Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

Ván bài lật ngửa - Phần 9

CHƯƠNG 1

Luân trầm tư trên chiến ghế đặt ở hiên, nhìn ra mảnh vườn nhỏ mà Dung đã bỏ công tạo một vùng đỏ của hoa tỷ ngọ giữa một thảm cỏ xanh. Những dây leo đầy lá biếc bám vào tường cho Luân cảm giác thanh thản đôi chút sau các biến cố dồn dập. Mùa mưa đã dứt, ánh nắng buổi sáng chói chang, dù vậy khi trời không oi bức. Một con chim đơn côi có lẽ từ cành me ngoài cổng sà xuống thảm cỏ nhà Luân, nhưng hôm nay anh mới phát hiện nó. Một con chim nhỏ và nó là chim tự do. Còn anh, anh đang bị giam lỏng. Một đám quân cảnh đặt hẳn trạm gác ngay tại cổng nhà anh, với lý do khá lịch sự: Bảo vệ cho đại tá khỏi bị bọn thâm thù chế độ Ngô Đình Diệm quấy phá.
Dung vẫn đi làm, đối với Phạm Văn Chiểu - vừa được thăng Trung tướng, Ủy viên an ninh của Hội đồng quân nhân cách mạng – thì Dung luôn luôn là một sĩ quan cảnh sát mẫn cán. Bộ an ninh do Trung tướng Tôn Thất Đính phụ trách. Đính chẳng ác cảm mà cũng chẳng thiện cảm với Dung, tuy Đính không thể nào ưa Luân – lý do đơn giản: Luân hiểu Đính quá kỹ, bây giờ viên tướng hoàng tộc bận tâm nhiều việc khác hơn là vợ một đại tá một thời ông ta rất e dè.
Điều buồn cười là sau đảo chính một tuần lễ, trong lúc can phạm chính trị, trừ Cộng sản, từ các khám đất liền và từ Côn Đảo trở về thì Hoàng Thị Thùy Dung nhận được quyết định do Tổng trưởng an ninh ký thăng từ Đại úy lên Thiếu tá cảnh sát quốc gia. Có thể đó là một quyết định mà người ký chẳng cần cân nhắc, cũng có thể xuất phát từ một ý đồ nào đó và của một ai đó.
Luân và Dung hiểu điều buồn cười ấy trong như một trong vô số biểu hiện mâu thuẫn mà Mỹ đang phải đối phó, đang “phân thế” trong mớ hỗn tạp lên đến độ cao ở Nam Việt Nam sau cái chế của anh em Diệm, Nhu.
Tuyên cáo số 1 lập lờ với 5 điểm: quân đội phải lật đổ chế độ độc tài; đây là một cuộc cách mạng được toàn thể các giới tham gia; Hội đồng quân nhân cách mạng tạm giữ quyền bính; sẽ thành lập một Hội đồng nhân sĩ để chuẩn bị các điều kiện cho một thể chế dân cử ra đời; chính phủ lâm thời ra mắt sớm. Nhưng cũng ngày 2-11, tuyên cáo số 2 ra tiếp, không kém mơ hồ, trừ khoảng chống Cộng, xác định các vấn đề chủ chốt: chế độ mới không độc tài, không phóng túng, dân chủ mà kỷ luật
Lập trường của chế độ mới vẫn chống Cộng, trong thế giới tự do giao hảo với các lân bang và các nước bạn, tôn trọng các hiệp ước đã ký, tôn trọng tài sản và tính mạng của ngoại kiều, đoàn kết toàn dân, cho các đảng phái tự hoạt động - trừ các đảng chịu ảnh hưởng của Cộng sản, tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do báo chí,...
Tuyên cáo số 2 là văn kiện mà trong đó những người đảo chính nhân nhượng lẫn nhau, những người đảo chính tính đến phản ứng của dân chúng đồng thời chịu sức ép của Mỹ và cả của Pháp - sức ép sau tế nhị hơn. Dĩ nhiên, quốc hội được bầu ngày 27-9-1963 bị giải tán. Các loại mâu thuẫn nói trên thể hiện qua thành phần của Hội đồng quân nhân cách mạng. Chủ tịch Hội đồng là trung tướng Dương Văn Minh, đệ nhất Phó chủ tịch là trung tướng Trần Văn Đôn, đệ nhị Phó chủ tịch là trung tướng Tôn Thất Đính, ủy viên quân sự là trung tướng Trần Thiện Khiêm; ủy viên kinh tế: trung tướng Trần Văn Minh; ủy viên an ninh: trung tướng Phạm Xuân Chiểu; ủy viên chính trị: thiếu tướng Đỗ Mậu; Tổng thư ký kiêm ủy viên ngoại giao: trung tướng Lê Văn Kim; các ủy viên: trung tướng Mai Hữu Xuân, thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu, trung tướng Lê Văn Nghiêm, thiếu tướng Nguyễn Hữu Có.
Bằng một phân tích đơn giản, người ta đã thấy thế lực thân Pháp - do Pháp đào tạo, chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp - chiếm số lượng tuyệt đối, có thể chỉ trừ Đỗ Mậu và Thiệu, hai nhân vật dính dáng đến đảng Đại Việt. Riêng Thiệu còn là tín đồ Thiên Chúa giáo - gần như người theo đạo Thiên Chúa duy nhất trong Hội đồng; các người khác hoặc công khai tuyên bố theo đạo Phật hoặc chưa bị Phật giáo kết án trong cả nửa năm chế độ Ngô Đình Diệm dùng bàn tay sắt trấn áp tôn giáo này - kể cả Tôn Thất Đính mà ai cũng thấy chỉ là con rối.
Ngày 4-11, Hiệp ước tạm thời số 1 chưa thoát khỏi cơn giằng xéo của các thế lực: Việt Nam vẫn là nước cộng hòa; quyền lập pháp và hành pháp thuộc về Hội đồng quân nhân cách mạng; quyền hành Quốc trưởng thuộc về Hội đồng; Hội đồng chỉ định một chính phủ lâm thời phụ trách hành pháp, trừ ngân sách, thuế, an ninh và quốc phòng; luật lệ hiện hành còn nguyên giá trị...
Danh sách chính phủ cũng mang dấu ấn của những nhân nhượng: Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Kinh tế tài chính: Nguyễn Ngọc Thơ; Tổng trưởng Quốc phòng: Trần Văn Đôn; Tổng trưởng An ninh: Tôn Thất Đính; Tổng trưởng ngoại giao: Phạm Đăng Lâm; Tổng tưởng Tư pháp: Nguyễn Văn Mầu; Tổng trưởng Giáo dục: Phạm Hoàng Hộ; Tổng trưởng Cải tiến nông thôn: Trần Lê Quang; Tổng trưởng Thông tin: Trần Tử Oai; Tổng trưởng Công chính: Trần Ngọc Oành; Tổng trưởng Y tế: Vương Quang Trường; Tổng trưởng Lao động: Nguyễn Lê Giang; Tổng trưởng Thanh niên: Nguyễn Hữu Phi; Bộ trưởng Phủ thủ tướng: Nguyễn Thành Cang; Bộ trưởng Tài chính: Lưu Văn Tình; Bộ trưởng Kinh tế: Âu Trường Thanh; Tổng trấn Sài Gòn: Mai Hữu Xuân.
Hội đồng có tham vọng làm dịu những lo ngại của các phần tử Cần Lao và những người liên quan đến chế độ Ngô Đình Diệm, như vị thủ tướng không ai khác hơn là phó tổng thống của Diệm, từng là trưởng phái đoàn chính phủ trong thương lượng không thành công với Phật giáo. Và, Hội đồng – hoặc vài người quan yếu nhất của Hội đồng – muốn có mộ chính phũ “chuyên viên kỹ thuật”, dù rằng thực chất chính phủ vẫn là sự phân bố chức tược theo một xu thế chính trị chớm nở: đáp ứng lời kêu gọi trung lập hóa Đông Dương của tướng De Gaulle đọc ở Nam Vang năm trước...
Luân đã nghĩ đến những xáo trộn một khi Diệm bị thay thế. Song, anh không lường trước hình thức thay thế lại quá thô bạo như vậy và cũng không lường trước mãi hôm nay, 10 ngày sau đảo chính, sự thể tiếp tục rối rắm đến mức nếu không có đảo chính lần thứ hai thì chưa thế nói Việt Nam sẽ như thế nào, ít nhất, về mặt chính trị.
Dĩ nhiên, Luân bực bội. Anh không làm được bất cứ điều gì. Dung phải thận trọng và cái chính là mỗi ngày, Dung cung cấp cho anh tin tức, mức mà anh và Dung đồng ý giới hạn hoạt động hiện nay. Chẳng gì khó mà không đoán ra bao nhiêu cặp mắt đang dòm dỏ Luân, chờ chực một động tác nhỏ vội vã của anh để nói tiếng chung cuộc về mạng sống của anh.
Ngô Đình Nhu chết, nhìn về phía nào, anh cũng tấy hối tiếc. Anh mất một đối thủ thâm độc nhưng trí tuệ, một đối thủ đúng với tầm vóc đối thủ. Nhu chết, với anh, cuộc chiến như là khoảng không. Những gì anh phải đương đầu xuất hiện ngay trước nấm mộ chưa ráo của Nhu. Từ nay, một lũ võ biền làm mưa làm gió và chúng thì chẳng cần suy nghĩ cho cực cái đầu; suy nghĩ chung đã có người Mỹ thay, chúng chỉ nghĩ mỗi việc thanh tóa mọi chướng ngạu trên con đường tranh giành làm ngựa kéo xe cho chủ Mỹ. Tất nhiên, một trong số các tướng lãnh đang cầm quyền và một số trong nội các đang chọn lối đi, song họ quá mù mờ về những khái niệm lãnh đạo quốc gia và chắc chắn họ không ăn đời ở kiếp với những chức tước mà họ tự phong trong bài tóan còn bỏ ngỏ của Mỹ... Nhu chết, Diệm chết, cơn khủng hoảng tuy không giảm song con đường sụp đổ hoàn toàn của Mỹ ở miền Nam lại có một cây cầu quá độ - Luân cảm giác cuộc cách mạng của nhân dân miền Nam sẽ phải lâu dài hơn anh tưởng trước đây.
Con chim con vỗ cánh rời thảm cỏ khi còi xe của Dung vọng từ cổng...
*
MƯỜI NGÀY ỒN ÀO TRONG LẶNG LẼ
Sài Gòn, giữa tháng 11
Hélen Fanfani (Financial Affairs)
Nhà văn Mỹ John Reed nổi tiếng vì những bài báo xâu chuỗi thành quyển sách lớn của ông: Mười ngày rung chuyển thế giới; ông viết về biến cố thế nào cũng phải được xếp vào hàng quan trọng nhất của loài người - cuộc nổi loạn đã đưa Đảng Cộng sản lên cầm quyền ở nước Nga cách chúng ta 46 năm. Tôi không phải và chẳng thể là John Reed ở bất cứ phương diện nào - học thuyết chính trị tầm cỡ - song tôi lại dùng tựa cho bài báo đầu tiên của tôi sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông bị sát hại man rợ, theo gợi hứng của nhà văn đáng bậc thầy của tôi về nghề nghiệp, đáng bậc cha ông của tôi về tuổi tác. Thật ra, sự liên tưởng của tôi cũng có một chỗ đúng: hai sự kiện xảy ra cùng tháng, xê dịch chỉ mỗi một tuần lễ thôi. Nhưng chỗ đứng ấy hoàn toàn để tôi câu bạn đọc Financial Affair trong khi điều chứa đựng bên trong của cả hai sự kiện chẳng một tí dính dấp với nhau, thậm chí, sự kiện chưa thể gọi được như một sự kiện. Một màn kịch thì đúng hơn, và một màn kịch vừa bi vừa hài.
Giờ này, những ai nôn nóng nhất đòi xóa ông Diệm hẳng đang chưng hửng. Cuộc đời hơn một lần dạy các phù thủy rằng các âm binh do mình nặn ra chưa phải luôn luôn ngoan ngoãn, nhất là khi lắm phù thủy và cũng lắm âm binh. Tôi vừa nói theo cách phương Đông. Và tiện thể cũng theo cách phương Đông, tôi nói leo qua chữ “số” - “số mệnh”. Gia đình họ Ngô thuộc “số” chết không toàn thây – vẫn theo cách đánh giá phương Đông. Anh cả của họ là Khôi bị Việt Minh xử tử. Chúng ta hiểu lẽ công bằng ở đây – Khôi, quan cai trị cao cấp của Pháp, ông ta bị Việt Minh giết, tính logic khó bác bỏ nổi. Ông Diệm, ông Nhu – và, như tôi linh cảm sẽ tới lượt ông Cẩn nữa - đều bị giết và đao phủ không phải là Việt Cộng. Về hình thức, các chiến hữu của ông Diện ra tay trừ khử ông với mức hằn học hơn cả mức Việt Cộng hằn học ông - suốt thời gian trị vì, ông Diện bị Việt Cộng cố một lần bắn hụt ở Buôn Mê Thuột, nếu chúng ta cứ cho tên Phúc nào đó là Việt Cộng; nhưng lại bị chiến hữu cho mình những ba cú đấm; hai cú là hai cuộc động binh hẳn hoi tuy thất bại, và cú thứ ba là cuộc mưu phản thành tựu. Bóc lớp vỏ bên ngoài, các vụ đều bí ẩn – bí ẩn theo nghĩa chúng ta chưa được phép công bố các tài liệu mật. Dẫu sao dự luận ở Nam Việt và toàn thế giới đều giải mã các bí ẩn ấy không một chút khó khăn: Công trình của CIA.
Tôi tin chắc rằng bài báo này sẽ được ông Colby đính chính ngắn gọn theo ngôn ngữ của cơ quan tình báo Mỹ: CIA long trọng bác bỏ ước đoán không cơ sở của bà Helen Fanfani. Đôi khi bác bỏ là thừa nhận. Và, cũng đôi khi không bác bỏ mà im lặng cũng là dấu hiệu của sự thừa nhận.
Bài báo của tôi đăng bốn tấm ảnh kèm. Ảnh 1 như tôi ghi chú, thi thể của anh em ông Diệm vừa lôi ra khỏi chiếc quan tài sắt M.113, máu còn đầm đìa, mặt mày bị đâm nát. Ảnh 2, chân dung tướng Dương Văn Minh, “người hùng” theo truyền thuyết, còn tự nét mặt của ông, ông gần với “bon papa” (1) hơn là một kẻ mưu mô. Ảnh 3, các tướng lãnh chủ trì cuộc họp báo – hai người thỏa mái, nhất là tướng Đôn và Đính mặc dù có giả định rằng họ chỉ là cái bóng. Ảnh cuối cùng tôi săn được ngay cạnh ông Bộ tổng tham mưu: Đại tá Nguyễn Thành Luân - lẽ ra, ông là Thiếu tướng nếu ông nhận và lệnh của Tổng thống Diệm công bố sớm – đang bị xích tay...
Bốn bức ảnh khái quát được tình hình mười ngày sống trong lặng lẽ.
Ồn ào, tất nhiên. Súng nổ thì không thể không ồn ào. Tuyên ngôn; tuyên cáo phải ầm ỹ thôi. Dân chúng hồ hởi - hồ hởi thật, khỏi cần mướn mỗi người một ổ bánh mỳ như những thuộc hạ ông Diệm thích làm khi cần vòi ân sủng của ông Diệm, bà Nhu – đâu đâu cũng hộp họp, nhất là các nhà chùa và trường học. Báo chí bán chạy, tờ nào cũng đăng ảnh. Các vụ mờ ám cũ được phanh phui – phanh phui nghiêm túc và phanh phui bịa đặt. Thế giới xôn xao. Phóng viên nước ngoài đến Sài Gòn thậm chí không xin trước thị thực nhập cảnh.
Nhưng lặng lẽ. Mười ngày chỉ là tuyên cáo, với thành phần Hội đồng quân nhân và chính phủ. Chẳng có chính sách gì rõ ràng, nhất là chính sách đối với cuộc chiến gia tăng – dân chúng Nam Việt thiết tha với hòa bình hơn cái sống và cái chết của ai đó, dù là nguyên thủ quốc gia. Lập trường của tướng Minh chẳng những chưa có mà nó chưa tượng hình, ngoại trừ các nhân vật quanh ông mà qua quá khứ của từng người mà dư luận đoán được phần nào cái có thể xảy ra mang đến hy vọng. Và khi sự bồng bột lắng xuống, nỗi băn khoăn trồi lên: cái gì sẽ tới? Thái độ lừng khừng phài đâu cứ được công nhận như là giải pháp.
Ông Diệm ông Nhu chết, một thời kỳ lịch sử qua. Nhưng ông Diệm, ông Nhu không chết. Thời kỳ lịch sử không chịu qua trong thực tại nếu không có sự thay thế tương xứng. Giới ngoại giao nước ngoài tại Sài Gòn bảo nhau: Lỗ hổng trong việc thủ tiêu xác ông Diệm, ông Nhu không bao giờ san lấp nổi. Việt Cộng không còn ai cứng đầu để khiến họ phiền lòng – dĩ nhiên, đại sứ Cabot Lodge cũng giữ niềm sảng khoái cá nhân. Ông phủi đi những con người dám cãi lại ông. Trước đây tôi thuộc về phía nghĩ rằng, đại sứ Cabot Lodge là ứng cử viên sáng giá chức Tổng thống Mỹ. Nhưng bây giờ tôi dám đánh cuộc ông Cabot Lodge sẽ thất cơ sau vụ đảo chính này mà chẳng bao lâu người ta sẽ kết án nó là hành động dại dột.
Cuộc họp báo do các tướng lãnh chủ trì khá hài hước. Tướng Đôn, tướng Đính trả lời khá thành thạo, chen lẫn tiếng Việt và tiếng Pháp. Một nhà báo hỏi ai là người quyết định thành công của cuộc đảo chính. Tướng Đính đưa ngón tay cái trỏ ngực mình và nói như quen mồm: C’est Moi! (2). Và một nhà báo khác hỏi thái độ của phe đảo chính đối với bà Nhu. Cũng tướng Đính trả lời: Nous sommes des chevaleresques (2), giữa tiếng cười vui nhộn của phiên họp báo chính trị và chính thức cao cấp nhất! Ở Phương Đông, tên một nhân vật bị đồng hóa với sự phản trắc là Lã Bố - bạn Mỹ nào muốn hiểu rõ nhân vật này, tôi mách cho bộ tiểu thuyết mang tên “Tam quốc diễn nghĩa”, chưa rõ đã dịch sang tiếng Anh chưa – và ở Sài Gòn người ta đồng hóa tướng Đính với Lã Bố. Sự cả tin của ông Diệm và ông Nhu đưa họ đến cái chết thảm khốc. Người tráo trở ấy ngồi ở cuộc họp báo và đưa ngón tay trỏ vào ngực mình không một chút ngượng. Mọi người đều biết tướng Đính giành công hết trong khi có lẽ ông là một công cụ hơn là một cái đầu biết suy nghĩ. Hoặc ông chỉ có thể suy nghĩ về những câu chuyện như thế này: cũng tại cuộc họp báo, ông đã nhận xét bà Nhu đã qua thời xuân sắc rồi.
Giới theo đạo Thiên Chúa – mà số đông hạng cầm đầu tôn giáo, chính trị lẫn kinh tài đều liên hệ với gia đình ông Diệm khá chặt, không khoanh tay. Có vẻ đại sứ Cabot Lodge cũng nghiêng về thiên hướng phải có một đối trọng ở Nam Việt, vừa giữ cho chính phủ hiện thời (hoặc sẽ ra đời) đừng mơ màng đến thuyết trung lập mà phải chống Cộng dữ dội hơn, vừa hạn chế uy thế của Phật giáo đang lên vùn vụt.
Đại tá Nguyễn Thành Luân bị xích tay như bạn đọc Financial Affair thấy trong ảnh đã được tháo xích không lâu sau đó – vì ông ngang nhiên mang vòng hoa đặt trước mộ hai ông Diệm và Nhu. Và, ông là Phó Tổng bí thư Trung ương đảng Cần Lao, ủy viên quân ủy trung ương, tổ chức của đảng Cần Lao trong quân đội. Lẽ ra người ta phải bắn chết ông ta cùng với người vệ sĩ; người vệ sĩ đã bắn chết một trung úy dám tát tai ông Luân. Nhưng một cú điện thoại đâu đó gọi đến, kẻ căm ghét đại tá Luân cực độ đã phải vội vàng mở khóa xích. Cái mà những người căm ghét ông cho đến ngày hôm nay chỉ có thể làm là giam lỏng ông.
Nước Mỹ đang dự tính một nước cờ. Có thể chính tướng Paul Harkins rồi cũng “về vườn”. Những triệu chứng báo trước: Không có gì tốt đẹp sau những phát súng đảo chính bởi cơn ồn ào đang trôi đi một cách lặng lẽ...
*
Luân và Thạch vào Bộ tổng tham mưu. Cả hai đi rất đàng hoàng, giữa hai hàng lính ghìm tiểu liên, mặt đầy sát khí.
Không có một tướng lãnh nào có mặt tại Bộ tổng tham mưu giờ đó, chắc họ tránh gặp Luân. Một trung tá không quân nhìn thấy Luân đã quát:
- Bắn bỏ mẹ nó đi! Đồ Cần Lao!
Hắn khoát tay, coi như số phận của Luân và Thạch đã định đoạt
- Tại sao bắn tôi? – Luân hỏi
- Tao đã bảo: Đồ Cần Lao!
- Tôi nhớ hình như trung tá cũng là Cần Lao. – Luân điềm tĩnh nói – Đơn xin gia nhập đảng của trung tá lúc trung tá còn là trung úy, do tôi ký nhận...
- Tao khác, mày khác!
Hắn xông tới, lột quân hàm của Luân, vứt xuống đất và lấy đế giầy chà lên...
- Tại sao trung tá không lột quân hàm của chính mình? – Luân hỏi, hơi cười khinh miệt.
- Tao à... Tao... - Hắn ấp úng.
- Ai định ném bom quân đảo chính? – Luân lại hỏi
- Không lắm mồm, lôi nó ra sân bắn ngay! - Hắn nổi khùng.
- Không được!
Tiếng lanh lảnh của Fanfani cùng ánh chớp của chiếc đèn máy ảnh.
- Ê! Con mụ kia... - Hắn chỉ mặt Fanfani
- Tôi là nhà báo Mỹ...
- Tao đếch cần biết mày là nhà báo nước nào...
Hắn tạt lại quầy, rót một cốc Whisky pha soda, nốc cạn. Số lính áp giải ngơ ngác, không biết phải làm gì.
- Đến tổng thống chúng ông còn bắn,... Nói cho chúng mày biết - Hắn liếm môi, đôi mắt một mí như cụp hẳn xuống.
Một ô tô đỗ ngay thềm Bộ tổng tham mưu. Saroyan tất tả ra khỏi xe.
- Thêm con mẹ nào nữa đây? - Hắn hỏi
Fanfani cười nhẹ:
- Thưa trung tá, bà Jones Stepp... Phu nhân thiếu tướng Jones Stepp...
- Tao không biết trung tướng, thiếu tướng nào ráo... Alê, bắn!...
Saroyan đến cạnh Luân
- Em hơi chậm một chút... Phải cảm ơn cú phone của Fanfani vừa rồi... Anh yên tâm.
Thật ra viên trung tá không dám bắn Luân. Chỉ với Fanfani hắn ta đã ớn, bây giờ thêm Saroyan nữa. Hắn ta nói cũng chỉ vì cốc whisky và mấy trăm sĩ quan và lính đang có mặt.
Một sĩ quan cấp úy hớt hải báo cáo với hắn:
- Thưa trung tá, có lệnh của trung tướng chủ tịch...
Hắn uể oải bước đến chỗ đặt điện thoại, người ngoài chỉ nghe rặt một kiểu nói của hắn:
- Tôi nghe rõ... Xin tuân lệnh... Tôi nghe rõ... Xin tuân lệnh... - Hắn trả lời bằng tiếng Việt rồi tiếng Anh.
Thật ra trung tướng chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng chỉ bảo hắn đừng làm rối còn đích thân Jones Stepp sẽ ra lệnh cho hắn phải trả tự do ngay lập tức và xin lỗi đại tá Luân.
Hắn lững thững quay ra:
- Mở còng cho nó! - Hắn bảo cộc lốc.
Một hạ sỹ tra khóa vào còng, tiếng “cạch” nhẹ nhàng.
- Còn thằng này! - Hắn trỏ Thạch – Lôi cổ nó đi...
- Không! – Luân quắc mắt - Mở cả còng cho thiếu úy Thạch...
- Mày ra lệnh cho tao à? - Hắn cũng quắc mắt
Saroyan không nói gì, đến chỗ máy nói. Hắn không đủ bình tĩnh nữa
- Khỏi! Bà thiếu tướng, tôi thả cả hai...
Thạch được mở còng
- Theo chỗ tôi biết, trung tá phải xin lỗi đại tá... Chừng nào tôi chưa nghe được tận tai lời xin lỗi của trung tá thì tôi chưa bỏ ý định nói với nhà tôi...
Hắn nhún vai rồi chìa tay cho Luân:
- Ta coi như không có việc gì xảy ra cả, đồng ý chứ?
Luân nhìn quân hàm của anh dưới đất, viên trung tá toan cúi nhặt nhưng chính Luân đã nhặt trước. Viên trung tá giằng quân hàm, lau sạch bằng chiếc mù soa của hắn và thận trọng đính lên ve áo của Luân. Bằng cả hai tay, viên trung tá vồ tay Luân:
- Đại tá đừng giận!
Hắn tiễn Luân ra xe và đứng nghiêm chào đúng điều lệnh...
Dung đến cạnh Luân. Cô vuốt nhẹ tóc chồng. Luân áp tay vợ vào má, vẫn ngồi yên. Một lát sau, Dung rời Luân xuống bếp
- Tình hình có thể khá hơn đối với anh... – Dung nói lúc hai vợ chồng dùng cơm
- Thế nào gọi là khá hơn?
- Sáng nay, trung tướng chủ tịch điện cho em, hỏi thăm sức khỏe của anh.
- Anh nằm trong diện “Ủy ban điều tra tội ác”, đang nghiên cứu hồ sơ... – Luân cười nhẹ.
- Hình như đang có một cuộc vận động từ phía người Mỹ cho anh
- Sẽ không ổn nếu Saroyan bộp chộp!
- Theo em, không phải Jones Stepp mà của đại sứ Mỹ hoặc tướng Harkins. Họ muốn anh có mặt trong cuộc họp bàn về chủ trương khái quát ở Việt Nam sau khi ông Diệm đổ.
Luân nhịp nhẹ đũa lên vành chén, lát sau anh nói:
- Lại một mưu toan. Cabot Lodge tự xem như đã xong nhiệm vụ, còn Harkins thì khác... Ông ta quan tâm tới các cuộc hành quân mang hiệu quả để chứng minh rằng ông bỏ Diệm là sai và ông phải cố gắng lắm để ấp chiến lược không thành bình địa trước sức tấn công của phía bên kia.
- Tướng Maxell Taylor sẽ thay Cabot Lodge. – Dung thông báo.
- Anh đã đoán khả năng này. Harkins thích cộng tác với một đại sứ xuất thân từ quân đội. Song tình thế chắc chắn không cho phép một đại tướng chuyên yểm trợ chuyển sang một tổng tư lệnh viễn chinh. Tuy nhiên...
- Nếu họ ngỏ ý, thái độ của anh sẽ như thế nào? – Dung hỏi
- Anh sẽ đặt điều kiện!
- Anh đặt điều kiện gì?
Luân trìu mến nhìn Dung
- Anh đòi hỏi họ phải công nhận giết ông Diệm, ông Nhu là sai lầm...
- Em hiểu rồi... và em tán thành!
- Chừng nào họ chưa công nhận điều đó, anh chịu bị giam lỏng như hiện nay, dù cho vô thời hạn...
- Anh không đơn độc trong quan điểm này... Em biết ngay tướng Phạm Xuân Chiểu cũng ngao ngán trước cái chết của anh em nhà Diệm
- Nhưng, tổng nha của em nên đề phòng. Đảng Đại Việt không bao giờ bỏ qua chỗ béo bở này...
- Em biết. Sở dĩ người ta thăng cấp cho em, một phần cũng để ngăn ngừa sự thâm nhập quá đáng của Đại Việt vào ngành cảnh sát. Tại sao bỗng nhiên em từ Bí thư của Tổng giám đốc được chuyển sang Nha công vụ... Ở đó, em là phó giám đốc giải quyết các việc thu nhận, thăng cấp sĩ quan cảnh sát.
Cơm nước xong, hai vợ chồng nghỉ trưa. Luân bỗng như khám phá cái gì đó ở Dung mà trước kia anh còn mơ hồ; một cán bộ tình báo cao tay...
- Tại sao anh ngó em dữ vậy? – Dung nũng nịu
Luân kéo Dung sát vào anh, đằm thắm hôn lên đôi má mịn, hơi ửng hồng...
---
(1) Ông bố tốt bụng
(2) Chính tôi!
(3) Chúng tôi là những kẻ mã thượng!

CHƯƠNG 2

Chiếc máy điều hòa buông tiếng êm như ru, gian phòng mát lạnh, John Hing lật từng trang giấy đánh máy thưa hàng, chi chít con số, ông ta dừng lâu hơn trang chót, nơi kết toán các con số và con số cuối cùng nằm trên hai vạch mực đỏ thật đậm. John Hing xếp xấp giấy lại, âu yếm đặt lên bàn, ngả lưng vào ghế... Chừng một phút trôi qua, John Hing đột nhiên chộp xấp giấy, lật lại từng trang, chăm chú dò số ngang, số dọc. Chốc chốc ông ta đối chiếu với trang kết toán. Rồi, ông ta kéo chiếc máy tính điện tử đặt trước mặt, lanh lẹn bấm các nút. Từng hàng số xanh vụt hiện, vụt tắt. Sau cùng, như tìm ra cái muốn tìm, John Hing dùng bút chì đánh liên tục mấy dấu hỏi... Xong, John Hing liền quay điện thoại:
- Hello, John đây! – Ông ta nói tiếng Anh - Tất nhiên là có việc mới quấy rầy anh. William này, bản chiết tính số XK.143 nhiều chỗ không ổn, không khớp với kết toán cuối cùng... Anh đang đọc nó à, tốt... trang 6, đoạn IX, mục d... thấy chưa? Làm một bài toán nhỏ, thậm chí tính nhẩm cũng được, thế nào?... Đúng, chệch đến 170.000 dollar mà lợi không thuộc về chúng ta... Chưa hết, vẫn trang 6 đoạn gần chót, đoạn XII, mục f... tại sao một khẩu Garant chỉ có 12 dollar? Phải,... 12 dollar 82 cent; 82 cent anh nhớ chứ, nhân cho bao nhiêu? Mất đứt hơn 100.000 dollar. Kỳ quặc à? Chưa hết, trang 9, ngay mục đầu... Phải, nói về đạn... Anh đùa hả? Không phải đạn đại bác mới đáng quan tâm... Tôi hiểu, tôi hiểu! Một viên đạn đại bác cỡ 155 ly giá bằng 400 đạn tiểu liên AR15, song tối đa, mỗi ngày người ta sử dụng bao nhiêu đạn đại bác... Tôi hiểu, cả sơn pháo, cả súng không giật, cả pháo tự hành, cả pháp 105 ly... Tôi phải tin là tôi có lý mới gọi anh chứ! Mỗi ngày một triệu viên đạn tiểu liên, trung liên, đại liện, súng trường... Lãi 1/3 cent một viên thôi, anh tính đi... Anh choáng váng rồi ư? Một ngày thôi nhé – 24 giờ. Cái gì? Đạn súng ngắn ư? Tôi biếu không, loại nào cũng biếu không, tất nhiên cả Colt 45 và Vesson... Người ta không thể thu hút các cô gái bằng hàng thùng đạn, súng ngắn, còn với tù binh Việt Cộng, vài viên cho mỗi khẩu là quá thừa... Anh đang rà soát đấy à? Ôi, ông bạn William thân mến, sao mà chúng ta tri kỷ đến thế! Đúng, hẫng 2.632519 dollar lẻ 4 cent... Chỉ trong một bản XK43 thôi... Chúng ta có ít nhất hàng trăm bản chào giá... Tôi sẽ làm việc với James, thằng đó đểu kinh khủng...
John Hing bỗng cười sặc sụa:
- Sao anh bảo hắn đểu chỉ bằng một móng tay tôi... Này, đừng tâng bốc nhau, ngượng chết. OK! Hoặc anh gọi tôi hoặc tôi gọi anh.
John Hing gác máy, nhìn đồng hồ trên tường, rồi bậc công tắc Interphone:
- Khách đến chưa? – John Hing hỏi bằng tiếng Quảng.
- Thưa, ông Ly đang đợi... - Tiếng trả lời của một nữ thư ký.
- Mời ông ấy vào phòng khách
Đặt tất cả giấy tờ vào cặp, bỏ cặp vào tủ sách và khóa theo mã số, John Hing rời phòng làm việc sang phòng khách.
Ly Kai khúm núm chào John Hing. John Hing chìa tay hờ hững, chỉ ghế cho Ly Kai ngồi, Ly Kai thoáng rùng mình.
- Tôi tắt máy điều hòa nhé? – John Hing mỉm cười nói tiếng Tiều.
- Khỏi, để máy mát hơn... – Ly Kai ấp úng.
- Ta uống một ly con... Henessy, Martin hay Whisky?
- Tùy ông chủ!
John Hing đến bên tủ rượu, rót hai ly Remy Martin, cùng uống cạn với Ly Kai.
- Ông luôn luôn làm hỏng việc... – John Hing bắt đầu nhìn Ly Kai với đôi mắt sắc như dao, nói bằng tiếng Bắc Kinh.
Ly Kai gãi đầu:
- Xin ông chủ hiểu cho... Con mụ nhà báo Mỹ rồi sau đó con mụ Saroyan. Cả Big Minh và Jones Stepp cũng can thiệp... ..
- Tôi biết tất cả, đó là việc sau. Tôi hỏi ông tại sao tên Tường của ông lại không ra lệnh cho đội cảnh vệ quạt luôn mấy băng vào hai thằng đó mà còn huênh hoang đấm sặc mũi Nguyễn Thành Luân để lãnh mấy viên đạn ngã chết như con chó? Ai cho phép nó đánh? Chỉ cho phép nó bắn. Việc chính không làm... Hừ! Mất toi 10.000 đôla... Vợ nó hưởng số tiền đó nếu ông không ăn chặn... Nhưng lẽ ra nó được 100.000 kìa! Và cũng chỉ nằm quân lao một tháng là cùng... Tôi bắt đầu hoài nghi khả năng của ông, ông Ly Kai.
- Thưa ông chủ... Tôi sơ xuất không bảo kỹ tên Tường. Đúng như ông chủ nói, nếu ngay lúc đầu... Mụ nhà báo Mỹ không làm gì được... - Ly Kai nhún nhường, nói mà không dám nhìn John Hing.
- Thôi được! – John Hing chợt đăm chiêu khiến Ly Kai hú hồn. - Có lẽ tôi quở ông hơi oan. Chưa chắc Tường ra lệnh bắn mà số cảnh vệ đã bắn... Tôi nghi con mụ Fanfani đã bố trí trước hoặc chính Jones Stepp đã bố trí... Tất nhiên, Tường có thể bắn với khẩu súng ngắn của hắn ta, song trường hợp đó, Tường sẽ ngã quỵ trước khi bấm cò... Không cần Luân mà tay bảo vệ của nó chắn chắn nhanh tay hơn tên Tường lấc cấc của ông... Chuyện bây giờ là khử thằng Luân tại ổ, nó đang bị giam lỏng.
Ly Kai không nói không rằng. Gã biết thế nào John Hing cũng yêu cầu gã. Nhưng, đây là điều khó, nếu không phải là vô phương. Nhà Luân canh gác cẩn mật, làm sao lọt qua nổi bọn quân cảnh. Không phải lần đầu Ly Kai lãnh sứ mạng giết Nguyễn Thành Luân song chẳng rõ vì số của hắn xui hay số của Luân hên mà Ly Kai luôn thất bại. Ngay lần dễ ăn nhất là phục kích trên đường Thống Nhất, nhân lúc hỗn quan hỗn quân, bắn một phát M.72 vào xe, Luân chỉ còn mấy mẩu xương vụn. Thế mà...
- Khó lắm!... Tôi hiểu... – John Hing động viên – Song càng khó thì càng cần ông. Ví dụ... nay mai Luân được tự do, nắm quyền trong tay, ông làm sao hạ được nó? Nó hạ ông thì dễ. Bây giờ các thằng cha tướng lĩnh bận nói tào lao, không ai bận gì đến viên đại tá thuộc gia đình Diệm.
- Thưa ông chủ, Ủy ban điều tra tội ác chế độ nhà Ngô có tên Luân trong danh sách, tên hàng đầu nữa, sau Ngô Đình Cẩn thôi, trước cả Trần Trung Dung và bác sĩ Tuyến... Hay là ông chủ cho tôi dúi cái Ủy ban đó để kết tội Luân thật nặng...
John Hing bật cười, ông ta nói tiếng Quảng:
- Xếnh xáng ngây thơ thật... Ủy ban! Tỉu na má mấy cái ủy ban... Điều tra Nguyễn Thành Luân rồi ai điều tra thành viên Ủy ban? Liệu Ủy ban dám điều tra ông Nguyễn Ngọc Thơ; tướng Tôn Thất Đính, tướng Trần Thiện Khiêm, Đỗ Cao Trí không? Đều thuộc hạ nhà Ngô hết cả! Và luôn ông, ông là mật vụ của Ngô Đình Nhu...
John Hing đứng lên, ra hiệu Ly Kai ngồi đó, ông sang phòng làm việc. Một phút sau, John Hing trở lại, cầm một xấp đô la không gói ghém gì cả.
- Vụ vừa rồi tuy thất bại, – John Hing nói trong lúc Ly Kai hau háu nhìn xấp giấy bạc màu xanh ước tính chừng bao nhiêu – Nhưng ông cũng cực. Tôi biếu ông năm ngàn.
Ly Kai nhận tiền, bỏ nhanh vào túi nhưng mắt vẫn không rời tay John Hing vì còn mấy xấp đô la nữa...
- Còn đây, năm ngàn...
Ly Kai vồ liền.
- Năm ngàn này tôi biếu thêm gia đình Tường. Ông trao giùm. Tôi sẽ kiểm tra, nếu ông không đưa đủ thì liệu hồn.
Ly Kai tiu nghỉu, bỏ tiền vào túi. Nhưng John Hing vẫn còn cầm một xấp bạc có vẻ dày gấp đôi hai tập vừa rồi...
- Còn đây, mười ngàn... Tùy ông sử dụng trong công việc mới mà tôi giao. Không phải phần của ông, phần của ông tôi sẽ đưa sau, kể cả ông ký gửi ở ngân hàng Hồng Kông vì nó lớn. Một trăm ngàn... ông nghe rõ chưa... Mười ngàn này để ông chi cho em út hay ai đó... Tôi không cần biết và cũng không kiểm tra... Tôi kiểm tra cái thây của thằng Luân...
- Thưa ông chủ, tôi sẽ cố sức. Song khó...
- Ông biết người ta tốn bao nhiêu tiền để bắn ông Diệm, ông Nhu không? Một ngàn đô la!
- Thưa, đó là trường hợp khác. Chưa chắc người bắn đã nhận đô la...
- Ông thông minh đấy... Nhưng người ra lệnh bắn chỉ nhận một ngàn đô la thôi...
- Ai vậy?
John Hing trừng mắt:
- Ông không được tò mò! Tôi chỉ muốn nhắc ông về chỗ sai biệt quá lớn của số tiền... Và mạng của anh em tổng thống với mạng của một gã đại tá thất thế, gần như đang ở tù...
Ly Kai có lẽ đã có thể cãi lại nhưng John Hing đã đứng dậy – coi như mọi việc chỉ có thể chấp hành mà thôi.
*
Ly Kai là một người tháo vát, rất tháo vát. Song công việc mà John Hing – Dương Tái Hưng – giao cho y bắt buộc y phải chửi thề thầm giống như Dương Tái Hưng - Tỉu na má!
Ngôi biệt thự nhỏ của Luân chẳng xa lạ gì với Ly Kai. Giữa bốn bức tường có gắn lưới B.40, mỗi góc đặt một đèn chiếu sáng cực mạnh, biệt thự như giấu mình trước mọi biến thiên – bên trong là khoảnh vườn vài trăm thước vuông, tất cả chẳng nhằm nhò gì với thủ hạ của Ly Kai - kể cả lưới B.40 có điện chúng vẫn vượt qua không mấy khó khăn. Song, bọn quân cảnh chó chết chẳng bao giờ rời vọng gác, nửa giờ một lần đi tuần tra. Không cần tuần tra chúng cũng có thể kiểm tra ngay con chuột vượt tường – đèn sáng hơn cả mặt trời. Bên trong, còn Thạch, một tay súng không tồi, còn Thùy Dung – cô ả này có thể bắn đồng tiền giữa không trung – và Luân: Ly Kai biết Luân bắn nhanh và chính xác như đoàn cao bồi Texas, cần để thẹo ở đâu anh ta chưa bao giờ sai lời hứa. Chính Ly Kai chứng kiến Luân bắn tung mũ một sĩ quan, bắn vỡ cả lỗ chai bia... và bắn thủng quần một sĩ quan Mỹ trong cuộc đấu súng vui nhộn.
Nhưng, mười ngàn đô la ứng trước – hơn gã nào đó ra lệnh sát hại anh em Diệm Nhu gấp mười lần và nếu thành công, trương mục của y ở ngân hàng Hồng Kông thêm con số khó tưởng tượng! Giá của thằng đại tá này mắc thiệt. Làm sao? Nghề bịp bợm cơ bạc gỡ cho Ly Kai nhiều phen ngỡ như đi đứt, nhưng vụ này mẹo cờ bạc có vẻ không trót lọt. Vô tình, Ly Kai lật quyển sổ tay... Những năm trước, gã thường tặng quà cho Luân... Đây rồi, ngày sinh của Thùy Dung - gần đây hơn, so với ngày sinh của Luân. Hay là... Ly Kai chợt bừng tỉnh. Tại sao ta không đi đường vòng? Kết thúc chẳng có gì khác, trừ phi Luân không dự sinh nhật của vợ...
Kế hoạch hành động hiện ra trong đầu Ly Kai với các chi tiết hợp lý mà gã nghĩ rằng không còn có thể nào hợp lý hơn. Rồi, Dương Tái Hưng sẽ nghiêng mình bái phục gã. Chớ có coi thường tay chủ thầu các sòng bạc ở Đại thế giới! Và Ly Kai chợt nhớ câu nói đó bằng tiếng Quảng của Nguyễn Thành Luân cách nay năm, sáu năm... tại Nhà hát lớn, ngoài hành lang Đại hội văn hóa: “Một trò cờ bạc nhỏ trong một canh bạc lớn” – cái gì cũng là cờ bạc tuốt, gã thu nhận câu nói của Luân dưới góc độ đó.
*
Dung không hé môi cho bất kỳ ai về sinh nhật của cô, trừ bác sĩ Soạn và cô của Dung. Dĩ nhiên, chị Sáu, Thạch thì biết. Không hiểu sao Luân lại chăm sóc ngày sinh của Dung khác hơn mọi năm. Hàng năm Luân vẫn tổ chức nhưng rất gia đình – các người thân của anh cùng Dung khui sâm banh, thế thôi. Năm nay Luân bảo chị Sáu mua một bó hoa thật to và chuẩn bị bữa ăn khá rôm rả: gà, vịt, cừu nướng, rượu vang và sâm banh. Anh dặn chia phần cho toán quân cảnh đàng hoàng. Nhưng chắc chắn không có khách ngoài vì không ai được quyền vào nhà Luân.
Trước khi tan sở - Dung xin phép về sớm – nhân viên Tổng nha mang đến cho Dung một thùng champagne Cordon Rouge nổi tiếng. Tấm danh thiếp đính kèm: “Một số chiến hữu ái mộ đại tá Nguyễn Thành Luân chia vui với bà đại tá nhân ngày sinh lần thứ 34 của bà.”. Rất bình thường, có thể là Nguyễn Thành Động, có thể là Lê Khánh Nghĩa, có thể là Trương Tấn Phụng, cũng có thể là tướng Lâm. Hoàn cảnh của Luân chưa cho phép thân hữu xưng họ tên thật. Dung vui vẻ nhận món quà tình nghĩa.
Khi xe về đến cổng, cô khoe liền với Luân két sâm banh hảo hạng đó.
Luân yên lặng, tại sao có người biết sinh nhật của Dung? Và tại sao gửi qua Tổng nha cảnh sát? Thái độ của chồng khiến Dung băng khoăn. Cái gì đây? Luân bảo Thạch bê két sâm banh vào nhà. Anh xem xét từng chai, đúng là sâm banh cordon rouge thật, nút còn nguyên vẹn. Anh đưa lên ánh sáng – sâm banh màu ngà như màu loại sâm banh lừng lẫy này mà anh từng nếm qua.
- Có gì khả nghi không anh?
- Để xem, có thể không có gì, có thể có...
Luân khui một chai, tiêng nổ dòn. Anh khui chai thứ hai, cũng tiếng nổ dòn. Anh ngửi lâu hơi bốc lên từ hai chai. Bình thường. Luân định thôi khui – rõ ràng chúng cũng giống như mọi chai sâm banh khác. Nhưng, anh vẫn ngần ngại. Anh lấy chai thứ ba, không theo trật tự, lấy ở giữa thùng. Chai sâm banh được khui không nổ. “Ga” tản từ trước. Cũng có thể hãng sản xuất phạm lỗi kỹ thuật. Nhưng tại sao mùi của nó khác mùi của chai sâm banh trước? Luân quyết định khui cả két. Có hai chai loại đó. Anh bảo Dung giữ cả hai chai, sáng mai vào Tổng nha nhờ bộ phận hóa nghiệm phân chất.
Lễ sinh nhật của Thùy Dung vẫn tiến hành ấm cúng. Điện thoại của tướng Phạm Xuân Chiểu chúc mừng. Điện thoại của Fanfani và một khách đến – Sorayan.
Sorayan hôn Dung, hôn Luân và hôn bé Lý.
- Jones sắp gặp anh. – Saroyan bảo Luân, phấn khởi. Nhưng cô cụt hứng vì thấy Luân lầm lỳ.
- Tại sao? – Saroyan hỏi lo lắng.
- Saroyan biết tôi căm ghét tội ác...
- Em biết,... và em nói thật với anh, Jones không dính vào việc giết anh em ông Diệm. Jones chống lại vì Jones thuộc cánh quân báo, người của Ngũ Giác Đài và ở đây, người của tướng Harkins.
- Tuy nhiên, tác phẩm này của người Mỹ!
- Em không cãi... Đúng, phải là của người Mỹ... Song, anh nghĩ thế nào nếu anh từ chối gặp Jones? Anh chịu cảnh giam lỏng như thế này mãi sao? Và, không chỉ giam lỏng. Anh từ chối gặp Jones nghĩa là từ chối mọi che chở và em tin là cả nhà sẽ bị tai họa kinh khủng...
Luân vẫn mím môi, Saroyan sà sát Luân mặc kệ sự có mặt của Dung và bé Lý.
- Anh! Anh nghe lời em đi! – Saroyan lay cả người Luân
Luân trìu mến nắm tay Saroyan đôi mắt hết sức buồn rầu.
- Anh cám ơn em... Anh có cách hàng động, không để người thân phải đau buồn đâu.
- Anh đã bằng lòng gặp Jones? – Saroyan mừng rỡ.
- Jones bảo em thông báo với anh?
- Không trực tiếp như vậy nhưng mang ý nghĩa như vậy. Tối hôm qua Jones nhắc em ngày sinh nhật của Dung và dặn em đừng quên đến mừng, thay mặt cho cả ông ta... Ông ta đang bận công việc khẩn, sẽ tiếp anh trong vài ngày tới... Nói bấy nhiêu thôi.
- Em có thể cho Jones biết thái độ của anh: anh thấy chưa phải lúc. Anh muốn Jones làm sáng tỏ cái chết của anh em ông Diệm...
- Nhưng, vào lúc này... công khai giữ lòng trung thành với ông Diệm, e...
- Không sao! vào lúc này anh thấy trung thành với chủ thuyết do ông Nhu và anh thảo ra... Về tình cảm, anh không chấp nhận lối thanh toán cá nhân tàn ác như vậy, về chính trị, anh không thể tự cho phép làm trái lại.
- Em tin là anh đã dự định các hành động... Em sẽ nói lại với Jones.
- Được... Em không cần giấu diếm Jones điều gì cả. Em thuật lại đúng y những lời anh đã nói tại đây...
Saroyan nhoẻn miệng cười.
– Em sẽ làm vừa lòng anh!
Khi hai người phụ nữ ngồi kề nhau to nhỏ - thế nào Dung cũng kể về két sâm banh – Luân vào phòng làm việc. Anh mở radio tìm làn sóng Đài giải phóng. Phần tin tức khá phong phú: khí thế phá ấp chiến lược dân cao lan rộng từ nam vĩ tuyến 17 trở vào, đồn bót bị hạ liên tục, đánh lớn ở Vĩnh Bình, đồn Ba Chúc bị vây hãm, quận lỵ Bến Tranh ở Định Tường bị tấn công... Bình luận viên của Đài giải phóng nhấn mạnh việc khai thác thời cơ, đánh rã quốc sách ấp chiến lược, mở rộng vùng giải phóng... “Tình thế Mỹ nguỵ đang rối loạn, phe phái giành nhau địa vị, trả thù trả oán... Phong trào thành thị có khả năng chuyển biến tích cực - những người theo đạo Phật lần hồi thấy được Mỹ lợi dụng vấn đề tôn giáo để thay ngựa giữa dòng, học sinh sinh viên cũng bắt đầu hiểu ra không thể làm bình phong cho các âm mưu cướp nước và bán nước... Kẻ thù chính của nhân dân ta là đế quốc Mỹ và bọn tay sai hiện nay can tâm rước voi về dày mả tổ. Đồng bào các giới đừng để Mỹ và bọn tay sai cực đoan dùng cái chết của anh em Diệm Nhu mà mê hoặc. Đó là chuyện nội bộ của chúng. Nếu phải suy nghĩ thì các tướng tá và chính khách phải suy nghĩ. Khi cần bảo vệ lợi ích của kẻ cướp, Mỹ sẵn sàng sát hại ngay thủ hạ thân tín nhất... ”. Bài bình luận kết thúc như vậy.
*
Phiên họp đầu của Hội đồng chính phủ tẻ nhạt. Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ vốn quen cương vị của một công chức thừa hành, không sao điều khiển nổi một phiên họp, nhất là phiên họp bốn viên tướng: Tổng trưởng quốc phòng, tổng trưởng an ninh, tổng trưởng thông tin và đô trưởng Sài Gòn. Trong bốn tướng, trừ Trần Tử Oai mới nổi lên, còn ba là những kẻ trực tiếp âm mưu và nhúng tay vào cuộc đảo chánh - đặc biệt, tướng Xuân, cặp mắt “có cô hồn” như Nguyễn Ngọc Thơ nghĩ trong đầu. Thế là mạnh ai nấy nói. Tướng Đính giành cả giờ khoe khoang “mưu kế” lừa gạt Nhu qua kế hoạch Bravo, tướng Đôn rung đùi thỏa mãn, tướng Xuân im lặng quan sát. Các thành viên khác có vẻ chưa yên tâm lắm. Hầu hết họ là kỹ thuật gia và phiên họp đầu chưa phải đi vào những vấn đề xử lý cụ thể. Bộ trưởng Lưu Văn Tính thông báo tình hình tài chính: khá ngặt nghèo, quỹ cạn. Lối ra không có gì mới: đích thân Nguyễn Ngọc Thơ sẽ gặp đại sứ Mỹ, Nguyễn Thành Cung chịu trách nhiệm thảo thông báo phiên họp. Bản thông báo gồm mấy dòng: Phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời do Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ điều khiển, đã nghe trung tướng Tổng trưởng quốc phòng Trần Văn Đôn thông báo tình hình chiến sự chung các vùng chiến thuật; Trung tướng tổng trưởng an ninh Tôn Thất Đính thông báo tình hình nội địa. Phiên họp cũng nghe Tổng trưởng ngoại giao Phạm Đăng Lâm thông báo về quan hệ Quốc ngoại của Việt Nam Cộng hòa và Bộ trưởng Lưu Văn Tính thông báo về tình hình ngân sách quốc gia. Chính phủ đã đề ra một số biện pháp cấp bách.
Báo chí và đài phát thanh công bố trước sự dửng dưng của dân chúng...

