, mũi thẳng, da trắng – tóm lại, rất bảnh trai – xán lại chỗ Dung:
- Rất hân hạnh được làm quen với cô Thùy Dung. Tôi là đại úy Nguyễn Thuần, người Hà Nội, ở ngành không quân.
Giọng anh ta hơi uốn éo, thái độ thì sỗ sàng. Dung ngồi yên, không chìa tay.
- Ông là phi công?
- Vâng, tôi học lái máy bay chiến đấu tại trường Oran, Algérie, sau đó tu nghiệp tại căn cứ Clark, Phi Luật Tân… Cô cũng là người Hà Nội?
“Bắt đầu màn quỷ quái rồi đó!” – Dung nghĩ thầm trong khi gã đại úy nhìn chằm chằm mắt cô.
- Cô Thùy Dung không mời tôi ngồi chung bàn với cô sao?
Dung cười lạt, không trả lời.
- Trong buổi dạ tiệc nầy, cô là cây đinh.
Gã đại úy lải nhải. Trần Lệ Xuân làm như tình cờ quay về hướng hai người, cười kín đáo.
Mọi người chạm cốc. Gã đại úy mời Dung. Cô đứng lên và nhúng môi. Chất rượu cay xé.
“Giờ nầy, anh đang ở đâu? Chúc anh an toàn!”, Dung nhớ tới Luân. Mắt cô long lanh và gã đại úy hiểu lầm.
- Cô có bàn tay đẹp, thật đẹp.
Gã đại úy tán tỉnh. Có vẻ gã chờn vờn muốn ve vuốt bàn tay Dung. Tới mức nầy, Dung đâm hoảng. Cô cúi gầm mặt, vân ve cái ly.
- Cô uống đi… - Gã đại úy giục – tôi uống cạn rồi! – Gã lật úp ly của gã.
- Tôi không quen uống rượu. – Dung nói gần như thỏ thẻ.
- Uống rồi khắc quen! – Gã đại úy kéo ghế gần Dung hơn một chút và đột nhiên nói như thì thầm – Cô có chiếc cổ tuyệt vời. Nếu cô mặc áo như bà Lệ Xuân thì tôi cam đoan cả Ban Mê Thuột nín thở!
“Khả ố!” - Dung nghĩ là không nên kéo dài lối lập lờ nầy nữa.
- Thưa ông, tốt nhất là ta nên định rõ cách xưng hô. – Dung rắn rỏi – Tôi gọi ông bằng ông. Phần tôi, tôi là bà Nguyễn Thành Luân. Tôi không thích bất kỳ lối xưng hô nào khác!
Gã đại úy, tuy bị hẫng, song thuộc loại lỳ lợm.
- Được thôi… Gọi cô hay bà, chẳng có gì quan trọng. Cái quan trọng là tôi đang ngồi gần một người con gái đẹp. Chút nữa thưa bà Nguyễn Thành Luân, xin bà cho phép tôi mời bà cũng nhảy một bản…
Đèn biệt điện chuyển sang mờ ảo. Nhạc dìu dặt. Từng cặp lướt trên sàn gỗ.
“Làm thế nào đây?” – Dung lại bối rối. “Từ chối nhảy ư? Sẽ phật lòng Trần Lệ Xuân. Nhảy ư? Nhất là nhảy với gã đại úy nầy ư?”, Dung khe khẽ lắc đầu.
Nhưng gã đại úy đã đứng lên, chìa tay. Phép lịch sự không cho Dung từ chối. Vả lại, trong phòng, chỉ còn mỗi Dung là nữ chưa bắt cặp. Trần Lệ Xuân đang lã người trong cánh tay của trung tướng André hào hoa.
Gã đại úy nhảy rất đẹp. Dung giữ đúng cự ly vừa phải với gã, và cô làm cho gã kinh ngạc:
- Bà nhảy giỏi quá!
*
Trung tướng André và Lệ Xuân khuất dần sau cành đào. Lợi dụng một vệt tối, André siết chặt thân hình Lệ Xuân.
Lệ Xuân cười khúc khích:
- Chi mà vội vậy… Anh lên Ban Mê Thuột làm gì?
André say đắm nhìn vào môi Lệ Xuân, thều thào:
- Đi tìm em!
- Thật không?
- Sao không thật? Chồng em đi săn thú rừng. Anh đi săn em…
Gã đại úy bắt gặp cảnh đó. Gã nói khẽ:
- Dẫu sao, bà Nhu cũng đã nửa chừng xuân…
Dung chẳng thấy gì cả. Cô tập trung vào bước nhảy, với cô là một nhiệm vụ. Nhiều lần, gã đại úy cố ý lái cô vào cái vùng tối sau cành đào, Dung đã giữ gã giữa sàn gỗ.
Nhạc chấm hết, bản Valse đầu tiên. Lại uống, lại ăn, lại nhảy. Sau tuần sâm banh, Dung tự thấy sự rút lui của cô không thể gây khó chịu cho Lệ Xuân và quan khách, cô chào Lệ Xuân. Gã đại úy xin phép đưa cô, cô chưa kịp từ chối thì chính thiếu tướng Lê Văn Kim làm việc đó:
- Tôi xin được tiễn bà một đoạn. – Kim nghiêng người, rất lễ phép. Dung cám ơn ông. Gã đại úy bực mình, ngồi phịch xuống ghế.
- Tôi ái mộ ông kỹ sư và hy vọng sẽ có dịp làm việc chung với ông…
Lê Văn Kim nói như vậy, trước khi Dung rẽ về hướng phòng riêng.
*
Dạ hội tan vào một giờ đêm. Bằng cách nào đó không ai rõ, André có mặt trong phòng Lệ Xuân.
- Người ta nói em làm chính trị trong mọi trường hợp. Ngay tại phòng nầy… đúng không? – André nói khi cả hai đã lõa lồ trên giường.
- Anh lại tin vào những lời đồn nhảm đó sao? Với anh, em yêu! – Lệ Xuân áp sát người và André, vuốt ve chiếc ngực nở nang của ông ta.
André chỉ còn mỗi việc ôm chầm lấy mụ. Trong tiếng thở dồn dập của André, Lệ Xuân hỏi:
- Tại sao anh lên Ban Mê Thuột? Anh đi với ai?
---
(1) kermesse: hội chợ - tiếng Pháp
(2) chữ của Trung Cộng, ý chỉ người Hoa “tiến bộ”.
(3) Hẹn gặp lại – tiếng Pháp

CHƯƠNG 13

- Thế nào? – Nhu hỏi bác sĩ Trần Kim Tuyến trước khi bước lên lưng voi. Luân đã ngồi trên bành một con voi khác.
- Thưa, nơi gặp là một buôn không xa quốc lộ 14. – Tuyến trả lời.
- Đã nettoyer (1) kỹ chưa?
- Thưa bộ tự lệnh quân đoàn 2 dùng ba tiểu đoàn bộ binh, một tiểu đoàn thiết kỵ, có máy bay trinh sát, lùng sục hơn tuần lễ nay. Quanh buôn, từng lùm cây đều được thám sát.
- Được, ta khởi hành.
Đoàn voi theo con đường rừng đã phát quang tiến vào một vùng đồi núi thuộc huyện Buôn Hồ. Đi trước đoàn voi là mấy chiếc Land Rover mui trần đầy ắp lính, súng lên đạn, trong tư thế sẵn sàng đánh nhau. Đoạn hậu là cả nửa tá GMC, cũng nhung nhúc lính. Bụi cuốn mù mịt. Chen lẫn với tiếng xe là tiếng các sĩ quan truyền tin rống qua bộ đàm.
Ngồi trên bành voi, khẩu súng săn hai nòng gác ngang, Luân giống một người nhản tản, nhìn toàn cảnh với vẻ châm biếm.
“Gặp một thủ lĩnh chưa phải là đầu sỏ của Fulro, người ta đã huy động chừng nầy binh mã. Trên thực tế, Ngô Đình Nhu nơp nớp sợ hãi. Có lẽ điều có ý nghĩa là anh ta dám hành động ngay khi chưa nắm trọn vẹn phần thắng trong tay.”
Nhu cho voi lên ngang Luân. Trong bộ quần áo thủ lĩnh thanh niên cộng hòa, bê-rê đính phù hiệu đội lệch, Nhu như ngang tàng hơn ngày thường.
- Tôi đọc khá nhiều sách phiêu lưu, song đây là lần thứ nhất trong đời, tôi phiêu lưu thật sự! – Nhu nói to.
- Không phiêu lưu nhiều lắm đâu! – Luân cuời. Nhu nhún vai, ra vẻ không tán thành nhận xét của Luân.
- James Casey đón chúng ta, mọi sự nhất định yên ổn! - Luân nói.
Trên đường, thỉnh thoảng họ gặp những tốp người Thượng đi bộ về Ban Mê Thuột, họ mang đi đổi những gùi nặng trĩu để lấy một ít mắm muối. Những người Thượng đó nép tránh đoàn, vẻ mặt rất xa lạ.
Nhìn khẩu súng của Luân gác ngang bành, Nhu hỏi vọng sang:
- Anh không sẵn sàng bắn thú sao?
Luân cười:
- Chưa chắc ta có thể gặp một con cheo!
Nhu cười theo:
- Thôi, hôm sau, tôi với anh sẽ đi săn đúng với nghĩa của nó.
- Nhưng hôm nay, như anh nói, anh cũng đi săn. Chỉ có điều anh ko săn thú rừng và không dùng súng. Bẫy rập cũng có thể bắt được con mồi! - Luân nhận xét hóm hỉnh.
- Nói cho cũng, đó cũng là một loại thú rừng! – Nhu gằn giọng. Lời lẽ của Nhu khiến Luân nhớ đến ván cờ hôm nào. Trong khi chơi cờ với Luân, Nhu đã hàm ý đánh giá tất cả mọi người như một loại tốt. Và bây giờ tất cả như là thú rừng. Luân thầm nghĩ: có lẽ quyển sách mà Nhu say mê nhất là quyển Mein Kampt (2) của Hitler. Hitler cổ vũ cho thuyết “không gian sinh tồn” và cực lực tô vẽ cho giòng máu Aryen. Còn Nhu phạm vi hẹp hơn, gã muốn thần thánh hóa họ Ngô Đình. Với gã, biện pháp nào cũng tốt, miễn đạt mục đích.
James Casey đón đoàn quân bên ngoài cổng buôn. Hắn đi ngựa, cùng với ba người Thượng cũng đi ngựa.
Mọi người trong đoàn xuống voi. James Casey, xuống ngựa đến bắt tay Nhu và đoàn tùy tùng.
- Tôi hy vọng ông cố vấn vui vẻ trong chuyến đi nầy.
Nhu không trả lời James Casey, hỏi lại:
- Tới nơi rồi chứ?
- Vâng, non trăm bước nữa thôi.
Theo yêu cầu của chủ, xe cộ và voi phải để bên ngoài. Khách vào buôn không mang vũ khí. Đó là những điều đã thỏa thuận. Tuy nhiên, trước khi bước qua cổng, Nhu hỏi khẽ Luân:
- Anh có nhớ thủ súng ngắn không?
Luân cười. Cái cười bình thản của Luân đã trấn an được Nhu. Đi theo Nhu có nhiều sĩ quan, thậm chí có cả đại tá tổng giám đốc cảnh sát. Nhưng, Nhu thừa hiểu những kẻ như Phạm Xuân Chiểu chưa chắc đã bắn trúng con voi khi cách nó chỉ mươi thước.
James Casey sóng đôi với Luân, đi đầu. Luân hỏi:
- Ông lên đây bằng ngựa?
James Casey gật đầu:
- Tôi là người Texas, quen chăn thú trên lưng ngựa.
Nói xong, hắn cười khanh khách.
Buôn Krong Đê, như mọi buôn của người Rhađê, nằm trên một quả đồi đã biến thành nương. Mùa ngô đã qua, những mảnh nương nghiêng nghiêng thân ngô vàng úa. Rất ít màu xanh. Những túp nhà lụp xụp, che kín mít, chông chênh trên những cột xiêu vẹo, dấu hiệu của nếp sinh hoạt du cư. Qua hết những dãy nhà xác xơ, đoàn khách lọt vào trung tâm buôn, cạnh một dòng sông nhỏ đang cạn nước, rợp bóng tre. Ngôi nhà rông, tuy lợp lá, được chạm trổ khá tue mỉ. Nó sừng sững như một giáo đường.
Hai hàng lính Fulrô, vận trây-di, bê-rê đỏ, súng trường Saint Étienne mới toanh, đứng nghiêm. Một thanh niên – Luân đoán chắc là người Chàm – cũng trong bộ trây-di, đi giày da, súng ngắn trên lưng, tiến ra dân, chào Nhu.
- Tôi là đại tá Đoàn Chí Khoa, tổng tham mưu phó, hân hạnh đón ông cố vấn của tổng thống Việt Nam Cộng hòa và các vị cùng đi.
Đoàn Chí Khoa còn quá trẻ so với cấp đại tá và chức tổng tham mưu phó, có lẽ anh ta không hơn 25 tuổi. Trần Kim Tuyến nói vào tai Luân:
- Y là thầy giáo trường trung học Phan Rang, tư tình với vợ Tỉnh trưởng, dẫn cô đó trốn lên đây.
Đoàn Chí Khoa hướng dẫn khách lên cầu thang vào nhà “rông”.
“Tay Eban tự ra giá khá cao. Hắn không thèm ra chân cầu thang đón Nhu!” – Luân nhận xét trong bụng.
Eban chẳng những không xuống chân cầu thang mà cũng chẳng đứng ngay cửa nhà rông. Anh ta ngồi trên một chiếc ghế tựa lót da hổ đặt giữa nhà. Chỉ khi đoàn khách đã lọt hẳn vào nhà, anh ta mới nhỏm dậy. Sau lưng anh ta sáu cận vệ cắp Thompson, nhìn đoàn khách bằng cặp mắt ác cảm.
- Chào ngài Eban! - Nhu nghiêng người.
- Chào ông cố vấn! – Eban chìa tay kiểu kẻ bề trên cho Nhu.
Eban mời khách ngồi trên những tấm thảm Kênap sặc sỡ. Trong nhà duy nhất có mỗi chiếc ghế dành cho chủ. Phải cần vài phút đoàn khách mới cởi xong giầy. Tất nhiên có những người khách khó nhọc lắm mới có thể ngồi xếp bằng… Máy ảnh lóe lên. Eban sẽ có được vài tấm ảnh thú vị. Anh ta ngất ngưởng trên ghế còn các quan chức của chính phủ thì ngồi bệt trên sàn.
Chừng đó việc đã báo cho Luân biết anh chạm trán với một tay không vừa. Buôn Krong Đê hẻo lánh vẫn thông thương với thế giới bên ngoài và đó là vấn đề buộc Ngô Đình Nhu phải đích thân lên đây.
Eban trạc trên 30 tuổi, người cao, có sức khỏe. Anh ta mặc một bộ quan phục kiểu Liên hiệp Pháp bằng gabardin, đi ủng dành cho kỵ sĩ. Đôi mắt sâu, cằm bạnh, tóc xoăn, Eban đúng là mẫu người Rhađê tiểu biểu: háo thắng, kiên quyết, thông minh.
Luân đã được bác sĩ Trần Kim Tuyến thông báo về lý lịch Eban: con trai cả một tù trưởng thế lực nhất vùng Buôn Hồ, cai quản trên mấy nghìn hộ, học tiểu học ở Ban Mê Thuột, trung học ở Lycée Sisewath Nam Vang, đại học Y Sài Gòn, chưa tốt nghiệp, song thích xưng là bác sĩ, từng đóng lon đại úy, có vợ, một người Rhađê, một người Hoa lai Khơ-me và một Việt – chính là vợ tỉnh trưởng Ninh Thuận mà Đoàn Chí Khoa đưa lên đây và Khoa đổi cô gái đó cho Eban để lấy chức đại tá Tổng tham mưu phó.
- Tôi xin giới thiệu với ngài Eban những người cùng đi với tôi: Đại tá Phạm Xuân Chiểu, tổng giám đốc cảnh sát quốc gia, chắc ông đã nghe tiếng. – Nhu mở đầu cuộc đối thoại.
- Hơn cả nghe tiếng! Tôi từng mạn phép giữ có lẽ đến vào chục người của ông đại tá từ Sài Gòn lên Buôn Hồ dòm ngó. – Eban cười rộ - Song, ông đại tá yên tâm, họ được cư xử đúng với lề luật văn minh!
Nhu hơi cau mày, nhưng vẫn nói tiếp:
- Còn đây, giám đốc Sở nghiên cứu chính trị, bác sĩ Trần Kim Tuyến.
- Tôi quá quen bác sĩ. Lần này chúng ta gặp nhau là lần thứ sáu phải không bác sĩ?
- Lần thứ bảy! - Tuyến mau miệng.
- À! - Eban đỏ mặt – Lần chúng ta bị các cô gái bao vây ở Đà Lạt không tính, bởi vì lần đó chúng ta không nói chuyện chính trị.
- Và, đây là thiếu tá Nguyễn Thành Luân, sĩ quan trong tham mưu biệt bộ của tổng thống.
Eban ngưng cười, nhìn Luân khá lâu, rồi rời ghế đến trước Luân, chìa tay ra bắt..
- Tôi nghe tiếng ông kỹ sư… Enchanté! (3)
Khi Eban trở lại ghế, Nhu nói đĩnh đạc:
- Thưa ngài Eban!
Eban đưa tay ngăn Nhu:
- Tôi là Ymơ Eban… Eban là họ. Người Rhađê chúng tôi theo mẫu hệ. Eban là họ mẹ tôi.
Eban nói tiếng Kinh rất trôi chảy, hoàn toàn không vướng chút âm sắc Rhađê nào. “Tay nầy chắc nói tiếng Pháp giỏi.” – Luân nghĩ.
- Xin lỗi! – Nhu vẫn trịnh trọng – Thưa ngài Ymơ Eban, thay mặt nhóm người Thượng ly khai…
Eban lại khoát tay ra hiệu cho Nhu ngưng nói:
- Cest inexact (4)! Tôi là thiếu tướng, ủy viên Đoàn chủ tịch Mặt trận thống nhất giải phóng các sắc tộc bị áp bức - Front Unite de Liberation des Races Opprimees – gọi tắt là Fulro. Chức vụ của tôi hiện nay là Tổng tham mưu trưởng. Các ông có một lầm lẫn đáng tiếc khi đánh giá cả một lực lượng của chúng tôi ngang một nhóm ly khai. Ly khai cái gì? Chúng tôi có theo các ông đâu mà gọi là ly khai? f
Giọng Eban càng về sau càng gay gắt.
- Tôi hiểu! - Luân cười nhẹ, đỡ lời cho Nhu - Fulro là con thừa kế của Ủy ban tự trị xứ Tây Kỳ!
- Không! Ông sai rồi! - Eban sôi nổi - Chúng tôi chẳng dính dáng gì tới cái ủy ban đó.
- Có thể như vậy. - Luân vẫn điềm đạm – Capitaine (5) Ymơ Eban ngày nay không còn do đại tá Le Pulloch, tư lệnh Pháp vùng Nam Tây Nguyên trả tiền. Không sao! Thiếu tá James Casey đâu rồi? - Luân nhìn quanh như tìm nhân chứng, nhưng James Casey không lên nhà rông với họ.
Nhu thỏa mãn về đòn phản công của Luân.
- Ta không đi vào các chi tiết đó. Ngài Ymơ Eban đã rõ, đến nay các thế lực chống lại chế độ cộng hòa và tổng thống đều bị quét sạch…
Ymơ Eban cười chế nhạo:
- Bị quét bằng phương pháp không sạch lắm!
- Ngài đã bị những nguồn thông tin thiếu trung thực đánh lạc hướng. — Nhu cố cãi.
Eban tiếp cái đà suy nghĩ của anh ta:
- Và, các ông định một lẫn nữa triển lãm cái đầu của Ymơ Eban sau khi triển lãm cái đầu của tướng Lê Quang Vinh.
- Chúng tôi đến đây với thiện chí! - Nhu kiên trì.
Eban đứng lên lấy chiếc ống nhòm treo trên cột, nhìn qua cửa sổ nhà rông:
- Thiện chí?! Ông Nhu xem đi. Mang thiện chí đi với cả một đoàn quân và nối tiếp những cuộc hành quân trước đó. Ymơ Eban không phải là trẻ con!
Trên trời vẳng tiếng máy bay.
- Đủ cả! Bộ binh, pháo binh, thiết giáp, không quân, gọi la thương lượng hòa bình mà như vậy. Nhưng các ông đừng hòng hù dọa tôi. Tôi thiết tha đàm phán. Tôi không muốn đổ máu. Cho nên tôi ra lệnh quân của tôi tránh tất cả các cuộc đụng độ mặc dù quân của ông đều nằm trong tầm súng quân của tôi. Ông tưởng rằng chúng tôi không có đại bác, không có súng chống chiến xa sao?
Trừ Nhu và Luân, những người khác đều bối rối.
Luân từ từ đứng lên, đến cánh cửa sổ. Dưới nhà rông, James Casey đang đùa với những phụ nữ Rhađê. Thạch và số cận vệ đang hau háu nhìn lên nhà rông. Cuộc chiến tranh cân não không cần phải kéo dài hơn.
- Tất nhiên, chúng ta chưa hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. - Luân nói - Tuy vậy, ông cố vấn, bào đệ của tổng thống, dám đường hoàng vào tận hành dinh của ông, ông Ymơ Eban, ít nhất cũng biểu thị được thiện chí. Về phần ông, ông chịu đón chúng tôi. Tôi ghi nhận đó như là mong muốn đàm phán.
Eban treo ống nhòm lên cột, trở lại ghế:
- Nếu tại đây, giờ này, ông Ngô Đình Nhu hiểu được rằng Ymơ Eban không phải là tướng Nguyễn Thành Phương, tướng Trịnh Minh Thế, càng không phải tướng Lê Quang Vinh thì ông còn đủ thì giờ rút lui. Tôi lấy danh dự cam đoan các ông được an toàn rời nơi đây. Và, chúng ta không còn gì để nói với nhau nữa.
Giọng Eban vẫn căng nhưng đôi mắt thì dịu đi rất nhiều. Anh ta ung dung châm thuốc lá – hiệu Pall Mall.
Luân đi thẳng lại nơi đặt ché rượu.
- Xin phép ông Ymơ Eban!
Luân kéo một hơi cần rượu, sau đó, chìa tay mời Eban. Eban cười lớn, đến ché rượu, cũng kéo một hơi dài. Anh ta nhăn mặt.
- Giá trong ché là Whisky hay Cognac thì hay quá!
Mặt trời đứng bóng nhưng không khí trong nhà rông bỗng trở nên thoáng mát! Người thở phào mà ai cũng nghe rõ là đại tá Phạm Xuân Chiểu. Từ nãy, ông ta rờn rợn nghĩ đến những cực hình mà Eban sẽ dành cho bọn ông, nhất là cho ông – người đứng đầu ngành công an.
- Ngài Ymơ Eban, - Nhu nói - ngoài yêu sách giữ chức quận trưởng Buôn Hồ, ngài còn yêu sách nào nữa?
- Tôi không tranh đấu cho riêng tôi và cho riêng người Rhađê mà cho Tây Nguyên, cho các sắc tộc Bana, Giarai, Sedang, M’nông v.v...
Có vẻ cuộc đàm phán đang đi thẳng vào thực chất.
- Ngài có thể nói rõ hẳn không? - Nhu hỏi.
- Ông cố vấn hẳn đã nghiên cứu kỹ các văn bản của Fulro. Tôi cho rằng sự khôn ngoan của chính phủ trong hoàn cảnh này là tôn trọng những quyền lợi chính đáng của các dân tộc Tây Nguyên. Dĩ nhiên, hội đồng lãnh đạo tối cao Fulro sẵn sàng xem xét các phản đề nghị của phía chính phủ.
- Coi như là chiếc cầu nối liền giữa chính phủ và cac ngài, tôi có thể báo với ngài Ymơ Eban rằng, tổng thống vui lòng bổ nhiệm ngài làm quận trưởng Buôn Hồ, hợp thức hóa toàn bộ lực lượng dưới quyền của ngài vào quân đội, lực lượng an ninh và lực lượng phòng thủ địa phương. Các vấn đề còn lại, chúng ta sẽ trao đổi tiếp. Riêng trong phạm vi tỉnh Darlac, tổng thống ủy quyền cho ngài, với tư cách quan trọng, tiến hành thương lượng với các nhóm Fulro khác. Chúng ta không nên mất thì giờ cho những nguyên tắc chung. Sự ổn định và phồn vinh của Tổ quốc chúng ta đặt lên vai mỗi công dân trách nhiệm phải nhanh chóng hòa hợp. Là một trí thức, một quân nhân, hẳn ngài Ymơ Eban nhận thức sâu sắc hơn ai hết điều đó...
Luân nghe Nhu nói mà ngỡ anh ta đang giảng đạo, mặc dù Nhu chưa bao giờ tỏ ra là một người sùng đạo. Cái bẫy rập của Nhu mang lại hiệu quả cấp kỳ. Nói cho cùng, Eban thèm muốn chức quận trưởng. Và đây là một đòn xé lẻ mà Nhu đánh vào Fulro.
- Tôi sẽ trả lời trong vài hôm. – Eban phấn khởi ra mặt.
- Thế ông quên thiếu tá Kossem rồi sao?
Eban như bị ong chích khi nghe câu hỏi này của Luân. Ngay Nhu, anh ta cũng cau mày…
- Thiếu tá Kossem, trưởng phòng tình báo chính phủ hoàng gia Cambodie dành cho các ông một sự yểm trợ dồi dào: súng đạn, quân trang, lương thực, thuốc men, đô la và một vùng biên giới bỏ ngỏ mà các ông có thể từ Camp Roland thọc vào Tây Nguyên. Ông Kossem không vô tư đứng sau các ông. Ông ta mơ một vương quốc Islam vươn tận miền Ninh Thuận, Bình Thuận của Việt Nam mà ông ta đứng đầu, không là hoàng đế cũng là một cái gì na ná.
Sự phanh phui của Luân như phủ lên mặt Ngô Đình Nhu một lớp băng giá. Người bị kích động hơn hết là đại tá Đoàn Chí Khoa, đang buồn rầu đứng tựa lưng vào cột nhà rông.
Eban lắp bắp:
- Nhưng, tôt không theo đạo Islam…
- Ông Kossem và các ông nữa, các ông theo đuổi những cái bóng. Chỉ có điều cái bóng của ông Kossem trùm lên đầu ông Eban. Ông theo đạo Tin Lành, tôi biết. – Luân vẫn tiếp giọng đều đều.
- Còn ông, ông Diệm, ông Nhu theo đạo Thiên Chúa La Mã. Các ông đưa người di cư Thiên chúa lập các dinh điền ở Tây nguyên. Chính các ông cũng theo đuổi cái bóng của mình. – Eban lấy lại đôi chút bình tĩnh.
- Vấn đề không có gì bí hiểm cả. Rốt lại, tôi chỉ muốn nhắc ông: hậu thuẫn của ông mong manh lắm.
Tới đây, chừng như Ngô Đình Nhu hiểu dụng ý của Luân, những đường thớ nghiêm khắc của anh ta dãn ra. Đúng, với tên Rhađê này phải lột trần nó để kềm giảm tính tự cao tự đại của nó. Yêu sách quận trưởng Buôn Hồ là quá lắm rồi!
- Ông là một người chống Cộng khét tiếng…
Eban cướp lời Luân:
- Tôi sẽ chống Cộng tới cùng!
- Tôi tin điều đó. Tuy nhiên, tôi không tin ở biện pháp của ông. – Luân vừa nói vừa mỉm cười – Hình như mối quan hệ giữa ông và người Tây Nguyên, ngoài họng súng và các khẩu hiệu chính trị vừa mơ hồ vừa lộn xộn, chủ yếu cột chặt bằng sự kích động chống người Việt, không có gì được coi là nghiêm túc. Tham vọng của ông Kossem rất lớn, đúng vậy, song hiện thời ông ra chỉ là một thiếu tá. Trên ông ta còn trung tá Umsvouth, trên nữa còn tướng Nhiek Tioulong. Và cao nhất còn ông Sihanouk. Liệu rằng trước khi trở thành quốc vương, ông Kossem có thể xóa sổ hết từng ấy bề trên? Tôi không muốn can thiệp vào sùng tín của ông, nhưng ông là người có văn hóa chắc nhớ câu phương ngôn la-tinh: Abyssum abyssum invocat (6)…
Eban ngồi lặng yên. Anh ta chới với vì ngỡ đã chụp hụt chiếc ghế quận trưởng. Chính vào lúc đó, Nhu lên tiếng:
- Đối thoại bằng bạo lực là chuyện không khó. Tôi để ra hai, ba, thậm chí bốn, năm năm bao vây, truy quét ông, bít ngả thông sang Cao Miên, tất cả sẽ ngã ngũ. Ông tin là tôi đủ sức và đủ kiên trì làm như vậy, nhưng tôi không muốn. Chúng ta hãy giành thời gian cho việc khác. Tôi hy vọng lễ nhận chức quận trưởng của ông sẽ là một trong những lễ trọng thể nhất ở Tây Nguyên.
Ngô Đình Nhu biết lúc nào cần đưa bàn tay cứu rỗi. Eban nhìn Nhu với vẻ biết ơn và quên hẳn sự thay đồi cách xưng hô của Nhu: không còn gọi y là “ngài Ymơ Eban” nữa.
… Trên đường về, Nhu và Luân ngồi chung trên một lưng voi. Như tư lự:
- Người ta bày trò domino, cả bàn xao động khi một quân cờ di chuyển…
- Cái quyết định là những chủ bài! - Luân nói.
- Đúng vậy, song đâu là chủ bài?
- Anh có chiến thuật đúng với Eban, mà chưa chú ý chiến thuật với Đoàn Chí Khoa. Tại sao một thiếu tướng, tổng tham mưu trưởng người Rhađê được đồng hóa ngang quận trưởng mà một đại tá tổng tham mưu phó người Chàm không được đặc cách phong làm quận trưởng?
Nhu vỗ đùi:
- Hay! Đoàn Chí Khoa sẽ là quận trưởng M’drak hoặc Krong Pach!
- Những chiến thuật của anh mang lại hiệu quả trông thấy. Song, vấn đề Tây Nguyên chưa ổn chừng nào giữa Việt Nam Cộng hòa và vương quốc Cambốt còn chưa có sự thỏa thuận. Camp Rolland còn đó. Kossem còn đó. – Luân nói như tâm sự bạn bè.
- Anh có thấy người Mỹ không? James Casey nắm Eban chặt lắm. – Nhu thở dài – James Casey bắt tôi nhớ tới Lansdale trong vụ Trịnh Minh Thế. Người Mỹ đặt mìn ngay trong ruột chúng ta!
- Eban là người lắm ghép. Thân thể của ông ta có phần của phòng nhì Pháp, có phần của CIA, có phần của Kossem. Và không riêng gì ông ta, các thủ lãnh Fulro đều như vậy cả…
- Hiện nay, có lẽ cái đầu và cái dạ dày của họ là Kossem. – Nhu chép miệng – Kossem lại làm theo lệnh của Sihanouk. Tạm thời, Kossem và Sihanouk thống nhất trong vấn đề Fulro. Do đó, Tây Nguyên chỉ yên ổn khi nào không còn Sihanouk.
Giọng của Nhu bỗng trở lên hung hãn.
Cuộc hồi quân vẫn rầm rộ như khi xuất phát. Trần Kim Tuyến phấn khởi hơn hết. Ông ta cho là ông ta đã thắng.
Hai người trầm tư: Nhu và Luân. Nhu biết là tình hình sẽ đẻ số: tính chất phức tạp không giảm mà tăng. Chặng đường trước mắt của gia đình họ Ngô không phải mọi việc đều trơn tru. Buổi gặp gỡ Eban cho Nhu một kết luận: Nam Việt nam lần hồi bị quốc tế hóa, nếu không khéo, sẽ vượt khỏi tầm chi phối của anh em ông.
Luân nghĩ mãi về lời hăm dọa Sihanouk của Nhu. Thái tử Sihanouk tuy thoái vị, song vẫn là linh hồn của nhà nước Cambodie. Ông đang thực hiện chánh sách trung lập. Trong điều kiện của bán đảo Đông Dương hiện thời, chánh sách đó có một số mặt tích cực. Mỹ và chư hầu – cả Thái Lan và Nam Việt – chĩa mũi nhọn vào Shihanouk, như họ chĩa mũi nhọn vào Phouma ở Lào.
“Khi nào Sihanouk không còn!” - Nhu muốn ám chỉ cái gì?
Một cuộc đảo chánh? Rất ít, nều không nói là không có cơ sở. Ai đảo chánh? Phải là những người thân Mỹ. Ở Cambodie, lực lượng thân Mỹ đang nảy nở, theo đà viện trợ của Mỹ. Song, lực lượng đó chưa đủ sức làm đảo chánh. Tướng Đáp Chuôn – na ná như Bảy Viễn – trấn vùng Battambang, xa kinh đô quá. Vả lại, thế lực Pháp còn lớn ở đây.
Loại trừ đảo chánh, còn lại khả năng xâm lược trực tiếp từ Sài Gòn và Bangkok. Khối SEATO vừa thành lập, muốn giương oai, song chắc chắn họ không dại gì chọn một nước trung lập để làm lễ tế cờ. Khả năng đó coi như không có thật.
Ám sát? Khả năng này đáng phân tích hơn hết. Vừa sức của chế độ Sài Gòn, không quá ồn ào. Mỹ nhất định bật đèn xanh cho một hành động như vậy.
Ngô Trọng Hiếu, còn người tin cẩn của anh em Diệm – Nhu, đang đại diện của Sài Gòn trên Nam Vang. Gã dám làm lắm. Song, Nhu không bao giờ mạo hiểm cử mật vụ lên hành động tại thủ đô Cambodie. Canh giữ an toàn cho Sihanouk là phòng nhì Pháp. Khó mà lọt qua màn lưới trinh sát dày đặc đó.
Ám sát – chắc chắn rồi. Mà ám sát bằng cách nào?
Luân trằn trọc gần thâu đêm với lập luận, phải lập luận. Sau cùng, anh ngủ thiếp đi khi trời hửng sáng, với bài toán chưa tìm ra đáp số.
Đó là đêm mà cả đoàn dừng chân lại huyện lỵ Buôn Hồ. Nhu gặp gỡ các quan chức địa phương, giải thích chủ trương của chính quyền về “đoàn kết Kinh – Thượng”.
Hôm sau, Nhu quyết định mở một cuộc săn bắn. Săn bắn thật sự. Nhưng, cả Nhu và Luân chưa kịp nổ phát súng nào thì phải lập tức dẹp cuộc vui, hối hả về Ban Mê Thuột. Tin điện khẩn cấp: Tổng thống bị mưu sát ngay tại lễ khai mạc hội chợ….
---
(1) Càn quét
(2) Cuộc chiến đấu của tôi
(3) Hân hạnh!
(4) Không chính xác!
(5) Đại úy
(6) Vực thẳm gọi vực thẳm

CHƯƠNG 14

hông cáo báo chí của Phủ tổng thống.
Hồi 8h30 sáng ngày 22-2-1957, lúc tổng thống Việt Nam Cộng hòa dự lễ khai mạc hội chợ triển lãm kinh tế Tây Nguyên tại Ban Mê Thuột, một thanh niên đã bắn vào tổng thống bằng tiểu liên Mas-49. Đạn trúng Bộ trưởng cải cách điền địa Đỗ Văn Công ở tay và ngực. Tổng thống an toàn. Hung thủ đã bị bắt. Hắn tên là Phúc, nhân viên Ty công dân vụ Tây Ninh…
Lễ khai mạc hội chợ tiếp tục chương trình đã định.
Nội vụ đang trong vòng điều tra.
Bài của phóng viên Financial Affairs.
Ban Mê Thuột, Feb, 22 (Hélen Fanfani).
Một sự việc gây bàng hoàng trong dư luận Nam Việt Nam, nhưng lại là điều chờ đón của một số giới am hiểu tình hình chính trị xứ nầy: Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát hụt. Thời điểm mà hai phát tiểu liên nổ - và chỉ có hai phát, súng bị hóc, bằng không, khó mà đo lường nổi mức độ xáo trộn sau cái chết của vị nguyên thủ quốc gia chống Cộng và là niềm hy vọng của thế giới tự do ở khu vực rối ren nầy của thế giới – là lễ khánh thành một hội chợ kinh tế thành phố Ban Mê Thuột, thủ phủ của Tây Nguyên, nơi tranh chấp giữa nhiều thế lực, trong đó Fulro vừa thân Pháp vừa thân Mỹ vừa dựa vào nước Cambốt trung lập là đáng để ý hơn cả.
Với bộ quần áo trắng cắt thật khéo, tổng thống Nam Việt tươi cười và thỏa mãn bắt tay các thân hào Tây Nguyên và người Việt đứng chen kẽ làm hàng rào danh dự trên đường dẫn đến khán đài – nơi tổng thống sẽ đọc một diễn từ chuẩn bị sẵn. Trước đó một phần mười giây khó ai có thể đoán vụ ám sát có thể xảy ra, bởi sự phòng bố nghiêm ngặt đến nỗi nững nhà báo chúng tôi bị lục soát đến cả chiếc ống kính máy ảnh, ruột cây bút, luôn lọ aspirine đề phòng lúc trái trời.
Và cũng trong thời gian 1/10 giây sau đó, một vấn đề nghiêm trọng chưa từng có được ném vào cuộc sống chính trị ở xứ nầy. Không ai khác, mà tổng thống là mục tiêu của hai phát đạn. Tổng thống thoát nạn như một phép mầu. Vị bộ trưởng cải cách điền địa ít tiếng tăm Đỗ Văn Công thay mạng cho tổng thống. Những người chống đối chọn lựa Tây Nguyên để thi hành bản án phải chăng hoàn toàn ngẫu nhiên?
Máu được lau sạch ngay, nạn nhân được cấp cứu, hung thủ bị bắt. Tổng thống tiếp tục đọc diễn từ - tất nhiên, giọng mất hẳn cái vẻ oai nghiêm và gương mặt thì hằn nét lo âu và giận dữ - hội chợ như chiếc bánh xe, cứ quay… Đằng sau cái bình thường giả tạo, đằng sau lễ Tạ ơn mà người anh giám mục của tổng thống sẽ tiến hành trọng thể, hằng tá câu hỏi nổi lên: Ai là kẻ chủ mưu? Ám hại ông Diệm để làm gì? Mọi người sẽ nhẹ nhõm nếu các bằng cớ cho phép kết luận kẻ chủ mưu là Cộng sản. Nhưng, nếu đây không phải là tác phẩm của Cộng sản, thì thật là một cơn ác mộng, ám ảnh chế độ thân Mỹ ở miền Nam, không biết đến tận bao giờ. Người ta chờ đợi những quyết định cứng rắn mà nỗi nghi kỵ sẽ chia rẽ trận tuyến Quốc gia, vốn đã bát nháo.
Phủ tổng thống cho ra một thông cáo báo chí xác nhận lập tức hung thủ Phúc, tòng sự ở Ty công dân vụ tỉnh Tây Ninh, nghĩa là một nhân viên chính phủ. Thông cáo thiếu thận trọng vì thảng thốt – điều nầy ít khi xảy ra với những cái đầu lạnh như của bác sĩ giám đốc Sở nghiên cứu chính trị Trần Kim Tuyến – hay là hồi còi cảnh binh báo trước công cuộc “tố Cộng” sẽ chĩa cả vào nội bộ?
Bất kể như thế nào, cái bề ngoài ổn định của chính phủ ông Diệm phút chốc bị thử thách. Ít nhất, sự kiện cũng gieo một ấn tượng đậm nét: mơ ước chuyển trọng tâm hoạt động từ hành quân cảnh sát sang hội chợ kinh tế là còn quá sớm. Nó giống như những cây xanh ven đường vào hội chợ lúc hoảng loạn, người ta chạy, càn lên chúng và chúng bật gốc, sự thật phơi bày: những cây ấy không mọc lên từ đất mà được chặt nơi khác tới cắm tạm, không để trang trí mà để lừa bịp…
Tường thuật truyền thanh tại chỗ lễ khai mạc hội chợ kinh tế cao nguyên.
(Do phóng viên đài phát thanh Sài Gòn thực hiện trên các làn sóng điện của đài)
Quý vị thính giả,
Hội chợ kinh tế cao nguyên lần đầu tiên được tổ chức sắp khai mạc tại Ban Mê Thuột. Những tiếng động mà quý vị đang nghe là không khí sôi nổi của cả khu hội chợ. Khu hội chợ choán một bề mặt gần hai mẫu tây, phía trước biệt điện, nay là nhà khách của chính phủ. Người, phải nói là rừng người tràn ngập toàn khu, đủ sắc dân, ai nấy đều hân hoan. Cờ, phải nói là rừng cờ rợp một góc trời. Mời quý vị thính giả cùng phóng viên bản đài đi thăm các gian hàng. Trước hết, chúng tôi ghé gian trưng bày sản phẩm của tỉnh Kontum. Những người Sêđăng mặc sắc phục dân tộc đứng đằng sau các đống bắp, từng quả to và nhiều hạt. Họ vừa được chính phủ cấp giống, cấp vật liệu xây nhà… Ảnh tổng thống được lồng trân trọng trên cao. Nếu quý vị muốn thưởng thức đặc sản Kontum thì đây: những ghim thịt rừng thơm phức, cạnh ché rượu cần…
Thưa quý vị thính giả, theo chương trình, đúng 9 giờ, hội chợ sẽ khai mạc. Tiếng phi cơ mà quý vị nghe hẳn là chở đại diện của tổng thống đến chứng kiến thành tích của đồng bào Kinh Thượng chúng ta trên con đường đoàn kết, ngỏ hầu chống Cộng hữu hiệu và xây dựngViệt Nam Cộng hòa phú cường…
Xin mời quý vị nghe một điệu nhạc người Sêđăng….
Bây giờ là 8g22phút. Còn 40 phút nữa, hội chợ khai mạc như thông báo của ban tổ chức. Thưa quý vị, chúng tôi đã thấy các quan khách lần lượt theo cổng chính vào hội chợ… Thưa quý vị, chúng tôi hết sức sung sướng báo với quý vị thính giả người đến khai mạc hội chợ chính kà Ngô tổng thống anh minh của chúng ta. Quý vị đang nghe tiếng hò reo của đồng bào. Tổng thống cho chúng ta niềm vui bất ngờ. Bận trăm công nghìn việc liên quan đến quốc gia đại sự, Ngô tổng thống vẫn giành lòng ưu ái đối với vùng đất xa xôi nầy… Thưa quý vị, Ngô tổng thống đang cắt băng khánh thành… Thưa quý vị, Ngô tổng thống bước giữa hàng rào danh dự, theo sau chúng tôi thấy có ông Bộ trưởng cải cách điền địa Đỗ Văn Công, Trung tá tỉnh trưởng. Chúng tôi ghi nhận sự có mặt của Đại tá Phạm Xuân Chiểu, Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia.. Và, thưa quý vị, dân biểu Trần Lệ Xuân, tức phu nhân của cố vấn Ngô Đình Nhu đang phủ dụ những phụ nữ và trẻ em người Thượng. Thưa quý vị, tổng thống đang hướng về lễ đài. Người dừng lại trước các cụ bô lão Bana, nhận một ngà voi rất to. Thưa quý vị khán giả, tổng thống lại nhận quyết tâm thư của trẻ em học sinh người Mơnông… Thưa quý vị, tổng thống đang gần tới lễ đài… (người xướng ngôn bỗng la hoảng: “Cái gì? Súng nổ hở?”. Tiếng kêu la náo loạn chừng một phút. Đài phát thanh ngừng phát. Sau đó chừng hai phút, đài chơi một bài hành khúc).
Quý thính giả thân mến, mời quý vị nghe diễn từ của tổng thống…
Báo cáo của thiếu tá Vọng gởi thiếu tướng Mai Hữu Xuân:
“Thiếu tá Hùng sẽ trình bày miệng rõ ràng hơn với thiếu tướng. Em xin phép ở lại Ban Mê Thuột vài hôm để làm sáng tỏ một số quan điểm quanh vụ ám sát.
Ông cố vấn Ngô Đình Nhu “đi săn” trước khai mạc hội chợ một hôm. Thiếu tá Nguyễn Thành Luân tháp tùng ông cố vấn. Bác sĩ Trần Kim Tuyến và đại tá Phạm Xuân Chiểu cũng vậy (Nhưng hai người sau trở về Ban Mê Thuột ngay buổi chiều trong ngày và họ họp gần suốt đêm với cơ quan an ninh địa phương, và đại tá Nguyễn Thế Như). Đêm đó, tại biệt điện, có dạ vũ kéo dài tận quá nửa đêm. Trung tướng Andre “nghỉ” tại biệt điện. Hoàng Thị Thùy Dung, người yêu của thiếu tá Luân, từ sau khi thiếu tá Luân “đi săn”, ở lỳ trong biệt điện, chỉ ra khỏi ngõ cùng bà cố vấn đón tổng thống và dự lễ khai mạc hội chợ. Trung tướng André dậy trễ, mãi hơn 8 giờ sáng, ông mới vào cổng hội chợ, sau khi tổng thống đã cắt băng.
Hung thủ đứng trong hàng dân chúng ngay tại hàng rào danh dự, cạnh lễ đài. Thông thường số người nầy được lựa lọc rất kỹ. Khi tổng thống sắp bước lên lễ đài, hung thủ vẹt người lính của lữ đoàn phòng vệ, chĩa súng vào tổng thống, bóp cò. Bấy giờ, tổng thống đi bên trái, bộ trưởng Đỗ Văn Công đi bên phải, bước sau tổng thống nửa bước. Đạn trúng ông bộ trưởng. Nhưng súng chỉ nố có hai phát. Ông Công ngã xuống, còn tổng thống thì khom người. Nếu súng không bị kẹt thì tổng thống khó thoát. Hơn nữa, nếu hung thủ sử dụng loại tiểu liên mạnh – loại Mas-49 tầm sát thương không quá 10 thước – thì nội vụ đã khác rồi. Cũng dễ hiểu: với khẩu súng Mas, người ta dễ giấu hơn vì kích thước nhỏ của nó.
Cảnh hoảng loạn kéo dài chừng 2 phút. Khi đại tá Nguyễn Thế Như, Phạm Xuân Chiểu, trung tá Vũ Xuân Quang và bác sĩ Trần Kim Tuyến vực tổng thống dậy, làm hàng rào che cho tổng thống và đưa ông lên lễ đài, không khí vẫn hết sức căng thẳng.
Em có dự vào việc bắt hung thủ. Hung thủ trẻ, khỏe, khoác áo mưa quân dụng, ngực đeo phù hiệu nhân viên làm việc trong hội chợ. Chắc hắn quyết giết tổng thống, nhưng may cho tổng thống là có ông bộ trưởng Công che.
Sự việc xảy ra rất lẹ. Em đứng cách hắn mươi thước, ở phía đối diện. Thú thật, không ai ngờ hắn len lỏi đến cạnh lễ đài là nơi sơ hở nhất. Sở dĩ em xông tới là vì tổng thống không hề hấn sau hai phát súng. Nói cho đúng, hung thủ không thể bị bắt nếu hắn chạy ngay lúc náo loạn hoặc ném trái lựu đạn mà hắn thủ trong lưng. Hắn đánh người lính phòng vệ, mục đích cướp khẩu Thompson của tay nầy. Khi em định vọt tới chỗ hung thủ thì có hai người ôm cứng em. Em phải vùng vẫy kịch liệt mới thoát. Nhân hung thủ giằng co với người lính, em đánh vào lưng hắn. Em kịp khóa tay hắn, bằng không hắn đã cho nổ trái lựu để cả em và hắn cùng chết. Tóm lại, một gã gan lì.
Sau đó, người ta lôi hắn vào phòng an ninh bảo vệ hội chợ. Họ tách em khỏi hắn. Hình như hắn được hỏi cung tại chỗ. Người hỏi cung là bác sỹ Tuyến và đại tá Chiểu – chỉ có hai người. Cái gì tiếp theo, em không rõ.
Phần em, em được đại tá Nguyễn Thế Như khen ngợi, mời em và người lính phòng vệ - một chuẩn úy, tên Hoàng Duy Bảo – đến chỉ huy sở phòng vệ bên trong biệt điện nghỉ ngơi, khoản đãi… Nhưng, giữa trưa, bác sỹ Tuyến gặp em. Ông ta hỏi nhiều điều mà em cảm thấy ông ta không tin em bắt hung thủ vì nhiệm vụ. Em xuất trình công vụ lịnh của nha ta, ông vẫn cật vấn: Tại sao em lên Ban Mê Thuột? Tại sao em mang súng ngắn trong người mà không có giấy phép đặc biệt. Em giải thích: thiếu tướng giám đốc nha không được giao nhiệm vụ bảo vệ tổng thống trong chuyến đi nầy, song vì phận sự, phái em lên Ban Mê Thuột; em đã trình diện với trung tá Vũ Xuân Quang và liên lạc với thiếu tá trưởng an ninh quân đội tiểu khu; thiếu tá giám đốc nha không yên tâm lắm, đoán là có thể có hành động phá hoại, em luôn để mắt quan sát chung quanh, phát hiện hung thủ khi hắn chưa bấm cò, song vì ở xa, không can thiệp kịp…
Bác sĩ Tuyến ghi âm lời khai của em – Ông nói: Nếu đúng như vậy, tại sao ông Xuân không bảo anh gặp tôi hay đại tá Chiểu? Ông ta hỏi khéo em. Em trả lời: thiếu tướng tin là sự bố phòng đã chặt, nhưng cần chú ý những chỗ sơ hở, hoạt động của nha chỉ là bổ xung thêm công việc của sở nghiên cứu chính trị, tổng nha cảnh sát và lữ đoàn phòng vệ; vả lại, em ở cấp thấp, không dễ gặp ông bác sĩ.
Tới chiều, người ta cho em ra ngoài tự do. Em trao đổi với thiếu tá Hùng chưa lộ diện – và viết thư này trình thiếu tướng.
Tình hình như vậy, thiếu tướng tùy cơ ứng biến.
Có một chuyện nữa, em trình luôn: em và thiếu tá Hùng gặp Ly Kai trên nầy. Hình như nó đánh hơi cái gì đó, sục sạo nhiều chỗ. Nó hỏi em: bộ nắm được tin mật đặc biệt sao mà mò lên Ban Mê Thuột?
Đề nghị thiếu tướng bàn với thiếu tá Hùng xác minh tên Phúc có phải là nhân viên Ty công dân vụ Tây Ninh không và tranh thủ ra tay trước: tóm những đứa nào dính với tên Phúc. Đồng thời cũng điều tra thêm tin tức của bọn Ly Kai.
Mong thiếu tướng thận trọng. Đáng lẽ em viết thư theo quy ước, song gấp quá, xin thiếu tướng đừng quở. Thiếu tá Hùng có cách giấu kín thư, nên em mới dám gửi…
Những điểm ghi chú trong sổ tay của James Casey:
1) Nhu có vẻ biết trước. Ông ta không về ngay Ban Mê Thuột mà ngủ lại Buôn Hồ.
2) Tại sao Nguyễn Thành Luân không đưa Thùy Dung theo? Muốn sửa soạn trước bằng cớ cho sự vô can?
3) Tại sao lại là tiểu liên Mas-49, do Pháp sản xuất?
4) Trung tướng André tình cờ lên Tây Nguyên hay lên để sáng hôm đó đọc ở Đài phát thanh Ban Mê Thuột một tuyên cáo lật đổ khi ông Diệm chết?
5) Tại sao bác sĩ Tuyến giữ liền viên thiếu tá an ninh quân đội, người có công bắt hung thủ? Tại sao ông ta có vẻ không vui khi hung thủ bị bắt? Không vui vì hung thủ bị bắt hay vì kẻ bắt hung thủ là người của Mai Hữu Xuân?
6) Thông cáo đầu tiên đã nói toạc địa vị trong cơ quan nhà nước của hung thủ. Tại sao? Hơi không bình thường..
7) Tại sao Nhu ra lệnh mang hung thủ về Sài Gòn ngay và không cho cơ quan tình báo Mỹ dự vào việc khai thác?
Điện văn của tổng thống Mỹ:
Sài Gòn (VTX, 23-2) tổng thống Việt Nam Cộng hòa vừa nhận được điện của tổng thống Mỹ, Eisenhower, sau đây là nguyên văn: Rất xúc động khi nghe tin tổng thống bị ám sát hụt, chính phủ Mỹ và cá nhân tôi lên án gay gắt những hành động ngu xuẩn như vậy, chỉ có thể là sản phẩm của bọn cuồng tín Việt Cộng, hốt hoảng vì mất chân đứng ở xứ sở của Ngài - xứ sở mà Tự do đang thắng thế. Tôi cam đoan với Ngài về sự ủng hộ kiên quyết, vững vàng của chính phủ và nhân dân Mỹ. Chúng ta hãy cảm ơn Chúa – D. Eisenhower, tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
… Một điện văn, cũng gửi ngày 23-2, với lời lẽ tương tự của tổng thống Pháp René Coty được Việt tấn xã công bố ngày 1-3, trễ đúng một tuần lễ.
*
Sau sự kiện Ban Mê Thuột, Ly Kai hấp tấp trở lại Sài Gòn.
Gã gặp Lâm Sử.
- Ngay từ đầu, tôi đã chú ý hai tên thiếu tá an ninh quân đội mặc thường phục, lai vãng trong và quanh hội chợ. - Ly Kai tường trình – Tôi biết mặt một trong hai tên đó, có chùm lông trên má, song không biết tên. Phần Nguyễn Thành Luân, tôi cho người bám, y ta chỉ đi dạo vòng quanh hội chợ với cô vợ chưa cưới, rồi đi theo Nhu luôn. Cô vợ chưa cưới lại chỉ ở trong biệt điện. Ve vãn cô ta là một đại úy không quân, cùng nhảy với cô ta, hình như không có hò hẹn gì tiếp theo. Tôi cho bám gã đại úy – hắn như thất tình, uống rượu suốt ngày trong quán. Khi súng nổ, hắn còn ngủ. Tôi cũng cho bám André. Lão nầy chui vào biệt điện tới sáng, gần giờ khai mạc mới có ở cổng chính. Nghĩa là theo phép loại trừ, tôi kết luận hai tên an ninh nhất định giở trò. Tôi lập tực báo bằng điện thoại với bác sĩ Tuyến. Nhưng, bác sĩ Tuyến bận ra sân bay. Tôi xin được nói chuyện với bà Nhu. Bà Nhu cũng ra sân bay luôn. Tôi đành nói chuyện với đại tá Chiểu. Ông nầy vốn không ưa tôi, nên nghe xong ông ta trả lời lạnh nhạt: cám ơn, tôi sẽ chú ý…
Tôi dặn người của tôi không được rời hai tên an ninh quân đội. Khi ông Diệm cắt băng xong, tôi đã nhận được một trong hai tên đứng gần lễ đài. Sau lưng gã, hai người của tôi đã sẵn sàng. Súng nổ, không phải từ hai gã an ninh quân đội mà từ một gã thứ ba. Nhưng gã an ninh quân đội lai vào chỗ ông Diệm. Người của tôi giữ gã, gã khá khỏe, đánh bật được.. Gã lại lao vào đánh quỵ gã thứ ba – gã bắn súng. Mọi việc là như vậy…
Lâm Sử vui hẳn:
- Hẩu! Ông Diệm không chết. Còn nội bộ họ ra sao, ta theo dõi cho sát… Tôi khen ông làm việc có uy tín, rất xốc vác…
Dương Tái Hưng không lộ ra là ông ta có thích hay không thích sự kiện ở Ban Mê Thuột, chỉ hỏi:
- Nghĩa là theo ông, Nguyễn Thành Luân không liên can đến vụ ám sát?
- Tôi nghĩ như vậy…
- Tiếc quá!
Dương Tái Hưng chép miệng, Ly Kai không hiểu ông ta tiếc cái gì.
*
... Cô Ba Norton – do chị lái mô tô Norton mà cũng do tướng tá dềnh dàng của chị nên có tên đó – theo dõi mọi diễn biến từ một nhà sàn trưng bày các loại dụng cụ đan lát, cách lễ đài chừng 50 thước.
Bây giờ đích xác là Diệm khai mạc hội chợ rồi. Hắn xuống xe – chiếc xe Ford, được lính hộ tống dầy đặc – tươi cười bắt tay số người đón hắn. Máy ảnh, máy quay phim hoạt động rộn ràng. Trong số các phóng viên có một cô gái lai Âu, bao giờ cũng rình chụp những cảnh không đẹp lắm: Sự vụng về của các trẻ em dâng hoa, vẻ lếch thếch của ngừơi Thượng…
Cô Ba nhận ra Phúc trong số người lố nhố gần lễ đài. Tới giờ nầy, chưa lộ một dấu hiệu sơ xuất nào. Phúc lên Ban Mê Thuột theo đoàn công vụ Tây Ninh – Bộ ra lệnh mỗi tỉnh có người Thượng phải cử một đoàn công dân vụ gồm các nhân viên tín cẩn nhất để lo việc hướng dẫn số người Thượng của tỉnh đi dự hội chợ, để tuyên truyền và làm các việc trong phần thông tin. Tây Ninh đưa 60 người Stiêng – dân tộc ít người trong tỉnh – lên hội chợ do phó tỉnh trưởng nội an dẫn đầu. Cô Ba, người thầu dựng gian hàng Tây Ninh bày các gùi, sọt, sáo bằng tre mây – kêu là sản phẩm của người Stiêng. Nhờ vậy, cô chuyển được khẩu Mi Mas và một quả lựu đạn. Cô giao cho Phúc sáng hôm nay.
Người từng trải như cô – cô sống ở vùng tự do trong kháng chiến: chịu nhiều bom đạn, càn bố mãi – mà vẫn hồi hộp. Cái phút định đoạt sắp tới rồi…
Tốp lính phòng vệ quay lưng về phía con đường mà Diệm sẽ theo đó lên lễ đài. Súng lăm lăm, toàn là Thompson và tiểu liên trang bị cho lính dù. Gay go đa! Phúc bĩnh tĩnh ngóng theo bước đi của Diệm, gần như giáp mặt với tên phòng vệ phủ tổng thống. Cô Ba ước lượng: tên lính (hay sĩ quan) nầy khá lớn con.. Phúc phải xử trí làm sao?
Diệm bước nhanh. Cô Ba nín thở. Nhưng, Diệm rẽ ngoặt vào đám học sinh. Hắn nhận hoa, vuốt tóc mấy em.
Diệm đi tiếp. Gần lắm rồi. Nhưng, hắn lại tạt vào đám người Thượng lớn tuổi, dừng hơi lâu… Rồi, hắn đi tiếp…
Phúc đã vẹt người lính phòng vệ, ngoi hẳn ra ngoài. Cô Ba cắn răng kêu thầm: Bắn!
Khẩu Mas thò ra khỏi áo mưa. Rõ ràng, tên lính phòng vệ sững sờ… Bắn! Cô Ba lại thét – thét không thành tiếng.
Phúc đã bắn. Cô Ba nghe hai phát Mas nổ giòn. Có người ngã. Ai? Diệm ngã với một người nữa. Náo loạn. Bắn tiếp! Cô Ba giục. Nhưng hình như súng hư. Ai lom khom kia? Diệm! Hắn còn sống. Hắn không bị thương. Xui xẻo thật! Chạy đi! Cô đã thấy tình hình xấu rồi. Nhưng Phúc lại giằng co với tên lính phòng vệ. Nó muốn giựt súng! Cô Ba than thầm: Rồi!...
Không kềm được nước mắt trên chiếc Norton, cô lái như điên dại về một điểm hẹn…
*
Lễ tạ ơn cử hành trọng thể tại nhà thờ Đức Bà. Vị giám mục rao giảng một đoạn kinh Thánh. “Người nào cai trị loài người cách công bình, cách kính sợ Đức chúa Trời thì sẽ giống như sự chói lòa buổi sáng khi mặt trời mọc…” Đó là sách thứ nhì của Samuel, điều 23, bài ca chót của David.
Fanfani hỏi khẽ Luân:
- Đức giám mục chọn đoạn kinh này, hẳn có ngụ ý?
- Tôi chưa thấy ngụ ý đó. – Luân trả lời, hơi cười.
- Người thông minh như ông mà không thấy, lạ thật. Giữa lúc tổng thống bị ám sát hụt, giám mục giảng về sự cai trị công bằng để có anh sáng chói lòa mặt trời buổi sáng. Phải chăng giám mục muốn răn tổng thống?
Tất nhiên, Luân thấy vị giám mục này được Nhu đánh giá như là con người chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp, không thích Mỹ và cộng thêm lý do địa phương – ông là người Nam Bộ - không thích đồng đạo di cư. Theo Luân và đây là ý kiến riêng, anh chỉ trao đổi với Dung – ông giám mục cùng một số linh mục không lún quá sâu vào chỗ điên cuồng chống Cộng, chống Việt Minh, chống những người yêu nước. Bản thân họ, theo các tài liệu mà Luân có, từng giữ một quan hệ nhất định, tất nhiên là kín đáo và rụt rè, với các linh mục kháng chiến như Hồ Thành Biên, Võ Thành Trinh v.v… dù Khâm sứ tòa thánh nghiêm cấm. Giám mục, trong sự cố lớn nầy, e ngại một cuộc trả thù và đó là lý do của bài giảng hôm nay.
- Tôi là người chứng kiến vụ Ban Mê Thuột từ đầu tới cuối. Tôi có nhiều bức ảnh vô giá! – Fanfani khoe – Phần ông, tiếc là không có mặt tại hiện trường. Chỉ có bà Thùy Dung, – giọng Fanfani bỗng chua chát – bà có mặt, song bà ấy còn cách khá xa tổng thống.
- Tôi đọc bài báo của cô. – Luân lái câu chuyện về hướng khác – Sắc sảo! Cô là một nhà báo có tài…
Fanfani sung sướng, má ửng đỏ, mắt long lanh.
- Được ông khen, tôi hết sức hân hạnh…
- Tôi nói thật… Nhưng, có người không đồng tình với ý kiến của cô. Người ta cho bài báo chứa nhiều nhận định chính trị, cố tình lái dư luận vào nội bộ chế độ..
Fanfani cười.
- Tôi yên tâm! Trong những người không đồng tình với tôi không có mặt kỹ sư Luân. Và…
Fanfanie liếc Luân, cười mỉm:
-… Tôi mừng tổng thống thoát nạn, đồng thời mừng ông bình an!
Thấy Luân cau mày, Fanfani luyến thoắng.
- Người đa nghi nhất cũng bắt buộc phải loại ông ra khỏi những phần tử cần kiểm tra sự dính líu vào vụ Ban Mê Thuột!
Luân nhún vai. Fanfani nói, như không tính trước:
- Ông Nhu và ông gặp Eban, tôi lại không được cưỡi voi với các ông, ổn thỏa cả chớ?
- Thiếu tá James Casey nắm diễn biến của câu chuyện tận những ngóc ngách mà tôi không thể nào hiểu hết.
Fanfanie phật ý. Cô cắn môi. Luân cũng nhận ra mình thô bạo với một cô gái, xét chung, cảm tình với mình.
- Xin lỗi Heléne! – Luân siết nhẹ tay Fanfani.

CHƯƠNG 15

Diệm đi lại trong phòng Giám mục. Nhu, Lệ Xuân, Luân ngồi trên các ghế bành rộng.
- Đem thằng khốn kiếp đó bắn ngay thôi! – Lệ Xuân rít, giọng lanh lảnh.
- Bắn ngay! – Diệm dừng lại, nhấn mạnh. – Phải dằn mặt bọn Cộng sản nằm vùng mới được…
Nhu kín đáo liếc Luân. Giám mục hình như hiểu ý nghĩa cái liếc của em, trở mình, hỏi Luân:
- Con thấy thế nào?
Luân trả lời chậm rãi:
- Tên Phúc đã khai, hắn do Hoàng Lệ Kha và Năm Xếp, tỉnh ủy Tây Ninh tổ chức… Con đọc kỹ biên bản hỏi cung, thật hợp lý đến mực cao nhất…. Song, cả hai tên chủ mưu đều sống bất hợp pháp, làm cách nào bắt được chúng? Hơn nữa, vì sao hắn lại khai dễ dàng như vậy? Vì tra tấn? (Luân lắc đầu) Với những kẻ như hắn thì tra tấn có nghĩa lý gì…. Phải chăng hắn đã sửa soạn một lời khai trước… Hoặc ai đó mớm cho hắn khai… Đổ mọi thức vào cái bóng tối vô hình, chập chờn thì có gì là khó…
Cả giám mục lẫn Diệm gật gù…
- Cháu có thể nói rõ hơn không? – Diệm sốt ruột hỏi.
- Nếu quả Phúc là Việt Cộng, cháu thấy ta có thể thở phào. Cần bố trí chặt chẽ hơn, trò đánh lén nầy khó tái diễn. Còn nếu Phúc thật không phải là Cộng sản? Chưa một bằng chứng nào cho thấy Phúc không phải là Cộng sản, và với cháu, cũng chưa một sức thuyết phục nào đủ khiến cháu tin vào những bằng chứng Phúc là Cộng sản!... Kể cả tên họ, quê quán của hắn, sao lại không có thể là ngụy tạo? Người của giáo phái? Chưa đáng ngại lắm. Deuxieme Bureau (1)? Nguy hiểm tăng hơn đôi chút, song chưa phải là điều ta lo… Tôi loại trừ khả năng nầy, dù cho tướng Đôn xuất hiện trên Ban Mê Thuột đúng lúc đó…
Lệ Xuân nhanh nhẩu:
- Trung tướng André chắc chắn không liên quan đến vụ nầy.
Nói xong, mụ đỏ ửng mặt. Rồi mụ lấp liếm:
- Hay anh Luân nghĩ đến CIA? Hoặc nhóm Eban? Theo nhà tôi cho biết, nhà tôi và anh gặp mặt Eban.
Nhu xua tay, ra hiệu cho Lệ Xuân im:
- Không có một giả định nào phi lý cả… Em để anh Luân nói… Tôi bắt đầu hiểu ý anh rồi… Có phải anh còn cho mối nguy hiểm lớn hơn cả CIA.
Luân, vẻ mặt nghiêm trọng:
- Anh Nhu đoán đúng… Nói cho cùng, điểm xuất phát có thể là CIA, song CIA thông qua con đường nào? Tướng lĩnh? Nhân viên cao cấp của ta? Trên tất cả, do đâu tiết lộ tổng thống sẽ khai mạc hội chợ?
- Té ra, bản tường trình của ông Phạm Xuân Chiểu và Trần Kim Tuyến còn nhiều chỗ lờ mờ quá! Nhất là điểm lộ tin nầy! Tin nầy bao nhiều người biết? – Diệm đã ngồi vào ghế, nhổm dậy hỏi dồn dập.
- Đến tôi mà mãi khi nghe đài ngoại quốc mới biết tổng thống lên Ban Mê Thuột. – Giám mục chép miệng.
Nhu nói như phân bua:
- Tôi nghĩ liền, khi nghe sự việc, đến câu hỏi của anh Luân. Đúng là khó hiểu thật. Có thể nói chỉ có ba người biết rõ: tổng thống, vợ chồng tôi. Sau Tết, tôi gọi ông Chiểu và ông Tuyến chỉ thị và dặn hai ông đích thân lên bố trí, không nói với một ai, phải giấu cả nơi hai ông đến. Tôi không cho đi máy bay thường, mà máy bay quân sự, cất cánh từ Biên Hòa. Hai ông đã phối kiểm nhiều lần, quả là không hé môi cho bất kỳ người nào khác. Ngay đại tướng, tôi cũng chỉ cho hay vì tôi có công vụ đặc biệt, điều một số lực lượng bộ binh, dù, pháo, thiết giáp. Vậy thôi! Lực lượng liên binh phòng vệ cũng chỉ biết là do tôi có mặt ở Ban Mê Thuột mà phải huy động họ. Bảy giờ sáng tổng thống lên máy bay xong, hoa tiêu và máy bay yểm trợ chỉ được lệnh bay ra cao nguyên. Qua Quảng Đức, họ mới biết nơi đáp là Ban Mê Thuột. Cũng 7 giờ sáng, địa phương được ông Chiểu cho biết cần huy động một số học sinh ra sân bay đón khách, không nói khách nào. Người ta chỉ biết họ đón tổng thống khi tổng thống xuất hiện ở cầu thang. Tôi cẩn thận đến mức không cho dùng chiếc máy bay riêng của tổng thống, thay bằng một chiếc DC.3 thường. Trung tá Lê Quang Tung cùng đi với tôi lên Ban Mê Thuột, đã trở về Sài Gòn bố trí kế hoạch nầy và ông ta không nói với bất kỳ ai. Tôi đảm bảo sự kín miệng của ông Tung. Xin lỗi anh Luân, ngay anh Luân cũng không được thông báo tổng thống sẽ có mặt ở hội chợ… Thế mà vẫn lộ! Chẳng lẽ ông Chiểu, ông Tuyến!... Lạ thật! Lạ nhứt kẻ bắt hung thủ lại là người của ông Mai Hữu Xuân!
- Nếu kiểm tra thật kỹ, vẫn có thể tìm ra manh mối, tôi tin như vậy. – Giọng Luân đều đều – Chẳng hạn, sự lộ bí mật đôi khi từ chỗ quá bí mật. Ai cấm thiên hạ suy luận xét đoán trên vài hiện tượng không bình thường? Ông Chiểu, ông Tuyến đột nhiêu “mất tích” – cả hai nhân vật mà trách nhiệm về loại công vụ gì ai cũng rõ – khiến người ta dễ đi gần với sự thật. Qua cô Dung, tôi biết đại tá Chiểu vắng mặt ở Tổng nha. Nếu mà tôi biết cả bác sĩ Tuyến cùng vắng mặt và xa Sài Gòn thì nhất định đoán ra hai ông lo một việc lớn. Việc lớn là việc gì, ở đâu, bao giờ, ba bài toán sau không khó tìm đáp số! Khi cùng anh Nhu lên Ban Mê Thuột, gặp đại tá Chiểu, bác sỹ Tuyến, tôi hiểu liền, nhất là anh Nhu lại tiến hành cả một cuộc đi săn ồ ạt…
- Tôi chịu thua anh!
- Ám sát tổng thống để làm gì? – Luân tiếp tục – Loại một người cầm đầu chính phủ miền Nam đang chống Cộng! Chỉ vậy thôi sao? Loại một người để thay chân… khả năng nầy có không? Cho nên chừng nào các nghi vấn trên chưa được giải đáp, bắn Phúc là giúp cho chiếc màn bí mật càng phủ kín trên vụ Ban Mê Thuột! Nghĩa là, chúng ta sẽ phải tiếp tục đánh trong tư thế bị bịt mắt…
Giám mục không che giấu sự khoái chí…. Ông ta nhìn đứa con nuôi với tất cả khâm phục lẫn trìu mến. Diệm qua ánh mắt, hầu như chia sẻ hoàn toàn với ông ta.
- Tôi tán thành anh Luân! – Nhu nói rắn rỏi – Tôi có một đề nghị: Anh Luân đích thân điều tra tên Phúc… Tôi hy vọng anh nhận lời và tôi tin kết quả sẽ chóng vánh.
Giám mục, Diệm, Lệ Xuân không hẹn, cùng thốt lên một lượt:
- Phải đó!
Luân lắc đầu:
- Anh Nhu cần tôi giúp, tôi rất sẵn sàng.. Trong việc nầy, tôi không từ chối bất kỳ cái khó nào, bởi vì, ngoài chuyện ám sát một nguyên thủ quốc gia, đối với tôi, tổng thống còn là người trong gia đình… Song, tiện hơn hết, anh Nhu giao cho một người nào đó có kinh nghiệm. Tôi sẽ căn cứ vào bước tiến triển, xin ý kiến tổng thống, anh cố vấn, gia đình ta, cố gắng làm sáng tỏ… Đây, có khía cạnh chuyên môn, mà thú thật, tôi quá dốt…
Lần nữa, Diệm “ba phải”:
- Ừ, nói như cháu Luân cũng đúng…
Giám mục bồi thêm:
- Đứng ở ngoài nó sáng nước… Như đánh cờ tướng vậy!
Nhu vẫn giọng trầm trầm:
- Tôi sẽ giao cho một người… tổng ủy trưởng tình báo, được không?
- Tùy anh, tôi không rành lắm về ông nầy…
- Thôi, tôi suy nghĩ thêm rồi bàn với anh… Sáng mai tôi muốn anh với tôi qua gặp tên Phúc…
- Được… Tôi cũng muốn biết anh nầy… Tôi nghĩ là anh ra lệnh bỏ nhục hình đi…
- Đã ra lệnh rồi.
Lệ Xuân kết thúc buổi họp gia đình:
- Lễ Tạ ơn đã xong. Sắp tới, theo ý của chị Cả, nhân dịp tổng thống kinh lý Thừa Thiên, gia đình ra nên về đầy đủ mặt làm lễ mừng tổng thống thoát nạn… Tôi có dặn vợ chồng Trần Trung Dung. Tôi nghĩ anh Luân và cô Thùy Dung nên trình diện một lần, kẻo các chị trách. Chú Cẩn cũng muốn gặp anh Luân…
Lệ Xuân cười:
- Đức cha cho chúng tôi hay ông bà đã định ngày đám cưới… Xin chúc mừng trước. Trong gia đình, ai cũng chờ ngày này… Hôm nghe tin Ban Mê Thuột, tôi bảo Dung: May mà tổng thống vô sự, bằng không hai ông bà phải cư tang ba năm! Chuyện quốc gia với chuyện riêng tư gắn chặt làm vậy đó…
Diệm cười hềnh hệch. Giám mục rạng rỡ:
- Đám cưới của nó mà hóa rắc rối to. Tôi với thím Nhu định làm ở Sài Gòn. Hai chị, chị Khôi và chị Cả Lễ với chú Cẩn muốn làm ở Huế… Thôi, để gặp đông đủ rồi tính luôn.
Luân vẻ bẽn lẽn, xoa mãi cằm…
---
(1) Phòng Nhì Pháp

CHƯƠNG 16

Luân vừa đút khẩu súng Walter nhỏ xíu vào chiếc túi con trước bụng, vừa nói:
- Trong trường hợp cần, khẩu Walter nầy đắc dụng hơn khẩu P.38.
Dung lo lắng theo dõi:
- Tại sao anh lại nhắc chuyện súng đạn trước khi đi? Phải chăng anh cảm thấy có cái gì không ổn?
- Mọi thận trọng đều có ích. Nhu muốn xác định những điều hắn còn nghi bằng cách trực tiếp chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa tôi và Phúc.
- Em nghĩ là Nhu hết đặt câu hỏi về anh sau khi chính anh nêu lên hàng loạt điểm phải làm sáng tỏ, trong đó, có cả những điểm nếu quả anh liên quan đến vụ Ban Mê Thuột thì rất tai hại cho anh. Nhất là anh từ chối đứng ra khai thác Phúc.
- Chưa hẳn vậy… Tại sao cô không tính đến khả năng Nhu càng nghi hơn khi hắn nhận ra tôi biến vấn đề rối tinh lên, chĩa vào nội bộ chúng? Với Nhu, không có sự ngây thơ…
- Nhưng, biên bản khai thác Phúc không điểm nào khiến chúng có thể nghi ngờ anh. Em chú ý, Phúc giấu cả cha, vợ, quê quán.
- Đúng… Nhưng, vì sao cô không giả định bản thân biên bản là một sáng tác của Nhu? Còn sự thật lại là ở cuộc gặp mặt sáng nay?
Dung nhận là Luân có lý. Cô thở dài.
- Nghề của chúng ta… Tôi dùng chữ không chính xác… Trách nhiệm của chúng ta, nói theo thành ngữ Pháp “L’art du Possible” – nghệ thuật của cái có thể. Cô tỉnh táo theo dõi, hễ có gì bất thường thì theo kế hoạch đã bàn rút lui ngay. Nếu phải dặn thêm, tôi nhắc cô lưu ý anh Lục, một người đáng thương.
Luân coi đồng hồ tay:
- Gần tới giờ rồi… Tôi đi! Nói thế, chứ cũng có khả năng mọi sự trót lọt… Tôi tin Phúc. Đúng hơn, tôi tin xét đoán của tôi và của cô về Phúc.
Phúc bước vào phòng, trọng bộ Pyjama. Người anh xanh mướt. Những vết tím bầm hằn rõ trên má, mắt, trán anh.
Luân quyết định chọn chỗ sáng sủa nhất, ngay dưới bóng ngọn néon để gặp Phúc. Nhu ngồi chéo với Luân.
- Mời anh ngồi!
Nhu chỉ cho Phúc chiếc ghế đối diện với Luân… Phúc ngó Nhu rồi Luân, lạnh lùng ngồi xuống.
- Những chỗ đau của anh, nay đã đỡ chưa?
Luân hỏi giọng ấm.
- Còn đau… - Phúc trả lời cụt ngủn, không thèm để ý Luân.
Một nhân viên của tổng ủy tình báo giới thiệu:
- Đây là ông cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, bào đệ của tổng thống Việt Nam Cộng hòa. Đây là thiếu tá tham mưu biệt bộ phủ tổng thống Nguyễn Thành Luân…
Hình như Phúc chú ý hơn một chút, qua cái liếc chầm chậm của anh, khi nghe giới thiệu Nhu. Anh có vẻ hoàn toàn xa lạ với Luân.
- Thiếu tá Nguyễn Thành Luân trước đây đi kháng chiến làm trung đoàn phó… - Nhu nói thêm. Phúc liếc Luân, nhưng vẫn hời hợt, hơi bĩu môi nữa.
Nét mặt của Luân cho biết Luân tự đánh giá mình là kẻ có khả năng chiến thắng. Chân anh khẽ nhịp. Anh nhìn Phúc với đôi mắt khâm phục không cần giấu diếm và Nhu cũng nhìn anh như thú nhận anh ta đã lầm.
Ngồi trước Luân là Phúc. Sau nầy, Luân mới biết tên trong giấy căn cước của người thanh niên mà anh và Dung gặp đầu tháng trước, trong lễ khai mạc thí điểm tố Cộng ở Gò Đen và gặp lần nữa, cách nay mấy hôm, trên Ban Mê Thuột, khi anh đang mắc một chiếc loa phóng thanh tại hội chợ. Cả hai lần gặp, Luân chỉ biết anh với tên khác, là rể của ông giáo Đầy, có quan hệ với các đồng chí trong rừng Tây Ninh được “cấy” vào cơ quan công dân vụ tỉnh. Chính anh đã bắn liền ba phát súng ngắn vào ảnh Ngô Đình Diệm khi buổi tố Cộng tan vỡ, khi ông giáo Đầy – nằm trên cũng máu với lá quốc kỳ - và cũng chính anh cướp được một khẩu súng trường bắn theo tên Hoàng Đình Thể, giữa đám khói mù tịt của chiếc xe Jeep bị ném vào lửa.
… Tất cả những gì diễn ra trong mấy phút làm lảo đảo Luân. Ông giáo Đầy ngã xuống do viên đạn của tên quận trưởng, ông ngã xuống như một anh hùng. Ở đây, hai cái tương phản ghê gớm nhất, không thể đội trời chung đã đối đầu. Tính cách gian trá, man rợ bạo ngược mà bọn quan lại đại diện bộc lộ đến nét lỳ lợm cuối cùng. Phía nhân dân, cũng vậy, họ không còn con đường tự bảo vệ nào khác ngoài sử dụng sức mạnh vốn là ưu thế của họ.
Phải nói rằng trong khoảnh khắc Luân mất tự chủ. Nếu Dung không níu tay anh thì anh đã bắn gục tên quận trưởng mặc dù liền trước đó, anh đã can thanh niên: đừng có mà dại dột!
Luân, Dung theo con rể ông giáo Đầy và đồng bào khiêng thi thể ông giáo vô làng. Thạch, trong lúc lộn xộn, chạy ra lộ. Lần hồi, Luân suy tính và anh quyết mạo hiểm – mạo hiểm trong những điều kiện mà anh cho là đúng.
Nhà ông giáo ở cách điểm tố Cộng già cây số, theo bờ đất ngoằn ngoèo, xuyên khu vườn rậm rạp và vượt vô số cầu vắt vẻo. Một ngôi nhà ngói cất theo lối cũ, mờ mờ tối. Bàn thờ giữa nhà leo lét một ngọn đèn – đứa con trai duy nhất của ông, một người kháng chiến cũ như ông, bị giết chưa đầy năm. Thi thể ông giáp đặt trên bộ ván giữa nhà. Thân tộc ông chỉ còn cô con gái và chàng rể.
- Chúng tôi là khách đi đường, thấy cảnh đau lòng nầy, nên ghé lại, xem có thể giúp ích gì cho gia đình ông giáp không? – Luân giải thích sự có mặt của hai người.
Anh hiểu rõ: đây là khu du kích trong kháng chiến. Những người dân từng được chính phủ cách mạng cấp cho đất. Vường tược và ruộng mà họ có là từ mẫu đất tạm cấp đó. Chắc chắn vì lý do như vậy mà chính quyền Diệm lấy nơi đây làm thí điểm tố Cộng.
- Tức quá đi, trời đất ơi! – Người thanh niên giậm chân, thét đau đớn.
Người con gái thì như điên dại, ôm thây cha, khóc không còn ra tiếng.
- Nên lo tẩm liệm ông giáo. – Luân bảo người thanh niên – Đề phòng làng, lính vô.
Người ta bắt đầu đóng hòm, đào huyệt và tẩm liệm ông giáo. Công việc khẩn trương mà lặng lẽ, từng nét mắt khắc cái đau và nỗi giận, chỉ hạ khi họ trả được thù.. Mặc dù bị từ chối, Luân cố nằn nì xin được góp phần vào mồ êm mả đẹp cho ông giáo. Số vải tẩm liệm ông chẳng là bao, nhưng anh nghĩ ông giáo sẽ ấm lòng, bởi cách mạng có mặt ngay trong giờ phút bi đát nầy.
Qua hỏi han, Luân rõ thêm: anh thanh niên mồ côi từ nhỏ, được ông giáo nuôi và khi thành người, gả con cho. Anh là du kích xã. Sau hiệp định Genève, tránh địch, anh lên Tây Ninh và bằng cách nào đó, anh vào Ty công dân vụ. Ở nhà, anh tên là Tư. Anh xem ông giáo Đầy như cha đẻ.
- Anh muốn trả thù lắm? – Luân hỏi.
Tư gật đầu quả quyết. Và, Luân do dự: “Anh ta còn trẻ… Nguy hiểm!” – Luân nghĩ thầm.
- Ông có thể giúp tôi? – Tư hỏi, hy vọng.
- Quận Thể không là cái gì đáng cho anh trả thù!
- Tôi hiểu… Tôi muốn….
Luân nhớ liền ba phát đạn bắn vào ảnh Ngô Đình Diệm.
- Khó lắm!
- Tôi không liều mạng đâu. – Tư bỗng hạ thấp giọng – Tôi còn các bác, các chú trong rừng!
Nói xong, Tư chợt sợ. Đúng thôi, Luân lạ hoắc lạ huơ mà.
Mãi sau khi hạ huyệt ông giáo Đầy, trước khi từ giã, Dung nói với cô con gái:
- Sắp tới, có hội chợ trên Ban Mê Thuột. Ông Diệm khánh thành!
*
- Tôi rất khâm phục anh, dẫu cho hành động của anh khiến tôi căm giận. – Luân nói, vừa nói vừa trao đổi bằng mắt với Phúc – Anh đủ gan ám sát tổng thống…
Phúc ngắt lời:
- Tổng thống của ông! Với tôi, hắn là một tên Việt gian…
- Kể cả như vậy đi, anh có quyền suy nghĩ riêng, anh cả gan ám sát người đứng đầu chính phủ miền Nam thì cũng nên đủ gan nói sự thật. Ai phái anh lên Ban Mê Thuột?
- Tôi trả lời đến cả chục lần rồi: Tỉnh ủy Tây Ninh!
Giọng Phúc cộc lốc.
- Tôi chưa tin! – Luân điềm đạm – Vì sao tỉnh ủy Tây Ninh lại cử anh đi ám sát ông Diệm?
- Vì Diệm bán nước!
- Nhưng, vì sao tỉnh ủy Tây Ninh biết tổng thống có mặt ở Ban Mê Thuột?
- Ông gặp tỉnh ủy Tây Ninh mà hỏi! – Phúc trả lời lì lợm.
- Tất nhiên, nếu rôi hân hạnh gặp tỉnh ủy Tây Ninh thì còn nói làm gì! Anh trả lời với chúng tôi như vậy giống như anh bảo: Ngọc Hoàng ra lệnh cho anh lên Ban Mê Thuột, còn vì sao, thì tìm Ngọc Hoàng mà vấn nạn! - Luân cười hóm hỉnh.
- Ông cứ hỏi mãi, không chừng tôi nói chính ông bảo tôi lên Ban Mê Thuột vì chính biết ông biết ông Diệm, ngày đó có mặt… - Phúc cau có.
- Đúng rồi! - Luân reo – Đại loại, tôi muốn biết ai trong chúng tôi…. Đơn giản thôi, chỉ có người chúng tôi mới biết tin tối mật đó.
- Chính ông! – Phúc trỏ vào Luân, gay gắt – Ông có đi kháng chiến, ông là thằng phản... Tôi đề quyết ông để tụi nó bắn ông cho đáng đời!
Nhu lắc đầu:
- Anh nên trả lời nghiêm chỉnh. Anh lấy súng ở đâu?
Phúc trỏ tiếp vào Luân:
- Ông nầy trao cho tôi! Tôi nói thiệt…
Luân ngó lên trần nhà, cười mỉm:
- Được! Coi như tôi giao súng cho anh. Nhưng, ai cho anh tin về tổng thống?
Phúc bĩu môi:
- Các ông cứ tưởng các ông bí mật lắm… Tôi biết tin. Nhiều người biết tin. Còn súng, đâu mà chẳng có!
Vừa lúc đó, một nhân viên vào, cúi rạp người:
- Thưa thiếu tá, có điện thoại của đại sứ quán Mỹ…
Luân đứng lên, ra hiệu xin phép Nhu. Anh bảo Phúc:
- Cả Hoa Thịnh Đốn cũng quan tâm đến anh…
Luân vừa khuất khỏi cửa, Phúc ném theo cái nhín hằn học:
- Ông nầy coi dễ ghét… Hỏi dai như đỉa!
- Tôi nhắc anh: – Nhu nói – Ai cho tin, ai giao súng?
Phúc không trả lời, lầm lì hẳn. Nhu bực dọc, đứng lên đi lại quanh phòng.
Ở máy nói, Luân cầm ống:
- A lô! Luân đây, ai đấy?… À! Đại sứ Mỹ mời tôi hả? Cô nói giùm: Tôi sẽ đúng hẹn chiều nay… Việc thế nào à? Đặt sát ống nghe vào tai nhé…
Luân hôn thật kêu trong máy. Tiếng người con gái cười phấn khởi, to đến nỗi anh nhân viên đứng khá xa cũng nghe thấy và cười lây.
Trở vào phòng, Luân bắt gặp Nhu vẫn tiếp tục đi đi lại lại, mặt đăm đăm:
- Đại sứ Mỹ muốn biết kết quả cuộc hỏi cung sáng nay của anh. Tôi nói sẽ xin ý kiến anh. Ông ta hẹn với tôi chiều nay gặp ông ta. Có vẻ ông ta muốn làm quen với anh Phúc…
- Làm quen với anh Phúc? – Nhu hỏi vặn. Rồi anh ta ngồi vào ghế tư lự.
- Mục đích của tôi hôm nay là làm quen với anh. – Luân bảo Phúc – Tôi nói rõ để anh khỏi băn khoăn. Ông cố vấn không định dụ dỗ, mua chuộc anh. Tôi tin anh hành động với một lý tưởng nào đó, có thể sai, song là lý tưởng. Nghĩa là anh hành động không vì tiền, anh không phải là một kẻ bắn mướn. Tôi cũng tạm cho anh chấp hành lệnh của tỉnh ủy Việt Cộng Tây Ninh, song tôi muốn biết bằng cách nào tỉnh ủy nắm được tin tức tối mật, ai cung cấp súng, ở Ban Mê Thuột hay chỗ khác. Nếu ở chỗ khác thì bằng cách nào anh đưa súng an toàn lên Ban Mê Thuột. Tại Ban Mê Thuột, anh giấu súng ở đâu? Còn trái lựu đạn, ai cấp cho anh? Vì sao anh không ném trái lựu đạn đó?
Phúc ngắt lời Luân:
- Các câu hỏi khác, ông tìm ông Năm Xếp mà hỏi. Về trái lựu đạn, tôi không quẳng vì quẳng là chết dân.
- Kể ra anh còn chút lương tâm, tôi khen anh… Luân nói tiếp – Bàn tay nào trong chúng tôi liên lạc với tỉnh ủy. Cái mà chúng tôi cần là chuyện đó, chuyện nội bộ của chúng tôi. Mạng sống của anh sẽ được đảm bảo, nếu anh nói sự thật. Chúng tôi không cần anh khai cơ sở của Việt Cộng, khỏi kể nơi nào là tỉnh ủy đóng, ai là tỉnh ủy viên.. Ai? Tướng hay tá, quận hay tỉnh trưởng, công an hay dân sự… Ai trong chúng tôi làm việc cho các anh?
Phúc lơ đãng ngó Luân. Không có vẻ gì anh sẽ khai.
Nhu xem đồng hồ tay:
- Anh đã nghe kỹ các câu hỏi của thiếu tá. Tôi kỳ hạn cho anh ba hôm. Giữa chừng, anh cần nói với tôi thì báo cho nhân viên nhà giam, tôi sẵn sàng…
- Hôm nay, lần đầu tôi gặp anh. Sau nầy ít có dịp. Ông cố vấn sẽ làm việc với anh. Ông cố vấn không dễ dãi như tôi đâu, anh nhớ cho. Chớ có dại dột! – Luân dặn Phúc bằng lời và ánh mắt.
Hai người rời khỏi nhà giam. Nhu rõ ràng thỏa mãn…
*
Dung đón Luân trong nhà. Cô không muốn để Thạch, Lục và chị Sáu bắt gặp cô khóc – sẽ là một thứ bằng chứng tố giác cô và Luân.
Luân bước vào, ném người xuống ghế. Cân não bị động viên đến độ cao, bây giờ, Luân rã rời. Dung sà vào Luân, một xót xa chợp ụp tới trong cô. Không thể kiềm chế được, cô khóc thút thít, vén mớ tóc lòa xòa trên trán Luân và hôn tới tấp lên đôi mắt mệt mỏi của anh.
- Anh mệt lắm không?
Luân chợt ghì đầu Dung vào ngực anh. Dung nghe rõ nhịp tim Luân.
- Cô lo lắm, phải không? – Luân hỏi nhỏ, anh đã thấy đôi mắt đẫm ướt, nặng trĩu của người bạn gái. Luân âu yếm lau nước mắt cho cô. Luân và Dung ngồi yên như vậy khá lâu… Thần kinh cả hai giãn dần…
- Anh làm rối tóc em hết trơn hết trọi!
Dung bật dậy khi chị Sáu mời họ dùng cơm, sửa lại mái tóc, nũng nịu với Luân bằng giọng Nam Bộ chưa nhuần.
- Bữa nay cô Hai làm bếp đó! - Chị Sáu giới thiệu bữa cơm hơi khác ngày thường, có món gà lá chanh mà cũng có lươn um.
- Cô Hai nói là cô phải tập nấu món Nam, nhưng lâu lâu chen món Bắc cho thầy Hai ăn lạ miệng, ăn ngon… - Chị Sáu nói tiếp, xởi lởi, như chia sẻ niềm vui với hai người.
Dung đang xới cơm cho Luân, thẹn quá, má đỏ bừng.
- Nói thiệt, thầy Hai có phước lắm! Cô Hai đây lịch sự, lại hiền…
- Em nhờ chị dạy cho, em vụng về lắm… - Dung ấp úng.
Không phải Luân không biết Dung, hễ rỗi rảnh, là mài miệt đọc các sách dạy nấu ăn. Sự chuẩn bị “có vẻ rất tự nhiên” của cô gái Hà Nội lại là niềm hạnh phúc của Luân.
Anh gắp miếng thịt gà, chấm muối tiêu chanh, khen: Ngon!
- Lần sau, em sẽ xé phay gà… Em biết làm rồi!
Bữa ăn đó, lần thứ nhứt, Luân và Dung nâng ly rượu vang Bordeaux chúc mừng nhau.
- Cái trò gọi điện thoại nửa chừng của cô, kể ra cũng hay! - Luân thủ thỉ khi ở bàn ăn còn lại hai người – Tuy do Mỹ điều khiển, song Nhu có mặt độc lập tương đối của hắn. Làm rùm beng lên là tốt!
- Em suy tính mãi. Anh đi rồi, em bỗng nhớ đến “lá bùa hộ mệnh” mà anh nói.
- Tôi bảo cái trò cô hay với điều kiện cô không lộ ra sự hốt hoảng với Rheinardt!
- Đời nào! Em xin nói chuyện với bà đại sứ tại nhà riêng của họ, hỏi thăm sức khỏe như thường lệ. Bà đại sứ trao ống nói cho chồng… Tất nhiên ông ấy hỏi thăm anh. Em báo tin, anh và ông Nhu sang tổng ủy tình báo gặp hung thủ bắn ông Diệm. Đại sứ quan tâm đặc biệt vụ đó, và dặn anh cho một cái hẹn… Thế đấy!
- Cho cô điểm trên trung bình! – Luân cười.
- Anh thuật cho em nghe việc gặp anh Phúc. Em sợ quá.
Luân kể tỉ mỉ việc xảy ra.
- Anh Phúc cừ lắm! – Luân kết luận – chính anh ấy góp công làm cho vở kịch của chúng ta thêm hoàn hảo. Nhìn anh ấy, tôi muốn ôm hôn… Bằng mọi giá, phải cứu mạng sống ảnh. Dân tộc ta, Đảng ta đã tạo ra những anh hùng vĩ đại!
Dung lặng nghe, hồi hộp, phấn chấn theo câu chuyện. Anh Phúc quả là anh hùng. Nhưng… anh Luân của cô đâu có kém!
- Anh Phúc còn phải đối phó với rất nhiều câu hỏi. Về khẩu Mas-49 là một. Anh bảo vệ chúng ta, anh bảo vệ tỉnh ủy, những người cộng sự với anh và, bây giờ thì tôi tin dứt khoát rồi, anh bảo vệ viên quận trưởng Gò Dầu!
- Tức là người giống đồng chí liên trung đoàn trưởng, có lần anh nói với em?
Luân gật đầu. Điện thoại reo. Dung nghe.
- Vâng! Tôi là Thùy Dung… xin lỗi, ông là ai? Nguyễn Thuần?…. Tôi không nhớ… À, tôi nhớ ra… Ông để khi khác, hôm nay tôi và anh Luân tôi bận…. Vâng, tôi nhớ địa chỉ của ông rồi. Không có chi. Tôi quên mất sự việc đó, có lẽ ông cũng đừng bận tâm. Vâng, chào ông…
Dung gác máy, trở lại bàn ăn:
- Gã đại úy phi công đó!
Dung đã thuật lại cho Luân nghe chuyện đêm dạ hội ở biệt điện, khi Luân đi Buôn Hồ về.
- Anh ta nói cái gì?
- Gã xin lỗi em là đã sỗ sàng. Gã hối hận. Gã muốn gặp em và anh để nói một chuyện. Theo gã, là để em và anh hiểu gã. Hành động của gã đêm hôm đó không từ thâm tâm gã v.v…
Luân trầm ngâm một lúc:
- Cô nhớ địa chỉ của anh ta. Có thể thêm một trò khiêu khích. Và có thể đúng như anh ta nói…
- Được rồi! – Dung nũng nịu – Em cấm anh từ giờ tới sáng ma, không được nghĩ ngợi gì đến công việc… Chiều nay, hai đứa mình đi chơi đâu đó, đêm xem phim. Có hai phim hay, Napoleon màu hai tập, của Sacha Guitry và ông ta đóng luôn vai Tayllerand, chiếu ở Eden; phim kia là Sciuscia, của Victorio de Sica chiếu ở Đại Nam, báo chí coi đây là thành công của trường phái “hiện thực mới”…
- Đồng ý! – Luân kêu lên vui vẻ - Cô thích phim nào, tôi thích phim đó!
Dung, đã mang tạp dề, dọn dẹp bữa ăn, thùy mị như một cô dâu Nam Bộ…
*
Quyến đến chào Luân. Ngày mai, cậu ta lên Đà Lạt, vào trường võ bị. Từ ngày về Thành, hôm nay cậu ta mới đến nhà Luân.
- Em không thích! – Quyến nói rầu rầu.
- Sao? – Luân hỏi, giọng ngạc nhiên.
- Học làm gì! Cho em tiếp công việc bây giờ, còn đỡ đần anh được ít nhiều…. Vả lại…
- Chú xin ra khu phải không? – Luân hỏi, không vui
- Chớ nếu anh không cần em thì cho em ra khu… Ở với tụi nó, em chịu không thấu… - Quyến rên rỉ.
- Tôi không dè chú mềm yếu như vậy. Nhiệm vụ của chúng ta còn dài lâu. Mỗi người phải cố gắng. Chú tưởng tôi sướng lắm sao? Cách mạng cần mới giao cho chúng ta công việc phức tạp nầy. Chú là đảng viên mà không bằng thằng Sa.
- Anh giao cho em công việc của thằng Sa, em mà bợn, anh xử tử em! – Quyến vẫn nói dỗi.
Luân bỗng thấy thương Quyến vô hạn. Anh nắm vai cậu ta:
- Tôi thông cảm với chú. Nhưng, đây là quyết định của tổ chức. Không phải người nào cũng tạo được thế hợp pháp tốt như chú, thiếu úy cảnh sát Lê Ngân.. Trước mắt, chú phải dấn lên theo cái đột phá khẩu đã mở đó. Tốt nghiệp, chú có thể lên cấp đại úy… Từ nấc đại úy, chú cố mà lên nữa… Phải đóng cho thật cứng vai phần tử Quốc gia chống Cộng, cuồng tín cũng được, nhưng chống Cộng có trí tuệ…
- Vậy thì chừng nào em ra khu?
- Ra khu?
- Chớ bộ ăn đời ở kiếp với tụi nó sao?
Luân vụt cười:
- Chừng nào chú đeo lon tướng thì chú ra khu!
- Trời đất! Tướng ngụy! - Quyến la thất thanh.
- Chú phải sang học ở Mỹ! – Luân bồi thêm – Chỉ bằng cách đó, chú mới làm lợi cho Đảng, cho nước.
- Phải biết vầy, em đâu có theo anh ra Thành!
Quyến nói xuôi xị, song giọng nói đã bớt gay gắt.
- Chú đừng liên lạc với tôi hay với Sa…. Lo học. Tất nhiên, nếu yêu ai đó mà là người tốt thì cứ lập gia đình như thiên hạ…
- Còn anh? Bao giờ anh chị làm đám cưới?
Luân cười:
- Không mời chú đâu, đừng hỏi!… Đã đặt quy ước liên lạc với anh Sáu Đăng chưa?
Quyến gật đầu…
Ở phòng riêng trong dãy nhà ngang, Lục đang nghe buổi phát thanh ca nhạc của đài Hà Nội, qua một ống nghe nhỏ.
“Cầm lá thiếp nầy, lòng hướng vô Nam…”
Bài “Tình trong lá thiếp” của Phan Huỳnh Điểu thiết tha, lắng đọng…

CHƯƠNG 17

So với Huế mà Luân từng qua lại nhiều lần, sống nhiều ngày trước Cách mạng tháng Tám, bề ngoài Huế thay đổi tuy chậm song rõ rệt. Bờ phải sông Hương dần dần khóac chiếc áo hiện đại với con đường dọc sông rộng thoáng và với những ngôi nhà cao tầng quét vôi – thật sự chưa hài hòa trong một không gian vẫn đậm nét xa xưa. Cái màu xam xám của khu hoàng thành bên bờ trái sông chầp chờn như cố chứng minh một sức sống nào đó không chịu lui về vị trí di tích, nhưng lại phơi bày nỗi bất lực. Kỳ đài bị sụp trong xung đột Việt – Pháp đầu năm 1947, tuy được hội đồng chấp chính Trung phần khôi phục, vẫn trơ trọi, buồn bã.
Cơn sóng phế hưng hủy phá đất Thần kinh hơn đâu hết. Cái ẻo lả của cành liễu, lững lờ của dòng Hương Giang và da diết của giọng hò mái đẩy không đương cự nổi với trùng trùng lớp lớp biến thiên – càng về sau càng hung hãn. Kể từ khi vua Anh Tông nhà Trần, vào những năm đầu thế kỷ XIV thiết lập cơ chế hành chính châu Hóa – bên nầy và bên kia đèo Hải Vân, vốn là châu Lý mà Chế Mân đổi lấy công chú Huyền Trân – trải buổi thịnh suy của các chúa Nguyễn, triều Tây Sơn, vua Nguyễn. Chưa bao giờ Huế đứng trước những thử thách ghê giớm như mấy chục năm trở lại đây. Tất nhiên, Huế hiên ngang trong cơn bùng dậy mãnh liệt mùa thu 1945 và đã tồn tại với tư cách đó suốt một năm rưỡi trời, nhưng những người làm ra một Huế như thế không phải là những người định đoạt cuộc sống của Huế 10 năm qua. Trước kia, Huế dưới ách của “hùm xám” Phan Văn Giáo. Bây giờ, đến ách của cụ “Cố Trầu”…
Trời tháng 3 không âm u, song từ trường bay Phú Bài về trung tâm thành phố, Luân và Dung tiếp xúc lập tức với một bầu không khí nặng nề, trên 14 cây số ngắn ngủi ấy.
Mới lần đầu đặt chân lên cố đô, Dung lặng lẽ quan sát. Cô cảm thấy một cái gì man mác, bùi ngùi dù cho đoàn công xa nối đuôi như bất tận, tung bụi mịt mù. Bởi vậy, cô khen nức nở mấy đoạn thơ của Đông Hồ mà Luân thuộc lõm bõm:
“Dòng nước sông Hương chảy lặng lờ.
Ngàn thông núi Ngự đứng như mơ
Gió cầu vướng áo nàng Tôn nữ
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ…