CHƯƠNG 3

Dung ngồi vào bàn làm việc. Trước mặt cô một chồng hồ sơ cần xem xét, liên quan đến các kiến nghị bổ nhậm nhân viên cảnh sát và công an từ cấp quận trở lên. Sau đảo chính, theo như những người dưới quyền Dung cho biết, hồ sơ tăng đột ngột - gấp hai, ba mươi lần do sự xáo trộn cả hệ thống cảnh sát; số bị sa thải quá đông. Nếu không có sự khuyến cáo của Đại sứ quán Mỹ và phái đoàn cố vấn cảnh sát Mỹ, con số còn lớn hơn nhiều. Người Mỹ bảo: trừ ai bị dân chúng căm ghét đến mức mà nếu có mặt sẽ gây phẫn nộ, thậm chí biểu tình chống đối và sẽ bị Việt Cộng lợi dụng, những người đơn thuần thừa hành lệnh của cấp trên thì nên thận trọng, tốt nhất cứ giữ lại vì họ giàu kinh nghiệm, riêng số nhân viên không thuyên chuyển để cho công việc giữ được liên tục.
Phòng làm việc của Dung tách khỏi phòng Tổng Giám đốc, đặt trong ngôi nhà hai tầng quét vôi vàng nhạt nằm giữa chu vi rộng lớn của Tổng nha. Giám đốc Nha, một đại tá lớn tuổi, nguyên chủ sự của ngành cảnh sát thời Pháp, ít nói và đúng là một công chức mẫn cán. Nhưng, trọn tuần nay ông đang phải vào bệnh viện Grall, nghe đâu sẽ phải chịu một ca mổ thận. Tất cả giấy tờ đè lên đầu Dung, phó giám đốc.
Bên ngoài, vào buổi sáng thường lặng gió. Tán cây điệp che rợp nửa bên ngôi nhà và Dung, vào mùa điệp rộ, có thể qua cửa sổ với tay lấy một cành hoa cắm vào bình đặt trên bàn. Nhưng tháng này đã hết mùa điệp. Cô thiếu úy làm nhiệm vụ thư ký – cô làm việc ở tầng dưới - mỗi sáng đều cắm hoa cho Dung. Hoa hồng, hoa huệ... trong vườn ngay thềm Nha công vụ.
Dung vuốt nhẹ mấy cành hoa. Chồng hồ sơ vẫn chưa mở ra. Cô không thích công việc này dù nó giúp cô nắm khá kỹ các nhân viên cảnh sát công an từ tương đối quan trọng đến quan trọng khắp Nam Việt. Dung nghĩ cách khai thác khả năng Nha công vụ có lợi nhất. Chỉ nắm danh sách và phân loại nhân viên cảnh sát công an – cô vừa làm khi nhận nhiệm vụ mới – thì quả là phí.
Miên man với suy tính kế hoạch sắp tới, Dung chợt xuýt xoa, một gai hồng đâm vào tay cô. Thế đấy! Dung cười mỉm, ngay chơi hoa cũng có thể đổ máu...
Chuông điện thoại reo, Dung nhấc máy.
- Trình thiếu tá, ngoài cổng có một xe thuộc Bộ tư lệnh biệt khu thủ đô do một đại úy cảnh sát hướng dẫn, đưa một đại tá làm việc với Nha...
Cô thư ký báo cáo.
- Tôi không hẹn!... – Dung trả lời
- Thưa thiếu tá, hôm qua họ xin gặp đại tá giám đốc. Em trả lời: Đại tá đi vắng, họ bảo gặp thiếu tá. Em đã ghi vào giấy đính trong hồ sơ...
Dung chưa mở cặp hồ sơ.
- Thôi được. Nhưng đại tá tên gì?
- Xin thiếu tá chờ em một phút, em hỏi đội cảnh vệ.
“Đại tá ở biệt khu thủ đô gặp mình làm gì?” – Dung nghĩ
- Alô, trình thiếu tá. Đại tá bảo chỉ xưng tên khi gặp thiếu tá.
Dung cau mày. Chuyện chi? Có dính đến trung tướng Mai Hữu Xuân, đô trưởng không? Giấu tên để làm gì?
- Trình thiếu tá, Nha cảnh sát Đô thành giới thiệu đại tá sang... Xin cho biết thiếu tá sẽ tiếp ở đâu...?
- Mời vào phòng khách...
- Vâng!
Dung toan gác máy, cô thư ký nói thêm:
- Thưa, người của Nha cảnh sát có được vào không ạ?
- Ông ta là ai?
- Xin thiếu tá chờ một phút nữa...
Dung ngó ra ngoài. Tàn cây điệp xanh rờn và cô xem đồng hồ: giờ này anh ấy đang đọc báo, còn bé Lý vào mẫu giáo, hẳn đang bi bô với bạn. Dung gửi Lý vào một trường mẫu giáo đường Phan Đình Phùng, do các bà sơ dạy, dành cho con cái những hạng giàu và viên chức, sĩ quan cao cấp. Luân băn khoăn và Dung cũng băn khoăn nhưng phải đợi Lý lớn một chút nữa mới đưa đến trường khác, vả lại, bây giờ như vậy cũng có lợi – Luân là tín đồ đạo Thiên Chúa, bằng một chi tiết nhỏ sẽ giảm bớt bao nhiêu nghi kỵ.
- Alô! Trình thiếu tá, người của Nha cảnh sát Đô thành là đại úy Lê Ngân...
Dung kịp nuốt tiếng reo:
- Mời đại úy vào cùng với đại tá... Và, tôi sẽ tiếp khách ngay phòng làm việc của tôi...!
- Vâng!
Chiếc Peugeout màu xám tro đỗ trước cửa sân. Dung nhìn rõ Quyến và một người - gầy gầy, râu mép, đeo kính đen và ngậm pipe. Chưa biết là ai, tuy dáng đi hình như rất quen...
Cô thiếu úy hướng dẫn khách. Dung nghe bước chân của họ. Ối chà, gặp Lê Ngân, hay lắm... Chắc chưa tiện nói điều gì nhưng có thể hẹn. Cậu ta đi học ở Philippines về từ bao giờ? Đã thăng cấp đại úy rồi...
Tiếng gõ cửa, Dung nói vọng ra:
- Mời vào!
Lê Ngân, đẫy đà hẳn, chập gót chân chào:
- Tôi, đại úy Lê Ngân ở Nha cảnh sát Đô thành có mặt...
Dung chào đáp lễ, mắt của cô và mắt của Lê Ngân hơi nhấp nháy
- Xin giới thiệu, – Lê Ngân quay sang viên đại tá – Đây là thiếu tá Hoàng Thị Thùy Dung, phó giám đốc Nha công vụ thuộc Tổng Nha cảnh sát quốc gia... – Viên đại tá khẽ gật đầu.
- Còn đây, đại tá ở Bộ tư lệnh biệt khu!
Dung chập gót chân chào cấp trên. Viên đại tá khẽ cười, chìa tay. Dung bắt tay đại tá và bỗng muốn lảo đảo. Đại tá siết tay cô hơi mạnh như nhắc cô phải làm chủ tình cảm. Thật ra, Dung cảm thấy tay đại tá cũng hơi rung.
- Mời đại tá và đại úy ngồi!
- Em mang cái gì uống... – Dung bảo cô thiếu úy, cố gắng hết mức giữ giọng bình thản.
Cô thiếu úy mang trà và cả bia hộp
- Tôi bàn một số công việc riêng với thiếu tá... Đại úy có thể ra ngoài một lúc - Đại tá bảo Quyến.
Quyến uống xong lon bia đứng lên. Cô thiếu úy cứ liếc cậu tá liên hồi.
- Thiếu úy đưa tôi ra ngoài... Nếu có cà phê thì rất hoan nghênh
Quyến dịu dàng ngó cô thiếu úy, một cô gái khá xinh, mắt tròn và đen nhánh, môi trái tim. Cô gái bỗng lúng túng...
-Mời, mời... có, có... – cô lắp bắp
Dung nói đùa:
- Đại úy trẻ quá, nếu chưa lập gia đình hoặc chưa có người yêu, tôi giới thiệu cô Hằng cho!
Cô thiếu úy mặt đỏ bừng, chạy ra khỏi phòng.
Quyến chào Dung và đại tá, lững thững bước theo. Hành lang vắng ngắt, cô thiếu úy biến mất. Anh đang ngơ ngác thì Hằng - thiếu úy Dương Thị Bích Hằng - từ tầng dưới mang cà phê lên. Cô còn phải tạt vào phòng làm việc soi gương, sửa lại mái tóc và tất nhiên, tô lại một tí son...
- Chúng ta ngồi đây... Được không? - Quyến chỉ vào góc hành lang, có đặt hai chiếc ghế tựa và chiếc bàn con, ngay giữa cầu thang, chỗ phân chia phòng giám đốc và phó giám đốc Nha; phòng giám đốc cửa đóng kín.
Hằng bày phin cà phê, phích nước, hộp đường. Hai người ngồi và Quyến bắt đầu gợi chuyện
... Dung khóa trái cửa và toan lao vào lòng đại tá. Đại tá đưa tay ra hiệu và Dung hiểu. Cô lắc đầu: không có máy nghe lén. Đại tá ngó qua cửa sổ. Tàn điệp che kín, người bên dưới hoặc các ngôi nhà chung quanh không tài nào nhìn thấy - khả năng quan sát hoặc chụp hình trộm đều không thể có.
Bấy giờ đại tá mới mở vòng tay. Dung sà vào lòng đại tá, nước mắt ròng ròng:
- Chú! Trời ơi, chú... con không ngờ...
Đại tá gỡ kính đen, mắt ông cũng ươn ướt. Ông ngồi yên một lúc, xoa nhẹ tóc Dung. Thế là trọn 9 năm, ông - đại tá Hoàng Đình Thuận, Cục trưởng Cục phản gián thuộc Bộ Nội vụ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - mới gặp lại đứa cháu ruột và cũng là đứa học trò do ông dìu dắt vào ngành an ninh từ khi Dung còn là học sinh trung học.
Một phút, hai phút...
- Thôi, con nhé! Con đi lau mặt... Chúng ta không có nhiều thì giờ lắm
Ông Thuận âu yếm khẽ bảo Dung
- Bố con đã về hưu. Khỏe. Mỗi ngày tập thể dục đều. Nhớ con lắm xong yên tâm nhờ bác sĩ Soạn thỉnh thoảng gửi tin qua Nam Vang, có khi qua Paris. Bố con biết con đã lập gia đình và sinh cháu Lý. Bố chỉ biết chồng con là một kỹ sư, còn các thứ khác đều không biết rõ. Tất nhiên, bố con hiểu ngầm vợ chồng con đang làm việc cho đất nước. Đó là điều mà anh ấy tìm được chút an ủi lúc tuổi già. Nhà vẫn chỗ cũ nhưng vì nhà rộng nên bố chỉ ở hai phòng trên gác - đặc biệt vẫn giữ phòng con nguyên vẹn...
Ông Thuận thông báo vắn tắt tình hình cha Dung, khi Dung đã lau sạch nước mắt.
Ông ngắm cháu, một thoáng tự hào lóe lên mắt. Nó đã trưởng thành, thậm chí, rất giỏi giang.
Dung cũng ngắm chú, tóc chú bạc gần trắng. Gương mặt thì như xưa nhưng da hơi đen, nhất là bộ râu – Dung nhớ chú không nhiều râu. Rồi, Dung hiểu ngay, chú hóa trang... Dung ngó lên trần nhà. Những lời của chú gợi cho Dung nỗi xót xa người cha tội nghiệp đang sống một mình và hẳn mỗi ngày ngồi hàng giờ trong phòng ngày xưa của Dung, nhìn sách vở, đồ vật của Dung để lại...
- Công việc của vợ chồng con, chú trực tiếp theo dõi, lại thường đọc báo cáo của anh Sáu Đăng, A.07 quan tâm các con... – Ông Thuận kéo Dung trở về thực tại.
- Chú hơi tiếc là không gặp được “Kỵ sĩ”... Nhất là không gặp cháu Lý
Dung lấy trong ví mấy tấm ảnh, trao cho chú.
- “Kỵ sĩ” thì chú không lạ. Báo chí đăng hình của anh ta khá nhiều... còn Lý... – Ông đeo kính trắng để ngắm cho rõ - Giống ông ngoại quá!
Ông Thuận trả lại xấp ảnh cho Dung:
- Chú muốn giữ ảnh của cháu Lý gửi cho bố con, song không được...
- Chú lập gia đình chưa?
Ông Thuận cười héo hắt:
- Từng tuổi này lập gia đình làm chi hả con?
Dung không dám đi sâu hơn vào tâm tình của chú. Chú của Dung là hạng người chỉ yêu một lần và khi dở dang thì sống với hình ảnh cũ đến trọn đời. Dung càng không hỏi chú có đến nhà bác sĩ Soạn không...
- Chú dặn con: đừng nói gì với cô chú Soạn về chú!
Ông Thuận như đoán ra, đã ngăn Dung. “Trước đây, chú vào Nam, ở nhà bác sĩ Soạn, nhưng có lẽ lần này chú nhận công tác tuyệt mật nên không thể đến thăm người bạn thân”.
Dung lại ngắm bộ quân phục và quân hàm của ông Thuận. Cô sung sướng thật sự. Mạng lưới của ta bủa vây khá vững. Một đại tá quân khu thủ đô lại là chú Thuận!
- Chú chỉ đóng vai đại tá, đại tá Lê Văn Hưng hôm nay thôi... Có một đại tá Lê Văn Hưng thật song hiện nay ông ta vắng mặt, ông về quê vợ ở miền Trung. Chú cung cấp vài chi tiết để khi cần đối phó con biết liệu đường. Lê Văn Hưng là người của CIA, chú được tin giám đốc Nha công vụ nằm bệnh viện nên mới hẹn đến đây. Giám đốc quen đại tá Hưng, quen nhưng không thân.
Ông Thuận dừng một giây, chợt cười:
- Đóng vai đại tá lúc này rất tiện. Nhiều đại tá đến nỗi không còn ai nhớ mặt, nhớ tên...
- Ta bắt đầu con nhé! Con nhớ nghe cho kỹ... – Ông Thuận nghiêm mặt và Dung hiểu đã đến lúc vào việc chung.
- Cùng vào với chú có chị ruột của thiếu tướng Lâm. Thiếu tướng Lâm không phải là cơ sở cách mạng nhưng gia đình lại tham gia cách mạng, cha và chị tập kết... Nghĩa là “Kỵ sĩ” có thể tác động thiếu tướng Lâm, miễn khéo léo, không được lộ thân phận.
- Còn tướng Đức? – Dung hỏi chen
- Ông ta bất mãn... Khai thác khía cạnh đó thì được... Nhưng ông ta uống rượu nhiều, thần kinh không ổn định, nên thận trọng.
- Các ông Tôn, Trí?
- Phức tạp. Họ thuộc nhiều phe nhóm, có người chịu ảnh hưởng của đảng Đại Việt, có người do CIA nắm... Tuy nhiên cứ lợi dụng mâu thuẫn. Chú biết “Kỵ sĩ” sốt ruột.
- Anh ấy dự kiến kế hoạch “dứt điểm”!
- Chú biết... và do đó, chú phải gặp con. Chú không thể gặp “Kỵ sĩ”. Trách nhiệm và nguyên tắc bí mật không cho phép. Tình hình hiện nay thuận lợi cho cách mạng, song thuận lợi ở mức gây rối làm cho kẻ thù suy yếu chứ chưa có khả năng “dứt điểm” nhất là “dứt điểm” bằng lực lượng quân sự do “Kỵ sĩ” nắm hoặc ảnh hưởng, kể cả lực lượng của tướng Đức ở vùng IV. “Dứt điểm” trước hết phải hiệp đồng cho được lực lượng khởi nghĩa của binh sỹ với phong trào quần chúng thật mạnh, đồng thời cả hai phải hiệp đồng với quân Giải phóng. Con thấy đấy, lực lượng binh lính khởi nghĩa còn mỏng, chủ yếu mới có một số đơn vị bộ binh. Quân binh chủng khác còn trong tay bọn xấu, như pháo, thiết giáp, không quân, thủy quân, quân tổng trù bị như dù, thủy quân lục chiến... Cố vấn Mỹ lại nắm các đơn vị khá chặt. Ở vùng III và biệt khu thủ đô, gần như ta chưa có gì đáng kể. Về phong trào chính trị, mới chuyển hóa bước đầu, thế lực phản động còn khống chế Phật giáo và trường học, tay chân của Trần Quốc Bửu vẫn sử dụng công đoàn theo mục đích của chúng. Chủ lực của cách mạng miền nam – chú muốn nói quân Giải phóng và quần chúng nông thôn do ta kiểm soát - đang xây dựng từng bước, phải nói là “quốc sách ấp chiến lược” gây khó khăn lớn cho ta, nay nhân thời cơ Sài Gòn hỗn loạn, ta bắt đầu phá nhưng không thể một ngày, một buổi là xong. Quân Giải phóng chưa tập trung phổ biến đến mức trung đoàn, trang bị còn yếu, thiếu nhiều binh chủng hỗ trợ nên chưa thể có cú đấm quyết định. “Kỵ sĩ” và kể cả “Mimosa” nữa, – Ông Thuận cười độ lượng - Cần hiểu tất cả những cái đó. Trung ương Cục chỉ đạo các nơi “chớp thời cơ” cụ thể là phá ấp chiến lược. Không thể đặt yêu cầu cao hơn. Một cuộc nổi dậy đơn thuần quân sự, nhất là của vài đơn vị bộ binh, khó “dứt điểm” vì quân Giải phóng không thể phối hợp với quy mô lớn, nhân dân thành thị chưa sẵn sàng đứng lên. Các con cần nhớ: việc bỏ Diệm gây một mức ảo tưởng trong quần chúng - Mỹ đã thành công về phương diện đó. Chúng “xả xú páp an toàn” đánh lạc hướng quần chúng. Chỉ mới mươi ngày thôi, nhiều người vẫn còn cho đảo chính là cách mạng. Tất nhiên, bộ mặt thật của Mỹ và tay sai sẽ sớm bộc lộ, ngay với những người ít nhiều ý thức dân tộc trong các tướng lĩnh... Nhưng phải có thời gian, “Kỵ sĩ” cần nắm vững phương châm lâu dài... Chừng nào Mỹ chưa chịu thua thì chừng ấy ta chưa thể dứt điểm. Mỹ vẫn cho rằng chúng có nhiều chủ bài, kể cả đưa một khối lượng thực binh nào đó tham chiến...
Dung tập trung trí óc để ghi nhớ lời của chú Thuận. Tiếng gõ cửa gián đoạn câu chuyện, thiếu úy Bích Hằng vào phòng, trình cho Dung một mảnh giấy đánh máy. Cô chào và ra, hơi vội vã.
“Quyến đã “tiến bộ” trong lần giao thiệp đầu tiên này!” – Dung nghĩ thầm, cô có vẻ vui nữa. Bích Hằng trước làm ở văn phòng tổng Nha, trực tiếp với Dung khi còn đeo hàm thượng sỹ. Hằng cũng là dân di cư, cũng học luật, tính tình điềm đạm. Hồi Trần Vĩnh Đắt còn làm Tổng Giám đốc, nhiều lần hắn gạ Hằng làm vợ bé, Hằng chẳng những cự tuyệt mà còn mắng gã. Có lần Đắt toan làm hỗn, Hằng thẳng tay tát gã và xin nghỉ việc. Chính Dung đã khuyên Hằng tiếp tục ở Tổng nha. Cô rất nghiêm, thế mà vừa gặp Quyến đã xao xuyến. Quyến lấy được Hằng cũng hay nhưng không biết cậu ta đã có vợ con chưa?
Mảnh giấy của phòng hóa nghiệm – hai chai sâm banh chứa chất độc cyanua, không chết người ngay vì lượng nhẹ nhưng uống vào sẽ chết vài ngày sau do dạ dày và gan bị hủy hoại.
Dung báo cáo sự việc và kết quả xét nghiệm cho chú Thuận. Chú ngồi khá lâu, trán xếp nhiều nếp nhăn.
- Đây là một âm mưu của một cánh nào đó, có thể là bọn ganh tỵ với “Kỵ sĩ” trong các tướng lãnh, có thể của một cánh CIA. Nó xác nhận dự đoán của A.07: Mỹ vẫn còn cân nhắc vai trò của “Kỵ sĩ”. Theo chú, đây không phải là “đèn xanh” của CIA, càng không phải của Ngũ Giác Đài và cánh tình báo quân sự.
- Con sẽ cố làm rõ bằng con đường nào két sâm banh đến nhà con...
- Chú không phản đối. Song, không phải con mà Jones Stepp đang làm việc đó. Nhất định Saroyan đã thuật cho Jones nghe và tướng Harkins nổi cáu. Với Harkins, việc giết anh em Diệm là quá lắm rồi... Con cứ làm nhưng đừng ầm ỹ. Thậm chí đừng cho bất kỳ ai biết sự việc. Cứ tỏ ra bàng quan. Tại sao các con lại không thể chưa đụng đến những chai sâm banh ấy? Cứ để cho kẻ thù hy vọng...
Dung gật đầu đồng tình.
- A.07 chỉ thị cho “kỵ sĩ” chú ý các thế lực thân Pháp.
- Thưa chú, tướng Mai Hữu Xuân thù nhà con.
Ông Thuận đưa tay ngăn Dung:
- Mai Hữu Xuân là người của Phòng Nhì. Ông ta thi hành công việc theo quán tính. Nhưng không bao lâu nữa tình thế sẽ thay đổi, ông rất có thể trở nên đồng minh của “Kỵ sĩ” - tiếc rằng, lúc ấy ông không còn quyền lực... Chính sách của Pháp thay đổi lớn. Chú biết con vẫn đặt ông Xuân trong tầm cảnh giới, song đã đến lúc ông ta hết còn nguy hiểm với “Kỵ sĩ” dù ông ta là trung tướng đô trưởng Sài Gòn.
Dung lại gật đầu đồng tình
- Tướng Harkins sắp rời chức vụ. Tướng Westmoreland thay. Nghĩa là Mỹ dứt khoát tăng thực binh ở Nam Việt. Và Cabot Lodge sau khi thực hiện nhiệm vụ triệt hạ Diệm sẽ nhường chỗ cho tướng Taylor.
- Nhà con quen Taylor...
- Chú biết, Taylor có quan điểm gần giống với “Kỵ sĩ”, thậm chí, muốn “Kỵ sĩ” giữ cương vị cao để chứng minh học thuyết của ông ta...
- Về tướng Big Minh?
Ông Thuận nhún vai:
- Một con người đang âm ỉ trong lòng nhiều mối tranh chấp. Ông ta không phải xấu theo nghĩa đơn thuần cá nhân. Ông ta chống Cộng nhưng không cuồng tín và tự thấy không có lý do xác đáng, một tín đồ đạo Phật, nhiều họ hàng tham gia cách mạng, kể cả em ruột...
- Người em ruột, thiếu tá Nhựt, con có nghe, đã về Nam chưa?
Mặt ông Thuận bỗng khắc khổ hẳn:
- Tại sao con tò mò như vậy?
Và ông vụt cười nhẹ:
- Chính chú chưa thành thục lắm trong nghề, thái độ cáu ghắt của chú gần như một lời xác nhận... Từ nay, con cứ lo việc của con!
Dung thè lưỡi và im thin thít
- Chú nói tiếp: Ông Minh Lớn được nhiều người quý mến, do cá tính. Người Mỹ không ưa ông, sở dĩ chọn ông đứng đầu cuộc đảo chính là vì cần danh nghĩa của ông hơn là cần sự năng nổ. Ông sống kiểu một “Mạnh Thường Quân” khổ nỗi, thời Chiến quốc cách chúng ta hơn 3.000 năm. Ông lại cả tin, tốt bụng, những thứ cần cho một người cha, người anh trong gia đình mà đôi khi không cần, nếu không nói là nguy hiểm cho một lãnh tụ. Mỹ thừa biết ông ta không thích Mỹ.
- Có lần tướng Taylor nhận xét với nhà con rằng ông ta quan tâm đến quần vợt hơn mọi thứ! – Dung bây giờ mới dám nói xen.
- Và phong lan nữa...
Tiếng gõ cửa, thiếu úy Hằng báo cáo:
- Tổng Giám đốc vừa thông báo: sắp có cuộc biểu tình của giới Thiên Chúa giáo di cư...
- Tổng giám đốc chỉ thị thêm điều chi không?
- Thưa, chỉ nhắc các Nha chú ý!
- Được... Có gì em cho chị biết nhé!
Hằng, như lần trước, lộ hẳn vẻ mừng rỡ khi Dung không hỏi han thêm chi tiết
- Em tiếp đại úy Ngân thật chu đáo nghe!
Hằng “vâng” và đôi má chợt ửng đỏ. Cô đi ra, nhẹ nhàng khép cửa
- Tướng Big Minh không phải là nhà chính trị. - Ông Thuận tiếp – Mà Mỹ cần một nhà chính trị... Cuộc chọn lựa đang tiến hành, danh sách có cả “Kỵ sĩ”. Sớm muộn rồi ông Minh cũng rời chiếc ghế tượng trưng.
- Xin phép chú nói rõ hơn: ai thay tướng Minh?
Ông Thuận cười nụ:
- Chú không phải thầy bói! Nhưng, con lưu ý tướng Khánh. Tướng Khánh cũng chỉ có thể là trái độn...
- Đỗ Mậu thế nào?
- Mỹ không dùng Đại Việt đến mức cao đâu. – Ông Thuận lắc đầu – Theo ý riêng của chú, hoặc “Kỵ sĩ” hoặc tướng Thiệu...
- Thiệu cũng dính dáng với Đại Việt!
- Mỹ thừa biết Thiệu Đại Việt mấy phần trăm... Mỹ cần một con bài ổn định các xung khắc hiện nay. Con bài đó na ná như Diệm: Thiên Chúa giáo hơi hám Cần Lao. Mỹ xúi Phật giáo đồng thời muốn kìm hãm Phật giáo. Con nên lưu ý điều này: Mỹ chia làm năm ba phe. Cánh Ngũ Giác Đài khác cánh Bộ Ngoại giao và sau cùng, chính phố Wall quyết định tất cả. Ở đây có một đại diện quyền lực của phố Wall – gã Dương Tái Hưng hoặc John Hing.
- Nhà con thường nhắc gã này...
- “Kỵ sĩ” phải tỏ ra là một nhà quân sự giỏi, một nhà chính trị sắc sảo... Chú hoan nghênh thái độ “trung thành với lý tưởng Cần Lao” của “Kỵ sĩ” thân Mỹ trong chừng mực đó...
Dung thuật lại lời của Saroyan và cách đối xử của Luân
- Thế là tốt... Chú tin “Kỵ sĩ” biết lúc nào cứng, lúc nào mềm.
- Nhà con đang suy nghĩ về một phương án dự hội nghị quân sự sắp tới...
- Hay lắm!
- Nhưng nhà con nằng nặc đòi Mỹ phải nhận sai lầm trong cái chết của Diệm – Nhu...
- Càng tốt... “Kỵ sĩ” nên can thiệp về trường hợp Ngô Đình Cẩn. Can thiệp công khai. Vụ “Vòng hoa trước mộ” là một nước cờ cao...
- Nhà con thực sự xúc động về cái chết của ông Diệm, ông Nhu...
- Đúng, kết hợp tự nhiên được giữa lý trí và tình cảm là bản lĩnh. Nhưng, không phải Mỹ ngu xuẩn đâu. Khá nhiều dấu hỏi được đánh trên các hành động rải rác của “Kỵ sĩ”. Làm sao không có kẻ cộng các sự việc rời rạc ấy để tìm cái ẩn giấu bên trong của “Kỵ sĩ”?
Dung chợt rùng mình. Ông Thuận không làm giảm bớt nỗi lo âu của Dung
- Đây là một ván bài, như người ta thường nói, mọi con bài đều lật ngửa... Không thể đảm bảo mọi điều an toàn tuyệt đối. Cuộc đấu trí rất khắc nghiệt. Chú không sao dự kiến hết mọi sự. Con ở bên cạnh “Kỵ sĩ”, số phận hai người đã là một, con phải đủ tỉnh táo. Chú sợ nhất là “Kỵ sĩ” nôn nóng!
- Anh ấy lo quân Mỹ đổ bộ lên Nam Việt...
- Một nỗi lo cao cả. Rất đáng lo. Song hấp tấp hành động không làm cho nguy cơ ấy giảm... Chú khâm phục tầm nhìn và tấm lòng của “kỵ sĩ”. A.07 chỉ thị: hễ thấy tình hình xấu thì “Kỵ sĩ” và “Mimosa” phải vào khu an toàn ngay. Cấp trên dự kiến sẽ bố trí một tổ bảo vệ, thư ký và cả người lái xe cho “Kỵ sĩ”. Sẽ có danh sách, họ đăng ký vào dân vệ hay bảo an. “Kỵ sĩ” tìm cách điều động họ...
- Cám ơn chú.
Dung chợt nhớ việc của cô. Liếc về chồng hồ sơ nhân sự, Dung báo cáo:
- Tuyệt, chú sẽ bàn với anh Sáu Đăng. Với quyền hạn của con, con có thể bổ nhiệm một số người tốt...
Ông Thuận hài lòng
- Thế là những gì cần nói chú đã nói hết. Cuộc chiến đấu còn lâu dài... À! Lần này bất đắc dĩ chú phải nhờ Lê Ngân, từ nay con và “Kỵ sĩ” tuyệt đối không được liên hệ với chú ấy. Chú ấy có việc riêng...
- Liên lạc giữa tụi con và anh Sáu Đăng thường trục trặc...
- Chú Sa vẫn lo công việc ấy.
- Cháu xin hỏi một chuyện, chú đừng giận. Vũ Huy Lục thế nào rồi?
Ông Thuận cười:
- Yên tâm!
Và ông đứng lên, Dung lại lao vào lòng ông. Chú cháu đứng yên mấy phút...
Interphone bỗng cất tiếng:
- Cuộc biểu tình của giới Thiên Chúa giáo di cư xảy ra có xung đột... Thông báo của văn phòng.
- Loạn xạ! – Chú Thuận bảo Dung.
- Con nhớ bố... ! – Dung nghẹn ngào.
- Chú sẽ tìm cách nói khéo... Bây giờ chú phải đi.
Hai người ra khỏi phòng, thấy thiếu úy Bích Hằng đang xem một họa báo với đại úy Lê Ngân – hai mái đầu gần như kề nhau...
- Con có thể nói lại tất cả cho “Kỵ sĩ”... Nhưng, đừng cho biết là chú có mặt ở đây.
Dung gật đầu, vẻ miễn cưỡng.
- Chú rất buồn, song không thể...
Ông Thuận không nói tiếp.
Quyến và Bích Hằng bẽn lẽn đứng lên
- Thế nào, đại úy và cô Bích Hằng “tìm hiểu” đến đâu rồi? – Dung đùa
- Đâu mà nhanh dữ vậy, thưa thiếu tá! – Bích Hằng giả bộ nghiêm, lại bắt chước giọng Nam Bộ.
- Có thể về phần cô. Còn phần đại úy, e bị tiếng sét...
Quyến lúng túng.
Dung và Quyến bắt tay từ giã. Họ không nói thêm lời nào.

CHƯƠNG 4

Tin tức từ ngày 17 đến ngày 22 tháng 11 năm 1963 (tin các báo và các hãng thông tấn)
17-11: Đụng độ dữ dội ở Chương Thiện (VTX). Sức ép của Việt Cộng gia tăng ở Vị Thanh (AP). Nhiều ấp chiến lược lưu vực sông Cửu Long bị Việt Cộng giải tán (UPI). Quân đội Việt Nam Cộng hòa thắng lớn ở Chương Thiện (báo Việt hàng ngày). Thiệt hại của quân đội Việt Nam Cộng hòa đáng kể trong các cuộc đánh nhau ở miền tây Nam Việt (New York Times).
18-11: Thủ tướng chính phủ quyết định các công sở từ hôm nay làm việc một buổi, từ 8 giờ sáng đến 4 giờ 30 chiều, trưa nghỉ nửa giờ. Bình luận của báo Chính Luận: quyết định này do yêu cầu của đại sứ quán Mỹ.
Tòa đại sứ Philippines tại Sài Gòn trao trả chính phủ Việt Nam cựu bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu. Ông Hiếu, một yếu nhân của chế độ Ngô Đình Diệm, xin lánh nạn ở sứ quán Philippines từ ngày 1-11. Ông được Tổng nha cảnh sát tiếp nhận và sau đó đưa về Bộ tổng tham mưu. Theo các nguồn tin đáng tin cậy, ông Hiến được tự do tạm, theo bảo trợ của Đại sứ Mỹ (tin AFT).
Đại tướng Lê Văn Tỵ được cử làm cố vấn quân sự cho Thủ tướng chính phủ. Ông Tỵ, nguyên Tổng tham mưu trưởng, một chuyên viên không có khiếu chính trị. Hình như người ta muốn qua ông để trấn át một số sĩ quan cho tới nay vẫn chưa dứt khoát thái độ: họ sợ bị trả thù, sợ bị dính trong danh sách của Ủy ban điều tra tội ác thuộc chế độ cũ và Ủy ban điều tra tài sản do sắc lệnh của chủ tịch Dương Văn Minh ký, mang số 7/SL/CT đề ngày 16/11/1963 (tin AP).
Đại tá Nguyễn Tấn Thi và trung tá Vương về nước sau ba năm lưu vong. Thi ở Nam Vang, làm đủ thứ nghề, kể cả dắt mối điếm cho Hoa kiều để kiếm ăn; còn Vương thì sang Pháp. Cả hai đều chủ mưu trong cuộc đảo chính bất thành ngày 11-11-1960. Theo các quan sát viên có mặt ở phi trường, khi máy bay vừa hạ cánh, đại tá Thi và trung tá Vương đã to tiếng cãi vã. Thi toan đánh Vương có lẽ do Vương vạch lối sống không được đoàng hoàng của Thi trên một số tờ báo Pháp – vì vậy, Thi không được đại sứ quán Pháp và chính phủ Cambot trợ cấp... (tin của Helén Fanfani)
Đường Ngô Đình Khôi được đổi thành đường Cách mạng 1-11 (tin các báo). Thi hài ông Nhu và ông Diệm được cải táng trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Ông Trần Trung Dung và vợ đứng tên xin. Lễ an táng được cảnh sát bảo vệ nghiêm ngặt. Chừng 50 người đi đưa. Trong số người đi đưa, có vợ chồng đại tá Nguyễn Thành Luân – ông Luân hiện còn bị quản thúc tại gia, song được phép cùng vợ đi sau xe tang tới huyệt với vòng hoa lớn. Ông Luân vẫn vận quân phục đại tá còn vợ, dù là thiếu tá cảnh sát, mặc áo dài - cả hai đều đính băng tang. Linh mục Nguyễn Viết Khai đã làm lễ và một lễ lớn khác tiến hành ở nhà thờ Đức Bà. Đám tang ít người, song sau đó, rất nhiều vòng hoa không rõ của ai phủ kín hai ngôi mộ, nhất là mộ ông Diệm. Ông Trần Trung Dung cho biết, hai ngôi mộ sẽ được xây bằng cẩm thạch... (tin của nhiều hãng thông tấn nước ngoài).
19-11: Sinh viên của trường Cao đẳng Nông Lâm Súc ở Bảo Lộc bãi khóa, đòi thay đổi Ban Giám đốc. Lý do không được rõ, vì hình như trong ban giám đốc không có ai thuộc đảng Cần Lao mà là người của các phái trước đây chống ông Diệm (tin của báo tự do).
Học sinh Trung học Huế biểu tình đòi các giáo sư vốn là “mật vụ” phải từ chức. Phong trào lan các tỉnh Trung phần, thậm chí, đến Cao Lãnh ở Kiến Phong. Hình như có một trung tâm điều khiển các biến động này (tin AP).
22-11: Sinh viên, học sinh Huế biểu tình, nhắc lại khẩu hiệu đòi thanh lọc hàng ngũ giáo chức. Cảnh sát can thiệp. Có xung đột. Một số cảnh sát và sinh viên bị thương. Một số sinh viên các báo (tin các báo).
Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng ký sắc lệnh số 15 cho biết sẽ mời 40 đến 80 nhân sĩ tham gia một hội đồng tư vấn để soạn thảo quy chế và chuẩn bị hiến pháp. Danh sách chưa tiết lộ (tin các báo).
HAI BIẾN CỐ, MỘT TIẾNG NÓI CHUNG
Helén Fanfani (Financial Affair)
Sài Gòn, 25-11.
Tôi đang ngồi đợi điện thoại của Victor tại phòng riêng như thường lệ, sau buổi ăn chiều. Chuông điện thoại reo. Victor không giữ được cách tế nhị vẫn giữ từ khi chúng tôi cưới nhau – anh hổn hển mà tôi nghe được dù từ Hongkong đến Sài Gòn không phải gần: “Helén nghe gì chưa?”. Tôi bị Victor lôi cuốn: “Chưa nghe, chuyện gì?” – “Kennedy bị ám sát!” – “Lạy Chúa! Kennedy nào?” – “John...” – “Tổng thống?” – “Tất nhiên!” – “Chết không?” – “Chết!” – “Ở đâu?” – “Dallas”.
- “Bao giờ?” – ‘Hôm qua, 23 tháng 11. Anh phải bay về Mỹ ngay...” - “Còn máy bay không?” – “Còn”.
Tôi gác máy, không đợi lời âu yếm – có thể Victor cũng quên – lao đến chiếc máy thu chuyên nghiệp, tìm các đài. Và, các đài đã tường thuật... Thật ra, Victor quen múi giờ Viễn Đông. Sự việc diễn ra theo múi giờ Dallas.
Sáng nay, Nam Việt treo cờ ủ rũ và tổ chức lễ cầu hồn ở các nhà thờ Thiên Chúa và Phật giáo.
Một biến cố gây sửng sốt đồng thời gây nhiều tâm trạng, có cả những liên tưởng nhân quả rất phương Đông. Không đầy ba tuần lễ khi Kennedy gật đầu thanh toán ông Diệm, đến lượt ông. Mấy phát đạn chính xác từ lầu cao chấm dứt cuộc đời của một tổng thống trẻ và không ai nghi ngờ về khả năng ông sẽ tái đắc cử trong nhiệm kỳ tới – chưa có đối thủ nội bộ đảng Dân chủ nặng ký bằng ông và đối thủ đảng Cộng hòa cỡ Cabot Lodge thật khó giành quyền với ông. Vài phát đạn phán quyết. Johnson đã tuyên thệ nhậm chức.
Ai giết tổng thống Kennedy? Thủ phạm mất hút. Nhưng chắc chắn không phải là người Việt Nam, càng không phải một đảng viên Cần Lao cuồng tín nào đó báo thù cho ông Diệm. Người Mỹ giết tổng thống mình – tôi không nghi ngờ chút nào điều đó. Cũng như người Việt giết tổng thống Diệm. Tất nhiên, giết ông Diệm do sự ưng thuận của ông Kennedy; còn giết ông Kennedy do ưng thuận của ai? Có người bảo là ý của Thượng đế. Cho quả như vậy đi. Thượng đế qua tay ai? Bài toán hóc hiểm. Tuy vậy, không phải chúng ta rơi vào ngõ cụt.
Trong cái chết của ông Diệm, tỷ lệ Mỹ chiếm ít nhất cũng 75% - nghĩa là vì lợi ích của Mỹ mà ông Diệm phải chết. Trong cái chết của Tổng thống Kennedy, Việt Nam chiếm một tỷ lệ có lẽ cũng tương ứng; vì vấn đề Việt Nam mà ai đó buộc phải hy sinh Tổng thống mình. Tôi không phải là FBI hay CIA - nghề nghiệp chuyên môn về các vụ án của tôi non – song về chính trị, tôi hiểu Tổng thống Kennedy đứng trước hai họng súng: phe nôn nóng muốn đổ quân lên Nam Việt, chấp nhận cuộc viễn chinh hao tốn để tạo ra một Hawaii tận lục địa châu Á sau khi cân nhắc rằng Trung Cộng dứt khoát không tái hiện sự việc như ở Triều Tiên 10 năm trước, họ hạ thủ Kennedy là người mà họ cho rằng nhu nhược, muốn hòa hoãn với Cộng; phe muốn giữ bộ mặt Mỹ ở châu Á như một chủ ngân hàng hơn là một anh lính Tây, phe đó ngại cú giết Diệm mở đầu cho bước phiêu lưu mới ảnh hưởng đến kế hoạch đầu tư của họ, họ gạt bớt một con diều hâu...
Đằng nào thì Tổng thống Kennedy cũng chết - chết trên chiếc xe mui trần chứ không trong quan tài thép M.113.
Sài Gòn xôn xao. Có người điếng lên với suy luận: Mỹ làm tất cả khi thích làm. Các tướng lãnh đảo chánh đang sờ gáy. Có vẻ giết con gà còn dễ hơn giết Tổng thống, huống chi, chỉ là các tướng mà ngôi vị gần với hư danh hơn thực chất.
Hai biến cố của hai bán cầu lại cùng có tiếng nói chung. Việt Nam đòi sinh mạng cỡ nguyên thủ quốc gia để đi đến giải pháp.
Mỗi ngày qua, tôi linh cảm Việt Nam hết còn là việc gói gọn trên một giải đất hẹp bên bờ Thái Bình Dương.
CÁI CHẾT CỦA TỔNG THỐNG KENNEDY
Dự định của tổng thống Kennedy viếng bang Texas vào tháng 11-1963 được nghiên cứu kỹ. Trong cuộc vận động bầu cử năm 1960, Kennedy chỉ đến bang này trong một thời gian ngắn ngủi. Ông phải đến Texas bởi vì năm bầu cử sắp tới 1964 mà nội bộ đảng Dân chủ lại chia rẽ và trung tâm là vùng nổi tiếng cứng đầu cứng cổ này, “xứ sở của các chàng chăn bò”, Texas là bang rộng nhất của Hợp chủng quốc - chỉ đứng sau bang Alaska thực tế băng giá – nơi mà vì các lý do lịch sử (chẳng hạn Texas nguyên là thuộc địa của Tây Ban Nha mới giành được độc lập) chỉ gia nhập Hợp chủng quốc năm 1845, gồm số đông là người Mexico trong hơn 11 triệu dân của bang, là vùng dầu mỏ quan trọng của Mỹ... mà Kennedy đặc biệt chú ý. Hơn thế nữa, tổng thống dự định qua bài diễn văn chuẩn bị sẵn sẽ đọc trong buổi đại tiệc tại Austin - thủ phủ của bang - sẽ hỗ trợ cho đảng Dân chủ giành ưu thắng đối với đảng Cộng hòa, là dịp để tổng thống tỏ ra tính cách bình dân của mình.
Chương trình viếng thăm Texas của tổng thống được thông qua trên nguyên tắc giữa Kennedy, Phó tổng thống Johnson và Thống đốc bang Texas – Connelly - tại khách sạn Contez ở thành phố El Paso ngày 5-6. Ông sẽ “đi như gió” qua các thành phố Dallas, Fort Worth, San Antonio, Houston và một vài thành phố khác từ xế ngày 21 đến chiều ngày 22 tháng 11. Ngày 4-10, Thống đốc Connelly vào Nhà Trắng xác định các chi tiết - Thống đốc được phép tổ chức các cuộc biểu tình đón Tổng thống. Keneth O’Donel - trợ lý đặc biệt của tổng thống cùng thống đốc bàn kế hoạch hợp đồng. Ai cũng nghĩ rằng cần phải có một đoàn theo tổng thống đi dọc các thành phố để dân chúng dễ dàng thấy mặt nguyên thủ quốc gia. Thống đốc Connelly không thích thú với cuộc diễu hành vì ông ta có ít thời gian quá để làm cho cuộc nghinh tiếp thật xôm tụ.
Để đến Dallas, thành phố lớn của Texas – đông những một triệu dân và là trung tâm lọc và hóa dầu – hai mật vụ được giao bảo đảm an toàn cho tổng thống: Winston C. Lawson từ Nhà Trắng và Forrest V. Sorrels, trưởng mật vụ Dallas. Chính Roy II Kellerman, phó chỉ huy mật vụ phủ tổng thống chỉ đạo Lawson.
P.R.S (1) nghiên cứu lý lịch từng người dân Dallas trong diện chống đối tổng thống – không ai bị liệt vào diện nguy hiểm. Cơ quan mật vụ cẩn thận hơn, đã lưu ý các tổ chức an ninh, cảnh sát huy động mọi năng lực bảo đảm chuyến viếng thăm của tổng thống.
Ngày 24-10, ở Dallas, một cuộc biểu tình xảy ra, tất cả đều được chụp ảnh và nhận diện từ người - cuộc biểu tình chỉ chống Adlai Stevenson, đại sứ của Tổng thống. Nhân viên mật vụ được phân các ảnh đó, họ sẽ ra tay khi tại Trade Mark – nơi tổng thống nói chuyện – có lẫn lộn người tham gia cuộc biểu tình. FBI thông báo với các quan chức địa phương rằng có một kẻ nào đó cư ngụ trong vùng Dallas có thể nguy hiểm. Cảnh sát liên bang cũng nhắc một truyền đơn chống Kennedy được tìm thấy trên đường phố Dallas. Tuy nhiên, không cơ quan nào phát hiện ra ai là tác giả của tờ truyền đơn. Tóm lại, chẳng có gì đáng ngại. Và trong danh sách tình nghi thiếu một nhân vật: Lee Harvey Osward.
Bài diễn văn mà tổng thống sẽ đọc ở bữa ăn trưa do các nghiệp chủ và nhân vật tai mắt Dallas chiêu đãi chính là phần trọng yếu nhất của chương trình. Ban thư ký Nhà Trắng cho các cơ quan biết tổng thống đến và đi từ sân bay Love, cho nên mọi thứ phải được đảm bảo để đoàn xuyên qua trung tâm thành phố và sau bữa tiệc, tổng thống sẽ trở lại sân bay bằng lối ngắn nhất. Vấn đề là tìm ngay nơi nào sẽ diễn ra bữa tiệc mà các điều kiện an toàn đều đạt mức không có tí cơ sở dù nhỏ nhặt cũng như các đoạn đường mà tổng thống phải qua.
Ngày 4-11, Gerald A. Behn, chỉ huy nhóm mật vụ Nhà Trắng yêu cầu Sorrels đến tận ba nơi có thể tổ chức bữa ăn trưa. Một trong ba nơi đó là Market Hall, không có chỗ trống ngày 22. Nơi thứ hai, Womenis Building, nằm giữa vòng rào khu Hộichợ quốc gia Texas, là một ngôi nhà trệt, ít ngả vào trong, dễ bảo vệ nhưng không có tiện nghi cho một bữa tiệc. Nơi thứ ba, Trade Mart, tòa nhà mới xinh xắn, có tất cả các đòi hỏi nhưng khó bảo vệ vì có nhiều cửa ra vào. Ngày 4 ấy, Sorrels trả lời với Behn là theo ý ông ta, vấn đề bảo vệ ở Trade Mart có thể giải quyết nếu tiến hành những phòng ngừa đặc biệt. Lawson cũng nghiên cứu việc này và cuối cùng, Kennet O’Donnell quyết định tổ chức bữa ăn trưa ở Trade Mart, ngày 14 Behn thông báo quyết định ấy với Lawson.
Dĩ nhiên, Trade Mart được đặt dưới các ngọn đèn soi mói của mật vụ từ đủ các phía. Kế hoạch bảo vệ Trade Mart được nhiều nấc duyệt, bổ sung, trong đó ngoài mật vụ túc trực, sẽ có vòng rào cảnh sát bên ngoài. Các nhóm cảnh sát trên nóc nhà và tất cả nhà lân cận. Hơn hai trăm cảnh sát được huy động vào công việc ngay tại ngôi nhà. Ngày 8-11, Lawson cho các người có trách nhiệm hay đoàn của tổng thống sẽ diễu hành qua thành phố 45 phút từ sân bay Love đến Trade Mart. Ngày 14, Sorrels và Lawson dự một cuộc họp tại sân bay, và sau đó đi theo lộ trình mà Sorrels cho rằng tốt nhất – con đường dài 16 cây số.
Từ Love, đoàn sẽ qua một khu ngoại ô rồi khu trung tâm theo đường Main, có một đoàn sử dụng xa lộ Stemmons. Sau bữa ăn, đoàn sẽ trở lại sân bay theo con đường dài 6 cây số. Lawson và Sorrels làm việc với Giám đốc cảnh sát Dallas – Jessey E. Curry, phó giám đốc Charles Batchelor, phó giám đốc N.T. Fitsher và nhiều sĩ quan cao cấp của ngành cảnh sát, quân đội, an ninh, nội địa. Ngày 18, Sorrels, Lawson và Batchelor cùng nhiều sĩ quan cảnh sát đi trên xe và cho chạy thử - đúng 45 phút theo lối điều hành. Chiều ngày 18, lộ trình, nơi ăn, đường quay lại sân bay... xem như không có gì trao đổi nữa.
Sorrels yên tâm – năm 1936, ông ta từng bảo vệ tổng thống Franklin Rooselvet công du Dallas.
Gần ngày Kennedy đến Dallas, hai tờ nhật báo địa phương đăng nhiều tin tức liên quan đến lộ trình của tổng thống. Ngày 15-11, tờ Dallas Times – Herald lần đầu tiên cho biết Trade Mart sẽ là nơi tổng thống ăn trưa. Ngày hôm sau, cũng tờ báo này đăng tin lộ trình của tổng thống có thể qua trung tâm thành phố bằng con đường Main, từ sân bay Love. Ngày 19, Dallas Times–Herald viết rõ: từ sân bay, đoàn sẽ đi ngang Mockingbird Lane và đường Lemmons để đến Turtl Creek, nơi đoàn sẽ chuyển hướng về phía Nam, nhắm Codar Springs. Đoàn lại xuyên thành phố qua đường Harwood, trở lại đường Elm nới giáp nối với đường Harwood, lại quay sang hướng Tây, theo đường Main, trở về đường Elm đoạn đường Houston, rồi theo xa lộ Stemmons đến Trade Mart.
Sáng ngày 22, tờ Morning News cho biết: đoàn xe sẽ chạy từ từ để mọi người có thể nhìn rõ mặt tổng thống và phu nhân khi đến trung tâm thành phố.
Dư luận Dallas phân tán về chuyến công du này. Tờ Times–Herald ngày 17-9 từng viết xã luận kêu gọi dân Dallas nên “lịch sự” với vị khách quý mặc dù năm 1960, Dallas không bỏ phiếu cho Kennedy và sẽ làm như vậy năm 1964. Người ta nhớ ngày 24-10, Adlai Stevenson, đại sứ Mỹ ở Liên hiệp quốc, thuộc đảng Dân chủ đến Dallas, sau bài diễn văn lúc ra khỏi nhà hát, bị đám đông vây, xô đẩy, thậm chí nhổ vào ông. Ngày 26-10 có thông báo của cảnh sát Dallas gọi 100 cảnh sát trù bị nhập ngũ. Trong tháng 11, báo chí Dallas thường xuyên tường thuật các biện pháp nhằm bảo đảm an toàn cho tổng thống với mọi chi tiết, đăng các bài của các nhân vật Texas kêu gọi dân chúng đừng biểu tình hay làm điều gì không hay. Hai ngày trước khi Kennedy đến Dallas, Giám đốc cảnh sát Curry tuyên bố dứt khoát sẽ không tha thứ bất kỳ cuộc biểu tình nào trong dịp này.
Ngày 21-11, vào 10 giờ 45 phút - giờ địa phương – Kennedy và vợ bắt đầu cuộc viếng thăm Texas. Họ rời Nhà Trắng trên một trực thăng để đến căn cứ không quân Andrews rồi sử dụng chiếc chuyên cơ giành cho tổng thống - chiếc Air Force One - cất cánh hồi 11 giờ và hạ cánh ở San Antonio hồi 13 giờ 30 phút. Phó tổng thống Johnson và thống đốc Connelly tiếp họ. Đoàn của tổng thống xuyên thành phố San Antonio. Buổi chiều, tổng thống hoạt động theo chương trình định trước; khánh thành trường y học không quân – vũ trụ tại căn cứ Brooks. Sau đó, họ đến Houston bằng máy bay, vào thành phố bằng ô tô và tổng thống nói chuyện ở sân vận động Rice; dự cơm tối do dân biểu Thomas Albert chiêu đãi. Tại sân vận động, đám đông cuồng nhiệt hoan nghênh tổng thống. Ở Houston và suốt chặng đường, người ta dành cho bà Kennedy một tình cảm rõ rệt - một thiếu phụ đẹp và duyên dáng. Khá khuya, tổng thống và đoàn tùy tùng bay đến Fort Worth và nghỉ đêm ở khách sạn Texas.
Sáng 22, tổng thống ăn nhẹ tại khách sạn, sau đó ông ra chào đám đông hoan hô ông. Có người ngại nguy hiểm khi Kennedy muốn đi ra ngoài trời để nhìn và nghe. Kennedy bảo: nếu ai đó muốn giết tổng thống Mỹ thì chẳng khó khăn gì - cứ đặt ở một ngôi nhà nhiều tầng nào đó một tay súng có máy ngắm.
Giữa buổi sáng, Dallas tạnh mưa, mặt trời chói chang. Chuyên cơ đáp xuống sân bay Love vào hồi 11 giờ 40 phút - giờ địa phương. Máy bay chở phó tổng thống đỗ trước đó 5 phút. Tổng thống vẫy chào đám đông đón ông. Mật vụ giăng dây để đám đông không đến gần được tổng thống, kể cả nhà báo và nhân viên nhiếp ảnh. Mười phút sau, họ lên xe vào Dallas.
Đoàn gồm xe mô tô, xe hướng dẫn, xe cảnh sát. Kennedy đi trên chiến xe Lincoln mui trần, loại đặc biệt, sản xuất năm 1961, được thiết bị an toàn riêng. Kennedy ngồi bên phải băng sau với vợ. Thống đốc Connelly ngồi ở băng trước. Mật vụ viên đặc biệt William R. Green cầm lái và bên cạnh là Kellerman. Kellerman ngoài nhiệm vụ bảo vệ còn giữ liên lạc vô tuyến điện với cả đoàn. Bên mỗi hông xe tổng thống có hai mô tô. Sau xe tổng thống là chiếc Cadillac 8 chỗ ngồi, kiểu 1935, chở 8 nhân viên mật vụ, mỗi người trang bị một khẩu súng ngắn “38”, một súng trường và một súng trường tự động. Powers và O’Donnel chỉ huy bảo vệ ngồi trên xe máy. Đoàn xe dài đến 400 thước.
11 giờ 50 phút, Kennedy rời sân bay với tốc độ từ 48 đến 50 cây số/giờ. Ở trung tâm thành phố, tổng thống được đông đảo dân chúng hoan hô nồng nhiệt. Tình hình ấy khiến cả đoàn, đặc biệt là nhân viên mật vụ và cảnh sát lơi lỏng cảnh giác.
12 giờ 30 phút, xe của tổng thống chạy trên đường Elm đến ngã ba có cái tên kỳ quặc: Triple Underpass với tốc độ 17 cây số/giờ, nhiều phát súng carbine nổ và giết ngay tổng thống, làm bị thương nặng thống đốc Connelly. Một viên đạn xuyên cổ tổng thống, viên kế tệ hại hơn, làm nổ bộ phận phải sọ não của tổng thống. Giữa lúc ấy, bà Kennedy đang chào đáp lễ dân chúng. Tiếng nổ làm bà giật nảy: Trời ơi, họ giết chồng tôi... Tôi yêu anh, Jack!
Và sau đó, một gã Osward nào đó trở thành mục tiêu của cuộc điều tra...
*
- Đấy là với tổng thống họ! – Luân bảo Dung
Cả hai không nói gì hơn khi đọc xong tài liệu về cái chết của Kennedy.
Luân và Dung không bao giờ tin thuyết quả báo. Song, họ cảm nhận cuộc chiến đấu thay hình đổi dạng đến mức tàn bạo, khó mà biết được đâu là chốn tận cùng.
---
(1) Phòng trinh sát bảo vệ (Protective Research Section)