Lá liễu lơ thơ mưa thúy dịch
Bông đào e ấp gió đan đình
Vàng xây ngọc dựng đền vương bá
Một ảnh tàn xuân nỗi mỏng manh…”
Ngồi chung xe với hai người, ngoài Thạch – anh chàng ít nói, mà hễ nói thì khen che từ góc độ ruộng đất tốt xấu, người lành rách – còn một thiếu úy, tên Đặng Sỹ, một con người cao lêu đêu và lạnh lùng hơn cả cố đô. Từ Phú Bài về đến thành phố, anh ta im ỉm.
Xe qua nhiều ngôi chùa tuy nhỏ mà cổ kính, Dung trầm trồ:
- Đẹp quá! Chùa tên gì, hở anh?
Luân không nhớ tên chùa. Đặng Sỹ cau mày:
- Ở Huế, không thể nhớ hết tên chùa. Chùa nhiều hơn nhà thờ, không tốt!
Luân mỉm cười, Dung cãi liền
- Tại sao không tốt?
- Thưa bà thiếu tá, nhiều chùa có nghĩa là nhiều ổ Việt Cộng!
Dung lắc đầu:
- Tôi không tin như thế!
- Thưa bà, tôi nói điều đó với tư cách môt sĩ quan chịu trách nhiệm an ninh công cộng ở tỉnh Thừa Thiên. Nếu tổng thống ra lệnh, tôi cam đoan không dưới 1.000 sư bị nhốt, ra tòa…
Dung vẫn hoài nghi – một hoài nghi thích thú:
- Lẽ nào đông đến thế?
- Tôi đã giảm con số đến mức thấp nhất. Ngoài sư, ni, còn cư sĩ, tín đồ…
- Thưa bà, Huế bị tràn ngập! – Đặng Sỹ nói với giọng hập hực.
- Nếu thiếu úy nói đúng, ta phải làm sao? – Luân hỏi.
- Thưa thiếu tá, đó là việc ngoài quyền hạn của một sĩ quan an ninh địa phương. Thiếu tá trong tham mưu biệt bộ, kề cận tổng thống, nhất định rõ hơn tôi về việc phải làm…
- Thiếu úy muốn dùng xe tăng với Phật tử? – Luân châm biếm.
- Tất nhiên, không loạt trừ xe tăng! – Đặng Sỹ dứt khoát. Luân kinh ngạc, chăm chú nhìn anh ta.
- Nhưng chúng ta cũng có nhà thờ! – Luân thăm dò.
- Chừng nào tất cả tượng Phật được thay bằng tượng Chúa, Huế và Thừa Thiên mới thật sự an toàn!
Luân không tranh luận với Đặng Sỹ nữa. Té ra, không có khẩu Mi Mas trên cao nguyên. Đất Thần kinh nổi tiếng hiền lành vẫn uy hiếp “chế độ”. Có điều, một khẩu Mi Mas hỏng hóc, còn hằng vạn con người, không phải là máy, biết lúc nào nên nổ và nổ ra trò.
Bỗng nhiên, Luân nhận thức rằng Huế không chỉ là cố đô, không chỉ biểu tượng bằng Tử cấm thành và Phu Văn lâu…
*
Được điện mật từ mấy hôm trước báo tổng thống, giám mục, cố vấn Ngô Đình Nhu và thân tộc sẽ về Huế, cậu Út Cẩn vẫn coi như chẳng có gì phải bận tâm. Thì họ về, chi mà lăng xăng! Cậu không ưa bà chị dâu lắm tai tiếng. Thật ra, cậu chẳng để ý lắm về đức hạnh của Trần Lệ Xuân, bởi cậu cũng có hai con không chính thức phải gán làm con nuôi bà Cả Lễ. Cậu ghét thói làm kinh tài phỗng tay trên của Lệ Xuân.
Quan viên to đầu sở tại, trái lại, sợ quá chừng. Nếu tổng thống, đức giám mục, ngài cố vấn và phu nhân giận cá chém thớt thì sao? Ai đời, tổng thống vinh quy mà nhà không trang hoàng, đường xá không sửa sang, việc tiệc tùng chưa đâu ra đâu, còn nơi nghỉ, nơi chơi của cả bộ sậu trăm người là ít – thì chắc bị dần đến mềm xương. Bởi vậy, đại biểu chính phủ ở Trung phần, tỉnh trưởng Thừa Thiên, thị trưởng Huế phải lòn cửa hậu bẩm với tổng đống phu nhân Ngôi Đình Khôi và nhờ tổng đốc phu nhân đạo đạt lên cụ cố, xin cho nhân viên vào khu nhà riêng - một dinh cơ kín cổng cao tường, vừa là từ đường họ Ngô Đình, vừa nơi ở và làm việc của ngài cố vấn chỉ đạo các đoàn thể miền Trung, cách nhà thờ Phú Cam 200 thước – để quét dọn, treo đèn, bày hoa. Cậu Út Cẩn miễn cưỡng đồng ý:
- Bọn mi mần chi thì mần, song nhà tao chật chội, tao với cụ Cố, chị tổng đốc ghét ồn ào. Bọn mi dọn tòa đại biểu chính phủ để ông bà cố vấn ăn ở, riêng anh tổng thống tao, nếu ảnh ưng thì ở đây, trong ngôi nhà mới xây đó… Anh giám mục tao chắc về Phú Cam.
Sáng hôm sau, trước ngày gia đình tụ hội, cậu Cẩn vẫn dùng thì giờ như cậu đã dùng từ khi họ Ngô Đình giành được quyền bính. Tờ mờ, cậu vào phòng vấn an mẹ, rồi sang vấn an chị dâu. Thói quen mới tập vài năm, tuy bực bội song vẫn được đền bù: nhà Ngô Đình nổi tiếng nào văn hay, nào đạo cao, nào học rộng, nào đủ tài kinh bang tế thế, thì cậu cũng phải nổi tiếng một đứa con chí hiếu, một đứa em chí thành. Bởi vậy, cậu không dám công khai nhận hai giọt máu của cậu – anh Thục của cậu hiến mình cho Chúa, anh Diệm hiến mình cho nước, cậu không lấy vợ bởi cậu đã nguyện hiến mình cho nhà – ngoài cái lẽ bà thượng thư, mẹ cậu không thể nào chấp nhận nổi một con ở dở hơi y như cậu, nhan sắc xấp xỉ cậu làm dâu họ Ngô Đình.
Xong chuyện “thần thỉnh mộ khang” rồi, cậu Út Cẩn ra vườn. Khu vườn rộng như một thảo cầm viên nho nhỏ. Con két trong lồng ré lên “Tui mét cậu Cẩn! Tui mét cậu Cẩn!” Cậu cười sặc sụa, phun cả cổ trầu vấy lem chiếc áo bà ba cổ bâu.
- Chu cha, mi khôn hỉ!
Cậu phì phà điếu thuốc lá quấn sâu kèn to bằng ngón ta, cho thức ăn vào lồng két. Quanh cậu, hàng trăm lồng đủ cỡ, sơn phết màu mè.
Rồi, cậu sang cũi trăn. Những con trăn to, cuộn tròn, ưỡn ẹo, cạnh đống trứng gà mơn mởn. Cậu tiếp bước theo con đường rải sỏi, giữa hàng hoa rực rỡ, dưới tàn cây còn đọng sương.
Cậu thỏa mãn. Các anh cậu xông pha đây đó, cậu chỉ thích mảnh vườn, ngôi nhà cổ với mùi mốc nằng nặng.
- Con chào ông cố vấn chỉ đạo!
Ngô Đình Cẩn không ngoảnh lại, dù tiếng chào gần như đột ngột.
- Hỉ? Thằng Đông hỉ? – Cậu mải trẩy mấy lá khô trên cành cây mãn đình hồng – quà của viên tỉnh trưởng Quảng Trị.
Một người vận Âu phục loại hàng đắt tiền, màu xám tro, nghiêng mình:
- Thưa, xong xuôi…
- Như ri mà xong xuôi? – Cẩn vẫn chăm chú cành cây – Giống ni trồng khó. Mi hỏi cho tau cách trồng…
- Thưa ông cố vấn chỉ đạo để đó cho con… Còn vụ đó, đêm hôm…
- Ừ! Cái khách sạn mi đừng để tên tau. Để tên chị tổng đốc, được không?
- Thưa, được!
- Khen mi mau chân lẹ tay đó! Mi về!
Sau tiếng “Dạ” nho nhỏ, người bận Âu phục rón rén theo các lối quanh co của khu vườn, mất dạng.
*
Nhà thầu Nguyễn Đắc Phương đang thoi thóp. Ông bị đánh bằng gậy sắt đến gãy xương đùi, xương vai. Trên tầng lầu khách sạn Soar, cửa sổ che màu kín như bưng, ba người ngồi quanh thân thể đẫm máu của ông Phương, nốc những ly Whisky sec, nhắm đậu phộng rang. Đã quá nửa đêm. Trên bàn, một tờ cung viết sẵn, nhưng chưa có chữ ký.
- Tóe nước vào nó để nó còn ký tên trước khi chết chứ! - Phan Quang Đông ra lệnh.
Nhà thầy Nguyễn Đức Phương tỉnh dần. Ông từ từ mở mắt, rên khẽ:
- Đau quá, trời ơi!
- Mầy là gián điệp Pháp. Mầy buôn á phiện… Mầy… Thôi, bấy nhiêu là đủ. Mầy ký tên vào đây.
Phan Quang Đông nhét cây bút vào tay nhà thầu, chìa mảnh giấy. Ông Phương không còn cử động được. Và, trong một cái hắt hơi, ông lịm đi.
- Nó chết rồi! – Một tên nói.
- Chưa! – Một tên khác ghé tai nghi tim ông Phương.
- Mặc bố nó! Thằng lì gớm! Tao khuyên nó nhường vụ sửa điện Thái Hòa cho bà Cả Lễ, như ý ông cố vấn, nó một mực không nghe. Đáng đời! Đồ ngu… Nào! – Pha Quang Đông vẫy đồng bọn…
Ông Phương chợt hồi tỉnh:
- Cho xin chút nước!
Từ trên cửa sổ tầng lầu bốn, một bóng người rơi thẳng xuống đất, tiếp theo là tiếng hô hoán náo động:
- Phạm nhân tự sát!
*
Lễ mừng tổng thống bình an long trọng hơn cả lễ mừng thọ Bảo Đại khi ông nầy chưa bị phế truất. Mặc dù tổng thống đã ban lời khuyên “nên theo gưong người xưa hết sức giữ chữ tiết kiệm”. Con đường từ thành phố lên Phú Cam chen chúc các loại xe; không chỉ của miền Trung mà toàn miền Nam. Hàng không dân sự, quân sự tăng chuyến. Tận vịnh Thái Lan, linh mục Nguyễn Lạc Hóa vẫn có mặt, có cả tướng Lê Văn Kim từ Tây Nguyên, trung tá Hồ Tấn Quyền từ các tàu tuần, còn tỉnh trưởng, quận trưởng. Nhà thờ Phú Cam cũng đông nghịt – đức giám mục cử hành lễ tạ ơn cho mẹ, cho em và cho bản thân. Phái đoàn chính phủ do phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, phái đoàn quân đội do đại tướng Lê Văn Tỵ cầm đầu.
Khuôn viên nhà thờ họ Ngô Đình – đáng lý ở Đài Phong, thuộc Lệ Thủy, song đó lại là vùng Bắc Việt kiểm soát nên dời vào Huế - náo nhiệt lạ thường. Ngày lễ chính đồng thời cử hành tại đây và tại nhà thờ Phú Cam. Tại đây, theo tục Nho, ở nhà thờ theo phép đạo. Cả thành Huế treo cờ. Tổng thống quở: đã bảo đừng làm quá. Song, chính tổng thống lại ban khen quan chức địa phương. “Họ mừng lãnh tụ thoát nạn, mừng cụ cố thêm tuổi và giám mục thêm tuổi, âu cũng là sự thường”. Tổng thống hả lòng hả dạ.
Cụ cố bà 86 tuổi, ngồi trên sập gụ kê xéo nhà – nơi ngày xưa cụ ông vẫn ngồi – tựa lưng vào gối. Tổng thống ngồi giữa nhà trên chiếc ghế bành gỗ trắc chạm trổ công phu, trong bộ quốc phục. Giám mục ngồi trên một chiếc ghế bành kê cạnh đấy. Ngô Đình Cẩn vẫn bộ bà ba, nhai trầu bỏm bẻm, ngồi cạnh mẹ. Ngồi cạnh bà Ngô Đình Khả còn có vợ chồng Ngô Đình Khôi. Số còn lại đừng sau lưng cụ cố - kể cả Ngô Đình Nhu và vợ.
Diệm nhìn khắp lượt. Cơn sốt hãnh diện chạy rân trong cơ thể ông. Dòng họ Ngô Đình chưa ai tạo được cảnh nầy. Đại Nam hoàng đế chưa bao giờ thiết đại triều uy nghiêm đến thế.
Bà Ngô Đình Khả đã quá già để suy tính. Dẫu sao, bà ta cũng mãn nguyện. Bà gật đầu đáp lễ, sức dường như được tăng thêm. Giám mục tươi cười. Nhà thờ Phú Cam, bằng một lời kêu gọi các thương gia của ông, sẽ trở thành nhà thờ lộng lẫy nhất Thừa Thiên, hoàn thành vào tháng 10 sang năm, nhân lễ Ngân Khánh của ông, tròn 20 năm ông thụ phong giám mục. Nay mai, ông sẽ kêu gọi mở hẳn một giáo khu vùng La Vang Quảng Trị, nơi tiếp giáp Bắc Việt Cộng sản. Ngô Đình Cẩn thích thú với bài toán cộng các lễ vật phải dùng hẳn một nhà mới xây làm kho.
Ngô Đình Nhu trầm lặng. Anh ta biết thưởng thức quyền uy, biết hả lòng về cảnh tượng ngày hôm nay. Song, anh lo. Tổng thống như người ăn đến độ không còn ăn được nữa – chí tiến thủ lần lụt dần. Đó là một nguy cơ. Nhu nghe dư luận về anh giám mục, về chị Cả Lễ, về đứa em út, quanh các vụ buôn bán, độc quyền. Cả vợ anh nữa. Phải làm sao giữ cái tột đỉnh nầy miên viễn. Anh chợt nhớ bài thơ của vua Minh Mạng. Liệu rằng họ Ngô Đình lại còn mỏng hơn họ Nguyễn Phúc không?
Trần Lệ Xuân khôn khéo như một người dâu thuần hóa đến mức chỉ biết vâng, dạ. Mụ tìm chỗ dựa và tìm được ngay. Bà mẹ chồng già nua quên lẫn, hài lòng về con dâu biết chiều chuộng. Chính Lệ Xuân đang quạt – bằng chiếc quạt lông công – cho mẹ chồng. Hơn nữa, mấy đứa con của Lệ Xuân là cái mộc che chở cho mụ trước sự gièm pha của bất kỳ ai.
Những gì gây ít nhiều khó chịu cho đại gia đình trong ngày đại lễ lại là tính tự do quá lộ liễu của Ngô Đình Luyện. Anh ta ra Huế bằng ô tô, cặp kè với một cô gái nhảy nổi tiếng “bốc lửa”, ngụ tại khách sạn Morin, tạt vào nhà một thoáng rồi biệt mất. Nhưng Luyện không dính với những tranh chấp tiền nong, và do đó, người ta chóng quên anh ta.
Nguyễn Thành Luân và Hoàng Thị Thùy Dung góp mặt trong gia tộc Ngô Đình hoàn toàn gượng gạo nhưng lại được săn đón chu đáo, ít ra là về bề ngoài. Thế mạnh đó một phần do vị trí của đức giám mục – đến bà cụ cố còn phải gọi con đẻ mình là “đức cha” kia mà! Phần khác do tổng thống – ông dành cho Luân một sự đãi ngộ khá đặc biệt, nửa đối với đứa cháu, nửa đối với một cộng sự có tài. Phần do Nhu, Lệ Xuân, Luyện và Trần Trung Dung cũng quan trọng: họ là bạn bè. Phần sau cùng do chính Luân và Dung. Cả hai đều nghiêm trang và cả hai đều giữ khoảng cách vừa phải với mọi người, trước bàn thờ Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi cũng như trước bà cụ cố và những người khác, Thùy Dung được cảm tình khá nhanh: dịu dàng, đoan trang, ít nói. Đến như cậu Út Cẩn mà phải thốt:
- Rứa mới là con dâu họ nhà tau!
*
- Tôi cám ơn các ông, các bà đến chia vui với tôi sau tai biến. Chúa luôn phù hộ chúng ta.
Tổng thống Ngô Đình Diệm đáp lễ mọi người, cố giữ giọng bình dân tuy vẫn ngồi trên ghế bành.
Một nữ phóng viên – Helen Fanfani – len lỏi giữa quan khách, bấm pô ảnh lúc tổng thống nói.
Có lẽ chỉ có bốn người – Luân, Dung và hai anh em Nhu, Luyện – hiểu ý nghĩa bức ảnh sẽ công bố: Fanfani gợi cho độc giả tờ Financial Affairs sự liên nghĩ giữa tổng thống Diệm và một nhà độc tài nào đó, hơn nữa, một ông vua nào đó.
Hôm nay, Diệm rất vui. Điều ít xảy ra là ông hỏi Fanfani:
- Cô nhà báo dùng máy hiệu chi? Không có flash liệu chụp được không?
Khách khứa được mời ngồi ở các bàn kê trong vườn. Bữa tiệc bắt đầu. Dung, như đứa cháu dâu, bận chăm lo mời mọc. Luân cũng vậy, Fanfani đến gần Luân:
- Tôi muốn hỏi ông kỹ sư một việc…
- Sẵn sàng! Tuy vậy, cuộc nói chuyện có thể bị đứt đoạn, – Luân cười – vì tôi đang là “chiêu đãi viên”!
- Không sao! Ta nói ngắn thôi. Bây giờ, thật bất tiện nếu chúng ta nói dài, phải không? – Fanfani nháy mắt, hướng về Dung – Theo ông, hai phát tiểu liên ở Ban Mê Thuột có thể được coi là dự báo không?
- Chúng ta đã nói chuyện ở nhà thờ Đức Bà!
- Đó là tôi nói. Chưa phải chúng ta. Còn ông?
- Tùy theo cách hiểu của mỗi người về sức nổ của hai viên đạn đó. Nó là hai viên đạn tiểu liên Mas-49 cỡ 7,65. Bé, rất bé.
- Song tiếng nổ khá to!
- Rồi, sao nữa?
- Ông đã thấy, nếu người bắn là một Việt Cộng, nó chứng tỏ Việt Cộng là một cái gì đó không giản đơn ở miền Nam. Nếu người bắn thuộc cánh Quốc gia bị quét, nó chứng tỏ ông Diệm quét còn sót đến cả những khẩu tiểu liên! Nếu người bắn là nhân viên của chế độ, ông nghĩ sao? Nguy hiểm trăm lần!
- Và nếu người bắn là quân nhân, mức nguy hiểm lên nghìn lần, phải không?
- Đúng! - Fanfani đồng ý – Tiếng nổ đã tắt nhưng dư âm cứ tỏa ra, độ vang nhân lên…
- Tôi chưa nói hết. – Luân cười mỉm – Sau chót, nếu tiếng nổ là tín hiệu xanh của CIA – không chính thức, tất nhiên, thì đó là bom nguyên tử!
- Chưa phải lúc đại sứ Rheinardt bật đèn xanh!
- Tôi tin phán đoán của cô! Nhưng, người Mỹ hình như bắt đầu chăm sóc tổng thống nước chúng tôi cẩn thận hơn trước. Bằng chứng là cô Helen Fanfani chịu khó lặn lội ra Huế săn tin, săn ảnh ở một cuộc lễ không có giá trị đối với dư luận Mỹ…
- Chưa chắc đã không có giá trị. - Fanfani cười nửa miệng.
- Xin lỗi cô… Tôi phải đi làm phận sự. - Luân trở lại một bàn ăn mà các ly rượu đều cạn…
Fanfani vừa buông Luân đã bắt chộp ngay giám mục. Giám mục rời bàn hình như định đi lại chỗ của Nguyễn Đôn Duyến, đại biểu chính phủ ở Trung phần. Fanfani mở máy ghi âm:
- Thưa đức cha, con xin đức cha một phút!
Và, không đợi giám mục đồng ý hay không, cô hỏi luôn, bằng tiếng Anh:
- Có phải ngôi giám đường Phú Cam dựng lên do sáng kiến của Đức cha?
- All right (1)! – Giám mục trả lời bằng tiếng Anh, với vẻ tự hào – Đấy là nơi tôi chào đời. Tôi phải trả ơn Chúa!
- Thưa đức cha, có phải các thương gia Huế bỏ tiền ra xây nhà thờ, sau khi được đức cha gợi ý?
- No! It is one invecture (2) những tín hữu hảo tâm và họ tự nguyện – Giám mục từ hớn hở chuyển ngay sang thái độ bực mình.
- Theo các tin tức, – Fanfani vẫn bám chặt - Giám mục phát thiệp mời khách dự một bữa tiệc, giá mỗi thiệp là 5.000 đồng…
- Tôi đã nói với bà đó là luận điệu của Cộng sản! – Thục toan bỏ đi.
- Xin đức giám mục cho một phút nữa. – Fanfani nằn nì – Người ta đồn đức cha vận động Vatican và sức ép của chính phủ Việt Nam, để được làm tổng giám mục Sài Gòn…
Ngôi Đình Thục đỏ mặt. Ông chưa biết phải làm sao thoát nạn thì Luân đã giúp ông:
- Việc gì phải vận động? Cô nhà báo nên nhớ, đức cha thụ phong giám mục còn một năm nữa là 20 năm. Một trong ba giám mục Việt Nam có niên hạn cao nhất… Vả lại, hôm nay chúng tôi họp gia đình, việc chính trị và việc công mời cô dịp khác!
Fanfani mím môi. Giám mục cười giả lả:
- Xin kiếu cô. Tôi có chút việc.
Ông bỏ đi. Fanfani liếc xéo Luân, rồi chạy lại góc nhà nơi Diệm và Cẩn đang xăm xoi một chiếc xe kéo đặt trên bệ. Đây là loại xe dùng cho các quan. Nửa thế kỷ tồn tại, chiếc xe kỷ vật vẫn còn đẹp mã – những miếng đồng sáng loáng.
- Em chùi đó! – Cẩn khoe.
- Thấy xe, tôi nhớ thầy. Thầy ngồi xe vào Đại nội – lúc đó, tôi còn bé, nhưng sau nầy mụ vẫn nhắc. Anh Cả nhà ta từng dùng nó. Rồi đến tôi… Chú chăm sóc nó là phải!
Diệm vuốt ve càng xe. Một tiếng động nhỏ, ông nhìn ra: cô phóng viên đã chớp được cái ảnh lạ đó. Diệm đổi sắc mặt. Nhu vừa nhắc ông về cô nhà báo Mỹ nầy: những bức ảnh lúc bình thường coi như vô thưởng vô phạt, nhưng vào một thời điểm nào đó, chúng là những nhân chứng cay nghiệt.
- Thưa tổng thống! – Fanfani xán gần – Xin phép tổng thống…
Diệm xua tay:
- Mời cô, khi chúng ta vào Sài Gòn. Hôm nay, tôi về nhà, không với tư cách tổng thống!
Fanfani chưa bỏ cuộc:
- Vậy, xin phép ông cố vấn chỉ đạo miền Trung..
Ngô Đình Cẩn phun một bãi cổ trầu:
- Tui không ưa nhà báo!
- Dù vậy, tôi muốn hỏi ông cố vấn một câu: Có phải ông thầu khoán Nguyễn Đắc Phương tự sát không? Bản tin của AFP đặt nghi ngờ về vai trò của ông Phan Quang Đông, mật vụ Trung phần và nói xa, nói gần về một vụ tranh giành đấu thầu giữa bà Cả Lễ với ông Phương… - Fanfani nói một thôi dài.
Cẩn hơi tái mặt. Fanfani mỉm cười.
- Nầy, tau bảo cho mi biết… Tau …
Sợ Cẩn hóa rồ, Diệm phải cứu em:
- Cô nghe chi bọn đưa tin nhảm. Tại sao AFP lại dám vu khống Việt Nam Cộng hòa? Cô là nhà báo Mỹ, cô thừa hiểu AFP chưa bao giờ đưa tin trung thực về chúng tôi…
Phan Quang Đông đứng gần đó, ném cho Fanfani một cái liếc sắc như dao. Đông cũng như tất cả quan chức ở miền Trung đều biết tổng thống một mực bao che đứa em út của mình.
- Tội nghiệp chú Cẩn, nó giành cả đời hầu hạ mụ chúng tôi. Trong anh em chúng tôi, nó cơ cực hơn hết, ít học hành, không được đi đây đó. Tánh nó lại thật thà, bộc trực. Cho nên các ông phải hết lòng giúp nó. – Diệm nhiều lần dặn dò quan chức miền Trung như vậy. Ông phóng ra một cái khuôn đánh giá Cẩn và quan chức nào ở Huế gặp Diệm đều rạp theo đó mà xưng tụng cậu Út. Đôi lần Nhu bàn với Diệm đừng để Cẩn dính vào việc cai trị. Lần nào Nhu cũng bị Diệm rầy:
- Em nó ru rú với mẹ, không vợ không con. Thì cũng phải đền bù cho nó cái gì chứ?
Trong trường hợp nầy, tổng thống Diệm suy nghĩ theo quán tính của một hoàng đế.
Khi Nhu nhắc đến các hoạt động kinh tài phi pháp của Cẩn và bà Cả Lễ - nói chung anh ta ít dám đá động mạnh khía cạnh nầy bởi chính Trần Lệ Xuân còn nổi tiếng hơn cả Thục, Cẩn và bà Cả Lễ cộng lại – thì Diệm gạt phắt:
- Chú Cẩn cần tiền để làm gì? Chẳng qua người ta ganh với chú ấy… Chị Cả Lễ cũng vậy. – Rồi, Diệm nói thẳng – Chú có nghe thì cũng lọc lựa sai đúng mà nghe. Đừng để việc trái ý giữa chị dâu em chồng dẫn chú tới chỗ đối xử thiếu công bình trong nhà…
Thường thường, những lần đó, Nhu chỉ thở dài hoặc than với Luân.
*
Ngày mai, họ rời Huế. Sau bữa ăn gia đình ở Phú Cam – trong bữa ăn, Luân hứa sẽ sớm làm đám cưới với Dung – hai người giành buổi tối đi dạo Huế. Họ từ nơi ngụ là tòa đại biểu chính phủ, thả bộ men bờ sông, không lấy Thạch theo.
- Chẳng cần, công an gác đầy đường. – Luân bảo Thạch – Anh có thể tự do tới khuya. Vả lại, chúng tôi đi một lúc thôi.
Thạch cám ơn. Các bạn cùng nghề với anh từ Sài Gòn ra, rủ anh thưởng thức cái thú chơi thuyền trên sông Hương, nhất là đêm nay trăng rất sáng.
Luân và Dung sóng đôi.
- Ra tới Huế, em bỗng nhớ Napoléon Bonaparte. Sau khi đăng quang, một lô em ruột, em rể của ông ta đều được cắt đất phong vương cả… - Dung thủ thỉ với Luân.
- Nhưng mà cô phải thấy Đế chế của Napoléon đủ rộng để chia chác. Còn ở Việt Nam Cộng hòa, sự chia chác kiểu đó đồng nghĩa với sự rút ngắn mạng sống của “chế độ”. Cho nên, cô so sánh với Napoléon là hơi quá đề cao Diệm. Ông ta chưa giống cả vua Nguyễn, là những người có một thời làm chủ suốt ba miền. Ông ta sớm thỏa mãn và có lẽ vận của ông ta bắt đầu từ chỗ cao nhất tụt lần, tụt lần… Ông ta tụt trong ảo giác là ông ta đang lên, lên mãi… Mai kia, nếu Diệm đổ, thì một trong những nguyên nhân quan trọng quyết định chính là sự thành công của ông ta.
Họ đến dốc cầu Tràng Tiền thì gặp Fanfani.
- Chào ông kỹ sư! Chào cô Dung! – Fanfani nhanh nhảu – Tôi định đến chào ông và cô. Gặp tại đây tốt quá. Sáng mai, tôi vô Sài Gòn bằng chuyến bay đầu tiên, cất cánh trước 6 giờ.. Hình như máy bay riêng của ông Diệm cất cánh vào 7 giờ. Phải không?
Luân mỉm cười. Fanfani, qua ánh đèn, thấy cái mỉm cười có ngụ ý đó.
- Ông Luân đúng là một nhà chính trị tế nhị. - Fanfani cười to – Chắc ông hỏi: vì sao một nhà báo Mỹ biết giờ cất cánh của máy bay chở tổng thống?
- Không phải biết giờ, mà quan tâm đến giờ… - Luân đính chính một cách hóm hỉnh – Tất nhiên, với cô Fanfani, điều đó không chứa đựng bất kỳ một chút nguy hiểm nào!
- Cám ơn ông Luân nhận xét tốt về tôi, mặc dù có lẽ ông và cô Dung đã nghe bản tin mới nhất của đài Manila…
- Không, chúng tôi chưa nghe! – Dung trả lời, tò mò.
- Vậy thì ông và cô phải thưởng cho tôi: Tin đặc biệt. Trên đường kinh lý đảo Cebu trở về, máy bay chở tổng thống Phillipin Macsaysay đâm vào núi, nổ tung!
- Ái chà! – Luân kêu thảng thốt.
- Ông Macsaysay lên đỉnh vinh quang gần đến 10 năm và xuống vực chắc chừng 10 giây! – Fanfani nhận xét.
Họ bước lên cầu. Luân đi giữa choàng vai hai cô gái. Fanfani bảo:
- Ông Luân có lý để lo ngại về sự tiết lộ giờ giấc của máy bay tổng thống.
- Nhất là, – Luân bình thản trở lại – khi tôi và Dung đi trên chiếc máy bay đó!
- Biến động chính trị là loại biến động đột ngột hơn cả động đất nữa! - Fanfani thở ra.
- Đúng vậy. Và phải nói thêm: Phù thủy CIA nhúng tay vào thì sự thể còn trăm phần lắt léo…
Fanfani lần nầy không phản ứng nhận xét của Luân về CIA.
- Sau Ban Mê Thuột, giờ tới Macsaysay, dấu hiệu cảnh cáo khá dồn dập – Fanfani nói tiếp – Tôi biết ông kỹ sư lo lắng nhiều. Điều đó chứng tỏ sự gắn bó của ông với gia đình ông Diệm… Nhưng, lo lắng sẽ không ích lợi bao nhiêu. Dẹp tan lo lắng mới cần. Ông có thể làm việc đó bằng những đề nghị cải tổ. Chẳng hạn…
Fanfani nói chưa hết câu thì, ngược chiều với họ - lúc bấy giờ họ đang ở giữa cầu – bốn người mặc thường phục kiểu mùa hè, giăng hàng ngang đón họ.
- Ê! – Một trong bốn người, rất to con, mặt đỏ gay trỏ Fanfani – Mầy là con viết nhật trình, phải không?
Fanfani lùi lại sau lưng Luân.
- Còn thằng nầy với con nầy, – Gã trỏ Luân và Dung – cùng cánh với con Mỹ lai, phải không? Nếu không phải thì xéo ngay. Còn nếu phải thì chúng ông cho chầu Hà Bá một thể!
Dưới chân họ, con sông Hương về đêm sâu thẳm.
- Tiên sư mày! Con nhật trình. Tao lột mầy trần truồng rồi vứt mấy xuống sông… Xuống sông mà viết nhật trình cho Hà Bá đọc!
Dung mở sắc. Luân hích nhẹ tay cô ngăn lại. Nhìn cả bốn cái mặt đần độn, anh suy tính.
- Các anh là người của Phan Quang Đông, tôi biết. Các anh định làm loạn hả? – Luân nói nghiêm khắc.
- Đ.M mầy! Chúng ông là ai mặc xác chúng ông… - Gã to con vung tay tát Luân. Luân né khỏi làm gã chới với.
- Tôi bảo: các anh cút! Tôi là thiếu tá Nguyễn Thành Luân, trong tham mưu biệt bộ của tổng thống. Hoặc các anh sẽ bị tống vào nhà giam liền bây giờ, cùng với xếp Đông của các anh, hoặc các anh cút!
Luân khoanh tay khinh khỉnh nhìn cả bốn đứa. Bốn đứa bỗng sựng lại, ngó Luân rồi ngó nhau. Dường như cuối cùng bọn chúng nhớ ra Luân là ai, không hẹn mà cùng bước thụt lùi, khi cách xa Luân, cả bốn ù té chạy về bờ bắc.
- Tôi tiếp ý bỏ dở nửa chừng của tôi. – Fanfani nói, khi ba người quay lại bờ nam – Chẳng hạn ông trao đổi với ông Diệm, ông Nhu sớm chấm dứt những trò lưu manh kiểu như ông chứng kiến. Dù sao, ông vẫn phải chia sẻ thành công hay thất bại của chế độ. Và, với tư cách của người đứng bên ngoài, tôi kết luận là ông có uy tín. Đêm nay, nếu một mình tôi, lời hăm dọa của bọn côn đồ chắc sẽ thành sự thật… - Fanfani chợt rùng mình.
Luân im lặng. Dự báo mỗi lúc một rõ ràng. Tin tức mật hằng ngày trình cho Nhu nhắc thường hơn các nhóm vũ trang mang danh Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên – nhưng hoạt động khác hẳn cái tên của mình – đang mở rộng lực lượng và địa bàn ở U Minh, Đồng Tháp, Tây Ninh, Bình Dương, Biên Hòa và nhiều nơi khác.
- Tôi hỏi thật cô Dung: Cô có ghen không? – Fanfani hỏi, khi về đến cổng khách sạn.
Dung cười bẽn lẽn.
- Ông kỹ sư chỉ biết có mỗi cô. Dù vậy, tôi xin phép cô.
Fanfani vụt ghì cổ Luân, hôn thật mạnh môi anh, rồi chạy vào khách sạn không ngoảnh lại.
Luân quàng vai Dung, men sông về nơi nghỉ.
- Cô phiền Fanfani không? – Luân hỏi.
Dung cười:
- Em chỉ phiền nếu chính anh, chứ không phải Tiểu Phụng hay Fanfani. Đến bây giờ, em chưa thấy điều gì đáng phiền.
Dung nép sát vào người Luân. Ánh trăng trải mặt sông Hương màu sáng huyền hoặc. Trên một con thuyền lênh đênh nào đó, giọng Nam ai tê tái:
Biết ai nhắn gửi đôi lời, đôi lời tình tự
Câu tâm sự như ri, biết thấu cho không?
Trời kia rộng mênh mông, thu rồi lần lựa sang đông…
---
(1) Đúng vậy!
(2) Không! Đó là một sự thóa mạ.

PHẦN 4

CHƯƠNG 1

Dương Tái Hưng dò từng câu trong bản dịch Anh văn xấp bài báo của tạp chí Bách Khoa. Các bài báo mang tên Nguyễn Thành Luân. Ngay trong số 1 của tạp chí, ra ngày 15-1-1957, Luân viết bài báo đầu tiên và bài báo gần như đặt lại quan niệm quân đội. Trước Luân, trên báo chí Sài Gòn, chưa ai phân tích quân đội như vậy. Những chỉ huy tốt nghiệp trường võ bị Saint Cyr chỉ có thể lặp lại điều mình học, điều mình rút kinh nghiệm qua kinh viện quân sự Âu Mỹ - cho một quân đội nhà nghề. Còn số tự xưng là tốt nghiệp trường Hoàng Phố thì kiến thức lỉnh kỉnh, pha tạp, giảng giải binh pháp Tôn Ngô vào thời đại nguyên tử mà vẫn mơ màng tiếng ngựa hí, gươm khua.
Luân viết:
“Người lính có gan dạ mà không có súng thì không làm được gì, người lính có súng tốt nhưng không có gan dạ thì cũng không làm gì hơn. Dự trữ của quân đội là nhân dân. Quân đội không được lòng nhân dân là một quân đội có thể tạm thời mạnh trên một phương diện nào đó nhưng bản chất nó là yếu vì tương lai không có dự trữ, nó sẽ đến chỗ kiệt quệ và tiêu tan.”
Các bài báo tiếp theo cũng mang nội dung mới – đánh giặc mà không giết người, trao đổi văn hóa trong quân đội... Tác giả lồng ý riêng vào các bài bình luận binh thư Tôn Tử, cũng nhắc nguyên tắc Tôn Tử nhưng thể hiện trên một bình diện mới. Giọng văn dễ hiểu, nhẹ nhàng, nửa thuộc loại nghiên cứu học thuật, nửa phổ cập và bút chiến song không dấu giếm ý định: muốn chiến thắng phải xây dựng lại quân đội. Quan niệm đó vừa bác bỏ nếp hằn trong cơ chế quân đội do Pháp để lại vừa cảnh cáo Bộ Tổng tham mưu đang hình thành. Các bài báo xuất hiện vào lúc tổng thống Ngô Đình Diệm giành trọn vẹn quyền điều khiển quân lực.
Dương Tái Hưng nhíu mày, ngả lưng trên ghế, đăm chiêu. Căn phòng cổ kính dường như lặng lẽ hơn để cho chủ của nó suy tư.
Các bài báo không hề có sơ hở dù nhỏ. Nguyễn Thành Luân đứng trên lập trường một người Quốc gia kháng chiến phân tích và đưa ra các nhận định, chủ trương. Anh ta nhắc khá nhiều đến quân đội Việt Minh – hoàn toàn trân trọng. Những bài của Nguyễn Thành Luân khác hẳn bọn Hoàng Quế Ngô - kẻ phản bội đang muốn tâng công với họ Ngô và nước Mỹ. Cũng khác bài của Tam Ích - gượng gạo trong cách lí giải hiện tượng mình vốn tự xưng là một người Marxism bây giờ lại trở cờ. Cũng khác bài của Tân Đức trên báo Nhân Loại hay Khải Minh trên báo Tiếng Chuông: rõ ràng Tân Đức và Khải Minh là những Việt Cộng lợi dụng báo chí hướng dẫn dư luận chống lại chế đội hiện thời ở miền Nam rất khéo léo, song không khó phát hiện.
Nguyễn Thành Luân trước sau không phủ nhận quá khứ của bản thân, không chống Cộng, không đề cao và không dùng thủ thuật để công kích Ngô Đình Diệm và Mỹ. Anh ta không theo phương châm đã được Xứ ủy Cộng sản ở Nam Bộ chỉ đạo: tuyên truyền bí mật kết hợp với các hình thức hợp pháp và nửa hợp pháp. Anh ta viết với tâm huyết, có suy nghĩ và rất nghiêm chỉnh. Nghĩa là anh ta công khai nói điều anh ta ôm ấp.
Nhưng tại sao anh ta đi sâu vào quân đội? Loạt bài của anh ta chỉ với một chủ đề: quân đội.
Theo tin tức mà Dương Tái Hưng nắm được, tình hình ở Việt Nam Cộng hòa bước vào năm 1958 này đầy rẫy những sự kiện thôi thúc một đột biến. Dĩ nhiên, cái đột biến chỉ có thể do từ phía Cộng sản - đối thủ sau cùng của Ngô Đình Diệm, suốt mấy năm liền đấu tranh chính trị, bây giờ hình như bắt tay vào lau chùi vũ khí, nếu không phải tất cả thì cũng từng bộ phận ở từng nơi. Danh nghĩa các nhóm vũ trang khá linh tinh: nào trung đoàn Nguyễn Trung Trực, nào tiểu đoàn Hoàng Hoa Thám, nào đại đội Phan Đình Phùng... hoặc của Bình Xuyên, hoặc của Hòa Hảo, hoặc của Cao Đài... Danh nghĩa gì thì danh nghĩa, không ai trong giới tình báo không nhất trí: thực chất là Việt Cộng. Phải chăng Nguyễn Thành Luân nhìn thấy nguy cơ từ một năm trước mà nêu quân đội thành chủ đề để đánh động dư luận?
Có tiếng gõ cửa nhẹ. Một cô gái lặng lẽ vào phòng, lặng lẽ leo lên đi văng sửa soạn mâm hút. Dương Tái Hưng rời ghế, ngả người xuống cạnh mâm, rít liền mấy điếu. Sau khi hớp ngụm trà đặc quánh, ông ta nằm lim dim. Cô gái khép cửa phòng, ra ngoài.
Nguyễn Thành Luân viết báo cho ai đọc? Mấy liều thuốc thơm lừng giúp Dương Tái Hưng một lóe sáng. Không phải các bài báo của Nguyễn Thành Luân không có sơ hở. Có! Anh ta muốn người Mỹ hiểu quan điểm của anh ta. Anh ta cố tình làm như vậy. Chính con mụ Fanfani đã dịch các bài báo đó và đăng liên tục trên tờ Financial Affair. Xấp bài dịch mà Dương Tái Hưng có chính là sao lại trong Financial Affairs.
Cần phải trao đổi với William Porter mới được. Con nhỏ Fanfani nhẹ dạ, vô tình làm tên dẫn đường đưa Nguyễn Thành Luân vào chính giới Mỹ, nhất là con nhỏ có thiên hướng ủng hộ Kennedy, người chắc chắn sẽ ra ứng cử Tổng thống thay mặt đảng Dân chủ năm 1960.
Dương Tái Hưng nhỏm dậy. Ông ta nhấc điện thoại. Nhưng, cô gái hầu lại vào, lặng lẽ đặt lên bàn một phong bì. Ông ta xé phong bì. Thơ của Suần Quài vắn tắt giới thiệu một thư dài hơn, ký tên là đại diện của Trung ương Trung Cộng, Lâm Sử.
Dương Tái Hưng mỉm cười. Điều mà ông ta ung dung chờ đợi đã tới. Và, đúng như ông ta dự đoán, Lâm Sử đề nghị được gặp ông ta. “... Ngài phụng sự cho ai, không có gì quan trọng. Chúng tôi nghĩ rằng, ngài là người Hoa, đó mới thực sự là quan trọng. Và, càng quan trọng hơn, nếu ngài có mối quan hệ nào đó với chính phủ Mỹ. Tại sao chúng ta không thể cùng nhau hợp tác giữ miền đất còn lại của Việt Nam này mãi mãi như Nam Cao Ly? Chúng ta có thể nói chuyện trên một căn bản mới: sự kiện Triều Tiên sẽ không bao giờ trở lại nữa, nước Mỹ trừng phạt tướng Mac Anthur còn chúng tôi, chúng tôi trừng phạt Bành Đức Hoài - cả hai đều không hiểu cái sâu xa trong chính sách của những người lãnh đạo hai nước chúng ta. Không có gì cấp bách hơn việc ngăn chặn Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam. Nếu ngài thống nhất với tôi tư tưởng chiến lược đó, cuộc gặp gỡ sẽ vô cùng bổ ích...” Lâm Sử viết như vậy.
Dương Tái Hưng đọc xong thơ, thoải mái ngồi xuống, quay số điện thoại:
- Hello, William. Where have you been this time old chap?... (1)
*
Báo cáo của F. Rheinardt (gửi Tổng thống Mỹ)
Tình hình Nam Việt Nam xoay chuyển theo khả năng nào, một phần quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng quyết định, liên quan đến chính sách của Hoa Kỳ. Như tôi đã phân tích trong những trang trước, chính sách Nam Việt Nam của Tổng thống không thể không đặt trong chính sách Việt Nam, nói chung, đúng hơn, chính sách đối với toàn bán đảo Đông Dương sau khi người Pháp thua trận. Trung Cộng giành quyền ở Hoa lục, cuộc chiến tranh Triều Tiên buộc phải “hòa” và việc chống sùng bái cá nhân Staline của Kroutchev gây chia rẽ trong thế giới Cộng sản: những đồng minh của Mỹ ở Tây Âu hồi phục và đang tìm lối đi, trong đó thái độ của Pháp ngày một phức tạp hơn đối với chúng ta, các nước theo con đường dân tộc xã hội chủ nghĩa xướng xuất cái gọi là thuyết trung lập. Thế lực tán thành chúng ta chưa thể làm chủ ở Lào và ở Cambodia – nơi mà ảnh hưởng của Pháp chưa thể thực sự giảm sút bao nhiêu. Những phần tử cực hữu ở Vientiane khiến ông hoàng ôn hòa Phouma muốn bắt tay em ông ta là ông hoàng Cộng sản Shouphanouvong, cũng như những dấu hiệu đảo chánh ở Cambodia xô đẩy ông hoàng có tính khí bốc đồng Sihanouk rơi vào vòng tay Bắc Kinh.
Tổng thống cần chọn một trong ba khả năng sau đây:
1) Nam Việt Nam thành một thứ như Đài Loan, tồn tại song song với Bắc Việt Nam Cộng sản. Muốn vậy phải tính đến một nhóm cầm quyền đủ sức dựng dậy hàng chục triệu người sẵn sàng chấp nhận vĩ tuyến 17 như ranh giới quốc gia và đi đến giải pháp “bốn nước Đông Dương”.
2) Nam Việt Nam sẽ thực hiện sứ mệnh thống nhất Việt Nam bằng vũ lực và như vậy, phải tính đến một nhóm cầm quyền năng động và phải đẩy cả Phouma và Sihanouk càng xa càng tốt, không loại trừ phương pháp đảo chính. Trong trường hợp đó, Hoa Kỳ phải sẵn sàng ngăn cản một sự can thiệp của Trung Cộng với Nga Sô. Nói cho cùng, khả năng này chưa thể xảy ra vì trước mắt lực lượng chủ yếu là Nam Việt chưa đủ mạnh, nhưng nó đòi hỏi sự sửa soạn cấp bách bởi không loại trừ chính Cộng sản phát động chiến tranh du kích ngay trong nhiệm kỳ Tổng thống.
3) Nam Việt Nam và Bắc Việt Nam nhích lại gần nhau trong một liên bang mà mỗi miền giữ quyền tự trị rộng rãi. Thế hoãn xung này có thể là rất mong manh song là giải pháp ít tồi tệ nhất, trong khi chúng ta chờ đợi một sự chín mùi hơn ở nội tình Việt Nam và tình hình toàn khu vực. Dù chọn khả năng nào, tồn tại của nước Mỹ tại Đông Nam Á buộc Tổng thống phải tính đến những con người thể hiện được chính sách của Mỹ. Việt Nam là nơi mà đầu óc dân tộc chủ nghĩa cực đoan, hậu quả của hàng chục thế kỷ bị người Trung Hoa đô hộ và tự họ đã kết thúc những lần thống trị đó, không nhờ vả ai cả. Ông Ngô Đình Diệm dù sao cũng là người của giai đoạn, hoặc chúng ta phải chia tay với ông ta, hoặc ông ta phải chia tay với chúng ta, hoặc Việt Cộng loại ông ta, hoặc ông ta và Việt Cộng loại chúng ta, trước khi họ loại nhau. Thật bối rối cho nước Mỹ nếu cuối cùng rồi rơi vào tình thế khó xử như ở Philippines. Cái chết vì “tai nạn máy bay” của tổng thống Magsaysay được đón nhận ở các đồng minh chúng ta với bao nhiêu nghi kỵ, thậm chí cay đắng. Tương lai không hứa hẹn cho chúng ta ở Đại Hàn với Rhee Syngman, ở Thái Lan với Phibul Songgram - cả hai đều cứng đầu và đầy tham vọng.
Sau Ngô Đình Diệm, hoăc song song với Ngô Đình Diệm là ai?Sự chủ động bao giờ cũng chỉ có lợi. Tôi đã trao đổi với viên đại sứ Elbridge Durbrow. Tất nhiên tiếng nói có thẩm quyền nhất trong lĩnh vực này phải là người đứng đầu trong cơ quan tình báo Mỹ, ngày Allen Welsh Dulless khả kính…
*
Bài báo ngày 11-10-58 trên tờ Financial Affairss của Helen Fanfani.
Bằng lăng kính toàn cảnh và đứng từ thành phố Sài Gòn, người ta thấy điều gì trong một năm biến động ở Việt Nam, từ sau sự kiện ở Buôn Mê Thuột? Có thể chỉ là một tai nạn như bao tai nạn máy bay xảy ra ở đảo Cébu, cướp mất tổng thống Marcsaysay, người hùng của Phlippines. Nhưng dư luận tự hỏi: Cuộc đảo chính ở Thái Lan mà mục tiêu là hạ bệ một người hùng khác thủ tướng Phibul Songgram. Phải chăng cũng là ngẫu nhiên?
Đó là lý do mà tổng thống Ngô Đình Diệm, trong tháng 5, sang Hoa Kỳ. Ông Diệm muốn đích thân được nghe tổng thống Mỹ nói rằng phát súng trên vùng cao nguyên không có bất kỳ dính líu nào đến nhà cầm quyền Mỹ. Ông mãn nguyện, ít nhất cũng trên những tuyên bố chính thức. Chưa ai biết hai nguyên thủ quốc gia nói với nhau những gì. Tuy nhiên, nếu bài diễn văn ngắn chuẩn bị đọc tại sân bay khi ông Diệm đặt chân đến nước Mỹ lời lẽ khô khan, thì tại cuộc họp Quốc hội Mỹ, bài diễn văn của ông tràn ngập tính từ đẹp, nồng nhiệt. Bức ảnh chụp trên thềm Nhà Trắng sau buổi hội đàm thật ngụ ý: hai Tổng thống nắm tay nhau đưa cao - họ muốn phân bua với Chúa Trời và, riêng ông Diệm, ông cố nhón gót để không quá thấp bên cạnh tướng Esheinhower đồ sộ.
Ông Diệm lưu lại nước Mỹ hai tuần lễ, điều hơi khác thường với phép ngoại giao. Ông dự tất cả 42 lần tiếp xúc, không kể hai lần với Tổng thống Mỹ, ba lần với phó Tổng thống Nixon cũng ba lần với ngoại trưởng Foster Dulles… Đấy là theo tin được công bố. Ông gặp chủ tịch đảng Dân chủ và Thượng nghị sĩ Kennedy. Sự phòng xa vốn là bản tính của người châu Á. Ông Diệm tính trước có thể ông sẽ cầm quyền dưới nhiệm kỳ của những người đang không cần tiết kiệm từ ngữ chỉ trích ông và cô em dâu ông.
Nhưng, ở Sài Gòn, các ông Phan Quang Đán, Nghiêm Xuân Thiện và Hoàng Cơ Thụy - một bác sỹ, một nhà báo và một luật sư – hình như thuộc ba khuynh hướng chính trị rất khác nhau bỗng cùng ra chung một tuyên bố thành lập “nhóm Dân chủ”. Tất nhiên chẳng khó khăn gì mà không đoán ra “nhóm Dân chủ” nội hóa này rao hàng với đảng Dân chủ Mỹ.
Ông Diệm không chỉ đi Mỹ, ông dùng 10 ngày để viếng thăm Úc, một nước kỹ nghệ lớn thuộc khối Anh, thăm Thái Lan, Nam Hàn, nhất là thăm Ấn Độ. Hội nghị kế hoạch Colombo họp tại Sài Gòn. Ngày quốc khánh Nam Việt Nam 26-10, có mặt thái tử Maroco, ông Maulay Abdullas Hassan. Dù sao ông Diệm vẫn muốn thực sự yên tâm. Những chuyến công du liên miên và những buổi tiếp xúc mở rộng đó được giới ngoại giao gọi là “những hoạt động mạo hiểm”.
Người ta hiểu rằng sự nghi kỵ chưa phải đã xóa sạch. Người Mỹ chắc chắn đã nhún vai trong việc sập cây cầu đi vào hội chợ Thị Nghè, coi như biểu tượng của sự thiếu vững chắc của chế độ ông Diệm. Chính phủ Sài Gòn vẫn có thể tặc lưỡi - họ không quen nhún vai – khi vệ tinh Spoutnik của Nga, lần đầu tiên một sản phẩm của con người vượt khỏi khí quyển, phát tín hiệu quanh trái đất giữa lúc Mỹ chưa thể làm được cái gì tương tự ngay cả sau ngày Noel mong đợi.
---
(1) Alô, William. Ông bạn ở đâu?

CHƯƠNG 2

Đại úy Tình không ngờ mình xui xẻo như vậy. Tết Nguyên đán Mậu Tuất vừa qua có 10 ngày. Anh ta trở lại nhiệm sở sáng nay, hơi rượu và mùi đàn bà chưa kịp bay đi thì anh ta lâm nạn.
Được giao chức quận trưởng Dầu Tiếng khi các nhóm Cao Đài ly khai thực tế thu nhỏ còn một vài đại đội – “một chú lính tới chín chú quan” - thỉnh thoảng xuất đầu lộ diện ở miệt suối Ông Hùng. Tình chắc mẻm, anh ta tốn 20.000 ngàn đồng lo lót trên Tổng nha công vụ không phải là hớ. Chủ sở cao su nổi tiếng thuộc Tổng công ty Michelin theo cái đà xuống dốc của Pháp ở Việt Nam một mực xun xoe Tình – nay mời ăn, mai biếu rượu. Tình chưa cho đó là “tủ” của anh ta. “Tủ” là số phu không có thẻ kiểm tra ở trong các làng và tại thị trấn - mỗi người gửi đơn xin giấy chứng nhận đều kèm theo 500 đồng, coi như lệ. Mà hầu hết 10.000 phu đều không có thẻ kiểm tra. Gần đây, lệnh quân dịch của tổng thống khiến phong bì dày thêm: ít nhất cũng 2.000 đồng cho một người trốn quân dịch. Tuổi bắt lính từ 18 đến 35, tha hồ cho Tình bỏ túi. Chưa hết, từ Thanh An lên núi Cậu, Định Thành - những gia đình mang biển số C và D – “tình nghi Việt Cộng” và “có thân nhân theo Việt Cộng” tính không dưới 1.000. Những gia đình đó, từ trái cà, trái ớt đến con gà, con heo, đại úy quận trưởng muốn bẻ, muốn bắt lúc nào cũng được. Ngay đàn bà con gái, ai không khéo lánh né, hễ chường mặt, đại úy Tình thấy dễ thương thì khó thoát. Cũng chưa hết. Cả một cánh rừng già bát ngát, dân Sài Gòn lên khai thác gỗ, đều phải biết điều với quận trưởng. Những năm 1957, khi bà cố vấn cho nhà thầu xẻ các đường lô – kêu là “đường ủi Trần Lệ Xuân” – văn phòng quận trưởng càng tấp nập, đại úy Tình đôi lúc như chiêm bao: tiền bạc cớ sao ào ào vô tủ. Vợ đòi theo, Tình không chịu, cứ ở chợ Thủ, lo cất cái nhà, lo lập miếng vườn. Cứ vài tuần anh ta về giao tiền cho vợ. Có vợ bên cạnh làm sao tự tung tự tác với đàn bà được.
Mọi sự yên ổn. Ai dè đêm nay! Chính buổi chiều đại úy ký tên vào bản báo cáo gửi tỉnh trưởng nói suốt mấy ngày Tết, toàn quận không có chuyện gì đáng tiếc.
Mười giờ đại úy thay quần áo. Một cô gái rước từ Chợ Lớn về nằm chờ trong phòng. Bỗng nhiên, một tiếng nổ dữ dội. Cổng ngoài dinh sụp đổ. Đại úy, quần đùi áo lót, lao thân hình ú nục tới điện thoại. Đạn tiểu liên, súng trường ghim veo véo ngay phòng khách. Tuy sửng sốt nhưng đại úy Tình vẫn nuôi hy vọng: mấy lão Cao Đài ly khai của Huỳnh Thanh Mừng bắn bậy để hâm nóng tinh thần tín đồ, nhắc khéo đấng Hộ Pháp còn đó đừng nghe lời Cao Hoài Sang mà mang tội phản đạo. Nhưng, các khẩu súng thi nhau xả vào dinh quận, có vẻ Việt Cộng thật tình. Bên ngoài trăng 13 khá sáng, thấp thoáng nhiều bóng đen vụt qua lại cổng chính. Lính gác của dinh quận bắt đầu bắn lẹt đẹt. Một tên nhè núp ngay cửa dinh quận mà bắn. Đại úy Tình hoảng hồn:
- Thằng kia, đừng bắn!
Tên lính co giò dông ra phía sau. Đại uý Tình run rẩy cầm máy nói quay liên hồi. Anh ta gọi trung đoàn 7 của sư 5, đóng bên bến Củi…
- A lô, cho tôi nói chuyện với trung tá Phấn… Tôi là đại úy Tình, quận trưởng. Dạ, tôi đây trung tá. Dạ, tôi bị tấn công. Dạ, chắc “Vixi” (1) . Dạ, mong trung tá cứu viện. Dạ… dạ…
Đại úy Tình chưa nói hết câu, đầu bên kia trung tá gác máy.
Súng tiếp nổ rộ. Đạn rơi trên mái ngói loảng xoảng. Đại uý Tình cúi rạp người, mồ hôi ướt sũng áo lót. Ả tình nhân chui tọt dưới gầm giường than trời trách đất, răng đánh bọ cạp:
- Chết! Chết! Dụ tôi lên đây để chết…
Đại úy Tình nghe tình nhân nhắc tới “chết”, tay chân run lập cập vặn mãi cái nút điều chỉnh máy bộ đàm mà không được. Vài ba tên lính rút vào văn phòng, dầu sao thì ở đây cũng có tường che đạn.
- Lấy bàn ghế, nệm gối tấn cửa! - Đại úy Tình ra lệnh. Loay hoay mãi với cái nút máy bộ đàm rồi cũng có tiếng rè rè báo là anh ta đã vặn đúng.
- Hỏa Diệm Sơn đây - Đại úy Tình rống to – Hỏa Diệm Sơn đây! Hải Vương Tinh đâu… Hải Vương Tinh…
Máy rè rè không có ai lên tiếng.
- Hải Vương Tinh… Mồ tổ thằng cha nào ở chỗ Hải Vương Tinh… - Đại úy Tình chửi đổng. Nhưng anh ta sực nhớ đã không bấm sang phần nghe. Khi anh ta bấm đúng, nghe tiếng cự:
- Gì mà rối lên như vậy? Chửi hả? Tay tổ nào đó?
Mừng quýnh, đại úy Tình nói không kịp thở.
- Trung úy Vi à… Tôi, Tình đây… Tình Dầu Tiếng đây…
- À, chào đại úy! Bữa nay hết Tết rồi sao trên đó còn đốt pháo dữ vậy, cả pháo tre nữa…
- Pháo gì! Vixi đó! Xin cứu viện gấp!
- Xin lỗi, đừng có giỡn cha nội!
- Trung úy báo giùm trung tá. Dầu Tiếng đang bị tấn công…
- Ê. Đại úy say rượu sao? Nói phải nhớ quy ước…
- Quy ước gì? Quên mẹ nó rồi! Vixi! Chiếm chi công an, phá khám, sắp tràn ngập dinh quận.
- Thật sao? Vixi đông không?
- Mấy ngàn! Nguy lắm!
- Được, tôi báo liền, chút nữa trả lời…
Đại úy Tình thấy nhẹ đôi phần. Súng thưa dần nhưng vẫn chưa dứt. Vừa rồi anh ta nói láo, anh ta đâu có biết tình hình chi công an, khám tù cũng như số lượng Việt Cộng…. Hề gì!
Năm phút sau, bộ đàm léo nhéo: Hỏa Diệm Sơn đâu, nghe Hải Vương Tinh… Tại sao không nhờ “Con hổ” ở “Hoàng Hà” cứu viện?
- Trời đất, - Đại úy Tình than lớn. - Tôi gọi “Con hổ” không thèm trả lời… Ông Phấn đó!
- Vậy hả? Được, sẽ có cứu viện..
- Ngay bây giờ nghe, trung úy!
- Ừ, có liền…
- Bằng trực thăng hả?
- Suỵt. Nói theo quy ước…
Súng chuyển hướng sang phía đại đội Bảo an. Chuông điện thoại reo:
- Tôi đây… - Đại úy Tình trả lời - Cứ yên trí cố thủ, sẽ có tiếp viện liền…
Đại úy Tình đâu có biết ở bên kia máy bộ đàm sự thể khác hẳn.
Phòng quân sự của tỉnh Bình Dương đèn mờ mờ. Mọi người ra về từ chiều, chỉ còn mỗi trung úy Vi, đêm nay tới phiên trực. Trung úy Vi người mảnh dẻ, mũi dọc dừa, điểm bộ râu Clark Gable đang đặt một cô gái trên đùi, cả hai người ngồi lọt trong chiếc ghế bành, họ vừa hôn nhau vừa cười khúc khích. Áo ngoài cô gái rơi xuống. Giữa lúc đó máy bộ đàm lên tiếng khẩn cấp.
- Anh lại nghe đi! – Cô gái bảo.
Trung úy Vi lắc đầu, mân mê bộ ngực cô gái… Máy bộ đàm càng réo. Trung úy Vi nhắm nghiền mắt… Cho tới khi nghe tiếng chửi thề.
- Thằng cha Tình nhậu say, phá tụi mình đó…
Trung úy Vi đặt cô gái xuống ghế, lại máy
Sau rốt, biết Dầu Tiếng bị tấn công thiệt. Vi quay điện thoại, dù biết Dầu Tiếng cách nơi đây - thị xã Phú Cường – khá xa. Trung úy Vi quay đến mấy lần mới đúng máy của trung tá tỉnh trưởng. Cô gái khoác vội áo, đến nép sát vào anh, tựa như cô tránh đạn của Việt Cộng…
- Alô, tôi trung úy Vi, xin nói chuyện với trung tá tỉnh trưởng
Giọng phụ nữ ỏn ẻn trả lời anh.
- Vi đó hả? Trốn biệt đâu mấy bữa nay? Báo hại người ta nhớ muốn chết!
Cô gái nghe rõ. Cô bĩu môi, toan bỏ đi.
Trung uý Vi vội kéo cô ta lại, che máy nói thì thào với cô:
- Con ngựa cái này… Em thương giùm anh. Bằng không anh ra Quảng Trị rồi!
- Chuyện gì mà kêu trung tá giờ này? Giả bộ kêu trung tá để nói chuyện với em hả? – Tiếng người đàn bà càng ỏn ẻn…
- Dạ, xin bà trung tá báo giúp…
- Nè, đừng có nói cái giọng đó. Em đâu có thèm làm bà trung tá…
- Dạ… Dầu Tiếng, cấp báo Việt Cộng đang tấn công…
- Cái gì? Dầu Tiếng bị tấn công hả? Dầu Tiếng xa thấy mồ…
- Xin trung tá ra lệnh cứu viện!
- Chèn đất ơi, bộ anh muốn trọn quyền thay trung tá mà bảo trung tá cứu viện? Ai đánh chớ Vixi đánh thì một chục trung tá cũng không dám ló ra khỏi cái chợ Thủ này… Ông ngủ rồi… Nè… tới với em bây giờ được không…?
- Dạ, tôi đang trực… Dạ…
- Trả cái “dạ” cho anh đó. Thôi, mai 8 giờ. Cũng chỗ mọi khi, nhớ nghe cưng! Em bắt đền anh…
Tiếng hôn đánh chụt trong máy, máy gác.
Trung úy Vi bật bộ đàm, nói chuyện với đại úy Tình.
Cô gái trách anh.
- Anh nói láo chi vậy?
- Nếu không, va bỏ quận, “tùy nghi di tản”, anh đi lao công chiến trường ngay lập tức. Va cầm cự, nếu rủi ro thì trung tá lãnh đủ, anh vô can…
Trung úy Vi cười khoái trá, nhấc bổng cô gái…
Thật sự, đại úy Tình không hề hấn. Quân tấn công không nhằm dinh quận, họ bắn để nghi binh. Đồn bảo an, nhà giam, chi công an và một số cơ sở trong quận lỵ bị hạ, nhiều tên đầu hàng đầu thú, lính kín, chỉ điểm bị bắt, kho bạc và kho thuốc tây trống rỗng. Quân tấn công dán thông báo khắp chợ, ký tên “Lực lượng vũ trang tự vệ Đông Nam Bộ” và “Hội những người kháng chiến cũ”.
---
(1) Việt Cộng

CHƯƠNG 3

Luân được Nhu phái lên Dầu Tiếng. Với tư cách là người của tham mưu biệt bộ phủ Tổng thống, anh có nhiệm vụ quan sát khu vực vừa xảy ra trận đánh lớn nhất từ sau khi các giáo phái tan rã. Cái nghiêm trọng của sự việc không phải vì một trận đánh, dù cho chỉ là tấn công một tỉnh lị và cũng không dính dấp nhiều đến những con số lực lượng phiến loạn - Phủ Tổng thống nhận các báo cáo kê con số sai biệt hẳn: theo quận trưởng, đến 2.000, tỉnh trưởng hạ con số còn trên 1.000, tổng ủy tình báo ước lượng 300. Chủ đồn điền Mechelin thay con số bằng một khái niệm hết sức dè dặt: nhiều toán vũ trang. Nghiêm trọng vì toán người nổ súng là Việt Cộng. Mở đầu giai đoạn mới rồi chăng? Đó là câu hỏi to tướng đặt ra với tổng thống Diệm.
Luân chưa nhận được chỉ thị của A.07. Bản thân anh cũng không rõ trận tấn công nhằm yêu cầu gì. Trong cuộc họp gồm Tổng thống, cố vấn Nhu, đại tướng tổng tham mưu trưởng, tổng ủy trưởng tình báo, thiếu tướng tổng giám đốc cảnh sát quốc gia. Luân được phép tham dự như một thư ký – anh chọn lời lẽ để giảm nhẹ tầm quan trọng của trận Dầu Tiếng. Đó cũng là cách mà anh vừa trao đổi với đại sứ Mỹ Durbrow – ông này tán thành. Đồng minh của Luân trong cuộc họp - một cuộc họp na ná hội nghị hội đồng an ninh quốc gia – là đại tá tổng ủy trưởng tình báo. Ông ta có lý do riêng: nếu trận Dầu Tiếng nghiêm trọng như vậy thì người phải chịu trách nhiệm trước tiên là ông ta: không nắm đủ tin tức. Với 300 Việt Cộng, con mắt của ông ta có thể bỏ sót, và ai có thể không bỏ sót nhóm người cỡ đó giữa vùng rừng bát ngát?
Cơn nóng giận của Diệm dịu dần. Luân được phái lên Dầu Tiếng.
Anh mượn cớ cần nghiên cứu kỹ cả khu vực, trì hoãn ngày đi. Từ sáng tới tối, anh đọc báo cáo, gặp gỡ các sĩ quan tình báo, sĩ quan tham mưu. Mãi tới khi tờ Dân Đen đăng tin mừng sau đây: “Chúng tôi được tin ngày chủ nhật 9 tháng 3 năm 1958, nhằm 20 tháng giêng âm lịch Mậu Tuất, ông bà Lê Văn Tư, nghiệp chủ tại Lấp Vò, gả thứ nữ Lê Thị Bình cho cậu Trần Viết Thoại, trưởng nam ông bà Trần Viết Liêm, nghiệp chủ tại Chợ Lớn…” Luân mới lên đường.
Luân có mặt ở Dầu Tiếng chiều ngày 8. Sáng nay, anh cùng trung tá tỉnh trưởng, đại úy quận trưởng, dẫn một đại đội bảo an đi thị sát làng 5 Dầu Tiếng nằm giáp ranh làng Thanh An, cửa ngõ dẫn vào chiến khu Long Nguyên nổi tiếng xưa kia. Cuộc thị sát bình thường song trung tá tỉnh trưởng lẫn đại úy quận trưởng đều rợn tóc gáy. Xe đổ xuống làng 5, hai người súng lục lăm lăm, bước dò từng bước trước khu nhà gạch của công nhân, chung quanh là lính tay tì trên cò súng, lom khom, dáo dác. Giờ này người lớn trong khu nhà đang đi lấy mủ ở các lô, còn toàn trẻ em, ông bà già. Họ đứng bên trong cửa, nhìn qua khe hở, theo dõi.
Luân vận quân phục, đeo hàm thiếu tá, đủng đỉnh theo sau, giống một người dạo xem phong cảnh. Thạch không đến nỗi mất tinh thần như các sĩ quan địa phương song tay luôn đặt lên báng khẩu súng ngắn bám sát Luân. Lính lục soát từng nhà. Chẳng mất nhiều thì giờ cho lắm, nhà trống trơn, ngay cả khạp gạo cũng lưng. Sau mỗi nhà chỉ có mấy luống rau. Còn lại là những hàng cao su thẳng tắp đứng đây trông thông thống tận đường 14.
Trước giờ hành quân, đại úy Tình khúm núm thưa với Luân, là theo anh ta, Việt Cộng nhứt định tụ tập tại làng 5 trước khi tấn công.
- Đại úy lấy gì làm bằng chứng chính Việt Cộng đánh Dầu Tiếng? – Luân hỏi, mắt anh cười cười.
- Dạ, tụi nó dán thông báo… - Đại úy Tình quả quyết
- Ký tên dưới các thông cáo đâu phải là bằng chứng… Ai chẳng làm được!
Trung tá tỉnh trưởng Vũ Thành Khuynh, người cao ráo, da ngăm, răng đen cạo chưa hết vết nhuộm cũ - lặng lẽ nghe. Theo ông, rất có thể là đám cướp. Ông chợt nhớ đến báo cáo kết luận của đại úy Tình: vùng Dầu Tiếng an toàn một trăm phần trăm. Và ông hối hận về con số 1.000 tên mà ông gán cho đám cướp.
- Nếu đại úy nói đúng thì Việt Cộng từ đâu tới? Trên trời đổ bộ xuống sao? - Luân hỏi châm biếm
- Cả trung tá nữa, các ông không bình tĩnh. Tổng thống rất lạ khi đọc báo cáo của các ông. Cách nhau mấy ngày, Việt Cộng từ là cái bóng mờ vụn biến thành hàng ngàn con người đủ súng ống. Cơ quan tình báo cười các ông, tôi mắc cỡ lây…. Tại sao các ông không nghĩ đến đảng Rừng Xanh của Phạm Văn Bời?
Vũ Thành Khuynh buột miệng:
- Không phải đâu…
Luân vẫn cười nhẹ hỏi:
- Thiếu tướng Mai Hữu Xuân đảm bảo với trung tá?
Vũ Thành Khuynh lúng túng. Đảng Rừng Xanh đã được tướng Xuân thu dụng hồi ông ta chỉ huy chiến dịch Trương Tấn Bửu, đang hoạt động theo lối Commandos cũ – bây giờ kêu là biệt kích. Đó là chuyện bí mật.
- Tôi… tôi… – Vũ Thành Khuynh ấp úng mãi.
Đến làng 5, cảnh đìu hiu của ngôi làng gồm vài chục mái nhà lại ám ảnh Vũ Thành Khuynh. Biết đâu không phải là Việt Cộng?
Nhưng cuộc lùng sục đến trưa không mang lại tí kết quả nào. Phu đã lần lượt về, quần áo bê bết mủ cao su. Làm sao những người này là Việt Cộng cho được?
- Cạnh làng 3 là xóm gì? – Luân hỏi đại úy Tình
- Dạ, xóm Đất Ung, làng Thanh An
- Không thuộc sở Dầu Tiếng?
- Dạ, không.
- Đại úy đến đó chưa?
Đại úy đỏ mặt.
- Dạ, em mắc công chuyện… Vả lại, xóm Đất Ung có bốn nhà ở cách xa xa… Em cho lính ngày nào cũng đóng chốt ở đó.
- Tôi muốn đến xóm Đất Ung! - Luân nói gãy gọn.
Mặt đại úy vụt xanh.
- Dạ…
- Đại úy cho một tiểu đội theo tôi… Tới đó mấy cây số?
- Dạ…
Một trung úy đỡ lời quận trưởng:
- Đâu có mấy cây số. Chừng bảy, tám trăm thước. Chó sủa ở đây nghe rõ…
- Anh biết xóm Đất Ung? – Luân hỏi.
- Dạ, ngày nào em cũng qua lại đó…
- Vậy anh đi với tôi. Đại úy ở đây với trung tá. – Luân quay sang quận trưởng. Anh ta không giấu vẻ mừng.
Vũ Thành Khuynh hơi lưỡng lự:
- Hay tôi đi cùng với thiếu tá…
Luân đã thấy đại úy Tình thích nhẹ tay vào lưng tỉnh trưởng.
- Chắc không cần! - Luân bảo – Tôi ăn trưa ở đó.
- Em lo bữa ăn cho thiếu tá! – Viên trung úy reo lên.
Tiểu đội rẽ vào đường xe bò. Luân vừa khuất, quận trưởng nói nhỏ với tỉnh trưởng:
- Chỗ đó ghê lắm! Mấy bà già ở đó dữ tợn, nghe nói họ mài dao bén lắm, hăm chém lính…
Một lều vải căng ngay giữa vườn cao su. Trung tá tỉnh trưởng và đại úy quận trưởng ngồi xếp bằng quanh mâm, hai con gà quay láng mỡ, chai Whisky óng ánh. Gió từ sông Sài Gòn lao xao thổi tới.
Đúng là xómg Đất Ung vỏn vẹn có bốn nhà, mỗi nhà cách nhau chừng vài trăm thước, tất cả nằm cập lộ xe bò. Từ làng 5 ra lộ 14, giữa một khu rừng chồi được đánh lõm từng gốc trồng đậu phộng. Nhà lợp tranh lụp xụp. Luân đến thẳng ngôi nhà cuối cùng. Cũng như những nhà khác, cổng ngôi nhà có hai tấm bảng, ghi hai khẩu hiệu: “Ngô tổng thống muôn năm!” và “Tiêu diệt giặc Cộng!” - hẳn Công dân vụ buộc chủ nhà phải mua. Trên cổng lủng lẳng một tấm thiếc vẽ cờ Quốc gia bằng sơn. Và, cả bốn nhà đều mang ký hiệu C và D.
Luân vào cổng, đúng có bụi hướng dương to. Ngay cổng, mấy cây đào lộn hộn trĩu quả. Một con bò gầy nhom đang nhai rơm.
Ngôi nhà cất theo lối chữ “đinh”, xiêu về một phía, tựa lên mấy cây chống cong queo. Bước lên, thềm đất, Luân thấy liền ảnh Ngô Đình Diệm treo giữa nhà cùng vô số áp phích chống Cộng treo trên vách.
Ngoài tiếng dao xắt chuối đều đều ở gian nhà ngang, tất cả đều im phăng phắc.
Luân xuống nhà ngang. Một bà, tuổi có lẽ trên 60, không nhìn khách lạ, miết con dao to bản lên thân cây chuối - đường dao ngọt xớt, từng khoanh chuối mỏng lật vào chiếc thúng đã bung vành. Cạnh bà, con heo nái nằm sâu dưới nền, thở nặng nề.
Vừa nhìn qua, Luân đã biết bà già thuộc hạng người nào. Trong kháng chiến, anh quen đến hàng trăm bà má như vậy - những sợi tóc trắng, những nếp nhăn, đôi mắt hiền từ. Anh thầm nghĩ, một má chiến sĩ.
- Thưa má… – Luân đánh tiếng, tiểu đội đã tỏa quanh nhà.
Bà già không ừ hử. Viên trung úy sừng sộ:
- Ê, bà già!
Bà già ngó lên:
- Nè, thiếu tá hỏi bà, bà trả lời cho đoàng hoàng. - Viên trung úy tiếp tục hầm hè.
- Đừng la lối! – Luân rầy viên trung úy - Để tôi hỏi má…
- Ai mà dám làm má mấy ông! – Bà già phọt một miếng cổ trầu, liếc qua Luân và dừng lại viên trung úy – Ông kia, tiền con gà mái đẻ của tôi ông hứa trả mà sao mấy tháng không thấy…
Viên trung úy chết bộ, mặt anh đỏ lừ:
- Ối! Chuyện nhỏ nhặt… - Anh ta nói liều.
- Sao kêu bằng nhỏ nhặt? Các ông có tiền, con voi cũng thành nhỏ, chớ tôi nghèo…
Rồi bà khoát tay đuổi một con gà giò:
- Hù, đi ra, đồ ôn hoàng dịch lệ.
- Bà đuổi tụi mình đó! - Thạch nói với viên trung uý.
- Má ơi tại sao nhà ta mang biển đen? – Luân hỏi từ tốn ngồi lên thành chiếc cối giã gạo.
- Ông là quan quyền, đừng kêu tui là má, mất thể diện lắm…
- Mất thể diện cho bà hay thiếu tá? – Viên trung úy gỡ gạc.
Bà già không trả lời, đưa con dao xắt chuối rào rạo.
- Con hỏi thiệt. – Luân giằn xúc động – Má nói cho con biết tại sao nhà ta bị biển đen?
- Nếu không biết thiệt, sao ông không hỏi ông quận? – Bà già liếc con dao lên cục đá đã khuyết một vòng cung nơi chính giữa, trả lời Luân. Có lẽ giọng thiết tha của Luân khiến bà già ít nhiều để ý anh.
- Còn vụ đánh Dầu Tiếng không có thằng nhỏ nhà tui dính vô đâu? Chừng nào ông nhà tui với tui phải lên ngủ trên nhà làng? Cho hay trước để tui gửi con gà, con heo… Cặp bò, ôn dịch bắt hết một con năm ngoái, con gà thì… - Bà tìm viên trung úy, anh ta lủi ra ngoài từ hồi nãy- … Cái ông gì đó bắt trên ổ lúc nó đẻ… Con chó cũng lãnh một phát mút…
Cánh tay bà già nổi gân cuồn cuộn. Luân biết, bà đang nghĩ tới làng lính – trong đó có anh – khi bà thoăn thoắt lia thân cây chuối từng nhát chắc nịch.
- Bộ anh Hai ở nhà trước kia đi kháng chiến hả má? – Luân hỏi tiếp.
- Phải dè tình hình như vậy thì tui xúi nó đi kháng chiến cho rồi, tập kết cũng yên thân mà vô rừng cũng khỏe! - Bà già mím môi.
- Vậy anh Hai không đi kháng chiến… Vậy sao người ta treo bảng đen ở nhà má?
- Ngộ hôn? Tôi biểu ông đi hỏi ông quận… Hoặc ra chợ Thanh An hỏi vợ bé của ổng. Bà vợ vựa củi chớ không phải bà vợ chủ tiệm vàng…
- Con hiểu rồi! Chắc bà vợ bé của ông quận muốn giật vuông rừng sau nhà do anh Hai khai phá. - Luân gật gật đầu.
- Ông nói trúng đó! - Bà già cũng gật gật đầu – Nào phải riêng nhà tui, cả xóm Đất Ung, tụi tui là Cộng sản thì quan quyền mới cất nhà phong tô được chớ! Mới vợ bảy, vợ mười được chớ!
- Xin lỗi má, má thứ mấy? Con muốn biết để xưng hô cho tiện. Con thứ Bảy… - Luân hỏi đột ngột.
- Tôi thứ Hai, thứ của ổng. Còn bên tôi, tôi thứ Chín…
Luân bước ra sân, không phải rồi. Nhưng cả xóm Đất Ung chỉ có nhà này trồng bụi hướng dương mà thôi.
Suy nghĩ một lúc, Luân gọi viên trung úy:
- Anh cầm ít tiền ra chợ Thanh An mua cái gì về ăn. Tôi cho phép anh em uống rượu. Anh hỏi anh em thích loại rượu nào, anh cứ mua. Nhớ mua, chớ đừng giật.
Nhận tiền của Luân – Luân đưa khá hào phóng – viên trung úy mừng rơn, ngoắc một thượng sĩ:
- Theo tao, bữa nay làm một trận cho đã!
Hai người chưa ra tới cổng thì gặp một chiếc xe đạp quẹo vào, xe dừng. Một ông già tóc bạc, dáng cao lớn, đèo sau một giỏ gùi (1) xuống xe:
- Chuyện gì vậy, mấy ông?
Ông già sững sờ trước số lính lô nhố. Ông lột nón lá. Luân suýt reo to khi nhìn thấy một lọn tóc nhỏ của ông cài lông nhím bự xộn. Cả bộ bà ba đen, áo nâu nữa.
- Chuyện gì, lát nữa sẽ biết. Còn bây giờ lão đưa chiếc xe và cái giỏ đây!
Viên trung úy giật xe, trút giỏ gùi. Anh ta và tay thượng sĩ mất hút.
- Xin lỗi bác… Anh em mượn xe lỗ mãng quá, nhưng cháu cam đoan xe không mất. - Luân giúp ông già lượm gùi tung tóe trên đất.
- Ông là quan, ông để lính làm ngang như vậy, bảo dân tin vào chính nghĩa quốc gia sao được?
Ông già lầm bầm
- Cháu sẽ phạt họ… Tụi cháu đi tuần tra, ghé đụt nắng nhà này. Bác là chủ nhà, phải không?
Ông già không trả lời Luân, gọi vọng vào nhà:
- Bà ở đâu, không coi chừng coi đồ, mất con bò bây giờ!
- Tui ở đây chứ đâu… Mạng mình còn lo giữ không nổi, lo tới con bò! – Bà già đã xắt xong chuối, đang quét, trả lời.
- Xin bác cho phép tụi cháu đụt nắng… - Luân nhắc lại.
- Nhà tôi chật chội lắm… - Ông già nhìn Luân - Nếu ở thì một mình ông thôi…
- Dạ, cám ơn… Anh em ở ngoài rào, ăn uống xong thì đi….
Luân chưa vào nhà. Ông già đem gùi xuống nhà ngang, rồi quét bộ ván ở nhà trên.
- Ông quan ơi, ông vô nghỉ lưng một chút…
Luân ngồi lên ván… Nắng trưa hất nóng ngôi nhà.
Anh bảo Thạch xin phép chủ nhà bỏ tấm liếp xuống.
Lát sau viên trung úy về, mua cả giỏ bánh mỳ, thịt quay và đến ba chai rượu Quảng An Thành. Luân mời chủ nhà ăn bánh mì với anh. Bà già hứ anh, ông già cầm một khúc bánh mì vừa nhai vừa quan sát đám lính ngồi bẹp cạnh rào, quanh bữa ăn. Ông mang ra cho họ mượn chén, đũa…
Khi đám lính ngà ngà, hầu hết cởi áo, cười nói ầm ĩ, Luân hỏi ông già:
- Xin lỗi bác thứ mấy? Cháu thứ Năm…
Ông già cười cười:
- Tôi thứ Sáu! Đúng chưa?
Rồi ông hạ thấp giọng:
- Thấy chú tôi biết liền. Quan tư, quan năm quốc gia mà một dạ hai thưa, hiếm lắm! Mà, bà nhà tôi không rành vụ này, chú đừng nói gì hết…
- Thì giờ ít quá, cháu muốn gặp người quen…
- Ậy, đợi tụi nó ngủ đã… Một tay đi vô nhà kìa!
Ông già chỉ Thạch, mặt đỏ gay, đang lảo đảo bước
- Chú ra chơi với anh em rồi nghỉ một chút, tôi ở lại với bác đây được rồi! – Luân bảo Thạch.
- Gặp người quen xa không bác? – Luân nóng ruột, hỏi tiếp.
- Xa cũng xa mà gần cũng gần. Như vầy, chú vô buồng, ở đó kín đáo. Nhớ nói nhỏ nhỏ. Tôi coi chừng cho. Hễ nghe tôi tằng hắng, chú nhảy lẹ ra ngoài.
Ông đưa Luân vào buồng, gian buồng hẹp, tối bưng. Ông giẫm chân lên nền, ba tiếng liền đệm một ngắn đoạn.
- Thôi, chú làm việc. Nhớ nói nhỏ…
Ông quay lưng ra, Luân bỡ ngỡ. Làm việc với ai?
Liền lúc đó, Luân nghe động dưới gầm giường. Luân rạp người, cố nhướng mắt tìm kiếm. Mặt nền nhà bằng phẳng bỗng nhô lên một khối vuông nhỏ! A, hầm bí mật! Luân nghe nói đến hầm bí mật nhưng chưa thấy lần nào. Ai dè hầm bí mật ngay đây. Vậy thì người đến gặp anh đã nằm dưới hầm bí mật khá lâu.
Thư hẹn không nói anh sẽ gặp ai, chỉ ghi “người quen”. Từ vụ điện đài Núi Cậu bị đột kích, anh đứt liên lạc với lãnh đạo, tới nay, hơn một năm. Vừa rồi, Sa báo tin, sau đó nó trao cho anh thơ của anh Sáu Đăng – nó trao thư ngay trong phòng khám của bác sĩ Tạ Trung Quân. Thư đặt trong ống aspirine. Cái thằng giỏi thiệt, có vẻ đang học nha. Cả anh và nó muốn nói chuyện nhưng không dám. Sa trổ mã, đúng là một thanh niên! Bản tin mừng trên báo là mật hiệu cho biết mọi việc sẽ được tiến hành như đã hẹn, thời gian như trong bản tin, tức ngày 9-3.
Trong ánh sáng mờ mờ, Luân thấy hai cánh tay đưa khỏi miệng hầm. Kế tới cái đầu, người trong hầm đu lên nhưng vướng cái giường. Anh phải kéo giúp.
- Khỏe không? – “Người quen” siết tay anh.
Anh không thể tưởng tượng nổi, “người quen” chính là anh Sáu Đăng, phụ trách công tác tình báo chiến lược của Xứ ủy.
Trong khoảnh khắc, Luân rơi nước mắt
- Các anh vất vả quá! – Luân nghẹn ngào. Một cái gì vừa kiêu hãnh vừa xót xa chợt đến trong anh. Đảng phái người có cương vị quan trọng, không nề hà nguy hiểm gặp anh. Phần anh, việc làm được chưa đâu ra đâu cả.
- Anh ở dưới hầm lâu chưa?
Anh Sáu Đăng kéo Luân ngồi lên giường:
- Từ sáng, xuống hầm mà chưa đậy nắp. Đến khi nghe các anh chộn rộn, mới đậy nắp…
- Các anh đằng mình khỏe hết không anh?
- Có người khỏe, có người hy sinh. Hy sinh khá nhiều. Thôi, bây giờ ta làm việc.
Luân ra ngoài quan sát, tốp lính ngủ lăn dưới gốc cây. Ông già ngồi chuốt nan bên thềm. Bà già bận bịu với nồi cám heo.
- Các anh khen anh. Tôi được ủy nhiệm chuyển lời khen của Xứ đến anh. - Anh Sáu Đăng bắt đầu - Tất nhiên Xứ cũng phê bình anh đã sơ hở một số trường hợp không cần thiết. A.07 nhận xét thống nhất với Xứ. Tôi sẽ nói rõ những trường hợp nào để anh rút kinh nghiệm. Còn việc chính hôm nay là tôi được chỉ thị phổ biến với anh chủ trương mới của Xứ. Tài liệu mà tôi sắp tóm tắt tên là “Đường lối cách mạng miền Nam” do anh Hai viết.
- Anh Hai khỏe không, anh? – Luân ngắt lời anh Sáu Đăng.
- Khỏe, mà gian nan lắm… Anh ráng nhớ, cái gì cần trao đổi thì ta trao đổi luôn.
Anh Sáu Đăng thì thầm trót tiếng đồng hồ. Luân chăm chú nghe. Quan điểm mới của Đảng soi sáng anh thật nhiều. Đúng ra, Luân từng băn khoăn về con đường đấu tranh chính trị để hòa bình thống nhất nước nhà; anh ở trong ruột chế độ miền Nam nên biết là không bao giờ điều đó xảy ra. Thực tế, trận Dầu Tiếng báo hiệu đã đến lúc thay đổi phương thức hoạt động, Luân đặc biết thích thú với những phân tích của anh Hai về các khả năng khác nhau đưa đến hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ ở miền nam. Trong những khả năng đó, anh Hai nhắc đến Cách mạng tháng Tám. Luân hiểu rằng lịch sử không tái hiện hoàn toàn: hồi 1945, chiến khu Việt Bắc nhỏ bé quá, còn bây giờ căn cứ là cả nửa nước giải phóng. Hơn nữa nhân dân miền Nam đã kinh qua đấu tranh vũ trang 9 năm. Anh Hai nhắc đến Cách mạng tháng 8 như là một gợi ý, còn trình độ vận dụng thì nhất định cao hơn nhiều. Thế là yên tâm: có đấu tranh chính trị, có đấu tranh vũ trang. Hẳn cuộc đánh vào Dầu Tiếng là hồi âm của đường lối mới đó.
Càng nghe Luân càng phấn khởi. Dù cho lát nữa anh Sáu Đăng sẽ “cạo” anh một trận rát da anh vẫn vui. Bức ảnh bọn biệt kích dùng đầu lâu đồng chí bí thư xã Tân Hòa – Vinh Lộc làm quả bóng, các tin tức ở khu Hải Yến, khu trù mật Vị Thanh, cái chết của bạn thân của anh – anh Ngọc và cảnh ông giáo Đầy mà anh chứng kiến tận mắt…
- Trên cơ sở đường lối chung đó, anh suy tính phần việc của mình, – Anh Sáu Đăng phổ biến xong chủ trương nói thêm - Phần việc của anh là một mặt trận như mặt trận đấu tranh chính trị và vũ trang – anh sẽ thừa hưởng khí thế của phong trào quần chúng, đồng thời anh sẽ hỗ trợ cho phong trào quần chúng. Điều cần nhớ là Diệm sẽ không còn. Hắn ta sẽ bị khử như kiểu ở Ban Mê Thuột hay bị chủ Mỹ cho ra rìa. Cho nên anh sẵn sàng tư thế nhập thân vào các thế lực thân Mỹ khác. Anh chú ý tạo quan hệ tốt với Mỹ, kể cả CIA. Cô nhà báo Mỹ có thể giúp anh, với điều kiện anh cư xử sao cho phải chăng. Gì thì gì, cuộc đấu tranh của chúng ta nhất thiết phải lâu dài, gian khổ, phức tạp. Chưa ai biết trước nó sẽ qua giai đoạn nào. Song chắc chắn Mỹ không dễ dàng buông miền Nam chừng nào chúng chưa tuyệt vọng. Anh thừa biết, với một đế quốc hùng mạnh như Mỹ, muốn làm cho chúng tuyệt vọng nhân dân ta phải qua biết bao hy sinh. Hoàn cảnh quốc tế lại phức tạp. Tiện thể tôi báo với anh, Lâm Sử cầm đầu nhóm Giải Liên nay thuộc Bắc Kinh, hẳn là anh quen, không còn chung quan điểm với ta. Một gã người Hoa khác tên là Dương Tái Hưng theo dõi anh, muốn qua anh để biết chủ trương của Đảng ta và không loại trừ ý định khống chế anh. Hắn không thuộc Bắc Kinh, cũng không thuộc Đài Loan, một tình báo viên đẳng cấp cao, có thể làm thuê cho CIA, có thể bản thân liên quan đến giới tài phiệt Mỹ, đặc biệt là giới sản xuất dụng cụ chiến tranh. Chúng tôi tạm thời mới biết hắn bấy nhiêu nên anh đề phòng. Có tin thêm về gã, sẽ cung cấp cho anh.
Anh Sáu Đăng chuyển sang phần nhận xét hoạt động của Luân. Thật ra anh Sáu cũng chỉ dặn dò Luân dè dặt hơn, nhớ vai trò chiến lược của mình.
- Sau vụ Buôn Mê Thuột, chúng tôi lo cho anh. May mà Phúc vững vàng. Giả tỷ Phúc chao đảo thì sao? Chúng tôi thông cảm với anh, song trong công tác của anh, không kềm chế đến mức lạnh lùng thì khó mà bảo toàn. Chẳng hạn nay mai tôi rơi vào tay chúng nó, chúng nó buộc anh phải bắn tôi. Anh từ chối được không?
Cách đặt vấn đề của anh Sáu Đăng khiến Luân rịn mồ hôi.
- Hình thức chiến đấu sắp tới rất nhiều vẻ, - Anh Sáu Đăng không muốn nghe Luân biện luận nói tiếp. - Mỹ đang cho thám báo ra miền Bắc bằng đường bộ, đường thủy và cả đường hàng không. A.07 đồng ý đề nghị của anh về anh Lục. Lối đánh đó hiệu quả cao. Sau này, một số đồng chí lãnh đạo của khu ủy Sài Gòn khi cần, sẽ liên lạc với anh. Anh nhớ anh Kiệt chứ?
- Nhớ! Anh Kiệt có lúc làm bí thư Bạc Liêu… Chúng nó biết hiện nay anh Kiệt thay anh Trần Quốc Thảo, làm bí thư khu ủy Sài Gòn – Gia Định.
- Đúng. Ngoài ra còn anh Mai Chí Thọ…
- Tôi cũng biết…
- Anh liên lạc với chúng tôi qua Sa. Còn chúng tôi liên lạc với anh bằng nhiều cách. Qua cô Dung, chẳng hạn. Anh thấy cần có người bảo vệ không? Tay bảo vệ của anh thế nào?
- Tạm thời, chưa cần… Còn tay bảo vệ của tôi tất nhiên là người của Nhu. Nếu được…
Luân đề nghị với anh Sáu Đăng tác động với gia đình của Thạch ở Chợ Gạo.
- Tôi hứa với anh. Song, chính anh tác động tới anh ta mới là chính… Anh có tin tức gì của anh Năm không?
- Qua đài phát thanh, biết anh đang làm đại sứ.
- Phải, anh khỏe... Còn trung đoàn 510 hiện đang luyện quân ở Thanh Hóa. Anh Lưu Khánh trực tiếp làm trung đoàn trưởng. Anh Vũ Thượng chuyển sang làm tùy viên quân sự cho Bác Hồ!
- Sướng quá! – Luân buột miệng reo lên.
- Anh Vũ Thượng thèm được như anh… -Anh Sáu cười.
- Tôi muốn hỏi anh một chuyện: anh Lưu Khánh có một đứa con…
Anh Sáu Đăng ngắt lời Luân.
- Anh không cần biết. Chuyện sau chót, anh và cô Dung định như thế nào?
Luân im lặng
- Tổ chức không có ý kiến. Tất cả tùy anh và cô Dung…
- Nhưng, ý riêng của anh thế nào?
Anh Sáu Đăng trầm ngâm khá lâu. Thái độ đắn đo của cấp trên kéo dài. Với Luân, giống như thời gian của người ra tòa chờ tuyên án.
- Anh cũng rõ, công việc của anh hiện nay khác mọi công việc mà anh từng đảm đương. Nó rất đặc biệt… Anh đã xem người dạy sư tử. Anh chẳng khác người dạy sư tử bao nhiêu. Càng gọn, càng dễ xoay sở. Tại sao không có tình huống kẻ thù dùng người này để uy hiếp người kia. Anh chịu đựng vụ anh Ngọc như thế nào, chúng tôi biết. Song phải nói là nếu tấm thảm kịch đó xảy ra với cô Dung, anh chịu đựng nổi không? Và ngược lại, cô Dung chịu đựng được nổi không? Tôi hoàn toàn tin ở các đồng chí, các anh lãnh đạo cũng vậy. Song làm sao anh hay cô Dung không cảm thấy sự thể sâu xa khi sự thể trở nên xấu? Đấy là tôi chưa nói hai người sẽ có con. Tất nhiên, tôi từng nghĩ đến mặt khác sẽ an toàn hơn khi anh và cô Dung thành vợ thành chồng. Ở đây có tình cảm và có lý trí. Ai đủ sức quyết định nếu không phải chính là người trong cuộc? Tôi nói với tư cách riêng. Dù vậy, anh có thể tin là khi nghe anh chị thành hôn, tôi là một trong những người vui nhất. Tóm lại, anh và cô Dung nên trao đổi, suy tính. Không lấy nhau là hy sinh, lấy nhau cũng là hy sinh…
Luân lắng nghe, thở dài. Anh cũng từng hiểu như vậy. Anh Sáu nắm chặt tay Luân:
- Anh và cô Dung đều là Đảng viên. Quyết định của hai người nhất định sáng suốt… À, còn Quyến, cố mà tạo cho cậu ta một chỗ đứng thật tốt, leo thật cao. Khéo léo vận động để cậu ta đi học ở Mỹ…
- Tôi linh cảm Nhu sắp giao cho tôi công việc bình định chiến khu Đ…
- Tốt! Nó không giao chính anh cũng nên xin. Rất cần. Vùng rừng Đông Nam Bộ sẽ là căn cứ lớn của ta, nhưng chưa có nhiều súng. Trận Dầu Tiếng góp nhóp gần như hết cả số súng cũ…
- Tôi sẽ cố gắng…
- Hết rồi. Tôi với anh không nên gặp nhau lâu
Anh Sáu Đăng và Luân ôm hôn nhau. Tới giờ phút này, hai người mới thả lỏng tình cảm. Mắt hai người ướt đẫm.
- Anh đừng trở lại đây nữa. Ông bà già sẽ đến nơi an toàn, cốt bảo vệ anh
Anh Sáu xuống hầm. Luân ra cửa.
Luân chào từ biệt ông bà già. Ông già nắm tay Luân, mắt hấp háy. Tốp lính của anh về làng 5 vào 3 giờ chiều. Đại úy quận trưởng và trung tá tỉnh trưởng chưa tỉnh rượu.
---
(1) một loại trái cây vị ngọt hơi chua, thân dây, mọc ở rừng.