CHƯƠNG 5

Sáng 30-11, một tuần lễ sau cái chết của tổng thống Mỹ Kennedy và một tháng sau cái chết của Ngô Đình Diệm, Hội đồng nhân dân cách mạng họp phiên toàn thể. Lẽ ra cuộc họp được mở sớm hơn, liền sau sự cố Dallas, song hầu hết thành viên của hội đồng đều hoang mang, họ chờ đại sứ Cabot Lodge giải thích. Cabot Lodge phải chờ chính tổng thống tiếp nhiệm Johnson giải thích. Và, chiều 29, Cabot gặp tướng Big Minh.
- Đại sứ Mỹ đã thông báo với tôi diễn biến cuộc ám sát tổng thống Kennedy, hung thủ là Oswald, một kẻ loạn trí. - Tướng Big Minh mở đầu phiên họp.
- Đây là việc nội bộ của nước Mỹ, - Tướng Big Minh nói tiếp – Hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến chính sách của Mỹ đối với Nam Việt. Tổng thống Johnson bảo đảm sẽ trung thành theo đường lối của cố tổng thống Kennedy về châu Á, về Đông Dương và về Việt Nam. Tôi đã nêu thắc mắc: tại sao một kẻ loạn trí lại chọn tổng thống làm mục tiêu mà không chọn người khác?
Phòng họp – phòng lớn ở dinh Độc Lập vừa xây xong – nín thở nuốt từng lời của vị chủ tịch.
- Oswald tiêu khiển bằng cách hạ sát tổng thống - đại sứ trả lời với tôi... các bạn thấy, chỉ là trò tiêu khiển!
Phòng họp như bị đè dưới một tảng đá nghìn cân.
- Qua lý giải của đại sứ Mỹ, tôi càng hiểu rằng ở Mỹ thú tiêu khiển không có hạn độ... - Tướng Big Minh hơi châm biếm, điều rất ít có ở ông – Chúng ta, tôi và anh em, không ai có thể làm gì hơn là nghe giải thích và bằng lòng với mọi cách giải thích từ miệng người Mỹ, nhất là từ miệng vị đại sứ đặc mệnh toàn quyền.
- Tướng Harkins có cái nhìn hơi khác. - Tướng Lê Văn Kim xen vào...
- Tôi biết! - Tướng Big Minh gật chiếc đầu tóc cắt thật ngắn, môi dưới vốn đã dày như trề thêm - Tướng Harkins phản đối cả cái chết của anh em ông Diệm... Giới quân sự và bây giờ thêm một bộ phận trong giới chính trị gắn hai cái chết với nhau.
- Họ cho là nhân và quả? - Tướng Kim ngắt lần nữa lời của chủ tịch.
- Không chỉ như vậy! - Tướng Minh nhếch mép, không phải cười mà biểu hiện ngao ngán - Họ cho là sự mở đầu một kiểu thanh toán... Mới mở đầu thôi...
Các tướng cúi gầm. Da mặt của hai người dễ thấy nhất: Tôn Thất Đính và Mai Hữu Xuân.
- Khi mà giới quân nhân làm chính trị, tình thế thường như vậy. Tôi trình hội đồng một huấn thị: quân nhân nào liên hệ với các đảng phái, bất kể đảng nào, đều phải chấm dứt, băng không hội đồng buộc xét kỷ luật, kể cả hình thức cho giải ngũ.
- Nhưng ở Mỹ, cái chết của tổng thống đâu có dính tới giới quân nhân? - Đỗ Mậu cao giọng.
- Làm sao biết được? - Tướng Minh buông thõng.
- Tôi tán thành ý kiến của trung tướng chủ tịch! - Thiếu tướng Thiệu nói nhanh.
- Có anh em nào không đồng ý không? - Tướng Minh hỏi.
- Tôi không đồng ý! Mỗi tướng lãnh đều có quyền tự do, miễn quyền đó không ảnh hưởng đến trách vụ mình. - Đỗ Mậu vẫn khăng khăng.
- Tôi đề nghị anh em cho ý kiến bằng cách giơ tay? Ai tán thành đề nghị của tôi?
Tất nhiên, chỉ trừ Đỗ Mậu, tất cả các tướng đều giơ tay.
- Tôi thiểu số nên phải phục tùng... .. Nhưng xin cho tôi nói hết ý của mình: chúng ta đang làm chính trị... - Đỗ Mậu dằn từng tiếng.
- Đúng, nhưng làm chính trị khác với theo một đảng. – Lê Văn Kim trả lời thay tướng Minh
- Tôi thấy nên chấm dứt cãi cọ: việc lớn không phải đảng này hay đảng nọ... - Tướng Đôn can thiệp
Hội đồng có vẻ chịu kiểu “thực dụng” của tướng André
- Ngày mai, đại hội nhân sĩ sẽ họp... Tôi đến chào đại hội xong tôi không giỏi về khoa biện luận nên nhờ anh Kim hoặc anh Xuân họp với họ, chắc có nhiều câu hỏi khó... - Tướng Minh ngó tướng Kim và Xuân.
- Anh Kim dự tiện hơn... - Xuân đẩy sang Kim
- Tôi sẽ dự. Nhưng, nên có anh Đỗ Mậu vì tôi biết đảng Đại Việt thế nào cũng nêu yêu sách tham chính, tôi trả lời không tiện bằng anh Mậu.
Tướng Kim đã công khai giới thiệu đảng tịch của Đỗ Mậu...
- Tôi sẵn sàng... Tôi có nhiều bè bạn trong đảng Đại Việt, ai cũng biết, nhưng tôi không phải là người lãnh đạo họ. Lãnh đạo họ là Hà Thúc Ký, Trương Tử Anh và Nguyễn Tôn Hoàn. Ông Hoàn chưa về nước...
- Ông Ký chắc chắn có mặt tại đại hội. Tôi đã mời ông ta. - Tướng Minh nói thêm.
Tướng Minh dừng một lúc.
- Nếu không còn anh em nào có ý kiến gì khác, tôi đề nghị phiên họp kết thúc.
- Tôi muốn anh chủ tịch cho biết quyết định về ông Nguyễn Chánh Thi và Vương Văn Đông vừa về nước... - Tướng Trần Thiện Khiêm đặt câu hỏi khi các tướng sắp rời ghế...
- Ông Thi thì nên giao cho Bộ tổng tham mưu để nhận công việc. Còn ông Đông, thì hơi ngại! - Tướng Đỗ Mậu nói.
- Ông ngại điều gì? - tướng Xuân hỏi.
- Ông Đông là người của Phòng Nhì... - Đỗ Mậu trả lời, mắt soi mói Xuân.
- Không có bằng chứng... Chưa chi huynh đệ đã tương tàn! Ông Đông có công trong cuộc chính biến tháng 11-1960... - tướng Xuân phớt tỉnh.
- Thôi, tôi sẽ hỏi Tổng nha cảnh sát về cả hai người... - Tướng Minh cắt đứt cuộc lời qua tiếng lại của hai viên tướng.
- Tôi hỏi: Thái độ của hội đồng đối với đại tá Nguyễn Thành Luân? - Tướng Xuân lại nêu vấn đề.
- Tướng Jones Stepp nhắc chúng ta: hãy để cho đại tá yên. - Tướng Phạm Xuân Chiểu nói.
- Tại sao lại để ông ta yên? Phó tổng bí thư đảng Cần Lao... Xuân cau mày.
- Thôi! Nhắc chuyện đảng Cần Lao làm gì. Ở đây, trừ tôi, các anh em đều ở đảng Cần Lao hết! Chẳng qua thời thế bắt buộc, đâu phải chuyện lớn! – Big Minh xua tay.
- Nếu không, tôi đề nghị công bố quân hàm thiếu tướng của ông ta do ông Diệm ký và cho ông ta làm việc! – Xuân nói lẫy.
- Công bố quân hàm? Đâu được! - Tướng Thiệu phản ứng nhanh – Còn làmviệc, việc gì? Ông ta không phải hạng chầu rìa... Tiện thể, tôi hỏi anh Đính tại sao thăng vợ của đại tá Luân lên thiếu tá và chuyển làm phó giám đốc Nha công vụ Tổng Nha cảnh sát?
- Cái đó do ông Chiểu... - Đính trả lời
- Cũng không phải do tôi mà do phái đoàn cố vấn cảnh sát Mỹ đề nghị và đại sứ quán Mỹ tán thành, có cả sự ưng thuận của tướng Jones Stepp. - Chiểu nói xuôi xị.
- Thôi... - Big Minh lại xua tay - Việc đại tá Luân sẽ tính sau... Còn gì nữa không?
- Tướng Harkins yêu cầu sớm họp hội nghị quân sự... Tôi hứa sẽ họp nhưng họ giục do chiến sự gia tăng và do quân đội ta tổn thất khá... Ấp chiến lược rã nhiều rồi. - Tướng Đôn ngồi ghé xuống ghế mà nói không mấy phấn chấn.
- Thế nào cũng họp. Nhưng, phải sửa soạn kỹ kế hoạch. Đừng để vô hội nghị, phía mình im re, còn người Mỹ nói hết trơn. Họ nắm nhiều tình hình hơn mình, lại còn nghiên cứu... - Tướng Minh vẫn ngồi yên trên ghế chủ tọa.
- Tướng Harkins muốn tiếp xúc với đại tá Luân trước khi họp. - Tướng Đôn uể oải ném thêm một quân bài lên bàn họp.
- Không được! - Tướng Thiệu nói như quát... - Thiếu gì người cần hỏi ý kiến...
- Nhưng Bộ chỉ huy Mỹ đề nghị đích danh đại tá Luân. Nếu anh Thiệu không chịu thì anh trả lời thay tôi. - Tướng Đôn cười mỉm...
- Thôi! - Tướng Minh vẫn mở đầu bằng chữ “thôi” – Tôi sẽ gặp đại tá Luân.
Hội nghị có vẻ ngơ ngác
- Tôi không thích đại tá Luân phát biểu ở hội nghị như là một phe, còn tụi mình là một phe trước người Mỹ. Đại tá Luân chắc có nhiều suy nghĩ và đó là suy nghĩ của một sĩ quan Nam Việt trong đoàn của Nam Việt.
- Vậy là giao việc cho ông ta rồi! - Tướng Xuân nói như than.
- Ừ, thì giao việc. Có sao? Ta không giao thì người Mỹ giao... Cái sau rất bất tiện, phải không anh em?
Tướng Big Minh đã thuyết phục được hội đồng.
*
Bác sĩ Trần Kim Tuyến về nước, tuy kín đáo, song ngay cầu thang máy bay đã có hai nhóm người đón với hai thái độ khác nhau. Nhóm thứ nhất, mặc thường phục mà lưng người nào cũng cộm “con chó lửa” và có một người cầm sẵn cây còng số 8. Bác sĩ đang hớn hở bước xuống cầu thang, gia đình chực xô tới chào thì bị nhóm người kia ngăn lại.
- Ông bị bắt!
Một người tuyên bố dõng dạc và tra còng vào tay bác sĩ.
- Cái gì vậy? - Bác sĩ Tuyến kinh dị hỏi.
- Cấp trên của chúng tôi sẽ trả lời... Các ông thừa biết một trùm mật vụ nên được ưu đãi như thế nào.
Người còng tay Tuyến trả lời lạnh lùng. Bác sĩ, qua đôi kính cận, mặt trắng bệt – ông biết cái gì đang đợi ông như ông đã từng chỉ thị cho bộ hạ trước đây; may mà ngay cầu thang máy bay, bằng không ông đã nhận vài cú lên gối đến hộc máu mồm...
- Đi! – Người còng tay Tuyến có vẻ chỉ huy, ra lệnh.
- Đi đâu?
Không phải bác sĩ Tuyến hỏi mà một giọng khác oang oang, hơi cười cợt. Hai quân nhân, một mang quân hàm trung tá - với toán quân cảnh trang bị tiểu liên giống như dưới đường băng bê tông ngoi lên, án ngữ đám nhân viên mặc thường phục.
Viên trung tá chập gót chân chào bác sĩ Tuyến.
- Mở còng ra? – Viên trung tá bảo cộc lốc.
- Ông là ai? - Viên chỉ huy mặc thường phục hỏi, giọng hơi run.
- Tụi bây là ai? - Viên trung tá bốp chát
- Chúng tôi mang lệnh bắt nguyên Trưởng cơ quan mật vụ chế độ cũ... - Viên chỉ huy lắp bắp.
- Lệnh đâu? – Viên trung tá vẫn giọng cộc lốc.
Viên chỉ huy mặc thường phục chìa tờ giấy đánh máy. Viên trung tá giật phắt giấy, nheo mắt đọc: “Đại tá giám đốc Nha cảnh sát đô thành... Tao cóc biết thằng này, còn mày, thằng đại úy cà chớn!”. Và anh ta xé vụn tờ công lệnh, buông nó bay lả tả theo gió.
- Mở còng! – Viên trung tá nhắc lại...
Viên đại úy cảnh sát ngỡ ngàng
- Tao đếm ba tiếng. Nếu mày không mở còng cho bác sĩ thì tao cho mỗi đứa một băng chầu ông bà, ông vải!... Một...
Chưa đến tiếng thứ hai, chiếc còng đã được mở.
- Mời bác sĩ về ngay Bộ tổng tham mưu... Trung tướng Tôn Thất Đính đang đợi bác sĩ - Viên trung tá lễ phép bảo.
Rồi quay sang viên đại úy cảnh sát, anh ta bảo giọng thật trịnh thượng:
- Còn đứng đó hả? Bác sĩ ra lệnh bắt tụi mày thì tụi mày vào nhà xác ngay! Đồ chó lợn!
Hành khách vây quanh như xem một trò ảo thuật. Đám cảnh sát bảo nhau bằng mắt, lủi trong đám người vào sân bay.
Tôn Thất Đính và Đỗ Mậu đón Tuyến ngay thềm Bộ tổng tham mưu
- Bravo! - Đính ôm Tuyến thét to... - Chào vị mưu sỹ tài ba. Mọi việc như bác sĩ dự kiến.
Khi ngồi trong phòng khách, Tuyến hỏi:
- Tôi nghe thiếu úy Tường bị bắn.
- Đúng! Gã vệ sĩ của Nguyễn Thành Luân bắn...
- Thế thì việc đầu tiên, coi như các vị trả công cho tôi, là lôi cổ Luân lẫn tên vệ sĩ của hắn ra bắn...
Tuyến nói điềm đạm nhưng âm sắc đầy quyền lực.
- Không thể làm theo ý bác sĩ... - Đỗ Mậu lắc đầu.
- Tại sao... ?
- Vì, ngày mai chính chủ tịch Hội đồng quân nhân sẽ gặp đại tá Luân và ngày kia, đại tá Luân dự một phiên họp quân sự hỗn hợp Việt Mỹ do đại tướng Harkins và trung tướng Đôn chủ trì...
- Đến thế kia? - Tuyến thất vọng.
- Có thể còn hơn thế nữa... Không có gì ngăn đại tá Luân trở thành nhân vật quan trọng ở Việt Nam Cộng hòa. Người Mỹ muốn, và - Đỗ Mậu chua chát - Người Mỹ muốn là Trời muốn.
- Ngay lông chân của gã vệ sĩ cũng không đụng được à?
- Có lẽ sự thật gần như bác sĩ nghĩ...
- Chuyện đại tá Luân còn phức tạp lắm. Bây giờ bác sĩ đã về, nên gặp gia đình, nghỉ ngơi vài hôm rồi chúng ta sẽ mời bác sĩ làm việc... Vẫn việc cũ. Chúng ta đang xây dựng lại cơ quan mật vụ... - Tôn Thất Đính nói.
- Tôi nghe lời hai ông. Còn mối thù với Nguyễn Thành Luân, tôi không bao giờ quên!
- Rất tốt. Nếu bác sĩ khôn khéo... - Đỗ Mậu lên giọng dạy đời - Nhất là đừng tỏ cho Luân biết bác sĩ thâm thù hắn và chớ hé môi với giới quân sự Mỹ... Nắm cơ quan mật vụ, bác sĩ đủ điều kiện hành động...
- Ly Kai còn không?
- Còn! - Đỗ Mậu trả lời.
- Được... Thế tôi có cần trình diện tướng Minh không?
- Khoan đã! - Đỗ Mậu đắn đo – Ông Minh có vẻ không thích bác sĩ
- Ai chủ trương bắt tôi tại sân bay? – Bác sĩ hỏi.
- Cảnh sát... - Đỗ Mậu trả lời.
- Nhưng trung tướng Đính là Tổng trưởng an ninh...
- Tổng trưởng không kiểm soát hết mọi việc đâu. – Đính nheo mắt, coi như đó là chuyện vặt.
- Ngay tôi, nếu trung tướng Đính không thuật lại mọi sự, tôi cũng ra lệnh bắt bác sĩ! – Đỗ Mậu nói như rít qua kẽ răng.
- Chúng ta nên sòng phẳng... Tôi biết nhiều chiến hữu Đại Việt của thiếu tướng chết ở nhiều nơi, kể cả ở P.42... Nhưng tôi không thể làm khác. Nếu tôi làm khác, không có cuộc cách mạng... - Tuyến phân trần.
- Chưa chắc! - Đỗ Mậu như hết tự kiềm chế.
- Nghĩa là?
- Nghĩa là không cần các biện pháp như bác sĩ đã làm và nghĩa là, không có bác sĩ chúng tôi vẫn lật được Diệm.
- Này, ngày vui, đừng tranh cãi gây cấn. – Tôn Thất Đính dàn hòa - Vả lại, thiếu tướng không còn là Đại Việt nữa, chúng ta thỏa thuận rồi... Mời bác sĩ uống với chúng tôi...
Sau khi cụng ly, bác sĩ Tuyến ra khỏi phòng - vợ con ông đang thắc thỏm chờ. Bác sĩ đi mà lòng ngổn ngang. Sự thể này rõ không ổn. Ông ta nhớ lời dặn sau chót của Tôn Thất Đính: “Bác sĩ nên nén mình. Chớ để giới Phật giáo thấy mặt, họ có thể kéo biểu tình đập phá nhà bác sĩ... Bác sĩ cũng đề phòng giới Thiên Chúa giáo, hình như phong phanh biết bác sĩ nhúng tay vào vụ đảo chính, họ cũng biểu tình đập phá... ”. Thế là như bị giam lỏng rồi còn gì?
- Tôi định viếng mộ ông Diệm... - Tuyến thăm dò.
- Không nên! Chắc bác sĩ đọc báo biết việc làm của đại tá Luân, ông ta hành động phù hợp, nổi tiếng nữa. Song không phải sự bắt chước nào cũng tốt cả đâu, bác sĩ sẽ làm bia cho báo chí phỉ báng. - Đỗ Mậu tuôn một thôi lời lẽ cay độc.
*
Trung tướng Dương Văn Minh dự khai mạc đại hội nhân sĩ. Đây là một đại hội do các đoàn thể triệu tập, không từ sáng kiến của Hội đồng quân nhân. Mặt mũi của chừng 100 người chẳng lạ gì với công chúng; số khá đông vừa rời khỏi tù với tấm huân chương “Chống chế độ độc tài gia chính trị” - chống thật và chống giả, số còn lại là các trí thức có tên tuổi, thật tình thấy nhẹ nhõm hơn khi Diệm bị lật đổ. Đại hội gần như không có ai cầm càng - Kỹ sư Phan Khắc Sửa được cử nói mấy lời mở đầu và ông giới thiệu trung tướng Minh. Trung tướng được hoan hô khá lớn – ông bối rối vì cảm động.
- Tôi cảm ơn quý vị! - Trung tướng cảm động nói – Tôi mong đại hội đóng góp nhiều ý kiến thiết thực cho Hội đồng quân nhân và chính phủ trong lúc đất nước khó khăn. Tôi cũng đề nghị quý vị đề cử một hội đồng nhân sĩ đủ tài đức tư vấn cho Hội đồng quân nhân và chính phủ. Tôi mong quý vị để quyền lợi quốc gia lên trên hết... Lẽ ra tôi phải dự cùng quý vị suốt đại hội, song công vụ không cho phép, trung tướng Lê Văn Kim, thiếu tướng Đỗ Mậu, thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ sẽ làm việc cùng quý vị, tôi sẽ xem lại biên bản... Chúc quý vị và gia quyến an khang...
Vỗ tay. Nhưng có vẻ đại hội thất vọng vì vị chủ tịch nói quá ngắn, tiếng vỗ tay giảm hẳn nồng nhiệt...
Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ được yêu cầu trình bày chương trình hành động của chính phủ. Ông Thơ không sẵn sàng nên nói khá lập cập. Ý duy nhất mọi người ghi nhận là: Việt Nam Cộng hòa đang thực hiện một cuộc cách mạng, song cách mạng ôn hòa. Các vấn đề kinh tế, xã hội, về chiến tranh, về dân chủ đều bị bỏ qua. Lê Văn Kim giống một triết gia, lý luận về những khái niệm rất chung. Đỗ Mậu nói về những hy sinh của các chiến sĩ quốc gia để đánh đổ Ngô triều. Đại hội rơi vào cảnh hỗn lọan. Các nhân sĩ chân chính chán nản, và lần lượt rút lui. Phần mà đại hội coi như quan trọng nhất là giới thiệu người tham gia Hội đồng nhân sĩ. Con số lên đến một trăm. Đủ hết! Hà Thúc Ký, Phan Quang Đán, Hồ Hữu Tường, Trịnh Khánh Vàng, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Thành Phương, Trần Văn Hương, Phan Huy Quát, Nguyễn Xuân Chữ, Hoàng Quỳnh, Thích Tâm Châu, Lê Văn Tất, Trần Văn Vân... Riêng Hà Thúc Ký còn đưa ra một “phương châm”: đảng nào đổ máu nhiều tức là có công nhiều trong cách mạng 1-11 thì được quyền chiếm tỷ lệ cao trong Hội đồng nhân sĩ và chính phủ. Đại hội bế mạc trong không khí ai cũng thấy mình phải là thành viên của Hội đồng nhân sĩ - một thứ siêu nghị viện – và phải là tổng trưởng...
... Tướng Big Minh ghé nhà Luân. Thật ra nhà riêng của ông cũng gần nhà Luân, nhưng chưa bao giờ ông đến với bất cứ tư cách nào. Cuộc viếng thăm không báo trước. Đoàn xe vào cổng, Luân vẫn còn mặc đồ pyjama...
- Khỏi thay quần áo làm gì. - Tướng Minh hệch hạc bắt tay Luân trong lúc lực lượng bảo vệ tỏa quanh nhà.
- Tôi ghét rùm beng lắm, mà mấy ông An ninh quân đội và Tổng nha cảnh sát cứ bắt tôi theo... - Tướng Minh giả lả, có lẽ ông thấy khó chịu về sự phô trương trước mắt Luân, một sĩ quan ông không ưa nhưng có phần nể.
Luân mời tướng Minh ngồi, anh vào trong thay quần áo. Trong bộ quân phục đính hàm đại tá, anh chào tướng Minh thật nghiêm chỉnh.
- Ồ! Sao galon của đại tá méo mó và dơ quá vậy? - Tướng Minh hỏi.
Luân cười mỉm, thuật lại chuyện ở Bộ tổng tham mưu.
- Như vậy đó! - Tướng Minh trầm ngâm một lúc, khẽ thở dài rồi nói – Chà lên quân hàm tức chà lên chính mình... Lúc nào cũng có bọn du côn! Tôi nghe tin đại tá đặt vòng hoa trước mộ ông Diệm, ông Nhu, tôi khâm phục. Nhân đây tôi muốn nói rõ với đại tá, như tôi nói với vợ chồng ông Trần Trung Dung, cái chết của hai người ngoài dự kiến của tôi...
- Tôi tin trung tướng, song làm rõ nguyên nhân đâu có khó! – Luân nói giọng buồn bã.
- Khó chớ! Tôi hỏi thiếu tá Nhung, anh nói trong xe tối lắm, ai nổ súng đầu tiên thì anh không rõ, song nhiều người bắn sau một lúc cãi cọ. Ông Nhu chửi một số lính áp giải...
- Đó là một cách giải thích dễ dãi nhất. Ông Nhu chửi, lính nổi nóng bắn hai anh em ông... Nhưng sự thể chắc không đơn giản như vậy.
- Tôi cũng nghĩ như đại tá.
Luân thấy không cần kéo dài vụ này nữa.
- Xin trung tướng chủ tịch cho biết mục đích chuyến đến nhà tôi.
- À! Tôi không hẹn, cũng hơi đường đột... .. Song tôi nghĩ đại tá không chấp nhất...
Vẻ mặt chất phát của tướng Minh gợi cho Luân sự xúc động vì ít ra, ông ta cũng là con người lương thiện theo nghĩa đạo lý cá nhân phương Đông và bị cuốn vào trò cờ bạc bịp chắc là sở đoản của ông...
- Ngày mai, tướng Harkins triệu tập một cuộc họp quân sự liên tịch với tướng Đôn, mỗi bên cử một số sĩ quan tham gia để bàn về biện pháp quân sự hiện thời. Tướng Harkins yêu cầu đại tá có mặt trong cuộc họp...
- Thưa trung tướng chủ tịch...
Tướng Minh đưa tay ngăn Luân:
- Chúng ta đổi cách xưng hô... Tôi không mấy gì ưa cấp chức này... Tại sao chúng ta không gọi là anh em cho thân mật?
- Nếu trung tướng cho phép. – Luân đồng ý
- Anh nói đi.
- Giả tỷ tướng Harkins không nêu đích danh tôi, có lẽ tôi bị bỏ xó tại ngôi nhà này không biết đến bao giờ...
- Anh đừng buồn. Tôi không quen nói láo. Đúng vậy... Mà không phải trong hội đồng ai cũng đồng ý để anh dự hội nghị ngày mai...
- Những người phải đối có lý của họ. Tôi là một Cần Lao gộc mà...
- Thôi anh cay đắng làm chi... Ai mà không Cần Lao... ?
- Trung tướng không vô đảng Cần Lao...
- Phải, tôi không vô nhưng tôi vẫn thi hành chủ trương của ông Diệm, tức của đảng Cần Lao. Nào có khác gì? Chuyện cũ, không nên nhắc nữa. Bây giờ nên để tâm trí lo đại cuộc. Tôi muốn anh suy nghĩ và thử nói ý kiến của anh trước tình hình hiện thời, ta phải làm thế nào?... Hội đồng quân nhân nói vậy chứ đâu có đồng tâm nhất trí. Chính phủ thì thiếu đầu đàn. Ông Thơ hiền quá. Quân đội sau đảo chính, ngoài mặt thì yên ổn mà bên trong thì nghễnh ngãng dữ lắm, các tướng vùng, sư đoàn không phục trung ương, quân binh chủng này kỵ quân binh chủng kia. Khó!
Tướng Minh thổ lộ hết những cái ông chỉ thổ lộ với người chí thân và chấm câu bằng tiếng “Khó!” như thú nhận sự bất lực.
- Hội nghị bàn về quân sự thì không phải không tìm lối ra được. – Luân lựa lời – Song, ở nước cộng hòa chúng ta, vấn đề cần mổ xẻ là chính trị, có cơ sở chính trị rồi thì sẽ có biện pháp quân sự thỏa đáng...
- Đó là chỗ yếu của hội đồng. Có lẽ trừ ông Kim, ông Đỗ Mậu, chúng tôi không ai có khiếu chính trị. Ông Kim thì hay nói chuyện đâu đâu, còn ông Đỗ Mậu... nói thiệt, tôi không ưa ông ta!
- Cho tới nay, Hội đồng quân nhân chưa vạch được đường lối chung, mọi thứ bỏ lửng... - Luân quyết định thăm dò sâu hơn một mức - Tỷ như việc chiến tranh, tỷ như việc hòa giải dân tộc, tỷ như chính sách ngoại giao... chưa có cái nào rõ ràng cả. Đánh nhau tới bao giờ? Và, người Việt đánh người Việt, sau đó, có khi Mỹ nhảy vô tàn phá quê hương mình, chết chóc... Tôi băn khoăn những điều vừa thưa với trung tướng.
Tướng Minh thở dài.
- Tôi biết chớ... Nhưng làm sao? Không lẽ không chống Cộng? Tôi đã nghĩ tới Cao Miên, tôi sẽ cử ông Trần Chánh Thành lên Nam Vang để vừa dàn xếp tranh chấp giữa hai nước vừa xem cái cách mà họ theo đuổi...
Luân thấy hé ra một chút ánh sáng, nhưng anh giật mình:
- Trung tướng bàn ý vừa rồi với ai chưa?
- Tôi có trao đổi với anh Kim, anh Xuân, anh Đôn, trao đổi sơ qua thôi.
- Ý các ông kia thế nào?
- Anh Kim giống tôi nhiều hơn hết. Anh Đôn, anh Xuân chắc cũng vậy, nhưng họ sợ.
- Tại sao chính phủ ta lại găng với Pháp?
- Không phải chính phủ đâu, ông Đỗ Mậu, ông Thiện thôi. Có thể ông Khánh nữa.
- Tôi biết đang có môt cuộc vận động bài Pháp, chống trung lập trong một số giới... Nói thẳng, cuộc vận động đó nhằm chống Hội đồng quân nhân, cá nhân chủ tịch và các phó chủ tịch... Nghĩa là vai trò “đệm” của Hội đồng đang bị đe dọa nếu hội đồng không chủ động bỏ vai trò “đệm” mà thực sự trở thành một cái gì vững bền hơn...
Luân nhìn tướng Minh đăm chiêu mà thương hại. Anh suy tính xem có nên rán thêm một bước nữa, chẳng hạn hỏi về Dương Văn Nhựt, Dương Văn Diệu và khá nhiều anh em họ hàng của tướng Minh tập kết hoặc cũng có thể đã về Nam. Nhưng anh thấy chưa tiện.
- Tôi sẽ dự cuộc họp và sẽ chỉ nói về phương pháp hành quân tác chiến thôi... Chỉ e chúng ta tốn công vô ích. Sự thể không dậm chân tại chỗ. Hội đồng đảo chính ông Diệm được thì một số tướng nào đó cũng đảo chính hội đồng được. Khó là làm lần đầu, làm lần đầu trót lọt, người ta dễ theo gương đó. Mỹ cho máy bay đâm vào núi để giết tổng thống Phi Luật Tân Magsaysay hoặc dùng áp lực buộc ông Phibul Songram, ông Lý Thừa Vãn lưu vong thì tại sao không làm được vậy ở Sài Gòn? Tổng thống Kennedy bị bắn sau khi tổng thống Diệm bị bắn, tôi nghĩ rằng một thời kỳ tàn bạo bắt đầu... Thời gian còn ít lắm... Tôi thiết tha mong trung tướng tính gấp...
Tướng Minh chăm chú nghe. Ông không có vẻ gì sợ hãi những hình ảnh ghê rợn mà Luân vừa điểm qua, nhưng trong cặp mắt mệt mỏi của ông, Luân nhìn thấy nỗi lo lắng như cao rộng hơn.
- Dân chúng Việt Nam chúng ta có tội tình gì? - Tướng Minh thốt ra một câu não nuột, câu thốt ra khiến Luân suýt rơi nước mắt.
- Bởi vậy, nếu tôi dự họp và nói thì sẽ không trả lời nổi câu hỏi của trung tướng. Hội nghị quân sự phải bàn việc đánh nhau, giết chóc... Với tướng Harkins chưa phải đã gay gắt lắm. Nhưng, nếu người thay Harkins theo lệnh của tổng thống Johnson đặt yêu cầu đưa chừng một trăm ngàn quân vào Nam Việt thì chúng ta sẽ có thái độ như thế nào?
- Tôi phản đối! - Tướng Minh, như thân hình ông, nói một câu chắc nịch.
- Phản đối suông không thể có hiệu quả...
- Tôi sẵn sàng từ chức!
- Cũng không phải là thượng sách!
- Thì không phải là thượng sách, nhưng chúng ta đâu phải là Việt Cộng. Việt Cộng đánh lại Mỹ còn chúng ta là đồng minh của Mỹ...
Tướng Minh nói giọng đầy đau khổ. Các mâu thuẫn nội tâm của ông bộc lộ rõ ràng. Luân cắn môi: Tội nghiệp cho ông! Luân cho rằng việc tiếp xúc với tướng Minh như thế là đủ, hơn nữa, tướng Minh đang ngả lưng vào ghế - gánh nặng quá sức của ông.
- Ngày mai, tôi sẽ có mặt...
- Đã quyết định họp tại dinh Độc Lập... Tôi không dự, tướng Đôn là trưởng đoàn.
- Tôi có cần trao đổi trước với tướng Đôn không?
- Nên trao đổi... Anh hẹn điện thoại trước với anh Đôn. Từ giờ này, tôi quyết định bãi bỏ trạm quân cảnh...
- Xin phép trung tướng. – Luân nói vội vàng - Tốt nhất cứ để trạm quân cảnh. Có lợi cho an toàn của tôi hơn...
- Vậy cũng được, họ sẽ chuyển sang nhiệm vụ trái ngược với nhiệm vụ trước kia.
- Cám ơn trung tướng!
Luân ngỡ rằng tướng Minh ra về, nhưng ông đến chỗ đặt điện thoại, quay số:
- Alô! Bộ quốc phòng đó phải không? Cho tôi nói chuyện với trung tướng Đôn... Tôi là trung tướng Dương Văn Minh.
Luân ngắm nghía Minh. Chọn nghề binh là một lầm lẫn, bây giờ làm Quốc trưởng, ông còn lầm lẫn hơn – Luân nghĩ về vị Chủ tịch Hội đồng quân nhân.
- Anh Đôn đó hả? Tôi, Minh đây... Để ngày mai làm việc với tướng Harkins, tôi đề nghị anh gặp đại tá Nguyễn Thành Luân trước... Tôi hỏi đại tá, tôi đang ở nhà đại tá. – Minh che máy – Anh Đôn hẹn anh ba giờ chiều nay, tại Bộ quốc phòng...
Luân gật đầu.
- Alô, đại tá thấy được. Đúng ba giờ... chào anh.
Tướng Minh cầm kêpi, chìa tay bắt chặt tay Luân. Luân tiễn ông ra xe, đứng nghiêm chào.
Cuộc gặp buổi chiều với tướng Đôn là chủ yếu để cả Luân và Đôn nghe sĩ quan tham mưu thông báo tình hình chiến sự. Đôn chưa có một dự kiến nào rõ rệt.
- Thôi, mai họp. Tùy tình hình, mỗi người cứ nói...
Tướng Đôn ngáp dài. Luân biết, những cuộc chơi thâu đêm trác tác đang tiêu hao sức lực của viên tướng nổi tiếng hào hoa này, nhất là khi lệnh cấm khiêu vũ của Trần Lệ Xuân bị bãi bỏ...
Cuộc họp với tướng Harkins thì lại phức tạp. Phức tạp không từ Harkins mà từ viên trợ lý của ông tướng Westmoreland. Westmoreland nói không úp mở: cần đưa thực binh Mỹ vào Nam Việt mới mong chống đỡ Nam Việt tránh khỏi bị Cộng sản tràn ngập. Ông ta không nói rõ quân số cần thiết là bao nhiêu, nhưng lập luận của ông ta như sau: Thời kỳ chỉ hạn chế sự có mặt của Mỹ ở hình thức cố vấn và một số đơn vị yểm trợ đã lạc hậu trước thực tế.
Tuy là phó của Harkins, Westmoreland lại tỏ ra trên vai vế chủ tướng của mình. Harkins nói rất ít.
- Các ông bớt bàn chuyện chính trị đi, chuyện chính trị này để các nhà chính trị lo, các ông là sĩ quan cấp tướng, chuyện của các ông là đánh giặc... - Westmoreland nói xả vào mặt Đôn như vậy.
- Thưa tướng quân, – Luân thấy đến lúc phải lên tiếng – Tất nhiên, tướng phải cầm quân, song, như tướng quân thấy số quân sỹ mà tướng quân nhắc chắc cao hơn số 20.000 hiện diện – chính là do sai lầm về chính trị mà ra...
- Tôi không nghĩ khác đại tá, – Westmoreland gật đầu - Cả tướng quân Harkins, tướng quân Jones Stepp có mặt ngày hôm nay, chúng tôi phản đối đảo chính và phản đối cách xử trí với ông Diệm, ông Nhu... Chính các ông - Tướng Westmoreland ngó thẳng tướng Đôn, tướng Thiệu – Chính các ông lật đổ tổng thống của mình. Bây giờ người Mỹ phải hứng hậu quả tai hại đó... Nhưng, đại tá Luân thân mến, ngày hôm qua là ngày hôm qua... Ta phải nói những gì thuộc ngày hôm nay và ngày mai. Luyến tiếc quá khứ là không xấu, song, quên hiện tại và tương lai là có tội... Đại tá đồng ý chứ? Hơn nữa, chúng ta là quân nhân, quân nhân chỉ biết chấp hành và chiến thắng...
- Cũng có nhiều cách đi đến chiến thắng! – Luân không chịu thua
- Đúng... Và chúng ta sẽ bàn cách đi đến chiến thắng! – Westmoreland tỏ ra là một tướng khá giỏi về khoa ăn nói.
- Bây giờ, tôi nghĩ là nên đi vào vấn đề kỹ thuật - Tướng Harkins lên tiếng – Tôi đề nghị thành lập một tiểu ban, danh sách tiểu ban sẽ do tướng Đôn và tướng Westmoreland trao đổi và thông báo.
Cuộc họp kết thúc. Luân hiểu rằng ngay tại cuộc họp này đã diễn ra cuộc bàn giao giữa Harkins và phụ tá của ông.
Luân rời phòng họp. Anh hy vọng tướng Harkins hay tướng Westmoreland sẽ mời anh ở lại.
Đúng, có lời mời đó, nhưng:
- Mời tướng Thiệu ở lại!
Westmoreland nói to.
Luân vừa về đến nhà, điện thoại reo – Mai Hữu Xuân hẹn gặp anh và muốn gặp ngay.
“Một cuộc hòa giải mới!” – Luân nghĩ.
Xuân, chỉ có một xe quân cảnh hộ tống, bắt tay Luân, ngồi xuống ghế và nói luôn:
- Tôi cho rằng chỉ có những tên ngu ngốc mới không đo lường hết tình thế nguy hiểm của Nam Việt và do đó, sự gắn bó giữa hai anh em có đầu óc càng cần phải thắt chặt... Tôi với đại tá vốn hiềm khích từ lâu, tôi không muốn giấu diếm... Song, mỗi thái độ chỉ thích hợp với mỗi thời kỳ, từ thù hóa ra bạn cũng như từ bạn hóa ra thù...
Xuân “vào đề” như ông ta tính toán sẵn. Trán bóng lưỡng, môi thâm, da ngăm, tướng Xuân - Ủy viên Hội đồng quân nhân, đô trưởng Sài Gòn - kẻ không phải một lần ra tay khử Luân đang ngồi “tâm tình” với anh! Luân phân biệt rõ tướng Xuân và tướng Minh. Minh thật thà và có ý thức dân tộc; Xuân là tên mật thám chuyên nghiệp. Song, Luân hiểu, hôm nay Xuân không nói dối - hoặc ít ra, ông ta thật thà một cách chủ động. Dung đã chuyển cho Luân ý kiến của lãnh đạo về thái độ cần phải có với gã này và không cần đợi ý kiến lãnh đạo, Luân cũng phân tích được vị trí của nhóm thân Pháp bấp bênh ra sao hiện nay.
- Trước hết, tôi muốn đại tá bỏ qua những thành kiến trước đây với tôi. Nếu cần, tôi xin lỗi đại tá, dù tôi tự biết mình không có lỗi mà chỉ làm theo ý hướng của mình...
- Dẫu vậy, vẫn chưa công bằng... - Luân nói chen, hóm hỉnh – Vì tôi chưa hề một lần toan tính xóa bỏ trung tướng...
- Đúng, đúng... - Xuân vồ vập – Đó là chỗ đại tá cao tay hơn tôi... Nhưng, nói cho cùng, cả đại tá và tôi đang còn sống, ngồi ngó mặt nhau.Chỉ mới hôm kia thôi, tôi chưa từ bỏ ý nghĩ loại bỏ đại tá... Nhưng, tôi chợt tỉnh ngộ: tôi lầm...
- Một cuộc hòa giải trên xác chết ông Diệm, ông Nhu. – Luân mỉa mai
- Đại tá hận thật hay hận giả? – Xuân tỏ ra không kém.
- Về việc giết người, tôi hận thật! – Luân nói, mắt long lên.
- Vậy, tôi xin lỗi đại tá lần nữa về việc đó... Chắc đại tá thông cảm. Nếu ông Diệm, ông Nhu thoát chết thì người đầu tiên bị cọp xé xác phải là tôi! Quy luật cạnh tranh sinh tồn mà!
Luân nghe cổ họng mình có cái gì lờm lợm, muốn nôn.
- Bây giờ, mọi việc xảy ra đều theo ước muốn của trung tướng...
- Không chắc! Người ta đang tính loại bỏ chúng tôi...
- Lại quy luật cạnh tranh sinh tồn chăng?
- Quy luật giạnh chỗ ngồi!
- Xin lỗi, tôi đứng ngoài vòng cuộc tranh chấp ghế đẩu đó.
- Nhưng, đâu chỉ có tranh chấp ghế đẩu! Đại tá là ai, định làm gì, xin đại tá đừng cho tôi là tên bị bịt mắt. Tôi hiểu đại tá gần như đại tá hiểu đại tá! Sở dĩ tôi đến đây là vì chuyện lớn... - Giọng của Xuân lạnh như nước đá.
- Cứ cho như trung tướng hiểu tôi đúng đi, nhưng trung tướng đang là Đô trưởng. Tướng Đính đánh bại ông Diệm nhờ chức Tổng trấn Sài Gòn đó!
- Đại tá quả sành đời. Song hoàn cảnh của tướng Đính và tôi không giống nhau. Tổng trấn và Đô trưởng đâu thể ngang hàng nhau về quyền binh...
- Trung tá Savani không dặn trung tướng điều gì sao?
Luân nhứ một cú đấm như võ sĩ quyền Anh. Xuân tỉnh bơ:
- Có, song chính sách của Pháp còn lừng khừng...
- Trung tướng muốn gì ở tôi?
- Tôi muốn đại tá đừng đặt tôi vào vòng ngắm của đại tá. Trong những lúc thích hợp, chúng ta có thể dựa vào nhau mà hành động...
- Tôi đồng ý trên nguyên tắc. Nhưng, tôi e các ông không có đủ thì giờ...
- Tôi sẽ chạy thi với thời gian...
- Trung tướng đoán hướng nào đe dọa Hội đồng không?
- Tôi biết... Nguyễn Khánh và Nguyễn Văn Thiệu...
- Trung tướng định làm gì?
- Tiếc là ông Minh không mạnh tay. Tôi phải tự lo.
- Trung tướng lo với gã thiếu tá hay trung tá Hùng? Luân cười...
- À... - Xuân nhíu mày mấy giây - Nếu thằng đó khiến đại tá bực mình thì tôi sẽ làm cho đại tá hết bực mình, chúng ta coi như đã thỏa thuận...
Xuân chào từ biệt.
Hôm sau, báo chí đưa tin: Trên xa lộ, một tai nạn xe hơi rùng rợn: Trung tá Lê Đình Hùng chết khi xe ông tông phải một xe tải...
Luân đọc tin ấy mà rùng mình!