CHƯƠNG 4

Sự phản kháng bằng vũ trang của nhân dân trước khủng bố của Ngô Đình Diệm thật ra không phải mở đầu bằng trận đột kích quận lỵ Dầu Tiếng. Trước đó khá lâu, thị trấn Minh Thạnh - cạnh Dầu Tiếng bị tấn công. Ở Đồng Tháp Mười súng đã nổ lẻ tẻ. Miệt ở U Minh, tình hình căng thẳng không kém, một loạt đơn vị mang danh nghĩa giáo phái như tiểu đoàn Ngô Văn Sở, trung đoàn Quang Trung - thường đi lại các quận, trước kia là căn cứ kháng chiến. Đặc biệt trong rừng U Minh thượng và hạ, trong rừng đước Năm Căn, những người chống lại Ngô Đình Diệm - trực tiếp nhất là chống lại các cuộc hành quân trả thù, chống khu trù mật và chống tên Nguyễn Lạc Hóa – đã tụ tập thành làng, đông và đến hàng vạn dân, trang bị súng và dao, gậy, sống ngoài vòng kiểm soát của chính quyền Sài Gòn.
Trước mắt, mọi cái đang tượng hình. Và, ngay nội ô Sài Gòn, xu thế bạo lực mỗi lúc mỗi rõ nét. Thư của Harry Hartman, trung úy cố vấn huấn luyện bộ binh, gửi mẹ ở bang Ohio.
“… Trông nét chữ của con, chắc mẹ lạ lùng. Nó ngoằn nghèo đến phát khiếp, phải không mẹ. Ấy là con còn có thể viết cho mẹ. Chiếc xe buýt chở bọn con - những thư trước con vẫn nhắc tụi bạn mà con tin là mẹ còn nhớ, thiếu úy Felding Senior, đại úy Bernetti – không còn hình thù chiếc xe, mà là đống sắt bẹp dí. Không một ai sống sót, trừ con. Mẹ hãy cảm ơn Chúa. Tất nhiên, không phải tất cả đều chết ngay. Mười một đứa, trong đó có Felding, chết ngay. Tám đứa chết trên đường vào bệnh viện. Ba chết sau đó, có đại úy Bernetti. Mắt nó mở trừng trừng khi con nắm tay nó. Không rõ nó bực tức về cái chết đột ngột đến với nó hay nó khó hiểu sự ngoại lệ của con. Đường nào thì Bernetti cũng đã chết. Mẹ hãy đọc kinh cho lũ bạn xấu số của con.
Thông thường, chỉ khi nào xe buýt đến thì bọn con mới được ra khỏi nhà. Ngay cổng nhà, phái đoàn cố vấn Mỹ đã cẩn thận cảnh báo bọn con: Quân nhân Mỹ chỉ được đến chỗ này khi xe đỗ lại. Và chiếc xe Ford sơn màu xám, gắn máy điều hòa không khí cẩn thận hơn một mức: kẻ hàng sau và bên hông xe hàng chữ “đến gần xe hai mét rất nguy hiểm”. Ấy vậy mà, như con báo, trừ mỗi mình con, không ai thoát.
Hôm đó trời mưa. Có vẻ mưa trái mùa. Người Việt bảo đảm với con là đã hết mưa. Mưa không to song kéo dài. Câu chuyện trên xe lại quay về sự cẩn thận của phái đoàn cố vấn. Hầu hết bọn con cười các ông tướng: sợ chết thì đừng có vào quân đội… Con đến xứ này khi tiếng súng im. Nói chính xác, còn nổ, nhưng nổ đơn phương, quân đội của ông Diệm bắn vu vơ. Con chưa gặp một Việt Cộng có súng nào cả.
Xe bọn con dừng trước một ngã tư. Đèn đỏ. Trong bụi mưa, con trông thấy một chiếc xe mô tô lạng cạnh bọn con.. Chắc là một người đàn ông trẻ tuổi lái. Ngồi sau, một cô gái – con quả quyết vì mái tóc xấp xõa. Cả hai choàng áo mưa, đội nón nhựa mềm. Thường khi con vẫn hay ngồi cạnh Bernetti. Hôm nay, con đứng ngay cửa xe để ngắm thành phố trong mưa.
Đèn xanh. Xe vượt qua ngã tư. Mô tô gần như sóng đôi với xe bọn con. Bỗng một người con gái dán một gói gì vào hông xe buýt. Một gói to hơn ổ bánh mì. Không phải một mà hai gói, dán cách khoảng. Lạy Chúa, chính Chúa đã cứu con. Con chợt nghĩ đến những quả mìn dính nam châm. Con đạp cửa, thét: “Mìn!”. Người tài xế hãm xe đột ngột, bọn bạn nhốn nháo. Cửa bung. Con nhảy vụt xuống đường, lăn mấy vòng cùng với ánh chớp và tiếng nổ kinh hoàng. Đấy… Mẹ hiểu vì sao nét chữ của con run rồi chứ?…”
Hạ sĩ Alain Feterson, trong đội hiến binh canh gác cư xá, đi lại trên cái sân quen thuộc, đằng sau tấm lưới mắt cáo vươn tận tầng ba che chở hết mặt tiền ngôi nhà, nguyên trước là khách sạn nay đổi thành nơi nghỉ ngơi của sĩ quan thuộc phái đoàn TRIM.
Alain chốc chốc xem đồng hồ tay. Còn 15 phút nữa anh hết phiên gác. Trời sáng rõ. Ngoài đường xe cộ nhộn nhịp: thật ra, nhộn nhịp từ 4 giờ sáng, khi Alain bị dựng dậy… Cư xá ngó chếch sang khu chợ, người bản xứ gọi là chợ An Đông – an toàn ở phương Đông. Alain và nhiều hiến binh tin sự may rủi do thượng đế sắp đặt, nên rất bằng lòng, trong nhiệm vụ ở vùng nhiệt đới xa xôi này, được sống cạnh cái tên hiền lành kia.
Trước cư xá, Alain và một thiếu úy đã để ra hàng mấy giờ, theo chỉ thị của cấp trên, kẻ những vạch sơn trắng trên mặt đường hắc ín, khoanh một ranh giới mà trong đó cấm tiệt mọi xe cộ dừng lại. Alain viết dòng chữ trên mặt đường, lời đã hách mà nét còn hách hơn: Chú ý! “Xe dừng lại trên phạm vi có dấu hiệu sơn trắng thì hiến binh Mỹ nổ súng ngay”. Alain viết chữ Anh, một lão Việt viết chữ địa phương. Chẳng xe nào dám dừng, thậm chí, dám chạy chậm trước cư xá. Alain thích thú bởi quyền lực của nước Mỹ vượt đại dương tại đây, nơi mà Alain chỉ biết khi nhận quyết định chuyển khu vực hoạt động.
Alain lại coi đồng hồ. Còn 10 phút. Cái gì nào? Uống một cốc cà phê, chui vào chăn – cái điều hòa nhiệt độ tạo cho Alain cảm giác đang ở bang New Jersey của anh – và ngủ bù đủ 3 giờ đi lại chùn chân và hút gần hết gói Camel… Cái gì nào? À, một xe du lịch sơn màu vàng – có vẻ là xe Ý. Đúng, chiếc Fiat. Xe du lịch đỗ ngoài vòng cấm, bên kia đường. Ái chà! Một cô gái Việt… Cô gái mặt jupe ngắn, áo pull đỏ, xách một chiếc ví. Chiếc ví hơi to đấy cô em. Cô em không bám sát thời trang rồi!
Cô gái băng qua đường. Vùng ngực cô nhún nhảy theo mỗi bước của cô. Ái chà! Cô gái có bộ ngực đáng tiền thật. Cô đến ngay cổng. Alain bây giờ mới nhận ra bó hoa tươi trên tay cô.
Cô gái gỡ đôi kính mát. Đẹp. Alain chăm chú thưởng thức mặt của cô gái… Cô gái chỉ khẽ gật đầu, ra vẻ bề trên rồi chìa cho Alain tấm danh thiết không phải danh thiếp của cô mà của trung tá Remy Hoersh. Ngày nào Alain cũng gặp trung tá. Con người to cao, nổi tiếng có nhiều đào. Té ra hôm nay trung tá nghỉ và hẹn. Alain đoán như vậy và xem danh thiếp. Mặt sau danh thiếp, trung tá viết bằng dòng mực xanh: cho cô gái cầm thiếp này vào Reception và báo với tôi.
Alain mở cổng. Anh vẫn làm như vậy mỗi ngày, không riêng cho trung tá Hoersh. Chỉ có điều trung tá hẹn ban ngày… Và trong ví kia nhất định có chai rượu hảo hạng. Trung tá cần trợ lực mà! Thảo nào, chiếc ví to thế…
Cô gái nhoẻn cười, bắt tay Alain… Alain trông theo cô gái, trông theo cái mông và anh tưởng tượng nếu mình là trung tá Hoersh… Hết phiên gác, Alain gọi người thay anh.
Người thay Alain, vẫn là một hạ sĩ. Anh ta vươn vai, xốc lại áo, bật quẹt đốt thuốc… Mười lăm phút đi lại, viên hạ sĩ bắt đầu thấy thoải mái… Sau lưng anh ta, cô gái Việt từ trong nhà bước ra, áo pull đỏ. Hình như môi cô nhòe son còn tóc thì lõa xõa. Cô gái dáng mệt mỏi. Thế đấy cô em! Người Hoa Kỳ chúng tôi vốn nổi tiếng là khỏe cơ mà… Ông sĩ quan nào vớ được cô gái hấp dẫn thế. Cô gái ra hiệu cho anh mở cổng. Hẳn là cô ta vội về nhà - trống chồng một đêm là quá lắm… Mọi dự đoán của anh chàng hạ sĩ được củng cố: chiếc ví con trên tay cô gái chưa đóng kín, thò ra mấy tờ dollar xanh. Cô gái băng qua đường. Anh hạ sĩ bỗng tiếc: hồi nãy không nhìn kỹ cặp đùi cô gái.
Xe cô gái phóng qua cổng. Cô tự lái và không quên vẫy hạ sĩ.
Trong nhà, các sĩ quan lần lượt có mặt ở Reception. Tất nhiên, không ai thấy chiếc ví nằm dưới gầm bàn.
Điều chắc chắn là cô gái còn có thể nghe tiếng nổ rung chuyển vùng An Đông, sau đó…
*
Sáng nay, Nhu tiếp Luân. Vừa gặp Nhu, Luân đoán ngay là Nhu đã suy nghĩ một vấn đề gì đó chín muồi rồi, sẽ giao cho Luân thực hiện. Luân quen với lối làm việc có tính toán của Nhu và khi Nhu tự cho là hợp lý thì rất độc đoán.
Dù Luân từ lâu đã là người trong nhà nhưng, Nhu vẫn giữ khoảng cách trong công vụ, bao giờ Nhu cũng tỏ ra mình là người ra lệnh. Sự khác biệt trong cư xử với Luân so với bao nhiêu thuộc hạ khác là Nhu cho Luân quyền được nói ý kiến riêng, thậm chí bác bỏ chủ trương của Nhu. Những trường hợp như vậy, Nhu lặng lẽ nghe, đôi mắt sắc ngó Luân như đe dọa, còn môi thì tím hẳn. Tuổi tác của hai người – Nhu bảo là xấp xỉ - thực ra chênh nhau gần một con giáp. Khi Luân vào trường Đại học Hà Nội thì Nhu đã tốt nghiệp Ecole Nationale Des Chartes (2) ở Paris, có mặt trong hàng ngũ trí thức của Việt Nam trước khi Thế chiến thứ hai chấm dứt, cùng với Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Mạnh Tường, Đặng Phúc Thông, Nguyễn Xiển… Luân biết rằng Nhu chỉ thiếu có mỗi cái vốn mà anh ta buộc phải mượn Luân: những năm kháng chiến. Đó không phải là danh nghĩa, một thứ “hàm”. Những năm kháng chiến cho Luân cách nhìn, cách đánh giá sự vật, tri thức về nhiều lĩnh vực, lối sống, lối giao thiệp. Lúc đầu, hẳn Nhu xem thường tư cách cá nhân của Luân: anh ta cho là Luân đóng kịch và sớm muộn gì cũng lộ ra con người thật. Nhưng đã gần 4 năm theo dõi, Nhu biết mình lầm. Và, trước Luân, người đóng kịch lại là Nhu.
- Tình hình như anh thấy tận mắt, xấu quá!
Nhu trao cho Luân bảng liệt kê các vụ nổ trong đô thành. Riêng cư xá An Đông, con số chết - tất cả là sĩ quan Mỹ từ đại úy trở lên đại tá – khá kinh khủng: 32.
- So với hội chợ Thị Nghè, các hoạt động khủng bố này tồi tệ hơn… - Nhu thở dài.
Ngày Quốc khánh 26-10 năm ngoái, cầu nối liền Sở thú với Thị Nghè sập, cả trăm người chết.
“Cả trăm người Việt chết anh ta cho là ít tồi tệ hơn mấy chục người Mỹ chết!” – Luân nghĩ thầm.
- Bậy bạ nhất là các vụ nổ rộ lên đúng trước và ngay ngày khai mạc hội nghị kế hoạch Colombo. Chúng ta ra mắt thế giới thứ ba như vậy đó. - Giọng Nhu rầu rĩ.
Nhu rút trong ảnh ra mấy tấm ảnh phóng đại đưa cho Luân:
- Anh xem! Nhà cháy…Cháy toàn khu định cư. Đây là hình chụp khu Gia Kiệm từ máy bay, thiệt hại 2.500 nhà. Một con số ghê gớm… Chưa hết.
Nhu đưa thêm một ảnh. Thềm nhà đô chính, một người ngồi trong ngọn lửa bùng cao. Không thể thấy rõ mặt người đó nhưng tác thì roi roi. Ảnh ghi được tấm băng vải căng gắn nơi tự thiêu: Di cư Hoàng Văn Đáp, phản đối cảnh sát vô cớ bắt và đánh đập vợ ngay ngày Tết.
- Một vụ khiêu khích chính trị! – Nhu hằn học.
Luân ngắm nghía khá lâu tấm ảnh. Vụ Hoàng Văn Đáp cùng các sự việc dồn dập không phải giả tạo.
Nhu nói ra lời cái ý mà Luân hiểu ngầm:
- Cộng tất cả lại, từ bài báo của Nghiêm Xuân Thiện trên tờ Thời Luận, tuyên cáo thành lập đảng Dân chủ của Phan Quang Đán đến dư luận về tôi và nhà tôi buôn lậu, bản đại hợp xướng đủ cung bậc!
- Theo anh, ai là nhạc trưởng?
- Anh thừa hiểu mà… Gay go cho chúng ta là an ninh nội địa sa sút nghiêm trọng. Các ông Trần Vĩnh Đắt, Phạm Xuân Chiểu đều không có tài. Tổng thống vừa bổ nhiệm ông Nguyễn Văn Là, may ra cứu vãn được tình thế. - Nhu rít thuốc liên hồi. - Đại sứ Durbrow dùng kính lúp soi mói chúng ta. Hình như ông ta có gặp anh?
Nhu hỏi đột ngột nhưng Luân biết câu hỏi đã được đắn đo vài tháng nay, từ khi đại sứ Durbrow thình lình đến nhà Luân, nói là để đáp lễ lần Nhu và Luân tiếp ông sau buổi trình quốc thư. Đại sứ và Luân, lần đó, chỉ giới hạn trong phạm vi xã giao, hoặc nói thật chính xác, đại sứ Durbrow thăm dò – thăm dò các ngóc ngách của nội tình Việt Nam Cộng hòa và thăm dò cá nhân Luân. Hai người nói chuyện chừng 20 phút. Durbrow nhắc đến Reihnardt và ông nối tiếp tình bạn đó. Luân cảm ơn ông. Anh tránh đi sâu vào các vấn đề mà Durbrow quan tâm nhưng vẫn hé cho ông ta thấy anh không phải không có nhận xét riêng. Sau này, qua Fanfani, đại sứ mời Luân ăn tối. Ông ta hỏi thẳng Luân về khả năng điều khiển nhà nước của Diệm và Nhu, đồng thời phàn nàn về Lệ Xuân, nhất là về vai trò ngày mỗi chi phối của mụ đối với chính sách của tổng thống. Luân trả lời rất khéo: sự ấu trĩ là dễ hiểu ở những người mới cầm quyền, không phải đánh giá họ qua một số năm mà phải qua hàng chục năm… Durbrow phản ứng: nước Mỹ bắt đầu mất kiên nhẫn.
Dẫu sao, việc đại sứ Hoa Kỳ đích thân đến nhà một thiếu tá Việt Nam và mời viên thiếu tá đó ăn tối cũng gây xôn xao trong giới thân cận dinh Độc Lập.
- Có. Ông ta và tôi gặp nhau hai lần. – Luân trả lời - Một lần ông ta đến nhà tôi, một lần tôi đến nhà ông ta. Anh nhận xét không sai, ông Durbrow không cảm tình lắm với chúng ta, so với ông Collin và Reihnardt. Đặc biệt, ông ta không thích anh và chị. Tuy vậy, theo tôi, Durbrow chẳng qua chỉ là đại sứ lâm thời. Ở Mỹ, người ta đang nói đến Nolting, thậm chí, ứng cử viên tổng thống Cabot Lodget sẽ thay Durbrow.
- Tôi biết. Thư mới nhất của ông nhạc tôi cho hay tổng thống Mỹ sắp bổ đại sứ mới ở Việt Nam. Song, anh nên nhớ, sự bãi miễn Durbrow không hoàn toàn vì ông ta không làm tròn nhiệm vụ mà chủ yếu vì chúng ta. Người Mỹ nôn nóng. Họ đâu có biết những khó khăn của chúng ta. Ngay người Pháp, họ đang chơi xỏ chúng ta. Tôi nói các chủ đồn điền cao su: phần thuế họ nộp cho Cộng sản chẳng kém phần họ nộp cho chính phủ.
Nhu cắn ngón tay cái, thở dài:
- Giữa lúc gian nan này, nhà tôi lại đổ dầu vào lửa!
*
Quốc hội hay chợ Cầu Ông Lãnh (bài báo của tờ Thời Luận).
Hôm qua, Quốc hội họp phiên toàn thể để bàn về luật gia đình, dân biểu Trần Lệ Xuân (tức Ngô Đình Nhu phu nhân, cũng tức Việt Nam Cộng hòa đệ nhất phu nhân) là người đề xuất đạo luật đó, đã bảo vệ quan điểm của bà với thái độ… hàng tôm hàng cá.
Dư luận không nói ra nhưng mọi người đều biết hai điều khoản gây cấn nhất - điều khoản cấm đàn ông lấy vợ lẽ và điều khoản không cho phép đàn ông li dị vợ. Sự thật là vì bà Trần Thị Lệ Chi, vợ của luật sư Nguyễn Hữu Châu và là chị ruột của dân biểu Trần Lệ Xuân. Từ lâu, luật sư Nguyễn Hữu Châu có ý định li dị vợ bởi ông nghi vợ không chỉ một lần mà đều đều…! Đạo luật nếu được Quốc hội thông qua sẽ chặn đứng ông Nguyễn Hữu Châu. Bà dân biểu Trần Lệ Xuân nhân danh cho đạo lý và nhân danh cho chị ruột, quyết bắt các nghị phải gật đầu. Bà nói: Các ông thật hèn, tùy tiện bỏ vợ, tùy tiện lấy vợ bé. Quốc hội tuyên chiến với các ông. Rồi bất thình lình, bà quay sang chủ tịch Quốc hội Trần Văn Lắm: Dược sĩ chủ tịch, mong ông nêu gương trước.
Nền nhà Quốc hội quá cứng nên ông chủ tịch không độn thổ nổi. Mặt đỏ rần, ông Lắm vuốt mãi cái đầu trải láng mướt. Chắc ông “tiến thoái lưỡng nan”: đưa tay tán thành dự luật thì cái ghế chủ tịch ắt sụm liền… May quá, dân biểu Nguyễn Minh Chương, từ hàng ghế chót, đứng lên bô bô, giải nguy cho chủ tịch.
- Hoặc Quốc hội thông qua luật “một vợ một chồng” hoặc để cho nó phù hợp với đạo lý “ông ăn chả, bà ăn nem” thì thông qua luật bình đẳng: đàn ông được ngủ với nhiều đàn bà và đàn bà cũng được ngủ với nhiều đàn ông! Bà dân biểu Trần Lệ Xuân nhất định hoan nghênh cái luật sau…
Một trận bão cười thiếu điều vỡ tung nhà hát lớn.
Dân biểu Trần Lệ Xuân thẹn quá, nhào qua ghế chủ tịch, cướp cái chuông rung liên hồi kỳ trận.
Dược sĩ chủ tịch mừng húm, tuyên bố Quốc hội “chợ cầu Ông Lãnh” tạm nghỉ… chửi lộn. Bà dân biểu Trần Lệ Xuân hầm hầm bước ra xe, hai cận vệ lưng nách kèm sát bà, chiếc áo phất lòi “con chó lửa” đen sì… Dân biểu Nguyễn Minh Chương hoảng hồn trốn đâu mất tiệt.
Để coi Quốc hội sẽ trở lại vụ này như thế nào, tiếp tục hàng tôm hàng cá cầu Ông Lãnh hay nâng lên mức anh chị bự Cầu Muối?
*
Nhu đứng trước tấm bản đồ phía Bắc Sài Gòn với nhiều chấm đen.
- Anh xem đây… – Nhu dùng gậy chỉ bản đồ - Chỗ giáp giới Cambốt, chạy từ Lò Gò đến Kà Tum do C.60 phụ trách, người cầm đầu tên Năm Beo. Từ sông Tha La đến sông Sài Gòn do C.70, chỉ huy tên Tư Nguyện. Từ bờ Đông Sài Gòn đến Định Thành thuộc C.80, chỉ huy tên Tám Bằng Lăng. Vùng Dầu Tiếng Long Nguyên, Bến Súc, Bời Lời thuộc C.90, người chỉ huy là Sáu Ốm. Vùng Bùng Binh đến An Nhơn Tây nơi thành ủy Việt Cộng đóng, bí thư thành ủy tên là Chín Dũng, tức Kiệt. Phía Tân Uyên có C.100, C.200 do Tám Dên Dên và Ba Thu chỉ huy. Tình báo cho biết Tám Dên Dên là tướng Nguyễn Hữu Xuyến, chắc anh quen.
Luân khoanh tay, lắng nghe. Tấm bản đồ lỗ chỗ như người lên đậu mùa. Thông tin của Nhu có thể chính xác về một số mặt, tỷ như tên người. Luân quen một vài người trong đó, mà cũng có thể Luân quen hầu hết nếu biết tên thật. Thế là tốt lắm. Nếu đúng Tám Dên Dên là Nguyễn Hữu Xuyến thì ý định của Xứ ủy đã rõ. Con người từng chỉ huy những trận lớn như Cổ Cò, La Bang, một cán bộ quân sự cấp sư đoàn có tài.
Luân lắng nghe và Nhu hiểu thái độ của Luân như chia sẻ nỗi bận tâm với anh.
- Con số 5 tiểu đoàn của tổng nha cảnh sát gắn cho Việt Cộng quá cao. – Nhu nói tiếp – Nhưng chắc chắn không dưới vài nghìn quân, chỉ tính từ phía Bắc Sài Gòn. Còn Đồng Tháp Mười, còng rừng U Minh…
Nhu chợt thấy Luân cười mỉm:
- Thế nào?
- Tôi nghĩ không giống anh. Tôi là người trong cuộc khi tập kết. Lấy đâu ra số quân Cộng sản đông như vậy?
- Một phần do số nằm vùng, một phần là tàn quân giáo phái nhập vào, một phần tuyển mộ trong những người bất mãn chính phủ. - Nhu nói rành rọt.
Luân lắc đầu
- Tổng nha công an muốn giải thích một cách đơn giản hơn hết về tình hình an ninh hiện nay. Đại sứ quán Mỹ và CIA không tin tin tức của ta nhưng họ vẫn dùng con số đó để gây sức ép với ta.
Nhu rời bản đồ, ngồi vào ghế.
- Theo anh, chưa có gì phải báo động?
- Tôi không nói tuyệt đối như vậy. Những cuộc đánh bom ở Sài Gòn thật ra tạo tác động tâm lý nhiều hơn. Còn các trận tấn công như Dầu Tiếng, tôi nghĩ mãi: có đúng là Việt Cộng không?
Nhu chồm người tới, thoảng thốt:
- Anh suy luận hay có bằng chứng?
- Đường Bến Cát – Chơn Thành, Bến Cát - Dầu Tiếng, Dầu Tiếng – Minh Thạnh, Suối Đá – Kà Tum, Tây Ninh – Sa Mát, Trảng Bàng - Sốc Lào không thể đi lại ban đêm, mà ban ngày đi lại cũng nguy hiểm. Trong khi đó, đồn bảo an và căn cứ quân sự đóng dày đặc. – Luân không trả lời thẳng câu hỏi của Nhu – Theo lệnh anh, tôi kiểm tra vùng quanh Dầu Tiếng. Một xóm nhỏ tên là Đất Ung, cách làng 5 chỉ 800 thước và gồm bao nhiêu nhà anh biết không, gồm bốn cái. Nhưng tỉnh trưởng, quận trưởng đều sợ… Sợ ai? Sợ mấy bà già. Tại sao? Lính bắt gà, bắt heo, bò của mấy nhà đó, dân hăm he lính tới thì chém…Tỉnh, quận liền dán ngay cửa nhà họ bảng đen. Đẩy họ theo Việt Cộng, giáo phái. Chưa phải có bấy nhiêu. Chính quyền dung túng cho mấy nhóm cướp - kiểu Nguyễn Lạc Hóa ở Bình Hưng. Cho nên, tôi chưa kết luận vụ Dầu Tiếng là do Việt Cộng.
Nhu bóp trán một chập.
- Thế này, anh Luân nhé. Tôi đề nghị anh chịu cực một lúc. Anh nhận nhiệm vụ Tư lệnh hành quân vùng Bắc Sài Gòn kiêm chỉ huy trưởng tỉnh đoàn bảo an Bình Dương, được không?
- Lại mở chiến dịch Trương Tấn Bửu sao? – Luân hóm hỉnh.
- Lần này tôi muốn anh thực hiện phương pháp nào mà anh cho là hiệu quả. Trước nay, hễ kết thúc một chiến dịch đồng nghĩa với sửa soạn ngay một chiến dịch mới, cái sau phức tạp hơn cái trước, giống như câu tục ngữ Tây phương: Deshabiller Saint Pierre pour habiller Saint Paul (3), cái vòng luẩn quẩn không lối ra.
Giọng Nhu đặc biệt thân ái:
- Mình muốn chiến dịch do ông phụ trách thuộc loại khác hẳn. Khác từ tên gọi. Tỷ dụ. “Cơn hồng thủy” được không? Ông định chừng mấy tháng? Chừng mười tháng đủ không?
- Tôi chưa nói tôi nhận công việc anh giao. – Luân cười cười.
Nhu cười phá.
- Nếu tôi nghĩ là ông từ chối thì chẳng bao giờ tôi nêu với ông… Sao? Tám hay mười tháng? Ta phải phục tùng mệnh lệnh thời gian: Năm bầu cử tổng thống Mỹ.
- Có lẽ ta nên đặt mục tiêu chạy đua từ những yêu cầu chính trị, xã hội nước ta. Dẫu Kennedy thắng, chính sách Đông Dương của Mỹ sẽ chẳng thay đổi. Anh đã đọc bài của Henrry Kissinger trên Foreign Affairs (4) chưa? Đó là quan điểm chung không lệ thuộc vào nhãn hiệu Cộng hòa hay Dân chủ.
- Tất nhiên, tất nhiên… - Nhu đưa tay ngăn Luân – Song, chính sách chung của Mỹ không thay đổi lại không có nghĩa là chính sách đối với tổng thống nước ta vẫn y như cũ. Phải cải thiện cho được một vùng mà tình hình dễ khuấy động thủ đô… Anh làm nổi?
- Tôi sẽ cố gắng!
Nhu hớn hở.
- Tôi biết anh không từ chối. Làm sao từ chối một công việc hấp dẫn như vậy. Tôi giúp anh. Như thế này…
Nhu trở lại bản đồ.
- Tôi cho công binh ủi một con lộ từ Lộc Ninh sang tận đầu nguồn sông Vàm Cỏ, song song với đường biên giới Việt – Cambốt, người ta gọi là đường biên giới không minh định. Người Pháp không minh định, ta minh định vậy. Tôi cho ủi thêm nhiều con lộ nhánh nữa, từ Minh Thạnh qua Cần Đăng, từ Kà Tum đi Suối Vàng, chưa kể các con lộ kiểm lâm. Tóm lại, tôi cho xẻ dọc xẻ ngang thành bàn cờ khu rừng Bình Dương, Bình Long, Tây Ninh. Riêng vùng anh phụ trách hàng quân, sẽ có một hệ thống cứ điểm mạnh: Tống Lê Chân, sóc Con Trăn, Bổ Túc, Kà Tum, Sa Mát, Lò Gò, Thiện Ngôn, Cần Đăng, Trại Bí, Bầu Cỏ, Định Thành… Tổng ủy Dinh điền sẽ chốt dân di cư theo các con lộ đó. Trong tương lai, tôi có trồng vài vạn mẫu cao su.
- Một ý đồ vĩ đại! – Luân khen
- Đúng! Và anh là người đặt viên đá đầu tiên. Để anh dễ dàng hoạt động, ngoài lực lượng Bảo an Bình Dương trực thuộc, anh có toàn quyền với Bảo an Tây Ninh và Bình Long, thêm một số đơn vị thuộc chủ lực đóng ba tỉnh đó. Nếu anh muốn, tôi cho phối thuộc anh một số đơn vị pháo binh, thiết kỵ.
Nhu gọi người hầu mang bia
- Tôi không ngại thiếu lực lượng. Trái lại, như anh quyết định, lực lượng có phần thừa. Chiến dịch, một cách nói theo thói quen, ta tạm dùng, nhưng tôi không nghĩ rằng ta có thể thành công bằng cách chỉ tung quân, nổ súng. Chẳng lẽ chúng ta giam chân ở vùng này? Còn trung phần, cao nguyên, trung nam phần, tây nam phần, mỗi nơi đòi con số quân rất cao. Tôi nhận công việc với điều kiện: chính tôi chịu trách nhiệm điều khiển kế hoạch. Tôi muốn thực hiện một trắc nghiệm: xây dựng lực lượng dân phòng.
- Tôi từng nghĩ tới điều anh nói. Tại sao tôi không ủng hộ anh.
- An ninh xấu do đối phương gây ra cũng có mà do ta tự gây ra cũng có. Anh có cho tôi jeu vert (5) trong chiến dịch không?
- Anh còn hỏi làm gì? – Nhu quả quyết – Anh được toàn quyền hành động.
- Sẽ đụng chạm đó! Tôi cần nói trước.
- Anh lôi cổ mấy thằng làm bậy ra bắn, chớ gì? Anh không bắn tôi cũng bắn.
- Đó chỉ mới một phần. Tôi sẽ thay cả hệ thống cán bộ chính trị quân sự trong vùng, tất nhiên, qua sự xét duyệt của anh. Tôi ngại có người lên khóc lóc với tổng thống, với anh với chị, các ngài mủi lòng, can thiệp tới lui, khó cho tôi.
- Anh yên tâm! Tôi thề không nói một lời ngược ý anh suốt thời gian chiến dịch. Tổng thống cũng sẽ không gây bất kỳ một trở ngại nào cho anh. Quyết định bổ nhiệm anh do tổng thống ký và sẽ ghi rõ quyền hạn của anh.
- Cảm ơn anh! – Luân nâng ly bia Đan Mạch ướp lạnh sủi bọt.
- Như vậy “Cơn hồng thủy” mà anh đặt cho chiến dịch có vẻ hợp lý. – Luân nói thêm – Tôi nghĩ là phải mười tháng.
- Coi như chúng ta thoả thuận với nhau các điểm căn bản. Rồi, - Nhu cười thoải mái - chỉ mong sau 10 tháng anh đừng nói: Après moi le Délughe (6)
Luân cười to.
- Tôi thì sợ cái khác, sợ anh phê công việc của tôi bằng câu Horace: descile in piscem (7).
- Với anh đầu voi thì đuôi phải là khủng long!… Thế bao giờ bắt tay? Thủ tục chỉ cần vài giờ thôi…
- Cho tôi hai tuần lễ.
- Ồ, lâu quá…
- Không lâu. Tôi phải nắm tình hình ở bộ tổng tham mưu, bàn bạc với nha công vụ, tổng nha cảnh sát. Tôi vạch kế hoạch rồi thưa với anh. Tôi muốn tổng thống chuẩn y kế hoạch của tôi… Vả lại, anh nhớ, tôi còn cho “bản tango thứ ba” cất tiếng!
- À, đúng.. Sao “bản tango” trôi chảy chứ?
- Có hy vọng. Tôi và thiếu tá James Casey xem xét nhiều khía cạnh kỹ thuật. Sự thất bại của các “bản” đều có thể có một loạt nguyên nhân, nhưng chúng tôi tạm rút ra kết luận quan trọng nhất là cách chọn người. Việc phức tạp như nhảy dù xuống Bắc Việt mà chỉ tuyển trong bọn ham tiền, bọn lưu manh chuyên nghiệp, bọn thừa hung ác nhưng thiếu thông minh dù ta ném trăm đứa cũng không có lấy một tia sáng.
- Được, tôi đồng ý hai tuần lễ. - Nhu đứng lên.
Luân bắt tay Nhu.
- Tôi còn trao đổi với anh vài việc gấp. Chiều nay, ta ăn cơm. Anh suy nghĩ trước về chuyến đi Nam Vang gặp Shihanouk của tôi. Tuy tháng 8 tôi mới đi, song cần sửa soạn kỹ.
Khi tiễn Luân ra cửa, Nhu lại bắt tay anh lần nữa, nháy mắt.
- Có tin mừng chưa?
Luân cười rất tươi:
- Vội gì! Dung chưa thích có con…
Trên xe, Luân nhớ tới câu của Nhu, khẽ thở dài.
Thạch kín đáo liếc nhìn anh. Có thể cậu ta ngờ rằng giữa Luân và Nhu vừa có điều gì không bằng lòng nhau.
Đám cưới Luân – Dung tổ chức trước Tết. Không khác được, đám cưới khá linh đình tại nhà hàng Đồng Khánh. Giám mục, vợ chồng Nhu có mặt. Sau đó, hai người vào dinh Độc Lập chào tổng thống và được tổng thống tặng quà cưới. Bữa thiết của tổng thống không kém gì bữa lễ chính. Hai người bay ra Huế. Cũng mất cả tuần. Rồi, đi hưởng tuần trăng mật ở Đà Lạt non tháng. Đó là thời gian Dung ôn tập để thi lấy chứng chỉ cử nhân luật, Luân tranh thủ đọc sách. Đêm họ ngủ chung phòng song nằm thu lu một góc trên sàn, họ phải đề phòng Thạch biết họ cưới giả.
Sau khi gặp anh Sáu Đăng, Luân báo lại với Dung ý định của thủ trưởng. Dung im lặng, rõ ràng anh Sáu nói có lý.
“Cố gắng vậy!” – Luân tự nhủ thầm, tuy mỗi ngày mỗi cảm thấy mình đuối trong cuộc thử thách quá sức chịu đựng này.
---
(1) Phòng đợi
(2) Trường Viễn Đông Bác Cổ
(3) Lột áo thánh Phêrô để mặc cho thánh Phaolô
(4) Những vấn đề đối ngoại
(5) Đèn xanh
(6) Sau ta là cơn hồng thủy
(7) Như là đầu voi đuôi chuột.

CHƯƠNG 5

Vũ Huy Lục lần ra cửa mở máy bay đã mở. Dưới anh là sân bay Biên Hòa ẩn hiện sau lớp mây xốp. James Casey theo dõi Lục ngay khi anh kiểm tra lần cuối, đai dù, hài lòng về vẻ tự tin và thành thạo của anh chàng thám báo sắp thực hiện một chuyến đổ bộ nguy hiểm.
- Ông nắm kỹ thuật nhảy dù khá vững, ông Lục ạ! Tôi tin ông thành công trong lần diễn tập chót nầy. - James Casey thét to vào tai Lục.
Lục lầm lì, chẳng gật chẳng lắc. Anh vốn không ưa tay thiếu tá Mỹ này.
- Báo để ông vui: thiếu tá Luân đón ông dưới sân bay... Bây giờ, ông nghe tôi đếm nhé... Sẵn sàng! Một! Hai! Ba!
Lục bước vào khoảng hẫng. Người anh rơi thẳng. Mồm anh đếm nhẩm và bằng một động tác chuẩn xác anh giật mạnh dù. Chiếc dù xòe rộng. Mọi việc trôi chảy. Bãi cỏ xanh dưới anh mỗi lúc một rộng ra...
Giữa lúc anh cuốn dù, chiếc Jcep chở Luân và Thạch chạy vội đến. Máy bay lượn tiếp, cuộc diễn tập kéo dài thêm một lúc nữa. Nhiều người nhảy, nhưng ít người thành công như Lục.
Khi máy bay hạ cánh thì Lục đã cùng với Luân ngồi trong phòng khách sân bay.
James Casey đon đả bắt tay Luân:
- Thiếu tá truyền cho ông Lục nhiều đức tính quí: trầm tĩnh, chuẩn xác, nhạy cảm... Ông Lục sẽ là một chiến sĩ nhảy dù tuyệt vời!
Luân cám ơn James Casey, mắt long lanh nhìn Lục.
- Chiều nay, tôi mời thiếu tá uống rượu. - Luân nói - Chúng ta hẹn ở đâu nào?
James Casey nháy mắt:
- Cả bà thiếu tá cũng có mặt chứ?
- Tôi không dám cam đoan. - Luân cười - Cô ấy thường bận việc cho đến 9 giờ tối.
James Casey nhún vai:
- Tiếc quá... Ta gặp nhau ở tầng thượng khách sạn Caravelle.
- OK!
Gần đây, James Casey săm đón Dung hơi lộ liễu. Gã hay lợi dụng những buổi gặp Luân để tán Dung, vài lần đột ngột đến nhà lúc Luân đi vắng. Dung khó chịu, nhưng Luân hiểu sự việc theo hướng khác. Gã thiếu tá Mỹ sành đàn bà này có thể nắm được vài chi tiết bên ngoài để đánh dấu hỏi về quan hệ vợ chồng giữa Luân và Dung... Tất nhiên, Luân không tiện nêu nhận xét tế nhị đó với Dung.
Xe đưa Luân về Sài Gòn Lục ngồi sau tài xế được điều sang thay Lục.
- Trung sĩ Toàn lái xe bao lâu rồi? - Lục hỏi. Anh ác cảm với tau tài xế mà theo anh lúc nào cũng lấc cấc
- Kể cũng có thể làm tiên chỉ được đấy! - Toàn trả lời ngổ ngáo - Chạy mòn vài chục bộ lốp và nhẵn đoạn đường Phát Diệm- Ninh Bình, Bùi Chu - Nam Định...
Xe bỗng sa xuống ổ gà, bị xốc mạnh.
Lục “xì” một tiếng dài thượt:
- Tiên chỉ! Ổ gà to bằng cái ao! Nói thật, anh không thể lái xe cho thiếu tá được đâu!
Trung sĩ Toàn lầm bầm cái gì đó, không ai nghe rõ.
*
Luân cho Lục tập nhảy dù sau vụ Ban Mê Thuột.
Đó là bước ngoặt trong đời Lục, bắt đầu bằng bước ngoặt trong quan hệ giữa Luân và Lục.
Vũ Huy Lục được Trần Kim Tuyến giao vừa lái xe vừa theo dõi Luân. Anh làm thật cần mẫn việc trước và thật chểnh mảng việc sau. Chính Luân đã rầy anh về sự chểnh mảng nầy, khi bắt gặp anh lén nghe buổi nhắn tin của đài Hà Nội. Từ đó Lục ghi tỉ mỉ hành động hàng ngày của Luân và báo cáo hằng ngày với bác sĩ Tuyến. Báo cáo của anh càng tỉ mỉ thì bác sĩ Tuyến càng đánh giá nó là tẻ nhạt. Một thời gian anh được phép báo cáo mỗi tuần hai lần, rút xuống môt lần, rồi xuống nửa tháng, một tháng một lần. Sau cùng không ai nói, song coi như bỏ luôn. Luân bảo anh cứ viết báo cáo và gởi đều hàng tuần cho bác sĩ Tuyến. Chính bác sĩ Tuyến gọi anh lên Sở Nghiên cứu chính trị:
- Từ nay, anh khỏi báo cáo về ông kỹ sư nữa.
Vũ Huy Lục làm như không hiểu.
- Ông kỹ sư là người tin cẩn của Tổng thống và ông cố vấn, lại là con nuôi đức giám mục... Trước kia, tôi chưa hiểu ông ấy đầy đủ, nên cho anh theo dõi, nay không cần nữa. Anh cứ làm nhiệm vụ lái xe như mọi người lái xe khác.
Trần Kim Tuyến hỏi Lục:
- Liệu ông kỹ sư có biết anh theo dõi ông ấy không?
- Em chắc là ông ấy không để ý, mặc dù ông ấy biết em thuộc Sở Nghiên cứu phái sang. Cũng như ông ấy biết anh Thạch.
- Thạch không phải do tôi bố trí. - Tuyến đính chính - Vậy là ông kỹ sư không bằng lòng tôi... Có dịp, tôi phải nói lại với ông ấy.
Lục thuật lại cho Luân nghe biết mọi chuyện, vào buổi tối rảnh rang.
Luân ngó thẳng Lục. Trước mặt anh một con người thật thà bị lừa gạt, cưỡng bức. Sống chung gần ấy năm. Luân hiểu lòng dạ của người lái xe, thật sự đã là bạn thân của Luân. Luân thương và tôn trọng Lục. Một sợi dây vô hình buộc dần hai người, mặc dù chưa bao giờ Luân hé nửa lời tuyên truyền chính trị với Lục.
Luân biết Lục nhớ gia đình, làng quê. Hễ hết giờ làm việc, Lục ôm radio sống với người xướng ngôn đài Hà Nội cho đến buổi phát thanh cuối cùng. Luân bắt gặp nhiều lần như vậy và cho Lục hiểu ngầm rằng Lục không phải giấu Luân.
- Chú muốn về Bắc không? - Luân hỏi đột ngột.
Lục sững sờ. Có gì nôn nả hơn là được gặp mặt vợ con, mẹ và người thân. Nhưng làm sao về được? Và liệu chính phủ ngoài đó có tha thứ cho sự dại dột của anh không?
Lục không biết phải nói thế nào, ngồi chết trân khá lâu.
Luân quyết định đi thẳng vào điểm chính. Lục từng nói anh có một người cậu ruột làm bí thư huyện ủy. Và A.07 xác nhận đúng như vậy.
Con đường Lục về quê khá rắc rối. Thoạt nghe, Lục từ chối. Ai đời đã lầm lạc vào Nam, bây giờ lại nhảy dù ra Bắc trong lốt thám báo. Mang tội gấp đôi. Anh cám ơn Luân, nhưng nhất định không nhận. Trong mắt Lục, Luân phát hiện cái nhìn Luân không hẳn là khinh miệt song mất hết thiện cảm.
Chính cái nhìn chân thật ấy cho phép Luân đi sâu hơn vào kế hoạch mà anh dự kiến từ lâu.
Lục đăng ký vào đội thám báo nhảy dù do James Casey phụ trách với sự nhất trí của Luân và bác sĩ Tuyến. Lục chuyên chú học tập, ngoài nhảy dù, các kỹ thuật thông tin, điện đài, mật mã, sử dụng súng ngắn, võ Judo, sử dụng chất nổ.v.v… Trường huấn luyện thám báo đặt ở sân bay quân sự Biên Hòa và được giữ tuyệt đối bí mật. Lục vẫn lái xe cho Luân và mỗi tuần vắng hai ngày, trừ tháng cuối cùng phải ra Nha Trang ở hẳn trong trường biệt kích Mỹ.
Bây giờ, đã đến lúc dự định thành sự thật ngày mai, Lục từ giã Luân. Anh sẽ được chở ra Phú Bài. Từ Phú Bài, anh đi trực thăng sang một căn cứ giấu tên ở Bắc Lào. Từ căn cứ biệt kích Mỹ đó, máy bay sẽ cất cánh vào ban đêm và rải cả toán của anh từ Nho Quan đến Bùi Chu, Phát Diệm. Riêng Lục, anh là người nhảy sau cùng xuống ngay quê Hải Hậu của anh, trước khi máy bay ra biển Đông.
James Casey dành nhiều thì giờ để giới thiệu tình hình các vùng mà toán thám báo sẽ có mặt. Theo gã, mọi sự tuyệt vời đến nỗi không còn gì tuyệt vời hơn: quần chúng Bắc Việt chán ghét chế độ Cộng sản sẵn sàng hợp tác với các chiến sĩ đến giải phóng cho họ, đã có rất nhiều cơ sở ở ngay các thành phố.
- Các bạn đi dạo - tôi có thể báo như vậy. - James Casey kết thúc buổi thuyết trình trước một tấm bản đồ với các chỉ dẫn cấn thiết. Nhìn vào bản đồ, những tên đâm thuê chém mướn thấy đúng là mình sẽ đi dạo. - Không có gì nguy hiểm cả, trừ kỹ thuật nhảy dù. Nếu nhảy kém, rơi vào núi hay xuống biển. Thế thôi, kẻ thù chực chờ để ám hại các bạn chính là những thứ vô tri ấy. - James Casey nhấn mạnh- ... Bạn nào thích uống rượu, tha hồ. Thịt chẳng thiếu. Và đây mới là điều tôi tiết lộ quan trọng nhất: các cô gái đẹp sẽ không bao giờ quên ơn những trang anh hùng vì họ mà dấn thân...
James Casey huênh hoang. Tuy vậy, chỉ cần còn đôi chút tỉnh táo, bọn thám báo sẽ hỏi: nhảy xuống thảm nhung nhưng tại sao mang theo mỗi người hai khẩu súng - một tiểu liên và một súng ngắn, một con dao, cơm khô, thịt hộp, thuốc trị sốt rét, võng, giấy tờ giả và, cái này thì James Casey hoàn toàn không nhắc một lời, viên thuốc độc thực mạnh.
Lục là một trong không nhiều lắm người tỉnh táo. Anh hiểu sự thể ngược hẳn điều James Casey vỗ vai từng người và gã quên phắt là trước đó, gã ba hoa rằng mỗi chiến khu đều có điện đài, ngày nào cũng liên lạc với gã...
- Chỉ cần William Porter, trùm CIA ở Sài Gòn, bắt được làn sóng của thám báo thì James Casey lên lon trung tá ngay. - Luân bảo Lục như vậy.
Bây giờ, Lục chia tay Luân. Anh nhìn Luân với đôi mắt vừa chịu ơn, vừa lo lắng.
- Phần em thế là xong. Còn ông và cô Dung...
Lục khóc.
- Em vào Nam, như một tên phản bội Tổ quốc. - Lục bệu bạo - Em ra Bắc như một con người. Ơn của ông lớn lắm. Em sẽ cùng vợ con và mẹ em thường cầu Chúa ban phước cho ông và cô Dung...
- Chú yên tâm. Chú không thất tôi và Dung sống vững vàng lắm sao? - Luân nói, giọng đứt quãng vì anh cũng xúc động.
- Đành vậy. Song biết nói thế nào về ngày mai? Em thương ông với cô Dung nhiều. Em hiểu công việc của ông và cô. Em cảm phục lắm. Nhưng vở kịch nào cũng không thể giống y như ngoài đời, dù kịch sĩ đóng giỏi. Ông và cô Dung tiếng là cưới hỏi nhưng ngủ riêng. Anh Thạch cũng thấy. Em và anh Thạch thấy, dì Sáu nấu cơm thấy. Có thể có người khác thấy... Anh Thạch thương ông, em biết, dì Sáu cũng vậy... Nhưng, nếu họ bị bắt phải khai thật về ông và cô Dung thì sẽ ra sao? Bây giờ thêm cái thằng láu cá Toàn lái xe cho ông. Nói thật em lo lắm. Có em bên cạnh, ông đỡ vất vả. Em muốn xin ông cho em thư thả hãy ra Bắc.
- Đâu được! - Luân lau nước mắt, anh nghĩ nếu không dứt khoát thì Lục sẽ đổi ý - Chú cứ ra. Chú quên rằng chú còn trở vào hay sao?
Lục cười rạng rỡ, dù nước mắt ướt má anh:
- Em gặp gia đình rồi, sẽ tình nguyện vào ngay.
- Các đồng chí sẽ thu xếp cho chú. Chú trở vào cũng phải theo con đường của chúng nó...
- Em hiểu!
- Chú nhớ nhảy dù không có vật chuẩn. Nhảy theo tọa độ vào ban đêm. Có thể xê dịch mục tiêu hàng chục cây số. Sửa soạn phao cho kỹ, quê chú liền biển...
- Ông khỏi lo, rơi ngoài khơi em cũng vào bờ được.
- Tôi tin chú tháo vát...Hễ xuống đất, chú liên lạc với một trạm dân quân hay công an nào gấn nhất. Liên lạc mà đừng làm ồn ào. Chú đề nghị áp giải chú về huyện. Đến huyện, chú nhờ chuyển “vật đó” về Bộ Nội vụ, theo địa chỉ tôi đã dặn. Ở xã, huyện hay tỉnh, chú một mực không nói gì cả... Dù người ta tống giam chú.
- Em sẽ làm đúng như ông dặn.
- Số cùng nhảy dù với chú đều rất hung ác, quỷ quyệt. Chú phải thận trọng, nhất là trước khi nhảy xuống Hải Hậu. Từ đây đến Bắc Lào, chú vẫn ở trong vòng nguy hiểm. Tôi đợi điện đài của chú lên tiếng, nghe được điện đài, chúng tôi khui liền một chai sâm banh!
- Em xin phép chào cô Dung.
- Được... Trưa nay, chúng ta ăn cơm gia đình.
- Em nói ý chót... - Lục do dự hồi lâu - Em muốn ông và cô Dung...
Luân cười mà mắt đo đỏ:
- Cám ơn anh!
*
Luân theo thang máy lên từng thượng khách sạn Caravelle. Anh biết James Casey đã có mặt, xe của gã đỗ bên lề. Dung không bận nhưng cô từ chối bữa cơm hôm nay.
- Em đến chỉ thêm phức tạp...
Nói xong, Dung đỏ mặt. Cô đã nói chuyện suốt buổi với Lục và điều mà Lục băn khoăn cũng chính là điều cô băn khoăn.
James Casey ngồi ở một bàn xa nhất, từ đó có thể nhìn bao quát một góc Sài Gòn.
Người mà Luân không ngờ cũng có mặt trên từng thượng là Ly Kai và Fanfani.
- Ồ! Ông kỹ sư... thật là trái đất tròn.
Fanfani duyên dáng chìa tay cho Luân.
- Tôi hẹn ăn cơm với thiếu tá James Casey...
- Tôi biết... Thiếu tá James Casey vừa nói. Do đó, tôi không được ngồi chung bàn với ông. chắc hai người cần trao đổi...
- Tôi nghĩ chẳng có gì trở ngại...
Ly Kai cũng vồn vã không kém:
- Chào ông kỹ sư...
“Thằng cha nầy đến tình cờ hay có dụng ý?” - Luân hỏi thầm khi bắt gặp cái liếc của gã mặc complet xám cùng ngồi với Ly Kai.
- Xính xáng khỏe chứ?
- Cám ơn ông kỹ sư. Xin phép ông...
Ly Kai trở về bàn. Fanfani được James Casey mời sang ngồi chung.
- Ông kỹ sư và thiếu tá biết người cùng bàn với ông Ly Kai là ai không?
Luân và James Casey đều lắc đầu.
- Một người Hoa, tên Dèng Chái Hính. - Fanfani tỏ vẻ thành thạo.
- Chủ chứa cờ bạc?
- Có thể?! - Fanfani đủng đỉnh - Nếu hiểu chủ chứa theo nghĩa rộng, mặc dù đích thị ông ta đứng tên mấy sòng bạc lớn ở Ma Cao, Singapore, Monaco, La Havana...
James Casey huýt sáo mồm, thán phục. Câu trả lời của Fanfani khá mập mờ, song Luân không muốn hỏi thêm. Anh nâng ly:
- Nào, mời thiếu tá, mời cô Fanfani.
Uống xong, Fanfani hỏi:
- Có việc gì mà ông thiếu tá và kỹ sư nâng ly?
- Vui thì nâng ly, không được sao? - James Casey vặn lại.
- Tất nhiên - Fanfani duyên dáng - Song, vui về chuyện gì?
- Tôi rất cám ơn thiếu tá... - Luân chưa nói hết câu thì nhận được bàn chân James Casey khều nhẹ anh. Fanfani không thấy, nhưng qua cái kính trên tường, Luân bắt gặp Dèng Chái Híng để mắt nơi gầm bàn - hai bàn kề không xa mấy.
-... đã giúp tôi mua một chiếc xe du lịch Nhật... - Luân nói không hề đứt đoạn.
Fanfani cười. Chắc chằn là cô không tin.
- Tới phiên tôi. - James Casey rót một ly khác - Tôi chúc ông Luân sớm làm cha - Giọng gã ít nhiều khiêu khích.
Luân uống cạn. Anh nheo mắt ngó James Casey hàm ý: “Tôi làm chủ, lúc nào có còn là tùy ý muốn của tôi”. Người không được vui lại là Fanfani. Cô nói sang chuyện khác:
- Ông kỹ sư vừa đi thị sát Dầu Tiếng về. Tôi muốn biết ý kiến của ông xung quanh trận tấn công. Tôi xin phép lên đó, song Bộ Thông tin đã từ chối. Lucien Bodard của France- Soir (1) viết một bài, kèm ảnh.. Tuy vậy, ông ta không viết một từ nào, chứng tỏ trận tấn công là của Việt Cộng. Tờ Journal Dextrême- Orient (2) in tại Sài Gòn thì giữ thái độ im lặng hoàn toàn.
- Cô Fanfani thân mến! - James Casey sốt ruột - Đây là bữa uống rượu..
- Nếu cô Fanfani định viết bài về Dầu Tiếng, tôi sẽ làm vừa lòng cô, đúng như thiếu tá nói, vào dịp khác. Xin mời! - Luân lại nâng ly.
Ly Kai đứng lên mang ly rượu đầy đến:
- Dạ, xin phép ông kỹ sư, thiếu tá và cô! Ông bạn của tôi, một khách du lịch từ Floida sang, nghe tiếng ông kỹ sư muốn làm quen, tôi hân hạnh giới thiệu...
Người khách cũng đã đứng lên mang ly sang.
- Hân hạnh! - Ông ta nói tiếng Anh - Tôi John Hing...
- Hân hạnh! - Luân chạm ly với ông ta. Bốn mắt ngó thẳng nhau, đôi mắt ông ta hơi xếch kiểu người Hoa Bắc, vừa dữ dội vừa lạnh lùng. Phút tiếp xúc đó như cuộc đọ sức và Luân đối phó lại bằng cái nhìn rất thẳng, rất sâu nhưng pha chút cười cợt. Người bỏ cuộc là John Hing. Ông ta không kềm chế nổi trước lối khinh khi của Luân. Các ly rượu đều cạn.
Luân chủ động kéo ghế mời John và Ly Kai.
John trao danh thiếp cho mọi người. Ông ta ghi chú thêm số phòng trọ và số điện thoại của ông tại khách sạn Majestic. Luân cũng trao danh thiếp của anh.
“Dèng Chái Hính... Dương Tái Hưng! Gã đây rồi!” - Luân nhớ lời anh Sáu Đăng.
- Chúng ta làm quen! - John nói - Tôi là người thích giao du, cho nên thật sung sướng hôm nay gặp các ngài... Tôi sẽ càng sung sướng hơn nếu các ngài, trong một dịp nào đó, đến nhà riêng của tôi ở Florida. Tôi ngưỡng mộ ông kỹ sư vì vậy, tôi phải cám ơn cô Helen. Tôi ngưỡng mộ ông kỹ sư qua các bài báo của cô dịch và đăng trên Financial Affaire.
John nói tiếng Anh âm sắc Mỹ, như một người Mỹ chính cống.
- Nhưng tôi không ký tên dưới bản dịch! - Fanfani cười soi mói- Chắc ông Ly Kai đoán mò và báo với ông?
Ly Kai sa sầm mắt, John cũng thoáng bối rối. Song, ông ta giành tự chủ được ngay:
- Chẳng lẽ có nhiều người của Financial Affairs tại Sài Gòn?... Vả lại, đâu có gì quan trọng, phải không... Xin mời!
Họ ăn uống khá lâu, bàn linh tinh đủ thứ chuyện, tất cả đều là chuyện phiếm. Luân tỏ ra thoải mái. Ngồi quanh anh toàn hạng tình báo nặng cân, anh hiểu rõ. Chúng chưa phải từ một đầu mối chỉ huy song giữa chúng nếu có điều gì giữ kẽ với nhau thì điều đó hoàn toàn ở mức kỹ thuật.
- Chúc ông kỹ sư ngủ ngon, sau một ngày vất vả. - Ly Kai nói như vây khi họ chia tay.
“Sau một ngày vất vả?” - Luân nghĩ mãi về câu chúc không phải tình cờ đó.
- Có phải sáng nay, ở trường bay về, thiếu tá gặp ông Ly Kai? - Luân hỏi James Casey khi hai người ra khỏi khách sạn.
- Ồ! Tại sao ông biết? Đúng... Ông Ly Kai đi chơi trên Trị An, gặp tôi trên đường, ngay chiếc cầu bắc ngang sông, Đồng Nai... Có gì không ổn đối với “bản tango” không?
- Không! Nếu chỉ ở mức đó!
- Chắc chắn là chỉ ở mức đó...
“Nó theo mình...”, Luân nghĩ thầm...
Fanfani chào Luân, kèm theo câu hỏi:
- Ông kỹ sư không thích ông John?
- Tại sao tôi không thích? - Luân cười.
- Tôi biết là ông không thích...
- Cô độc đoán quá!... Cô cần tôi đưa cô về nơi cô nghỉ không?
- Rất bằng lòng, nếu ông dám! - Fanfani cười khúc khích.
- Tôi sẽ đưa cô đến tận phòng! Ta đi! Đi bộ hay đi xe? - Luân choàng vai Fanfani và cố ý siết hơi mạnh.
- Ông uống nhiều quá, phải không? - Fanfani rùng mình - nói vui - Thôi tôi còn chút việc... Cám ơn ông
Fanfani đứng đối diện với Luân mấy giây...
---
(1) Nước Pháp buổi chiều
(2) Nhật báo Viễn Đông

CHƯƠNG 6

Nhu đi lại trên thảm. Diệm ngả người trên ghế bành. Phòng khách của tổng thống cách biệt mọi ồn ào bên ngoài nhờ mấy lần cửa. Rèm cuốn lên, qua vách kiếng cái gò đất ngoài cổng dường như thấp hơn.
- Ông Nghuyễn Xuân Chữ không hài lòng tôi. - Diệm nói - Tôi định gặp ông ta. Những bài báo của ông ta chỉ có lợi cho Cộng sản...
Nhu biết rõ sự khó xử của anh mình đối với vị bác sĩ một thời quyền thế ở Bắc phần. Nó bắt nguồn từ tháng 8-1945, khi Diệm bị Ủy ban khởi nghĩa Trung Kỳ bắt trên đường từ Đà Lạt ra Huế. Đáng lẽ Diệm bị xử ngay tại chỗ nhưng lệnh của cụ Hồ bảo đưa Diệm ra Hà Nội. Ở Hà Nội, Diệm gặp Chữ trong nhà giam. Diệm đinh ninh mình sẽ phải chết, than thở thời vận. Nhưng Chữ lại tin là cả hai đều sống vì cụ Hồ chính là Nguyễn Ái Quốc, một nhà yêu nước sáng suốt, nhân đạo, đức độ... Diệm không tin, lén gởi thơ nhờ Nguyễn Hải Thần nói với Lư Hán hoặc Tiêu Văn - các ông tướng của Tưởng Giới Thạch can thiệp giúp. Chữ chế nhạo Diệm: không có vàng kèm theo, Nguyễn Hải Thần đời nào giúp, vả lại, Thần không đọc được chữ quốc ngữ, không biết tiếng Việt. Đến mức đó mà Diệm vẫn gởi cho Thần bức thư chữ Hán. Đúng như Chữ đoán, thư đi mà tin không lại. Và một buổi sáng sau ngày 2-9, cửa nhà giam mở, Thứ trưởng Nội vụ Hoàng Minh Giám mời hai người lên Bắc Bộ phủ.
Dù cả hai sau đó đều không cùng số phận - Diệm vô Đà Lạt, Chữ ở lại làm chánh khách - nhưng Diệm có phần nể Chữ. Chữ di cư vào Nam sau hiệp định Genève, đứng đầu các tổ chức tương tế người Bắc. Diệm đôi lần muốn mời Chữ làm một vai gì đó trong Quốc hội hay trong các đoàn thể, song ngại: Vai thấp thì Chữ chê, vai cao thì Diệm sợ. Lần khần mãi, Chữ bất mãn. Mượn sự quá chén trong tiệc tùng, Chữ xỏ xiên Diệm. Gần đây, Chữ viết báo. Tất nhiên, ai đó viết ký tên Chữ.
- Sắp tới Liên minh Á châu chống Cộng họp đại hội ở Hán Thành. Ta cho ông Chữ làm trưởng đoàn và đại diện Liên minh tại Việt Nam. Vậy là ổn. Phó chủ tịch Liên minh Á châu, đâu phải nhỏ.
Ý của Nhu giải tỏa nỗi băn khoăn của Diệm
-Tôi chưa ký quyết định giao cho Nguyễn Thành Luân làm chỉ huy trưởng Tỉnh đoàn bảo an Bình Dương kiêm tư lịnh chiến dịch “Cơn hồng thủy”. Tôi cũng chưa ký duyệt kế họach của anh ta... Đợi ý chú. - Diệm nói với vẻ thăm dò.
- Anh ký càng sớm càng tốt. - Nhu nói - Đó là chủ trương của em.
- Tôi chỉ ngại anh ta quá cứng, gây khó khăn cho ta. - Diêm nói xong giọng hớn hở.
- Luân đủ khôn ngoan, anh đừng lo. Thậm chí, thừa khôn ngoan nữa.
- Chú một mực không tin anh ta, sao lại trao cho anh ta nhiều quyền như rứa?
Nhu cười, ngay trước anh ruột mình, Nhu vẫn giữ điệu bộ của lãnh tụ. Đây là điều Nhu khác Diệm: Diệm đôi lúc sống như một con người thật, còn Nhu, lúc nào cũng bận tâm cái vẻ bề ngoài.
- Anh có cho rằng trị Cộng sản không ai tốt bằng Cộng sản? Em nói chưa thật đúng, trị Cộng sản không gì tốt bằng phương pháp Cộng sản. Ngoài Luân, chẳng còn người nào cáng đáng nổi công việc bình định phía Bắc thủ đô. Sau roi vọt, phải xoa dịu. Mai Hữu Xuân bình định, bình định xong, an ninh xấu hơn. Ta dám dùng Mai Hữu Xuân thì cũng dám dùng Nguyễn Thành Luân. Luân sẽ phủi hết những cái Xuân tạo ra. Anh đã nghe rồi, Xuân tạo cái gì? Những quả mìn nổ chậm. Thằng trâu đen đó, không từ chối bắn chúng ta nếu có cơ hội. - Giọng Nhu chợt gay gắt - Em hơn một trăm lần can anh dùng Mai Hữu Xuân. Cho hắn về hưu đi. Cho hắn sang Pháp đi.
- Chú quyên là ông ta còn bè bạn. Đối xử với ông ta còn phải nghĩ đến các ông Lê Văn Kim, Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Trần Văn Minh ngay ông Lê Văn Tỵ! - Diệm cao giọng.
Hễ Diệm cao giọng là Nhu dịu giọng. Nhu biết anh Tổng thống không ưa bị lép vế.
- Em trở lại Nguyễn Thành Luân. Luân có thể sẽ thẳng tay với một số người nào từng có công với chúng ta nhưng lại là mục tiêu chống đối của các phe phái và dân chúng. Anh ta bỏ tù, cách chức, thậm chí xử bắn chẳng qua là quảng cáo cho ta. Tổng thống làm mạnh, nhiều người hoang mang, còn Luân làm mạnh thì có đến hàng trăm lời giải thích, đằng nào cũng chỉ có lợi cho ta: Chính phủ công minh, sai sót trước kia là lỗi của cấp dưới. Ngược lại, sẽ như thế nầy: Luân lạm dụng chức quyền. Nói cho cùng, nếu cần, anh ta ra tòa trước bản luận tội không bắt bẻ nổi: Một Việt Công nằm vùng phá họai chính sách quốc gia.
Thuyết minh của đứa em - Diệu hiểu Nhu từ tấm bé - làm ông bàng hoàng. Ghê quá! Giả sử nó không phải máu mủ của mình...
- Tôi nghĩ là chú nên tìm hiểu và có cách nhìn anh ta công bằng hơn. - Diệm đổi thái độ- Theo tôi, anh ta rất cần cho ta...
- Em chưa bao giờ phủ nhận công dụng của Nguyễn Thành Luân. - Nhu say sưa đeo đuổi ý nghĩ - Nhưng, em không ngây thơ. Đối với một người như anh ta, ngây thơ là phiêu lưu. Báo cáo về anh ta mà em lắm thường lệch về hai cực: hoặc anh ta là một Việt Công tối nguy hiểm, hoặc anh ta là một phần tử Quốc gia không gợn đục. Cực thứ nhất do ganh tị, cực thứ hai vì nói đến anh ta là nói đến giám mục và tổng thống. Em chỉ cần nêu một ví dụ: Luân không ham tiền, không ham gái, không đòi địa vị, đó là cái gì? Lý tưởng ư! - Nhu cười rộ - Ngoài Cộng sản ai có lý tưởng? Giá mà anh ta nuôi mộng thay anh làm tổng thống, em yên bụng hơn!
Nhu dồn Diệm đến chân tường.
- Tuy nhiên, em sẽ cư xử với anh ta theo lợi ích của chúng ta. Ngay như cho anh ta là một Việt Cộng hóa trang đến mức tinh vi, không phải không cần cho ta! Anh biết rằng cái gì cũng có điểm tột cùng. Điểm tột cùng sẽ tạo ra sự trung hòa. Ta đang chống Cộng. Nhưng, khi nào nhu cầu chống Cộng thấp hơn một nhu cầu khác, trong một vài trường hợp thì người của Cộng đôi lúc hóa ra bức thiết đối với ta.
Diệm tán thành Nhu. Chú nó tính xa thật.
- Chú có dọ hỏi người Mỹ về Luân không?
- Dọ hỏi chi, họ không nói đâu. Luân quan hệ khá thân với đại sứ quán Mỹ. Tuy vậy, cho tới giờ này, anh ta chưa hề tỏ ra mình chịu đóng yên cương trong một cuộc chạy đua. Người Mỹ ve vãn anh ta. Giờ nào nhận lời mời mọc đó thì cũng là giờ anh ta tự sát! -Nhu nói qua kẽ răng câu này.
- Em chấp nhận một tên Cộng sản hơn là một tên lưu manh... Hiện thời, anh có thể coi anh ta là một đức cháu, một đứa cháu ngoan ngoãn cũng được. Nhưng, em xin anh chớ nói với Đức giám mục nhận xét của em. Đức giám mục cả tin, nói tuột hết mọi điều cơ mật với đứa con.
Diệm đứng lên:
- Tôi ký ngay quyết định. Chú bảo Luân gặp tôi trước khi lên Phú Cường...
*
Luân day mặt vào tường, nhắm mắt. Từ hôm “lễ cưới” tới nay, quan hệ giữa anh và Dung đâm ra ngượng nghịu. Đêm anh giữ ý đi nằm trước trên chiếc chiếu trải dưới sàn tận góc phòng. Dung mở đèn bàn, cố ru giấc bằng mấy trang sách. “Tuần trăng mật” diễn ra như vậy và về nhà tiếp tục như vậy.
Nhưng, ngày mai Luân chính thức nhận nhiệm vụ ở Bình Dương. Dung bỗng thấy lo. Cô xếp sách, bật đèn - cô biết là Luân chưa ngủ - đến cạnh Luân:
- Anh Luân ơi! - Cô gọi - Giá mà lực lượng vũ trang của ta giảm hoạt động khi anh lên đó, em thấy hay hơn.
- Sao vậy? - Luân trỗi dậy - Trái lại, trong vài tháng đầu, phải đánh dồn dập... Cô đánh giá CIA thấp quá!
- Anh có báo cáo kế hoạch với anh Sáu không?
- Lúc đó tôi chưa biết Nhu sẽ giao tôi công việc nầy nên đâu báo cáo được tỉ mỉ. Song, có hướng chung rồi...
- Nhu đặt tên “Cơn hồng thủy” cho chiến dịch là muốn tràn ngập vùng căn cứ ta đó!
- Phải...Thế nào cũng có “Cơn hồng thủy”. Vấn đề là ai tràn ngập ai... Công việc của chúng ta phải táo bạo một cách thận trọng. Tình thế khẩn trương lắm.
- Theo em, chúng ta phải thận trọng một cách táo bạo! - Dung “sửa” Luân.
- Thôi được tôi nhượng bộ cô! - Luân cười.
Dung ngồi cách Luân có một với tay. Bỗng nhiên, Dung đẹp lạ lùng anh nhớ lại một câu Kinh thánh: cố gắng lên, thiên đường trong gang tấc.
- Giờ nầy, anh Lục ở đâu, hở anh?
Dung hỏi cả chục lần mấy hôm nay. Luân không trả lời. Anh biết giờ nầy Lục ở Bắc Lào, nhanh nhất thì tối mai mới “nhảy”. Nhưng anh không trả lời.
- Sao anh nhìn em dữ vậy? - Đến lượt Dung đỏ mừng má.
Luân cầm tay Dung và trân trọng cúi hôn. Dung từ từ rụt tay về thở dài:
- Anh ngủ đi!
Dung trở về giường, tắt đèn. Luân nằm xuống chiếu:
“Lấy nhau cũng là hy sinh, không lấy nhau cũng là hy sinh...”, câu nói đó của anh Sáu chợt văng vẳng.
“Ta chọn cách hy sinh nào?”, Luân tự hỏi và nhắm nghiền mắt. Giấc ngủ đến với anh thật khó khăn. Có lẽ anh đoán, Dung cũng không khác.
*
Tiếng điện thoại reo dựng Luân dậy.
- Tôi nghe đây... Phải, Luân đây...Ai ở đầu dây đó?
- Chào thiếu tá. Tôi là một người quen. - Người nói chuyện với Luân có giọng nói lạ.
- Xin lỗi, người quen là ai?
- Chưa phải lúc xưng tên... Tôi biết thiếu tá sắp đi nhận nhiệm vụ mới. Tôi muốn biết thiếu tá hành động như thế nào?
- Nếu chưa biết mình đang nói chuyện với ai thì tôi sẽ không trả lời...
Dung đã đứng cạnh anh, theo dõi chăm chú cuộc trao đổi mà cô chỉ đoán lời người lạ qua những câu của Luân.
- Thiếu tá định đánh Việt Cộng hay định làm một cái gì khác? Đánh Việt Cộng, đó là việc của thiếu tá. Song nếu không đánh Việt Cộng thì thiếu tá liệu hồn!
- Hăm dọa tôi? Thật lố bịch. Tôi đánh tất cả những cái gì gây ra mất an ninh, kể luôn đảng Rừng Xanh! Không cần dài dòng! - Luân cướp lời và cắt máy.
- Gì thế anh? - Dung trao cho Luân chiếc khăn lau mặt.
- Bọn nào đó... Bọn nào? Giọng nói lạ... Lạ mà không lạ. Hình như ông ta có đổi giọng... Ai?
Luân nghĩ mãi không ra.
- Đảng Rừng Xanh dính líu với ai? Ai mà biết việc tôi làm nhiệm vụ mới? Báo chưa đưa tin. Quyết định của tổng thống sẽ được trao cho tỉnh trưởng Bình Dương sáng mai và cũng sáng mai, các tỉnh Bình Long, Tây Ninh, Biên Hòa, mới biết. Tiết lộ từ Tổng tham mưu? Từ Tham mưu biệt bộ? Từ Nha Công vụ? Bộ Công dân vụ? Tổng nha Cảnh sát? Trung ương tình báo? Từ văn phòng tổng thống?
- Có thể từ tất cả những nơi anh kể! - Dung nói rầu rầu.

CHƯƠNG 7

Luân đến chào Diệm, trước khi lên Phú Cường. Tổng thống hoàn toàn thoải mái, không nói gì thêm về công việc của Luân. Ông bảo Luân cùng dự với ông một phiên tiếp tân các nhân sĩ. Luân chưa hiểu ý nghĩa của phiên tiếp tân nhưng cảm giác là Diệm, trong tư thế người chủ động tạo ra “ thời đại mới”, muốn chứng minh thái độ sẵn sàng nghe các quan điểm khác nhau.
Cuộc tiếp tân tiến hành ngay tại phòng khách dinh Độc Lập – chương trình ghi rõ: Tổng thống mời cơm các nhân sĩ. Vợ chồng Nhu tuy vẫn ở trong dinh nhưng không dự để không khí tiếp tân được nhẹ nhàng.
Người đến sớm nhất là Phan Quang Đán – bác sĩ. Luân đón ông ta ngay thềm.
- Oh la la! - Đán reo – Quand un vrai génie parait dans se monde on le distingue à cette marque: tous les sots se soulèvent contre lui! Đúng không? (1)
Luân chỉ gặp vài lần vị bác sĩ nầy ở mức xã giao – thiên hạ bảo là ông ta chưa có bằng cấp và thực tế không hành nghề bác sĩ. Vài lần cũng đủ cho Luân nhận xét về Phan Quang Đán: ba hoa thiên địa, xu thời, ranh vặt.
- Nầy, các bài của vous trên “Bách khoa” convaincre moi, Mais, comment, dirais je? On hurle dans le désert n’est ce pas? Một point de vue như vầy hoàn toàn sẽ bị rejeté. Vous ngây thơ quá! (2)
Đán nói pha tiếng Pháp với tỷ lệ cao. Luân thấy thêm tính cách hài hước của Đán: Một anh chàng lăng xăng như vậy mà là “chủ bài” của Kennedy thì quái đản thật!
Người thứ hai đến là Phan Huy Quát, cũng là bác sĩ. Quát hời hợt bắt tay Luân. Luân hiểu: anh chẳng là cái gì cả trước con mắt của một chính khách tự phong vị trí ít nhất cũng là phó tổng thống. Thuộc đảng Đại Việt mà!
Người thứ ba, Nguyễn Ngọc Thơ. Thơ niềm nở bắt tay Luân. Phó tổng thống thậm trí hơi rụt rè trước Luân. Vị quan lại cũ, bỗng dưng leo lên phó tổng thống, biết thân biết phận, bao giờ cũng lùi phía sau cánh gà. Vụ dụ hàng Ba Cụt mà ông là người mối lái kết thúc bằng cái chết của viên tướng Hòa Hảo đã biến ông thành tấm bia hứng bao nhiêu lời nguyền rủa, khinh miệt. Chỉ có đức Phật mới hiểu lòng ông: không phải riêng Ba Cụt, chính ông cũng bị lừa. Song, ông không đủ gan nói lên sự thật. Đành nhẫn nhục sống qua ngày vậy! Với ông, Luân là thân thuộc gia đình tổng thống, tốt hơn hết là uốn mình trước Luân, chẳng mất cái gì….
Người thứ tư là Nghiêm Xuân Thiện, cựu tổng trấn Bắc phần, nay chủ trương tờ “Thời luận” với những bài công kích chế độ Diệm khá độc ác. Thiện cũng đi với Nguyễn Xuân Chữ. Một bộ bốn người cùng đến một lượt: kỹ sư Lưu Văn Lang, trắc lượng sư Phạm Văn Lạng, giáo sư Dương Minh Thới, bác sĩ Nguyễn Xuân Bái. Luân lễ phép chào từng người. Anh tôn trọng các vị tự đáy lòng. Đây là những trí thức Tây học thuộc lớp đầu không chọn con đường làm quan và làm giàu, sau Cách mạng tháng Tám chọn lập trường dứt khoát đứng sau lưng cụ Hồ. Các cụ một thời được đánh giá là “đại diện công khai của Việt Minh ở Sài Gòn” – sau đình chiến, tuy trong các cụ có sự phân vân lúc đầu về Ngô Đình Diệm – yêu nước hay Việt gian – nhưng các cụ không tán thành chống Cộng. Và, lần nầy, Diệm dám mời các cụ…
Kỹ sư Lưu Văn Lang ngó Luân:
- Anh là sĩ quan quân đội kháng chiến?
Luân gật đầu.
- Anh phản? - Cụ Lang cau mày, rút khăn lau bàn tay vừa mới bắt tay Luân.
- Tôi ghét phản! – Cụ ném câu nói đó vào mặt Luân rồi hầm vào phòng họp.
Luân tiếp nhận lời mắng mỏ cụ Lang với một tâm trạng buồn vui lẫn lộn. Cá nhân anh thật thiệt thòi, bị sỉ nhục. Nhưng đất nước này vẫn còn những con người tiết tháo như vậy thì nó không hề ngã, dù cho kẻ thù là ai.
Lần lượt Nguyễn Thành Phương, Trần Văn Soái, Lâm Thành Nguyên, những ông tướng một thời hét ra lửa nay sống nhờ chút lượng bao dung của Diệm – bước lên thềm dinh Độc Lập mà rón rén tựa hồ vào nơi thờ các đấng thần linh.
Rồi các nhà báo Nam Đình, Vũ Ngọc Các….
Người đến sát giờ khai mạc là Trần Văn Hương. Hương cầm gậy dù ông đi không cần phải chống với vẻ mặt thách thức. Hương bắt tay Luân theo lối kẻ cả. Từ khi thôi chức đô trưởng, Hương cùng một số người lập ra nhóm “Tinh thần” – quan điểm chính trị không rõ ràng, song hàm ý đối lập với đảng Cần Lao đồng thời cũng không liên minh với đảng Dân Chủ. Nhóm Tinh thần chủ trương chống Cộng, phản đối chế độ độc tài cá nhân gia đình trị - những cái theo nhóm này, vô hiệu hóa khả năng chống Cộng.
Hương nhìn Luân, mắt hơi nheo. Hẳn là ông liệt Luân vào hạng đầu sỏ của đảng Cần Lao. Tuy nhiên, ông vẫn nhớ lần tiếp xúc cách đây ba năm, Luân gieo cho ông một ấn tượng khá đậm.
- Tôi sưu tầm các bài thơ của tôi, lúc nào tiện sẽ gửi anh đọc chơi!
Luân cám ơn.
Mọi người đông đủ, theo giấy mời, trừ vài trường hợp. Người ta kê ghế thành vòng tròn. Tổng thống ngồi chung trong vòng tròn đó, sắp sửa nói thì thêm một người nữa vào. Diệm hơi cau mày khi thầy bộ áo già, chuỗi tràng hạt và gương mặt tương phản với bộ vỏ bề ngoài của người đến trễ. Thượng tọa Thích Tâm Châu – có tiếng xì xào. Luân biết Thượng tọa và biết tương đối kỹ, ngay lúc Thượng tọa vừa di cư vào Nam. Người cung cấp tài liệu đầy đủ cho Luân lại là Nhu: Ông là hội trưởng tăng già Bắc Việt đầu tiên liên quan Phòng Nhì Pháp, sau đó bắt mối CIA và hiện nay đang được CIA chăm sóc. Người của Thượng tọa cử đi học bên Mỹ bao giờ cũng hưởng nhiều điều kiện dễ dàng. Thượng tọa đang cố gắng tạo cho mình một phong thái lãnh tụ và việc ông đến trễ cũng là một cách tự làm nổi bật trong buổi tiếp xúc đặc biệt nầy. Chẳng rõ vô tình hay cố ý mà Thượng tọa chọn chiếc ghế đối diện với Diệm. Thượng tọa chắp tay, khẽ cúi đầu chào khắp lượt và đường bệ ngồi xuống. Linh mục Cao Văn Luận là người duy nhất không đáp lễ Thượng tọa.
- Hôm nay, tôi mời quý vị đến để trao đổi về tình hình đất nước. - Diệm nói và khi nói ông không tài nào khắc phục nổi cái cố tật là không ngó cử tọa. - So với vài năm trước, Việt Nam Cộng hòa đã lớn mạnh, đối nội đã dẹp yên các thế lực Thực, Phong, Cộng; đối ngoại thì liên kết chặt chẽ với thế giới tự do, uy tín ngày mỗi cao trên trường quốc tế.
Diệm nói không nhìn vào giấy và đúng ra, ông cũng chẳng có giấy. Ông tự tin đã nắm mọi sự, đã rành mọi sự. Có thể ông nắm và rành thật, nhưng khoa ăn nói đã phản ông. Ông không phải hạng hùng biện. Do đó nhiều khái niệm khiến ông lúng túng. Diễn đạt khái niệm bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh, Diệm không đến nỗi tồi; song trước các nhân sĩ mà tổng thống lại xen tiếng nước ngoài thì thật vô cùng bất tiện.
Diệm nói ngót 10 phút mà vẫn chưa ra khỏi phần nhập đề, trái lại, càng về sau càng xa đề. Vài người, như linh mục Cao Văn Luận muốn gỡ rối cho tổng thống, nhưng chưa dám. Với Diệm ai ngắt lời ông thì coi như phạm thượng.
Sau cùng, bản năng của ông gỡ rối cho ông: ông bỏ các “đúc kết” trừu tượng về “Vị thế của Việt Nam Cộng hòa hiện tại” mà rẽ vào các mẩu chuyện. Ông hoạt bát hẳn. Mẩu chuyện của ông nhiều vô kể: Lễ thượng ảnh tổng thống ở Quảng Nam, tấm lòng của các thiên thần mũ đỏ - tức lính dù – với nguyên thủ quốc gia như: trích máu viết thơ xin được “bình Cộng thu Bắc” (3), mối quan hệ cá nhân đậm đà giữa tổng thống Việt Nam Cộng hòa với tổng thống Mỹ, tổng thống Trung Hoa Dân quốc, tổng thống Đại Hàn, tân tổng thống Phi Luật Tân…
Diệm càng hào hứng thì các nhân sĩ càng khó chịu. Vì không ngó cử tọa, Diệm không thể bắt gặp những cái lắc đầu nhè nhẹ và rất tế nhị, những cặp mắt lơ đãng nhìn lên trần nhà hoặc nhìn ra bên ngoài, những cái liếc đồng hồ tay khéo léo.
Cao Văn Luận – ngồi cạnh Luân – chạm tay anh hất hàm ra dấu như trách anh sửa sọan cho tổng thống không tốt. Luân nhún vai, linh mục Luận có thể hiểu, tổng thống không nói theo những điều anh sửa soạn hoặc anh chẳng can dự vào vụ này.
Ngót một tiếng đồng hồ, Diệm thao thao. Chắc chắn đây là lần đầu các nhân sĩ có dịp mổ xẻ tổng thống - ông ta ngồi trước hàng trăm cặp mắt rất muốn phân tích ông, người mà hầu hết nhân vật có mặt hôm nay đều xem là đối thủ.
Điều hết sức dở trong lúc say sưa tự gán cho ông các phẩm chất như được dân yêu, quân đội kính, bạn bè nể, Diệm đã bộc lột tất cả những gì ẩn tàng trong ông, một con người rất thật đang nói. Bỗng Luân so sánh Diệm - Nhu. Nhu hoàn toàn ngược lại – dè sẻn từng lời, không phơi bày trước người khác, nói mà không bao giờ để người khác phát hiện mặt hậu của anh ta…. Diệm giống Thục hoặc Luyện.
Nhân lúc Diệm ngưng nói để tìm đề tài mới, linh mục Cao Văn Luận đứng lên đề nghị tổng thống nghỉ ngơi một lúc… Đề nghị của Luận muốn giúp Diệm lại bị Diệm quật:
- Tôi còn khỏe, rất khỏe….
Linh mục Luận quên các lẽ tối kỵ của Diệm – lên tột đỉnh vinh quang, không thích ai đó cho mình đã yếu về thể lực.
Diệm lấy đà từ chỗ phê phán linh mục Luận nói qua sự minh mẫn của các nguyên thủ: Tưởng Giới Thạch, De Gaulle, Eisenhower... Tất cả cao tuổi hơn Diệm.
Tình hình miền Nam vào thời điểm 1958 nầy quả một số mặt mơn trớn Diệm. Nhưng chính Diệm tự mơn trớn mình là chủ yếu – Luân ngẫm nghĩ. Ông không biết, không thích biết những cái trái ý ông đang diễn ra, lớn lên. Nguy cơ của chế độ Diệm trước hết chính là Diệm, Luân kết luận như vậy.
Rốt cuộc, Diệm cũng đồng ý nghỉ giải lao. Khách được mời sang buồng bên cạnh uống cà phê. Diệm rạng rỡ ngồi một bàn riêng. Ông không thể nghe thiên hạ nói về ông dù nói rất khẽ. Luân quan sát: Trần Văn Hương ưu tư, các cụ Lưu Văn Lang, Nguyễn Xuân Bái… bình thản, Trần Văn Soái, Nguyễn Thành Phương hoan hỉ - hoan hỉ theo nghĩa nào, chưa rõ. Thích Tâm Châu, Phan Quang Đán tươi cười - chắc họ nghĩ đối thủ của họ lẩm cẩm rồi, không đứng được lâu đâu.
Khi mọi người lục tục trở lại phòng, vợ Trần Văn Chương xin nói. Bà chưa nói, ai cũng đoán bà sẽ nói gì. Đại diện Việt Nam Cộng hòa tại Liên hiệp quốc, mặc dù tuổi đã luống – bà hơn chàng rể Ngô Đình Nhu chỉ có 6 tuổi – bà Chương vẫn còn giữ đường nét thuở trẻ, đẹp lộng lẫy. Và, người ta bảo Lệ Xuân thừa hưởng ở bà tất cả - bề ngoài và luôn cả sự đanh đá. Tính cách quý tộc gia truyền – bà vốn là con của Thân Trọng Huề - kết hợp với nghề ngoại giao mà bà giúp chồng từ khi Trần Văn Chương làm bộ trưởng trong nội các Trần Trọng Kim. Bà Chương biết phải nói cho tổng thống hởi lòng hởi dạ. Tốt nhất là minh họa bằng hình ảnh sinh động “mắt thấy tai nghe” tại Nữu Ước, và Hoa Thịnh Đốn về uy tín ngất trời của tổng thống. Bà nói hơn nửa giờ. Vài người xì xầm. Luân biết những người đó ngỡ Diệm nhờ thông gia tâng bốc ông. Sự thật, Diệm hề không hề nghĩ đến sự “cò mồi” như vậy. Nhưng, ông lại rất thích.
Bà Trần Văn Chương vừa dứt, trung tướng Nguyễn Thành Phương đứng lên, mô tả Diệm như là bậc giáo chủ vĩ đại được cả đạo Cao Đài tin phục. Phương có tật nói lố. Ông ta thưa rằng những cuộc cầu cơ ở Tòa thánh Tây Ninh là để cầu an cho tổng thống: “nhiều chức sắc nhịn ăn, tắm gội sạch sẽ, khấu đầu trước đức Thầy với chỉ mỗi một câu. Cầu xin ơn trên phù hộ Ngô tổng thống”. Cái lạ mà Luân phát hiện là mặt mày Diệm nở nang – ông ta khoái luôn là lời phỉnh trơ tráo. Trần Văn Soái nói láo dở hơn Nguyễn Thành Phương, ông chỉ lắp bắp: Tín đồ đạo Hòa Hảo nguyện siết chặt hàng ngũ sau lưng Ngô tổng thống anh minh – dường như là câu ông học thuộc trơn tru hơn cả từ khi quy thuận. Sau Năm Lửa, còn thêm một số người nữa. Vẫn ca ngợi, nịnh nọt.
Thế là chấm dứt buổi tiếp tân. Luân thất vọng. Anh muốn nghe cánh đối lập nhưng từ Phan Quang Đán đến Vũ Ngọc Các, chẳng ai mở miệng.
Bữa cơm tổng thống đãi tất nhiên thịnh soạn. Mặc dù vậy, theo Luân quan sát, ít người ăn ngon. Anh ngồi cạnh cụ Lưu Văn Lang và Phan Quang Đán.
- Tại sao cụ không bày tỏ chính kiến của cụ? – Đán hỏi.
Cụ Lưu Văn Lang cười:
- Nếu tôi nói, ông sẽ hỏi: Tại sao tôi nói? Ông mới cần nói chứ tôi nói để làm gì?
Thấy Phan Quang Đán không hiểu ý cụ, cụ nói tiếp:
- Ông là người trong cuộc, ông cần nói!
- Thưa cụ, tôi đối lập! – Đán vênh váo.
- Đối lập là cái gì? Con ngựa đen với con ngựa trắng đối lập với nhau, để giành cho mình kéo cỗ xe phải không? Tôi đố ông dám đối lập với cỗ xe và người đánh xe! – Nói xong, cụ Lang cười khà khà. Đán đỏ mặt tía tai. Cụ Lang quay sang Luân:
- Anh có đối lập không?
- Thưa bác, cháu đang làm việc cho chế độ! – Luân nói rành rọt.
- Ừ, mình là đồ giả thà cứ nhận đồ giả, tôi chịu anh. Tôi ghét thứ đồ giả mà bán rao đồ thiệt. - Cụ Lang chửi thẳng Phan Quang Đán và từ đó cho đến dứt tiệc, không ngó Đán một lần.
Khách lục tục ra về. Thượng tọa Thích Tâm Châu chào Luân:
- Phiền ông kỹ sư, tôi muốn xin gặp tổng thống độ một tiếng đồng hồ, ông kỹ sư giúp được không? Lúc nào thì do tổng thống định. Gọi điện thoại cho tôi. – Thượng tọa trao cho Luân một danh thiếp bằng tiếng Anh.
“Sư mà xài danh thiếp sang quá!” – Luân cầm tấm danh thiếp in chữ nổi, nghĩ bụng. Hơn nữa hình như Thượng tọa xài cả dầu thơm hảo hạng…
- Tôi sẽ trình với ông tổng thống. Song, nếu không có chi bất tiện, thượng tọa cho tôi biết mục đích gặp tổng thống của thượng tọa.
- Tôi sẽ chuyển đến tổng thống thỉnh nguyện của giáo hội…
- Thỉnh nguyện về vấn đề gì?
- Chung quanh ngày Phật đản, đa số dân Việt là tín đồ Phật giáo, tại sao không được hưởng quyền lợi tinh thần như Thiên Chúa giáo? Thiên Chúa giáo có Noel, Phật giáo có Phật đản… kế đó, giáo hội xin thành lập Nha Tuyên úy Phật giáo….
- Còn chi nữa?
- Xin mở trường Đại học…
- Tôi sẽ trình với tổng thống, còn quyết định thế nào là do tổng thống…
- Tôi cám ơn ông…
Luân vào chào Diệm. Anh không dè Diệm thấy anh nói chuyện với Thích Tâm Châu.
- Hắn nói chi với cháu? – Diệm hỏi.
Nghe Luân thuật lại, Diệm gắt:
- Mần răng mà ưng các khoản của hắn? Hắn đòi nhiều quá! Không được! Phạm Công Tắc đòi có bốn mươi cây số vuông, tôi còn không ưng…. Cháu trả lời hắn.
Luân không trả lời Thích Tâm Châu, đó là công việc không phải của anh. Nhưng anh đã thấy những dấu hiệu xung đột mới. Đòi hỏi của Thích Tâm Châu – nhân danh cho tín đồ - thật sự là đòi hỏi riêng của phe ông ta. Lợi dụng sự kỳ thị tôn giáo trong chính sách của Diệm, Thích Tâm Châu nhen nhóm lên vấn đề bảo vệ tín ngưỡng và ông ta đánh trúng tâm lý của những người theo đạo Phật vốn khát khao được bình đẳng với những người theo đạo Thiên Chúa.
Diệm không đo lường hết mặt phức tạp của tình hình khi ông xem Tâm Châu như Phạm Công Tắc, trước hết là không thấy hai chỗ khác nhau: Tắc là người của Phòng Nhì Pháp, Tâm Châu là người của CIA.
Buổi tiếp tân cho Luân một đánh giá: Lúc Diệm thắng thế hơn bao giờ hết cũng là lúc ông bắt đầu yếu.
---
(1) Khi một thiên tài thực xuất hiện trên trái đất, người ta nhận ra ngay vì tất cả bọn ngu chống lại ông ta. ( E. PAILLERON)
(2) Các bài của anh chinh phục tôi. Nhưng, tôi phải nói như thế nào đây? Người ta gào giữa sa mạc, phải không? Một quan điểm như vậy hoàn toàn bị vứt bỏ. Anh ngây thơ quá!
(3) Nhại theo khẩu hiệu của cụ Phan Bội Châu: Bình Tây thu Bắc – khi Pháp chiếm Bắc Bộ nước ta vào cuối thế kỷ 19.

CHƯƠNG 8

Luân đóng ngay ở cơ quan Bảo an tỉnh tại doanh trại cũ của lính Tây, nằm gần dốc cầu bắc ngang sông, cách dinh tỉnh trưởng non cây số. Công việc trong ngày gồm có: chào trung tá Vũ Thành Khuynh, gặp trưởng ty Công an, nghe thiếu tá chỉ huy phó Bảo an tỉnh báo cáo, bố trí hệ thống thông tin với Bảo an các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, đặt liên lạc với sư đoàn bộ binh số 5, số 13...
Trung tá Vũ Thành Khuynh tiếp Luân thật “điệu”, ông hiểu rằng tay thiếu tá này trở lại Bình Dương không phải để tăng mà có thể lột hoa mai của ông. Cho nên, ngoài những lời tâng bốc không ngượng mồm, Vũ Thành Khuynh đãi Luân bữa cơm trưa thật ì xèo và còn mời Luân mỗi ngày dùng cơm với ông “cho vui” - hôm nay thì ăn tại nhà mát bờ sông, còn sắp tới ăn trong gia đình “để thiếu tá thử tài nấu nướng của vợ tôi”. “Sao thiếu tá không đưa bà thiếu tá cùng lên?”, Vũ Thành Khuynh một “thưa thiếu tá”, hai “thưa thiếu tá”, y như cấp thiếu tá to hơn cấp trung tá.
Trưởng ty công an, một thiếu tá, người miền Trung. Nghe đồn ông ta vốn là người giúp việc cho bà Cả Lễ - chị của tổng thống - khi được hỏi, ông chọn chức nào thì ông xin làm gác dan (1) khách sạn Morin ở Huế. Nhưng cậu Út Cẩn dặn Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia bố trí cho ông làm trưởng ty công an Bình Dương vì ông là người tin cẩn. Phục phịch, hơi thô lỗ, trưởng ty chào Luân theo quân hàm ngang ngửa của hai người.
Nhưng khi đọc quyết định của tổng thống, trong đó có câu “với tư cách là tư lệnh trưởng hành quân liên tỉnh, có quyền vì lý do khả năng, đức độ, tạm ngưng các chức việc từ tỉnh phó trở xuống để chờ tổng thống xử lý”, thì ông vội vàng khúm núm. Luân hỏi một số tình hình, ông lắp bắp mãi. Thực sự, trưởng ty chẳng biết gì hơn giá bò mua từ Lai Khê về bán ở các chợ thuộc quân khu!
Người mà Luân chú ý là viên trung úy trẻ, để râu kiểu Clak Gable, tên Vi. Anh ta lo công việc văn phòng. Rất nhanh nhẹn - khéo léo nữa - trung úy xếp đặt nơi ăn chốn ở cho Luân thật tỉ mỉ. Tiếp xúc với anh ta một lúc, Luân biết nhiều việc hậu trường của tỉnh, nhất là vợ của trung tá tỉnh trưởng, nguyên là một ca sĩ phòng trà.
Đêm xuống, Luân gọi điện cho Dung xong, ngồi ngoài bao lơn hóng mát, suy tính công việc ngày mai. Chợt, Thạch lên báo:
- Trung tá tỉnh trưởng đang đợi ở phòng khách.
Luân thay quần áo, xuống tầng dưới. Vũ Thành Khuynh, mặt mũi bơ phờ, cho Luân hay tin đêm qua xóm Bầu Mây, thuột làng Bình Thành, quận Tân Uyên, bị Việt Cộng tấn công, đốt cháy 5 nhà dân, bắn chết 3 người đàn ông, trong đó có một ông già trên 80 tuổi, hãm hiếp một gái vị thành niên, một nữ thanh và một bà già - xong rồi bắn chết - vơ vét tiền bạc của cải, lùa bò, khiêng heo...
Trung úy Vi căng lên tường tấm bản đồ. Trung tá tỉnh trưởng chỉ cho Luân vị trí xóm Bầu Mây. Luân tính tỷ lệ, từ Bầu Mây lên thị xã không quá 30 cây số đường chim bay, còn đường bộ thì không quá 40 cây số.
- Tại sao buổi sáng nay tôi không nghe nói về việc nầy? - Luân hỏi, giọng khô khan.
- Dạ... Tôi cũng vừa nhận được báo cáo của quận trưởng... - Trung tá gãi má, lúng túng - Cách làm việc của địa phương còn nhiều khiếm khuyết, mong thiếu tá thông cảm... Rồi với sự giúp đỡ của thiếu tá, chúng tôi sẽ sửa... – Trung tá vò chiếc kêpi, rạp người, giống ông ta sửa soạn hôn chân Luân vậy.
- Tôi chưa nói về cách làm việc. -Luân vẫn lạnh lùng - Có khi đó chính là cách làm việc cố ý. Đây, - Luân chỉ lên bản đồ - Là một tiền đồn. Tiền đồn có điện đài không?
- Thưa, có!
- Trung úy Vi! - Luân ra lệnh - Trung úy gọi đồn nầy cho tôi. Tên là đồn gì?
Vi nhanh nhẩu:
- Đồn Bình Thành, do một đại đội trú phòng, đại úy Phùng Quốc Tri đồn trưởng.
Vi sang phòng điện báo. Luân ngó trừng trừng tấm bản đồ. Bọn nầy phủ đầu mình đây!
Trung tá nép nơi góc salông, tiếp tục vò chiếc kêpi.
Một xe du lịch đỗ ngay bậc thềm. Thạch bước ra và dẫn vào một cô gái.
- Chào thiếu tá! - Cô gái chào Luân. Cô ta mặc jupe ngắn, áo sơmi cực mỏng, cài nút cẩu thả, đầu bới kiểu Lệ Xuân. Cùng ùa vào với cô ta là cả một mùi nước hoa đắt tiền ngào ngạt...
- Ủa, em?! - Trung tá tỉnh trưởng trố mắt, kêu lên.
- Ờ! Em sang đây để làm quen với thiếu tá... - Vừa nói, cô vừa chìa tay cho Luân. Rồi, cô ngồi xuống ghế - ngồi rất ngang nhiên và cũng rất hớ hênh.
- Thưa thiếu tá! - Cô cười thật lẳng, đôi môi son đỏ như mời mọc - Việc nước ở tỉnh cực khổ lắm. Nhà em xọp đi vì hết vụ đánh nầy đến vụ đánh khác...
Trung úy Vi trở ra. Anh ta sượng mấy giây khi thấy có vợ tỉnh trưởng có mặt ở đây.
- Thưa thiếu tá! - Trung úy Vi dập gót chân. – Đồn Bình Thành không trực máy.
Tuy báo cáo về điện đài, song Vi lại liếc người cô gái. Luân hiểu đó là sự xác nhận của anh. Con ngựa cái như vậy đó!
- Trung úy sửa soạn xe. Tôi đi Bầu Mây ngay bây giờ. - Luân ra lệnh.
- Dạ. - Trung úy Vi cố kềm giọng nói. - Dạ thiếu tá đi ngay bây giờ?...
Luân hất hàm thay trả lời.
- Hay là để ban ngày thiếu tá hãy đi. – Vợ tỉnh trưởng rõ ràng hết sức kinh dị về quyết định của Luân.
- Phải đó... Ban đêm đường sá nguy hiểm. – Vũ Thành Khuynh phụ họa vợ.
- Chiều nay, thiếu tá không sang ăn cơm, em nấu nướng xong xuôi, đợi hoài. - Giọng vợ tỉnh trưởng nũng nịu. - Bây giờ, mời thiếu tá sang ăn nhẹ chút gì. Công chuyện để sáng mai...
- Cám ơn bà trung tá! - Luân bận tính hành trình từ thị xã đến xóm Bầu Mây, nên nói lơ đãng.
- Em là Yến Thu... Thiếu tá cứ gọi Yến Thu cho nó thân mật... Nghe thiếu tá lên đây độc thân, em thấy tội nghiệp ghê! - Cô ta nói mà giọng uốn éo như hát.
Luân chưa muốn làm cho “nguyên ca sĩ” cụt hứng.
“Tại sao ả đường đột qua đây?” - Anh tự hỏi thầm - “Cách ăn mặc nầy không phải không nằm trong tính toán. Công bằng mà nói, cô ta khêu gợi thật...”
Luân ngó Yến Thu. Cô ả mừng rơn. Qua cái nhìn đáp lại, Luân thiết là cô ả tự cho đã chiến thắng ngay keo đầu.
- Chú Thạch đâu? - Luân gọi, Thạch vào.
- Xe cộ xong chưa?
- Thưa xong. Trung úy Vi lấy theo một GMC và ba Jeep, ngoài chiếc Jeep của thiếu tá.
- Đâu cần nhiều vậy? Hai Jeep là đủ. Bảo nổ máy.
Luân đứng lên.
- Trung tá và bà về nghỉ. Đây là nhiệm vụ của tôi. Sáng mai tôi hứa sẽ về ăn sáng bên nhà trung tá.
- Dạ... - Vũ Thành Khuynh rơi vào tình thế khó xử.
Ai đời một sĩ quan từ phủ tổng thống tới nơi lại hành quân ngay, còn ông, đầu tỉnh, thì nằm nhà...
- Dạ, để tôi cùng đi với thiếu tá...
- Khỏi phiền trung tá. - Luân nhã nhặn - Có phải ra trận mạc gì đâu. Chẳng qua tôi muốn quan sát hiện trường, vì để đến mai, dấu vết mất hết. Chuyện xảy ra đã gần 24 tiếng đồng hồ…
Trung tá thoát nạn, rạng rỡ.
- Thiếu tá về lúc nào, báo cho tôi hay... Vợ chồng tôi đợi. Đường từ đây tời Bầu Mây chạy chậm cũng độ non tiếng đồng hồ thôi... Lộ trình an toàn!
- Chào trung tá! - Luân bắt tay. Anh chìa một tay, còn Vũ Thành Khuynh thì vồ bằng hai tay. Tỉnh trưởng đã quên trước đây vài phút, ông ta ngại con đường đêm nguy hiểm.
- Sao, Yến Thu dám đi với tôi không? - Luân hỏi sỗ sàng với vợ tỉnh trưởng.
- Yến Thu sợ lắm. Yến Thu đợi thiếu tá... Nhớ về sớm nghen. Bằng không, Yến Thu giận đó?
Cô cảm tay Luân và cố ý ghì bàn tay Luân chạm vào vùng ngực...
---
(1) Gardien: người bảo vệ - tiếng Pháp

CHƯƠNG 9

Đồn Bình Thành chơ vơ trên một ngã ba đường, án ngữ lối vào chiến khu Đ, xưa kia là một trong những căn cứ kháng chiến chính của Nam Bộ. Quanh đồn, cây cối bị phát quang, từ lồng cu – không cao lắm – có thể nhìn thông suốt phía Bắc quận Tân Uyên ra tới sông Đồng Nai.
Đại đội Bảo an số 245, quân số thiếu, về giữ đồn từ tháng 4-1957. Một phần của đại đội nguyên là lính Bảo chính đoàn Bắc Việt, một phần trước đây thuộc tổng đoàn Kim Sơn- Tiền Hải, một phần vốn tham gia bán lữ đoàn sơn cước vùng Móng Cái.
Chỉ huy đại đội, đại úy Phùng Quốc Tri, xuất thân từ lính khố đỏ - tên họ có vẻ văn học tương phản hẳn với con người ông ta: rượu thường xuyên hun da một màu đỏ sậm: tượng Chúa lủng lẳng trên cổ - món trang sức hoặc một thứ bùa phép hơn là tín ngưỡng. Người lùn lại rất mập nên khi đi lại giống như một khối tròn di động.
Chính Phùng Quốc Tri tình nguyện tập họp được đại đội 245. Di cư vào Nam mỗi đứa tìm phương sống, mà sống quá khó khăn vì đã quen được cung phụng và quen cướp giật. Khi nghe Tri mộ lính, bọn tàn quân bị Việt Minh đánh cho tan tác ấy lục tục kéo về chợ Ông Tạ. Phùng Quốc Tri chẳng phải nổi tiếng gì nhưng hàm đại úy cho ông ta vốn liếng làm ăn trong thời buổi loạn xà ngầu này.
Lúc đầu, chưa có tên Đại đội 245. Linh mục tuyên úy mang danh sách lên Bộ Tổng tham mưu – Tri khai “ma” vài chục, vị linh mục khai “ma” thêm một ít. Thế là Đại đội bảo an 245 với quân số 120 người ra đời – gần gấp đôi con số thật. Đại đội phiên chế cho tỉnh Bình Dương, nằm trong hệ thống vành đai phòng thủ Sài Gòn. Trung tá Vũ Thành Khuynh – ngày xưa cũng là lính khố đỏ, thông cảm với Tri – tiếp nhận đại đội, đưa tất cả về trại Phú Lợi huấn luyện. Tất nhiên, hai người “thông cảm” luôn về quân số. Thời gian huấn luyện không dài lắm, - nói đúng ra chẳng huấn luyện gì cả.
Phùng Quốc Tri ưng Lái Thiêu – vùng trù phú. Song ông ta không lay chuyển nổi Vũ Thành Khuynh, ông ta không đủ tiền bạc. Mà mụ Yến Thu, vợ Khuynh bao giờ cũng ra một giá biểu kinh khủng. Vả lại, Phùng Quốc Tri thiếu cái mã làm vừa lòng mụ. Thế là đại đội lếch thếch kéo lên Bình Thành, gọi theo công văn nghị định chớ tên cúng cơm của ngọn đồi trọc, toàn đá đỏ nầy là gò Bồ Hót – tức nơi voi đực voi cái tới mùa gặp nhau.
Đồi hoang. Ngoài cây tạp, không có cái gì ăn được. May có con suối dưới chân đồi, lính có chỗ tắm rửa.
Rồi đồn vẫn dựng lên. Cũng dễ thôi. Phùng Quốc Tri cho lính dỡ nhà dân các ấp gần đồn. Đồn chính cột gõ, lợp ngói. Trại lính cột tròn, lợp tôn. Vòng thành thì lùa nam phụ lão ấu cả mấy làng tới đắp một cái đồn đình huỳnh như ai. Kho đầy gạo, chuồng có đủ gà, vịt, heo. Tri chia với Yến Thu phần xi măng, gạch mà đồn được cấp để xây dựng.
Đến giữa mùa mưa năm 1957, mọi việc xong xuôi. Bây giờ, bắt đầu làm nhiệm vụ bảo an: ngày nào cũng lùng sục và ngày nào cũng có thêm gà vịt.
Tuy lộng như vậy, đại đội 245 vẫn ngán cái ấp nhỏ kêu là Bầu Mây, cách đồn lối 5 cây số. Xóm vỏn vẹn 12 nhà dân cố cựu nên vườn tược khác, sống bằng nghề tỉa đậu. Nhà nào cũng rào rấp, dựa vào nhau. Bắt một con gà ở xóm nầy không dễ: họ kéo tận đồn đòi lại. Ban đêm, không có trưởng ấp dẫn đường, lính không vô xóm được. Làm hung họ đánh mõ tụ tập dân. Đội chống cướp của xóm gồm nhiều tay thiện xạ bắn ná và súng săn. Nghe đâu trong xóm có người làm việc ở Sài Gòn đăng tin nói xa nói gần về đồn Bình Thành. Yến Thu có lần bảo Phùng Quốc Tri: tai tiếng đại đội anh đã khá rùm, coi chừng phủ tổng thống cử người về điều tra. Phùng Quốc Tri đã mệt mỏi. Ông ta định kiếm kha khá rồi xin giải ngũ cho nên chẳng đụng cái xóm cứng đầu đó làm gì. Xóm Bầu Mây đáng lẽ được yên ổn nếu không có mấy người khách một hôm đến đồn Bình Thành, đi trên mấy chiếc xe Jeep.
Đại úy Phùng Quốc Tri đang ngủ trưa sau bữa nhậu thường lệ, lính vào dựng dậy. Lúc đầu, ông ta càu nhàu: khách khứa đâu nhè lúc này mà viếng đồn. Rồi ông ta sợ. Hay là phủ tổng thống xuống thiệt? Lính báo: có hai người Tây đi cùng với một ông quan năm. Chết cha phen nầy!
Sửa soạn chỉnh tề - lựa bộ quân phục đàng hoàng nhứt, đeo luôn mấy mề đay – đại úy ra nhà khách. Đại tá Trần Vĩnh Đắt là người quen, nguyên cầm đầu ngành cảnh sát, nay chỉ huy nhà tù Phú Lợi, Phùng Quốc Tri hết sợ. Đại tá bề nào cũng che chở cho em út. Hai người Mỹ - chớ không phải Tây - mặc thường phục nhưng Đắt giới thiệu một là trung tá, một là đại úy tên lằng nhằng quá, Tri không nhớ. Ngoài ra còn một số khách coi bộ hầm hừ: mặc xá xẩu, lãnh đen láng mướt, to bề ngang, da sậm, bít nhiều răng vàng. Hắn ta ngồi bật ngửa trên ghế dựa, mắt ti hí ngó Phùng Quốc Tri mà không chào.
Hai người Mỹ hỏi tình hình trong vùng. Đại úy đồn trưởng biết gì nói nấy. Sau cùng, hai người Mỹ dừng lại khá lâu cái xóm Bầu Mây. Đại úy lại ít biết xóm nầy. Qua người thông ngôn, Phùng Quốc Tri hiểu rằng người Mỹ nghi Bầu Mây là ổ Việt Cộng, đồn Bình Thành cần phải “tảo thanh để lập lại trật tự”. Trần Vĩnh Đắt cắt nghĩa thêm: chỉ có Việt Cộng mới dám tổ chức canh gác như vậy. Phùng Quốc Tri vỡ lẽ. Ông ta hứa sẽ hành quân nay mai.
Hai người Mỹ và Trần Vĩnh Đắt môi giới cho đồn trưởng Bình Thành làm quen với người khách mặc xá xẩu. Vừa nghe tên, Phùng Quốc Tri đã phát hoảng: Phạm Văn Bời đảng trưởng đảng Rừng Xanh... Hèn chi hắn ta bặm trợn dễ sợ.
Đảng Rừng Xanh – tên tự đặt của bọn cướp – nổi tiếng vài năm nay. Thoạt tiên, Rừng Xanh chỉ là đám cướp như mọi đám cướp khác: chận xe giựt giọc hoặc đánh các tiệm buôn, các nhà khá giả lấy của. Lần hồi, Rừng Xanh chuyển đến các vùng hẻo lánh, không chỉ cướp của mà còn hãm hiếp, đốt nhà, giết người. Cái lạ là Rừng Xanh đánh cả những nhà nghèo nếu nhà đó có người đi kháng chiến, đi tập kết hay đang hoạt động cách mạng. Với những nhà đó, đảng Rừng Xanh khủng bố thẳng tay: chặt đầu, mổ bụng, moi gan...
Đại úy Phùng Quốc Tri nhiều lần báo cáo về tỉnh tin tức của Rừng Xanh nhưng tỉnh trưởng lặng im. Bây giờ, tay đầu đảng Rừng Xanh đang dựa ngửa giữa đồn. Hơn nữa, đại tá Trần Vĩnh Đắt ra về, Phạm Văn Bời cùng hai vệ sĩ ở lại. Xế chiều, Phạm Văn Bời bảo đại úy cho một tiểu đội đi với một vệ sĩ của hắn đến xóm Bầu Mây. Bời và Tri nhậu lai rai chờ kết quả. Nghe vài phát súng nổ, Bời rung đùi:
- Mỗi phát súng là một mạng.
Trời gần sụp tối, tiểu đội khiêng về tay vệ sĩ. Té ra tiểu đội không dám xông vô xóm – cửa ngõ đã bế. Tay vệ sĩ làm tàng, đạp cửa. Bị một dao mã tấu, máu phun có vòi. Lính đành bắn chỉ tiên để cứu gã.
Phạm Văn Bời vỗ bàn rầm rầm.
- Lính cái cụt cức! Có mấy nhà lèo tèo mà không dám vô.
Đại úy Phùng Quốc Tri thẹn quá đổ cộc:
- Nếu ông giỏi, xin mời!
Phạm Văn Bời ra xe, phóng lại Bầu Mây, Tri ngại sơ sẩy thì khó lòng với đại tá Trần Vĩnh Đắt nên phóng theo.
Bời cũng chỉ dám chạy loanh quanh rìa xóm. Hắn quan sát các ngã vào. Rồi, hắn hẹn vài hôm sẽ trở lại.
Đúng ba hôm, Phạm Văn Bời trở lại. Hắn đi xe với vệ sĩ. Một xe Jeep nữa cùng đến, chở khá nhiều rượu, thuốc lá, thịt hộp... Bời bảo Tri kiếm năm ba con chó.
Sụp tối, lính của Bời vào nghẹt đồn. Trên 30 tay. Chúng đi bộ từ rừng Khánh Vân để giữ bí mật. Mặt tay nào tay nấy đều có cô hồn. Phùng Quốc Tri ngán quá, hạ thêm một con heo.
*
Chiếc máy phát điện chạy xình xịch, đồn Bình Thành sáng rực. buổi nhậu đi vào hồi kết thúc. Đại úy đồn trưởng đã ngà ngà say. Đảng trưởng Rừng Xanh Phạm Văn Bời, áo phanh ngực – đầu con cọp xăm xanh lè, đưa cặp mắt đỏ ngầu ngó giáp vòng.
- Anh em! Tới giờ rồi! Ăn uống còn dài, ngày mai ta tiếp. Như tôi đã nói, bữa nay anh em đi mần cỏ xóm Bầu Mây trả thù cho Tư Mẹo bị chém. Kẻ nào dám đụng đến đảng Rừng Xanh thì kẻ đó chết không toàn thây! Lệnh của tôi: đốt hết, giết hết, hãm hiếp hết! Không tha một đứa. Già, trẻ đều không bỏ sót. Để cho miệt Tân Uyên nầy hễ nghe đến đảng Rừng Xanh là con nít không dám khóc.
- Hoan hô đại ca! – Đám cướp líu lưỡi vì rốc quá nhiều rượu, cố gắng đáp lại hiệu triệu của đảng trưởng.
- Tôi dặn: cứ xưng là đảng Rừng Xanh, còn không được dĩ hơi về đồn Bình Thành. Nghe chưa?
- Nghe rồi!
- Cũng đừng khoe mình là biệt kích Mỹ. Nghe chưa?
- Nghe rồi!
- Vậy, anh em nào thiếu súng.
Chưng chục đứa không có súng.
- Phiền đại úy cho mượn đỡ. - Bời bảo Tri.
Nếu Bời không nói thật hắn làm việc với sĩ quan Mỹ và đảng Rừng Xanh được xếp vào biệt kích Mỹ, Tri không dám giao súng. Bây giờ, cần cả kho súng, ông ta cũng không chậm trễ. Chính tay Phùng Quốc Tri trao các khẩu súng trường cho từng tên của đảng Rừng Xanh.
- Ông đại úy leo lên chòi canh theo dõi chúng tôi hạ cái xóm Bầu Mây chó chết này!
Phạm Văn Bời vỗ vai Tri, lảo đảo cùng đồng bọn ra khỏi đồn. Chấm thuốc lá của chúng kéo dài giữa đêm tối, lập loè như ma trơi.
... Mặc dù đông đứa, súng ống đầy đủ, đảng Rừng Xanh không chiếm được trọn xóm Bầu Mây. Chúng chỉ lọt khỏi vòng rào đầu xóm, sau cả giờ tấn công. Dân xóm chống cự quyết liệt. Mấy đứa Rừng Xanh trúng tên, trúng đạn chài. Thiệt hại của xóm là hai nhà bị đốt, sáu người dân bị bắn chết, trong đó có một em gái vị thành niên bị hãm hiếp - chết trước khi bị bắn - cùng một phụ nữ non ngày tháng và một bà già. Phạm Văn Bời ra lệnh rút lui. Mượn xe của đồn, hắn chở thủ hạ bị thương về căn cứ, không ghé đồn nhậu tiếp vì mắc cỡ. Hắn thề sẽ không quên mối thù nầy.
*
Luân đến Bầu Mây lối 9 giờ tối. Nhờ trưởng ấp dẫn được, anh qua rào mà không bị ngăn trở.
Hai ngôi nhà cháy rụi còn ngún mất cây cột, chốc chốc lửa bùng lên, tàn lửa theo gió rải những hạt đỏ lên cái nền đêm đen đặc.
Ánh đèn, ánh lửa chập chờn giữa vùng rừng với cái âm thanh riêng về đêm về đêm, tiếng sụt sùi quanh sáu tử thi đắp chiếu xếp trên sân, tất cả ngoại hình đó khuấy động Luân. Anh nôn nao thèm được nói những lời như anh từng nói trước kia. Anh sẽ xin lỗi bà con với tư cách là một cán bộ bộ đội đã không ngăn chặn kịp bọn giết người.
Cả xóm có mặt tại đây. Mọi người lặng lẽ theo dõi Luân, anh đau đớn hiểu rằng những cặp mắt khinh ghét, căm thù nhìn anh qua bộ quân phục, đã đồng hóa anh với bọn gây tai họa cho dân làng. Chưa bao giờ anh cảm giác mùi quần áo anh đang mặc lại có thể tanh tưởi đến thế. Trong khoảnh khắc, Luân muốn trút bỏ cái vỏ nhơ nhớp này, ôm hôn và cùng khóc với bà con Bầu Mây, rồi cầm súng đánh luôn...
Luân tự buông thả tình cảm không biết bao lâu, đến khi người trưởng ấp giới thiệu anh với một ông cụ cao niên nhất trong xóm. Nhìn qua, Luân đoán ông cụ có học thức và chắc là người được dân torng xóm tín nhiệm. Luân đã không lầm. Ông cụ - ông giáo Hai, như trưởng ấp cho biết – thuật rành rọt từ đầu đến cuối diễn biến đêm hôm trước, chốc chốc, ông cụ hỏi chung quanh: “Tôi nói vậy có đúng không bà con?”.
Theo ông giáo Hai, đây không phải là đám cướp thông thường, mặc dù ai cũng thấy đảng trưởng Rừng Xanh Phạm Văn Bời chỉ huy đánh Bầu Mây. Ông cũng quả quyết không có lính đồn trong bọn. Còn đồn Bình Thành can dự ra sao? Ông nhắc ba hôm trước đó, xảy ra vụ lính xông vô xóm, một tên bị dân chém và lính bắn chỉ thiên giải vây cho gã. Cái đáng để ý là đồn Bình Thành im ỉm khi bọn cướp hoành hành và khi bọn cướp rút, đồn cũng không mở cửa cho ông và trưởng ấp vô trình báo, cả ngày không héo lánh tới xóm, Ban tề cũng vậy. Ấy mà họ đưa tin Việt Cộng đánh xóm Bầu Mây...
Luân xin mấy nén nhang. Và, trước sự kinh ngạc của tất cả - luôn Thạch và số cùng đi với Luận – Luân quỳ cạnh sáu tử thi, khóc tức tưởi:
- Xin đồng bào chết oan uổng chứng giám: chúng tôi sẽ trả thù cho đồng bào.
Anh khấn trong tiếng nấc. Lời khấn của anh có thể được hiểu nhiều cách.
- Ông biết thủ phạm là ai mà đòi trả thù?!
Ông Hai dường như khẳng định sự khóc lóc của Luân là trò bịp, nên hỏi vặn.
- Bây giờ cháu chưa biết, nhưng thế nào cháu cũng sẽ biết
- Sợ khi biết rồi ông lại tiếc là lỡ hứa, chớ!
Luân không nói gì, đi vòng quanh khu nhà bị cháy. Anh bấm đèn pin rọi các thân cây. Trên thân cây mít, nhiều dấu đạn còn rịn mủ. Luân lại rọi đèn tìm kiếm ở cạnh rào, lượm mấy vỏ đạn súng trường.
- Nếu chính phủ cho phép đồng bào Bầu Mây tự vệ, bác có dám lãnh súng không? – Luân hỏi ông cụ. Qua tiếp xúc, Luân đoán ông cụ nhất định có quan hệ với cách mạng, ít nhất cũng hồi đánh Pháp.
- Thôi đi ông! – Ông cụ cười khẩy - Giao súng để bắt lính phải không? Ông đừng tính qua mặt dân Bầu Mây!
- Dạ không! Giao súng để bà con giữ gìn xóm làng, tránh cảnh như vừa rồi.
- Nữa! Nữa! Ông thị tôi là trẻ nít sao? Giao súng rồi thế nào cũng biểu đi học bắn, giữ luôn trong trại, chớ gì? Nếu không thì đem cái đồn đặt ngay xóm… phải vậy không?
- Dạ không! Thế nào xóm mình cũng có người biết dùng súng, bà con chỉ cho nhau, chỉ cần lập danh sách đội tự vệ xóm, có đội trưởng. Danh sách đó được ông trưởng ấp đây chứng nhận rồi trình hội đồng hương chính ký tên, chuyển lên tỉnh tôi duyệt. Vậy là xong.
Luân dặn luôn trưởng ấp về thủ tục.
- Té ra, ông đây là chỉ huy trưởng bảo an tỉnh! – Ông Hai ngó Luân trân trối.
- Thiếu tá còn là tư lệnh hành quân nữa, người trên phủ tổng thống đó! – Trưởng ấp còn nói thêm.
Luật gạt ngang trưởng ấp:
- Đừng có dài dòng! Chuyện bây giờ là đừng để xảy ra tai họa lần nữa. Trong vụ nầy, làng sở tại có trách nhiệm đó!
Luân quay sang dân trong xóm:
- Bà con nên lo bảo vệ mình. Bọn phá rối trị an là ai, bà con không cần biết mà cần biết kẻ nào đụng đến tánh mạng, tài sản bà con thì bà con chống lại...
Trước khi rời xóm Bầu Mây, Luân chụp hình sáu tử thi...
Luân bảo xe chạy lại đồn Bình Thành.
- Khuya quá, buồn ngủ bỏ bố! – Trung sĩ Toàn càu nhàu.
- Chịu cực một chút, trung sĩ... Mai anh được nghỉ!
- Làng này bị Việt Cộng tàn sát, thiếu tá định truy bọn chúng nội trong đêm này sao?
- Ai bảo anh là Việt Cộng tàn sát họ? – Luân hỏi, hơi bực.
- Nếu không phải thì làng nầy là Việt Công, bị tàn sát là đáng, còn oán trách gì nữa.
Thái dương Luân căng phồng. Anh muốn tống vào cái mặt vênh váo của tên tài xế một quả đấm.
Nhưng anh kềm chế được.
“Tay này ba gai đây!”
Đến cổng đồn, Luân phải chờ hơn 15 phút. Đồn trưởng Phùng Quốc Tri còn ngái ngủ, mời Luân vào đồn. Có lẽ lần đầu tiên trong đời, Phùng Quốc Tri phải tập họp binh sĩ vào nửa đêm. Chưa gặp Luân nhưng ông ta đã nghe tiếng và chiều nay vừa nhận được công văn cho biêt Luân được tổng thống bổ nhiệm làm tỉnh đoàn trưởng bảo an kiêm tư lệnh hành quân liên tỉnh.
Máy phát điện lại nổ xình xịch. Tất cả binh sĩ đồn Bình Thành đứng nghiêm dưới ánh điện.
- Đại úy đồn trưởng! – Luân gọi, giọng nghiêm.
- Có mặt! – Tri chập gót chân, người lắc lư.
- Ra khỏi hàng!
Tri bước hai bước, đưa tay lên vành mũ.
- Lúc xóm Bầu Mây bị đánh, đồn Bình Thành có biết không?
- Thưa, thiếu tá... - Tri chưa tìm được câu trả lời.
- Đại úy nói rõ! Đại úy đã áp dụng những biện pháp nào tiếp cứu dân xóm Bầu Mây?
- Thưa thiếu tá tư lệnh hành quân... Dạ em...
- Trong quân kỷ, không có điều khoản nào quy định xưng “em” với cấp trên!
- Thưa, tôi đã...
Cả hàng quân lặng trang. Tuy binh sĩ thẳng người, song ai cũng liếc viên đại uý.
- Cho tôi liên lạc với sở chỉ huy! - Luân bảo Thạch.
Máy bộ đàm gọi nhau: “Hải vương tinh đâu? Ngân hà đây!”.
- Thưa thiếu tá, đã liên lạc được với sở chỉ huy! – Thạch báo.
- Anh truyền mệnh lệnh của tôi: cho một trung đội cảnh vệ lên đồn Bình Thành. Tôi đang ở đồn, - Luân xem đồng hồ tay – 1 giờ 15 thì trung đội phải có mặt.
Mệnh lệnh của Luân được thông báo ngay.
- Súng của anh đâu? Của anh? Của anh?... - Luân trỏ một loạt binh sĩ tay không.
- Dạ… - Binh sĩ nào cũng ú ớ.
- Đem sổ vũ khí cho tôi – Luân ra lệnh. Một thiếu úy mang sổ ra. Luân liếc qua.
- Đại úy cắt nghĩa vì sao đồn thiếu mất năm khẩu súng trường?
Tất nhiên đại úy Tri không thể cắt nghĩa nổi. Những khẩu súng cho Phạm Văn Bời mượn và khi Bời trả, Tri không kiểm tra thiếu đủ.
- Khi nãy tôi nói đại úy không làm gì hết là tôi nói sai. Đại úy có làm! Chính đại úy đã chỉ huy cuộc tàn sát ở Bầu Mây... Cái gì đây? – Luân chìa ra mấy cái vỏ đạn.
- Dạ! - Đại úy Tri sợ hết hồn - Dạ... em, dạ, tôi không làm việc đó. Còn súng, dạ, do lệnh của đại tá Trần Vĩnh Đắt... Dạ mong thiếu tá xét lại.
Tiết lộ của đại úy Tri làm Luân choáng váng. Anh không ngờ Trần Vĩnh Đắt dính vào vụ nầy.
- Đại úy nói láo! - Luân nạt – Đại úy có biết rằng vu cáo cho cấp trên sẽ bị xử theo điều mấy của quân lệnh không?
- Dạ! Tôi nói thật! – Tri quay về phía sau – Thiếu tá hỏi binh sĩ đây thì rõ. Không phải một mình đại tá Đắt mà còn hai sĩ quan Mỹ nữa…
Thế là rõ. Nhưng Luân giả bộ không tin:
- Được! Rồi đại úy sẽ trả lời trước tòa án binh. Một đại úy đồn trưởng cho lính đi cướp của giết người, hiếp dâm, đốt nhà dân...
- Dạ! Không phải.. Em chỉ giao súng cho ông Phạm Văn Bời thôi..
À! Vậy thì đảng Rừng Xanh lại liên quan với đại tá Trần Vĩnh Đắt và hai sĩ quan Mỹ. Trong mấy phút, cái bí ẩn được phanh phui. Khi nghe tin, Luân đinh ninh đồn Bình Thành nhúng tay vào vụ Bầu Mây. Bây giờ, thủ phạm ở tầm cỡ cao hơn một đại úy đồn trưởng và vấn đề phức tạp hơn nhiều.
Luân bỗng thay đổi thái độ: bảo Thạch liên lạc bộ đàm với xe cảnh vệ và yêu cầu xe quay về sở chỉ huy.
Đại úy Tri thở phào. Không khí đồn Bình Thành nhẹ nhõm. Đại úy Tri và binh sĩ đồn Bình Thành hiểu rằng Luân ngán Trần Vĩnh Đắt, ngán Mỹ và đảng trưởng Phạm Văn Bời.
- Đại úy phải kín miệng vụ này. Dặn tất cả binh sĩ đừng hé cho ai biết đồn Bình Thành trao súng cho đảng Rừng Xanh.
Luân dặn đại úy Tri trước khi lên xe về Thủ Dầu Một.