CHƯƠNG 6

Luân nhận quyết định của Bộ quốc phòng do tướng Trần Văn Đôn ký, giao cho anh nhiệm vụ Phó tổng thanh tra Quân lực Việt Nam Cộng hòa mà Tổng thanh tra là tướng Nguyễn Ngọc Lễ. Quyết định ký ngày 20-12, bốn ngày sau sắc lệnh 026 tịch thu tài sản của Ngô Đình Diệm – gia đình thuộc hạ gồm 21 người – và tài sản của đảng Cần Lao, Phong trào cách mạng quốc gia, Phong trào thanh niên cộng hòa, Phong trào phụ nữ liên đới, Hội Việt Nam cao đẳng giáo dục. Trong danh sách 21 người, không có Luân, Trần Trung Dung và tổng giám mục Ngô Đình Thục, Ngô Đình Luyện. Chủ tịch Phong trào cách mạng quốc gia Trần Chánh Thành cũng được bỏ qua, hơn nữa, ông ta đang đại diện cho chính phủ trong cuộc tiếp xúc với Sihanouk ở Nam Vang. Tất cả chỉ là một pha hình thức, không làm thì dư luận phản ứng mà làm thì phải tính đến mọi tế nhị của tình hình. Báo chí – Sài Gòn đã có đến 44 nhật báo – đưa tin với tít chạy suốt 8 cột, song không một bài bình luận nào ra hồn: cần phải tránh sự việc đụng chạm đến hàng vạn người đang giữ chức vụ rất cao...
Chế độ mới cố tạo một vỏ bọc khả dĩ mơ hồ dư luận. Thành Cộng Hòa, đại bản doanh của Liên binh phòng vệ cũ, chuyển sang Bộ giáo dục để xây dựng khu đại học. Đồng thời, chiều hướng ngược lại, sắc lệnh số 2 hủy bỏ lệnh bảo vệ luân lý - sản phẩm của Trần Lệ Xuân - với vài điều chỉnh: các tiệm khiêu vũ được mở cửa nhưng phải nộp thuế xa xỉ 200 đồng trên mỗi khách và mỗi lần, cấm vị thành niên vào quán nhảy... Hội đồng nhân sĩ được thành lập chính thức với 60 người.
Đã 60 ngày qua kể từ khi xảy ra cuộc đảo chánh, Sài Gòn và Nam Việt vẫn trong thế thả nổi...
Người khách không hẹn mà đến nhà Luân là bác sĩ Trần Kim Tuyến. Nghe Thạch báo tin ông ta, Luân mỉm cười. Gã mật vụ đang cố xoay song nghe chừng rất khó, nhất là sau khi Nguyễn Chánh Thi về nước. Thi căm Tuyến, nếu lột da được ông ta thì Thi cũng không run tay. Bộ hạ của Thi bị Tuyến đánh hàng loạt, số bị chết dưới gầm P.42 không ít. Em út Thi thúc giục Thi trả thù. Cái khó cho Thi là chiếc dù của Mỹ mà Tôn Thất Đính và Đỗ Mậu thừa hành lệnh che chở. Tuy nhiên, giới quân sự Mỹ không ưa Tuyến; Chủ tịch hội đồng quân nhân Dương Văn Minh phản đối việc tái lập cơ quan mật vụ, theo ông, mọi việc do Tổng nha cảnh sát, tình báo quân đội và trung tâm tình báo quốc gia đảm đương, khỏi cần thêm một tổ chức nữa, đặc biệt tổ chức mang tên Mật vụ ghê rợn.
Gã bác sĩ mật vụ thế nào cũng xì ra một mưu kế nào đó.
Đúng như Luân đoán, vừa bắt tay chủ nhà xong, Tuyến xổ liền một hồi:
- Đại tá nghĩ thế nào? Tình hình bát nháo, chẳng còn kỷ cương, mạnh ai nấy hành động, chia năm xẻ bảy... Cuộc đảo chính rốt cuộc sẽ đưa NamViệt về đâu? Tại sao không thành lập một chính đảng cầm quyền đủ sức lãnh đạo đất nước, tại sao không khôi phục hệ thống nòng cốt trong quân đội, tại sao không cho cơ quan mật vụ hoạt động? Tướng lãnh suốt ngày tán phét, chủ tịch ấm ớ, thủ tướng thì không dám có lấy một cái gật, một cái lắc đầu. Chết đến nơi rồi! Người Mỹ đang theo dõi, nếu chúng ta chẳng nên trò trống, họ sẽ bấm nút. Tôi tìm đại tá bởi trước đây chúng ta từng hợp tác và chia xẻ. Đảng Cần Lao, Quân ủy hay quá, phải không? Tôi muốn đại tá phác ra một phương hướng chính trị, một học thuyết thích ứng với đòi hỏi hiện tại. Tôi tin người Mỹ sốt ruột như tôi... Phó tổng thanh tra quân đội là bù nhìn! Chúng nó định vô hiệu hóa đại tá. Đại tá lại dưới quyền một thằng đại cù lần khác là Nguyễn Ngọc Lễ và cùng chức với một thằng đại cù lần khác là Phạm Văn Đổng... Tại sao đại tá lại nhận? Tôi biết nếu đại tá không nhận, chúng nó rối lên, sẽ mời đại tá ở cương vị khác, béo bở hơn, tư lệnh một chiến thuật hoặc một quân chủng, chẳng hạn...
Tuyến tuyệt nhiên không nhắc buổi chia tay trước khi gã rời Sài Gòn, nhận quyết định là Tổng lãnh sự ở Le Caire và không nhắc đến Tường, bộ hạ thân tín của gã bị Thạch bắn chết.
- Tôi tin là Hội đồng quân nhân sẽ giao cho bác sĩ một trọng trách. – Luân đợi Tuyến nói xong, chen vào một câu không ăn với chủ đề mà Tuyến đang hăng hái giãi bày.
- Không đâu! - Tuyến lắc đầu dứt khoát – Cái tôi đợi là hoặc vào khám hoặc lại ra đi, bây giờ không còn là đại sứ hay Tổng lãnh sự mà là một bí thư sứ quán...
- Chẳng thể như vậy được! – Luân cũng lắc đầu dứt khoát.
Tuyến cười héo hắt.
- Sao lại không thể như vậy? Tôi chẳng có ký lô nào trước các tướng lãnh.
- Nhưng, người Mỹ hiểu bác sĩ...
- Cũng không. Người Mỹ chỉ dùng tôi như một nhân viên quèn. Họ sợ!
- Sao lại sợ?
- À! Đại tá hỏi thật hay thăm dò? Người Mỹ cho rằng tôi hay lật lọng...
- Người Mỹ là quán quân của thói lật lọng!
- Đấy! Kỵ “jeu” mà! Tôi hối hận đã không chuẩn bị tư thế như đại tá... Tôi chỉ là tôi, không có thế lực...
- Tôi có lẽ còn tệ hơn bác sĩ. Chỉ có hai bàn tay trắng!
- Không, đại tá không qua mặt tôi nổi đâu. Đại tá là ai? Một Việt Cộng? Một CIA? Một Cần Lao? Tóm lại, là một người mà cả tướng lãnh Nam Việt lẫn Mỹ đều cần... Còn tôi? Tôi có một nhúm bộ hạ nay hầu hết quay lưng lại tôi. Nếu Mỹ định khử tôi thì một trong những bộ hạ của tôi sẽ nhận công việc đó, chỉ cần một số tiền kha khá. Tôi dựa vào Francisci...
Tuyết vụt cười giòn.
-... Mà tên buôn lậu này hẳn chọn đại tá chứ không chọn tôi!
- Tôi có cảm giác bác sĩ quá bi quan!
- Tôi chỉ nói sự thật... Sự thật bao giờ cũng chua xót! Tôi...
Tuyến ngập ngừng, đôi mắt cận chăm chăm vào mặt Luân.
- Tôi thổ lộ với đại tá đồng nghĩa với việc giao sinh mệnh cho đại tá... Liệu tôi có thể gởi sinh mệnh mình cho đại tá không?
- Nếu bác sĩ ngại... tốt hơn hết là không nên nói... - Luân trả lời ung dung.
- Tôi biết số xe của tôi đã bị ghi khi vào nhà đại tá... Thậm chí, chụp ảnh nữa. Bây giờ ở chỗ ông Chiểu hoặc chỗ tướng Stepp đã có các tài liệu về cuộc viếng thăm này...
Luân nhún vai.
- Tôi nghĩ là không có gì phiền nhiễu bác sĩ. Mỗi ngày, tôi tiếp hàng chục khách... Tướng Minh đã đến đây!
- Tôi biết! - Tuyến dồn dập – Chính tướng Minh đến nhà đại tá mà tôi biết người ta theo dõi mọi lui tới đây. Tôi xem bức ảnh chụp xe ông chủ tịch, tướng Đính cho tôi xem...
- Chẳng có sao cả, quân cảnh bảo vệ tôi!
Tuyến cười nửa miệng.
- Đại tá tin như vậy?
- Tất nhiên!
- Thôi, dù sao sự xuất hiện của tôi không còn bí mật, quân cảnh không báo cáo thì đại tá cũng báo cáo...
- Còn tùy... Báo cáo không phải chỉ mang bất lợi cho khách đến thăm tôi...
- Tôi nói thẳng! Tôi sửa soạn đảo chính! - Tuyến nói gọn gãy
Luân bình thản – anh không lộ một quan tâm đặc biệt trước tin kinh khủng này. Gã bác sĩ không nói đùa, anh biết.
- Đại tá hoài nghi?
- Tôi chưa nói gì cả...
- Tôi có một con bài... Đại tá cần biết không?
Luân cười hóm hỉnh.
- Tôi không cần biết!
Tuyến lột kiếng, lau lớp hơi mờ trên tròng, ngó Luân:
- Tại sao đại tá không cần biết?
- Vì tôi đã biết!
Tuyến gần như nhảy dựng:
- Ai thông báo cho đại tá? Tổng nha cảnh sát hay Jones Stepp?
- Chẳng ai thông báo cả... Tôi biết, vì tôi biết, thế thôi!
- Tôi không tin...
- Dễ kiểm tra thôi. Có phải “con bài” của bác sĩ là người này không?
Luân thấm ngón tay vào nước trà, viết hai chữ NK...
Tuyến sững sờ.
- Đại tá không phản đối?
- Tại sao tôi phản đối?
- Ngoài “con bài” đó, tôi còn một số con bài khác...
- Thôi, đủ rồi! – Luân ngắt lời Tuyến – Bác sĩ không nên đi quá xa...
- Thế là tốt, rất tốt! Đại tá không phản đối, không hành động chống lại, tôi yên tâm... Tôi xem đây là một đóng góp của đại tá. - Tuyến rối rít.
- Tôi chẳng đóng góp gì cả...
- Đó là đại tá nghĩ. Còn tôi, tôi phải nhớ...
Tuyến chào Luân ra về. Luân đóng cửa phòng, viết một báo cáo cho anh Sáu Đăng và A.07.
*
Với tư cách Phó tổng thanh tra, Luân tiến hành một cuộc thị sát, từ vùng I trở vào. Tình hình quân sự nói chung là xấu, khu vực mất an ninh ngày một rộng hơn, có nơi lan tận thị xã tỉnh lỵ. Cái nhìn chung đó khiến Luân vui. Thời cơ để quân giải phóng và quần chúng tấn công chính quyền vẫn còn, tuy không đồng loạt như năm 1960 song nguy hiểm hơn vì lần này lực lượng vũ trang cách mạng nắm khá nhiều súng, dân vệ tỏ ra bất lực và cả bảo an cũng không phải là đối thủ của họ. Quân chủ lực và tổng trừ bị bị điều như chong chóng. Các trận đánh quy mô tiểu đoàn khá phổ biến. Mỹ nhiều lần phải trực tiếp can thiệp, do đó, số thương vong Mỹ gia tăng.
Anh gặp Lê Khánh Nghĩa ở Tây Ninh. Sau đảo chính, Nghĩa được trả về Bảo an tỉnh. Cuộc tiếp xúc với viên chỉ huy Bảo an tỉnh giúp Luân hiểu thêm nhiều điểm mới – dù hai người toàn nói với nhau tiếng lóng. Luân tránh gặp riêng Nghĩa, tất cả các phiên làm việc đều công khai, các sĩ quan trợ lý của Luân có mặt cũng như các sĩ quan dưới quyền Nghĩa. Quân Giải phóng lấy Tây Ninh và Bình Long làm địa bàn chỉ huy; bộ chỉ huy miền Nam do tướng Trần Văn Quang phụ trách - lấy bí danh là Bảy Tiến – và tướng Trần Lương, bí danh Hai Hậu, phụ trách chính trị. Luân không quen hai tướng này. Nghĩa cho biết Trần Văn Quang người Thừa Thiên còn Trần Lương người Quảng Ngãi, Quang từng là Tổng tham mưu phó Quân đội Nhân dân và Lương, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần. Trung ương Cục miền Nam bấy giờ lấy tên là Ban chấp hành trung ương đảng Nhân dân Cách mạng, do Nguyễn Văn Cúc làm Bí thư. Võ Toàn tự Võ Chí Công, Phó bí thư, cũng đóng trên địa bàn này với Ủy ban trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng mà luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng đầu với các phụ tá cao cấp như bác sĩ Phùng Văn Cung, hòa thượng Thích Thượng Hào, giáo sư chủng viện đạo Thiên Chúa Joseph Marie Hồ Huệ Bá, thượng tọa người Miên Sơn Vọng, lãnh tụ đạo Cao đài phái Tiên Thiên Nguyễn Văn Ngợi, trung tá Bình Xuyên Võ Văn Môn... Đài phát thanh Giải phóng, Thông tấn xã Giải phóng, báo Giải phóng, đoàn văn công Giải phóng, xưởng phim Giải phóng... đều sử dụng biên giới Việt – Miên chạy từ đầu nguồn sông Vàm Cỏ Đông sau đầu nguồn sông Sài Gòn làm căn cứ. Lưu Khánh, nay xuống miền Tây Chmắc phụ trách tham mưu trưởng quân khu. Lê Khánh Nghĩa cố gắng thông báo tin đó với Luân, giọng nói và sắc mặt không thể thay đổi... Hẳn Nghĩa đã gặp cha trong một dịp nào đó và hẳn Nghĩa đang nhận nhiệm vụ.
Theo Nghĩa, sư đoàn bộ binh 13 vẫn không ổn. Luân hiểu là nội tuyến của ta tiếp tục phát triển trong sư đoàn này sau khi Phan Cao Tòng thôi chức sư trưởng. Nghĩa nhắc Luân nhớ Băng Trinh, vợ Cao Tòng mà nghề buôn lậu nhất định giúp cô ta giữ quan hệ cũ với các sĩ quan sư đoàn: một khả năng đáng khai thác; Luân trách mình quên bẵng vụ trại Lam Sơn bị quân giải phóng tiến công năm 1960 và vợ chồng Cao Tòng nhờ anh che chở.
- Tôi không thích chỉ huy bảo an. Tôi muốn nắm đơn vị chính quy, đánh nhau cho ra đánh nhau... - Lê Khánh Nghĩa bày tỏ nguyện vọng khi đã báo cáo xong với Luân, Luân hiểu ý định của Nghĩa từng nắm một trung đoàn thuộc sư 5 và trung đoàn đó nổi bật trong cuộc đảo chính – nó đánh thành Cộng Hòa, khuất phục Liên binh phòng vệ phủ Tổng thống.
Luân gật gù, gián tiếp cho Nghĩa biết là anh tán thành và sẽ nghĩ phương pháp giúp Nghĩa:
- Một nguyện vọng chính đáng. Tôi ủng hộ trung tá... Sư 13 được không?
- Cám ơn đại tá... Nếu sư 5 thì thuận hơn vì tôi đã quen với nó...
- Cũng tốt! Sư 5 án ngữ thủ đô, đó là sư cơ động...
Lê Khánh Nghĩa chiêu đãi cực kỳ long trọng Luân và đoàn tùy tùng một bữa ăn tối có đoàn ca nhạc rước từ Sài Gòn lên vui, có cả những màn thoát y. Luân thầm phục Nghĩa. Nếu tình báo nghi ngờ sự ủng hộ của Luân đối với Nghĩa – Luân sẽ đề nghị hội đồng quân nhân giao Nghĩa chỉ huy một trung đoàn hay chỉ huy phó một sư đoàn – thì đã có một biện hộ đắc lực: buổi tiệc lớn, màn thoát y và quà cáp mà mỗi người trong đoàn đều nhận...
Luân gặp Trương Tấn Phụng, bây giờ là Phó tỉnh trưởng nội an tỉnh Kiến Tường. Phụng không dự cuộc họp chính thức - chỉ có các sĩ quan bảo an và viên trung đoàn trưởng thuộc sư 7 báo cáo với Luân. Nhưng, Phụng mời Luân ăn cơm riêng. Bữa cơm không vui. Phụng thắc mắc đủ thứ chuyện. Tất nhiên, Luân càng giải thích, Phụng càng thắc mắc. Điều thắc mắc lớn nhất của Phụng là tại sao Mỹ thọc mó quá sâu vào nội tình Nam Việt và tại sao các tướng lãnh chưa vạch ra được đường lối thoát khỏi cuộc chiến bỉ ổi này – phía bên kia giương ngọn cờ Dân tộc còn phe Quốc gia thì mỗi lúc một lộ nguyên hình bù nhìn.
- Không rõ đại tá thế nào, phần em, em chán quá. Em không thể đâm thuê chém mướn, không thể nhìn đồng bào mình chết vô lối dưới làn bom đạn Mỹ. Ở Kiến Tường, nhóm sĩ quan Mỹ trịnh thượng không chịu được. Nhiều lúc em muốn bắn ráo mấy thằng chó đẻ đó rồi ra tòa án binh.
“Anh ta chỉ mới đi được một nửa chặng đường” – Luân nghĩ thầm – “Tại sao lại chịu ra tòa án binh mà không tính một ngả khác?”
- Có lúc em muốn nhảy sang phía bên kia... - Phụng giải đáp băn khoăn của Luân – Song, một là em sợ họ không tin, em vừa sĩ quan, vừa có đạo, giống như đại tá; hai là ra bưng với hai tay trơn, ăn thua gì... Hồi nắm quân, em chưa nghĩ đến khả năng này, bây giờ làm tới chức nội an, chẳng có một mống binh tôm tướng cá. Ngán quá trời!
Giọng của Phụng kéo dài não nề. Đây là một Phụng khác hẳn: trước kia, một chú học sinh ngờ nghệch, đâu có lối nói ngang, pha “anh chị”. Cũng dễ hiểu. Mặt Phụng rắn rỏi hẳn. Mưa nắng Đồng Tháp Mười cùng bao biến động đột ngột, dữ dội hẳn trên gương mặt hết còn những sợi lông măng.
- Theo đại tá, tình hình rồi sẽ ra sao?
Trương Tấn Phụng hỏi Luân một câu mà anh không biết phải trả lời như thế nào cho ổn.
- Chiến tranh sẽ ác liệt hơn... - Luân lựa lời.
- Mỹ đánh với người Việt chúng ta?
Luân nhún vai:
- Mỹ và cả những người mang quân phục giống tôi là người Việt...
- Thật vô lý!
- Vô lý... Đúng rồi... Song chúng ta quen với mọi thứ vô lý không phải mới có hôm nay...
- Tôi không đồng ý với đại tá! - Phụng không xưng “em” nữa - Phải làm cho cái vô lý thành có lý!
Luân cười mỉm.
- Nhưng, như trung tá nói... Một tỉnh phó nội an biến cái vô lý thành có lý e quá sức chăng?
Phụng ngồi thừ khá lâu:
- Em xin chuyển vị trí...
Một lúc sau, Phụng hỏi Luân:
- Còn đại tá? Đại tá bằng lòng với chức Phó tổng thanh tra sao?
Luân không trả lời, anh nghĩ đến Mai – đây là một đầu mối tốt, nếu Mai móc nối được và nếu Phụng ra đơn vị.
- Em không bao giờ quên những bài viết của đại tá. Em mong đại tá đừng quên chúng!
Câu từ giã của Trương Tấn Phụng chẳng khác gì một lời khuyến cáo. Luân buồn buồn bắt tay Phụng. Những người như Phụng không ít, song làm sao vạch cho họ con đường đúng và liên kết họ lại với nhau.
- Trung tá vẫn gặp trung tá Lê Khánh Nghĩa chớ? – Luân hỏi.
- Lâu rồi em không gặp... Đại tá nhắc, em sẽ phone cho nó...
*
Nguyễn Thành Động gặp Luân sôi nổi hơn hai người kia... Động không úp mở và có lẽ Động cũng ít nhiều hiểu quan điểm của Luân nếu chưa hiểu thân phận của anh.
- Tụi “tả pí lù” này không quét thì chớ hòng xã hội sạch sẽ. Toàn là vi trùng gônô, dầu chích một tấn pêni cũng không ăn thua. Đại tá chắc không rành bệnh giang mai, khi nó đã vô máu rồi thì thịt loét, xương nục, mùi thối không chịu nổi, chỉ cần ngồi gần cũng bị lây. Tôi không dại chịu chết chùm với chúng nó. Ông Diệm ba trợn, rõ ràng lắm, ông Nhu hiểm, càng rõ ràng hơn. Mụ Lệ Xuân khôn vặt... nhưng họ còn có cái gì đó để mình nể. Tới tụi thằng Đính, thằng Mậu thì tôi chào thua. Ông Big Minh không bao giờ có thể trở thành chính khách, tôi phục nhân cách của ông, mà Mạnh Thường Quân khác nguyên thủ quốc gia. Tôi đọc Đông Châu Liệt quốc, Mạnh Thường Quân bất quá nuôi được lũ bộ hạ làm gà gáy, chó sủa lúc túng cùng chứ làm sao cai trị được một nước. Quanh Big Minh toàn ma cô ma cạo. Thằng cha Mai Hữu Xuân thâm như cặp môi thâm của y ta nhưng thời buổi này chỉ bằng mẹo trẻ con. Mỹ cho nó một phát, chết không kịp ngáp! Chống Cộng kiểu nhảy đầm, vuốt đùi em út, tôi cá một ăn trăm, Cộng sản tràn ngập lãnh thổ, không có đất mà chôn... Thế là dọn sân bãi cho Mỹ nhảy vào, tụi mình thành partisan (1) ráo. Tôi thấy bọn sĩ quan Kiến Hòa đêm không đi nhậu mà học tiếng Anh, đánh lưỡi thật dẻo từ “All right” (2) giống thời tây học “Oui” (3). Đại tá thấy chán không? Cố vấn Mỹ là thá gì? Chúng nó dốt đặc cán mai vậy mà lên mặt ta đây! Thằng cố vấn bảo an Kiến Hòa mặt dài như mặt ngựa, lúc nào cũng nhai kẹo cao su, một tuần hai buổi giảng vể lý thuyết chiến tranh. Nó chê lính Việt nhát. Bữa nó giảng bài, ông Việt Cộng nào đó chơi ác, ném một lựu đạn về bên trong sở chỉ huy Bảo an, tụi tôi ngồi yên, thằng cố vấn đút đầu nó xuống gầm bàn, đưa mông lên trời, la như heo bị chọc huyết! Vậy mà sau đó, nó vẫn tiếp tục múa mỏ. Tởm thấy mẹ!
Nguyễn Thành Động vẫn ngang như thuở nào, song anh chẳng hiểu chính trị, yên chí chống Cộng là đúng mặc dù anh không làm gì để chống Cộng cả.
- Quét bằng cách nào? – Luân hỏi, hơi châm chọc
- Nếu tôi là đại tá, tôi đủ sức quét. Cần một sư đoàn, đảo chính gọn bân! Một tiểu đoàn vây bắt sạch Hội đồng quân nhân, một tiểu đoàn chiếm Bộ tổng tham mưu, một tiểu đoàn chiếm đài phát thanh. Dư hai,ba trung đoàn - chặn lối ra vào thủ đô, khống chế sân bay... Ba thằng tướng nhát như thỏ đế, tôi bắn thị oai vài loạt đạn, tụi nó té đái, té cứt, bò lổm ngổm, xin hàng.
- Rồi thôi sao? – Luân tiếp tục cười cợt.
- Tất nhiên phải có tuyên ngôn, tuyên cáo, phải có hội đồng, ủy ban, phải có chính phủ...
- Ai ra tuyên ngôn, tuyên cáo?
- Tôi thì không ra được. Thằng trung tá quèn này chỉ có mấy cô bán bar Trúc Giang biết đến. Đại tá ký tên... Cứ thăng nó lên đại tướng, thống chế, chết ai mà sợ... Ba ông Lào đảo chính lia lịa, đều đại tướng ráo. Kong Le là tướng rồi đó.
- Anh nói chuyện bằng trời mà như đùa!
- Đại tá nghĩ rằng đảo chính vào thời buổi này là nghiêm chỉnh sao? Trò đùa, tại sao ta không đùa chơi một phát? Tôi nghe phong thanh tay Dương Văn Đức hơi “mát” cũng tính đảo chính thử thời vận đó.
- Thế thì anh thử thời vận đi. – Luân cười vui.
- Tôi đâu có ngán... Nhưng Bảo an yếu xìu, thiếu xe tăng, thiếu máy bay. Nắm được một sư đoàn hỗn hợp, tôi đánh rốc vô Sài Gòn liền. Tôi “phơ” tụi thằng Mậu, thằng Thi; thằng Kỳ, thằng Đính... ngay chợ Bến Thành, kề súng vào mang tai tướng Minh bảo ra lệnh các vùng, các binh chủng đầu hàng, tôn đại tá lên ngôi Quốc trưởng...
- Anh sẽ nhận chức gì?
- Tôi chẳng nhận chức gì, trở lại với đám Bảo an Kiến Hòa ăn no, ngủ kỹ, giao ước với Việt Cộng đừng đụng tới thị xã...
- Thế làm sao anh chống Cộng được?
- Chống Cộng nghĩa là đất ai nấy ở. Tôi không lấn chiếm vùng kiểm soát của Việt Cộng, Việt Cộng đừng phá tôi... !
- Tương lai sẽ ra sao... Đâu thể giữ công thức đó lâu dài mãi được...
- Thây kệ, tới đâu hay tới đó...
Luân biết Động chưa có chủ đích chính trị, anh ta bực bội và có thể anh ta manh động. Nhưng Luân không tiện nói nhiều, Nguyễn Thành Động khác Trương Tấn Phụng - Phụng suy nghĩ cân nhắc còn Động thì bốp chát. Hễ ai đảo chính thì anh ta theo... Đành phải để thời gian giúp kinh nghiệm cho anh ta. Chỉ ngại anh ta lốp bốp, chưa chi đã phải ra tòa án binh...
Luân lựa lời khuyên Động, nhẹ nhàng thôi:
- Tôi biết bọn chó săn đầy chợ Bến Tre. Kệ tổ tụi nó, thằng nào ló mòi, tôi tống giam, lên gối cho hộc máu... Ngay tụi cố vấn Mỹ có ngày cũng bị tôi. Tôi đã tát tai một thằng vô văn phòng tôi mà gác chân lên bàn.Tụi nó làm um xùm, thằng Trần Ngọc sợ, tôi cho bố trí một chục khẩu đại liên ngay cửa, tụi nó đến lấc cấc, tôi bắn! Tụi nó ngán, im re...
Luân lắc đầu thở dài. Tại sao Bộ quốc phòng chưa lột lon Nguyễn Thành Động? Luân hơi lạ, có thể Sài Gòn quá bận rộn với việc khác - những tướng ghét Động không đủ thời giờ nhòm ngó một tỉnh nhỏ và hẻo lánh như Kiến Hòa, những tướng khác có khi ngầm tán thành Động. Nhưng, chắc chắn Mỹ sẽ không bỏ qua đâu.
- Tôi khuyên trung tá bớt nói, dè dặt vẫn hơn.
- Cám ơn đại tá... Nhưng, tôi hiểu không sai chạy một ly: các cha nội Hội đồng quân nhân lo thân chưa xong, tụi Mỹ lo canh đám sớm đầu, tối đánh, hồ sơ của tôi nếu có, xếp ở dưới chót. Hội đồng đến khi bị phơi áo cũng chưa rờ tới nó... Sức mấy mà Hội đồng nhớ tới tôi.
- Anh dám lập: “Cộng hòa Kiến Hòa” lắm! – Luân vỗ tay Động.
- Tôi có một giang đội mạnh, vài chục máy bay chiến đấu, một chi đoàn thiết giáp, một trung đoàn súng cao xạ và pháo tấn công thì tôi dám kéo cờ tuyên cáo Kiến Hòa là Lương Sơn Bạc với tấm biển tổ bố: Thế thiên hành đạo! Mà, phải mời đại tá ngồi ghế của Tống Giang... Nói giỡn, chớ Bến Tre nhỏ quá... tôi đã làm đơn xin chuyển về Định Tường hoặc Long An, lý do vợ con tôi ở Tân Hương...
- Đâu có! Tôi biết mà...
- Đại tá biết tôi chưa lập gia đình, song Bộ Tổng tham mưu thì biết mẹ gì.”Bồ” của tôi ở Tân Hương thiệt...
Tay Động thật lanh chanh quá, Luân không mấy phấn khởi khi rời Kiến Hòa...
---
(1) Lính ăn theo, thân binh
(2) Chí lý – tiếng Anh
(3) Vâng, dạ - tiếng Pháp

CHƯƠNG 7

Thế là năm 1963 trôi qua. Noel, một ngày buồn, và tết dương lịch còn buồn hơn. Buổi tiếp tân đầu năm của Quốc trưởng tại dinh Độc Lập, tuy đủ mặt ngoại giao đoàn, song không những ly sâm banh không hâm nóng nổi không khí chung mà những nhà chính trị thành thạo chờ một cái gì đó bùng nổ tiếp sau cuộc đảo chính. Đại sứ Cabot Lodge, vẫn tỏ vẻ mãn nguyện - chỉ mãn nguyện bề ngoài, vì người ta đôi lúc bắt gặp ông ta phân tâm, như đăm chiêu suy nghĩ về một bài toán khác bắt đầu hình thành trong ông. Đại sứ Pháp thản nhiên – cũng bề ngoài nốt, ông ta không phải không biết âm mưu bài Pháp sắp được công khai hóa, sự răn đe của người Mỹ với bộ sậu của tướng Minh! Mỹ lật Bảo Đại, tấn phong Diệm là hất cẳng Pháp, họ không thích cái trò luẩn quẩn ấy tái hiện. Mỹ lật Diệm và tấn phong Dương Văn Minh nhất thiết không có nghĩa phe thân Pháp ngoi lên và phục thù. Trong lúc chúc mừng Quốc trưởng nhân dịp đầu năm, Cabot Lodge nói ngắn, và nói vừa đủ cho mọi người nghe:
- Thưa trung tướng Chủ tịch, tôi hân hạnh thay mặt chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ khi tống tiễn năm cũ về quá khứ và đón năm mới, chúc trung tướng Chủ tịch, toàn thể Hội đồng quân nhân, chính phủ và dân chúng Việt Nam Cộng hòa những ngày tháng sắp tới đầy hy vọng. Với chúng ta, thành viên của thế giới tự do, chúng ta chịu ân sủng của Thượng đế và bằng lòng với sự an bài của Thượng đế. Hôm qua là hôm qua. Nền dân chủ mà chúng ta hy sinh để bảo vệ sẽ hướng về phía trước cũng như Việt Nam Cộng hòa mãi mãi đứng vững trên tư thế tiền đồn của thế giới tự do, không ai có thể quay ngược bánh xe lịch sử. Chủ nghĩa thực dân gây đau khổ cho dân chúng quý quốc, chế độ gia đình trị cũng như thế. Bây giờ Việt Nam Cộng hòa giành được một triển vọng tốt đẹp, nó đảm bảo sự nghiệp chống Cộng đạt thắng lợi. Chừng nào Việt Nam Cộng hòa kiên định lý tưởng tự do và chống Cộng không ngả nghiêng thì chừng đó Hoa Kỳ sát cánh với các bạn.
Rõ ràng Cabot Lodge cảnh cáo tướng Minh và nhắn khéo chính phủ Pháp. Ý này bộc lộ trắng trợn khi ông ta chạm cốc với tướng Minh:
- Trung lập là nạn dịch nguy hiểm!
Trung tướng Quốc trưởng ít cười, trừ những lúc bắt buộc phải cười. Không thông thạo lắm về chính trị, song ông hiểu rằng trò chơi vừa ở pha khởi sự, vai trò của ông và đồng sự bấp bênh như thế lực thật của các ông. “Tay đại sứ Pháp yếu quá!”. Đó là nhận xét của trung tướng Chủ tịch, nhận xét thầm thôi.
Quốc trưởng nói còn ngắn hơn Cabot Lodge và ông đã khiến đôi mày của vị đại sứ Mỹ nhíu lại một cách lộ liễu.
- Thưa các vị đại sứ và đại diện ngoại giao, nhân đầu năm theo Tây lịch, tôi cám ơn tất cả các vị đã đến chúc mừng Hội đồng quân nhân cách mạng, chính phủ Việt Nam Cộng hòa và cá nhân tôi. Tôi xin chúc các vị, quý mến và quốc gia mà các vị đại biểu một năm mới tốt đẹp. Việt Nam Cộng hòa vừa trải qua cơn xáo trộn.Chúng tôi đang cố gắng khôi phục để tình hình trở lại bình thường. Nguyện vọng của nhân dân chúng tôi là được sống trong thanh bình và tình huynh đệ. Về ngoại giao chúng tôi hy vọng liên kết với mọi quốc gia theo nguyên tắc bình đẳng, không can thiệp vào nội bộ, mỗi quốc gia giữ nếp sống chính trị và văn hóa riêng mà mình lựa chọn. Xin mời các vị cạn ly!
Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa không nhắc, dù một lần, quyết tâm chống Cộng, không lên án Bắc Việt, không cám ơn Hoa Kỳ, không chúc sức khỏe tổng thống Johnson, không ca ngợi đại sứ Mỹ - tác giả của cuộc khuynh đảo đưa Big Minh lên sân khấu. Tất cả những người có mặt đều thấy thái độ giận dỗi của Cabot Lodge lúc kết thúc buổi tiếp tân – ông ta cố ý nện mạnh gót giầy lên bậc thềm...
*
Một “điều chỉnh” nhỏ năm hôm sau buổi tiếp tân ở dinh Độc Lập. Văn phòng Hội đồng quân nhân ra thông báo mà không kèm theo một lời giải thích: Trung tướng Tôn Thất Đính từ Tổng trưởng an ninh chuyển sang Tổng trưởng nội vụ, thiếu tướng Đỗ Mậu làm Tổng trưởng thông tin thay thiếu tướng Trần Tử Oai, trung tướng Trần Văn Đôn thôi Tổng trưởng quốc phòng mà lĩnh chức Tổng Tư lệnh quân đội.
Cuộc điều chỉnh tất nhiên có dụng ý. Không còn Bộ An ninh mà chỉ còn Bộ Nội vụ - công việc an ninh bỏ ngỏ trong khi chờ đợi một Tổng cục trưởng tình báo; Đỗ Mậu lẽ ra giữ một trọng trách hơn Bộ thông tin; Tổng tư lệnh chỉ là danh nghĩa dành cho tướng Đôn, cũng như Tổng tham mưu trưởng dành cho tướng Kim. Riêng Trần Thiện Khiêm vớ được chỗ béo bở: Quân đoàn III và vùng III khống chế thủ đô, nơi mà tướng Đính đã sử dụng binh lực làm đảo chính.
Cabot Lodge dí các quân cờ. Tán thành hay không, tướng Big Minh cũng phải ký một quyết định mà thế của ông qua đó đã mỏng càng thêm mỏng.
Hai dấu hiệu khác mang ý nghĩa báo động: đám tang Nhất Linh Nguyễn Trường Tam bỗng biến thành cuộc biểu tình chống trung lập – cái chết của Nhất Linh dù ai giàu tưởng tượng đến mấy cũng không thể cột nó với ý nghĩa phản đối thuyết trung lập: Ngân hàng quốc gia bỗng công bố giá vàng từ 6.200 đồng đến 6.500 đồng một lạng, kéo theo giá hối đóai đồng bạc so với đồng dollar Mỹ.
*
Dung lái xe, thong thả chạy qua chùa Xá Lợi. Cờ phướn rợp cổng chùa, nơi tiến hành Đại hội thống nhất Phật giáo. Ngôi chùa từng là địa điểm xung đột đẫm máu mấy tháng trước nay trang hoàng rực rỡ. Cờ Phật giáo uốn lượn trước cơn gió nhẹ trên từng chiếc cột dài theo đường Bà huyện Thanh Quan. Có vẻ như cuộc tranh chấp xung quanh quyền treo cờ đã kết thúc mà thắng lợi thuộc về giới Phật tử. Nhưng lẽ nào về chuyện treo cờ tôn giáo mà một triều đại phải sụp đổ? Tất cả chỉ là cái cớ. Ngô Đình Diệm chọn cái cớ “phải tôn trọng quốc kỳ” để ngăn ngừa một nguy cơ đối với chế độ của ông ta.
Những người theo đạo Phật bình thường - họ chiếm số đông và rất thành tâm - dồn nỗi uất ức chế độ Ngô Đình Diệm lên cái cớ “không được treo cờ” họ được hàng triệu người không theo đạo Phật ủng hộ, đây là lực lượng chủ công trong trận đánh chính trị đầy gian khổ qua vô vàn hy sinh và tiểm ẩn trong họ ý thức chống Diệm đồng nghĩa với chống Mỹ xâm lượng, chống Mỹ gây chiến tranh, chống Mỹ hủy hoại đạo lý dân tộc... Giới cầm đầu Phật giáo cũng không đồng nhất; bộ phận chân tu đau lòng trước cơn pháp nạn, ít nhiều hiểu Ngô Đình Diệm là cái bóng của Mỹ, do Mỹ đặt để chống Diệm, tức chống một phần chính sách của Mỹ, họ không hứng khởi vì chỗ treo của một lá cờ, họ băn khoăn vận nước song họ không đủ nhạy bén chính trị, ít tháo vát, ít mưu lược; bộ phận cực đoan dùng phong trào Phật giáo như chiếc bình phong để đạt ý đồ chính trị, hễ Phật giáo trở thành “quốc giáo” thì họ là chúa tể của mảnh đất này, nắm quyền lực tinh thần lẫn vật chất, đổ máu hay cái gì khác không khiến họ bận tâm, họ sẵn sàng đưa hàng chục vạn sinh mệnh tín đồ mặt quân phục Mỹ và chấp nhận vượt vĩ tuyến 17. Họ dính dáng với tình báo Mỹ và các đảng phái do tình báo Mỹ tài trợ, họ căm thù Cộng sản và những cái do Cộng sản đẻ ra: giải phóng đất nước, xây dựng Tổ quốc... Bộ phận đứng giữa gồm số người lừng chừng, không có chủ đích, đánh đồng Mỹ và Cộng sản, họ lại bị số cơ hội chủ nghĩa nhiều tham vọng cầm đầu, những kẻ dùng mọi đối địch để giành quyền chế ngự cả đạo lẫn đời... Liệu Đại hội thống nhất Phật giáo dung hòa nổi các mâu thuẫn nội tại gay gắt này không? Khả năng phái chân tu bị cô lập thì đã rõ. Một Thích Thiện Hoa, một Thích Thiện Luật, một Thích Trí Tịnh, luôn cả Thích Thịnh Khiết, Thích Đôn Hậu, Thích Trí Thử; khó mà chi phối những Thích Tâm Châu, Thích Tâm Giác, Thích Đức Nghiệp “sát máu”, được Thích Nhất Hạnh quỷ quyệt nhằm hỗ trợ. Quyền bính thực sự sẽ lọt vào tay số ăn tiền Mỹ... Quần chúng bị lừa gạt trước những ngọn cờ Phật uốn lượn trong gió, không trong khuôn viên nhà chùa mà ngoài quan lộ này. Những hy sinh lớn lao của Phật tử rốt lại chỉ gắn lên cầu vai một số thượng tọa, đại đức quân hàm sĩ quan Tuyên úy, nhằm trang bị cho một số người cầm đầu những gian phòng lộng lẫy có máy điều hòa nhiệt độ, những chiếc ô tô sang trọng, và tệ hại hơn, những cô gái mơn mởn cùng tài khoản nước ngoài tính bằng dollar...
Dung theo đuổi ý nghĩ cho đến khi xe cô dừng lại đầu đường, nơi giáp với đại lộ Hồng Thập Tự.
Ngôi nhà mà Dung tìm đây rồi. Một biệt thự kiểu mới. Dung bấm chuông.
Người tiếp Dung là Lưu Thị Băng Trinh, vợ của thiếu tướng Phan Cao Tòng, trưởng quân tiếp vụ - nguyên sư trưởng sư 13. Mặc dù cách nhau hơn ba năm, Băng Trinh vẫn không thay đổi, có lẽ chuyến đến thăm của Dung hơi đột ngột nên Băng Trinh không được bình tĩnh lắm. Qua vài lời chào hỏi và cử chỉ của Băng Trinh, Thùy Dung khẳng định rằng Băng Trinh vẫn như xưa, vẫn thật thà...
- Em không ngờ gặp bà... Tụi em định thỉnh thoảng đến chào ông bà, nhưng ngại quấy rầy ông bà, anh Tòng của em thường nhắc ông bà, nhắc cái ơn lớn đó, mà ảnh dặn em, đại tá nghiêm lắm. Thôi mình nhớ ơn thì để bụng, nay thăm mai viếng e đại tá không bằng lòng...
- Ơn nghĩa gì mà chị nhắc. – Dung ngắt lời Băng Trinh – Ông thiếu tướng vắng nhà?
- Dạ, anh Tòng của em bữa nay đi thăm ông Chiểu... họ là bạn bè thuở xưa... Ông Chiểu sắp lãnh một bộ nào đó...
- Chị có hay về quê không? – Dung hỏi như tình cờ.
- Dạ có,... em lên Tây Ninh thăm anh Nghĩa... - Băng Trinh xởi lởi
- Công việc làm ăn của chị thế nào?
- Cũng tàm tạm. Cơ sở nuôi bò của em vẫn ở chỗ cũ...
Câu chuyện từ chỗ thù tiếp xã giao chuyển dần sang các nội dung cao hơn. Bây giờ Thùy Dung tin chắc mình gặp Băng Trinh là đúng. Băng Trinh liên hệ chặt với Lưu Khánh Nghĩa, đã xuống rừng U Minh thăm Lưu Khánh - những khám phá gián điệp của Dung bởi Băng Trinh tin Dung mà lộ ra.
“Cô ta nhất định nhận nhiệm vụ gì đó của các đồng chí” – Dung đi đến kết luận. Phần Phan Cao Tòng, qua Băng Trinh, Dung hiểu ông ta mù tịt việc làm của vợ, bản thân lo làm giàu: nghề quân tiếp vụ luôn mang tiền vô như nước, tuy vậy, Tòng không phải loại chống cách mạng – ông ta an phận thủ thường, Băng Trinh quan hệ rộng với các sĩ quan, trong đó Dung chú ý Lê Đạo, quê Quảng Bình, nguyên trưởng phòng an ninh sư đoàn 13, người từng thảo một báo cáo bịa đặt trong vụ hậu cứ sư đoàn 13 bị tấn công năm 1960 – và Luân còn giữ báo cáo đó. Hiện nay, Đạo hàm trung tá, sĩ quan sư đoàn 5 thuộc Bộ tổng tham mưu, chuyên theo dõi tình hình vùng II. Có thể dùng tài liệu này mà khống chế Lê Đạo không? Dung đắn đo mãi. Sau cùng cô nghĩ tốt nhất nên đưa tài liệu đó cho Lê Khánh Nghĩa – cô sẽ gửi bản sao theo đường bưu điện mà không cần nhắc nhở gì, tự khắc Nghĩa sẽ hiểu ra công dụng của nó và tìm cách sử dụng có lợi nhất.
Dung gặp Băng Trinh để cốt xác định giả thiết của Luân và thăm dò thử thực lực Nghĩa nắm – cô yên tâm: Nghĩa tạo được chân rết khá rộng, và trong mọi hoàn cảnh nào, Nghĩa cũng yểm trợ được cho Luân.
Tìm Mai khó hơn tìm Băng Trinh. Báo “Ngôn luận” và “Người Việt tự do” đăng ở mục rao vặt: nhắn bà Đào, nguyên tiếp viên hàng không Air Việt Nam, trước ở đường Trần Hưng Đạo để thương lượng vụ mua nhà. Hỏi chị Cả, có thể liên lạc bằng điện thoại mà bà đã biết.
Luân và Dung không dám mạo hiểm đến nhà chị Cả. Họ cũng ít hy vọng gặp được Mai - từ sau vụ đánh bom dinh Độc Lập đến nay đã lâu, không rõ Mai còn ở thành phố hay đã ra Khu. Báo đăng ba kỳ liền, chẳng thấy động tĩnh gì.Họ bắt đầu nghĩ đến phương pháp khác. Báo cáo với anh Sáu Đăng...
Đến một tuần lễ sau, vào buổi trưa, điện thoại reo. Mai hẹn gặp Luân.
Mai hóa trang người xin làm việc vặt đến nhà Luân. Dung tiếp Mai ngoài hiên. Mai đang ở chiến khu, đọc báo biết có việc cần, vừa vào thành phố hôm qua. Dung thông báo liền tình hình Nguyễn Thành Động và Trương Tấn Phụng. Mai nghe rất chăm chú. Trả lời câu hỏi của Dung về tướng Đức, Mai lắc đầu: chưa đặt được một quan hệ nào tốt. Nhưng về tướng Lâm thì Mai mỉm cười, Dung có thể hiểu là chị của tướng Lâm đã tiếp xúc với ông ta và tin cậy được.
*
Tình hình mâu thuẫn tôn giáo ngày mỗi căng thẳng – ít nhất, cái vẻ bề ngoài cho họ cảm giác như vậy. Bộ Nội vụ ra một thông báo kêu gọi dân chúng đừng nghe theo các tin tức kích động, không hề có xung đột tôn giáo. Tuy nhiên, tại tỉnh Bình Tuy, quận trưởng Tánh Linh nổ súng, bắn chục tín đồ Thiên Chúa giáo bị chết, nhiều người bị bắt. Đây là số dân dinh điền võ trang gậy gộc không chịu cho quận trưởng khám xét - quận trưởng được mật báo dân dinh điền tàng trữ thuốc nổ và truyền đơn chống chính phủ. Một phái đoàn từ Sài Gòn ra Tánh Linh điều tra theo yêu cầu của một số linh mục. Giáo hội Phật giáo bầu Thích Tâm Châu làm Viện trưởng Viện Hóa đạo, cơ cấu giáo hội cải tổ hoàn toàn với hệ thống và chức danh na ná một bộ máy nhà nước - quyền hành pháp thuộc Viện Hóa đạo.
Dấu hiệu đầu tiên về cơn rối loạn mới xuất hiện với cuộc biểu tình gượng ép: một số sinh viên, học sinh do ai đó giật dây xuống đường chống thuyết trung lập, nhân ông Basdevant, Giám đốc Viện Văn hóa Pháp thăm Sài Gòn. Trước đó mấy hôm, chính phủ Pháp quyết định công nhận chính phủ Bắc Kinh và lập quan hệ ngoại giao với cấp đại sứ. Chính phủ Sài Gòn không nhận tân đại sứ Pháp Du Gardier vì ông này từng làm đại sứ Pháp ở Cuba? Đà chống Pháp và chủ trương trung lập mở rộng, tất nhiên hoàn toàn giả tạo. Hội đồng nhân sĩ lên án “mưu toan trung lập hóa Nam Việt”, chính phủ tuyên bố sẽ có biện pháp mạnh đối với Pháp. Hội đồng nhân sĩ kêu gọi chính phủ đoạn giao với Pháp; Bộ Kinh tế cấm nhập hàng Pháp, không cấp hộ chiếu nhập cảnh cho người Pháp và mang quốc tịch Pháp, sinh viên yêu cầu chính phủ quốc hữu hóa tài sản của Pháp...
Dư luận hiểu biết chính trị đoán rằng bức màn khỏi nói trên mào đầu cho một cú gì đó.
*
Cuộc điện đàm trưa ngày 29-1-1964
- Alô! Tôi xin được nói chuyện với trung tướng Tổng tư lệnh quân đội!
- Ai đó?
- Tôi, đại tá Nguyễn Thành Luân...
- Trung tướng đang nghỉ trưa...
- Tình hình rất xấu, tôi muốn hầu chuyện gấp với trung tướng...
- Không thể được. Đại tá không biết sáng nay trung tướng vừa làm lễ cưới không chính thức với một nghệ sỹ tên tuổi sao?
... ..
- Alô! Tôi xin nói chuyện với trung tướng Tổng trưởng nội vụ
- Ai đó?
- Tôi, đại tá Nguyễn Thành Luân...
- OK... Đợi một phút...
- Allo! Đính đây. Việc mô mà đại tá gọi?
- Trình trung tướng, theo các nguồn tin chắc chắn, một cuộc động binh lớn đã âm thầm diễn ra...
- Một cuộc động binh lớn? Mần răng có chuyện đó? Quân ở đâu?
- Quân ở quân đoàn II, kết hợp với thiết giáp...
- Này, đại tá định đánh một đòn gì đấy?...
(tiếng ngáp và tắt máy)
- Allo, tôi xin nói chuyện với trung tướng Mai Hữu Xuân
- Tôi đây, ai đó, việc gì?
- Thưa, tôi là đại tá Nguyễn Thành Luân... Tôi nghĩ rằng đang có một cuộc sửa sọan đảo chính...
- Tôi cũng nắm được một số tin tức... Tôi sẽ trao đổi với Hội đồng quân nhân... Đại tá nên báo ngay với trung tướng chủ tịch...
... .. .
- Alô, tôi xin gặp trung tướng chủ tịch...
- Ai đó?
- Tôi, đại tá Nguyễn Thành Luân...
- Chào đại tá, tôi là thiếu tá Nhung. Xin đại tá chờ một chút
- Alô, Minh đây! Có việc gì, anh Luân?
- Thưa, đang có một cuộc bố trí quân... Tôi nghĩ đến khả năng đảo chính...
- Vậy ư? Quân của ai?
- Của tướng Nguyễn Khánh...
- Chà, chà!
- Xin trung tướng chủ tịch phát lệnh báo động...
(Im lặng một lúc)
- Đại tá liên hệ với đại sứ quán Mỹ chưa? Với tướng Jones Stepp chẳng hạn...
- Thưa, chưa...
(Lại im lặng)
- Nếu người Mỹ cho phép, dẫu tôi báo động cũng như không!
- Tôi chỉ có trách nhiệm báo với trung tướng chủ tịch... Mọi quyết định do trung tướng.
- Cám ơn anh. Để tôi suy nghĩ... Tôi phải trao đổi với tướng Đôn, Đính, Kim và Xuân...
- Tôi nghĩ rằng mục tiêu mà ông Khánh nhắm là chủ tịch và các vị tướng mà chủ tịch vừa nhắc.
- Có thể! Cảm ơn anh...
... - Allo, có phải anh Luân đó không?
- Anh đây! Saroyan, anh nghe...
- Ngày nay, ngày mai anh không được ra khỏi nhà. Bảo Dung không đi làm, bé Lý không đi học... Anh hiểu em nói gì chứ?
- Hiểu... Jones thông báo với anh phải không?
- Có thể hiểu như vậy...
- Cám ơn Saroyan...
- Anh nhớ! Không ra khỏi nhà!
- Anh nghe rõ...

CHƯƠNG 8

Đêm 16 tháng Chạp, năm Quý Mão, như mọi đêm trôi qua, còn nửa tháng nữa là Tết, dân chúng hy vọng năm Giáp Thìn sẽ dễ chịu hơn - những biến động 3 tháng qua đã xáo động không ít đời sống của dân chúng, nhất là giá cả. Vả lại mọi thứ đều chưa có vẻ gì vô nề nếp. Ngày nào cũng có biểu tình và khẩu hiệu khác nhau... Thậm chí chửi nhau: đám thì hoan hô Hội đồng quân nhân và ca ngợi cuộc cách mạng 1-11; đám thì đả đảo kỳ thị tôn giáo - Thiên Chúa giáo và Phật giáo cùng đả đảo, khiến thiên hạ chẳng rõ tôn giáo nào bị kỳ thị; đám hò hét đòi tống khứ đại sứ quán Pháp, cắt quan hệ ngoại giao với Pháp, cấm nhập hàng Pháp và bài xích thuyết trung lập mặc dù chưa ai dĩ hơi về thuyết này...
Thành phố sáng đèn, bóng trăng tròn chỉ soi lách những nơi âm u. Và, đường vắng nên không người nào phát hiện cánh lính nép mình dưới các cột cây, cạnh những xe thiết giáp chĩa nòng vào dinh Độc Lập.
Trời sáng dần. Từ ngoại ô, những đoàn xe quân sự hồng hộc giải xuống các giao điểm giữa trung tâm thành phố các bộ binh, súng trên tay, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Dân chúng vội vã rút vô nhà, hé cửa nhìn ra. Chắc chắn đang có một biến cố...
Thực tế biến cố bắt đầu từ giữa đêm, khi Hội đồng quân nhân mở phiên họp khẩn cấp. Chính cuộc tụ tập đông đủ này giúp cho Nguyễn Khánh thực hiện trót lọt ý định của anh ta. Nội dung phiên họp quay ngoắt – lúc đầu, một ít tướng lãnh đặt vấn đề tước quyền tướng Khánh do tin tức đồn đãi gần đây và do một số tuyên bố lung tung của tướng Khánh; nhưng đến khi tướng Khánh đứng lên tố giác Hội đồng quân nhân mưu toan đi chệch con đường chống Cộng; dung túng cho xu hướng trung lập nảy nở, làm suy yếu tiềm lực quốc gia, gieo hoài nghi cho đồng minh Mỹ về ý chí đứng trong thế giới tự do cả Việt Nam Cộng hòa thì không khí của phòng họp căng thẳng cực độ. Kẻ nói tiếp, với giọng cục cằn và thái độ láo xược là Nguyễn Chánh Thi. Y chỏ mặt tướng Big Minh, các tướng Đôn, Xuân, Kim, Đính thóa mạ đủ điều: phản bội, cơ hội, lem nhem, tiền, gái, dốt... Tất nhiên, phải có ai đó mớm cho hai người ba hoa và trịnh thượng, bởi mọi người hiểu cả Khánh lẫn Thi đều dốt đặc về chính trị; đặc biệt tướng Khánh trở giọng khác thường – chưa bao giờ người ta nghe anh ta chống trung lập. Thậm chí trong ngày 1-11, người ta còn ngại Nguyễn Khánh xách quân vùng II về “cứu giá”, cho nên trong danh sách Hội đồng quân nhân không có tên anh ta. Thế mà...
Những sĩ quan được đào tạo kiểu “Tây” choáng váng trước tên du côn Nguyễn Chánh Thi. Mối thù năm 1960 – Thi phải bỏ chạy vì những người có mặt tại đây – luôn ào ào. Vài tướng nhát gan cứ lom lom ngó khẩu “Colt” xệ bên hông Thi mà thỉnh thoảng y vỗ đốp đốp lên báng. Gì chứ trò bắn gục ngay bàn họp, Mai Hữu Xuân từng hạ lệnh, hình ảnh Lê Quang Tung vụt hiện trong óc Xuân.
Tướng Big Minh giữ được sự điềm đạm. Ông buồn rầu phân trần. Theo ông không hề có dấu hiệu nào lơi lỏng chống Cộng trong hàng ngũ tướng lãnh sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm. Ông cũng thanh minh về chủ trương trung lập – đúng một vài tờ báo đã nêu chính sách này nhưng chính phủ cấm. Với Pháp, ông thấy cần hòa hoãn bởi ngày nay, Pháp không thể gây rối ở Việt Nam Cộng hòa được; việc Pháp thừa nhận Bắc Kinh đâu ảnh hưởng gì đến Việt Nam Cộng hòa.
Thi nhất mực bác bỏ các ý kiến phân trần của Big Minh. Nếu Nguyễn Khánh không lừ mắt ra hiệu, y đã xông tới túm áo vị chủ tịch, thậm chí tát tai. Từ mà Thi xài nhiều lần trong đối đáp là “Đ.M”, là “C.C”.
- Không nói dai nữa! – Thi quát khi đồng hồ chỉ 4 giờ sáng.
Một toán lính tiến vào phòng họp
- Còng bọn chó đẻ lại! - Vẫn Thi ra lệnh
Năm tên lính, mang năm chiếc còng bước về tướng Big Minh, Xuân, Đôn, Kim, Đính.
Vào những giờ phút như vậy, thường điện thoại hay reo. Và, điện thoại reo, tướng Nguyễn Khánh nhấc máy.
- Tôi, Nguyễn Khánh đây...
Thái độ của anh ta vụt trở nên khúm núm.
- Nguyễn Khánh here,... Yes,... All right,... Thank you very much... Yes... .. All right... Yes...
Khánh gác máy. Thi sượng bộ chờ đợi...
- Từ giờ phút này, – Khánh hắng giọng – Tôi đảm đương các chức vụ lãnh đạo đất nước. Bốn tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim và Mai Hữu Xuân lên Đà Lạt chờ xét xử...
- Không được còng! – Khánh ngó số lính đã tra còng vào tay các tướng.
- Riêng với trung tướng Dương Văn Minh, xin trung tướng về nhà nghỉ...
- Tôi muốn chia xẻ số phận với các bạn tôi! - Tướng Big Minh vẫn ngồi yên.
- Lên Đà Lạt chẳng qua là cách ly với không khí Sài Gòn, không phải tù đày chi mà trung tướng định chia xẻ...
Rồi Khánh hất hàm; toán lính áp giải bốn tướng ra khỏi phòng. Đến thềm, tướng Đính loạng choạng sắp ngã. Ai cũng hiểu cú đánh này thật quá đau với kẻ hôm qua còn vỗ ngực tự xem như “người hùng” không thể lung lay nổi, ôm ấp ôm mộng thay tướng Big Minh...
- Tôi muốn giải thích... - Tướng Big Minh không rời ghế
- Tôi sẽ giải thích sau! – Khánh trả lời.
- Đã bắt Nguyễn Ngọc Thơ... - Nguyễn Chánh Thi thông báo với Khánh.
- Anh ra lệnh mời ông Thơ về nhà.
- Tại sao? - Nguyễn Chánh Thi kinh ngạc
Khánh ngó Thi từ đầu đến chân.
- Ở đây, tôi là người có quyền hỏi, có quyền ra lệnh chứ không phải ông!
Nguyễn Chánh Thi nổi đóa.
- Tao cóc cần! Tao bắn ráo...
- Ông Thi! - Giọng Khánh đanh hẳn – Tôi nhắc lại lần nữa và là lần chót: Ông mời ông Nguyễn Ngọc Thơ về nhà nghỉ! Với bốn tướng lên Đà Lạt, phải bố trí cho họ ăn ở đoàng hoàng, có người phục dịch theo cấp bậc của họ. Họ không bị ngược đãi. Ai đụng đến họ sẽ bị xử theo quân luật, kể ông luôn!
- Đ.M... thế này là thế nào? – Thi rống lên.
- Hoặc ông bỏ thói vô học thức của ông, hoặc ông sẽ tra tay vào còng ngay bây giờ... Tôi hết sức rộng lượng với ông và không còn có thể rộng lượng hơn...
Khánh liếc về số lính vẫn còn cầm đến năm chiếc còng.
Mắt Thi tóe lửa. Nhưng y đủ thông minh để biết đòn cân giữa Khánh và y đang nghiên về ai... Thi quay lưng, bước ra khỏi phòng, làu bàu...
- Được! Thua keo nữa chưa phải đã thua sạch túi! Tụi mày chờ xem... Đ.M! Chắc là cú điện thoại của mấy thằng Mỹ...
*
Chín giờ sáng ngày 30-1, báo chí và đài phát thanh đưa tin về “cuộc chỉnh lý” nội bộ quân đội. Quyết định lại mang tên của tướng Dương Văn Minh, với một điều khoản: Chấm dứt nhiệm vụ của Ban chấp hành Hội đồng quân nhân cách mạng thành lập từ ngày 1-11-1963. Đồng thời, báo chí và đài phát thanh công bố tuyên cáo của trung tướng Nguyễn Khánh: Sở dĩ quân đội phải một lần nữa ra tay can thiệp vào tình hình chính trị đất nước vì suốt 3 tháng qua, cục diện chung suy sụp toàn diện, nguy cơ Việt Nam Cộng hòa rơi vào ách Cộng sản nghiêm trọng hơn bao giờ hết do chính quyền phản bội cuộc cách mạng ngày 1-11-1963, phản bội xương máu các chiến sĩ, nội các gồm những kẻ bất tài, một số chạy theo thực dân và Cộng sản. Tuyên cáo nhấn mạnh nhiều lần, đây chỉ là cuộc chỉnh lý nội bộ, không phải là đảo chính. “Một số tướng lãnh tỏ ra dao động trước sứ mệnh cao cả chống Cộng cần phải bị thanh lọc. Họ đang được bảo vệ ở một nơi an toàn, nay mai hội đồng tướng lãnh sẽ xét xử họ” – tuyên cáo nên sự việc mà không nêu đích danh ai...
... John Hing không cần đọc báo, ông ta vẫn loay hoay với các bản chiết tính về giá cả vũ khí và thỉnh thoảng gọi điện đi nơi nào đó – công chuyện vẫn quanh những “cent” nhỏ nhoi của từng đơn vị vũ khí; khối lượng chung thì bằng những chữ số trăm nghìn, thậm chí triệu, chục triệu...
- Trở ngại đầu tiên đã thanh toán xong... Đúng, tướng Khánh được việc lắm... Ồ! Tất nhiên, tại sao chúng ta không thưởng cho ông ta xứng đáng. Ông ta giúp chúng ta mở ra một thời kỳ mới... Harkins à? Mặc xác lão... Anh xem lại loại phóng lựu M.72... Tôi không phản đối M.79, song chắc M.72 cũng cần. M.113 ư? Tốt thôi... Như cái tôi biết, Cộng sản chưa có súng chống chiến xa ngay chiến xa hạng nhẹ... Phải, xe lội nước cần ở vùng đầm lầy, song bước đầu, chúng ta chọn vùng đồi núi... OK...
... Luân và Dung nắm các tin tức qua điện thoại của tướng Lâm.
- Tôi không được mời dự - Lâm bực tức – Tôi mà có mặt trong cuộc họp thì các tướng không xụi lơ như vậy đâu...
- Không có một biến cố nào được giải quyết ở cuộc họp. Họ đã giải quyết từ mấy hôm trước... - Luân nói chán nản.
- Ai đời một tổng tư lệnh như cha Đôn lại để một thằng râu dê bắt như bắt gà!
- Tổng tư lệnh là thứ trang sức...
- Tôi biết... Nhưng nếu tôi là Andre, tôi không thèm theo lệnh của tụi thằng Khánh, ai dám làm gì nè?
- Thôi, không nên nói nhiều, nhất là qua điện thoại.
- Tôi chẳng sợ... Thằng Khánh sống bằng nghề phản phúc từ hồi nào tới giờ...
Luân gác máy. Vậy là một pha sôi động nữa quấy phá Sài Gòn. Lần này, ý của Mỹ khá rõ: chính phủ Mỹ muốn thay đổi gấp vai trò của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam. Cái lôgic tự kiêu tự đại mãn tính của giới cầm quyền Mỹ bị thêm sức ép của các công ty khổng lồ muốn bỏ vội khu vực Đông Nam Á dẫn đến kết luận rằng, nếu Mỹ không trực tiếp nhúng tay bằng quân đội thì mọi việc sẽ hỏng, trước mắt Pháp sẽ quay lại Đông Dương, Kennedy chết, Johnson không phải là thứ gì đủ sức cân bằng cuộc tranh chấp giữa các phe ở Mỹ.
Dung trầm ngâm bên máy thu thanh. Họ đã dự kiến khá sát vai trò của Nguyễn Khánh. Điều họ không ngờ là phe tướng Big Minh không có lấy một phản ứng dù thật nhỏ.
- Mỹ đạo diễn và từ nay, chỉ còn mỗi đạo diễn múa may trên sân khấu.
Dung nói, Luân gật đầu.
- Một cuộc dọn bãi đổ bộ... - Luân bổ sung. Anh nhìn tờ lịch trên tường rồi chép miệng.
- E không kịp!
Tất nhiên, Dung hiểu: Cách mạng không đủ thì giờ để chuyển tình hình sang hướng khác, có lợi hơn, tức hướng không có thực binh Mỹ đông đặc trên đất nước mình, hướng đất nước bị tàn phá ghê gớm...
... Sáng ngày 31-1-1964, Nguyễn Khánh họp báo tại Bộ tổng tham mưu. So với cuộc họp báo sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm, ký giả trong và ngoài nước khá đến thưa thớt, mất hẳn vẻ háo hức. Nguyễn Khánh, trong bộ quân phục dã chiến, ngực đính 3 sao một bên và bên kia là tấm biển đồng nhỏ ghi tên anh ta, bắt đầu cuộc họp báo bằng bài thuyết trình viết sẵn, trong đó anh ta đã nhai lại tuyên cáo đã công bố; không phải đảo chính mà chỉnh lý, phải chỉnh lý để chính quyền theo đúng đường lối cách mạng...
- Thưa trung tướng, thế nào là theo đúng “đường lối cách mạng”? - Một phóng viên AFP hỏi.
- Đường lối cách mạng đã đề ra sau ngày 1-11 năm ngoái: chống Cộng, chống trung lập, thực hiện dân chủ song trong kỷ luật, phát triển kinh tế... - Khánh trả lời như một học sinh trả bài.
- Nhưng, suốt 3 tháng qua chúng tôi chưa thấy điều gì đi trệch chủ trương đó... - vẫn phóng viên AFP tiếp tục nêu ý kiến.
- Có chệch chớ! Thực dân và Cộng sản chen vào chính quyền... - Khánh quả quyết.
- Trung tướng có thể cho biết ai là thực dân trong chính quyền?
- Và ai là Cộng sản?
Phóng viên tờ New Week và phóng viên AFP cùng hỏi một lượt.
- Cái đó... cái đó... chưa phải lúc công bố! – Khánh ấp úng.
- Trong bốn tướng bị an trí, có thuộc loại tay sai thực dân hay Cộng sản không? – Phóng viên Kyodo hỏi.
- Như tôi đã vừa trả lời, cái đó chưa phải lúc công bố...
- Thế thì vì sao bốn tướng bị an trí? – Phóng viên Kyodo vẫn chưa tha.
- Vì sao? Họ có tội!
- Tội chi?
- Cái đó chưa phải lúc công bố.
- Liệu rằng một chế độ dân chủ mà an trí Tổng tư lệnh quân đội, bộ trưởng an ninh, đô trưởng Sài Gòn khi chưa công bố tội trạng, còn có thể gọi là dân chủ không? Và, làm tất cả các việc ấy lại không phải đảo chính... Dư luận trong nước chúng tôi khó hiểu lắm!
Nguyễn Khánh mất bình tĩnh, nhìn người hỏi anh ta. Nhưng anh ta xìu ngay: ngực của phóng viên mang tên tờ Washington Post.
- Các vị phải giúp chúng tôi làm cho dư luận quý quốc hiểu!
Phóng viên Washington Post nhún vai.
- Thật ngoài sức của chúng tôi...
- Thưa trung tướng, sau cuộc chỉnh lý, chế độ của Nam Việt sẽ như thế nào? – Fanfani hỏi.
Khánh nhoẻn cười. Chòm râu cằm xén nhọn khẽ rung rinh. Anh ta cho rằng Fanfani cứu anh ta khỏi các câu hỏi khó trả lời. Khánh ưỡn ngực.
- Bà Helén... Hội đồng quân nhân cử tôi làm chủ tịch kiêm tổng tư lệnh quân đội!
- Thế còn tướng Dương Văn Minh?
- Ông Minh sẽ là cố vấn tối cao của Hội đồng quân nhân.
- Sự phân công của đại sứ Cabot Lodge kể cũng chu đáo! – Phóng viên France Soir nói trổng.
Nguyễn Khánh đỏ mặt.
- Chúng tôi không chịu sự phân công của ai cả. Chúng tôi tự phân công... .. Cách hiểu của nhà báo France Soir theo đúng tập quán của thực dân Pháp!
- Thưa trung tướng, trung tướng vừa nói một câu mà máy ghi âm của tôi sẽ được truyền bá khắp nước Pháp... Tôi xin được đi cho hết đà ý kiến của vị chủ tịch mới của Việt Nam Cộng hòa: các ngài chống lại nước Pháp?
- Không... không... ! - Khánh xua tay lia lịa... - Nước Pháp là đồng minh của tôi. Chúng tôi chỉ chống thực dân Pháp.
- Nhưng, thưa ngài chủ tịch, tìm ở đâu ra thực dân Pháp ở giữa Sài Gòn này? Hay ngài định đóng cửa hãng Effiel Carie, đóng cửa các đồn điền cao su, đóng cửa luôn Alliance Française và tòa đại sứ Pháp?
- Trong chương trình của Hội đồng quân nhân không có các mục đó!
- Tôi xin phép hỏi thêm một câu. – Fanfani vẫn duyên dáng – Trung tướng chấp nhận cho bao nhiêu quân Mỹ đổ bộ lên Nam Việt?
Cả phòng họp chờ Khánh trả lời. Các máy ghi âm được mở. Khánh cảm thấy hụt hơi. Câu trả lời có nghĩa định đoạt sinh mệnh chính trị của anh ta.
- Mỹ là đồng minh quan trọng nhất của Việt Nam Cộng hòa!
Khánh chọn mãi mới ra được câu trả lời hết sức chung.
- Tôi muốn trung tướng nói rõ hơn... Bao nhiêu quân Mỹ được phép đổ bộ lên đất nước ta và bao giờ thì đổ bộ? - Một tiếng gần như thét vang ở cuối phòng họp, của một thanh niên Việt Nam.
- Anh bạn là ai? – Khánh hỏi.
- Tôi đại diện cho Tổng hội sinh viên ở Sài Gòn...
- Vậy thì mời anh bạn vài hôm nữa gặp tôi. Hôm nay là cuộc họp báo...
- Đúng, là cuộc họp báo nên tôi xin trung tướng trả lời câu hỏi của tôi! – Fanfani len lên phía trước, gần giáp mặt Khánh.
- Tôi đã trả lời!
Rồi Khánh nói luôn.
- Nếu không còn câu hỏi quan trọng nào nữa, cuộc họp báo xin kết thúc... Cám ơn tất cả các bạn.
Nguyễn Khánh chuồn mất, bỏ quên chiếc kêpi trên bàn...
*
Ngày 1-2-1964, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ đệ đơn xin từ chức. Nguyễn Khánh nhận đơn song giao Nguyễn Ngọc Thơ tiếp tục xử lý công việc.
Trong ngày, Khánh mở cuộc tiếp xúc với ngoại giao đoàn. Đại sứ Cabot Lodge không có mặt mà cử một bí thư sứ quán đến dinh Độc Lập. Ngoại giao đoàn không chờ đợi một cái gì giật gân được thông báo, tham tán sứ quán Pháp, thay mặt đại sứ, tỉnh bơ bỏ về mà không nói một lời. Hầu như chẳng có nhân viên ngoại giao nào phát biểu, kể cả chúc mừng tân Quốc trưởng. Người của Khánh vận động nhân viên ngoại giao Hán Thành, Đài Bắc nói đôi câu hoan hỉ, họ đều từ chối. Do đó, cuộc tiếp xúc chỉ diễn ra nửa giờ, vừa vặn đủ cho Khánh đọc bài diễn văn y hệt bài anh ta đã đọc ở cuộc họp báo. Ngay tuần sâm banh cũng nổ lẹt đẹt, có đại diện ngoại giao lặng lẽ rút lui khi Khánh vừa dứt lời.
Toàn bộ quang cảnh thu vào máy quay phim và một giờ sau, Cabot Lodge ở một nơi, John Hing ở một nơi, Jones Stepp ở một nơi xem trọn tường thuật bằng ảnh.
- Hello! – John Hing gọi điện thoại cho ai đó - Phải sửa soạn con bài khác, trước khi quá muộn...
- Tôi cũng nghĩ như ông... - Ai đó trả lời ở đầu dây bên kia, bằng tiếng Anh.
John Hing đột ngột bấm chuông, Ly Kai xuất hiện.
- Ông nghĩ như thế nào về Nguyễn Thành Luân?
Ly Kai ngơ ngác, trả lời lúng túng:
- Tôi đã làm hết sức mình, song nó vẫn sống!
- Không! Tôi hỏi ý khác. – John Hing lạnh lùng ngó Ly Kai - Liệu ta có thể nắm gã Luân này không?
Ly Kai vẫn ngơ ngác.
- Ông có biết cuộc họp báo hôm qua và cuộc tiếp xúc với đoàn ngoại giao của ông Nguyễn Khánh sáng nay không?
John Hing chợt mỉm cười.
- Tôi quên, ông không có khiếu chính trị...
Rồi, John Hing ra dấu bằng cách nắm chặt bàn tay.
- Tôi hỏi ông, bằng cách nào, ta nắm Nguyễn Thành Luân bằng tay như thế này?
Ly Kai im lặng. Gã quen “nắm” bằng đô la, bằng gái, bằng đe dọa... Với Nguyễn Thành Luân, gã chưa nghĩ ra cách nào - lối mà hắn từng thành công quả chẳng sờ nổi áo Luân chứ đừng nói là “nắm”.
- Ta cần một thủ lĩnh thông minh... một tổng thống, một Quốc trưởng, một tổng tham mưu trưởng, một thủ tướng... Phải thông minh... Ông hiểu chưa? Nguyễn Khánh thiếu cái này! – John Hing gõ vào đầu.
- Nắm vợ ông ta được không? Vợ ông ta thích cái gì? Nữ trang loại đắt tiền nhất? Ô tô?
John Hing hỏi dồn dập, Ly Kai nhíu mày.
- Tôi có một cách, thưa ông chủ. - Ly Kai rụt rè.
- Nói đi!
- Bắt cóc con của họ và nói họ phải nghe theo ta...
- Ý hay! - John Hing tán thưởng. - Song...
John Hing ngừng một lúc
- Song, liệu có thể giữ kín không?
- Giữ được!
- Không làm tổn thương con họ... Một chú bé?
- Thưa một chú bé lên bốn... Không thể tổn thương.
- Ông đảm bảo bằng cái đầu của ông?
- Thưa ông chủ, đảm bảo bằng cái gì?
- Về không tiết lộ ông dính vào vụ bắt cóc, không gây bất kỳ một vết trầy nào cho chú bé, không làm chú bé hoảng hốt.
- Cái sau cùng hơi khó, thế nào nó cũng sợ. Nhưng, ta dụ dần... Điều tôi muốn biết, thưa ông chủ, sẽ giữ chú bé bao lâu?
- Bao lâu à? Chừng nào ta nắm được họ - nắm cả hai hoặc nắm một người...
- Chà! E lâu quá...
- Một tuần lễ.
- Vậy thì được. Việc của tôi...
- Việc của ông là bắt cóc thằng bé, dấu kín... Các việc khác của tôi!.
John Hing theo cách giao thiệp đã thành nếp với Ly Kai, mở ngăn kéo, trao gã một xấp đô la.
*
Sau buổi họp báo và tiếp đoàn ngoại giao thất bại. Nguyễn Khánh bị nện thêm hai chùy nữa, trong ngày đầu tiên anh ta ngồi vào dinh Độc Lập.
Hội đồng nhân sĩ họp – như đã định trước – và ra một thông cáo kêu gọi đại đoàn kết quốc gia, chống mọi biểu hiện huynh đệ tương tàn, đề cao hết lời những người có công trong vụ hạ bệ Ngô Đình Diệm và kết án các toan tính cưới công, tiếm quyền, vu khống... Cả một thông cáo tràng giang đại hải không có lấy lời ca ngợi cuộc chỉnh lý và lờ luôn viên chủ tịch thích huyênh hoang. Hội đồng vỗ tay rất lâu khi chủ tịch trịnh trọng đọc một bức thư ngắn của tướng Dương Văn Minh cáo lỗi vì đã vắng mặt và chúc Hội đồng thành công.
Nguyễn Khánh nghe tường thuật thu thanh cuộc họp và anh ta gọi điện chửi bới viên giám đốc đài phát thanh...
Ngày thứ hai là Tổng hội sinh viên thay đổi bộ phận điều hành. Chủ tịch Tổng hội từ chức - thực ra bị cắt chức. Mười lăm chủ tịch, mười lăm phân khoa đương nhiên nắm quyền tổng hội và hội đồng các chủ tịch phân khoa sẽ bầu người đứng đầu. Tại hội nghị, gần một nửa chủ tịch phân khoa công khai nói lên thái độ bất mãn của sinh viên với cái gọi là cuộc “chỉnh lý” - họ gọi đích danh đảo chính, đảo chính lén lút, hèn hạ.
Cứu tinh của Nguyễn Khánh cũng đến kịp thời: Bộ ngoại giao Mỹ công bố trên đài phát thanh một văn kiện nói rõ Mỹ phản đối giải pháp trung lập ở Việt Nam.
Thế là Nguyễn Khánh ký liền một sắc luật, mang mã 003, được soạn thảo vội vã: Chủ nghĩa Cộng sản và thuyết trung lập thân Cộng bị đặt ngoài vòng pháp luật.
Sắc luật chẳng mang ý nghĩa gì, ngoài tiếng đáp “yes” của Nguyễn Khánh đối với Washington.
“Như đứa bé vừa tập nói, trung tướng Nguyễn Khánh, tân nguyên thủ quốc gia nước Việt Nam Cộng hòa đăng quang trong một màn hài kịch, đã đọc theo lời mớm của bà vú: Đả đảo Cộng sản và trung lập. Điệp khúc ấy, buồn thay, từng nhai nhải ở xứ này và nó chẳng thêm một chút uy tín nào cho viên trung tướng bị dư luận đánh giá tráo trở hơn mọi tráo trở. Chắc chắn, dư luận muốn nhắc tướng Tôn Thất Đính, ngỡ là đỉnh cao của sự tráo trở bây giờ tụt giá so với tướng Nguyễn Khánh. Sẽ còn ai phá kỷ lục trong tương lai? Helén Fanfani viết bản tin này cho Financial Affair mà không hy vọng nó được gửi về Mỹ. Chẳng rõ tại sao Bộ Thông tin Sài Gòn lại lờ, chẳng kiểm duyệt.
Nguyễn Khánh điên tiết, ra lệnh trục xuất Helen Fanfani trong thời hạn 24 giờ. Một lệnh khác - chắc chắn từ đại sứ quán Mỹ - vô hiệu hóa lệnh của Nguyễn Khánh. Fanfani hôm sau tươi cười chào Nguyễn Khánh tại chùa Xá Lợi. Và, Nguyễn Khánh coi như mình chưa ký một sắc lệnh như vậy bao giờ...

CHƯƠNG 9

Đúng ra, trong vụ bắt giữ bất thần đêm ngày 29 rạng ngày 30 tháng 1 năm 1964 phải có đến năm tướng và một trung tá. Tướng thứ năm là Nguyễn Văn Vĩ và trung tá Trần Đình Lan.
Họ đã bị đưa về trại Hoàng Hoa Thám, giam ở các phòng riêng dành cho các sĩ quan độc thân.
Từ xe bước xuống, họ chạm mặt liền Nguyễn Chánh Thi - hắn đi xe nhỏ, đến trước. Gần như một cuộc điểm danh các “tù nhân”. Thi gọi tên từng người, gọi cộc lốc.
- Tôn Thất Đính!
- Dạ!
- Vô phòng kia...
- Lê Văn Kim!
- Có mặt...
- Đ.M, sao không dạ?
Tướng Lê Văn Kim không trả lời, lững thững bước vào hỏi:
- Tôi ở phòng nào?
Thi lượng sượng một thoáng
- Phòng kia... Mai Hữu Xuân...
- Dạ!
- Đ.M, lễ phép dữ! Đồ lưu manh...
Hầm hừ như thế xong, Thi không làm gì. Xuân, trỏ phòng ông ta.
- Trần Văn Đôn.
Trần Đôn không trả lời, bước lên... Thi ngó nghiêng ông rồi chửi:
- Đ.M, mày mà tướng! Tướng cái con c... Tướng gì mà lấy vợ người khác? Vô phòng kia!
Đôn đi rồi, còn lại hai người.
- Nguyễn Văn Vĩ...
- Có tôi.
- Vô phòng, rồi mày sẽ biết tay tao.!
Nguyễn Chánh Thi ngó Trần Đình Lan; ông này từ Pháp về đến Sài Gòn sau Trần Kim Tuyến một ngày.
- Đồ chó săn của Tây!
Và Nguyễn Chánh Thi thoi vào mặt Trần Đình Lan, cú thoi cực mạnh, máu mũi Lan chảy ướt đẫm chiếc áo sơ mi trắng.
- Không có phòng cho mày... Mày nằm ở nhà xe. Tao bắn mày, nói trước để mày cầu nguyện...
Trần Đình Lan lủi thủi theo một lính gác về phía nhà xe. Nguyễn Chánh Thi chống nạnh, đứng trên thềm quát to cho cả phòng đều nghe.
- Không đứa nào được bước ra khỏi phòng, hễ bước ra bị bắn liền...
Vừa lúc đó, một Chevrolet đen đỗ, tướng Nguyễn Khánh vội vã bước xuống. Sau xe của Khánh, hai xe hộ tống đầy lính.
- Cái gì? – Thi bỏ tay chống nạnh, chào Khánh. Hắn bối rối. “Hay là nó bắt mình?”. Hắn nghĩ.
- Mời tướng Nguyễn Văn Vĩ ra... – Khánh ra lệnh.
- Tại sao? – Thi trấn tĩnh hỏi lại.
Khánh không trả lời. Và, cũng không đợi lệnh của Thi, lính đã đưa tướng Vĩ ra. Khánh bắt tay Vĩ.
- Xin lỗi... Đây là một lầm lẫn, mời anh lên xe tôi, ta về...
- Còn trung tá Trần Đình Lan?
- Ủa, ai bắt trung tá? – Khánh kinh ngạc - Mời trung tá ra...
- Không được! - Nguyễn Chánh Thi nổi nóng.
- Anh bắt trung tá Lan?
- Phải...
- Tại sao?
- Tay sai của Pháp.
- Anh không có quyền bắt bất kỳ ai... Anh là cái gì mà bắt bớ lung tung vậy?
- Tôi bắt đó.
- Hèn chi đại sứ quán Mỹ hỏi tôi tại sao có các vụ bắt lung tung... Họ dặn tôi coi chừng anh làm ẩu và một số tướng lĩnh muốn tôi lột lon và tống giam anh... Anh đừng buộc tôi phải làm điều tôi không muốn.
Nguyễn Chánh Thi ỉu xìu ngay lập tức. Trung tá Trần Đình Lan, với chiếc sơ mi đẫm máu, cùng Nguyễn Khánh và Nguyễn Văn Vĩ lên xe.
Mấy hôm sau, trung tá Trần Đình Lan trở sang Pháp.
*
Bốn tướng lên máy bay ra Đà Nẵng. Họ bị giam ở Sơn Trà một hôm rồi phân tán. Trần Văn Đôn và Lê Văn Kim lên Đà Lạt, Mai Hữu Xuân về Huế, Tôn Thất Đính lên Pleiku.
... Hoàng Thị Thùy Dung được Tổng nha cảnh sát giao một việc thật bất ngờ: lập hồ sơ và trực tiếp hỏi cung bốn tướng. Tội danh gồm thái độ chính trị (thân Cộng, thân Pháp, chủ trương trung lập), biển thủ tiền bạc, lạm dụng chức quyền, xây nhà cửa riêng...
- Cái trò “đánh trống lảng” và kéo dài ngày tháng để dư luận quên vụ chỉnh lý... - Luân nhận xét.
- Nhưng tại sao lại giao cho em?
- Em là Giám đốc Nha công vụ thuộc Tổng nha... Về danh nghĩa, đó là trách nhiệm của em.
- Lẽ ra phải của anh, Phó tổng thanh tra quân đội mới đúng, phải điều tra vụ này.
- Họ muốn làm ra vẻ phải chuyển các ông này sang tòa án. Làm ra vẻ thôi... Đâu rồi cũng vô đó. Cũng là cơ hội để em hiểu thêm một số mặt cần cho chúng ta.
- Anh sẽ gặp tướng Khánh chứ?
- Chắc thế nào cũng gặp, nghi thức mà! Saroyan nói chỉ thay đổi ở chóp bu và không phải lần thay đổi cuối cùng...
... Dung ra Huế. Cô định hôm sau đến đồn Mang Cá là nơi giam tướng Mai Hữu Xuân. Khi nhận phòng ở khách sạn xong, cô thả bộ dạo phố. Huế không xa lạ với Dung, nhất là kỷ niệm cùng với Luân dự lễ thượng thọ của mẹ Ngô Đình Diệm, như mới đây thôi. Bây giờ thì ngôi nhà Phú Cam đã bị sung công – trên danh nghĩa, còn thực tế nó đã bị chia tam xẻ tứ cho những tay cầm quyền mới. Nhà thờ Phú Cam chắc vẫn sung túc, nhưng không đặt dưới lọng của tổng giám mục Ngô Đình Thục nữa. “Dù sao mình cũng phải thăm bà Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi...”, Dung tự nhủ. Chính Dung đã thăm Ngô Đình Cẩn trong nhà lao Sài Gòn...
Trên đường phố, Dung rẽ vào một hiệu bán hàng mỹ nghệ. Cô thấy hai ô tô đỗ trước cửa hiệu, một chiếc Peugeot khá xinh và một xe quân cảnh. Và, trong hiệu, Dung gặp tướng Mai Hữu Xuân.
Xuân chào Dung rất lịch sự. Người ông không thay đổi - vẫn da ngăm, vẫn dáng trầm tư, vẫn cặp môi thâm và chiếc píp phì phò khói...
- Chào bà đại tá!
- Chào trung tướng... Trung tướng đi dạo?
- À, buồn quá ra xem hàng mỹ nghệ... Bà mới đến Huế!
- Thưa, vừa đến...
- Có đại tá cùng đi với bà không?
- Thưa, nhà tôi đang ở Sài Gòn.
- Bà đi chơi? Đi thăm gia đình Ngô?
- Tôi định đi thăm bà cụ cố và chị Cả.
- Tốt! Nhà bà Ngô Thị Hoàn bị niêm phong, bà không đến được... Họ đang dồn lại một ngôi nhà trong châu vi Phú Cam...
- Dạ... - Dung ngập ngừng một cách cố ý.
- Còn việc gì?
- Thưa trung tướng, sáng mai, xin phép trung tướng cho tôi gặp tại đồn Mang Cá.
- Hả? Gặp tôi? Đại tá bảo bà ra gặp tôi? – Thái độ Mai Hữu Xuân thay đổi, vồ vập.
- Thưa, tôi gặp trung tướng với tư cách khác... Sáng mai, tôi sẽ trình... Xin hẹn vào 9 giờ sáng...
- Được... Tôi đợi...
Dung quay về khách sạn. Một sĩ quan cảnh sát chờ Dung. Đại úy Vũ – anh ta giới thiệu - được lệnh của Nha cảnh sát Bắc Trung phần đến làm việc với Dung. Dung nói chương trình của mình, kể cả kế hoạch thăm gia đình Ngô Đình Khả. Đại úy Vũ không nói gì, chỉ báo sẽ có xe trực tại khách sạn cho Dung, và bản thân anh lúc nào cũng có mặt, tùy Dung sai khiến.
Dung cười mỉm: nếu trước kia Ngô Đình Diệm chưa bị lật đổ, cô đến đây thì từ cầu thang sân bay Phú Bài đã có mặt viên tỉnh trưởng...
Chiều hôm đó, Dung đi thăm gia đình họ Ngô. Cả cơ ngơi đồ sộ, tường cao cổng kín, bây giờ giống một khu chung cư. Mỗi nhà do một viên chức chiếm, họ xây tường ngăn cách. Toàn gia đình họ Ngô - vợ Ngô Đình Khả, vợ Ngô Đình Khôi, Ngô Thị Hoàn và con cháu sống chung trong một biệt thự, thật ra thì cũng khá rộng. Chiếc xe kéo vẫn để bên hiên nhà. Nhưng “vườn thượng uyển” của Ngô Đình Cẩn không còn nữa.
Vợ Ngô Đình Khả đã lẫn. Bà không nhận ra Dung. Đón Dung là tiếng khóc râm ran. Bàn thờ Ngô Đình Khả, Ngô Đình Khôi thêm lư hương và bài vị Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. “Sẽ thêm bài vị Ngô Đình Cẩn”, Dung nghĩ.
- Thím có mần răng mà cứu cậu Út! - người nói là Ngô Thị Hoàn, bà “Cả Lễ”, chị của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu mà báo chí đang “phóng sự điều tra” lia lịa.
Dung thắp hương trước bàn thờ, hỏi han sinh hoạt gia đình. Về vật chất, họ không thiếu khả năng. Nhưng, cái án Ngô Đình Cẩn ám ảnh họ.
- Hồi tổng thống còn tại vị, khách khứa nườm nượp. Bây giờ vắng tanh. Chỉ có thím mới tới... Tôi nghe chú đại tá đặt hoa trước mộ hai anh mà bị bắt, tội thiệt! - Vợ Ngô Đình Khôi tâm sự.
Dung lựa lời an ủi, ở lại ăn bữa cơm chiều với gia đình. Trên xe về khách sạn, đại úy Vũ không giấu ý nghĩ trong đầu anh ta:
- Bà đại tá làm rứa là phải đạo.
*
Mai Hữu Xuân tiếp Dung trong phòng khách. Nếu không biết đây là đồn Mang Cá, thì khó mà đánh giá Mai Hữu Xuân đang bị giam lỏng. Phòng khách khá đẹp, đầy đủ tiện nghi.
- Bà có thể phúc trình với ai đó là đã gặp tôi ngoài phố...
Mai Hữu Xuân cười mai mỉa. Dung hiểu cái cười kiểu thơ Thế Lữ “hùm xám sa cơ” của Xuân. Theo quy định, các tướng không được rời nơi bị giam lỏng, nếu muốn đi đâu phải báo cho tiểu khu trưởng trước 6 tiếng đồng hồ và phải được tư lệnh vùng chuẩn y. Nhưng theo đại úy Vũ, tướng Xuân bất chấp quy định, thích đi thì thót lên xe đi. Tiểu đội quân cảnh phải hấp tấp đuổi theo.
Với Xuân, đây là thay đổi đột ngột trong nếp sống gần suốt đời của ông ta. Nỗi bất mãn thật nặng nề, bao nhiêu mưu toan đã thành đạt bỗng chốc tan biến, tan biến một cách tàn nhẫn. Mai Hữu Xuân bắt đầu uống rượu và tửu lượng khá cao, nốc bao nhiêu cũng không say. Trong phòng khách, Dung thấy có rất nhiều vỏ chai Cognac, Whisky...
- Trung tướng nghĩ thế nào lại đặt cho tôi vai trò dòm ngó chuyện vặt vãnh... - Thùy Dung trả lời điềm đạm.
Câu trả lời lễ độ lại khiến thái dương Xuân giật giật, bởi, “dòm ngó chuyện vặt vãnh” vốn là nghề của Xuân.
- Trung tướng cho phép tôi được trình bày công việc...
Thùy Dung trao cho Xuân một công văn mang chữ ký của Nguyễn Khánh. Liếc qua tờ giấy, Xuân cười khỉnh:
- Lần đầu tiên trong đời tôi, tôi bị hỏi cung. Và, người hỏi cung tôi lại là một phụ nữ, cấp thiếu tá!
- Trung tướng có thể hiểu sự việc theo ý riêng. Phần tôi, tôi chỉ thi hành công vụ. Có hai cách thực hiện: hoặc trung tướng trả lời những câu hỏi mà tôi mang theo, những câu hỏi hoàn toàn không do tôi nghĩ ra, tôi ghi âm trả lời của trung tướng; hoặc trung tướng viết câu trả lời...
- Bà cho tôi xem các câu hỏi...
- Thưa, đây...
Mai Hữu Xuân đọc các câu hỏi, đọc kỹ. Thùy Dung lặng lẽ ngó ra ngoài, như không quan tâm đến thái độ của Mai Hữu Xuân. Những câu hỏi chung chung, tuy vậy, không phải dễ dàng trả lời, nhất là không thể chỉ trả lời cụt ngủn: Có, không...
Thời gian chầm chậm trôi qua. Vỏn vẹn hai trang đánh máy mà tướng Xuân mất gần một tiếng đồng hồ để đọc.
- Ông nhà có dặn bà điều chi trước khi gặp tôi không?
Sau cùng, Xuân xếp tờ giấy, hỏi giọng phân vân.
- Thưa, không...
- Bà muốn tôi trả lời như thế nào?
Câu hỏi thật bất ngờ.
- Tôi nghĩ trung tướng trả lời theo suy đoán của trung tướng.
- Suy đoán? Ồ! Vậy là được. Tôi cám ơn bà. Bà mở máy ghi âm và đọc câu hỏi đầu. Tôi sẽ trả lời ngay.
- Thưa, trung tướng Mai Hữu Xuân, – Dung mở máy – Xin trung tướng cho biết mối quan hệ giữa trung tướng và ông Savani, sĩ quan Phòng Nhì Pháp...
- Savani là người chỉ huy cũ của tôi, cũng như Bazin, Perrier. Tôi là nhân viên Sở mật thám Pháp, từ 1948 tôi phụ trách Ty Cảnh sát đặc biệt miền Đông, gọi tắt là PSE. Sau khi Pháp rút, tôi làm việc cho chế độ ông Diệm, qua nhiều chức vụ khác nhau, ngành tôi ở lâu hơn hết là An ninh quân đội... Giữa tôi và Savani tận bây giờ vẫn thư từ thăm hỏi nhau... Savani không còn là sĩ quan Phòng Nhì Pháp nữa. Ông ta đã về hưu.
- Thưa trung tướng, giữa trung tướng và đại sứ Pháp hoặc một yếu nhân nào của đại sứ quán Pháp, có mối liên lạc gì đặc biệt không?
- Thế nào là “liên lạc đặc biệt”?
- Dạ câu hỏi trong văn bản không dự kiến vấn đề do trung tướng nêu ra, nên tôi không được quyền giải thích...
- Nếu vậy, câu trả lời của tôi là: Không!
- Cám ơn trung tướng. Thưa trung tướng, có bao giờ trung tướng liên lạc với một nhân vật chính thức của chính phủ hoàng gia Cambốt?
- Trong một số lần, theo lễ tân tôi có gặp tướng Niek Tionlong, tướng Fenandez, tướng Lon Nol, đại tá Umswwouth, thiếu tá Kossem. Với hai người sau, tôi bàn về an ninh biên giới lúc tôi chỉ huy chiến dịch Trương Tấn Bửu và lúc tôi phụ trách Bộ tư lệnh hành quân... Tất cả các lần tiếp xúc ấy đều có mặt các sĩ quan và riêng bàn về an ninh biên giới thì có văn bản.
- Thưa trung tướng, người ta bảo rằng trung tướng vẫn giữ một mạng lưới điệp viên riêng. Ai cung cấp tiền để chi trả cho mạng lưới đó?
- Tôi chỉ làm việc với các nhân viên theo đúng phạm vi được phân công. Người của tôi trong ngành An ninh quân đội lãnh lương theo cấp chức của quân đội.
- Theo người ta báo, trung tướng tổ chức ám sát bà Saroyan khi bà ấy vừa ly dị với ông Fishel. Xin trung tướng cho ý kiến...
- Việc này tốt nhất cơ quan an ninh điện hỏi ông Fishel.
- Người ta cũng báo trung tướng ráo riết săn lùng đảng viên Đại Việt. Tại sao?
- Câu hỏi này nên đặt cho bác sĩ Trần Kim Tuyến!
- Trung tướng có mấy biệt thự?
- Hai. Một ở Sài Gòn, một ở Đà Lạt.
Máy ghi âm làm việc đến trưa. Mai Hữu Xuân mời Thùy Dung dùng cơm với ông.
- Bà không hỏi riêng tôi câu nào sao? – Xuân hỏi khi dùng cơm xong
- Dạ, không...
- Tại sao?
- Tôi nghĩ rằng không cần...
- Nghĩa là bà biết tất cả?
- “Biết tất cả” thì hơi quá, song gọi là chưa biết gì cả cũng không đúng.
- Bà khuyên tôi nên làm gì?
- Tất nhiên, tôi không khuyên trung tướng bỏ trốn, lập chiến khu hay tụ tập người của trung tướng lại làm một cú tự chứng minh sự có mặt của mình.
- Bà rất thông minh, thưa bà Thùy Dung. Tôi chẳng có cái gì cả. Tôi nghĩ đến đồn điền, trà, cà phê. Nếu tôi được tự do. Tôi chán ghê gớm cảnh quan trường...
- Trung tướng vừa mới chán đây, phải không?
- Đúng...
- Tại sao trung tướng thủ tiêu ông Diệm, ông Nhu?
- Bà mà hỏi tôi câu đó thì bà đã không tin tôi. Tại sao bà không hỏi đại sứ Cabot Lodge?
- Ngay đại sứ cũng lạ lùng về cái chết của hai người...
- Tôi từng “lạ lùng” như vậy trong không ít hơn một trăm trường hợp...
... Dung còn làm việc với Mai Hữu Xuân một buổi nữa. Các câu hỏi sẵn đều đều nêu lên và Xuân cũng trả lời đều đều.
“Ông ta mất hết hăng hái. Quả ông ta muốn trở thành chủ đồn điền... ”. Trong đầu của Dung, cuộc gặp gỡ này quá nhạt nhẽo.
Đại úy Vũ cung cấp cho Dung thêm tin tức: Mai Hữu Xuân chẳng giao dịch với ai, vả lại, ở vùng I, ông ta ít quen biết, thỉnh thoảng vợ con ra thăm. Sách của ông ta đọc thuộc loại trồng tỉa cao su, trà, cà phê... Báo chí trong nước và ngoài nước xếp bằng chồng, ông ít khi ngó tới.
“Ông ta chấm dứt ham muốn hơi sớm” - Dung nhận xét như vậy.
Tất nhiên, Dung không thể biết bao nhiêu thơ khẩn Xuân gửi Savani mà không có hồi âm. Có hồi âm: một mẩu tin ngắn trên tờ báo Pháp do vợ Xuân mang ra. Mẩu tin thế này: “Nhắn ông De Printemps. Thời tiết thay đổi. Khu vườn mà chúng ta định trồng ở phía Nam không có giá trị nữa. Phải tính toán cách làm ăn khác. Tôi thông cảm với người hùn vốn với tôi, song hoàn cảnh chúng ta bất khả kháng. Cũng đừng quá lo lắng. Số tiền trong ngân hàng sẽ được dùng khi thích hợp. Ký tên: Jean Claude Sani... ”
“Thời tiết thay đổi!”. Dự định cũ “không còn giá trị nữa”. “Phải tính cách làm ăn khác”. “Số tiền trong ngân hàng...”. Điều sau cùng là hệ thống điệp viên của Xuân. Ông ta muốn đăng một tin nhắn: Đủ rồi! Xin chào! Còn “số tiền trong ngân hàng” chẳng bao nhiêu, nếu không nói là sạch bách! Những Trần Bá Thành, Géo Nam, Thomas Bocal ra rìa từ lâu. Số trong An ninh quân đội trở cờ. Hai bộ hạ thân tín là Lưu Kỳ Vọng và Hùng, kẻ bị Việt Cộng cho chầu Diêm Vương, kẻ chính tay Xuân ra lệnh khử...
Đủ rồi! Sau khi thiếu tá Thùy Dung chào tạm biệt, tướng Mai Hữu Xuân ném người lên ghế bành, lẩm bẩm.
Người Mỹ không dùng ông. Hàng tá đứa đủ sức thay ông, Mỹ cóc cần một gã ruột gan đều hướng về Pháp. Mai Hữu Xuân rót một ly rượu đầy, nốc cạn... Thôi thì cái món chót cuối cùng an ủi ông là rượu Pháp – ngon tuyệt!
*
Từ Huế, Dung bay lên Đà Lạt, nơi cô phải “hỏi cung” hai tướng Lê Văn Kim và Trần Văn Đôn.
Tướng Lê Văn Kim tiếp Thùy Dung ở một ngôi biệt thự nhỏ - càng rất nhỏ khi đối diện với nó là ngôi biệt thự đồ sộ, xây cả pháo đài án ngữ phía ngoài, vốn là nhà riêng của tướng Tôn Thất Đính, bây giờ thì chỉ có vài quân cảnh canh gác. Lê Văn Kim sống ẩn dật với thú đọc sách báo.
- Tôi đã được cho biết trước là bà sẽ đến làm việc với tôi. Tôi đang bị giam lỏng. Tuy vậy, tôi không một lần bước ra khỏi ngôi nhà này. Bà cứ thực hiện nhiệm vụ... - Tướng Lê Văn Kim nói rõ từng lời.
- Thưa trung tướng...
- Có lẽ bà cứ gọi tên tôi: Lê Văn Kim
Trong bộ quần áo dân sự đơn giản, Lê Văn Kim trả lời câu hỏi của Dung. Cũng ghi âm.
Một “mưu sỹ”, một “lý thuyết gia” như người ta gắn cho ông, không phải vô cớ. Dung nghĩ như vậy thông qua cách trả lời khúc chiết của tướng Kim. Ông ta khá thâm trầm. Đúng, chính ông ta vạch kế hoạch lật đổ Ngô Đình Diệm, chính ông ta tính toán nước cờ sau ngày 1-11-1963. Mặc dù ông ta chưa bao giờ tuyên bố lung tung, chưa bao giờ trồi lên hạng đầu sỏ. Ông ta biết và thích sai khiến.
- Tôi có nghĩ đến giải pháp trung lập. Song trung lập mà tôi hình dung khác thuyết trung lập của Sihanouk... Tôi chủ trương phải đánh bại Việt Cộng về tư tưởng, về ảnh hưởng chính trị rồi mới nói đến trung lập - Tướng Kim không chối bỏ lời buộc tội nghiêm trọng trong các câu hỏi.
Có thể người Mỹ và tướng Khánh không chú ý đến tướng Kim – ông ta qua lời khai để xác định quan điểm và hy vọng Mỹ sẽ nghiên cứu – Dung kết luận khi xong công việc.
- Ông có nghĩ rằng, chính ông Đỗ Mậu không thích ông? – Dung xếp máy ghi âm, hỏi một câu bên ngoài.
Lê Văn Kim cười nhẹ:
- Tôi có nghĩ, bởi vì chức Ủy viên ngoại giao của tôi trong Hội đồng quân nhân khiến ông Đỗ Mậu, ủy viên chính trị cảm thấy bị lấn quyền; tôi hết sức tế nhị trong cư xử. Song bà biết đấy, ông Đỗ Mậu không phải là hạng chịu ngồi dưới hay ngồi ngang bất kỳ ai...
- Trong vụ “chỉnh lý”, ông ấy đang ở Đại Hàn...
- Đại Hàn xa Nam Việt tính theo đường chim bay, còn nếu tính theo vô tuyến điện thì khác gì quân đoàn 2 của tướng Nguyễn Khánh với Sài Gòn...
- Nghĩa là ông ghép ông Đỗ Mậu trong vụ này?
- Tôi không ghép, sự thật là như vậy...
- Ông ân hận điều gì nhất?
- Tôi ân hận tôi: tôi không đề phòng bất trắc. Rất khó đề phòng với người Mỹ! Có lẽ bà nói đúng.
- Xin được hỏi một câu hoàn toàn riêng tư: dự kiến tương lai của ông?
- Tôi sẽ trở lại đời sống thường dân. Tôi không muốn vấy lại chính trị...
- Ông chọn ngành nào?
- Thương mại.
- Bà nhà cũng đồng ý?
- Vợ tôi và phu nhân của tướng Trần Văn Đôn là chị em ruột. Cả hai bà đều ngao ngán...
- Ông Trần Văn Đôn cũng ngao ngán?
- Tốt nhất, bà nên hỏi ông ta...
Thêm một kẻ tự loại ra khỏi vòng chiến nữa. Dung trầm tư trước khi đến gặp tướng Trần Văn Đôn.
*
Tướng Trần Văn Đôn mời Thùy Dung ngồi ở phòng khách. Biệt thự khá sang. Quanh biệt thự, một mảnh vườn nho nhỏ. Nếu so sánh, biệt thự chỉ kém nhà của Trần Trung Dung. Dung được thông báo về ngôi biệt thự này, nó thuộc một người Trung Quốc lấy Pháp tịch, tên Dominique Hoa Hồng Hỏa - dòng họ chú Hỏa (1). Với quyền lực, tướng Đôn chiếm biệt thự, chi một số tiền nhỏ rồi trả góp hàng tháng.
Dung biết tướng Đôn tự kiềm chế dữ dội trong cuộc gặp gỡ cô. Ông ta vận quân phục và ngồi thật ngay ngắn. Hai người không phải xa lạ nhau. Tướng Đôn thích Dung, đôi lần ông ta nói với bè bạn, song ông đủ khôn ngoan để dừng ở mức ngắm từ xa vợ của viên đại tá nổi danh này. Trong đời, ông bẻ đủ loại hoa, có chủ hay không chủ. Ngay Trần Lệ Xuân cũng từng mặn nồng với ông. Vợ viên tư lệnh không quân từng hiến thân cho ông. Ông từng cưới bán chính thức với diễn viên điện ảnh đang lên. Ông ngủ với vợ hàng loạt sĩ quan. Nói chung, ông không thô bạo mà tỏ tình và “con mồi” nào ông nhắm đều không thoát. Hào hoa, đẹp trai, khỏe... Ông còn một số lợi thế.
Tiểu khu trưởng Đà Lạt báo với Dung, mỗi lúc vợ ông ta về Sài Gòn thì lập tức có một – không phải một, mà hai ba – “bồ” thay thế trong các buổi nhảy thâu đêm.
Bây giờ ông ngồi trước người đàn bà đẹp và phải trả lời các câu hỏi do người đàn bà ấy nêu ra. Tuy nhiên, ông không tỏ ra khúm núm hay e dè khi trả lời, Dung hiểu tướng Đôn là bậc “trên trước” trong hàng tướng, chỉ sau tướng Big Minh. Bị Nguyễn Chánh Thi làm nhục, Đôn căm tức - tại cuộc họp tại Bộ Tổng tham mưu và trại Hoàng Hoa Thám, ông ta sợ thật vì Thi dám đánh ẩu, bây giờ lên Đà Lạt, khi mọi sự lắng dần, ông tự đánh giá lại mình: sớm muộn gì người Mỹ cũng phải dùng ông; trong hàng các tướng bị gọi là “già”, Big Minh và ông vững thế hơn hết; mọi lộn xộn rồi sẽ qua thôi... Cho nên, vài ngày sau khi lên Đà Lạt, vào ngôi biệt thự lộng lẫy của ông, ông mở liền buổi dạ hội tưng bừng, mời bạn bè từ Sài Gòn lên chơi suốt sáng. Tin đó tới tai Nguyễn Chánh Thi, Thi hộc tốc bay lên Đà Lạt và hộc tốc chạy tới biệt thự. Đã 10 giờ sáng. Thi đá mạnh vào cửa, thét quân cảnh gọi Đôn ra. Đôn đã thức dậy, bảo quân cảnh trả lời là Đôn còn đang ngủ... Thi định xộc vào phòng Đôn, Đôn nói qua cửa hé: “Thằng nào ló đầu vào phòng riêng của tao, tao bắn còn nếu thằng đó tự cho mình là con trời thì cứ nổ súng trước; bằng không, nên mang bộ mặt láu cá ra khỏi nhà tao để khỏi bị bắt về tội định ăn trộm!”
Thi tức điên ruột, song bộ hạ thân tín chỉ cho Thi xem ở phòng khách hàng đống danh thiếp, gồm các tướng Mỹ và nhân viên cấp cao của tòa đại sứ Mỹ...
- Đ.M! – Thi chửi thề mà không biết phải làm sao.
- Tên lưu manh đầu đường xó chợ nào vào nhà tao đó? Để tao gọi điện cho cố vấn quân sự Mỹ ở Đà Lạt nhờ quân cảnh Mỹ tới quét thứ dơ dáy này ra khỏi nhà tao...
Thi xô cửa phòng ngủ và thấy tướng Đôn đang quay điện thoại thật...
- Rút lui! – Tên bộ hạ thân cận của Thi bảo nhỏ và Thi rút lui.
*
- Thưa trung tướng, trung tướng mang quốc tịch Pháp? – Dung đọc các câu hỏi.
- Rồi sao? André Đôn, ai mà không biết. Cả nhà tôi đều tên Đôn. Như đại tá Nguyễn Thành Luân, Robert Nguyễn Thành Luân...
- Trung tướng sinh ở Bordeaux?
- Rồi sao?
Dung không hỏi thêm sau mỗi câu “rồi sao” của Đôn. Cô làm công việc đơn thuần chuyên môn.
- Người ta nói trung tướng muốn chấm dứt chiến tranh?
- Ai nói?
- Chấm dứt chiến tranh nghĩa là thương lượng với Cộng sản.
- Nếu không tiêu diệt hết cộng sản thì phải thương lượng, chuyện con nít cũng hiểu. Mỹ không tiêu diệt được Nga Xô, Trung Cộng thì phải đặt quan hệ ngoại giao...
- Trung tướng chủ trương trung lập ở Nam Việt?
- Nếu ông Nguyễn Khánh tìm ra được một chỗ đứng nào hay hơn trong hoàn cảnh Đông Nam Á hiện thời thì bảo ông ấy tranh luận với tôi.
Dung tắt máy. Cuộc “hỏi cung” chính thức xong.
- Trung tướng nghĩ thế nào nếu Mỹ đưa vài trăm ngàn quân vào Nam Việt?
Đôn nhún vai:
- Tôi không ưa!
- Quan điểm của trung tướng có được nhiều người chia xẻ không?
- Bạn bè của tôi đều nghĩ như tôi.
- Đây là một câu hỏi riêng của cá nhân tôi: trong đời hoạt động của trung tướng, đến hôm nay, trung tướng thấy mình hối tiếc điều gì nhất?
Đôn cắn môi một lúc.
- Ít nhất, có ba trường hợp tôi hối tiếc: một, không sát cánh với tướng Nguyễn Văn Hinh khi ông Diệm còn bấp bênh; hai, để anh em ông Diệm chết; ba, bị thành công cuộc cách mạng 1-11 lóa mắt không đề phòng phản bội... Tất cả do tôi non về chính trị. Tôi ngán binh nghiệp và muốn hoạt động chính trị hơn.
- Bà cho phép tôi gởi lời hỏi thăm đại tá. – Đôn tiễn Dung ra bậc thềm.
- Cám ơn trung tướng... Thế nào rồi Trung tướng và nhà tôi cũng gặp nhau thôi! – Dung nói, ý nhị...
- Gặp nhau về phương diện nào? Gặp mặt hay cùng chung suy nghĩ? – Đôn hỏi lại, hóm hỉnh.
- Có thể cả hai nghĩa...
Và, trước khi Dung lên xe, Đôn trở lại cái quán tính trong người ông ta; ông cầm bàn tay, mỗi ngón thon dài, trắng nuột của Dung đưa lên môi hôn.
Ông ta còn tham vọng... Muốn trở thành chính khách. Dung đánh giá tướng Đôn.
*
Cuộc “hỏi cung” tướng Tôn Thất Đính ồn ào nhất. Khi hoàn hồn rồi, lại bị tống lên xứ Pleiku núi non trùng điệp, tướng Đính nổi đóa. Tư lệnh vùng II thường đến chào ông và lần nào cũng bị ông chửi bới vuốt mặt không kịp. Tôn Thất Đính luôn mở đầu câu chuyện bằng công lao lật đổ Diệm và xỉ vả Nguyễn Khánh không tiếc lời. Đính nhậu, chơi gái và phần thì giờ còn lại thì chìm đắm trong ván bài tứ sắc, thứ mà Đính đam mê. Pleiku không có nhà to, nhưng quan chức địa phương vẫn phải thuê cho Đính một biệt thự tốt nhất. Khách khứa không ngớt. Vợ Đính thỉnh thoảng lên thăm chồng - một phụ nữ đẹp, thùy mị, nhưng vợ chồng không ở chung lâu - vợ Đính về Sài Gòn và Huế để còn lo nhà cửa.
Đính phục Luân nên nể Dung.
- Tụi nó lo chỗ ăn ở cho bà có đàng hoàng không? – Đính hỏi.
Dung trình bày nhiệm vụ của mình, xin lỗi Đính và mở máy.
- Bà cứ mở máy... Tôi chẳng thèm dấu diếm... - Đính liếc qua các câu hỏi, xếp tờ giấy lại – Tôi không trả lời từng câu, thẩm vấn tôi? Chính tôi mới đủ tư cách thẩm vấn thằng Khánh. Còn thằng Thi, nó là con rận. Tụi Vĩnh Lộc, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ hở? Đồ cặn bã. Tôi chống Cộng. Tôi chống độc tài, độc tài Ngô Đình Diệm hay độc tài Nguyễn Khánh tôi đều chống. Tôi là hoàng tộc. Tôi biết đánh giặc, tôi biết thắng giặc. Tôi... tôi... tôi...
Rồng rặc “tôi” trong cả băng ghi âm C.90
- Mỹ lầm nên sài thằng Khánh. Nó sẽ cho Mỹ sạt nghiệp... Tôi chẳng trung lập, chẳng thân Pháp... Còn lợi dụng tiền bạc? Tôi có một nhà ở Đà Lạt, vùng chiến thuật xây cho tôi. Đừng bày đặt hỏi vụ tiền bạc. Tôi không phải thằng ăn mày, tôi giàu, vợ tôi giàu. Về tiền bạc lem nhem, nên hỏi cung thằng Thi, thằng Ky, thằng Khánh. Thằng Kỳ buôn lậu á phiện với Francisci. Chị nó là trạm chuyển hàng lậu ở Savanakhet. Thằng Thi moi trong đống rác kiếm xương cá đầu tôm ở Nam Vang, về nước có nửa tháng mua liền hai biệt thự. Thằng Khánh chứa gái điếm ở Pleiku này... Tôi mà được Mỹ trả tự do, nắm quyền, tôi bắn ráo mấy thằng phản phúc... Bà đừng xóa chữ nào trong băng và, nếu bà cam đảm, xin in một bản gửi cho đại sứ Cabot Lodge hoặc cho tướng Jones Stepp...
- Đây là câu hỏi riêng của tôi. – Dung tắt máy - Người ta nói ông Diệm vì tin trung tướng mà chết... Nói cách khác, trung tướng phản bội...
- Tôi đợi bà hỏi câu này... Tại sao tôi phải trung thành với ông Diệm?
- Ông từng được ông Diệm xem như con nuôi...
- Thế đại tá Luân không phải là con nuôi của giám mục Ngô Đình Thục đó sao?... Tuy vậy, tôi phản đối giết anh em ông Diệm. Chắc đại tá Luân cùng quan điểm với tôi.
Dung chào từ biệt Tôn Thất Đính.
- Về phần tôi, bà sẽ thấy, người ta sẽ xin lỗi tôi và khôi phục danh dự cho tôi. Ở Việt Nam, không dùng tôi trong việc quân thì dùng ai? Cũng như việc chính trị, không dùng đại tá Luân thì dùng ai?
*
- Tôn Thất Đính còn rất hăng máu mà rất lông bông. - Thùy Dung nhận xét với Luân khi về đến Sài Gòn
Nghe xong các băng, Luân nói:
- Đây là những con người của ngày hôm qua...
---
(1) tức Hui Bon Hoa, một đại tư sản người Hoa tại Sài Gòn đầu thế kỷ XX

CHƯƠNG 10

Sáng ngày 2-2, Nguyễn Khánh làm một cú “chiến tranh tâm lý” khá lả lướt; cùng tướng Dương Văn Minh đến dâng hương chùa Xá Lợi. Thực sự đây không phải là sáng kiến của Nguyễn Khánh mà y ta chỉ chấp hành lệnh của Mỹ, cần tung ra hỏa mù về sự cố ngày 30-1; rõ ràng chỉ là một cuộc “chỉnh lý” hoàn toàn nội bộ, không hề va chạm đến nội dung lập đổ triều đại Ngô Đình Diệm, không hề là dấu hiệu “Cần Lao ngóc đầu dậy”, không hề có rạn nứt trong hàng tướng lĩnh. Phong trào Phật giáo đã tạo điều kiện lật đổ Ngô Đình Diệm, phong trào đó đang “làm chủ” dư luận, hàng đêm, hàng vạn, thậm chí hàng chục vạn đến các chùa nghe nhà sư thuyết pháp – đúng ra, nói chính trị, đủ loại chính trị; sách của Thích Nhất Hạnh bán chạy, tài hùng biện của Thích Hộ Giác thu hút... Những cái đó không thể coi thường. Mặc dù tổng thống Johnson gửi thư cho Nguyễn Khánh cam kết ủng hộ bộ sậu mới, sự ủng hộ đó không phải vô điều kiện. Chẳng hạn, một đợt tấn công của Phật tử hoặc sinh viên vào Nguyễn Khánh thì Washington dễ dàng rút lời cam kết như họ từng làm. Không ít sĩ quan cấp tướng, chính khách rất ranh ngoi lên và sẵn sàng quật Khánh. Trong trường hợp này, tốt nhất là dựa hơi tướng Minh.
Ngày 3-2, Nguyễn Khánh tiếp xúc với các giới, sửa soạn thành lập chính phủ mới. Ngày hôm sau, anh ta bị một cú đánh phủ đầu mà không có triệu chứng báo trước: mấy nghìn sinh viên, học sinh biểu tình qua các đại lộ và công sở chính, mang các khẩu hiệu thách đố bí hiểm:
Phải đại đoàn kết quốc gia!
Phải thực thi dân chủ!
Đả đảo chế độ độc tài cá nhân nguỵ trang!
Đả đảo bọn lật lọng!
Không có khẩu hiệu nào, kể cả hô bằng miệng: kết án đích danh Nguyễn Khánh, nhưng ai cũng biết cuộc biểu tình rầm rộ hàm chứa cái gì. Nhất là, đồng thời, các giám mục đạo Thiên Chúa cũng ra lời kêu gọi đoàn kết quốc gia. Và cũng khá đặc biệt, cách đây mấy hôm, cũng học sinh, sinh viên biểu tình chống thuyết trung lập - khẩu hiệu đó bỗng nhiên biến mất.
*
Báo cáo của Tổng nha cảnh sát
Tuyệt mật
Nơi nhận: Trung tướng Nguyễn Khánh
Cuộc biểu tình coi như ôn hòa của ba nghìn học sinh, sinh viên bắt đầu từ trụ sở 4 Duy Tân, kéo qua nhà thờ Đức Bà, thẳng đến dinh Độc Lập, theo đường Công Lý, ra đường Lê Thánh Tôn trước tòa Đô chính, theo đường Lê Lợi, quanh lại trụ sở Quốc hội, theo đường Tự Do trở về đường Thống Nhất, qua tòa Đại sứ Mỹ và giải tán ở số 4 Duy Tân.
Chưa thể xác định ai đứng ra tổ chức cuộc biểu tình này, mà số tham gia gồm sinh viên trường Luật, Khoa học, Trung tâm kỹ thuật Phú Thọ, Vạn Hạnh, học sinh trường Phan Sào Nam, Cao Thắng, Huỳnh Khương Ninh. Có người của Phật giáo, có người ở Thiên Chúa giáo, có người của phe phái Đại Việt, cũng có thể có các phần tử thân Cộng trà trộn vào... Đang thẩm tra và phúc trình sau. Điều đáng chú ý mà số người mà Tổng Nha giữ liên hệ trong Tổng hội sinh viên, Hội đồng chỉ đạo trong từng phân khoa loại hoàn toàn không hay biết gì về cuộc biểu tình này.
*
Tin các báo
Ngày 5-2, bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn, lãnh tụ đảng Đại Việt, sau nhiều năm sống lưu vong ở Pháp và Mỹ, về nước trên chuyến máy bay thường lệ của hãng hàng không Pan America. Ra sân bay đón bác sĩ có thiếu tướng Đỗ Mậu, ông Hà Thúc Ký, ông Nguyễn Ngọc Huy cùng nhiều người khác. Được hỏi về hoạt động của ông trong những ngày sắp tới, bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn cho biết ông sẽ bàn với các chiến hữu quốc nội để hoạch định một chiến thuật thích hợp trong điều kiện hiện nay, nhất là thành lập Mặt trận quốc gia cấp tiến, mà theo ông là hết sức cần thiết. “Chế độ ông Diệm tuy mang nhiều nhược điểm, song nó dựa trên chủ thuyết Cần Lao nhân vị, trong khi nhóm tướng lãnh lật đổ ông Diệm không tạo ra được một chủ thuyết nào. Lỗ hổng đó cần được lấp. Tôi kỳ vọng Mặt trận quốc gia cấp tiến sẽ trình trước quốc dân con đường cứu nước hữu hiệu” – ông Hoàn tuyên bố như vậy, sau đó cùng phu nhân lên xe về một ngôi nhà đã được sửa soạn để đón ông.
Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn tốt nghiệp ở Hà Nội và từng chống lại Việt Minh. Ông không được chế độ họ Ngô trọng dụng, phải sang Pháp mở hiệu bán cơm lấy tên là Sông Hương ở Paris. Những năm sau này, khi Việt Cộng hoạt động mạnh tại Nam Việt và chế độ ông Diệm mất lòng dân, ông Hoàn được một số chính khách Mỹ mời sang Mỹ.
*
TỪ QUÁ ĐỘ ĐẾN QUÁ ĐỘ
(Helén Fanfani, Financial Affair)
Sài Gòn, tháng 2
Tướng tư lệnh vùng II – vùng cao nguyên và bờ biển Nam Trung Việt, chỉ huy một cú sân khấu giật gân mà ông gọi là “chỉnh lý nội bộ” cốt tránh một danh từ khác lịch sự hơn song cũng đáng sợ hơn: đảo chính. Theo cung cách phương Đông, thường thể hiện trong các tiểu thuyết đánh kiếm, khi một phái nào đó phát sinh lộn xộn thì bậc tôn trưởng đứng ra chỉnh đốn, lập lại trật tự, bảo đảm kỷ luật. Tướng Nguyễn Khánh còn rất xa mới được giới quân sự đánh giá như một bậc tôn trưởng – ông không có tài, ông không đủ sức, tuổi ông chưa cao, về cấp bậc ông vừa từ đại tá thăng nhanh lên trung tướng. Về chính trị, ông và một số tướng khác như Đỗ Cao Trí, Huỳnh Văn Cao thường bị xem như tay chân của ông Diệm; trong biến cố 1-11, người ta ngại ông kéo quân về Sài Gòn để giải vây cho ông Diệm. Thế mà ông lật đổ dễ dàng cả nhóm của tướng Big Minh, không cần nổ súng. Lý do “chỉnh lý” hơi khó hiểu. Thoạt đầu, ông kết án Hội đồng quân nhân “phản lại cuộc cách mạng 1-11-1963, ngả nghiêng, chịu ảnh hưởng thuyết trung lập và thân Pháp”. Có vẻ lập luận ấy không đủ sức gây ấn tượng nghiêm chỉnh bởi vì chính ông cũng xuất thân từ trường võ bị do Pháp đào tạo trên Đà Lạt, một thời gian ngắn ngủi đã đi theo Việt Minh rồi quay về trong vòng tay người Pháp. Một lập luận khác thay thế: các tướng trong Hội đồng quân nhân quá già. Lập luận này vẫn là đề tài cho dư luận cười cợt, tuổi tác của họ chưa thể coi là già.
Nhưng, tất cả đều nhằm che đậy điều thực tình ai cũng rõ; giới ngoại giao Sài Gòn và người dân Nam Việt bình thường. Êkíp Big Minh không đáp ứng đủ đòi hỏi của chính sách Mỹ - chính sách dồn lực lượng quân đội để đánh bại Việt Cộng thật nhanh. Sau khi ông Diệm đổ, quốc sách ấp chiến lược mà ông Nhu hao bao nhiêu tâm trí thực hiện theo gợi ý của kinh nghiệm Anh ở Malay, quốc sách ấy sụp đổ. Việt Cộng không làm được gì sớm hơn giữa lúc Sài Gòn rối loạn nhưng họ đã khai thác tối đa cơn dao động của binh lính và viên chức chính quyền cấp xã ấp, đồng loạt phá vỡ hệ thống ấp chiến lược, biến nông thôn thành dinh lũy đề kháng dưới ngọn cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng, dựng lên chính quyền Việt Cộng kiểm soát khá rộng lãnh thổ Nam Việt. Các thước phim quay từ máy bay cho thấy Việt Cộng thậm chí làm chủ hàng loạt thị trấn sầm uất. Hiển nhiên, Việt Cộng đã có nhiều súng hơn, nhiều binh đoàn hơn so với ba năm trước.
Êkíp Big Minh lúng túng. Nếu dàn mỏng lực lượng thì dễ làm mồi cho Việt Cộng. Nếu tập trung cho các chiến dịch lớn thì không sao cùng lúc tiến công rộng được.
Người Mỹ sốt ruột. Thời gian kéo dài sẽ ủng hộ đối phương. Phải tính đến khả năng xấu nhất, tức đổ quân Mỹ vào Nam Việt. Đó là phương án Johnson. Tuy nhiên, hậu cứ của Mỹ và Nam Việt chưa bảo đảm cho cuộc viễn chinh bằng thực binh Mỹ. Người ta không tin rằng êkíp Big Minh thích hợp với một tình huống như vậy.
Ông Diệm khá cứng đầu. Những người thay thế ông ngoan ngoãn hơn nhưng chưa đủ ngoan ngoãn như Mỹ cần. Tướng Nguyễn Khánh xuất hiện và lãnh vai trò phá bĩnh. Đại sứ Cabot Lodge hiểu đâu là biên độ không vượt quá. Cho nên, tướng Big Minh lại được cử làm Quốc trưởng và tướng Nguyễn Khánh xuống giá một chút: ông làm Thủ tướng.
Màn kịch vừa bắt đầu, Quốc trưởng và Thủ tướng khó mà nhìn mặt nhau dù họ cùng đến ngôi chùa nổi tiếng sào huyệt của các nhà sư. Tướng Nguyễn Khánh đi sau và người ta mường tượng ông dí súng vào lưng tướng Minh buộc Quốc trưởng phục tùng mình. Liệu tướng Big Minh chịu phục tùng không?
Dù thế nào, êkíp cũ của tướng Big Minh, trong tay nhào nặn của ông Cabot Lodge, chỉ là chiếc cầu quá độ. Bây giờ, êkíp mới, kể các tướng Nguyễn Khánh chắc chắn cũng là chiếc cầu nửa vời chờ một chiếc cầu khác kiên cố hơn, đủ sức chịu trên lưng một trọng tải những trăm ngàn binh sỹ Mỹ... Từ quá độ đến quá độ, tới hôm nay chưa thể nói rằng đã có thể đặt dấu chấm dứt khoát cho “những người bạn Mỹ” ở Sài Gòn.
*
Thông cáo của văn phòng Quốc trưởng
Sau khi thăm dò ý kiến các nhân sĩ, trung tướng Nguyễn Khánh đã trình Quốc trưởng danh sách chính phủ mới. Quốc trưởng chấp thuận danh sách này và chính phủ mới bắt đầu hoạt động từ ngày 8-2-1964 theo tinh thần Hiến ước lâm thời số 2.
Thủ tướng: Trung tướng Nguyễn Khánh
Phó thủ tướng đặc trách bình định: Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn.
Phó thủ tướng đặc trách kinh tế và tài chính: Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh.
Phó thủ tướng đặc trách văn hóa và xã hội: Thiếu tướng Đỗ Mậu.
Quốc vụ khanh: Bác sĩ Lê Văn Hoạch
Tổng trưởng ngoại giao: Bác sĩ Phan Huy Quát.
Tổng trưởng nội vụ: Hà Thúc Ký.
Tổng trưởng công chánh: Kỹ sư Hoàng Ngọc Oanh
Tổng trưởng quốc gia giáo dục: Luật sư Bùi Tường Huân.
Tổng trưởng quốc phòng: Trung tướng Trần Thiện Khiêm
Tổng trưởng cải tiến nông thông: Nguyễn Công Hầu
Tổng trưởng y tế: Bác sĩ Vương Quang Trường.
Tổng trưởng lao động: Đàm Sỹ Hiến.
Tổng trưởng thông tin: Phạm Thái.
Tổng trưởng tài chính: Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh
Tổng trưởng kinh tế: Tiến sĩ Âu Trường Thanh.
Tổng trưởng tư pháp: Luật sư Nguyễn Văn Mần
Tổng trưởng xã hội: Giáo sư Trần Quang Thuận.
Bộ trưởng phủ thủ tướng: Nghiêm Xuân Hồng.
Bình luận của báo chí:
Việt tấn xã điểm dư luận các dư luận các báo Mỹ và Pháp về thành phần chính phủ Nguyễn Khánh.
1) Một cuộc xoa dịu sau cú “chỉnh lý”
2) Tính chất “chính chủ chuyên viên” có pha loãng nhưng nhân vật của chính phủ cũ còn lại, ở các ngành kinh tế - xã hội – văn hóa như Vương Quang Trường, Âu Trường Thanh, Trần Ngọc Oanh và bổ sung thêm Nguyễn Xuân Oánh, Bùi Tường Huân, Nguyễn Văn Mậu.
3) Vẫn ba viên tướng có chân trong chính phủ, số lượng như chính phủ trước, trong đó có hai tướng mới là Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm và tướng cũ là Đỗ Mậu.
4) Thành phần đảng Đại Việt và Quốc dân đảng tăng rõ rệt: Nguyễn Tôn Hoàn, Hà Thúc Ký, Phan Huy Quát, Nghiêm Xuân Hồng, Phạm Thái, Đỗ Mậu. Có hai nhân sĩ tôn giáo: Lê Văn Hoạch (Cao Đài), Trần Quang Thuận (Phật giáo).
*
Luân được chính Nguyễn Khánh thăm dò. Cuộc gặp gỡ chừng 15 phút, tại Bộ tổng tham mưu.
- Tôi sắp trình trước Quốc trưởng một chính phủ mới thay chính phủ ông Nguyễn Ngọc Thơ... Đại tá có thể nhận một bộ nào trong chính phủ của tôi không?
- Trước khi trả lời trung tướng, tôi muốn biết chủ trương chung của chính phủ.
- Đó là điều kiện của đại tá?
- Thưa trung tướng, dẫu sao tôi cũng không thể gật hoặc lắc đầu trước hảo ý của trung tướng nếu tôi chưa biết dự định hành động theo phương hướng nào...
- Đây là chính phủ cách mạng, theo hiến ước đã công bố. Chính phủ phải chấp hành tinh thần cuộc chỉnh lý, tức phải dành cho nỗ lực an ninh khắp lãnh thổ, chống Cộng và trung lập, hợp tác chặt chẽ hơn với lực lượng người Mỹ tại chiến trường, và cũng hợp tác chặt chẽ hơn với người Mỹ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao...
- Tôi chưa thấy điểm nào khác so với chính phủ trước...
- Tại sao lại phải khác?
- Nói thế thôi, tôi hiểu một điểm khác rất lớn...
- Đại tá muốn nói gì?
- Một chính phủ mở cửa...
- Cho người Mỹ?
Luân mỉm cười.
- Đại tá không thích?
- Vấn đề không phải là thích hay không... Vấn đề là cần hay không.
- Là Phó tổng thanh tra quân lực, đại tá hiểu quá rõ tình hình chiến trường hiện nay. Chúng ta cần sự giúp đỡ của người Mỹ nhiều hơn nữa và trực tiếp hơn nữa...
- Thưa trung tướng, một số người Mỹ vẫn đắn đo...
- Tôi hiểu. Người Mỹ sợ dính líu quá sâu vào Việt Nam. Song, tổng thống Johnson quyết tâm.
- Quyết tâm mạo hiểm?
- Đại tá chơi thân với tướng Jones Stepp. Tôi cho là tướng Jones Stepp cũng bắt đầu có cái nhìn khác... ..
- Không ít các bạn Mỹ của tôi lo lắng... Và, riêng trung tướng, thủ tướng chính phủ, đã sẵn sàng đứng trước lịch sử về vai trò cùng người Mỹ rẽ bước ngoặt trong cục diện Nam Việt?
Khánh thoáng đăm chiêu:
- Trước lịch sử! Danh từ to tát quá!
- Rồi trung tướng sẽ thấy...
- Ta trở lại việc chính của buổi gặp hôm nay: Liệu đại tá có thể làm việc với tướng Trần Thiện Khiêm hay không?
- Tôi và tướng Khiêm chưa bao giờ có gì không bằng lòng nhau hoặc bằng lòng nhau... Đó là ý riêng của tôi.
- Tôi mời tướng Khiêm làm tổng trưởng quốc phòng và tôi đề nghị đại tá làm bộ trưởng...
- Rất cám ơn trung tướng, song...
- Hay đại tá nhận nhiệm vụ Quốc vụ khanh... Tôi đã mời bác sĩ Lê Văn Hoạch, hai Quốc vụ khanh cũng được...
- Rất cám ơn trung tướng, song...
- Đại tá từ chối?
- Tôi cho là chưa phải lúc tôi nhận các trọng trách...
- Đại tá tin rằng tôi không đứng vững? - Giọng Khánh hơi sừng sộ.
- Tôi chưa nói như vậy.
- Chưa nói mà đại tá nghĩ như vậy... Tôi được đảm bảo sẽ lãnh đạo Nam Việt đến ngày toàn thắng...
Luân không nói gì, đứng lên chào đúng điều lệnh.
- Đại tá sẽ hối tiếc...
Luân muốn nói “anh sẽ hối tiếc!”. Nhưng, Luân kìm được.
Thật ra, Saroyan đã gặp anh và chuyển lời khuyên của Jones Stepp: Đừng vội nhận lời. Luân biết rõ trò múa rối của Nguyễn Khánh sắp hạ màn...
*
Cuộc họp tay ba kéo dài từ 6 giờ chiều đến gần 12 giờ đêm. Lẹt đẹt pháo đón tết Giáp Thìn từ ngoài phố vọng vào. Hôm nay, 28 tết. Họ hầu như không uống rượu. Bàn ăn dọn cũng đơn sơ với vài món. Ngôi biệt thự lùi sâu, phòng khách im ắng, ngoài tiếng máy điều hòa chạy đều đều.
- Ta có thể gút lại kế hoạch. - Một người mặt mũi thư sinh, cố tỏ ra đường bệ, nói giọng pha trộn Nam Trung Bắc.
- Tôi còn e ngại một chút... - Một người béo, da hơi sạm, nói giọng Nam Trung Bộ vẻ đắn đo.
- Thiếu tướng e ngại điều chi? - Người thứ ba đeo kính cận, trông bề ngoài đã thấy tính giảo hoạt của y.
- Nguyễn Cao Kỳ nắm không quân, ta khó mà... - Người được gọi thiếu tướng - là Nguyễn Văn Thiệu - trả lời.
- Anh Huy đã tính kỹ rồi... - Người mặt mũi thư sinh nói, đó là Nguyễn Tôn Hoàn...
- Tôi đảm bảo! - Nguyễn Ngọc Huy, người đeo kính cận, quả quyết.
- Ai sẽ thực hiện? - Thiệu hỏi.
- Có cần nói chi tiết với hai anh không?
Thiệu cau mày:
- Không nói cũng được. Có sao không?
- Tin cậy tuyệt đối!
- Là đảng viên?
Nguyễn Ngọc Huy bật cười:
- Không, cần gì là đảng viên? Có lúc, ta xem “hắn” như đảng viên đó... Và bây giờ... Còn gã thừa hành thì...
Huy ra dấu đếm bạc.
- Một gã phiêu lưu dám làm tất cả, miễn có đô la...
- Liệu có thể bị lộ không?
- Không! Tôi đã rà kỹ với gã. – Huy trở nên bực bội
- Tôi tin anh. - Thiệu dịu giọng – Bây giờ ta gút bước thứ hai...
- Tôi sẽ lấy tư cách quyền Thủ tướng giải quyết các việc cần. - Nguyễn Tôn Hoàn trình bày.
- Ý kiến người Mỹ? - Thiệu hỏi.
- Tất nhiên... Anh khỏi lo.
Hoàn tiễn hai người ra về.
*
... Ly Kai đến một nơi – nơi mà lần đầu Ly Kai gặp John Hing, căn phố hẹp, bán hàng mã. Vẫn tên Loẽng gầy nhom, hom hem chỉ thang gác ọp ẹp cho Ly Kai lên lầu. Và, vẫn căn phòng cũ kỹ với giá sách, bộ tràng kỷ, chiếc đi văng.
- Ông có gì gấp mà hẹn bất thường? Bắt được con của Nguyễn Thành Luân rồi? – John Hing hỏi.
Ly Kai không thấy bàn đèn thuốc phiện, chắc John Hing đã hút xong.
- Vụ con của Nguyễn Thành Luân chưa xong, đang nghỉ tết, trẻ con không đến trường... Nhưng thế nào cũng xong.
- Thế thì vụ gì?
- Vụ này khá quan trọng...
Ly Kai lại thấp giọng.
- Không được! – John Hing xua tay – Tôi còn cần ông ta!
- Nhưng, mới hôm kia, ông có ý...
- Phải! Song đó là hôm kia... Nói rõ với ông, tôi chưa tìm được người thay
- Vậy... tôi phải... - Ly Kai lắp bắp
- Ông trả tiền lại, chứ gì?
Ly Kai gật đầu
- Càng không được... Tụi nó thịt ông ngay, hiểu chưa.
Ly Kai ngẩn ngơ.
- Bom hẹn giờ?
Ly Kai gật đầu.
- Thế thì quá dễ... Bao giờ?
- Mồng hai tết.
- Cho nổ trước?
- Báo động hả? Y ta biết...
- Ừ, tôi muốn báo động... .. Phần ông, ông có thể trả lời với nhóm kia là do trục trặc kỹ thuật... Đã gắn bom chưa?
- Sẽ gắn...
- Bảo đảm bí mật chứ?
- Dĩ nhiên...
- Tốt! Cách bịt đầu mối?
- Có cách...
- Tôi dặn ông thêm: Phải đối đáp cho xuôi với nhóm kia...
- Tôi hiểu...
*
Tám giờ sáng mùng Hai tết, chủ tịch Hội đồng quân nhân, Tổng tư lệnh quân đội, Thủ tướng chính phủ, trung tướng Nguyễn Khánh, sau chuyến chúc tết quân đội vùng I, đang có mặt ở phòng khách sân bay Sơn Trà. Độ một tiếng đồng hồ nữa Khánh bay về Sài Gòn, theo chương trình dự định – tối nay, đại tá Dương Ngọc Lẫm, đô trưởng mở tiệc chiêu đãi.
Khánh thỏa mãn ra mặt. Viên chức và quân đội Quảng Trị đón vị Chủ tịch Hội đồng quân nhân cực kỳ trọng vọng. Một cuộc duyệt binh lớn ngay Thành cổ. Huế cũng không chịu kém. Nguyễn Khánh đón giao thừa ngay trong thành nội và ngồi lên chiếc ghế từ lâu không có ai ngồi - ghế dành cho Bảo Đại. Trưa mùng Một, Nguyễn Khánh đón trực thăng về Đà Nẵng. Buổi chiều duyệt binh và Khánh huấn thị. Tiệc đến quá nửa đêm.
Đôi lúc, Khánh tự vấn: Thật như vậy sao? Vinh quang đến với anh ta khá ly kỳ và anh ta lòng hẹn lòng: phải tận hưởng cái quyền uy trời ban cho này.
Chốc chốc, một sĩ quan khúm núm báo cáo:
- Máy bay rời Tân Sơn Nhất từ sáng sớm, đang trên vùng trời Phú Yên...
- Máy bay vào vùng trời Quảng Ngãi
Chiếc máy bay riêng, trước kia Ngô Đình Diệm sử dụng, ngay trong các chuyến công du sang Đài Bắc, Manila... Máy bay đã tu bổ và thêm cờ hiệu bên hông với số 1 kẻ thật đậm. Khánh chỉ thị ngay việc này khi lên ghế chủ tịch, bắt chước Mỹ. Máy bay riêng của Tổng thống Mỹ có mang chữ Air Force One.
Tuần rượu chót, Nguyễn Khánh chạm cốc với các người ra sân bay tiễn khi được báo: máy bay vào vùng trời Quảng Nam.
Nhân viên không lưu sân bay Sơn Trà đã cầm cờ đứng trên đường băng. Chiếc cầu thang từ từ lăn bánh. Đoàn xe rục rịch nổ máy để chờ Nguyễn Khánh, tùy tùng và quan chức đưa tiễn đến tận máy bay.
Bỗng viên sĩ quan mặt tái mét, báo cáo lạc cả giọng:
- Đứt liên lạc với máy bay...
- Sao? - Nguyễn Khánh sửng sốt.
- Trình trung tướng, không nghe tín hiệu hoặc đàm thoại của phi hành đoàn...
*
Tin khẩn
Phóng viên AP ở Sài Gòn điện về Tổng xã Washington. Lúc 7 giờ 48 phút ngày 14-2, đúng dịp tết cổ truyền Việt Nam, chiếc C.47 của không lực Việt Nam Cộng hòa chuyên dùng cho nguyên thủ quốc gia, trên đường từ Sài Gòn ra Đà Nẵng đón Thủ tướng Nguyễn Khánh đã phát nổ trên không phận Quảng Nam, đâm vào núi. Phi hành đoàn bốn người đều thiệt mạng...
*
Tin các báo
Đại úy kỹ thuật cơ khí không quân Tân Sơn Nhất Phan Hòa chết đột ngột, tại phòng làm việc. Theo các nguồn tin thông thạo, đại úy bị đầu độc...
*
Thông báo của Chủ tịch Hội đồng quân nhân
(công bố trên các báo chí, đài phát thanh)
Chủ tịch Hội đồng quân nhân ra lệnh cho cựu bộ trưởng chế độ Ngô Đình Diệm là Nguyễn Đình Thuần, cựu trung tá Vương Văn Đông đang lẩn tránh phải ra trình diện với cảnh sát trong vòng 12 tiếng. Quá thời hạn đó, bất kỳ nhân viên công lực nào cũng có quyền bắt sống hay bắn chết hai người nói trên...
*
... Luân trao đổi với Dung.
- Chắc chắn không phải Nguyễn Đình Thuần hay Vương Văn Đông dính vào vụ nổ máy bay và cái chết của Phan Hoà...
- Thế tại sao lại có việc phát lệnh truy nã?
Luân cười:
- Hỏa mù do nhiều phía tung ra... Riêng Phan Hòa, anh ta phải chết vì là đầu mối cần phải bịt...
- Ai? – Dung hỏi.
Luân nhún vai, im lặng
*
Cùng ngày 17-2, hai sự kiện được báo chí nêu bật:
Lựu đạn nổ tại rạp chiếu bóng Kinh Đô - rạp dành riêng cho người Mỹ, hơn một trăm người chết và bị thương (tin các báo).
Sỹ quan báo chí quốc phòng cho biết: thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, cận vệ của tướng Dương Văn Minh, bị giam tại Lữ đoàn dù từ hôm 30-1, tức là hôm Nguyễn Khánh “chỉnh lý”, đã dùng giây dày thắt cổ (tin các báo). Nguyễn Văn Nhung trong toán áp giải anh em Ngô Đình Diệm. Đã có dư luận gán thiếu tá Nhung tự tay bắn chết anh em ông Diệm mặc dù thiếu tá đính chính. Việc thiếu tá Nhung bị giam, phải hiểu như là sự trả thù của những người ủng hộ ông Diệm và bây giờ, thiếu tá “tự vẫn” xác minh thêm phe Cần Lao không khoanh tay trước món nợ máu lớn ngày 2-11-1963 – (bình luận của AFP).
Ý nghĩa của hành động ông Nhung chết khá rộng: vừa cảnh cáo tướng Big Minh, vừa dằn mặt tướng Nguyễn Khánh. Cũng có thể tướng Nguyễn Khánh bí mật hạ thủ thiếu tá để lấy lòng dư luận đảng Cần Lao. Bất kể như thế nào – ông Nhung tự sát hay bị giết – sân khấu chính trị Sài Gòn ngày mỗi thêm yếu tố để thêm bi đát, bởi tướng Big Minh dù trầm tĩnh đến đâu vẫn khó mà không phản ứng ở mức nào đó khi sĩ quan cận vệ của mình bị bắt dẫn đến cái chết (bình luận của Reuter)
Người ta đặt câu hỏi: Nguyễn Chánh Thi dính líu như thế nào đến thiếu tá Nhung? Và Nguyễn Chánh Thi là ai? – chính xác hơn, thi hành lệnh của ai? (bình luận của AEP).
Liệu người ta có thể treo cổ bằng một sợi dây cột giày không? (báo Đất Tổ)

CHƯƠNG 11

Bé Lý bị bắt cóc. Sự việc diễn ra khá ồn ào. Hết giờ học, Lý ra khỏi phòng, chị Sáu đã chực sẵn như mọi ngày, dẫn Lý qua cổng trường. Một xe taxi trờ tới, một phụ nữ như đợi từ lâu, giật bé Lý khỏi tay chị Sáu, ôm bé Lý chui vào xe đã mở cửa, một người đàn ông đón bé Lý. Bé Lý kêu thét. Chị Sáu cũng kêu thét. Xe lao vút...
Bà sơ hiệu trưởng trường mẫu giáo, khai với cảnh sát: vào 3 giờ chiều, một người đàn bà mới trên 40, ăn mặc sang trọng, đến lớp xin lãnh bé Lý ra ngoài. Cô giáo không cho. Người đàn bà chìa danh thiếp – hình như tên Tuyết - nói là họ hàng với đại tá Luân, muốn đón cháu về sớm vì chiều nay nhà có giỗ chạp. Cô giáo vẫn không cho. Người đàn bà, vẻ mặt hiền lành, đến gặp hiệu trưởng. Hiệu trưởng nhã nhặn xin lỗi không thể làm theo ý bà ta vì quy định của nhà trường, chỉ có người sau đây mới được nhận cháu: chị Sáu, thiếu úy Thạch, vợ chồng đại tá Luân. Người đàn bà cũng nhã nhặn phân trần rồi về.
Dung nhận được điện của bà hiệu trưởng. Cô gần ngất xỉu. Sau khi báo cho Tổng giám đốc biết tin này, Dung hối hả lái xe đến trường. Cùng lúc, Luân có mặt.
Theo các nhân chứng khai với cảnh sát, bà sơ xác nhận người đàn bà bắt có bé Lý chính là người xin lãnh bé Lý - cách ăn mặc thì thay đổi: không phải chiếc áo dài trang nhã mà chiếc áo bà ba màu sậm.
Chị Sáu còn nhớ ra: vài ngày trước, chiếc taxi hay đậu ở góc đường. Nhưng chị không lưu ý.
Dung khóc rất nhiều. Luân trầm ngâm. Sau cùng Luân an ủi Dung:
- Chắc chắn trước mắt không có điều gì nguy hiểm đối với con đâu... Thậm chí, chẳng bao lâu nữa ta sẽ được tin con.
Saroyan đến nhà Luân. Theo Saroyan, Jones Stepp đã biết tin này và đã ra lệnh hệ thống tình báo quân sự Mỹ kiểm tra các đầu mối, tìm dấu vết. Tất nhiên, Tổng nha cảnh sát, Nha cảnh sát đô thành lập tức tiến hành công việc truy lùng.
“Ai? Để làm gì?”
Luân theo đuổi lập luận qua khói thuốc, giữa lúc Saroyan và Dung nức nở. Loại trừ các nhóm, Luân nghĩ nhiều đến cánh Đại Việt, đến cá nhân Nguyễn Chánh Thi và John Hing. Khả năng tống tiền hoàn toàn bị gạt bỏ. Còn lại khả năng uy hiếp tinh thần Luân. Saroyan ra về. Vẫn chưa có tin. Suốt đêm, hai vợ chồng Luân không ngủ, chờ điện thoài reo. Không có. Sáng, Luân đi làm. Anh đoán là bọn bắt cóc không muốn nói chuyện với anh, một người đàn ông. Chúng sẽ đánh vào Dung.
- Em không nên đồng ý hoặc không đồng ý khi chúng nêu giá về con chúng ta... - Luân dặn vợ - Đây rõ ràng là một hành động vì mục đích chính trị. Hôm nay, em ở nhà... Anh tin là sẽ có người gọi lúc anh vắng mặt.
- Cần theo dõi các máy điện thoại không? – Dung hỏi.
- Không cần... Tuy chúng nhắm vào anh, nhưng nếu biện pháp của ta quá đáng, rât có thể ảnh hưởng đến con... Em phải bình tĩnh. Tất nhiên, em tỏ cho ai đó biết là em hết sức lo lắng về con... Một cái gì khá đặc biệt xuất hiện đây...
- Đêm hôm, con nó khóc... Tội nghiệp con tôi! – Dung vật vã, ràn rụa nước mắt.
- Em cố gắng làm chủ tình cảm. Thủ đoạn của chúng thật man rợ. Thời kỳ những cái gì man rợ nhất đã bắt đầu... Anh nghĩ rằng Jones Stepp biết, Saroyan bị lừa, nhưng không sao...
- Có nên giảm truy lùng không?
- Cứ tiếp tục truy lùng. Tổng nha không liên can đến vụ này. Tiếp tục truy lùng có nghĩa là thúc giục kẻ dấu mặt phải ra mặt sớm. Em nói chuyện với Tổng giám đốc và giám đốc đô thành yêu cầu thông báo trong nghành nhận dạng người bắt cóc, chiếc xe, ảnh của bé Lý... Thông báo nội bộ thôi. Thế nào bọn chúng cũng theo dõi hoạt động của cảnh sát. Nhất là khu vực quận Năm...
- Tại sao quận Năm?
- Em không thấy nơi giữ bé Lý tốt nhất là quận Năm sao? Vùng khó kiểm soát nhất...
Thực tế, Luân đã bố trí một phương án riêng. Anh cho Thạch rời khỏi nhà từ tờ mờ sáng, hóa trang làm một khách đi môtô mà xe hỏng, quan sát bên ngoài.
Luân hôn vợ, lên xe. Xe ra khỏi cổng. Thay chổ Thạch là một tài xế khác, một quân nhân vóc vạc như Thạch. Vẫn người bảo vệ cũ – một sĩ quan an ninh –ngồi trước Luân.
Xe qua chỗ Thạch. Một cái hất hàm của Thạch cho Luân biết kết quả có kẻ đang chờ Luân ra khỏi nhà. Luân còn kịp thấy Thạch mở máy môtô, lao ngược hướng xe Luân...
Trong Bộ Tổng tham mưu, nhiều sĩ quan nghe tin con Luân bị bắt cóc, bao quanh anh chia buồn, phán đoán, chửi bới. Ngoài dự kiến của Luân, chính Nguyễn Chánh Thi lôi Luân vào góc hành lang miêng không ngớt văng tục:
- Tụi chó đẻ! Chơi gì mà nhè con nít! Tôi bắt được đứa nào làm trò khốn kiếp đó tôi róc xương... Tổ mẹ chúng nó! Loạn rồi...
Luân đủ nhạy cảm để hiểu rằng Thi vô can. Có thể hắn ta văng tục cốt lấy lòng Luân song phải loại hắn ra ngoài vụ này.
Nguyễn Khánh gọi Luân vào phòng làm việc của Tổng tư lệnh.
- Tôi đã nghe báo cáo về việc cháu bị băt cóc... Thật quái đản. Chính phủ hứa với đại tá sẽ làm ra lẽ... Đất nước cần luật pháp. Ngày nào tôi còn trên vị trí mà quân đội và quốc dân giao thì ngày đó bọn phá hoại luật pháp phải bị dạt ngoài lề...
Nguyên Khánh hùng hổn như vậy rồi bỏ nhỏ:
- Đại tá có biết tụi nào bắt cháu không?
Luân lắc đầu:
- Đại tá nghi bọn nào?
Luân lắc đầu tiếp:
Rõ ràng Nguyễn Khánh lo sợ. Thoạt tiên, Luân ngờ ngợ về nỗi lo sợ vô căn cứ này, lần lần, anh hiểu. Nguyễn Khánh lo sợ một thế lực nào đó dùng bé Lý để khống chế Luân và Luân sẽ trở thành nhân vật đủ sức quật đổ Khánh. Là hạng người từng rơi vào tình trạng bị “mua” qua nhiều thời kỳ, Nguyễn Khánh ngán các cạm bẫy khó mà cưỡng lại. Bản thân anh ta leo lên sân khấu và đặt địavị như hiện nay là theo một tính toán khít khao – anh ta nộp mạng sống của mình bởi các bức ảnh, các chữ ký nhận tiền, các bức thư do anh ta viết...
- Liệu chúng nó đỏi hỏi đại tá điều gì?
- Tôi không rõ...
- Chưa đứa nào liên lạc với đại tá? – Giọng Khánh hồi hộp.
- Chưa!
- Nếu... - Khánh ngập ngừng.
Luân chỉ mỉm cười. Ván bài càng lúc càng không tuân theo một quy tắc nào hết. Dẫu sao, cá nhân anh cũng còn giá, nghĩa là còn an toàn, một an toàn khá bấp bênh và thay đổi như chong chóng.
- Chúng ta luôn luôn là bạn!- Nguyễn Khánh bắt tay Luận thật chặt.
Phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn mời Luân đến văn phòng, tạm thời đặt trong dinh Độc Lập. Luân sửa soạn tư thế cho một cuộc chạm trán – một cuộc trả giá quanh bé Lý. Lãnh tụ đảng Đại Việt hẳn nghĩ rằng ông ta đang nắm thóp Luận...
Hoàn đón Luân ngay cửa phòng và Luân nhận ra ngay anh đã lầm: Đại Việt không nhúng tay vào vụ bắt cóc. Hoàn hỏi Luân nhiều về khả năng dẫn đến vụ bắt cóc và suy tư một lúc. Hoàn không đóng kịch. Nét mặt ông ta cho Luân thấy ông ta cũng lo lắng giống Nguyễn Khánh. Sau đó, hai người quay sang chủ để mà Hoàn bận tâm – bình định Nam Việt.
- Tôi nghiền ngẫm khá kỹ tình hình của nước cộng hòa chúng ta. Tôi đọc không phải một mà nhiều lần các sách, các bài của ông Ngô Đình Nhu, các bài và tài liệu của đại tá. Kết luận của tôi là các ông hoàn toàn đúng khi chú trọng đến một chủ thuyết làm cơ sở chính sách. Nhưng, các ông sai vì chủ thuyết pha hơi quá nhiều giáo điều đạo Thiên Chúa, rất không thích hợp với hoàn cảnh Nam Việt; hơn nữa, ông Diệm chưa gột sạch óc vua chúa, bộ máy mang tính gia đình và địa phương, chủ yếu dựa vào giáo dân đi cư đồng thời cả tin số sĩ quan cao cấp. Hệ thống tình báo kém hiệu lực. Nếu khắc phục các thiếu sót đó thì chúng ta đứng vững hơn. Tôi muốn cùng đại tá đánh giá lại toàn bộ chủ thuyết Cần Lao Nhân vị dưới ánh sáng mới, nói cách khác, bổ sung giá trị thực hành cho nó... Bình định là phạm vi cực kỳ phức tạp. Bình định nghĩa là thế nào? Nếu chỉ là các cuộc hành quân thì sẽ thất bại. Ấp chiến lược hay đó, song cần cải thiện điều kiện sinh hoạt trong từng ấp, nên chăng dồn ấp ra gần các trung tâm, trục lộ? Trên tất cả, phải ổn định ở cấp xã. Nên chăng duy trì các vùng chiến thuật và dành cho các sĩ quan các quyền hạn như cũ? Nên chăng tập trung về Bộ Tổng tham mưu, chỉ thành lập các bộ tư lệnh hành quân khi cần thiết? Và, nên chăng cử một bộ trưởng quốc phòng dân sự?
Nguyễn Tôn Hoàn nói một mạch. Chắc chắn Nguyễn Ngọc Huy đã chuẩn bị kỹ cho Hoàn.
Quan điểm của Hoàn, theo Luân nhận xét, phản ảnh sự phân vân của Washington. Từ năm 1960, môt loại yếu tố mới xuất hiện và tác động hạ tầng của chế độ Nam Việt. Lớp tư sản Việt Nam không như thời Pháp, họ đã thành thế lực kinh tế và chính trị đáng kể, cố kết chặt với giới quân phiệt và giới quan lại, liên mình với tư sản người Hoa đã đổi quốc tịch, làm chủ một loạt ngành kinh tế sống còn: lúa gạo, xuất nhập cảng, ngân hàng... Cái “chủ thuyết” mà Nguyễn Tôn Hoàn mong hoàn thiện nhằm thỏa mãn bước phát triển mới này, nhất là khi các hình thức độc quyền của Diệm sụp đổ, Nguyễn Tôn Hoàn và đảng Đại Việt của ông sửa soạn ngoi lên như chính đảng tư sản, rập khuôn đảng Cộng hòa Mỹ.
- Tôi chủ trương tôn giáo đứng ngoài chính trị. - Hoàn nói tiếp – Trước kia, Thiên Chúa giáo thao túng, bây giờ tới phiên Phật giáo, không được... Tâm lý cân bằng giữa các tôn giáo trên bình diện lời quyền sẽ xâu xé đất nước: Đã có tuyên úy Công giáo, Phật giáo, tại sao không có tuyên úy Cao Đài, Hòa Hảo? Đã có trường đại học Thiên Chúa giáo, đại học Phật giáo, rồi sẽ có trường đại học các tôn giáo khác... Chẳng lẽ chúng ta quay lại thời kỳ thi trường học chưa tách khỏi nhà thờ? Tôi cũng chủ trương các tướng tuyệt đối không làm chính trị. Bên Mỹ, tướng tại chức không làm chính trị, muốn làm chính trị thì ra khỏi quân ngũ. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ là một sĩ quan chuyên nghiệp, thừa hành lệnh của tổng thống và bộ trưởng quốc phòng...
Luân tỏ ra không nồng nhiệt lắm trong cuộc trao đổi.
- Đại tá không thích lý luận nữa? – Hoàn hỏi.
Luân trả lời bằng cái mỉm cười.
- Phải chăng ông Nhu chết, đại tá mất hứng thú tranh luận vì không có đối thủ? – Giọng Hoàn pha chút khôi hài.
- Ông Nhu là một nhân vật lớn! – Luân nói gọn.
- Đại tá, ông sẽ không thất vọng đâu. Tôi rất thích lý luận, triết học.
- Tôi hiểu, song vấn đề là những cơ sở để chúng ta có thể gặp nhau...
- Tôi đã nói, ông đã nghe, nếu tôi không lầm, ông nghe chăm chú. Đó là những cơ sở... Hay, vì ông mang quân hàm đại tá mà ý sau cùng của tôi không khiến ông cởi mở?
- Thưa Phó thủ tướng! Bộ quân phục không cản ngại gì cả. Khi tôi gặp ông Nhu, cách nay 9 năm, với bộ áo thường dân...
- Vậy là hay lắm! Chắc hiện giờ, việc cháu bị bắt cóc đè nặng tâm tư ông. Ta hẹn hôm khác.
*
Tin báo cáo:
- Nạn dịch tả hoành hành. Sau tết đã có gần 500 người chết.
- Sắc luật số 2/64 xác nhận quyền tự do ngôn luận đồng thời ghi các điều khoản trừng phạt báo chí phạm tội, cụ thể tuyên truyền cho Việt Cộng, trung lập...
- Nhà cháy ở hẻm Bạch Đằng, Gia Định, thiêu rụi 200 căn. Nhà cháy ở Phú Thọ, Bình Thới, đường Trần Bình Trọng, thiệt hại nặng...
- Hành quân “Phượng Hoàng” ở Định Tường, “Quyết Thắng” ở Kiến Phong, hành quân ở Kontum, Bình Định, Tây Ninh... Chạm súng ác liệt. Đặc biệt, cuộc hành quân Kiến Phong, đại tá Cao Văn Viên được thăng thiếu tướng.
- Ngày 8-3-1964, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mac Namara cùng đại tướng, Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ Maxwell Taylor sang Sài Gòn. Ngày hôm sau, bộ trưởng, tướng Taylor cùng tướng Nguyễn Khánh đi thị sát Cần Thơ, Bạc Liêu, An Giang.
Trước đó, tướng Nguyễn Khánh công bố chương trình hoạt động một năm của chính phủ.
- Bộ Công dân vụ sát nhập vào Bộ Thông tin. Vụ Văn hóa sáp nhập vào Bộ Giáo dục.
- Ngày 13, Bộ trưởng Mac Namara về nước. Tại phi cảng, ông tuyên bố hoàn toàn ủng hộ đường lối của chính phủ Nguyễn Khánh và hô bằng tiếng Việt: Việt Nam muôn năm!
*
HOẠT CẢNH KHÔNG CÓ ĐOẠN KẾT
Hélen Fanfani (Financial Affairs)
Sài Gòn, 22-3
Vào thời gian này, cách nay 10 năm, trận đánh tại lòng chảo Điện Biên Phủ bắt đầu ác liệt, các đồn ngoại vi Béatrice, Anne–Marie bị tràn ngập, viên đại tá tư lệnh tư lệnh quân trú phòng Pháp De Castries co rúm giữa cánh đồng dưới tầm hỏa lực của Việt Minh. Và, gần hai tháng sau, viên đại tá vừa được thăng lên thiếu tướng, đã trương mảnh vải trắng ngay hầm chỉ huy xin đầu hàng. Chiến cuộc Đông Dương mà người Pháp xướng xuất, đi vào ngõ kết thúc không mấy vinh dự với một trong tứ cường.
Nước Mỹ nhảy vào Nam Việt Nam, một phần tư còn lại của Đông Dương trong vòng tay phương Tây. Kế hoạch ổn định và bành trướng theo cung cách mới được thảo ra, lấy Ngô Đình Diệm làm vật thí nghiệm. Từ đó, cơn sóng gió tuy khác về hình thức song vẫn là cơn sóng gió được dấy lên, đầu tiên chỉ là những áp suất nhiệt đới, dần dần tụ hội đủ lực gió để gọi là trận bão. Vấn đề cực kỳ phức tạp. Bao nhiêu yếu tố đổ về đây mà mỗi phía buộc phải toan tính chi li trước khi hành động. Nếu vào năm 1950, Mỹ có thể giương ngọn cờ Liên hiệp quốc trong “sự trừng phạt” Bắc Cao Ly và Trung Cộng thì ngày nay, đồng minh của Mỹ tỏ ra dè dặt trước các yêu cầu của Mỹ. Đặc biêt, nước Pháp, người chủ cũ ở Đông Dương, chọn lối đi khác hẳn - trở ngại không nhỏ, nếu chúng ta không gọi là đối thủ của chúng ta.
Châu Á biến đổi, Trung Cộng đứng vững trên một Hoa lục mênh mông, Ấn Độ muốn làm minh chủ một thế lực đang trỗi dậy thuộc thế giới thứ ba. Nhật Bản thích làm giàu hơn vấy vào các sự kiện chính trị. Và, người ta không thể không tính đến Nga Xô, một cường quốc nguyên tử.
Tự thân Đông Dương cũng biến động. Bắc Việt nghiễm nhiên là một quốc gia Cộng sản, không hề dấu diếm nguyện vọng thống nhất lãnh thổ, nghĩa là nhuộm đỏ cả Việt Nam, Lào, sau bao nhiêu va chạm, thế lực thiên tả chẳng những còn nguyên vẹn mà gần như là thế lực mạnh nhất trên đất nước ẩn dật này. Cambốt, với vị Quốc trưởng đầy thực dụng, khó mà xếp hàng theo tiếng còi của Mỹ, hơn nữa, luôn nhắc rằng phần cực nam của Nam Việt phải được trả về cho vương quốc.
Đến lượt mình, Nam Việt cũng không đứng yên. Ở đây, cuộc tranh chấp gay gắt giữa các phía: Mỹ, đồng minh tại chỗ của Mỹ, Việt Cộng, Pháp và đồng minh Pháp. Đồng minh của Pháp yếu kém, song vẫn tồn tại. Đồng minh của Mỹ thì vừa chống Cộng, vừa chống lẫn nhau, vừa nhìn Mỹ với đôi mắt hoài nghi.
Tháng 11 năm ngoái, anh em ông Diệm bị thanh toán không một chút xót thương. Người Mỹ ngỡ rằng sự thủ tiêu thể xác những con người khó bảo ấy sẽ giúp cho đồng mình của họ tỉnh ngộ mà ngoan ngoãn hơn. Tướng Big Minh, không phải là nhà chính trị, không đáp ứng điều Mỹ muốn. Thế là cái tiền lệ hạ bệ Diệm được lập lại qua cuộc “chỉnh lý”. Tướng Khánh tỏ ra rất dễ bảo với Mỹ, song ông ta không đủ mạnh, không đủ uy tín.
Người Mỹ nóng ruột thanh toán càng nhanh càng tốt Việt Cộng. Tướng Taylor, tác giả kế hoạch bình định Nam Việt trong 18 tháng, trở lại chiến trường khi mà thời gian hứa hẹn đã hơn gấp đôi, rất bực tức. Tướng Harkins, người long trọng thề thốt rằng Noel 1963, binh lính Mỹ sẽ đoàn tụ với gia đình, nay đang đòi thêm quân viễn chinh. Đại sứ Cabot Lodge, vị phù thủy phất tay áo xóa ông Diệm, phải phất tay áo lần nữa lật ông Minh. Chắc, đây không phải là động tác cuối cùng của ông.
Hoạt cảnh trên sân khấu chính trị Sài Gòn đánh lừa khán giả. Không ít người tin rằng lật ông Diệm là cao trào của vở diễn. Thế nhưng, vở diễn nối tiếp với vai trò tướng Khánh. Và đừng ai mong sớm được xem đoạn kết, bởi có khi đoạn kết sẽ đưa lên sân khấu toàn diễn viên Mỹ, người cao bồi Taxes bắn hai súng lục cùng một lúc.
Lịch sử thường hay tình cờ. Mười năm trước, lòng chảo Điện Biên Phủ nuốt chửng uy danh nước Pháp. Mười năm sau, môt lòng chảo khổng lồ hơn, lòng chảo Nam Việt không đáy đang quyến rũ những kẻ tự nguyện lao xuống. Thật đáng buồn, chính nước Mỹ chính nước Mỹ mon men đến cái lòng chảo đáng sợ ấy.
*
- A lô! Tôi muốn nói chuyện với bà Hoàng Thị Thùy Dung...
- Tôi đây... Xin lỗi, ai ở đầu dây?
- Bà không cần biết... Tôi, báo cho bà hay con trai của bà...
- Con tôi ra sao rồi?
- Bà nhớ con lắm phải không? Con bà gọi bà luôn...
- Con tôi ra sao rồi?
- Suốt đêm nó gọi bà...
- Trời ơi, con trai của tôi...
- Không ai dỗ được nó... Bà đừng khóc... Cháu bình yên...
- Các ông muốn gì?
- Bà thông minh thật... Bà gọi “các ông” tức bà biết không phải một người hành động mà một tổ chức...
- Các ông muốn gì?
- Muốn điều tốt cho cả ông lẫn bà...
- Tôi không hiểu...
- Tạm thời, chúng tôi chưa nói đến ông. Ông là một nhà chính trị, một quân nhân cuồng tín. Chúng tôi thương lượng với bà...
- Các ông nói rõ đi...
- Không thể nói qua điện thoại. Bà sẽ nhận được một phong bì theo đường bưu điện. Trong đó, bà đọc các điều kiện của chúng tôi.
- Bao giờ thì con tôi được về nhà?
- Tùy cách bà đáp ứng các điều kiện của chúng tôi.
... Phong bì trên tay Dung. Cô và Luân cùng đọc. Một tờ giấy đánh máy với hàng chữ gạch dưới: Trả lời bằng viết tay và gởi theo đường bưu diện. Chớ phăng theo địa chỉ này, nó là địa chỉ giả. Hễ có triệu chứng phăng theo địa chỉ thì bà đến một đống rác nào đó nhận xác con, bởi bà tỏ ra không thành tâm.
Nội dung “điều kiện” rất gọn: Bà phải cung cấp cho chúng tôi theo cách mà chúng tôi sẽ báo lại cho bà từng lúc tất cả báo cáo của ông và của bà gởi cho V.C, kể cả báo cáo bằng điện và các thông báo, chỉ thị mà ông và bà nhận được từ nơi ấy hoặc từ nơi khác. Chúng tôi sẽ thù lao xứng đáng cho bà. Như vậy, bà đã hiểu chúng tôi không phải mù mờ về ông bà. Bà ghi dưới tờ giấy này dòng chữ: “Tôi đồng ý điều kiện của các ông” và ký tên lên, với ngày tháng. Trong vòng 3 tiếng đồng hồ, khi bà bỏ phong bì vào thùng thư, con của bà sẽ có mặt ở một nơi để bà đến đón. Ngược lại, nghĩa là bà từ chối, bà dễ dàng đón nhận hậu quả. Sáng nay, cận vệ kiêm lái xe của chồng bà đuổi theo chúng tôi. Lẽ ra tôi khử anh ta, song nghĩ rằng chúng ta đang thương lượng ôn hòa, nên đã để anh ta sống sót. Chúng tôi nhắc bà: tướng Jones Stepp và phu nhân không giúp ích gì cho bà.
Thạch báo: Anh đuổi theo chiếc ôtô nhưng bị hai chiếc mô tô lạng kềm và đến bùng binh chợ Bến Thành thì mất dấu. Ôtô hiệu Austin, màu sôcôla. Hai mô tô Norton, phân khối lớn, người lái đội mũ bảo hiểm, khó nhìn rõ mặt...
... John Hing và Ly Kai trao đổi.
- Ta hẹn vợ Luân đến một điểm nào đó rồi đánh thuốc mê... - Ly Kai nêu ý kiến.
John Hing lắc đầu:
- Ông muốn dùng kiểu hạ cấp, phải không?
Ly Kai không trả lời.
- Ông sẽ chụp ảnh bà ta đang lõa lồ với một người đàn ông... Rất tiếc, tôi chọn ông, chọn cái đầu quá kém. Ông hẹn và chắc chắn bọn ông bị bắt, trước khi thực hiện trò lưu manh. Mà, dù ông dù ông thực hiện trót lọt, ông sẽ chẳng được cái gì cả, ngoài việc phải ra trường bắn. Tôi thích sòng phẳng. Ông theo kế hoạch của tôi. Đây, phong bì, ông bỏ ở bưu điện Trung ương. Sẽ có thư trả lời, tôi tin chắc như vậy.
- Thư trả lời? Theo địa chỉ nào?
- Đừng lo... Địa chỉ ngay nhà bưu điện Trung ương!
*
Thông báo của chính phủ Hoa Kỳ:
Sau khi nghe Bộ trưởng quốc phòng Mac Namara và tướng Maxwell Taylor phúc trình tỉ mỉ chuyến công tác ở Việt Nam Cộng hòa, Tổng thống L.B Johnson đã quyết định:
1) Ủng hộ hoàn toàn đường lối đối nội và đối ngoại của chính phủ Việt Nam Cộng hòa do trung tướng Nguyễn Khánh đứng đầu.
2) Tăng viện khẩn cấp cho quân lực Việt Nam Cộng hòa ngõ hầu đối phó hữu hiệu với các hoạt động phá hoại của Việt Cộng và sự xâm nhập của Cộng sản Bắc Việt. Cụ thể, chính phủ Hoa Kỳ đảm bảo chi phí và trang bị cho thêm 50.000 quân và 7.500 cán bộ bình định nông thôn, cung cấp cho quân lực Việt Nam Cộng hòa máy bay chiến đấu và tàu tuần sông. Tổng số ngân khoản là 50 triệu dollar.
3) Bộ tư lệnh viện trợ Mỹ ở Sài Gòn hợp tác chặt chẽ với Bộ Tổng tham mưu Việt Nam Cộng hòa thực hiện chương trình tái lập an ninh từng vùng do chính phủ Nguyễn Khánh đề xuất.
Washington, ngày 17 tháng 3 năm 1964
*
Thông cáo của chính phủ Việt Nam Cộng hòa:
Để dàn xếp mọi hiểu lầm và xung đột biên giới giữa Việt Nam Cộng hòa và Cambốt, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã cử thiếu tướng Huỳnh Văn Cao đến Nam Vang tiếp xúc với Thái tử Norodom Sihanouk. Chuyến công vụ trước đó của đặc phái viên Trần Chánh Thành, biểu thị thiện chí của chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Sài Gòn, ngày 19 tháng 3 năm1964
*
Thông cáo của Hội đồng quân nhân cách mạng:
Nhằm củng cố tiềm lực quốc gia, thống nhất lãnh đạo cuộc chiến tranh chống Cộng, ngày 21-3-1964, các tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa đã họp và quyết định đổi tên Hội đồng quân nhân cách mạng thành Hội đồng quân đội và bầu ra ban lãnh đạo mới.
Chủ tịch: Trung tướng Nguyễn Khánh
Đệ nhất phó chủ tịch: Trung tướng Trần Thiện Khiêm
Đệ nhị phó chủ tịch: Thiếu tướng Đỗ Mậu
Đệ tam phó chủ tịch: Trung tướng Phạm Xuân Chiểu
Cố vấn tối cao: Trung tướng Dương Văn Minh

CHƯƠNG 12

Tám tháng sau ngày lật đổ Ngô Đình Diệm, ngày 28-6-1964, Henry Cabot Lodge rời Sài Gòn, nhường chức cho một người vốn rất quen thuộc ở Việt Nam, tướng Maxwell Taylor. Một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, Alexis Johnson được Washington cử làm phó đại sứ. Sự thay đổi nhân sự này nằm trong một dự kiến đồng bộ: Tướng William Westmoreland trở thành Tư lệnh quân đội Mỹ ở Viễn Đông, còn tướng Paul Harkins thì về hưu.
Bắt chước đại sứ tiền nhiệm Nolting, Cabot Lodge ra sân bay Tân Sơn Nhất trong bộ “quốc phục” Việt Nam: Áo dài chấm đen, khăn be. Lễ tiễn thật long trọng. Đô trưởng Sài Gòn huy động gần một vạn công chức và binh sĩ cầm cờ hai nước tụ tập từ cổng sân bay vào phòng khác. Trẻ con hiếu kỳ, khá đông. Dẫu sao, một ông Mỹ mặc áo dài chít khăn be cũng vui vui. Nguyễn Khánh cùng văn võ trong Hội đồng quân đội, chính phủ có mặt. Nhà sư Thích Tâm Châu cầm đầu một đoàn Phật giáo hùng hậu đứng ngay cửa ra vào phòng khách. Cabot Lodge hoan hỉ vẫy tay đáp lễ. Tất nhiên các nhà báo trong và ngoài nước rất nhạy – họ phát hiện quốc trưởng Dương Văn Minh không có mặt và không nghe thông báo đại sứ Cabot Lodge chào từ biệt quốc trưởng, dù theo nghi thức ngắn ngủi. Gần như không có đại biểu giới theo đạo Thiên Chúa tiễn đại sứ Mỹ. Và, bộ trưởng Nội vụ Lâm Văn Phát, chẳng viện cớ gì cả, không ra sân bay.
Tại phòng khách, sâm banh nổ dòn. Nhưng, kẻ đi người ở chưa kịp chạm cốc thì một toán nhà báo quốc tế ùa vào, chủ yếu là nhà báo Mỹ. Cabot Lodge nhíu mày. Viên sĩ quan quân cảnh nhún vai, có vẻ phân bua: Tôi không thể ngăn họ. Dĩ nhiên, cảnh sát Việt càng bất lực hơn, bởi đấy là nhà báo phương Tây, nhà báo Mỹ.
Ánh magnesium lóe giống hệt một trận tiến công bằng các tia sáng giữa Cabot Lodge còn cau có. Những bức ảnh này thật bất lợi. Nhà ngoại giao Hoa Kỳ cỡ lớn, một ứng cử cỡ lớn, một ứng cử viên tổng thống sẽ xuất hiện trên mặt báo với dáng vẻ thiếu khả ái, cái cớ cho trăm thứ bình luận cực kỳ nguy hiểm. Và, trước công chúng Mỹ, chiếc áo gấm, chiếc khăn be quả đặc biệt hài hước. Vị đại sứ quê Massasuchetts, còn đúng một tuần nữa là lễ sinh nhật lần thứ 62, vốn cũng hành nghề báo chí – viết bài cho những tờ sừng sỏ: Boston Evening Transeript, New York Herald Tribune... – thế mà mãi chọn không ra tư thế trước ống kính quái ác. Vào giờ phút đó, bà đại sư Emily Sears cố gắng cứu chồng. Bà, vẫn mặc váy như mọi phụ nữ phương Tây, tươi cười nâng cốc sâm banh hướng về các nhà báo: “Xin chúc sức khỏe! Xin tạm biệt các bạn và mong các bạn được vui vẻ ở đất nước đáng yêu này!”
Đó là giây phút Cabot Lodge lấy lại tư thế.
- Tôi cảm ơn các bạn...
- Xin hỏi ngài một câu ngắn: Ngài có hài lòng không khi rời công vụ tại đây, tại Sài Gòn? – Phóng viên News Week phát pháo.
- Tất nhiên, tôi rất hài lòng. Mọi việc đều tốt!
- Ngài có lạc quan quá chăng? – Phóng viên News Week dấn thêm một bước...
- Không phải tôi mà sự thật cho thấy những mặt đáng hài lòng đó... - Cabot Lodge bắt đầu cảnh giác – Tôi nói đúng không, ngài chủ tịch Hội đồng quân đội?
Nguyễn Khánh mau miệng: “Đúng, rất đúng, hoàn toàn đúng”. Tiếng cười ồ của các nhà báo chuyển không khí từ dễ chịu sang căng thẳng.
- Mọi việc đều tốt! – Fanfani chĩa máy quay vào mặt Nguyễn Khánh – Ba anh em họ Ngô bị bắn, nhiều cuộc biểu tình của giáo dân Thiên Chúa ở Huế, Sài Gòn, hàng không mẫu hạm Card trọng tải những hơn 16.000 tấn bị Việt Cộng đánh mìn ngay tại cảng Sài Gòn... Đã có hơn 200 lính Mỹ chết ở chiến trường. Tổng thống Johnson phải xin việc trợ thêm 125 triệu dollar cho Nam Việt. Tất cả đều tốt! Dư luận không thể hiểu. Tôi muốn hỏi ngài cựu đại sứ và ứng cử viên tổng thống tương lai Cabot Lodge một câu: Điều gì ngài ân hận nhất trong thời gian làm việc tại Sài Gòn?
Chẳng rõ vô tình hay cố ý, thay vì trả lời câu hỏi hóc búa của Fanfani, Cabot Lodge lại ngó Nguyễn Khánh.
Phóng viên Washington Post rất nhạy bén:
- Ngài không hài lòng về những mẫu người kiểu ông Nguyễn Khánh?
Nguyễn Khánh nổi cáu:
- Ông nhà báo, ông có biết đây là đâu không?
Nhà báo Mỹ cười rất tươi:
- Thưa ông có biết ông là ai không?
Cabot Lodge không phủ nhận lối nhận xét rất thâm của nhà báo, ông ta nhìn ra cửa. Cô tiếp viên vào đúng lúc:
- Thưa, máy báy sắp cất cánh...
*
Bài của phóng viên News Week
Bộ “quốc phục” Việt Nam không còn tôn vinh Cabot Lodge và đúng như các nhà báo đã tặng ông các câu hỏi giá trị ngang những quả cà chua và trứng thối, ông để lại một gia tài tại Nam Việt khốn nạn hơn nhiều so với lúc ông nhậm chức: nội tình rối bét, phe phái phân tranh, dân chúng nhìn nước Mỹ bằng đôi mắt hoài nghi, đàn ngựa sẵn sàng lừa dip tặng nhau những cú đã chết người. Bài toán tuy của Kennedy song chính Cabot Lodge được toàn quyền đề xuất sáng kiến và thời gian tuy ngắn, đã chứng tỏ ông là một chính khách thành thạo các mưu mẹo vặt. Giết Diệm, Lodge bảo đảm với chính phủ Mỹ rằng không cần thêm lính Mỹ nào nữa, Nam Việt sẽ ổn định, Việt Cộng sẽ rút dần và tan rã thành từng đám phỉ. Tình hình Nam Việt không nghe ông, nó rẽ vào cái ngả mà cuối cùng ông phải bảo vệ một quan điểm khác: không có thực binh Mỹ, Nam Việt rơi vào tay Cộng sản.
Paul Harkin luôn không tán thành Cabot Lodge về việc giết Diệm. Harkins chủ trương duy trì Diệm để thắng Việt Cộng, có thể chỉ tăng thêm khí tài chiến tranh và thu xếp cho em xuôi vụ xung đột Diệm và Phật giáo.
Về mặt này, cả Cabot Lodge và Harkins đều theo thuyết ứng dụng, trong khi đằng sau Nhà Trắng còn có cả một thế lực áp đảo – dứt khoát Mỹ phải đứng vững ở Việt Nam và không lệ thuộc vào hình thức: ôn hòa cũng tốt, đưa quân Mỹ ồ ạt tham chiến cũng không xấu. Chắc chắn Cabot Lodge đã hiểu ra sự thật ấy cho nên ông không mấy băn khoăn, Harkins thì bất mãn. Cabot Lodge còn đi nốt con đường danh vọng mà ông đam mê và chức đại sứ chỉ là chiếc cầu; Harkins trái lại, xin về hưu.
Phó tướng của Harkins thay ông. Đây gần như một xếp đặt sẵn. Viên tướng có đôi mắt sâu nhận thêm một sao khi ngồi vào ghế Tổng chỉ huy lực lượng Mỹ ở Viễn Đông. William C. Westmoreland sinh năm 1914 tại Sparenburg County, bang Nam Carolina, nhỏ hơn tướng tiền nhiệm Paul Donal Harkins 10 tuổi, trong một gia đình không danh tiếng, thuộc dòng họ mà mãi đến ông mới có một sĩ quan cấp tướng – ông nhận quân hàm chuẩn tướng năm 1953 mặc dù nhập ngũ từ năm 1936, kinh qua Học viện quân sự, từng bị cú đánh bất ngờ của Nhật ở Trân Châu Cảng... Tuy nhiên, chỉ cần 8 năm, Westmoreland leo thật nhanh, những ngôi sao trên cầu vai thi nhau nẩy nở. Người ta nói trong lịch sử quân sự Mỹ chưa người nào thành đạt bằng ông và giữ kỷ lục khó phá vỡ nổi về tốc độ lên cấp – trung tướng vào tuổi 50.
Vợ ông, Katherine S. Van Deusen, gốc Hà Lan, lai Đức, thỉnh thoảng dẫn con sang Sài Gòn thăm ông.
Có một cách giải thích về sự xuất hiện của Westmoreland ở chiến trường Nam Việt: ông từng chỉ huy pháo binh, quân dù, không quân, từng tham chiến ở Triều Tiên, từng phụ giảng ở Học viện West Point và Fort Bragg, nghĩa là một người hội đủ các điều kiện: Lý thuyết, thực hành, kinh nghiệm và cả thế lực.
Giới chính trị biết Westy – nhà quân sự Mỹ gọi ông một cách thân ái – nhưng ông tự giới thiệu mình qua các bức điện của ông đăng trên tờ “Những ngôi sao và sọc”, cơ quan lực lượng quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương trong ngày tướng Mac Acthur từ trần, 5-4 năm nay. “Với tư cách là một sĩ quan cấp tá trong tập đoàn quân thứ 8 dưới quyền của Ngài giữ lúc cuộc chiến Triều Tiên ở vào giai đoạn khốc liệt, tôi gởi điện phân ưu đến gia đình Ngài và đến những thân hữu của Ngài, từ một chiến trường sôi bỏng như ở Triều Tiên năm xưa. Tôi học được ở Ngài vị chỉ huy xuất sắc cả quân lực Hoa Kỳ, bậc thầy về chiến lược và chiến dịch, tính kiên định khi Ngài khi Ngài bất chấp các dư luận phản ứng của dư luận chính trị, cho đổ quân lên Fusan và vùng đất phân chia Nam và Bắc Triều Tiên, một quyết định vĩnh viễn đi vào lịch sử bởi nhờ nó mà Cộng hòa Đại Hàn được cứu thoát.
Giã từ cuộc sống trần thế vào tuổi 84, Ngài để lại một bề dày đồ sộ về quá khứ binh nghiệp mà các đân tọc Thái Bình Dương không bao giờ quên công ơn, từ Borneo, Lucon, Okinawa... Tôi học ở Ngài vô vàn đức tính và cái đọng sâu sắc trong tôi là thái độ của một chiến binh chuyên nghiệp, chỉ phục tùng một mệnh lệnh, ấy là lương tâm quyết chiến thắng. Nỗi bất hạnh đối với Ngài (1) càng khoác lên Ngài ánh hào quang của trí tuệ. Nếu bấy giờ, người ta chịu nghe ý kiến của Ngài, có thể không hề xảy ra một sự lặp lại như nước Mỹ đang đối phó ở Nam Việt. tôi hy vọng bài học cũ đang nhắc nhỡ giới chức cầm quyền nước ta. Và, thưa cố Thống tướng, tôi hy vọng Ngài không phiền lòng về đứa học trò nhỏ của Ngài đang ôn lại những gì Ngài nói và thực hiện...”
Không có một phản ứng nào của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc về bức điện “tuyên ngôn” – như vài nhà báo bình luận – mang chữ ký của Westmoreland, một trung tướng trợ lý nơi vùng hẻo lánh của trái đất.
Lễ bàn giao chức vụ Tư lệnh Bộ Tư lệnh Mỹ ở Nam Việt và Thái Lan giữa Harkins vàWestmoreland cử hành tại trụ sở Bộ chỉ huy, một ngôi nhà cổ đường Trần Hưng Đạo, gần nơi giáp giới thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn. Hơn hai trăm sĩ quan từ cấp trung tá trở lên có mặt, có mặt cả đại sứ Cabot Lodge, tướng Jones Stepp, tướng Trần Thiện Khiêm.
Paul Harkins nói ngắn: “Tôi cố gắng và có thành công cũng như không thành công. Nam Việt mang quá nhiều đặc thù, vai trò chính trị chi phối đậm nét trong mọi hoạt động của giới quân nhân chúng ta. Dù sao, tôi phải nói rằng cái gánh mà tôi trao cho tướng Westmoreland – tiện đây, tôi xin thông báo, Tổng thống đã quyết định nâng quân hàm Westy của chúng ta lên cấp đại tướng – quả thật nặng. Tôi xin lỗi người kế nhiệm tôi, các chiến hữu. Tôi tin tưởng tướng Westmoreland sẽ hoàn thành các việc mà tôi không hoàn thành...”
Westmoreland nói còn ngắn hơn – ông không ca ngợi nửa lời vị chỉ huy cũ của mình: “Các sĩ quan, tướng lãnh! Chấp hành lệnh của Tổng thống, từ giờ này, tôi chỉ huy lực lượng Mỹ ở Nam Việt và Thái Lan. Tôi báo trước và nhờ những người có mặt tại đây báo với toàn quân: Tôi là một chỉ huy khó tính, thích đòi hỏi cấp dưới!”.
Westmoreland lập lại gần như nguyên văn phát biểu đầu tiên của tướng De Lattre de Tassigny khi được cử làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương, năm 1950, tại lễ đón tiếp ông ở sân bay Tân Sơn Nhất.
Hôm sau, nhân cuộc họp ở Bộ Tổng tham mưu, nghe Trần Thiện Khiêm thuật lại lời của Westmoreland, Nguyễn Thành Luân cười mỉm:
- Ông ta chưa nói như Napoléon trong chiến dịch Ai Cập: “Hỡi binh sĩ Pháp! Từ tầm cao lồng lộng của các Kim Tự Tháp, lịch sử đang quan chiêm chúng ta!”.
*
Tình hình Nam Việt tiếp tục rối loan. Ngô Đình Cẩn và Phan Quang Đông bị kết án tử hình và bị bắn, chẳng thêm gì cho Nguyễn Khánh. Tướng Big Minh thì lại mất thêm: ông là Quốc trưởng, ông bác đơn xin ân xá của Cẩn. Nguyễn Thành Luân hiểu rõ tâm trạng của vị Quốc trưởng hoàn toàn tượng trưng và vị trí bấp bênh đến từng ngày.
- Tôi nghĩ trung tướng nên ân xá cho Ngô Đình Cẩn...
Luân vào phòng tướng Minh và chính thức nêu ý kiến.
- Nếu tôi có quyền! – Tướng Minh trả lời kèm theo tiếng thở dài nặng nề.
- Tôi có thể ký đơn xin ân xá không?
- Vô ích! Áp lực đòi bắn Cẩn không từ giới Phật giáo mà từ đại sứ Mỹ. - Tướng Minh không dấu vẻ cay đắng.
- Người Mỹ sẽ được gì khi bắn Cẩn?
- Đại tá hiểu hơn tôi...
- Trung tướng Nguyễn Khánh có thể là một trọng lực vào trong vụ này?
Tướng Minh lắc đầu ngao ngán:
- Tôi là bù nhìn của ông Khánh, ông Khánh là bù nhìn của đại sứ Mỹ và đại sứ Mỹ rất có thể, là bù nhìn của ai đó...
Luân thảo một loạt đơn xin ân xá cho Cẩn và tất cả đều quay trở về với những nhận xét giống nhau: Tội của ông Cẩn quá nặng...
Tội của Cẩn nặng, đúng, song vụ án lại không vì những tội trạng thông thường – ý đồ chính trị giảm tội cho người này, cột tội thêm cho người khác... “Mỹ và các thế lực thân Mỹ ở Sài Gòn muốn lật một trang sử với thái độ bề ngoài dứt khoát!...”. Luân hiểu chiều sâu của những phát súng thanh toán.
Mọi sự cố khác xôn xao dư luận: báo chí đưa tin hai Việt Cộng đặt mìn ở cầu Công Lý nhằm vào bộ trưởng quốc phòng Mac Namara, họ bị phát hiện và bị bắt. Ảnh trên báo thấy cả hai còn rất trẻ - một tên là Nguyễn Văn Trỗi, thợ điện.
Những diễn biến gần đây cho Luân và Dung một nhận định quang trọng: phong trào thành phố Sài Gòn và cả miền Nam đang chuyển mình. Về chính trị, lực lượng Phật giáo và học sinh, sinh viên vuột lần khỏi trên tay chi phối của tình báo Mỹ, các phái xấu, các phần tử cơ hội. Cuộc tranh chấp trong giáo hội Phật giáo khá gay gắt, mặc dù thượng tọa Tâm Châu và Trí Quang ra thông bạch “không hề có sự rạn nứt trong Phật giáo”. Vai trò của các bậc chân tu như Thích Thiện Hoa, Thích Thiện Hòa, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Luật, Thích Đôn Hậu, Thích Đức Nhuận v.v... tất cả đều giữ vị trí cao quanh Tăng thống Thích Tịnh Khiết – ngày mỗi nổi bật như đại biểu cho đạo pháp, cho đức từ bi, cho những gắn bó với dân tộc. Trong lúc các vị giữ nếp thanh bạch, không coi vụ lật đổ Diệm là dịp phô trương Phật giáo thì một bộ phận khác tập trung sức lực quảng cáo Phật giáo. Ngày Phật đản đầu tiên sau pháp nạn biến thành cuộc biểu dương hình thức: một tượng Phật cao 8 thước, nặng 3 tấn đặt ngay trên đài cao ở bến Bạch Đằng và 42 xe hoa diễn hành qua các phố. Nhiều tượng Phật từ chốn khiêm tốn âm thầm đột nhiên hiện ra ở những nơi dễ nhìn thấy nhất, từ Sài Gòn đến Vũng Tàu. Chùa chiền được sửa chữa, trang bị hiện đại. Nhà sư trẻ mặt đạo phục ủi phẳng phiu, phóng mô tô thậm chí lái ô tô, gảy đàn và hát... Cuộc cạnh tranh với đạo Thiên Chúa ráo riết. Chiến thắng được mô hình hóa kiểu đó khá rộng. Viện Hóa đạo mà Thích Tâm Châu là viện trưởng được chính phủ cho phép quyên trong một năm số tiền 20 triệu đồng để lo “Phật sự”. Được biết giá vàng 6.500 đồng một lạng – số tiền quá lớn... Và, các bậc chân tu thở dài, lo lắng. Bởi chưa thể gọi là chiến thắng. Vận nước đang ở vào thời điểm thử thách ác liệt... Một số nhà sư, cư sĩ, một số hội đoàn Phật tử linh cảm với điều không hay này. Đã nảy ra luồn dư luận phản đối kiểu “hiện đại hóa Phật giáo” tầm thường.
Các cố vấn quân sự Mỹ bận tâm hướng khác. Quân đội Nam Việt, theo quyết định của họ, thống nhất thành ba loại: chủ lực quân, địa phương quân và nghĩa quân. Năm đại tá thành chuẩn tướng: Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đổng, Bùi Hữu Nghĩa, Cao Hảo Hớn và Ngô Dzu.
Ngày 29-5, Hội đồng quân đội họp ở Đà Lạt để xử bốn tướng – cãi vã, chửi bới loạn ẩu. Cuối cùng Nguyễn Khánh ký một văn bản: bốn tướng bị phạt theo quân kỷ, loại khỏi hội đồng một thời gian và không được nắm cương vị chỉ huy. Cái màn “chỉnh lý” hạ khá tức cười và “tội trạng” của Trần Văn Đôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính không xuất hiện trong quyết định kỷ luật.
Ngày 31-5, hội nghị quân sự ở Honolulu đánh giá toàn diện tình hình Nam Việt với những tin tức mập mờ về khả năng thêm quân Mỹ ở Nam Việt và ném bom Bắc Việt.
Trong lúc đó, nước Lào láng giềng trải qua cơn khủng hoảng mới. Tướng Abhay cùng tướng Siho đảo chính, mưu toan lật đổ chính phủ liên hiệp của ông hoàng Phouma, song vấp phải phản ứng mạnh của các lực lượng ủng hộ chính sách trung lập và của các cơ quan đại diện nước ngoài đóng ở Vientiane. Abhay lại phải tuyên bố trung thành với ông hoàng Phouma. Sự kiện nói trên nối tiếp sự kiện máy bay Mỹ và Nam Việt ném bom biên giới Lào Việt và bổ sung, trắng trợn hơn, bàng trận ném bom Khang Khay, thủ đô của Pathét Lào, do chính không quân Mỹ thực hiện. Ý đồ Mỹ phá thế ổn định ở Lào, theo chủ trương trung lập của Phouma, ngày mỗi công khai. Tất nhiên Pathét Lào không khoanh tay: Paksane bị quân Pathét Lào uy hiếp, cánh đồng Chum thất thủ, Xiêng Khoảng thất thủ... Địa bàn của Pathét Lào mở rộng, thủ tướng Phouma lên án phái hữu, lên án Mỹ và kêu gọi ba phái Lào gặp mặt để hòa giải...
Mỹ đồng thời cũng đẩy quân đội Sài Gòn gây rối dọc biên giới Cambốt, một số cuộc đụng độ được ghi nhận và nhiệm vụ của tướng Huỳnh Văn Cao coi như thất bại. Dưới sức ép của Mỹ, Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc cử một phái đoàn điều tra về các va chạm Việt – Cambốt. Nhưng ông hoàng Sihanouk từ chối; ông tuyên bố: Không cần một phái đoàn nào mới mà chỉ cần Ủy ban quốc tế giám sát và kiểm soát đình chiến Đông Dương quy định trong hiệp nghị Genève 1954 hoạt động là đủ.
Ngày 7-6, 29 họ đạo Thiên Chúa giáo Hố Nai cùng các họ đạo xóm Mới, Bắc Hà, Bình An... giương biểu ngữ, tràn ngập đường phố số lượng ước hai vạn. Đây là cuộc biểu dương quy mô lớn đầu tiên của giáo dân sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Điểm tụ hội là công trường Lam Sơn. Trong hàng mấy trăm khẩu hiệu, đáng chú ý khẩu hiệu: Lột mặt nạ bọn lợi dụng cách mạng đàn áp Công giáo.
Ngày 15-6, vài vạn giáo dân biểu tình ở Huế với khẩu hiệu na ná như Sài Gòn.
*
TỔNG THỐNG JOHNSON VÀ ĐƠN THUỐC CHO CON BỆNH VIỆT NAM
(Financial Affairs – Helen Fanfani).
Sài Gòn, đầu tháng 7.
Nhà Trắng có vẻ từ do dự đã nghiêng về một thử nghiệm khác cho sự tìm chiến thắng ở Nam Việt. Những hoạt động ngoại vi Nam Việt cho thấy Tổng thống Johnson xếp chung hàng, nếu không đường hoàng thì cũng rón rén với thế lực được dư luận Mỹ gọi là “diều hâu” nhân danh cho tất cả, kể luôn Chúa. Một lần nữa, Bộ ngoại giao, được phố Wall yểm trợ, đã đánh bại chiến lược của Ngũ Giác Đài - không chờ đợi quân lực Việt Nam Cộng hòa trưởng thành mà chính người Mỹ gánh vác mọi diễn tiến ở Nam Việt, dù cái giá như thế nào. Bom Mỹ rơi trên đất Lào; bom Mỹ sẽ rơi trên đất Cambốt, cả hai quốc gia đều theo thuyết trung lập. Tính logic dẫn người ta đến một viễn cảnh gần gũi hơn: Bom Mỹ không từ chối rơi trên lãnh thổ Bắc Việt. Tình hình phơi bày hàng ngày ở Nam Việt củng cố tính toán của Tổng thống Mỹ: khó lòng hy vọng ở sức mạng chống Cộng của các phe cánh chính trị, còn lâu mới gọi được là đảng nếu thiếu dollar Mỹ làm chất keo dính số chính khách mà quá khứ từng người đã lau chùi mấy cũng chẳng bốc lên mùi hấp dẫn, dân chúng Nam Việt đã chán chê và nghi kỵ: khó lòng hy vọng ở các tướng và đội quân do Mỹ trang bị từ đầu đến chân, bận tâm giành chỗ ngồi và ngân khoản hơn đánh giặc...
Chưa bao giờ Sài Gòn đậm đặc những mây thuẫn đan chéo như hiện nay. Môt mặt người ta phải tỏ ra “cách mạng triệt để” với sắc luật lấy ngày 1-11 làm ngày Quốc khánh và với một loạt bản án lạc lõng và quái dị: bắn Ngô Đình Cẩn và một trùm mật vụ khác ở Huế, xử tù Dương Văn Hiếu không tên tuổi, đồng thời hạ án Đặng Sỹ, nổi tiếng hơn, xử chiếu lệ Tổng cục trưởng tình báo Nguyễn Văn Y... Giới ngoại giao và báo chí cười mỉa: Lẽ ra phải xử chính tướng Nguyễn Khánh, nếu không phải đại sứ Cabot Lodge và cao hơn nữa, các Tổng thống Mỹ từ năm 1954 đến nay!
Phật giáo được thỏa mãn: đoàn Tuyên úy chính thức thành lập trong quân đội. Nhưng người ta hỏi: mấy người theo đạo Phật thật sự vui mừng về việc một số tu sĩ thuộc tôn giáo đeo quân hàm và dấn sâu vào việc sát sinh mà đạo Phật cấm kỵ? Công giáo bực tức, nổ liền mấy cuộc biểu tình và chính phủ của tướng Khánh ve vãn.
Tướng Khánh giải tán Hội đồng Nhân sĩ và ra sắc luật lập Quốc hội lập hiến – trò chơi dân chủ như trò cút bắt của trẻ con. Sài Gòn đã có 7 đảng chính trị hoạt động, 15 đảng được cấp giấy phép và còn 16 đơn xin phép, tổng cộng 38. Số đảng mọc như nấm này ngang với số báo hàng ngày và tất nhiên người ta phải đăng trên mục rao vặt: Đảng X cần bao nhiêu đảng viên, ai đăng ký sẽ được một ổ bánh mù kẹp thịt nguội!
Chiến trường không chơi trò cút bắt. Việt Cộng tấn công mạnh, xe lửa quân sự bị giật mìn, huyện lỵ bị pháp kích, hàng không mẫu hạm Mỹ bị đánh thủng, quân đội Nam Việt bị phục kích liên miên, ấp chiến lược rã hàng mãnh, những trận đụng độ quy mô lớn, phi cơ Nam Việt xuất kích ồ ạt, an ninh suy sụp.
Khi tôi viết bài báo này, một tiền đồn quan trọng trên cao nguyên Trung phần lọt vào tay Việt Cộng, với thương vong công bố chính thức của Sài Gòn – bao giờ nhà báo chúng tôi cũng tính xác xuất theo cách riêng của mình: giảm một nửa thương vong của Việt Cộng và nhân gấp đôi thương vong của Việt Nam Cộng hòa – 45 chết, 27 bị thương, có 2 Mỹ; vài ngày sau, một tiền đồn khác ở Thừa Thiên bị hạ, thương vong của Việt Nam Cộng hòa lên đến 58 chết, trong đó có một Mỹ và một Úc... Ngay tại Sài Gòn, như các báo đưa tin, bộ trưởng Mac Namara bị mưu sát. Một trong hai thanh niên bị bắt đã hiên ngang nhận sứ mệnh trừng phạt kẻ gây chết chóc cho dân tộc Việt Nam.
Và, sự thể còn đáng lo ngại hơn nhiều: một cuộc xung đột đẫm máu không diễn ra ở chiến trường mà tại thủ đô và giữa những người có lẽ không hề có mối quan hệ với Việt Cộng. Toán giáo dân Thiên Chúa từ nơi nào đó ụp đến một trường dạy nghề cách chợ Bến Thành vài trăm mét, hành hung. Trường này không phải thuộc Phật giáo. Số tấn công đập cổ chai bia làm khí và rất không may cho họ, họ phải chọi với hàng nghìn học sinh có đủ dụng cụ đề kháng trong tay: búa, kềm, mỏ lết, thanh sắt... Cảnh sát can thiệp trễ tràng, máu nhuộm cả một đoạn đường. Lý do của cuộc tấn công vẫn chưa sáng tỏ. Hình như học sinh của trường dạy nghề này – trường rất cổ - là nòng cốt của bộ phận chống lại tướng Khánh trong tổ chức sinh viên và học sinh. Thế thì, không hẳn giáo dân cuồng tín này chủ mưu trả thù cho ông Diệm. Ai giật dây, đúng tính chất hơn, ai chi tiền cho họ? Thật là câu hỏi hóc hiểm, trừ đại sứ quân Mỹ, không đâu có câu trả lời thỏa đáng.
James Killens được chính phủ Mỹ bổ làm giám đốc viện trợ Mỹ ở Nam Việt. Máy tính điện tử mà ông sẽ sử dụng đòi nhiều hàng đơn vị, chắc chắn con số lên mức tỷ dollar. Mỹ tình nguyện đưa cả hai chân xuống bãi lầy. Đơn thuốc của Tổng thống Johnson đồng nghĩa: cả con bệnh lẫn thầy thuốc cùng chịu chung một hậu quả.
Viết thêm: Tôi chưa gửi bài báo thì được tin tướng Taylor đến Sài Gòn – lần này với tư cách đại sứ. Một đại sứ là tướng, ngôi sao sáng nhất của giới quân sự Mỹ và một tư lệnh nuôi nấng mơ ước thành Mac Arthur – bản giao hưởng từ nay không thể đổ cho sự thiếu hài hòa giữa các nhạc công chủ yếu.
Cũng lần đầu tiên, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, ông U Thant, công khai lên tiếng về vấn đề Việt Nam: ông đề nghị triệu tập lại hội nghị Genève.
Tất nhiên, ai cũng biết nội ngày mai, chính phủ Mỹ, Anh và Việt Nam Cộng hòa sẽ phản đối ông U Thant. Với Tổng thống Johnson, phải cho cả Đông Nam Á thấy thế nào là cơn thịnh nộ của Mỹ...
(H.F 9-7-64)
*
Bức thư theo đường bưu điện đặt cho Luân và Dung một bài toán từ khi nhận nhiệm vụ họ chưa phải giải đáp bao giờ. Một thế lực nào đó – một “siêu thế lực” – khống chế vợ chồng Luân, nói trắng ra, buộc vợ chồng Luân trở thành nhân viên tình báo chuyên nghiệp, ở đây, hẳn là của Mỹ.
Luân ngồi thừ rất lâu. Dung cũng vậy. Cả hai rất yêu con. Nhưng, sinh mệnh con và sinh mệnh chính trị cùng lúc đăt lên đòn cân.
Dung không khóc. Cô cố dằn và một lúc, chính cô thấy rằng khóc là vô lý, chẳng những rối tâm trí Luân mà trước hết không cho phép cô đủ sáng suốt phân tích sự việc.
- Con chúng ta ít có khả năng bị hại... - Dung nêu suy nghĩ của mình.
- Đúng! – Luân đồng tình.
- Vấn đề là chúng ta phải đóng vai trò như thế nào... Vai trò đó gần với trách nhiệm của chúng ta – Dung nói thêm.
- Em có lý...
Luân gọi điện. Saroyan cầm máy và sau đó, trao cho Jones Stepp.
- Tôi vừa nhận được thư nặc danh liên quan đến con tôi...
-Thế à? – Giọng Jones Stepp ngạc nhiên rất thành thực, hình như ông ta cho máy thông báo với Saroyan.
- Tôi muốn tướng quân cho xin số điện thoại của ông John Hing.
- Đại tá nghi ngờ John Hing?
- Không phải nghi ngờ mà quả quyết...
- Nội dung bức thư nói gì?
- Bảo nhà tôi chấp nhận cung cấp tin của Việt Cộng.
- Sao lại thế... Thôi được, số máy của ông ta đây...
- Cám ơn tướng quân...
Dung ngăn Luân:
- Anh khoan gọi cho John Hing.
Cô tìm trong danh bạ điện thoại đặc biệt.
- Anh để máy cho em.
Dung gọi, nói tiếng Anh.
- Hello! Tôi xin được nói chuyện với ngài William Porter... Vâng, tôi ở Tổng nha cảnh sát quốc gia... Xin chào ngài. Tôi là Hoàng Thị Thùy Dung, giám đốc Nha công vụ Tổng nha... Cám ơn ngài. Tôi đã có tin báo về cháu. Tôi nghĩ là một trò kém thông minh. Không... Vợ chồng tôi không bao giờ cho rằng ngài liên can đến vụ này. Tôi chỉ báo để, nếu có ai đó trao đổi với ngài về con chúng tôi và cả chúng tôi nữa thì ngài không ngạc nhiên... Vâng, tôi sẽ nói rõ với ngài sau. Cám ơn ngài...
Dung cắt máy và trao cho Luân. Luân cầm luôn tay vợ, hôn lên:
- Em tôi thông minh lắm!
Luân quay máy, giọng John Hing đầu máy kia. Y cũng nói tiếng Anh.
- Williams đấy hả?
- Không, một người khác... - Luân nói tiếng Anh.
- Tại sao ông biết số điện thoại của tôi?
- Chính ngài Porter cung cấp!
- Ồ! Lạ thật... Ông là ai?
- Tôi đi vào vấn đề: ông nên chấm dứt trò chơi ngu xuẩn bằng cách dùng con để uy hiếp cha mẹ...
- Thế ông là...
Luân không trả lời, nói luôn:
- Ông dùng Ly Kai với phương pháp quen thuộc của hắn... Tôi, vợ tôi sẵn sàng cùng ông bàn nghiêm chỉnh, nhưng không phải theo lối đặt sệt Chicago ấy. Hãy tỏ ra là người lớn và bàn việc người lớn.
Đầu dây kia im lặng một lúc nhưng nghe có tiếng máy quay. Luân đoán John Hing gọi William Porter.
- OK! – John Hing trở lại nói chuyện với Luân - Tôi sẽ gặp ông và bà... Đúng, nên cư xử như người lớn. Dù sao, con của ông bà vẫn bình yên, nếu tôi không lầm, không sụt cân. Còn Ly Kai, ông đã biết, tùy ông xử lý, tôi không can thiệp. Con của ông bà sẽ về nhà, trễ nhất là nửa giờ nữa. Còn người của tôi ở bưu điện...
- Ông yên tâm. Đó là người của ông. Chúng ta không chơi theo luật rừng...
- Bravo... Gần như tôi không cần gặp ông và bà, chúng ta hiểu nhau hơn mức tôi mong... Nói thế, tôi sẽ gặp. Xin lỗi ông. Và có lẽ cũng không cần phải nói quá kỹ về sự việc với Williams Porter hoặc Jones Stepp.
- Đồng ý...
- Xin ông bà đốt cho tờ giấy kém thông minh ấy...
---
(1) Ý nói sự tranh chấp giữa Mac Arthur và Eisenhower – Tổng thống Mỹ bấy giờ - chung quanh việc quân Mỹ vượt sông Áp Lục và ném bom lãnh thổ Trung Quốc, đã khiến Mac Arthur bị cách chức vì Eisenhower chủ trương khoanh chiến sự trên đất Triều Tiên.

CHƯƠNG 13

Đã lâu, từ khi chú Thuận đến Tổng nha, Luân và Dung không nhận được chỉ thị của cấp trên. Những bản tin, bài bình luận của cả hai đài Tiếng nói Việt Nam và Giải phóng không đủ giúp hai người hình dung đầy đủ chiến lược và sách lược mới của cách mạng trong điều kiện Mỹ can thiệp sẵn và trực tiếp vào Nam Việt chỉ còn tính theo đơn vị tháng. Ngoài ra, đôi việc riêng cần xin ý kiến lãnh đạo vì nó vượt quá trách nhiệm hai người, tỷ như... “đề nghị” của John Hing - họ hiểu là của bộ phận chỉ huy cao nhất của ngành tình báo Mỹ.
Một buổi sáng đầu tháng 7, điện thoại thuộc hộ công cộng nhà Luận bị tạp âm, Dung toan gọi Bưu điện, thì một người thợ lù lù đến cổng với đủ đồ nghề. Quân cảnh báo và Dung cho vào. Lúc đó Luân sửa soạn đi làm.
Người thợ sửa điện thoại, khi trật chiến nón bảo hộ lao động ra, Luân và Dung mừng rỡ: Sa.
- Em mang chỉ thị của A.07, nhưng chỉ thị miệng, em nói lại... Để cho tiện, anh cứ đi làm... em nói với chị...
Luân nhìn quanh, không có ai, vụt ôm ghì Sa, hai người rơm rớm nước mắt. Dung cũng không kiềm nổi xúc động.
Luân đi rồi, Sa vừa tháo máy vừa nói:
- Chị nghe cho kỹ... Ở ngoài đã biết vụ cháu Lý bị bắt cóc, biết cả điều kiện của John Hing. Các chú khen anh chị đối phó giỏi. Nhưng, thế nào anh chị cũng sẽ gặp hắn...
- Đây là nước cờ mới, quan trọng. Tốt nhất là chị gặp, còn anh thì không. Hắn cần một trong hai người thôi. Mà ta cũng chỉ cần một người đứng ra cam kết là đủ...
- Cam kết? – Dung ngắt lời Sa.
- Em không thể nói rõ hơn, bởi em chỉ học thuộc lòng chỉ thị... Chị nghe tiếp: Hắn đòi hỏi gì cũng suy tính mà trả lời, sao cho có lợi, kể cả nhận nhiệm vụ tình báo của chúng, nhưng không được hạ thấp động cơ, tức là không thể vì tiền mà vì quan điểm, như từ trước tới nay anh chị đã tỏ rõ. Chắc chắn hắn yên tâm hơn với chị mà vẫn còn e ngại anh. Đây là một bẫy rập nguy hiểm, anh chị nên hết sức tỉnh táo. Chúng có một số tài liệu về anh và sẽ khai thác, đó là những những nhận xét của Ngô Đình Nhu, Mai Hữu Xuân, Nguyễn Văn Y mà chúng lấy được và của chính cơ quan tình báo Mỹ. Ngay việc anh quan hệ tốt với một số nhà báo Mỹ có xu hướng độc lập như Robert Shaplen, Helen Fanfani cũng làm cho chúng lo ngại. Anh Luân bận tâm trước sự can thiệp sâu của Mỹ vào Việt Nam, đó là bận tâm chính đáng. Lãnh đạo cũng bận tâm như vậy. Song, không thể gạt bỏ sự can thiệp sâu của Mỹ, chỉ có thể làm nó diễn ra chậm, khó khăn, nhất là trên một cái nền càng bấp bênh càng tốt. Anh Luân cố gắng quan hệ kín đáo với một số tướng tá có thực quyền đồng thời tự giới thiệu như một nhà chính trị cởi mở, thông minh, biết đưa chủ nghĩa quốc gia đến thắng lợi bằng lối riêng thỏa mãn được mọi xu hướng. Đại Việt sẽ hoạt động mạnh song họ vấp nhiều trở ngại vì quá khứ riêng không lành mạnh, thiếu lực lượng bên dưới, không được các nhóm sĩ quan thích. Trước bọn Mỹ và các phe nhóm, thái độ chính trị của anh và chị không nhất thiết giống nhau. Chị nên lưu ý Mỹ vì khả năng chuyên môn, một cảnh sát chuyên nghiệp... Khi có biến động lớn, lãnh đạo sẽ trực tiếp gặp anh chị. Đó, tất cả những cái lãnh đạo dặn, em đảm bảo không bỏ sót điều nào...
Dung chăm chú nghe. Sa nói đều, tay không ngừng thao tác các mối dây của chiếc máy nói.
- Sau vụ bắt cóc, cháu Lý khỏe không hả chị?
- Cháu bị ốm mất mấy hôm, nay đã bình thường... Anh chị mong thần kinh cháu không bị tổn thương.
- Tụi nó hay làm trò khốn nạn!
- Làm sao các đồng chí biết rõ mọi chi tiết vừa rồi của chúng tôi?
Sa hấp hay mắt:
- Em đoán: ở đâu cũng có người của ta...
Cậu quay thử máy về tổng đài. Máy hoạt động bình thường.
- Em phải đi. Chưa biết lúc nào lại đến. Anh chị không cần gởi báo cáo, không cần hộp thơ, điện đài... Thời kỳ mới, phương pháp làm việc mới. Ngay anh Quyến cũng được chỉ thị không liên lạc với anh chị...
Dung thở dài, Sa ái ngại:
- Chị yên tâm... Và cậu nhắc câu vừa nói: Ở đâu cũng có người của ta.
Sa thu xếp đồ nghề vào túi.
- Bà chú ý đừng để dây bị ẩm... - Cậu ta nói lớn.
Dung trao cho Sa một xấp tiền, cậu nhận:
- Cám ơn bà!
- Đây cũng là bẫy rập nguy hiểm! – Luân lập lại lời dặn dò của lãnh đạo mà suy nghĩ mông lung.
- Em đoán: Tình báo Mỹ khi cần, hé ra cho các thế lực khác biết anh hay em, nhất là anh, quan hệ với họ để mượn tay các thế lực khác thanh toán ta. Quả là một bẫy rập nguy hiểm!
Luân rít dài hơi thuốc. Suy luận của Dung đúng quá.
- Em sẽ gặp John Hing...
Luân gật đầu. Muốn hay không, canh bạc đến hồi đòi tay chơi dấn sâu vào cơn sát phạt, dù phiêu lưu thế nào.
... John Hing tiếp Thùy Dung trong một biệt thự đường Công Lý.
Gian phòng khách thoáng, trưng bày theo lối mới: Salon nệm mousse, tủ rượu và kệ sách nhập từ Pháp. Tất nhiên, Dung biết chắc máy ghi hình và ghi âm đặt rất kín đáo đâu đó, John Hing cần những bằng chứng... Và Thùy Dung, trong chiếc sắc tay, máy ghi âm cực nhỏ cũng sẽ chạy khi cô chạm đến nó.
- Bà có thể dùng một chút rượu không?
- Cám ơn, tôi không dùng được rượu.
- Vậy, bà dùng nước ngọt?
- Cám ơn, ta nên đi vào câu chuyện. Tôi đến không để uống.
John Hing cười:
- Nếu vậy, chúng ta bắt đầu, và là người biết chủ động...
- Các ông bắt cóc con tôi và ra giá cho chúng tôi. Tôi thích sòng phẳng. Con tôi về nhà an toàn. Tôi đến để nghe điều kiện của các ông...
- Đúng, chúng tôi đã bắt cóc con bà... Thế, tại sao bà không dùng sức mạnh của bộ máy cảnh sát để giải thoát mà lại nhận đến gặp chúng tôi, nhất là con bà đã tự do?
- Nhà tôi đã hứa. Nhà tôi nói với ông: Hãy dẹp trò ngu xuẩn và hãy cư xử với nhau như người lớn...
John Hing cười ra vẻ sảng khoái.
- Chỉ vì một lời hứa?
Rồi y lẩm bẩm:
- Trò ngu xuẩn? Chớ vội kết luận...
- Tất nhiên, đó là trò ngu xuẩn và phần tôi, tôi muốn biết các ông định đẩy trò chơi tới đâu?
- Không phải trò chơi! – John Hing làm mặt ngiêm – Chúng ta thảo luận công việc đàng hoàng...
- Tôi đang nghe ông...
John Hing ngắm Dung. Trong một thoáng, y đã tiếc không chấp nhận mưu mẹo của Ly Kai – mưu mẹo hạ cấp thật, song trước mắt y là một thiếu phụ đẹp, quá đẹp...
- Bà đẹp, tôi phải nói điều đó...
Dung mỉm cười:
- Tôi tin là ông mời tôi đến không để nó những câu vô ích!
John trở lại tư thế vốn có của y...
- Một lời khen bình thường, không có gì quá đáng sẽ mở đầu cuộc trao đổi nghiêm chỉnh... Bà có quan hệ với Việt Cộng?
John Hing chờ một thay đổi nhỏ trên nét mặt của Thùy Dung; y thất vọng.
- Tôi muốn hiểu ông hỏi câu đó theo nghĩa nào?
- Ví dụ, bà liên lạc và nhận chỉ thị của họ...
- Tại sao tôi phải nhận chỉ thị của Việt Cộng? Ông John Hing, ông đã mở đầu cuộc trao đổi theo lối đánh bạc mà giới chuyên nghiệp gọi là “thấu cáy”. Tôi mong ông giữ lời hứa: ta nói chuyện nghiêm chỉnh.
- Bà do Cộng sản Bắc Việt phái vào... Tất nhiên, bà giữ liên lạc với họ...
Dung bật dậy, cầm sắc tay:
- Ta coi như chấm dứt ở đây. Tôi lầm vì ngỡ ông hiểu biết ít nhiều về tôi, về chúng tôi... Hóa ra...
John Hing bối rồi:
- Xin lỗi bà... Mời bà ngồi xuống... Bà xem những lời vừa rồi của tôi chỉ là đùa...
- Đùa, chúng ta đùa? Ông John Hing, ông bất lịch sự lắm. Địa bàn hoạt động của ông gần khắp các lục địa. Thế mà... - Dung dằn mạnh từng tiếng.
- Bà hãy ngồi xuống... Thú thật tôi đánh giá bà sai...
Dung ngồi xuống, nhưng cho thấy cô sẵn sàng bước ra khỏi nhà ngay tức khắc nếu John Hing không đi vào cốt lõi buổi gặp mặt.
- Vẫn câu hỏi đó, tôi đặt mục tiêu khác: bà có người trong hàng ngũ Việt Cộng không?
- Một câu hỏi còn mang đôi ý nghĩa. – Dung cười lạt – Tất nhiên, tôi phải nắm phương tiện làm việc. Ông quên tôi là nhân viên giữ trách nhiệm không thấp ở Tổng Nha cảnh sát quốc gia?
- Bà có bằng lòng chia sẻ với tôi hai điều: một là bà giúp tôi kinh nghiệm tổ chức xây dựng mạng lưới trong Việt Cộng; hai là bà sao cho tôi những tin tức từ nguồn của bà...
Dung làm ra vẻ suy nghĩ.
- Tôi không bao giờ keo kiệt... - John Hing hiểu phút do dự của Dung theo hướng khác.
- Đó lại thêm một bằng chứng ông chưa phải là người lớn... Tôi không bao giờ bán các tin mật cho ông...
- Tôi không thiếu tin mật đâu! – John Hing lại cười – Tôi chỉ cần tin mật của bà.
- Ông nên nói chính xác: ông cần tin tức do tôi cung cấp, còn độ mật chỉ là cái cớ...
- Thưa bà, bà quá thông minh... Nhưng, tại sao bà từ chối hợp tác với chúng tôi?
- Có lẽ bây giờ ông mới nói một câu thật. Tôi biết ông là ai... Và, tôi sẽ quyết định hợp tác hay không với các ông, với cơ quan của ông, khi chúng ta sòng phẳng về điều kiện...
- Thế thì, chẳng hạn Việt Cộng có thể mua vũ khí của chúng tôi không?
Dung hơi chới với. Cô chưa dự kiến John Hing đặt vấn đề kiểu đó.
- Tôi nghĩ là Việt Cộng có nguồn vũ khí riêng... - Cô hoãn binh, để nắm rõ ý đồ của đối phương.
- Tôi biết... Francisci là một nguồn...
- Francisci chỉ cung cấp cho các toán Fulro không thể đảm bảo cho một đạo quân...
- Tôi biết Trung Cộng chuyên chở vũ khí của Nga Xô quang cảng Sihanoukville...
- Mọi người đều biết...
- Nhưng, chúng tôi có thể cung cấp nhiều hơn về số lượng, nơi giao hàng cũng tiện...
- Chẳng hôm nay ông biến tôi thành lái súng?
- Bà Thùy Dung, bà quên rằng cuối cùng rồi ai quyết định vận mệnh của Nam Việt...
- Tôi chưa thể hứa... Tuy nhiên, tôi sẽ dọ qua người của tôi...
- Tốt!
- Thế là chúng ta đã bàn xong?
- Tạm thời... Bà nên nhớ những gì bà trao đổi với tôi hôm nay đã được lập biên bản.
- Biên bản bằng máy ghi âm và thu hình... Tôi hiểu!
- Cái cần hiểu hơn cà là chúng ta thỏa thuận và chỉ chúng ta biết các điều thỏa thuận đó... Tôi chờ kết quả của bà. Tôi đảm bảo: chừng nào bà không vi phạm sự thỏa thuận thì không ai đụng đến bà... đến gia đình bà...
- Quyền lực của các ông ghê ghớm đến thế? – Dung hỏi mỉa mai.
- Tôi nghĩ là bà hỏi một câu mà chính bà đã biết rõ. Ngay Tổng thống Kennedy, bà hiểu chứ, vẫn phải phục tùng, theo kiểu của ông ấy, ở Dallas.
Dung vận dụng tài đóng kịch: cô tỏ ra phần nào nao núng qua cái nhìn rụt rè người tiễn cô ra cửa.
- Bà hấp dẫn hơn bà Saroyan!
John Hing chìa tay nhưng Dung không bắt, cô lên xe chẳng đáp lại cái vẫy chào của John Hing. Cô mở công tắc, toan ấn ga thì John Hing đã thò đầu vào xe. Dung nghĩ liền phải đánh vỡ mặt tên này...
- Bà đừng nóng. – John Hing đoán được ý nghĩ của Dung. - Tôi quên không nhắn ông: Đại tá nên hành động theo lời khuyên của bà thôi!
- Và, ông sẽ cung cấp cho tôi lời khuyên đó! - Dung cho xe nổ.
- Bà cực kỳ thông minh... Đúng vậy. Chúng tôi cần đại tá!
John Hing vừa kịp rút đầu ra khỏi xe, chiếc xe của Dung vọt ra khỏi cổng...
*
Lần đầu tiên, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mac Namara tuyên bố công khai trước báo chí là Mỹ rất có thể mở rộng “một kiểu chiến tranh thích hợp” ra Bắc Việt. Trả lời các câu hỏi trong cuộc họp báo ngày 11-7-1964 sau chuyến thị sát Nam Việt trở về, Mac Namara giải thích rằng “nguyên nhân gây nên tình trạng bất ổn ở Nam Việt là do sự thâm nhập của Bắc Việt”. Một nhà báo vặn lại: tình trạng bất ổn ở Nam Việt bắt đầu từ vụ Phật giáo dẫn đến cái chết của Ngô Đình Diệm, rồi cuộc chỉnh lý của Nguyễn Khánh, cách đánh giá nguyên nhân tình hình Nam Việt của Bộ trưởng thiếu thuyết phục. Mac Namara nổi cáu: Các nhà báo Mỹ có thiên hướng nghi ngờ chính phủ, nếu Bắc Việt không thâm nhập thì sao trong một thời gian ngắn quân Việt Cộng lên đến hàng vạn; không ngăn ngừa trước nguy cơ này thì không bao giờ Nam Việt ổn định... Một nhà báo khác bác bỏ lập trường của Bộ trưởng: sẽ càng thêm nhiều Việt Cộng hơn nếu Mỹ dính líu sâu vào Nam Việt là nơi mà tinh thần quốc gia phát triển mạnh; bài toán đặt ở khía cạnh khác – khía cạnh Nam Việt có một chính phủ được lòng dân. Đến đây, bộ trưởng quốc phòng Mỹ gần như điên tiết: tôi rất lạ là Bắc Việt Cộng sản thâm nhập cả vào hàng ngũ ký giả trên nước Mỹ! Người ta cười ồ, bộ trưởng đỏ mặt có thể vì câu nói hớ của mình cũng có thể vì quan cảnh họp báo không mấy thuận lợi đối với bước ngoặc của chính sách Mỹ ở Nam Việt àm ông ta có nhiệm vụ sửa soạn dư luận. Một nhà báo khác đặt câu hỏi: Mở rộng chiến tranh ra Bắc Việt nghĩa là như thế nào? Mac Namara lảng tránh: Tôi sẽ thông báo khi tình hình cho phép; mọi cái do Tổng thống quyết định. Một nhà báo khác nữa hỏi: Theo hiến pháp, những hành động như tuyên chiến với một quốc gia, Tổng thống phải trình cho Quốc hội, hiện nay, Quốc hội đang nghỉ hè, liệu Tổng thống Johnson dám tự mình quyết định không? Mac Namara trả lời: Tôi không phải là Tổng thống nên không thể nói gì hơn...
Một tuần lễ sau cuộc họp báo của Mac Namara, tại Sài Gòn lại nổ ra các cuộc biểu tình nhân ngày gọi là “quốc hận” 26-7 ký hiệp định Genève năm 1954 đình chỉ chiến sự ở Đông Dương. Khẩu hiệu: chống Cộng, chống Pháp.
Vài nhóm sinh viên dùng sơn bôi lên tượng đài “Tướng sĩ trận vong” do Pháp dựng trước đây, vài nhóm khác đập phá bên ngoài đại sứ quán Pháp, đốt vài cái xe. Chính quyền Quảng Trị tổ chức một cuộc biểu tình ở bờ sống Bến Hải...
Thế nhưng, cái đập mạnh dư luận là “Đêm không ngủ” do sinh viên, học sinh tổ chức tại trường đại học Văn Khoa. Ở đây, hai xu hướng đụng nhau, một là phe lớn tiếng đổ tội chia cắt đất nước cho Cộng sản và Pháp, một phe khác, đông hơn cướp diễn đàn, kết án “Mỹ và tay sai” mưu toan gây chiến tranh, mưu toan biến Nam Việt thành một bang của Mỹ. Tổng hội sinh viên ra tuyên bố không chịu trách nhiệm về các cuộc bạo động bài Pháp của một thiểu số ăn tiền của bọn phản động.
Cuộc dàn dựng của Nguyễn Khánh không thành công. Bởi vậy, khi Tổng thống Mỹ loan báo số quân Mỹ ở Nam Việt từ 16.000 lên 21.000, bố trí hệ thống cố vấn Mỹ đến cấp tiểu đoàn trong lực lượng Nam Việt thì sinh viên một số trường đại học Sài Gòn đột ngột mở hội thảo, công khai phản đối chính sách mới của Mỹ và phê phán gay gắt Nguyễn Khánh – nhiều diễn giả coi Nguyễn Khánh như Gia Long “cõng rắn cắn gà nhà”.
Phản ứng dây chuyền lan tận Duy Xuyên – một huyện của Quảng Nam, nơi năm 1955 xảy ra cuộc thảm sát những người kháng chiến do đảng Đại Việt nhân danh chế độ Ngô Đình Diệm thực hiện. Tại đây, chính quyền Quảng Nam đã phải giải tán một cuộc biểu tình lớn chống Nguyễn Khánh và bắt giam gần 2.000 người. Cả Phật giáo lẫn đảng Đại Việt đều lên tiếng phản đối.
*
St. MADDOX VÀ TURER JOY: CỬA ĐỘT PHÁ ĐI VÀO CHỐN VÔ TẬN.
Hélen Fanfani (Financial Affairs)
Sài Gòn, 9-8-1964
Tôi choàng thức dậy khi cả phố, vào giờ tấp nập nhất – 7 giờ sáng, vang lên tiếng còi báo động. Trong vòng một tuần lễ nay, người ta cố gắng cưỡng bức thành phố - bây giờ nhiều tiệm buôn, cắt tóc, may, giặt ủi, tiệm ăn và nhất là quán rượu kết hợp với khiêu vũ mang nhãn hiệu Mỹ - phải tự xem như sống trong thời chiến khi mà quân số Mỹ tăng thêm. Giới ngoại giao cùng nhất trí: thình thoảng, một quả mìn nổ tung một rạp hát, một quán rượu đông đặc lính Mỹ, ví dụ ngày 1-8 vừa rồi, tại nơi tụ tập các sĩ quan Mỹ đường Nguyễn Minh Chiếu: tuy nhiên hình thái chiến tranh lạ lùng ấy không chỉ mới mẻ, nó xuất hiện từ lâu và gây tổn thất nặng nề, so với những vụ đang xảy ra. Lịnh giới nghiêm do tướng Nguyễn Khánh ban hành ngày hôm qua – cấm mọi đi lại từ 11 giờ đêm đến 4 giờ sáng – hoàn toàn không phải vì tình thế gay gắt thật sự. Trước đây hai hôm, tướng Nguyễn Khánh ra sắc lệnh ban bố tình trạng khẩn trương khắp lãnh thổ Nam Việt, trong đó ông tái lập chế độ kiểm duyệt báo chí và cấm các cuộc hội họp dân chúng, trừ lý do tôn giáo.
Đòn chiến tranh cân não của tướng Nguyễn Khánh là bản phối âm với sự kiện được gọi là “sự kiện vịnh Bắc Bộ”. Ngày 2-8, tuần dương hạm Maddox của Hải quân Hoa Kỳ, theo thông báo của bộ tư lệnh Mỹ, đang tuần tra thường lệ trên hải phận quốc tế thuộc vùng vịnh Bắc Bộ thì bị ba tiểu đỉnh Cộng sản Bắc Việt truy đuổi, bắn đại liên và phóng ngư lôi. Maddox bị một số thiệt hại. Phi cơ Mỹ từ hàng không mẫu hạm Ticonderoga can thiệp. Ngày hôm sau, cũng chính chiếc Maddox “bị một số thiệt hại” này cùng với chiến hạm Turner Joy lại bị các tiểu đỉnh Bắc Việt tấn công. Ngày 5-8 các tiểu đỉnh Bắc Việt đánh tiếp tàu chiến Mỹ. Tổng thống Johnson xuất hiện trên vô tuyến truyền hình – vị thầy cải chuyên nghiệp này đã thuyết phục dân chúng Mỹ rằng an ninh Mỹ bị đe dọa nghiêm trọng và sau đó, ông thuyết phục luôn Quốc hội Mỹ cho phép ông áp dụng mọi biện pháp cần thiết, kể cả vũ lực, để đối phó ở Đông Nam Á.
Hàng đàn máy bay chiến F.102 như chực sẵn lao xuống môt loạt địa điểm ven biển Bắc Việt: Gòn Gai, Tuần Châu, Hòn Mê, Hải Phòng, Kiến An, thậm chí Vinh... Có ngày, Mỹ sử dụng đến 64 phi xuất... Lời báo trước của bộ trưởng Mac Namara đi vào giai đoạn thực hiện. Sài Gòn đào công sự, hầm trú ẩn, nhưng những lao công chiến trường vừa xẻng đất vừa đùa. Cơ quan truyền thông đại chúng do chính phủ kiểm soát muốn dùng các hình ảnh “khẩn trương” để cân bằng với tiếng bom ầm ĩ phía bắc vĩ tuyến 17.
Mọi thủ đoạn trơ tráo đều tung ra và không một ai, nguyên thủ quốc gia Mỹ hay Việt Nam như chưa hề biết hổ thẹn là gì. Vài chiếc phóng ngư lôi của Bắc Việt lại có thể uy hiếp cả hạm đội số 7 của Mỹ, sự tưởng tượng dù bay bổng tới đâu cũng khó mà đạt tới. Nhất là, người ta chỉ chờ một phát súng lục bắn vào tuần dương hạm Maddox để phân bua: Nước Mỹ phải tự vệ. Kế hoạch phản ứng soạn trước – giới ngoại giao ở Sài Gòn gọi kế hoạch bằng cái tên thực chất: Mỹ leo thang chiến tranh. Không có vụ Maddox thì sẽ có vụ khác. Chẳng khó khăn gì gây môt khêu khích - cứ cho tàu chiến xâm nhập hải phận quốc gia có chủ quyền và khi quốc gia kia phản ứng, Mỹ hí hửng bắt được cái cớ. Chuyện của nhiều thế kỷ trước và Tổng thống Johnson sao chép gần như nguyên văn.
Thế là chiến tranh vượt khỏi lằn giới tuyến được hiệp định Genève công nhận.
Tướng Nguyễn Khanh có lý do phấn khởi: địa vị của ông có vẻ vững vàng hơn trước, Mỹ cần người như ông. Tuy vậy, báo chí địa phương giới thiệu một nhân vật khác. Trong bộ quần áo phi công chiến đấu, tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng cạnh một máy bay ném bom và khoe: ông ta vừa hoàn thành một phi vụ ném bom xuống Vinh kết hợp với không lực Mỹ. Nguyễn Khánh không chỉ đối phó với tướng Kỳ. Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh quân khu I, tuyên bố đã sẵn sàng vượt sống Bến Hải.
Tổng thống Johnson chắc chắn toại nguyện. Ông thề dìm cả nước Việt Nam trong biển lửa, sự kiện Bắc Bộ mở màn theo ý ông. Ông chọc một lỗ thủng lớn để nước Mỹ tuông của cải và sinh mệnh. Maddox và Turner Joy quá nhỏ bé nhưng sẽ được nhắc lâu dài, bởi vì từ hai chiến hạm vô danh này, nước Mỹ lọt vào một không gian và thời gian đối thoại bằng vũ khí có thể nói là vô tận.
*
Thông cáo ngày 11-8 của Hội đồng quân đội cách mạng:
Xét công lao và tài năng nay thăng trung tướng Trần Thiện Khiêm lên quân hàm đại tướng.
Xét công lao và tài năng nay phong các đại tá có tên sau đây quân hàm chuẩn tướng: Nguyễn Đức Thắng, Vĩnh Lộc, Nguyễn Xuân Trang, Đặng Văn Quang, Hoàng Xuân Lãm, Lê Nguyên Khang, Nguyễn Văn Kiểm, Nguyễn Cao Kỳ.
Chủ tịch Hội đồng
Nguyễn Khánh.
*
Thông cáo của Hội đồng quân nhân cách mạng:
Ngày 16-8, Hội đồng quân nhân cách mạng đã họp toàn thể ở Vũng Tàu quyết định ban hành Hiến chương mới thay cho Hiến ước lâm thời số 2 ký ngày 7-2-1964. Do tình hình đất nước bước vào giai đoạn quyết liệt, Hội đồng quân đội cách mạng thấy rằng cần phải tập trung quyền lực vào những người đủ tài đức, ngỏ hầu tránh nạn phân tán làm suy yếu công cuộc kháng Cộng. Chủ tịch Hội đồng quân đội cách mạng phải kiêm luôn chức Quốc trưởng. Hội đồng nhất trí bầu Trung tướng Nguyễn Khánh đảm nhiệm cả hai chức vụ trên. Chủ tịch và Quốc trưởng Nguyễn Khánh được Hội đồng giao các quyền đặc biệt trong tình hình hiện nay: chọn lựa quốc hội gồm 100 nhân viên dân sự và 50 nhân viên quân sự, ban bố và thu hồi các sắc lệnh về tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do tổ chức, quyết định thành phần nội các, đề bạt và hạ cấp quân nhân từ cấp tướng trở xuống bất kỳ thuộc binh chủng nào.
*
Thông cáo của Bộ Thông tin:
Sau khi Hiến chương Vũng Tàu công bố, nhiều địa phương và đoàn thể gởi điện văn và kiến nghị: Nhiệt liệt hoan nghinh hiến chương ban bố đúng lúc, kính dâng trung tướng chủ tịch lời chúc mừng nồng nhiệt, nguyện đồng tâm nhất trí đoàn kết sau lưng Trung tướng, vị lãnh tụ tài ba của Việt Nam Cộng hòa.
Quốc trưởng Phi Luật Tân, Đại Hàn, Trung Hoa Dân quốc, gởi điện chúc mừng Trung tướng Nguyễn Khánh.
*
Điện mật:
Nơi nhận: Đại sứ M. Taylor – Sài Gòn.
Dư luận Mỹ không thuận lợi lắm về bản hiến chương mới ở Việt Nam và về vai trò của tướng Khánh. Tổng thống nhận được nhiều điện hoài nghi của các đồng minh. Cũng có một số nhân vật Sài Gòn gởi điện phản đối. Báo chí Mỹ sẽ lên tiếng, chắc chắn dấy lên làn sóng bất bình.
18.8.1964
Rusk.
*
Điện mật:
Nơi nhận: Ngoại trưởng D. Rusk – Washington.
Chúng tôi chưa hoàn toàn kiểm soát “vụ Vũng Tàu”. Sẽ báo cáo sau.
18.8.1964
M. Taylor.
*
Phó tổng thanh tra quân lực Việt Nam Cộng hòa, đại tá Nguyễn Thành Luân đến Cần Thơ, như lịch làm việc của cơ quan Tổng thanh tra thông báo với các cùng. Nhiệm vụ của Tổng và Phó tổng thanh tra đơn thuần chuyên môn: xem xét năng lực chiến đấu của quân đoàn và các đơn vị, ghi nhận kiến nghị của các Tư lệnh địa phưong và đơn vị về trang bị, về hậu cần...
Tướng Dương Văn Đức tiếp đại tá Luân. Lẽ ra, một sĩ quan phụ tá tư lệnh đã có đủ tư cách làm việc, nhưng chính tướng Đức muốn thông báo về mọi mặt của vùng IV mà ông hay phàn nàn là “đứa con út, ít được Bộ quốc phòng và Tổng tham mưu chiếu cố”.
Buổi họp chính thức không dài – chừng hai tiếng đồng hồ. Luân phải nghe cả một bảng cáo trạng của tướng Đức với lời lẽ mạnh mẽ về đủ loại khó khăn: thiếu quân số để đóng đồn hoặc hành quân, thiếu phương tiện vận tải, thiếu pháo và xe lội nước để có thể thọc sâu vào vùng đầm lầy, nhiều sông rạch, thiếu hải thuyền để đảm bảo an ninh từ Phú Quốc đến Nam Du, thiếu vật liệu xây dựng tuyến phòng ngự ngăn lính Cambốt dọc kinh Vĩnh Tế...
Sau buổi họp chính thức tướng Tư lệnh vùng mời cơm đại tá – cũng khá đông sĩ quan dự. Tiệc đến 8 giờ tối. Bởi nói chung đó cũng là nhà riêng của tướng Đức, cho nên tiệc tan, đại tá Luân ở lại “cụng tay đôi” với tướng Đức và anh sẽ nghỉ tại đây. Bàn ăn chỉ còn hai người – họ chuyển chỗ ra góc sân vắng vẻ – tướng Đức mới thật sự bộc lộ điều ông ấm ức.
- Thằng Khánh muốn làm tên độc tài. Hiến chương Vũng Tàu chính là “chiếu lên ngôi” của nó. Thằng đểu cáng hết chổ nói. Nó thị tất cả sĩ quan là con nít. Tôi quyết ăn thua đủ với nó...
- Ăn thua bằng cách nào? – Luân hỏi.
- Anh quên tôi là Tư lệnh vùng sao?
- Nhưng, như anh báo trong cuộc họp, quân của anh yếu...
- Đó là yếu với Việt Cộng chớ đâu có yếu với thằng Khánh.
Luân mân mê ly rượu, không hỏi thêm. Tướng Đức nóng tính, định làm gì thì không ai ngăn nổi. Chắc chắn ông ta sẽ động binh thôi. Song, liệu ông ta làm nên được cái gì không?
- Tại sao anh im lặng? Giữa tụi mình, giữ kẽ làm chi... - Đức hơi bực dọc.
- Tôi đâu có giữ kẽ. Tôi đang suy nghĩ... - Luân trả lời điềm đạm.
- Tôi liên kết được nhiều tay lắm... - Đức kề miệng vào tai Luân nói nhỏ.
- Các sĩ quan thuộc quyền anh biết ý định của anh không?
- Biết chung chung...
Luân thở dài, nghĩ bụng: Ông tướng ăn nói bạt mạng này chắc đã phun ráo kế hoạch với các sĩ quan chung quanh...
- Anh tin đi! Tụi nó một bụng với tôi...
- Anh đã hỏi một người bạn Mỹ nào chưa?
- Tại sao phải hỏi Mỹ?
- Trong hoàn cảnh của anh, muốn thành công, phải hỏi hai người: Mỹ và Việt Cộng.
- Mỹ thì tôi chưa hỏi. Còn Việt Cộng thì tôi hỏi rồi!
- Anh hỏi ai?
Tướng Đức trỏ vào ngực Luân:
- Hỏi anh! – Và ông cười ha hả.
- Ta bàn đại sự, anh đừng đùa... Tôi khuyên anh hỏi môt người Mỹ nào đó có vị trí mà anh tin...
- Tay cố vấn quân đoàn chắc chắn không phản đối tôi. Hắn đảm bảo tôi sẽ được ủng hộ.
- Ai ủng hộ?
- Tướng Westmoreland...
- Tôi chưa tin. Song, anh vẫn không thiếu cơ may nếu...
Luân bỏ lửng câu nói, nhấm nháp ly rượu.
- Nêu anh bắt được tướng Khánh và quả quyết hành động, không giống tướng Vĩ với đám Ngự lâm quân năm xưa...
- Ối! Thằng Vĩ là lính cậu. Tôi “phơ” ráo bọn sớm đầu tối đánh. – Giọng tướng Đức dứt khoát.
- Nhưng, còn một vấn đề nữa, quan trọng không kém: anh sẽ bố cáo với quốc dân về chính sách đối nội đối ngoại như thế nào?
Tướng Đức lắc lư cái đầu:
- Chuyện đó tôi chắc phải nhờ anh.
- Điều tối cần là một mặt kiên quyết với Nguyễn Khánh, một mặt khôn khéo với Mỹ. Phải làm cho người Mỹ thấy anh có thể chiến thắng được Việt Cộng mà không cần phải thêm quân Mỹ...
- Chà! Rắc rối quá... Tôi ghét thằng Khánh, quất cho nó hết phách láo. Cái thứ chính trị lôi thôi, nếu anh không giúp thì tôi cũng phải nhờ người khác giúp...
- Anh sẵn sàng chưa?
- Chưa thật sẵn sàng, phải chờ thêm một ít nữa...
- Chúc anh thành công! – Luân cụng ly với tướng Đức.
- Anh cụng ly với tôi không thấy phấn khởi lắm?
- Biết nói thế nào với anh đây... Mỗi người chọn con đường hành động riêng cho mình. Bao giờ cũng phải đặt ra nhiều giả thiết, nhiều tình huống với nhiều phương án thích hợp. Và chọn đúng thời cơ. Nguyễn Khánh ban bố Hiến chương Vũng Tàu là thời cơ. Thời cơ đó sẽ qua...
- Nhưng tôi phải bàn với tụi kia...
- Rất tiếc! Và, anh biết là tôi không có quân trong tay... - Luân nói gần như tâm sự với bạn bè.
- Tôi biết quá, đời nào tụi nó dám giao quân cho anh... Không sao. Anh chưa đến nỗi thất nghiệp đâu...
Hôm sau, Luân rời Cần Thơ. Anh buồn buồn:
- Tướng Đức chắc nổ ra được một cú giật gân, song không thể tạo bước chuyển biến. Ông ta không có hậu thuẫn chính trị và bản thân cũng không có đường lối chính trị... Và, quan trọng hơn hết, ông ta bỏ lỡ thời cơ.
Mấy ngày sau, tình hình chứng minh ý kiến của Luân là đúng đắn.

CHƯƠNG 14

Tại nhà riêng của Nguyễn Tôn Hoàn, cuộc họp bộ phận đầu não Đại Việt đã nhanh chóng thống nhất ý kiến. Cuộc họp sôi nổi ngay từ phút đầu khi Hoàn nếu lý do: biểu thị thái độ đối với “Hiến chương Vũng Tàu”. Tất cả những người có mặt độ ba chục, đều hầm hầm tức giận. Có lẽ chỉ hai người thỉnh thoảng mỉm cười kín đáo: Nguyễn Tôn Hoàn và Nguyễn Ngọc Huy.
Tướng Đỗ Mậu đến trễ. Vừa thấy mặt Đỗ Mậu, đã có tay bốp chát liền: Đó, chiến hữu Đại Việt, đệ nhị phó chủ tịch Ủy ban lãnh đạo Hội đồng quân đội cách mạng, phó thủ tướng chính phủ, chắc góp công vào cái Hiến chương quỷ quái kia! Đỗ Mậu, giống như Hoàn và Huy, mỉm cười với nhiều ngụ ý.
- Thôi phẫn nộ thế là đủ. Nên bàn về việc sắp tới, thiết thực hơn! – Đỗ Mậu điềm nhiên ngồi xuống ghế, ngó khắp phòng họp.
- Chúng tôi đợi thiếu tướng... - Hoàn bảo, nhỏ nhẹ.
Không khí phòng họp chợt lắng. Và, mọi người như hiểu ra.
- Theo ý của lãnh tụ, tôi thôi thúc cuộc họp Vũng Tàu, cho bản Hiến chương ra đời nhanh. Nó đã ra đời. Nguyễn Khánh bị vào tròng, tự y lên án y trước công luận. Một phong trào phản kháng sẽ bùng nổ dữ dội. Cơ hội rất tốt cho đảng ta giành quần chúng và mặc cả. Bây giờ, không phải lúc nói suông. Đảng ta ra tuyên bố. Nhưng, điều quang trọng là đảng giữ riêng mình ngọn cờ chống hiến chương Vũng Tàu, chế độ quân phiệt, chế độ độc tài tái sinh. Nếu đảng ta tự giới thiệu được là thế lực mạnh nhất về chính trị ở miền Nam thì người Mỹ sẽ bàn với lãnh tụ ta về tương lai chính trị ở xứ này và vai trò của đảng ta trong chính phủ, một vài trò áp đảo...
Đỗ Mậu vừa phác qua mấy nét, nhiều tiếng xuýt xoa khen ngợi. Ngay Trung ương Đại Việt mà cũng không ngờ ngón đòn của lãnh tụ họ thâm đến thế.
Nguyễn Tôn Hoàn liếc Nguyễn Ngọc Huy. Huy tỉnh bơ. Người ta hiểu cái bẫy giương lên từ cái đầu thông thái của nhà lý luận tuy đứng thứ hai trong đảng lại xứng đáng lãnh tụ hơn của Hoàn.
- Đảng ta chưa đủ mạnh. – Nguyễn Ngọc Huy hắng giọng và đứng lên, nói đều đều – Trước, có phương án đảo chính, qua vài viên tướng cầm quân như tướng Dương Văn Đức ở vùng IV. Song, anh Hoàn thấy không có lợi, bởi dùng tướng này hạ tướng kia, chúng ta không thoát khỏi vòng lẩn quẩn. Một số bè bạn Mỹ khuyên chúng ta nên tìm cách chuyển tình hình... Được anh Hoàn cho phép, tôi xin trình bày với Trung ương kế hoạch hành động gồm mấy điểm sau đây...
Nguyễn Ngọc Huy nói gọn, rõ, cụ thể. Cuộc họp trở nên nhẹ nhàng, thoải mái. Thắng lợi của đảng Đại Việt gần đến nơi, anh cũng thấy cảnh quyền bính nắm gọn trong tay, ơn đền oán trả diễn ra trong nháy mắt... ..
*
- A lô! John đây! William, phải không?
- Tôi biết ông bạn muốn nói điều gì rồi... Nhưng đừng vội!
- Tại sao? Tôi bảo vệ hắn đến mức cần thiết và bây giờ, nên sửa gáy hắn... Êkip khác đã sẵn sàng rồi...
- Tôi hiểu. Thậm chí, xin lỗi ông bạn, hiểu hơn ông bạn nữa. Song, cần đi đúng những bước dự kiến.
- Tôi ngại các phe phái lợi dụng sự đần độn này, đặc biệt Việt Cộng...
- Bình tĩnh nào! Phải có một cái gì đó như thái độ phản kháng quyết liệt của dân chúng. Không thể hành động mà không có cớ. Cái cớ từ nội bộ họ. Ông bạn nên nhớ ta còn bao nhiêu đồng minh ở Đông Nam Á theo dõi chúng ta, nếu vội vã, đồng minh nghi ngờ. Vả lại, sự thể sẽ tiến triển không ngoài ý của ta đâu. Tôi bảo đảm...
- Bao lâu?
- Alexis vừa trao đổi với tôi, chóng thôi...
*
Tin các báo:
- Sinh viên họp sáng 19-8 tại trụ sở số 4 đường Duy Tân tranh luận sôi nổi về Hiến chương Vũng Tàu. Nhiều diễn giả lên tiếng hoan nghênh quyết định của các tướng lãnh. Nhiều diễn giả phản đối. Cuộc họp mất trật tự. Xuýt xô xát giữa hai nhóm.
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất họp thật đông tại chùa Ấn Quang, bề ngoài là kỷ niệm một năm ngày đạo Phật bị đàn áp, nhưng các nhà sư lại nêu Hiến chương Vũng Tàu thành đầu đề thuyết pháp. Có hai ý kiến chính trị trái ngược nhau: một số tán thành Hiến chương, một số đông hơn, lên án gay gắt. Riêng ngày 20-8, hầu như các chùa trong đô thành đều tiến hành tập họp Phật tử giống như chùa Ấn Quang.
*
Thông cáo của văn phòng chủ tịch Nguyễn Khánh:
Tám giờ sáng ngày 22-8-1964, chừng 6.000 sinh viên thuộc các khoa kéo đến văn phòng chủ tịch Nguyễn Khánh. Chủ tịch Hội đồng quân đội đi công vụ vắng, ông bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng đã thay mặt chủ tịch tiếp nhận kiến nghị trong đó, thay mặt cho các khoa, sinh viên tuyên bố hậu thuẫn công cuộc cách mạng của Hội đồng quân đội và Trung tướng Nguyễn Khánh, qua Hiến chương Vũng Tàu. Bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng cám ơn đại biểu sinh viên. Cuộc tiếp xúc diễn ra trong vòng trật tự.
Một giờ trưa cùng ngày, chủ tịch Nguyễn Khánh đã đích thân tiếp đoàn đại biểu sinh viên. Đoàn đại biểu trao cho chủ tịch bản kiến nghị mới nhất trong đó tỏ lòng biết ơn chủ tịch và tuyên bố ủng hộ Hiến chương Vũng Tàu.
Kiến nghị còn lên án các phần tử Thực, Cộng và Cần Lao đang ẩn núp trong chính quyền, mong chủ tịch kiên quyết vì lợi ích của quốc gia mà sớm thành trừng bọn bán dân hại nước này...
*
Tin các hãng thông tấn nước ngoài:
Một không khí căng thẳng gần như bạo loạn xảy ra suốt ngày 25-8 tại Sài Gòn. Vừa sáng, chừng vài trăm sinh viên kéo đến đài phát thanh, sau đó con số lên đến vài ngàn. Sinh viên xông vào bên trong đài phát thanh, đòi ban giám đốc phải cải chính tin loan báo về hai cuộc gặp mặt giữa sinh viên và chính phủ ngày hôm qua. Theo bản thông tin in ronéo phân phát rộng rãi bằng Việt ngữ và Anh ngữ ngay tại đài phát thanh, Tổng hội sinh viên cho biết văn phòng tướng Nguyễn Khánh đã trơ tráo nói láo: cả hai cuộc tiếp xúc, một với bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng, một chính tướng Nguyễn Khánh, sinh viên long trọng tuyên bố phản đối Hiến chương Vũng Tàu, đòi hủy ngay hiến chương phản dân chủ ấy, đòi thành lập chính phủ dân sự trẻ, trọng sạch, có năng lực.
Ban giám đốc đài phát thanh lánh mặt. Tức giận, sinh viên bây giờ lên đến ước một vạn, đập phá đài phát thanh, đốt hồ sơ, giấy tờ, thiệt hại khá nặng.
Quân cảnh và cảnh sát kéo đến định can thiệp, cuối cùng vì thái độ sẵn sàng xung đột với lực lượng an ninh của sinh viên mà lực lượng an ninh rút êm. Sinh viên định sử dụng đài đọc tuyên cáo, nhưng có lẽ vì không có nhân viên kỹ thuật nên sau cùng họ cũng rút.
Cùng lúc, hàng ngàn sinh viên, học sinh kéo qua trường J.J. Rousseau đường Hồng Thập Tự kêu gọi số học sinh trường này nhập vào hàng ngũ họ rồi kéo đến Bộ Thông tin đòi Tổng trưởng và Thứ trưởng phải tiếp. Sinh viên chất vấn về các tin được loan thất thiệt. Họ đòi hủy bỏ chế độ kiểm duyệt. Tổng trưởng Phạm Thái đã trả lời, song sinh viên không thỏa mã, nên xông vào cơ quan Bộ Thông tin đập phá dữ dội... Thiệt hại vật chất khá nghiêm trọng song không ai bị thương.
Vào ba giờ chiều, lối 200 người, không rõ tông tích, dùng xe chở khách bất thần kéo đến trụ sở Tổng hội sinh viên, số 4 đường Duy Tân là đường phố chính, mang cây hèo, dao búa, xông vào đập phá trụ sở đốt đồ đạt và đánh sinh viên. Sinh viên phản kích bằng gậy gộc, đá. Một số trường trung học quanh đó được báo động kéo sang giải vây trụ sở. Xô xát đẫm máu. Số tấn công bị đánh bại, không dám lên xe mà chạy bộ. Theo dư luận, đây là số lưu manh đâm thuê chém mướn.
Một câu hỏi đặt ra: thực chất của sự việc là gì?
*
TUYÊN CÁO CỦA BA CHÍNH ĐẢNG
Chúng tôi đại diện đảng Đại Việt, đảng Dân chủ Xã hội và Việt Nam Quốc dân đảng long trọng tuyên cáo với quốc dân và thế giới:
Sau 9 năm sống dưới ách thống trị nhà Ngô, nhân dân Việt Nam Cộng hòa vô cùng chán ghét chế độ độc tài cá nhân chà đạp dân chủ, do đó, hết sức phấn khởi hết sức phân khởi trước hành động anh hùng cứu nước của quân đội ngày 1-11-1963. Nhưng, thời gian vui mừng quá ngắn ngủi. Cuộc cách mạng 1-11 bị phản bội. Mượn cớ vu vơ “chỉnh lý”, tướng Nguyễn Khánh đã cướp công của những chiến sĩ cách mạng và vẫn chưa thỏa mãn tham vọng, ông dấn thêm một bước phiêu lưu, cho ra dời cái quái thai “Hiến chương Vũng Tàu” nhằm thu tóm mọi quyền hành vào tay cá nhân ông ta.
Việc làm của tướng Nguyễn Khánh gây hại cho an ninh quốc gia, làm suy yếu thế lực chống Cộng gây nghi ngờ trong đồng minh và nhất là nãn lòng binh sĩ nơi tiền tuyến.
Là những đảng chính trị mang trên vai sứ mệnh lịch sử cao cả, chúng tôi:
- Một, phản đối trò tráo trở của Nguyễn Khánh.
- Hai, đòi hủy bỏ cái gọi là “Hiến chương Vũng Tàu”
- Ba, giải tán Hội đồng quân đội.
- Bốn, trao quyền cho các đoàn thể và đảng phái chính trị, đại biểu tôn giáo, trí thức, sinh viên, triệu tập đại hội quốc dân soạn thảo Hiến ước lâm thời, bầu hội đồng lập pháp và đề cử chính phủ lâm thời điều khiển việc nước.
Chúng tôi kêu gọi đồng bào hãy bày tỏ thái độ kiên quyết phản đối “Hiến chương Vũng Tàu”. Chúng tôi kêu gọi đồng minh của Việt Nam Cồng hòa, đặc biệt nước Mỹ, thông cảm và ủng hộ nguyện vọng chính đáng trên đây của dân chúng Việt Nam, điều kiện số một để chiến thắng Việt Cộng.
Làm tại Sài Gòn, ngày 23 tháng 8 năm 1964.
*
- Allo! Tôi xin được nói chuyện với đại sứ Taylor...
- Xin lỗi, ông là ai?
- Tôi là trung tướng Nguyễn Khánh...
- Nguyễn Khánh? Tôi không biết...
- Tôi là Chủ tịch Hội đồng quân đội, Tổng tư lệnh quân đội và Thủ tướng chính phủ Việt Nam Cộng hòa...
- Thế à? Xin đợi ít phút. Đại sứ đang bận...
- Tôi cần nói chuyện gấp... Nhờ bà... Xin lỗi...
- Tôi là Mariene Hardort...
- Xin bà Mariene...
- Có lẽ nên gọi tôi bằng cô, hợp hơn...
- Vâng, xin lỗi, xin cô Mariene...
- Tôi đã bảo đợi ít phút!
- Ít phút là mấy phút?
- Có thể 3 phút, có thể 5 phút và cũng có thể 15 phút hoặc lâu hơn...
- Ôi chao! Cô giúp tôi nhanh hơn, được không?
- Ông không biết tính của tướng quân sao? Với tướng quân bao giờ cũng chính ông quyết định mọi việc, dù nhỏ nhất.
- Nhưng, tôi là Nguyễn Khánh...
- Nguyễn Khánh? Điều đó quan trọng như thế nào?
- Tôi đã tự giới thiệu với cô... Tôi là...
- À, tôi nhớ, ông là Chủ tịch Hội đồng quân đội... Ở nước Mỹ hình như không có chức này... Ông là Tổng tư lệnh... Chức này tôi biết, ở Mỹ, chính Tổng thống là Tổng tư lệnh. Còn Thủ tướng, tôi hiểu, trên thế giới có rất nhiều thủ tướng.
- Tôi van cô! Cho tôi gặp đại sứ...
- Ông đợi nửa phút, tôi phải xem đại sứ đã rảnh chưa...
- Nửa phút rồi. Sao?
- Đại sứ đang bận...
- Bận việc gì mà không nói chuyện điện thoại được với tôi?
- Ồ! Ông hơi tò mò... Nhưng tôi nghĩ có lẽ không hại gì khi báo cho ông biết giờ này đại sứ đang chơi cờ...
- Trời ơi! Chơi cờ! Chơi với ai?
- Chơi một mình!
- Cô báo giúp đi... Tôi rất cần nói chuyện với đại sứ, chuyện hệ trọng, vô cùng hệ trọng.
- Vixi tấn công Sài Gòn ư?
- Không!
- Thế thì tôi chịu. Ngay Tổng thống Mỹ vào giờ này gọi điện cũng đành phải chờ đại sứ giải quyết xong ván cờ do đại sư chơi cả hai phía... Ông cho tôi số điện thoại tôi sẽ gọi khi đại sứ đồng ý...
... Nửa giờ sau...
- Allo!
- Lại ông Nguyễn Khánh gì đó phải không?
- Vâng, tôi đây!
- Tôi hy vọng lần này đại sứ sẽ nói chuyện với ông...
- Hello! Tôi, Taylor đang nghe...
- Xin kính chào đại sứ... Vụ “Hiến chương Vũng Tàu” đang xôn xao dư luận, có thể phát triển xấu hơn...
- Xấu hơn là thế nào?
- Thưa, ví dụ biểu tình của dân chúng...
- Ồ! Ông không đủ sức chống các cuộc biểu tình tay không à?
- Bằng vũ lực thì đủ sức, song...
- Đó không phải là công việc của một đại sứ ở một nước thân hữu. Liệu báo chí Mỹ và Quốc hội Mỹ nhận xét sao nếu một nguyên thủ quốc gia không sử lý nổi điều sơ khởi là giữ trật tự thủ đô? Chẳng lẽ tướng Westy của chúng tôi phải tung quân ngăn chặn các đám biểu tình bản xứ? Hay tôi phải nói trên đài phát thanh?
- Nhưng, tôi cần một lời khuyên...
- Chỉ một lời khuyên thì đây: Ông Nguyễn Khánh thân mến, ông hãy tự chứng mình những cương vị ông đang giữ không hề giống món trang sức của nữ giới! Xin chào ông!
*
Nhật lệnh của Chủ tịch Hội đồng quân đội cách mạng:
Hiến chương vừa ban bố có thể theo nhận định của tập thể các tướng lãnh trong Hội đồng trước tình hình phân tán quyền lực quốc gia nhằm tăng thêm sức mạnh chống Cộng và sau khi tham khảo đồng minh Hoa Kỳ, nhưng lại bị các thế lực ích kỷ chống đối và xúi giục số nhỏ thanh niên nhẹ dạ gây rồi.
Nhân danh Chủ tịch Hội đồng quân đội cách mạng, Tổng tư lệnh quân đội Việt Nam Cộng hòa và Thủ tướng chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Căn cứ sắc lệnh 215 và 18 về ban bố tình trạng khẩn trương trên toàn quốc.
Tôi ra lệnh:
1. Cấm mọi tập họp quá 5 người ở ngoài đường với hình thức biểu tình chính trị.
2. Cho phép lực lượng an ninh và quân đội được giải tán những cuộc tập họp như thế.
3. Quân nhân nào dính vào các hoạt động chính trị sẽ bị nghiêm trị.
Ngày 24 tháng 8 năm 1964

Nguyễn Khánh
*
Thông cáo báo chí của Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn:
Thừa ủy nhiệm của đại sứ đặc mệnh toàn quyền Hợp chủng quốc Mỹ tại Việt Nam Cộng hòa Maxwell Taylor. Phòng thông tin