CHƯƠNG 10

Bài báo kèm ảnh của Helen Fanfani trên tờ Financial Affairs được đăng lại trên tờ Washington Post – một trong những tờ báo có nhiều đọc giả và có thế lực nhất nước Mỹ và được tờ Thời luận của Nghiêm Xuân Thiện dịch, đã gây xôn xao trong dư luận Sài Gòn. Sáu tấm ảnh in hình sáu tử thi – đặc biệt tử thi một cô bé vị thành niên và một bà già - đặt ra một câu hỏi: Ai là thủ phạm? Fanfani không chỉ đích danh ai, song cách dẫn dắt người đọc của cô khiến người ta loại trừ những khả năng giáo phái hay Việt Cộng và qui các yếu tố vào hướng một nhóm cướp nào đó – một nhóm khủng bố có thế lực đó là cái gì và ai che chở. “Hình như đây là một hành động nhằm gieo sợ hãi trong dân chúng với một chủ mưu vạch sẵn chĩa vào các vùng bấy lâu chế độ Sài Gòn chưa đặt bộ máy cai trị một cách vững chắc”. – Cô viết như vậy.
Lập tức, Bộ Thông tin gọi Fanfani lên cảnh cáo. Sau đó Bộ Thông tin phổ biến một mẩu đính chính ngắn: “Vừa rồi báo Mỹ đã đăng một bài quanh vụ xóm Bầu Mây thuộc tỉnh Bình Dương bị một nhóm lạ mặt tấn công và sát hại 6 người vào đêm 10-5-1958. Bài báo có ý gây hiểu lầm về sự dính líu của nhà chức trách dân sự và quân sự địa phương. Bộ Thông tin được phép bác bỏ luận điệu đó. Nội vụ đang trong vòng điều tra”.
Đại sứ Durbrow không có ý kiến gì nhưng phó đại sứ William Porter không hài lòng bài báo của Fanfani. Ông bảo cô, nhân gặp trong một buổi tiếp tân: “Cô nên thận trọng, chính phủ Việt Nam Cộng hòa có toàn quyền trục xuất cô, nếu họ thấy cần”.
Chính phủ Việt Nam Cộng hòa lại không trục xuất Fanfani. Luân về Sài Gòn sau đêm lên Bầu Mây, thông báo với Nhu những chi tiết mà anh lưu ý. Luân biết chắc là Nhu không chủ trương sử dụng đảng Rừng Xanh. Nhu bực bội khi nghe tin đảng Rừng Xanh quan hệ với Trần Vĩnh Đắt và sĩ quan Mỹ. Anh ta cảm giác người Mỹ chen vào nội bộ Việt Nam quá sâu, tự tung tự tác và cảm giác quyền lực sẽ vuột lần khỏi tay chính phủ Sài Gòn. Tất nhiên, Nhu thừa hiểu người Mỹ hành động như vậy không phải vì lợi ích của chính phủ Việt Nam.
Theo lệnh Nhu, đại úy Phùng Quốc Tri bị cách chức tạm giam. Đồn Bình Thành thay chỉ huy.
Nhưng Nhu nghe lời khuyên của Luân, không đá động tới Trần Vĩnh Đắt, mặc dù Nhu căm phẫn: Nó là thứ ăn cháo đá bát. Đắt vốn có họ hàng xa với gia đình họ Ngô, từ một kẻ vô danh được nâng lên hàng đại tá, có nắm ngành công an. Vì Đắt bất tài lại lem nhem nên Nhu cho làm Nha Cải huấn kiêm chúa ngục Phú Lợi, một nhà giam lớn chuyên nhốt tội chánh trị. Đắt bất mãn...
Không đá động Trần Vĩnh Đắt, Nhu muốn sưu tra thêm để dí mũi William Porter những bằng chứng khiến không chối cãi nổi. Luân có yêu cầu khác: Cần qua Đắt mà tìm hiểu và xử lý bọn biệt kích Mỹ đang bắt đầu hoạt động ở vùng kháng chiến cũ.
Đồn trưởng đồn Bình Thành – một trung úy vừa mới ra trường được Luân giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng dân vệ ở các làng quanh đồn, tất nhiên có xóm Bầu Mây. Dân vệ được phát các khẩu súng mút Indochinois và mút Nhật với cơ số đạn hạn chế.
Bỗng nhiên, an ninh được cải thiện hẳn ở các vùng dân vệ. Tổng thống Ngô Đình Diệm quyết định tặng thiếu tá Nguyễn Thành Luân đệ tam đẳng “Anh dũng bội tinh” có nhành dương liễu. Đó là vào tháng thứ hai Luân có mặt ở Bình Dương.
*
Luân đang cắm cúi đọc thông báo tình hình trong ngày trước khi họp với sĩ quan sở chỉ huy thì Thạch vào trình một thư. Luân bóc phong bì, liếc qua tờ giấy: Sự vụ lệnh của tướng Nguyễn Ngọc Lễ, phụ trách bảo an trong bộ Tổng tham mưu giới thiệu một trung tá tên Trần Viết Lượng có việc cần gặp Luân.
Trung tá trạc 40 tuổi, khá đẹp trai, ăn mặc chải chuốt: bộ gabardine màu xám tro ủi phẳng phiu, nếp sắc cạnh, kêpi kiểu lục quân Mỹ, giày da bóng, tóc mượt brillantine.
Khi Luân vào phòng khách, trung tá Trần Viết Lượng đã ngồi tréo ngoảy trên chiếc ghế bành to nhất, phì phèo thuốc lá qua chiếc đót ngà voi cẩn vàng.
Theo quân luật, Luân chập gót chân chào khách. Trần Viết Lượng không đổi tư thế, chỉ nghiêng đầu ngó Luân, rõ ràng chứng tỏ ông ta là cấp trên và có quyền đón nhận sự tôn kính của kẻ dưới. Thậm chí, Lượng không thèm chìa tay cho Luân bắt.
- Thế nào? - Trung tá hất hàm hỏi bâng quơ, giọng Hà Nội.
Luân ngồi đối diện với ông ta.
- Anh định giữ đại úy Phùng Quốc Tri đến bao giờ?
- Viên đồn trưởng đồn Bình Thành, có phải trung tá muốn nói về ông ta?
- Chứ có mấy đại úy Phùng Quốc Tri?
- Thưa, đại úy Tri do toà án binh thụ lý. Chỉ tòa án mới có quyền định đoạt số phận của ông ta.
- Chà! - Trung tá cười mỉa - Anh lấy luật pháp dọa tôi hả Ai mà không biết ông ký lệnh giam đại úy. Người nào ký lệnh tống giam thì người đó ký lệnh miễn tố...
- Thưa, xin trung tá cho biết mục đích gặp tôi? - Luân thấy sự nhũn nhặn của anh như vậy là đủ.
- Anh tối dạ thế mà làm tư lệnh hành quân, kể cũng lạ! Tôi không lên Phú Cường để du lịch. Anh hiểu chứ? Đáng lẽ sáng nay tôi cùng phó đại sứ Mỹ William Porter đi thị sát Mỹ Tho, nhưng vì vụ đại úy Tri mà phải lên đây.
- Thưa, trung tá có mang theo quyết định của đại tá công tố ủy viên tòa án binh Sài Gòn ra lệnh trả tự do cho đại úy Tri không?
Trung tá Trần Viết Lượng tròn xoe mắt nhìn Luân, y như ông ta gặp một hiện tượng kỳ quặc - một người vượn chẳng hạn.
- Lại còn giấy với má! Tôi trực tiếp bảo anh. Không đủ sao? Sự vụ lệnh do tướng Lễ ký, không đủ sao?
- Thưa, không đủ! - Luân rắn rỏi.
- Quái! Anh là cái thá gì? – Trung tá ném cho Luân cái bĩu môi khinh miệt. ]
- Thưa, tôi là thiếu tá Nguyễn Thành Luân! - Luân trả đũa.
- Thiếu tá! Thiếu tá... - Lượng nhại – To gớm chưa? Thôi, tôi chẳng có thì giờ đâu mà cãi chày cối với anh. Tôi muốn mượn đại úy Phùng Quốc Tri vài tuần... Sẽ trả lại anh sau khi xong việc. Tính tôi bình dân, giá anh hỗn như thế với ông khác thì hoa mai của anh rụng liền... Bảo đứa nào đó đưa đại úy đến đây, cùng về bộ Tổng tham mưu với tôi... - Ông ta xem đồng hồ tay. - Tôi đợi 15 phút là tối đa...
“Thằng cha này ngu quá!”. Luân nghĩ thầm, khẽ liếc khuôn mặt rất sáng sủa của trung tá Lượng.
- Xin trung tá cảm phiền, tôi bận họp!
Luân đứng lên, chập gót chân.
- Ủa! Còn việc của đại úy Tri? – Trung tá Lượng kêu lên.
- Thưa trung tá, luật pháp là luật pháp.
- Nghĩa là anh không chấp hành mệnh lệnh của cấp trên?
- Xin lỗi, tôi chưa nhận được mệnh lệnh của cấp trên!
- Anh ngồi xuống. Tôi muốn nói thêm, may ra cái đầu của anh đỡ đần độn ít nhiều chăng.
Luân nán ngồi lại.
- Tôi nghe trung tá.
- Tại sao anh thích gây khó khăn cho chúng tôi! - Ông ta hỏi đột ngột và giọng cũng dịu hơn.
- Thưa trung tá, “chúng tôi” là ai? – Luân hỏi, hóm hỉnh.
- Chẳng lẽ anh không biết... - Ông ta ngừng ngang câu nói – Tôi rất khó hiểu vì anh đặt lệch trọng tâm bình định... Anh đánh Việt Cộng hay đánh ai?
- Thưa quyết định của tổng thống giao tôi nhiệm vụ vãn hồi an ninh cả khu vực. Tôi đánh những cái gì phá rối an ninh hoặc dẫn đến phá rối an ninh.
- Tại sao anh quan tâm đến một cuộc hành quân tảo thanh và kết tội nó?
- Thưa, trung tá muốn nói cuộc hành quân nào? Nếu vụ tàn sát, đốt phá Bầu Mây là cuộc hành quân tảo thanh thì tôi quyết diệt nó từ trong trứng!
- Ái chà! Lớn lối dữ! Cái gì mà đốt phá, tàn sát? Chiến tranh mà không có chết người ư?
- Tôi nói chưa hết ý, thưa trung tá. Còn cướp bóc, còn hãm hiếp nữa.
- Nhưng, ai dạy anh nhân đạo với Cộng sản?
- Cộng sản? Ở đâu ra Cộng sản ở Bầu Mây? Em bé gái 13 tuổi là Cộng sản? Trừng phạt Cộng sản bằng hãm hiếp trẻ nít à?
- Người ta nói với tôi anh chưa gột sạch đầu óc Việt Minh. Rõ là như vậy... Anh không cho vụ Bầu Mây là một cuộc tảo thanh mặc dù đúng là cuộc tảo thanh, nhưng chưa thành công. Bây giờ, càng khó thành công hơn vì chính anh phát súng cho chúng nó! Anh không chỉ phát súng riêng xóm Cộng sản Bầu Mây – Trung tá Lượng rít lên. Cái vẻ công tử của ông ta biến mất.
- Thưa, trung tá, tôi là gì, tự tôi và tự hành động của tôi chứng minh. Người Pháp thua trận bởi họ có kiểu lập luận mà trung tá nhại lại. Trung tá định đào huyệt chôn luôn Việt Nam Cộng hòa? Làm sao có thể công nhận những hành động gian ác là vì chính nghĩa quốc gia? Làm sao có thể tưởng tượng chính nghĩa quốc gia lại bắt tay với bọn cướp? Chúng ta có luật pháp, có hiến pháp, thưa trung tá?
- Có phải bao giờ cũng khư khư theo luật pháp, hiến pháp?
- Tôi hiểu cái đảng mang tên Rừng Xanh thì cần gì luật lệ.
- Một trung đoàn phó Việt Minh có thể trở thành Tư lệnh hành quân của Việt Nam Cộng Hòa thì tại sao đảng Rừng Xanh lại không đứng được dưới cờ chính nghĩa?
- Được! với điều kiện không đốt nhà, giết người, hãm hiếp!
- Nếu tôi nói với anh là đại úy Phùng Quốc Tri chấp hành mệnh lệnh ở trên, thì anh bảo sao?
- Tôi lôi cấp trên đó ra tòa!
- Anh kiêu ngạo quá! Hẳn anh ngỡ dựa vào gia đình tổng thống là anh có thể làm trời!
- Thưa trung tá, tôi còn chỗ dựa vững hơn: lương tâm của tôi!
Trung tá Trần Viết Lượng cười như thương hại Luân.
- Lương tâm? Lấy ở đâu ra cái của hiếm như vậy?
- Đúng! – Luân dằn mạnh từng tiếng – Không dễ gì tìm sự công bằng trong thời buổi mà cái bắt đầu có thể là cái kết thúc, kẻ ra vành móng ngựa có thể xứng đáng ngồi trên ghế thẩm phán. Song, thưa trung tá, trung tá hẳn biết câu ngạn ngữ Pháp: “L’exception confirme la règle (1). Tôi có quy tắc của tôi.
Trung tá Trần Viết Lượng đứng lên.
- La dialogue des sourds (2) chẳng đi đến đâu. Tôi chúc thiếu tá – Ông ta muốn tỏ cho Luân biết mình cũng có trình độ văn hóa và lần đầu, gọi Luân theo cấp bậc, thái độ ôn tồn – Hạnh phúc với quy tắc của mình, một quy tắc, xin lỗi thiếu tá, tôi bắt chước thiếu tá dùng một hình tượng: ảo ảnh!
Ông ta nện mạnh đế giày trên thềm. Luân quay lại văn phòng với xấp thông báo, miệng hơi mỉm cười: tống giam đại úy Phạm Quốc Tri “chạm nọc” cơ quan cao nhất của biệt kích Mỹ. Cái mà gã Trung tá ngập ngừng là mật hiệu SSI - Special service number one (3) một tổ chức thuộc CIA quản lý, hoàn toàn không có một dấu vết công khai.
*
Luân chưa đọc được nửa trang giấy. Thạch lại cho hay: Ly Kai và một người nữa xin gặp.
Nghe vậy, Luân đinh ninh hôm nay chạm mặt trực tiếp với Dương Tái Hưng. Tốt thôi, anh muốn biết gã người Hoa, nhân viên tình báo quốc tế đẳng cấp cao nầy định làm gì với anh.
Nhưng, gã người Hoa mà mà Luân gặp không phải Dương Tái Hưng.
- Xin giới thiệu với ông kỹ sư, đây là thương gia Bá Thượng Đài...
Người Hoa mặc Âu phục sang trọng, tướng phốp pháp, cúi gập người chào Luân.
Luân suy tính: Tại sao Ly Kai đưa Bá Thượng Đài lên đây. Anh từng nghe tiếng Pô Xường Thài “vua sắt”
- Thưa ông kỹ sư, ông Bá Thượng Đài nói rõ tiếng Việt nếu có thể, xin ông kỹ sư nói tiếng Quảng hoặc Tiều... – Ly Kai nhớ câu nói tiếng Hoa của Luân trong đại hội văn hóa toàn quốc.
Theo Bá Thượng Đài, ông ta gặp Luân để xin mua sắt vụn - chủ yếu là các xe vận tải và xe tăng trong chiến tranh Việt-Pháp rải rác dọc đường 13 từ Thủ Dầu Một lên Chơn Thành.
- Sắt vụn đó bỏ ngoài trời uổng quá! - Ly Kai tán – Bán cho ông Bá đây, bảo an tỉnh cũng có lợi.
Ly Kai khôn ngoan, không đặt việc mua bán nầy thành lợi riêng cho Luân. Nhưng, Luân muốn hiểu đích xác ý nghĩa của việc mua bán nầy – nhất định không chỉ vì mua bán.
- Tôi chưa thể trả lời ngay với ông. – Luân nói - Nhưng tôi nghĩ không có gì trở ngại lắm. Nếu tôi đồng ý, ông sẽ thu nhặt số sắt vụn đó như thế nào? – Luân quyết định thăm dò - Xác xe không chỉ nằm ven lộ mà có chỗ cách đường 13 đến vài cây số.
- Tôi mượn một bộ phận của hãng RMK – BRJ có xe tải, cần cẩu làm việc nầy... Miễn ông ký giấy cho phép chúng tôi đi lại dễ dàng khắp vùng mà bộ tư lệnh hành quân của ông phụ trách. - Bá Thượng Đài mừng rỡ, tuôn một thôi tiếng Quảng.
- Được! Khi thu xếp xong thủ tục với Phòng Phế liệu thuộc Bộ Quốc phòng, tôi sẽ liên lạc ở địa chỉ nào?
Bá Thượng Đài đưa cho Luân tấm danh thiếp. Ông ta cám ơn và nhã nhặn mời Luận, khi về Sài Gòn đến nhà ông ta, bất cứ lúc nào, miễn điện thoại cho hay trước.
Họ ra về, Luân khẳng định thêm: Ly Kai và Bá Thượng Đài mượn cớ mua sắt vụn để dòm ngó vùng rừng, điều đó dính đến đảng Rừng Xanh và SSI. Nhưng, dính như thế nào Luân chưa nghĩ ra.
Cuộc họp với sĩ quan sở chỉ huy không có gì quan trọng. Công việc ủi đường của công binh đã bắt đầu từ Lộc Ninh sang phía tây, mỗi ngày tiến được vài trăm thước nói chung rất chậm. Sĩ quan chỉ huy xin bảo vệ, nhưng bộ tư lệnh hành quan cho là không cần thiết. Địa hình của vùng đó mấp mô, nhiều đồi, suối, sự chậm chạp dễ hiểu. Trong ngày hôm qua, không có một va chạm nào với lực lượng vũ trang lạ mặt ở cả ba tỉnh. Ngoại trừ truyền đơn ký tên “lực lượng vũ trang tự vệ miền nam kêu gọi binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa – hãy đoàn kết với nhân dân trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm và quan thầy của chúng là đế quốc Mỹ”.
Trung úy Vi lo le một tờ báo. Anh ta nửa muốn trình với Luân nửa lại ngại:
- Việc gì? - Luân bắt gặp cử chỉ lúng túng của Vi.
- Dạ, tờ báo Việt Cộng... - Vi trả lời.
- Rồi sao?
- Có bài nói về thiếu tá.
- Vậy hả... Trung úy đọc cho mọi người nghe.
Đó là bài bình luận, nhan đề: “Vạch trần âm mưu thâm độc của tên Nguyễn Thành Luân”. Phần đầu, bài bình luận nhắc việc làm của Luân: tổ chức dân vệ vũ trang ở các xóm, ấp. Phần sau phân tích việc làm đó: một thủ đoạn nhằm quân sự hóa nhân dân, kiểm soát thôn xã, bắt lính. Kết luận, bài báo không tiếc lời xỉ vả Luân, nào là tay sai đế quốc Mỹ, nào là tôi tớ gia đình Ngô Đình Diệm và hô hào trừng trị Luân.
Nghe đọc xong, Luân giữ tờ báo. Những sĩ quan có mặt đều nhất trí đánh giá: Luân mất tinh thần trước sự hăm dọa của Việt Cộng. Họ ái ngại cho Luân. Ai chớ Việt Cộng hăm dọa, không phải để chơi.
Ăn trưa xong, Luân mang tờ báo ra đọc lại. Tờ báo khổ giấy manh học trò, in sáp, tên là “Hoà Bình – Thống Nhất, tiếng nói của nhân dân tỉnh Bình Dương” bốn trang. Ngoài các tin tức địa phương, tất cả là tin tố cáo về tề lính cướp giật, hiếp đáp dân chúng- có tin toàn miền, tin miền Bắc và thế giới. Bài bình luận về Luân thay cho xã luận.
Luân bồi hồi trước tờ báo: Những khó khăn của các đồng chí để có được một công cụ thông tin – đôi khi đổi bằng máu. Tờ báo đơn sơ – có thể nó là thô sơ – song nó xúc động Luận. Anh cảm thấy gần gũi với đồng đội tại vùng rừng nầy khi cầm tờ báo trong tay.
Bài bình luận – nhất định ở tỉnh Bình Dương chỉ đạo, ban tuyên huấn viết – là một hỗ trợ đối với Luân, ít nhất xét từ mục đích của các đồng chí tỉnh Bình Dương. Song, bài viết tưởng là chặt chẽ, lại sơ hở. Bởi vì số người gia nhập dân vệ không ít - và đây phải là kết quả thực hiện một nghị quyết bí mật của tỉnh ủy - có thể buộc những người như Nhu và CIA lưu ý. Đáng lý không nên có bài bình luận, cứ lờ đi thì tốt hơn.
Trong hoàn cảnh của Luân, anh không thể nào liên lạc được với tỉnh ủy. Tin thông báo mỗi ngày: tỉnh ủy thường qua lại vùng An Điền, An Tây, Phú Thứ... Bí thư tỉnh ủy là Ba Đợi – Luân chưa rõ là ai.
Gần như cùng lúc Luân suy tư, ở Bình Dương, thiếu tướng Mai Hữu Xuân đang nói chuyện với Ngô Đình Diệm tại dinh Độc Lập, nội dung quanh thí nghiệm lập dân vệ của Luân...
... Mai Hữu Xuân quyết định nói thẳng với Ngô Đình Nhu những nhận xét của ông ta về chiến dịch “Cơn hồng thủy”. Từ sau chiến dịch Trương Tấn Bửu do ông chỉ huy, mặc dù được thăng hàm thiếu tướng, Mai Hữu Xuân ngửi thấy mỗi ngày họ Ngô mỗi xa lánh ông. An ninh quân đội không còn do ông điều khiển nữa, tổng thống điều ông về bộ Tổng tham mưu với chức danh không rõ ràng. Đại khái ông chịu trách nhiệm theo dõi công cuộc bình định nhưng không có trong tay một tên lính quèn, trừ mấy vệ sĩ dành cho cấp tướng. Phải nói là Mai Hữu Xuân nhẫn nại. Ông đi gõ cửa, làm quen với James Cassey. William Porter lịch sự nghe ông và “nghe qua rồi bỏ”. Còn James Cassey thích đi nhậu với ông song câu chuyện chưa bao giờ vượt quá đề tài Whisky, Cognac, Vodka., Ngũ gia bì và rượu đế Chợ Đệm thứ nào ngon hơn hết. Con người thông minh như Mai Hữu Xuân làm sao không hiểu cái ngăn trở ông chính là quá khứ dính líu sâu của ông với Phòng Nhì Pháp, dù cho ông đã hy sinh không ít chiến hữu và nộp cho CIA một lô danh sách tình báo của Pháp để CIA sử dụng. Mỹ chưa cho điểm ông: ông còn giấu nhiều chủ bài kể cả cấp tướng, bộ trưởng, tỉnh trưởng. Không thể được! Ông không phải là đứa đần độn, giá cả còn do thị trường chính trị. Ai dám cam đoan, họ Ngô “thiên niên trường trị” ở Nam Việt? Savany há chẳng từng thư từ nói lóng với ông: “Hatez vouz lentement”(4) đó sao? Thế cờ chưa ngã ngũ. Ông chẳng phải là hạng người trọng tình bạn - cái gì bán được, ông bán ráo – song mua chức thiếu tướng bằng chừng ấy con tin là quá nhiều. Giả sử ông làm Tổng tham mưu trưởng, “hàng hóa” nhất định tương ứng. Và, nếu địa vị cao hơn... Người Mỹ chưa chọn ông – họ dừng ở mức xài ông như một chuyên gia chiến thuật tình báo, một tên sai vặt.
Tất cả vì Nhu. Nợ nào rồi cũng có lúc phải thanh toán. Ông dặn lòng như vậy. Tuy không thạo chuyện cổ lắm, ông cũng biết bên Tàu thời Hán, có mưu sĩ trên Trần Bình đồng liêu với Hàn Tín, khi Hàn Tín bị Lữ Hậu sát hại, Trần Bình không khóc mà còn lớn tiếng thóa mạ vị phá Sở đại công thần nầy, nhờ đó được Lữ Hậu yêu dùng. Rồi khi Lữ Hậu chết, việc đầu tiên của Trần Bình là tru lục cả nhà họ Lữ, phơi xác bà ta giữa chợ cho diều tha quạ mổ, làm đại lễ tế Hàn Tín...
Thông báo tình hình của chiến dịch “Cơn hồng thủy” như bêu riếu ông. Dù sao, Mai Hữu Xuân cũng từng làm công việc đó trước Nguyễn Thành Luân. Những chủ đồn điền cao su người Pháp đã cám ơn ông. Phạm Văn Bời vốn là bộ hạ của ông, ông giúp cho gã tạo thế lực. Bất kể bây giờ Bời do ai nắm cũng không thể để rã cánh trước thằng Cộng sản Nguyễn Thành Luân. Phải thuyết phục Ngô Đình Diệm chấm dứt chiến dịch “Cơn hồng thủy”.
Mai Hữu Xuân xin gặp Nhu và được phép.
- Thưa ông cố vấn, tôi rất lo ngại về chiến dịch “Cơn hồng thủy”. Chủ trương của thiếu tá Nguyễn Thành Luân có cái gì đó chưa ổn, nếu không nói là nguy hiểm...
Nhu lắng nghe Xuân. Anh ta vốn ngại viên tướng lắm mưu mẹo và vi cánh này. Tuy nhiên, điều mà Xuân nêu ra lại chính là điều Nhu từng nghĩ tới.
- Tôi kính trọng thiếu tá Luân và bao giờ cũng đánh giá cao tài năng của ông. Song, giữa phương pháp mà ông đeo đuổi với đường lối của chính phủ vẫn chưa phải hoàn toàn ăn khớp. Những rối rắm do các nhóm sống ngoài vòng luật lệ khiến nhiều thôn xã mất an ninh, ví như bệnh ngoài da. Nó khác hẳn mưu đồ của Cộng sản. Nhiệm vụ của chiến dịch không nên quá nặng về phía trừng trị bọn cướp hoặc một số hành động xằng bậy của quân đội hay chức việc nhà nước ở hạ tầng. Thiếu tá say sưa lao vào những râu ria mà bỏ sót cái chính yếu. Phương pháp đó vừa làm nản lòng cấp dưới vừa tạo điều kiện cho Cộng sản ngóc đầu dậy. Đặc biệt, tôi lưu ý ông cố vấn về việc thiếu tá tỏ ra quá rộng rãi phân phối súng cho dân vệ.
Nhu tán thành lập luận của Mai Hữu Xuân, nếu ông ta dừng lại ở chỗ đó. Nhu đã nghĩ thoáng trong đầu, cách kềm chế Luân – “Ta cử Mai Hữu Xuân lên làm đốc chiến cho Nguyễn Thành Luân, có lẽ hay”.
Nhưng những cái gật đầu đệm từng chập của Nhu đã đẩy Xuân đi lố:
- Tôi biết thiếu tá Luân đang theo dõi và sẽ tung một đòn chí tử vào đảng Rừng Xanh. Tất nhiên, một nhóm cướp khó mà sống sót trước đòn sấm sét của thiếu tá. Đảng Rừng xanh của Phạm Văn Bời thật sự không đe dọa chúng ta mà là mối nguy đối với Cộng sản. Họ là người địa phương, thông thạo từng lối mòn nhỏ trong rừng. Nếu có chính sách đúng họ hợp tác với chính phủ và sẽ là thế lực chống Cộng sản rất hiệu quả, yểm trợ đắc lực cho chương trình dinh điền của ông Cố vấn...
“Hóa ra thằng cha nầy thuyết tràng giang đại hải rốt cuộc là vì sợ Luân đánh tan đảng Rừng Xanh. Nhất định là y ăn chịu với hắn. Tạm thời cứ để Luân đánh tan đảng Rừng Xanh, sau đó – sẽ cử thằng cha này lên làm một thứ “giám quân”...” - Nhu nghĩ thầm.
- Rất hoan nghênh thiếu tướng! – Nhu kết thúc - Tôi sẽ theo dõi chặt chẽ chiến dịch và cũng mong thiếu tướng làm như vậy...
Mai Hữu Xuân hiểu rằng câu nói tống khách của Nhu hoàn toàn theo phép xã giao. Còn vì sao Nhu vừa tán thành vừa từ chối ông ta thì quả Mai Hữu Xuân không nghiệm ra. Bởi gì, Mai Hữu Xuân không biết Nhu đã đọc nhiều lần lời khai của đại úy Phùng Quốc Tri và càng không thể biết trong ý thức Nhu cái họa Cộng sản và cái họa bị Mỹ đâm sau lưng, theo thời gian và bằng các thực tế sống động bỗng trở nên ngang nhau hay ít nhất đều đe dọa triều đình nhà Ngô.
*
Mùa mưa bắt đầu, công việc mở các trục lộ giữa rừng tạm ngưng.
Bộ tư lệnh hành quân tiếp tục công việc theo một nhịp độ trái ngược: Thiếu tá Nguyễn Thành Luân đã thành lập lực lượng dân vệ đến cấp tổng khắp tỉnh Bình Dương và lần lượt đi dự lễ ra quân các quận. An ninh ba tỉnh nói chung là tốt - như thông báo tổng kết hằng tháng của bộ Tổng tham mưu và Tổng nha Cảnh sát. Điều đó được các chuyên viên ở bộ Tham mưu biệt bộ phủ tổng thống phân tích như là vì thiếu tá Nguyễn Thành Luân trực tiếp làm tỉnh đoàn trưởng bảo an Bình Dương, nghĩa là có xu hướng muốn đề nghị tổng thống giao cho Luân kiêm nhiệm chức vụ Tỉnh đoàn trưởng Bảo an các tỉnh miền Đông. Nhu không đồng ý mà không nói lý do.
Giữa lúc đó, một người được báo chí nhắc đến: Tỉnh trưởng Định Tường Nguyễn Trân.
Nguyễn Trân, quê miền Trung, xuất thân công chức, tùng sự ở Tổng nha Công vụ - bấy giờ do Kiều Công Cung phụ trách. Cung từng đi kháng chiến, là thủ lãnh Thanh niên tiền phong và sau đó là sư trưởng Cộng hòa vệ binh, trước khi đầu hàng Tây. Trân thừa hưởng kinh nghiệm của Cung và do đó, được Diệm bổ nhậm tỉnh trưởng Định Tường, nơi nổi tiếng ổ Cộng sản với con kênh Tổng đốc Lộc bị cải danh thành kênh Nguyễn Văn Tiếp – tên một lãnh tụ Cộng sản - với Vĩnh Kim từng chịu bom trong bạo loạn Nam Kỳ năm 1940. Vừa đặt chân đến Mỹ Tho, Trân lập tức thực hiện một pha ngoạn mục: tổ chức đấu lý giữa một số cán bộ cộng sản bị bắt, 14 Việt Cộng đưa trong khám ra tranh luận với tỉnh trưởng trước 2.000 người. Kể ra đó là một sáng kiến có giá trị nếu những người bị bắt không phải trải qua hằng tháng trời lấy khẩu cung cực kỳ thô bạo ở ty cảnh sát. Sáng kiến mau chóng biến thành màn dàn dựng và Nguyễn Trân, đạo diễn kiêm diễn viên. Báo chí tường thuật từng câu đối đáp và ai cũng biết kết quả: Cộng sản không có chính nghĩa.
Nhu tiếp nhận kết quả đó và anh ta không cần đọc. “Lố bịch!” - Nhu hạ một câu sát rạt. Cho nên, khi Nguyễn Trân lên báo cáo với Nhu, hí hửng lúc bước vào và tiu nghỉu khi bước ra.
- Ông làm cái trò tốn tiền, tốn công mà báo chí nước ngoài cười chúng ta. - Nhu bốp chát – Ông coi đây...
Nhu vứt trước mặt Trân bản tin télex của phóng viên hãng Thông tấn Mỹ UPI: “Đấu lý hay xưng tội? Trò đùa nhạt nhẽo nầy được một quan chức đầu tỉnh thuộc lưu vực sông Cửu Long trưng ra với dư luận như là một cách tân trang phương pháp chống cộng về mặt ý thức hệ. Mười một ký giả và ba trí thức được mệnh danh là Cộng sản đứng trước 2.000 người chọn lọc - ông tỉnh trưởng cưỡng ép 2.000 người cho có vẻ công chúng – trả lời các câu hỏi của chính tỉnh trưởng. Cuộc đấu lý tất nhiên phải đi vào quỹ đạo mà tỉnh trưởng muốn: những người Cộng sản còn thú tội để được một ân huệ; tối thiểu là khỏi bị tra tấn. Liệu rằng nước Mỹ có nên đứng sau lưng những tay phù thủy tập sự này không?”
- Ông nên để đầu óc lo công việc khác vừa sức ông hơn. – Nhu mắng mỏ Nguyễn Trân.
Nhu hằn học với Nguyễn Trân không phải chỉ vì màn kịch “đấu lý” thất bại mà vì Trân thuộc nhóm Đại Việt Hà Thúc Ký, nhờ khéo luồn lách nên khỏi tội vụ Ba Lòng.
“Thằng cha thích làm lãnh tụ này toan kiếm chác vốn liếng chính trị để rao hàng với CIA đây!”.
Đầu tháng 8, Nhu sang Nam Vang. Chuyến đi này nhằm làm dịu lập trường hai nước càng lúc càng đối chọi. Thông cáo Việt Nam tố cáo Miên xâm lấn biên giới. Thông cáo Miên tố cáo Việt Nam thọc qua đất Miên...
Nam Vang đón Ngô Đình Nhu không mấy nồng nhiệt. Tuy vậy cuộc tiếp xúc Sihanouk – Nhu vẫn mang lại đôi kết quả: hai bên hứa trừng phạt cấp dưới gây rối ở biên giới. Shihanouk bằng lòng viếng Sài Gòn theo lời mời của Nhu...
Không ai tiết lộ thái độ thật sự của Sihanouk sau hội đàm. Phần Nhu, anh ta, trong một lần trao đổi với Luân, đã hé:
- Trung lập của Cambốt có nhiều cái hay. Phải chi Việt Nam ta có điều kiện như Sihanouk...
... Trần Vĩnh Đắt bước vào văn phòng của Luân không báo trước. Thái độ của Đắt khác hẳn khi ông ta làm tổng giám đốc cảnh sát, Đắt tự chọn ghế nồi và bắt tay Luân lỏng lẻo.
- Sao? - Đắt hất hàm, hỏi Luân.
- Tôi chưa rõ đại tá hỏi việc gì?
- Chẳng lẽ tôi hỏi thiếu tá về giá gạo Sài Gòn hay giá thị trường chứng khoán Hồng Kông?
Luân sa sầm mặt:
- Về các loại giá cả đó, đại tá là một chuyên gia cỡ lớn!
- Anh đừng có xỏ xiên! Tôi đến để xem anh làm ăn thế nào? Từ khi lên đây, anh không thèm chào tôi. Tôi hỏi: Anh định trao cho du kích Cộng sản bao nhiêu súng?
- À, hóa ra đại tá quan tâm việc đó. Số súng mà các đội dân vệ có thể chuyển cho du kích là bao nhiêu, tôi chưa có cơ sở để nghĩ đến một con số. Song số súng mà các cơ quan tỉnh Bình Dương do đại tá phụ trách khi còn là tổng giám đốc cảnh sát quốc gia đã trao cho du kích lẫn bọn cướp thì có con số: không tính bằng khẩu mà phải tính bằng kho! – Luân phản kích giọng châm chọc.
Trần Vĩnh Đắt ngao ngán:
- Tôi không hiểu tại sao tổng thống lại giao thiếu tá trọng trách bình định ở một vùng nhạy cảm như thế này. Từ khi thiếu tá bắt tay vào công việc, lực lượng quốc gia trong tỉnh sa sút, ai cũng thấy, còn Việt Cộng thì lên vùn vụt. Theo báo cáo chính thức, cả chục trung đoàn cộng sản làm mưa làm gió ở đây..
- Đại tá đã quá đề cao tôi rồi đó! – Luân tiếp tục cười cợt - Trong vòng sáu tháng, tôi xây dựng được cho Cộng sản cả chục trung đoàn! Để xem, tôi có nên nhận sự khen tặng như vậy hay không?
- Thiếu tá cần nhớ đây không phải là nhận xét riêng của tôi!
- Tôi hiểu, đại tá có bao giờ có nhận xét riêng!
- Tôi hỏi thiếu tá đã xin ý kiến của Sài Gòn chưa?
- Thưa đại tá, ông có cần đọc một lần nữa quyết định của tổng thống về nhiệm vụ của tôi không?
Đắt cười nửa miệng:
- Tôi muốn nói đến ý kiến khác, trên cả tổng thống kia!
Luân cau mày:
- Tôi nhớ trước đây đại tá một vâng hai dạ với tổng thống và ông bà cố vấn. Bây giờ thì... tôi thành thật thương hại đại tá. Đại tá ngỡ che bằng một cây dù khác thì tránh được sét sao? Ngỡ như vậy là quá sớm, thưa đại tá...
- Anh biết cóc rác gì mà nói! - Đắt tỏ ra cứng song giọng nói đã tỏ ra bớt sẵng.
- Vốn trước đây tôi với đại tá quen biết nhau. Vợ tôi có lúc tòng sự dưới quyền đại tá. Tôi thích sòng phẳng. Việc đại tá thôi chức tổng giám đốc cảnh sát quốc gia và không được thăng cấp tướng, phải giam mình ở chức cai ngục không liên can gì đến tôi nếu không nói là tôi đã làm hết sức mình để giữ nguyên hoa mai trên cầu vai đại tá. Cái mà đại tá cần rút kinh nghhiệm là nên chuyển ngân như thế nào cho kín đáo chứ không phải là sừng sộ với tôi. Còn bây giờ, đại tá nên giữ gìn: “phàm làm gián điệp nước đôi phải tinh vi”.
- Anh định vu khống tôi hả? Tôi cho anh tâu rỗi với Ngô Đình Nhu đó! – Đắt lên gân bằng giọng yếu xìu.
- Tôi không vu khống cho bất kỳ ai! Tôi cũng không cần phải tâu rỗi với ông Nhu. Tiếp xúc thẳng với Đức Chúa trời vẫn lợi hơn gặp các thánh như người ta nói. Chắc đại tá cho rằng quan hệ với ông Fishell là độc quyền của đại tá? Đại tá muốn thử không?
Luân bước lại máy nói:
- Thôi mà! Ông kỹ sư...
Đắt đột ngột thay đổi thái độ, giọng gần như van vỉ
- Tôi lỡ nóng nói bậy... Ông kỹ sư đừng chấp.
Luân vẫn quay máy.
- Ông kỹ sư! - Đắt kêu lên tuyệt vọng.
- Alô! - Luân nói vào máy. Đắt tái mặt
- Alô, trung úy Vi đó hả, cho hai chai nước giải khát..
Đắt không kềm nổi tiếng thở phào.
- Tôi biết trong trại giam Phú Lợi có một khu dành huấn luyện biệt kích Mỹ. Đó là việc làm phi pháp. - Luân ngồi xuống và bây giờ đến lượt anh lên lớp Đắt - Phi pháp với chính phủ Việt Nam và cũng phi pháp với đại sứ quán Mỹ. Không cẩn thận, báo chí Mỹ ngửi ra, làm rùm beng thì chính đại tá là vật hy sinh của SSI.
Trần Vĩnh Đắt ngọ nguậy mãi trong ghế. Đôi mắt đờ đẫn chứng tỏ ông ta không nghĩ rằng Luân biết nhiều như vậy.
- Dân vệ Phú Hòa Đông bắt được hai biệt kích đang toan làm tiền Sở Cao su ông Huyện Huyên. Họ đã khai.
Tới đây thì Đắt hoàn toàn bị đánh gục:
- Tôi mong ông kỹ sư nghĩ tình..
Luân giả như không nghe nói tiếp:
- Còn đảng Rừng Xanh, đại tá quan hệ với chúng nó quá chặt. Gần đây chính đại tá ký giấy cho Pô Xường Thài lợi dụng việc đi lại mang gạo thóc tiếp tế cho đảng Rừng Xanh... Tôi đã bắt được nguyên xe cam nhông... và tất nhiên thêm lời khai nữa, ngoài lời khai của đại úy Phùng Quốc Tri... Tôi còn biết đại tá định cho nổ mìn phá hủy các xe ủi của công binh, vì căn cứ Bình Chánh của Phạm Văn Bời nằm trong vùng sẽ xẻ đường. Đại tá bạo gan thật!
Trần Vĩnh Đắt không nói ra câu, ông ta rên rỉ...
- Ông kỹ sư ơi…
- Còn nữa, giữa đại tá và cô Yến Thu... Chính đại tá bảo tình nhân đến đây ngăn tôi không lên xóm Bầu Mây.. Tôi không can thiệp vào sinh hoạt cá nhân của đại tá. Đại tá nên đề phòng trung tá Vũ Thành Khuynh.
Luân nói hai sự kiện sau cùng là hoàn toàn là đòn tâm lý. Anh chưa có bằng cớ. Nhưng Đắt thú nhận:
- Tôi khốn khổ vì mụ Yến Thu...
- Tôi cũng nghĩ như vậy.
Luân mời Đắt uống nước.
- Dầu sao, trong phạm vi trách nhiệm của mình, tôi cố giúp đại tá... Tôi đảm bảo các lời khai sẽ không có một chữ nào dính đến đại tá.
Trần Vĩnh Đắt vồ lấy tay Luân, cảm ơn líu lưỡi:
- Ông ra ơn cho tôi, tôi phải đền ơn. – Đắt nói - Có một việc liên quan đến đại úy Phùng Quốc Tri...
Đắt nói thật nhỏ...
---
(1) Sự ngoại lệ xác định quy tắc
(2) Cuộc đối thoại của những người điếc
(3) Đặc vụ số 1
(4) Hãy nhanh lên một cách chậm chạp

CHƯƠNG 11

Vụ mưu toan đầu độc đại úy Phùng Quốc Tri bị phát giác. Thức ăn dành riêng cho đại úy khi vứt cho chó ăn chó hộc máu, chết lăn, trước mắt Tri.
Luân đích thân điều tra. Thức ăn gửi từ ngoài vào nhưng Tri không có bà con, đó là giỏ thức ăn đầu tiên đề tên ông ta.
Nhân viên trại giam, không tài nào nhớ tên thân nhân thăm nuôi tù hằng tuần. Công việc điều tra gần như bế tắc.
Đại tá Trần Vĩnh Đắt chỉ báo với Luân bấy nhiêu “Người ta định bịt mồm Tri, khả năng nhiều nhất là đánh thuốc độc vào thức ăn”. Đánh thuốc độc bằng cách nào, Đắt cũng không rõ, nhóm sĩ quan Mỹ hóa trang nhân viên dân sự làm việc trực tiếp với phó đại sứ Mỹ William Porter, thường trực trong trại giam Phú Lợi. Nhưng, những sĩ quan Mỹ không thể trực tiếp đánh thuốc độc. Luân nghĩ đến Trần Viết Lượng. Rất có thể. Phán đoán vậy thôi, lấy chứng cứ gì để buộc tôi viên trung tá hống hách nầy?
Người loé lên ánh sáng lại là Tri. Trong lúc dấu vết mờ mịt, Luân chợt nhớ đến Tri. Anh cho gọi viên đại úy lên văn phòng. Phùng Quốc Tri bị giam, người không đỏ au như trước.
- Anh thấy rõ có kẻ muốn hại anh. – Luân nói - Nếu không kịp thời ngăn ngừa, anh đã bị giết...
- Tôi sẽ chết như con chó! - Tri chua chát.
- Tôi rất muốn phanh phui việc này và cũng muốn mở cho anh con đường sống. Anh hãy nhớ kỷ xem ai có thể nhẫn tâm giết anh. Nuôi ý định giết anh thì chắc nhiều người, song ai có điều kiện xuống tay nhất? Tôi xem anh như người cộng tác với tôi tìm ra sự thật. Bằng công trạng đó, tôi hứa sẽ cứu xét trường hợp anh với nhiều đặc ân, thậm chí có thể anh khỏi ra tòa.
- Đại tá Trần Vĩnh Đắt! – Tri quả quyết.
Luân lắc đầu.
- Tôi đã nghiên cứu kỹ, đại tá Đắt không định hại anh. Hoặc, nói chính xác, ông ấy không trực tiếp hại anh...
Tri nhíu mày.
- Anh nhớ cho: các món ăn đưa vào có phải là các món anh thích không? Ai biết anh thích các món đó? Những món gì nào? Thịt bò bít tết, giò chả, thịt đông, giả cầy, thuốc độc trộn vào giả cầy... Phải là người biết anh thích giả cầy...
- Tôi biết rồi! – Tri thét to – Con mụ Yến Thu!
- Tại sao là Yến Thu?
- Một lần trung tá Vũ Thành Khuynh thết tôi. Chả là bọn lang bạt ở Bắc Việt với nhau. Bữa ăn thiếu món giả cầy mặcdù trung tá nói trước là bữa ăn sẽ hoàn toàn địa phương. Tôi cười: Phi giả cầy bất thành đại tiệc... Yến Thu ngồi đó, hỏi tôi tại sao thích giả cầy: tôi giảng giải cho mụ nghe. Lần sau vợ chồng mụ thết tôi món giả cầy thực ngon...
- Cám ơn anh! – Luân dịu dàng – Tôi đã dặn trại giam chăm sóc anh. Đề phòng thức ăn đã đành, còn đề phòng nhiều thức khác. Người ta dám sả vào anh một băng tiểu liên nếu có dịp. Đề phòng tốt nhất là tự anh, hễ thấy có điều gì khác thường phải báo ngay. Tôi giữ lời hứa: anh sẽ được giảm tội...
Phùng Quốc Tri rơm rớm nước mắt khi từ giã Luân. Tuy Luân nắm được kẻ gửi thức ăn tẩm độc cho đại úy Phùng Quốc tri, song đó, chỉ là tính hợp lý của suy luận. Chưa đủ buộc tội con mụ nhiều mánh khoé này.
“Yến Thu dùng ai đưa giỏ thức ăn vào khám?”.
Luân hút hết gần một gói thuốc mà vẫn bí rị.
“Phải có Dung ở đây, cô ấy sắc sảo hơn mình”. Luân nói thầm.
Có thể người nhà của Yến Thu. Không, cô ả đời nào dám dùng người nhà. Tài xế của Vũ Thành Khuynh! Không! Cận vệ ông ta! Không! Ai?
Việc này không phải là sáng kiến của Yến Thu. Ả không có lý do. Vậy sáng kiến từ hai sĩ quan Mỹ hoặc tay trung tá Trần Viết Lượng.
Trung úy Vi cung cấp cho Luân tài liệu: Trần Viết Lượng thỉnh thoảng hò hẹn với Yến Thu, song không mê. Trái lại, hai sĩ quan Mỹ - một trung tá tên Mac Kinsey và một đại úy tên Henry Forward thì say mê say mệt con mụ. Đại úy Tình, bị cách chức quận trưởng Dầu Tiếng là người đầu mối. Tình đang làm việc ở trại Phú Lợi - hắn phụ trách phòng giao thiệp với thân nhân các người tù.
Luân gọi Tình đến văn phòng. Anh quyết định phủ đầu.
- Theo tài liệu của cảnh sát, đại úy đã nhận giỏ thức ăn của bà Yến Thu gửi cho đại úy Phùng Quốc Tri. Tôi đã đủ bằng cớ...
Nếu Tình chối thì Luân cũng không đưa ra được bằng chứng nào. Nhưng Tình nhận:
- Thiếu tá thương giùm em... Bà Yến Thu, các ông Mỹ biểu em... Em đâu có thù oán gì ông Tri.
Ký tên vào lời cung xong, Tình được thong thả. Luân chỉ dặn Tình: không nói với bất kỳ ai, nếu muốn không vào tù...
... Luân sang nhà tỉnh trưởng ăn cơm chiều. Tất nhiên vợ chồng Vũ Thành Khuynh cực kỳ hoan hỉ.
Vũ Thành Khuynh từ 6 tháng nay tựa như người ngồi trên lửa. Phủ tổng thống coi như tỉnh Bình Dương không có viên tỉnh trưởng nào trên ông. Công việc của tỉnh đoàn bảo an lại chạy đều đều. Theo đẳng cấp, ông chỉ huy Nguyễn Thành Luân, song chưa bao giờ ông dám hé môi. Bình định là một thứ nghề không phải trời sinh ông để gánh vác. Trong thâm tâm ông phục Luân. Điều mà ông cầu Chúa che chở là Luân bỏ qua cho ông những vụ áp phe về rừng – đụng vào đâu cũng có - và về quân số ma – tổng số thật của bảo an tỉnh chưa đến 40% báo cáo giấy để nhận lương và trang cấp.
Yến Thu, sau lần sang tận văn phòng Luân, không có dịp nào gặp Luân. Trung úy Vi mô tả Luân như con người lạnh lùng với đàn bà. Ả cố gắng mời Luân đến chơi nhà ả, nhưng Luân chỉ đến tiền sảnh, làm việc xong là về. Đại tá Đắt dặn ả cẩn thận: Luân dám tống ả vô khám nếu nắm được các mối làm ăn của ả.
Yến Thu nửa tin nửa ngờ. Trong tỉnh Bình Dương nầy ả muốn “chài” ai mà chẳng được.
Cho nên, Yến Thu để cả tiếng đồng hồ trang điểm. Nhất định cho Luân vào tròng.
- Anh đừng có ghen em nhen! - Ả dặn Vũ Thành Khuynh – Anh giả say đợi khi nào em ra hiệu, anh xông tới bắt tại trận. Gã chịu phép rồi ta buộc gã làm tờ tự thú, sau nầy muốn xỏ mũi gã tới đâu gã cũng phải đi.
Vũ Thành Khuynh mê tín người đàn bà lão luyện nầy. Trò gì ả bày ra, Khuynh cũng cho là hay. Vả lại, đúng là ả xỏ mũi Trần Vĩnh Đắt bằng một việc nhỏ nhưng không nghĩ tới: chụp ảnh Đắt đang ôm ghì ả và ả đang giãy giụa mặc dù chính ả mời mọc Đắt.
Bữa ăn bày ở sân sau, ngay cửa vào phòng ngủ của Yến Thu... Cửa hé mở, hiện ra chiếc giường lò xo trải drap trắng muốt. Vợ chồng Khuynh mời Luân ở vị trí ngó thẳng vào phòng.
Yến Thu sóng đôi với Luân, còn Khuynh thì đối diện, ả liền miệng khoe các món ăn do ả nấu, tự tay gắp thức ăn cho Luân. Uống vài chập rượu, Vũ Thành Khuynh tựa ghế, thở dốc.
- Ông trung tá dở rượu lắm. Sắp ngáy rồi! - Yến Thu thỏ thẻ, vừa nép người sát Luân vừa liếc vào phòng.
- Ngon quá! Yến Thu nấu ngon thật! – Luân khen.
- Yến Thu vì ai mà nấu ngon, anh biết không?
Luân gật đầu, Yến Thu dấn lên một bước, kề môi vào tai Luân, thì thào:
- Yến Thu yêu anh từ khi mới gặp lần đầu!
Luân tức cười trong bụng: ả sắp gọi mình là “hoàng tử của lòng em” như gọi trung úy Vi! Ả quá sành sỏi nghề đàng điếm, chỉ có một khuyết điểm là không phân biệt ai với ai...
- Yến Thu chưa thật yêu tôi đâu! - Luân nói đủng đỉnh, không cần hạ thấp giọng trước Vũ Thành Khuynh.
- Yêu thiệt mà! Nhớ chết được... người gì...
Yến Thu đóng vai gái nhà lành khá vụng, còn đóng vai gái yêu đương thơ ngây còn vụng hơn. Ả đi vào bài ngay – cầm tay Luân đặt lên đùi trần của ả.
- Nếu yêu tôi, sao bữa ăn thiếu món mà tôi thích?
- Anh thích món gì?
- Tôi thích món giả cầy... - Giọng Luân bình thường.
- Chèn đét ơi! Yến Thu đâu có dè... Chiều mai, món đó. Vậy mà không chịu nói...
Yến Thu uốn éo người, bắt đầu giả bộ thở hổn hển.
- Yến Thu tự làm?
- Thôi mà đừng hỏi nữa.. Yến Thu làm chớ ai. Bây giờ anh... - Ả làm như sắp mê sảng...
- Nhớ làm giả cầy... một phần Yến Thu gửi cho đại úy Phùng Quốc Tri, như hôm nọ.
Yến Thu đang đinh ninh giờ phút Luân đầu hàng sắp điểm, sửa soạn một động tác quyết định. Nghe Luân nói, ả sựng mấy giây và rùng mình.
- Anh.. Anh... - Ả lùi khỏi Luân.
- Tôi biết. Đại úy Tình khai rồi! – Luân ngó ả độ lượng.
- Ông… - Đôi mắt to gắn lông mi giả bình thường biêng biếc, bấy giờ một màu trắng.
Vũ Thành Khuynh ngồi thẳng người, tự hỏi không biết nên tiếp màn kịch như thế nào?
Luân đứng lên khẽ xoa đầu Yến Thu:
- Cũng không có gì quá nguy hiểm, nếu bà nói thật. Tôi đảm bảo với bà...

CHƯƠNG 12

Dung đi làm về, sớm hơn mọi hôm. Như thói quen, mỗi khi Luân vắng nhà, cô nằm trên chiếc ghế xếp đặt ở hàng hiên nghe buổi phát thanh của đài Hà Nội qua một máy thu nhỏ mà cô kề sát tai. Đài đang truyền tin tức miền Bắc sửa soạn kỷ niệm Cách mạng tháng Tám. Khu gang thép Thái Nguyên đang san mặt bằng - cái nồi luyện kim của cả nước dần dần tượng hình. Công trình Bắc Hưng Hải ráo riết thi công... Sau phần tin là phần ca nhạc. Những bài hát cũ – chúng gợi lại ký ức Dung thuở cô còn niên thiếu xếp hàng đếm một hai qua các phố - như “Cùng nhau đi Hồng binh”, “Tiếng gọi sinh viên”, “Lên đàng”,… rồi “Sông Lô”, “Du kích sông Thao”, “Hành quân xa”... Thuở cô, cũng như bây giờ - chỉ dám hát khe khẽ giữa thủ đô tạm chiếm. Và “Chiến thắng Điện Biên” sôi sục – lúc ấy cô đang học trường nghiệp vụ của Bộ, “Cô thợ hàn” là bài cô thích, ngọt ngào làn điệu.
Đèn đường đã bật. Chị Sáu đặt mâm cơm lên bàn. Sắp sửa phải ăn và Dung sẽ đối diện với chiếc ghế trống. Dẫu sao, vẫn phải chờ anh ấy gọi về nói chuyện dăm ba câu. Dung cảm thấy như Luân cùng ăn cơm tối với cô.
Từ khi lên Bình Dương, ngày bốn lần – trừ những ngày Luân đi khỏi tỉnh lỵ - hai người gọi điện cho nhau, hỏi thăm sức khoẻ. Hằng tuần, Luân về, cũng có tuần anh xin lỗi Dung.
Dung lên Bình Dương không nhặt lắm, công việc của một người đều bận rộn.
Chuông điện thoại reo:
- Hôm nay, ông kỹ sư gọi về sớm. – Chị Sáu nhận xét. Chị trở thành người chí thân của gia đình.
- Alô! - Dung vội vàng nhấc máy.
Chị Sáu thấy Dung cau mày. Không phải ông kỹ sư rồi! Dung nói một câu nước ngoài mà chị Sáu không hiểu.
- Ông James Cassey! – Dung gác máy, bực bội.
- Ổng đến nhà ta! - Chị Sáu lo lắng.
- Ông ấy muốn như vậy, song tôi bảo là anh Luân không có nhà, đợi lúc nào anh Luân về.
Gần như cách một ngày James Cassey lại gọi Dung.
Lúc đầu, Dung còn lịch thiệp, về sau cô thấy không thể tiếp tục để bị phá rối, nên sẵng giọng. Vậy mà tên Mỹ vẫn lì lợm.
- Sau này, cô để tôi nghe. Tôi mắng cho ổng một trận... - Chị Sáu càu nhàu, mặc dù chị sẽ mắng bằng tiếng Việt, còn James Cassey hiểu hay không thì thây kệ hắn.
Điện thoại reo lên:
- Bây giờ thì chắc ông kỹ sư! Không biết chừng ông về ăn cơm với cô.. - Chị Sáu vui hẳn.
Dung nhấc máy:
- A lô! Em nghe đây... Ủa! Xin lỗi.
Chị Sáu cụt hứng, ngó chiếc điện thoại trân trối.
- Thưa phải! Tôi là Madame Luân đây... Ông là… Xin chào bác sĩ.. Chuyện chi ạ?
Mặt Dung từ đỏ hồng chuyển sang xanh tái, tay run bần bật. Chị Sáu bước đến cạnh Dung.
- Gì đó cô?
Dung vứt ống nghe chạy vút vào phòng, nói trong nước mắt.
- Anh Luân bị thương nặng...
- Ở đâu? Bị thương... có hề chi không?...
Dung không trả lời chị Sáu. Cô thay vội quần áo, cầm ví tay và chiếc áo choàng, nhảy ba bước một đến garage.
- Bị thương nặng, đang ở bệnh viện... Tôi sẽ điện thoại về.
Dung nói bấy nhiêu và chiếc Open vọt ra cổng, quẹo gấp, bánh xe bật tiếng rít rờn rợn.
Bác sĩ ở Thủ Dầu Một báo với Dung một tin khủng khiếp: thiếu tá Nguyễn Thành Luân trong khi thi hành công vụ bị thương nặng đang hấp hối ở bệnh viện.
Dung ra đường Phan Thanh Giản, rẽ sang Đinh Tiên Hoàng, vượt Cầu Bông, qua Bà Chiểu, cô lái xe hoàn toàn theo quán tính, cầu Bình Lợi...
Trời tối hẳn. Chiếc Open xé màn đêm, càng lúc càng nhanh. Đường 13 vắng ngắt. Dung nhấn thêm ga. Kim đồng hồ vọt lên trên con số 100. Cô vẫn thấy chậm...
- Anh ơi! - Dung kêu khe khẽ. Cái mất mát mà Dung đoán có thể xảy ra; bây giờ đã xảy ra. Anh ấy hôn mê.. Còn kịp gặp mặt không? Tất cả những gì mà Dung và Luân tuân theo kịch bản bỗng vô nghĩa. Luân là người yêu, là chồng của Dung – đó là cái đọng lại lớn nhất, trọn vẹn nhất vào giờ phút nầy – em chết mất, anh ơi! Thương anh lắm.. Anh của em...
Dung nói với Luân, mắt dán về phía trước, theo ánh đèn pha.
Lái Thiêu. Đúng. Những thị trấn như sợ hãi, nép bên lề trước tốc độ điên cuồng của chiếc Opel.
*
Cũng đúng vào chiều ấy, Luân mang xấp báo lại gần điện thoại. Giờ nầy, hẳn là Dung chưa về. Luân tranh thủ đọc tin trong ngày. Tờ Tiếng chuông chạy tít to: Quân đội Cộng hòa tảo thanh phía bắc Bình Dương, chạm súng với nhiều toán võ trang lạ mặt.
Tin ở đâu ra? Luân khó chịu. Đúng, sẽ có cuộc tảo thanh lớn – lớn nhất trong chiến dịch “Cơn hồng thủy”- nhưng súng lệnh chưa phát. Mấy hôm nay, Luân cho nghi binh ở vùng Lái Thiêu, An Sơn, phía Nam tỉnh. Kẻ nào tiết lộ trọng điểm phía Bắc tỉnh, báo cho bọn Rừng Xanh.
Không chỉ tờ “Tiếng chuông” mà các báo khác cũng loan tin na ná. Luân không đọc báo nữa, suy tính.
Từ tầng lầu trên của sở chỉ huy, Luân thấy rõ con sông Sài Gòn nhận nước qua những trận mưa dầm cuồn cuộn đổ về xuôi. Chắc chắn là các con suối dâng cao cắt đường xe vào rừng. Phải hành quân thâu đêm mới kịp tập kết quân nơi quy định, nhất là pháo.
Luân chờ báo cáo của các mũi.
Bất kể như thế nào, không sửa đổi giờ nổ súng được nữa, chỉ phải bổ sung mệnh lệnh: Địch có thể phân tán trên một khu vực rộng hơn dự kiến ban đầu.
Có tiếng điện thoại reo, Luân cầm máy, tươi cười. Dung gọi anh đây...
- A lô!... - Nhưng, Luân bỗng hoảng hốt - Chị Sáu đó hả? Luân đây... Không, tôi vẫn bình yên... Ai báo? Bệnh viện? Dung đi hồi mấy giờ? Thôi được, chị chờ đó... Hễ Dung về chị gọi điện cho tôi liền...
Luân bấm chuông khẩn. Trung úy Vi và Thạch hối hả lên lầu.
- Một kẻ nào đó gọi điện thoại cho nhà tôi báo tôi bị thương nặng, đang hấp hối ở bệnh viện Thủ. Cô ấy hấp tấp tự lái xe lên đây, đi được nửa giờ... Nửa giờ mà chưa đến chắc chắn cô ấy bị bắt cóc.
Luân run giọng, mặt anh tái hẳn.
- Báo động liền, thưa thiếu tá! - Vi toan quay lưng.
- Khoan!... Theo tôi, cô ấy bị bắt cóc ngay khu rừng chồi ngoài thị xã... Chỉ có chỗ đó thôi... Chú Thạch gọi gấp Lái Thiêu hỏi có thấy chiếc Opel sơn màu xám tro, nếu chưa thì ngăn lại giúp.
Thạch lao xuống lầu.
- Em nghi ông Trần Vĩnh Đắt! - Trung úy Vi nói.
- Không phải! - Luân lắc đầu – Bây giờ trung úy dùng bộ đàm ra lệnh cho các đơn vị đóng gần khu rừng... Tránh nổ súng, chỉ kêu gọi đầu hàng...
Vi quay xuống Thạch lên: Chiếc Opel BBL qua khỏi Lái Thiêu hồi chạng vạng..
- Chú điện ngay cho quân trấn Lái Thiêu giữ chiếc xe ấy nếu nó trở lại và báo về đây. Chú dẫn hai tiểu đội lùng sục khu rừng...
Một lúc sau, chiến Land Rover nổ máy.. Thạch khoác tiểu liên nhảy lên xe.
*
Trước Dung, một cái dốc ngắn. Qua khỏi dốc này và khu rừng chồi, đã là rìa của thị xã. Nhiều lắm, năm phút nữa. Dung sẽ tới bệnh viện, cầu mong anh ấy không đến nỗi trầm trọng. Đây rồi, tấm bảng to: Phú Cường 4 km.
Đèn pha quét đỉnh dốc: một tốp nười ra dấu bảo xe ngừng. Tuy bực mình, Dung vẫn giảm tốc độ. Một tốp quân nhân, có thể là quân cảnh. Ba người tiểu liên trên tay.
Dung hãm xe, vẫn để máy nổ. thò đầu ra:
- Xin lỗi, tôi có việc gấp!
Một sĩ quan, cầu vai đính hàm đại úy, người dong dỏng cao, trắng trẻo đưa tay lên vành mũ chào Dung.
- Thưa bà, - Đại úy nói giọng Hà Nội rất lễ phép song Dung cảm thấy giọng ông ta hổn hển như quá xúc động. - Chúng tôi thuộc Bộ tư lệnh hành quân, xin bà cho xem giấy tờ.
- Thế à? Ông ở Bộ tư lệnh... Ông có thể cho biết tình trạng của thiếu tá chỉ huy trưởng hiện nay ra sao?
Dung hỏi, hơi rụt rè. Cô ngó mặt đại úy, mong chờ một tin vui.
Đại úy nhún vai, lạnh lùng:
- Tôi không biết, xin bà cho xem giấy tờ.
Giọng ông ta bây giờ đã bình thường và Dung mang máng hình như đã nghe giọng này ở đâu đó một lần.
Dung đành phải chìa giấy ra. Xem xong, đại úy bảo:
- Phiền bà xuống xe, chúng tôi cần khám xe.
Dung mở cửa, xuống xe, cầm theo chiếc ví, và trong một thoáng Dung hiểu tất cả:
- Chính ông! Đúng rồi!... Tôi không thể nhầm lẫn giọng nói của ông được. Chính ông điện thoại cho tôi vừa rồi! Chưa chắc ông chỉ là đại úy. Sao không đeo cấp hiệu cao hơn cho phù hợp với tuổi tác và tư thái của ông... Sao? Các ông định làm gì tôi, nào?
Dung nghiêng đầu, hơi mỉm cười.
Một người đã lên chiếc Opel
- Các ông cướp xe?
- Không – Gã đại úy trả lời - Chỉ tạm giấu xe bà ở nơi an toàn. Sau nầy, khi mọi việc xong xuôi, xin hoàn trả xe lại nguyên vẹn. - Gã cười khá lẳng - Cũng như xin trả bà lại nguyên vẹn... với điều kiện mọi việc xong xuôi.
Chiếc Opel quay đầu, lao xuống dốc, chỉ còn để lại chấm đỏ nhỏ dần.
- Dù sao, tôi cũng phải cám ơn ông. – Dung nói bình thản – Ông đã trút cho tôi gánh nặng: chồng tôi vô sự.
- Rất khâm phục xét đoán đặc biệt nhanh và sắc xảo của bà! - Gã đại úy nói - Trước hết tôi nhận sai sót đã làm bà lo sợ về tin ông gặp chuyện chẳng may, kế đó, lại đường đột gặp bà trên đỉnh ngọn đồi hoang vu này. Tuy vậy, sẽ không có bất kỳ một xúc phạm nào với bà. Chúng ta cần thương lượng...
- Chúng ta? Tôi không có gì phải thương lượng với các ông cả.
- Có chứ! Rồi bà sẽ hiểu ngay. Đã thương lượng thì phải ngồi vào bàn. Xin mời bà quá bộ vào trong kia, cũng gần đây thôi.
Khu rừng chồi khoác màu nâu sẫm, từng đàn đom đóm lập lòe... Biết cưỡng lại cũng vô ích, Dung bước theo lối mòn nhỏ..
- Bà thông cảm cho, đón tiếp một phụ nữ đẹp như bà mà phải chọn chỗ này là vạn bất đắc dĩ... Ngay trên mặt lộ cũng không tiện vì có thể xe tuần cảnh và trong thương lượng, chúng tôi không thích bà lại chiếm ưu thế...
Dung biết bọn nầy sợ.
Cách đường chừng vài mươi bước. Dung bước vào vùng mồ mả hình như vô chủ.
- Thương lượng giữa vùng cổ mộ, đó là các ông thêm thắt cho nó ly kỳ hay định tra tấn tinh thần tôi? Nếu với ý định sau, các ông sẽ thất vọng vì thuở bé tôi vẫn thường vào chơi các khu mồ mả...
-Bà gan dạ lắm, bà thiếu tá. – Gã đại úy rõ ràng khó chịu trước thái độ xem thường bọn gã của Dung.
- Trò chơi thú vị đấy! - Dung vẫn cười cợt – Tiếc là bài toán của ông nhiều sơ hở quá, tỷ như các ông chọn khu rừng chồi này, nơi duy nhất có thể cho phép các cuộc bắt cóc. Và chiếc Opel quay về, biết đâu giờ nầy, người lái xe đã bị bắt và chừng mấy phút nữa, các ông sẽ bị bao vây...
Gã đại úy nổi cáu:
- Bà không được lắm lời.. Có thể chúng tôi có sơ hở, song bà đang nằm trong tay chúng tôi.
- Ai nằm trong tay ai, rồi mọi sự sẽ rõ. Ông gọi điện cho tôi xong, hộc tốc phóng môtô đến đây... Đúng không! Ông kinh ngạc lắm sao? Dễ quá mà! Dấu bánh xe nguyệch ngoạc trên mặt đường đã tố cáo các ông... Tôi hơi chậm hiểu một tí, nhưng khi nhìn thấy dấu môtô là biết ngay các ông định giở trò gì rồi..
- Bà nói khẽ cho, nếu bà muốn được cư xử lịch sự! - Gã đại úy gằn giọng - Bây giờ đến nơi rồi..
Đó là một khoảng đất trống nhỏ giữa khu rừng chồi có vài ngôi mộ xây đá đỏ, hiện lờ mờ dưới ánh trời cao.
- Hóa ra thương lượng không quanh một chiếc bàn dù tròn hay vuông. Lịch sử ngoại giao đành phải có từ mới: hội nghị đứng! – Dung vẫn đùa.
- Bà có thể ngồi trên thành mả
- Tất nhiên... - Dung trải chiếc khăn tay, ngồi xuống – Trò chơi của các ông sẽ phản lại các ông... Tôi cam đoan như vậy.. Nó sẽ biến thành trò chơi của chúng tôi.
Tuy chưa nắm rõ mục đích của bọn này, song Dung phát hiện những yếu tố và cố kéo dài thời gian để chờ tiếp viện - cô tin sẽ có – và để suy tính...
- Thế nào? Thương lượng về việc gì? – Dung hỏi.
- Bà viết cho thiếu tá mấy dòng: hoãn cuộc hành quân tập kích rừng Bình Chánh đến ngày kia! - Gã đại úy nói toạc ra.
- Nếu chồng tôi không nghe, thì sao?
- Thì bà sẽ vĩnh viễn nằm với những người trong vùng cổ mộ nầy. – Gã đại úy hằn học.
“Chúng có tất cả ba đứa” – Dung nhẩm tính – “Mình bắn có nhanh gì cũng không thể thanh toán hết. Chúng có tiểu liên. Một tên lại đứng sau lưng mình”.
- Tại sao các ông buộc tôi làm như vậy?
- Bà cần gì phải hỏi... Không được hỏi... Giấy bút đây, viết ngay! - Gã đại úy bắt đầu gay gắt.
*
Điện thoại reo, Luân nhắc ống nghe:
- Tôi đây... Tôi đoán thế nào cũng có người gọi tôi... Đúng, tôi chờ.. Không phải vì lo cho số phận của vợ tôi, mặc dù tôi rất yêu vợ... Lo cái gì à? Lo trò trẻ con của các ông đưa chế độ chúng ta tới chỗ sụp đổ, không có đất mà chôn... Tôi vẫn nghe ông... Ông nhân danh cho cái gì?... Thế à? Cho nền tự do của nước cộng hòa chúng ta? Ly kỳ thật... Không, tôi nói nghiêm chỉnh, rất nghiêm chỉnh... Sao ông cứ phải bịt mũi.. Tôi sẽ bị trừng phạt? Nầy, ông bạn, ông ra giá đi. Sao? Ngừng cuộc tấn công? Vợ tôi sẽ nếm mùi đau khổ? Ông học ở truyện kiếm hiệp? Phim Mỹ đầu độc ông rồi... Có thể tôi sẽ gặp một cái gì đó, nhưng ông cần nhớ là ông đang nói chuyện với một người còn đứng… Sao, đem vợ tôi ra để dọa tôi... Vợ tôi hiểu tôi hơn ông nhiều.
Trung úy Vi vào, Luân che máy:
- Thưa thiếu tá, thiếu úy Thạch gọi bộ đàm về mọi việc kết thúc tốt đẹp.
Luân gật đầu, nói tiếp qua điện thoại:
- Ông mơ ngủ, ông bạn! Cái đổi giá không còn nữa. Vợ tôi bình yên, không chờ các ông.. Tùy ông, ông muốn làm gì thì làm..
Vi lại vào:
- Thưa, quân trấn Lái Thiếu đã bắt được gã lái chiếc Opel, tên gã là Hùng, đại úy...
- Tôi báo cho ông một tin, - Luân nói trong điện thoại – Đại úy Hùng của ông bị bắt rồi... Không, tôi không bịa... Làm sao tôi biết anh ta là Hùng nếu tôi không bắt được... Ông đừng sợ hãi, trước khi tới lượt ông… Tôi khám phá thêm một điều thú vị: các ông trước kia ở an ninh quân đội, đúng không?... Thôi, cuộc nói chuyện phiếm của chúng ta như vậy là quá dài...
Luân gác máy, sang phòng điện báo. Cả một dãy bộ đàm đang hoạt đồng khẩn trương: Luân hoàn toàn không thể biết ở một căn nhà nhỏ trong sở chỉ huy, trung sĩ Toàn, người lái xe cho anh, cũng vừa gác máy điện thoại, ngó xuôi ngó ngược rồi ra sân...
- Bạch Hổ đâu? Bạch Hổ đâu? – Viên hạ sĩ quan truyền tin gào to... - Bạch Hổ nói chuyện với Ngân Hà.
Luân đứng trước máy bộ đàm.
- Bạch Hổ... Theo bản đồ... Ô chỉ định thấy chưa?
- Thấy rồi! – Tiếng đáp rè rè.
- Ngay chữ C... Thấy chưa?... Trong vòng ruột của chữ C...
- Thấy rồi...
- Sẵn sàng chưa?
- Sẵn sàng!
- H plus cing! (1) – Nói lại đi...
- H plus cing...
- Chúc ăn ngon!
- Chúc ăn ngon!
*
Tiếng xe ngoài lộ xóa cái yên tĩnh của khu rừng chồi.
- Cuộc phiêu lưu của các ông sắp kết thúc! - Dung bảo – Bây giờ, khôn ngoan nhất là các ông lui nhanh, thật nhanh, trước khi bị gông cổ...
Gã đại úy nhấp nhỏm:
- Thế này là thế nào?
Hai đứa cùng theo gã nháo nhác.
- Thưa bà, người của thiếu tá đến. – Gã đại úy nói giữa lúc pha ô tô rọi khắp khu rừng và có tiếng chân người từ xe nhảy xuống đường – Nghĩa là cuộc thương lượng thất bại. Tôi bắt buộc phải xử trí với bà... Thật không hợp lý khi xả vào người đẹp một băng đạn...
- Ông ngỡ là ông có thể chạy trốn khỏi đây? – Dung bắt được một con đom đóm, đặt nó lên lòng bàn tay - Cả khu rừng bị bao vây, tôi báo cho ông hay, có thể sẽ có một băng đạn như ông nói. Và, cả ba người, sau tôi một lúc, cũng vĩnh viễn nằm xuống đây... Chồng tôi là tư lệnh hành quân, sẽ quyết định bắn các ông ngay...
Tiếng động bây giờ đã khắp khu rừng.
- Các ông nghe chứ? Ngay con cáo cũng không thoát đừng nói các ông...
Loa đột ngột vang lên:
- Bộ tư lệnh hành quân ra lệnh cho bọn cướp phải đầu hàng ngay...
- Thậm chí, người ta lột lon ông và ghép tất cả vào bọn cướp... - Dung cười cười.
- Bà.. bà! – Gã đại úy vụt mất oai phong, sà gần Dung.
- Ông bình tĩnh. Tôi bảo đảm cho cả ba. Các ông kém thông minh quá.. Nói thật, nếu tôi muốn giết ông thì không đợi đến bây giờ. Ông quên tôi có súng? Nhưng, tôi thương hại các ông, những vật hy sinh của cấp trên các ông.
- Bà... Bà!... - Gã đại úy gần như phủ phục dưới chân Dung.
- Các ông xếp vũ khí lại đây, trốn vào một bụi rậm nào đó... Tôi sẽ cứu cho! Nhớ, thoát rồi chạy cho xa...
Tiếng chân rậm rịch đã rất gần. Đèn pin loang loáng.
- Không được chậm! – Dung ra lệnh.
Gã đại úy cởi súng trước tiên, hai gã kia đặt tiểu liên lên thành mả. Rồi, cả ba lủi vào một lùm cây um tùm cạnh đó.
- Tôi ở đây! – Dung gọi to.
Thạch bươn tới:
- Bà... có sao không?
Dưới ánh đèn, Dung cười thật tươi...
*
Luân sắp sửa lên xe. Nhưng, trung sĩ Toàn chưa có mặt. Vừa lúc đó, chiếc Land Rover quanh vào cổng. Dung bước xuống. Luân đón Dung trong vòng tay, hôn như mưa lên má, lên mắt, lên trán cô...
- Em sợ lắm phải không? Anh phải đi gấp.. Sáng mai, ta gặp nhau. Em nghỉ, nghe!
Đây là lần đầu tiên Luân xưng hô như vậy với Dung.
- Anh đi ư? – Dung nghẹn ngào.
Luân thấy thương Dung quá chừng:
- Cái đáng ngại nhất đã qua rồi...
Mãi khi trung sĩ Toàn nổ máy chiếc Jeep, Luân mới rời Dung.
---
(1) H cộng 5: giờ ước nổ súng

CHƯƠNG 13

Khu rừng Bình Chánh rậm rạp, đó là khu rừng nguyên thủy hiếm hoi còn sót ở phía bắc tỉnh. Nó nằm tận phía trên làng Tân Tịch, đối diện với Rạch Động bên kia sông. Đường kiểm lâm vào rừng quanh co, lầy cát...
Trong kháng chiến, có lúc tỉnh đội Thủ Biên đóng ở đây. Sau hiệp định Genève, các nhóm trộm cướp chọn khu rừng làm nơi ẩn náu. Chiến dịch Trương Tấn Bửu kết thúc thì khu rừng trở nên bí hiểm. Dân quanh vùng không ai dám vào rừng. Đôi người nhổ nấm có đi mà không có về... Người ta đồn rằng một đảng cướp bề thế tên là Rừng Xanh đặt sào huyệt giữa rừng...
Khu rừng rộng chừng 50 mẫu tây, đứng từ xa đã có thể trông thấy chòm cây cao xanh rờn.
Chưa có một lực lượng vũ trang nào của chính phủ mò đến đây. Tề các làng tiếp giáp với rừng Bình Chánh mỗi khi nhắc tới khu rừng phải hạ giọng.
Những cuộc khủng bố ghê rợn nhất, ai cũng biết, người của đảng Rừng Xanh thực hiện khắp tỉnh Bình Dương, Bình Long, Biên Hòa. Lúc đầu, dân chúng hơi lạ: đảng cướp mà được tiếp tế gạo thịt bằng xe cam nhông, đôi khi bằng ca nô. Rồi, mọi người hiểu ra: đảng cướp ăn chia với chính phủ. Và, mọi người gọi đảng cướp bằng cái tên mới: biệt kích Mỹ.
Tất nhiên; dân chúng không hiểu được trại biệt kích Mỹ ở Bình Chánh nầy - cũng như trại Bình Hưng của linh mục người Tàu Nguyễn Lạc Hóa ở vịnh Thái Lan, sát rừng U Minh – chưa được chính phủ Mỹ công khai cho phép hoạt động, với chính phủ Diệm, càng không được chấp nhận cho nên nó phải kín đáo. Nó không giống các trại biệt kích chuyên tung thám báo ra miền Bắc do Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thỏa thuận một chương trình hành động từ vài năm qua. Mặc dù cả hai hướng đều do Fishell phụ trách. Người đại diện của CIA có hai bộ máy làm việc riêng biệt. Trường đào tạo thám báo đánh ra miền Bắc đặt ở Nha Trang, còn trường đào tạo biệt kích nội địa, ngay trong vòng rào Phú Lợi.
Trại Bình Chánh được dựng lên từ đảng cướp Rừng Xanh – nay bổ sung thêm nhiều lính mộ trong hạng cặn bã xã hội ở các thành phố. Phạm Văn Bời, đảng trưởng Rừng Xanh đồng thời là đại tá biệt kích.
Chiến dịch “Cơn hồng thủy” đe dọa trại Bình Chánh. Những bộ hạ của Phạm Văn Bời, thường là sĩ quan chỉ huy bảo an các đồn, lần lượt bị cách chức hay đổi chỗ. Mất nhân mối bên trong, tầm hoạt động của trại hạn chế dần. Yến Thu rời Phú Cường bởi Vũ Thành Khuynh bị gọi về Bộ Tổng tham mưu, tỉnh trưởng mới là trung tá Huỳnh Văn Còn có vẻ ăn cánh với Nguyễn Thành Luân. Lực lượng dân vệ phát triển, làng xóm được canh gác nghiêm mật.
Cướp bóc hay biệt kích đều khó, nhiều lần cánh Rừng Xanh phải cõng đồng bọn bị thương về căn cứ, bụng đói meo. Luồng tiếp tế vừa khai thông có một chuyến, Bá Thượng Đài suýt vô khám nếu Ly Kai không dúi cho Trần Lệ Xuân một món tiền lớn. Trần Vĩnh Đắt co vòi. Ngay trường huấn luyện Phú Lợi cũng đã dự định dời đến một chỗ khác...
Các nhóm của Rừng Xanh rút về Bình Chánh. Cái túi khá to, chứa gần 200 con người ta, sống lây lất.
Fishell nhiều lần ngỏ ý với Durbow gây sức ép để Diệm chấm dứt nhiệm vụ của Nguyễn Thành Luân, nhưng đại sứ Mỹ không tán thành. Lấy cớ gì mới được chứ? Chẳng có cớ nào cả. Trong khi đó, cái lưới của Luân tung ra đang thắt lần quanh trại.
Trần Viết Lượng đề nghị Fishell cho di tản đảng Rừng Xanh xuống bán đảo An Sơn. Fishell đi thị sát vùng đó, nhưng thấy không ổn vì vẫn nằm trong phạm vi chỉ huy của Luân. Sau cùng Lượng chọn được một khu vực trên đường 14, nơi giáp ba tỉnh Biên Hòa, Quảng Đức và Lâm Đồng. Kế hoạch di tản thảo xong: năm chiếc GMC sẽ bốc toàn bộ đảng Rừng Xanh chạy một mạch đến đó... Cần thêm một ngày nữa.
*
Luân vừa ra khỏi cổng chưa đến năm phút. Thạch về, anh còn bận ít việc ở rừng chồi nên không cùng về với Dung. Chiếc Land Rover của Thạch lại vọt ra cổng, đuổi theo Luân.
Đoàn xe của Luân gồm ba chiếc Jeep phóng hết tốc độ. Luân ngồi chiếc xe chạy giữa, cạnh tài xế Toàn. Sau anh là một chuẩn úy, tên Thục, trong đội cận vệ sở chỉ huy. Trung úy Vi ngồi giữa. Một hạ sĩ truyền tin với chiếc máy bộ đàm lúc nào cũng kêu rè rè ngồi phía ngoài. Hai xe kia đều là cảnh vệ.
Khi xe rẽ vào con đường cát, tốc độ chậm hẳn và cự ly giữa ba xe cũng không còn giữ như cũ. Chốc chốc xe xô mạnh, hất tung. Tuy nhờ mưa, đường cát có dẽ, những vốn là đường xe bò, rất gồ ghề...
Luân xem đồng hồ tay: 9 giờ 7 phút. Giờ nổ súng quy định thống nhất là 9 giờ 35. Còn non nửa giờ nữa. Nửa giờ để vượt mươi cây số.
Trung sĩ Toàn thỉnh thoảng liếc Luân. Anh chàng lái xe ba gai nầy – Luân nghĩ- muốn phân bua với Luân về con đường quá tồi chớ không phải “tiên chỉ” lái tồi. Cho nên Luân đáp cái liếc của Toàn bằng nụ cười động viên.
Chuẩn úy Thục mặt nặng chình chịch, tay không rời báng súng ngắn. Trung úy Vi thì ngó láo liên, anh chưa từng ra trận. Xe càng dấn sâu vào ven rừng, Vi càng hoảng bộ râu Clark Gable của anh bây giờ trông thật hài hước, nó luôn động đậy. Còn hạ sĩ truyền tin thì giấu nỗi sợ hãi bằng gào thất thanh: Ngân Hà đây...
Xe chạy giữa đám vườn hoang. Hễ qua khỏi đám vườn hoang nầy là đến bìa rừng, nơi Luân sẽ đặt chỉ huy dã chiến.
Những hàng cây giao tàn che kín con đường. Một cành lá chắn ngang đường. Có thể ai đó vào vườn hoang hái đã chặt cành bừa bãi.
Khoảng cách giữa ba xe xa dần: Đèn pha đi sau chỉ chập chờn, còn đèn đuổi xe trước thì mất hút. Luân bảo hạ sĩ truyền tin gọi xe trước chầm chậm và thúc xe sau:
- Báo đen đâu? Ngựa rằn đâu...
Một cành cây thứ hai vứt ngang đường, cách cành thứ nhất những 300 thước. Luân bắt đầu thấy lạ. Không phải vô tình mà có thể là mật hiệu. Mật hiệu cho cái gì?
Trung sĩ Toàn nhấn ga, chiếc Jeep cán bẹp cành cây và anh ta giữ nguyên tốc độ đó. Xe lao vùn vụt. Luân đã phải nhiều lần nép người tránh cành lá bên ngoài quật vào anh.
Trung sĩ Toàn bỗng đưa tay đập muỗi trên cổ. Luân chú ý liền cử chỉ không bình thường đó. Nhưng trung sĩ Toàn đột ngột bẻ ngoặt tay lái chiếc Jeep nghiêng hẳn một bên, phóng vào một đám vườn um tùm.
- Ngừng lại! - Luân ra lệnh.
Lệnh của anh không được chấp hành: Chuẩn úy Thục chĩa họng súng Colt 12 vào gáy Luân bóp cò. Nếu xe không vướng cái nền nhà cũ chồm lên rồi rơi xuống thì viên đạn đã xuyên óc Luân rồi. Lợi dụng xe chồng chềnh, Luân đạp mạnh thành xe nẩy ngửa ra ngoài. Rơi chạm đất, anh lăn liền mấy vòng.
Chiếc Jeep ngừng. Luân bây giờ mới biết phát đạn xuyên xương vai và anh không thể sử dụng được cánh tay mặt. Khẩu P.38 bật chốt an toàn, Luân dán mắt nhìn chiếc Jeep ẩn hiện lờ mờ giữa khu vườn.
- Tôi đầu hàng! - Đó là tiếng trung úy Vi.
- Đầu hàng con mẹ gì, mầy đi kiếm thằng Luân, nó còn sống thì chẳng đứa nào hòng thoát nó.
Đó là tiếng trung sĩ Toàn. Mấy bộ đàm vẫn rè rè: Ngân Hà đâu?
- Cái gì kìa? - Chuẩn úy Thục thét.
- Em! - Tiếng của Thi hạ sĩ truyền tin.
- Mầy tắt mẹ cái đài cho tao!
Tiếng của Thục giúp cho Luân vật chuẩn. Từ tay anh, khẩu P.38 khẽ rung, tiếp sau là tiếng rú của Thục..
Luân vừa bóp cò xong, lăn mấy vòng. Anh chọn được gốc mít làm chỗ nấp.
- Đ.m mày! - Toàn rít. Hắn lia về hướng Luân cả băng Thompson.
- Anh em Rừng Xanh! Xung phong! - Toàn khom người bên xe, thét to.
Phía cuối xóm, vài phát súng nổ. Luân biết chiếc Jeep dẫn đường bắn hú họa.
- Thằng Luân còn sống không?
Một giọng oang oang cất lên bên kia rào dứa.
- Đại ca Bời đấy hả,... Em là Toàn đây... Có thể nó ăn hết băng đạn của em rồi..
- Uổng quá! Bắt sống nó tốt hơn!
Từ lộ, nhiều loạt súng bắn vào. Ánh pha của ba chiếc xe soi thủng khu vườn rậm.
- Đ.m, đâu thêm xe nữa? – Toàn chửi thề, Toàn đứng thẳng lưng. Luân vẫy nhẹ. Nhưng lần này anh bắn trượt.
- Nó còn sống!
Toàn tru tréo, xả một băng Thompson. Gốc mít trở thành công sự tốt của Luân. Ánh lửa lóe ngay từ nòng Thompson định hướngcho Luân. Anh lại vẫy tay, bây giờ thì Toàn gục không có cả tiếng rú.
- Cái gì? - Bên kia rào, “đại ca” hỏi và Luân biết người đó là đảng trưởng Rừng Xanh kiêm đại tá biệt kích Phạm Văn Bời.
- Tụi bây bịt miệng mấy thằng lính chó ngoài lộ cho tao.
Súng nổ giòn. Đèn pha tắt. Luân biết số “lính cậu” của anh đã co giò chạy thoát thân. Nếu còn bắt thì chỉ có Thạch.
Phạm Văn Bời đã vẹt được rào. Hắn ta đứng lên đầu xe Jeep, theo ánh đèn pin tìm kiếm. Hắn tìm kiếm Luân.
Tình thế hiểm nghèo rồi. Luân đinh ninh mình khó thoát. Song chắc chắn Phạm Văn Bời cũng không thể sống. Anh thận trọng nâng khẩu P.38 cố gắng cuối cùng của đời anh.
Luân chưa kịp bóp cò, nhiều loạt đạn nổ giòn. Phạm Văn Bời té như diều đứt dây.
- Đại ca “bị” rồi! - Một tên nào đó hô hoán.
- Tụi nó tập hậu! Chạy! - Một tên khác gào thất thanh.
Luân chưa hề bố trí lực lượng tập hậu này. Có vẻ không phải là một lực lượng tập hậu vì Luân nghe rõ chỉ có súng trường nổ.
Cuộc phục kích rối loạn. Nhiều tốp xông ra đường nhưng khẩu trung liên hất ngược chúng lại. Chú Thạch bắn đấy! Luân mỉm cười.
Cơn đau chợt ụp tới. Luân tối sầm mặt. Trước khi rơi vào cơn mê, anh còn kịp nghề vài tiếng pháo và bọn Rừng Xanh nhốn nháo:
- Tụi nó thụt cà nông vô căn cứ.
*
Các báo xuất bản buổi chiều ở Sài Gòn đều đăng tít lớn, chạy suốt tám cột: Đảng trưởng đảng Rừng Xanh Phạm Văn Bời bị hạ sát tại rừng Bình Chánh (Bình Dương). Quân lực Việt Nam Cộng hòa phá tan sào huyệt bọn cướp.
Một số tự xưng là “Phóng viên chiến trường” đã vẽ rồng vẽ rắn trận đánh. Không báo nào nói đến trận phục kích của Phạm Văn Bời, càng né những tin tức về tên Toàn, tên Thục. Tất nhiên, các báo nhắc đến “người anh hùng của chiến thắng”, thiếu tá Nguyễn Thành Luân, mặc dù báo chỉ đăng ảnh Phạm Văn Bời nằm chết, con cọp nhanh vẫn nhe răng chơm chởm trên ngực hắn mà không có ảnh của Luân.
Chính Ngô Đình Nhu chỉ thị Bộ Thông tin khai thác trận đánh tới mức tối đa. Dễ hiểu thôi, lẽ nào không nhân cơ hội này mà mắng xéo Mỹ.
Luân tỉnh dậy, trí nhớ của anh mau chóng hồi phục và anh không lạ về màu trắng bao quanh anh. Đây bệnh viện. Nhưng bệnh viện nào? Kia rồi trần thiết của phòng cho anh biết anh đang nằm ở Grall.
Ai hạ đảng trưởng Rừng Xanh? Câu hỏi trước phút Luân mất tri giác bây giờ trở lại. Và, Luân chợt thấy lòng lâng lâng: nhất định một nhóm dân vệ vũ trang vùng Bình Chánh. “Cơn hồng thuỷ” như vậy đó.
Nhưng Luân không vui lâu. Tại sao anh không nghĩ đến tên Toàn, tên Thục sớm hơn?
Luân trở mình. Cả người anh ê ẩm và nửa vai bó trong một khối bột to tướng.
- Anh đã tỉnh! - Dung ngồi trên ghế đặt ngay cửa, vứt chiếc áo mà Luân nhận ra áo anh mặc hôm đánh nhau - Dung đã giặt sạch và vá chỗ thủng - chạy lao đến. Nhìn đôi mắt sâu trũng của Dung, anh biết cô khóc nhiều và không ngủ. Nước mắt đang chảy tiếp.
- Anh vào đây bao lâu rồi?
Dung không trả lời. Cô vùi mặt vào ngực Luân, khóc rấm rứt.
Cửa phòng mở. Cố vấn Ngô Đình Nhu, đại tướng Lê Văn Tỵ, tỉnh trưởng Huỳnh Văn Còn bước vào sau họ bác sĩ, y tá, một số nhà báo trong đó có Fanfani.
Dung rời Luân, chùi nước mắt.
- Đừng khóc chi! Không nguy hiểm đâu! - Nhu bảo Dung.
Luân toan nhỏm dậy, Nhu ấn anh xuống.
- Chưa được động đậy... Cứ nằm. Mới ngày thứ ba thôi. Báo với anh: tổng thống quyết định tặng anh “Anh dũng bội thinh” thứ hai...
Nhu trân trọng gắn lên ngực Luân chiếc mề đai. Chiếc “Anh dũng bội tinh” đệ nhất đẳng có nhành dương liễu – chiếc thứ hai mà Luân nhận. Máy ảnh ghi cử chỉ ưu ái đó.
- Anh nghỉ cho khỏe. Công việc còn lại tôi đã bàn với trung tá tỉnh trưởng. - Nhu nói trước khi ra về.
Fanfani nấn ná một lúc. Đôi mắt cô hình như cũng ươn ướt.
- Ông có biết Fishel tức đến mức nào không? - Cô hỏi. Luân nhếch mép. Cả một trại biệt kích tan tành, hắn không tức sao được.
- Từ nay, ông nên hết sức cẩn thận. Trận địa đang mở rộng đó!
Fanfani nắm tay Luân thật chặt.
Trong phòng còn lại hai người. Luân nhìn Dung thật lâu. Những sợi tóc lòa xòa buông trên má, đôi mắt Dung vừa âu yếm vừa kiêu hãnh.
Luân vẫy Dung, Dung choàng tay qua người Luân, giáp mặt với Luân.
- Anh ơi! James Casey vừa báo: “Bản tango thứ ba đã cất tiếng...”
Thế là Lục đã đến nơi an toàn. Một cái gì hết sức hạnh phúc tràn khuôn mặt Luân.
Ánh nắng len qua cửa. Thạch ngập ngừng mãi - anh muốn đưa một người vào chào Luân: trung tá Trần Viết Lượng. Ông ta được Dung tha ở khu rừng chồi...
Song Thạch không dám kinh động. Hai người đang hôn nhau thật đắm đuối.
Thạch không thể biết đây là lần đầu họ hôn nhau với sự chọn lựa mới: lấy nhau cũng là hy sinh.

Ván bài lật ngửa - Phần 1+2
Ván bài lật ngửa - phần 5+6
Ván bài lật ngửa - phần 7
Ván bài lật ngửa - phần 8 
Ván bài lật ngửa - Phần 9

Không có nhận xét nào: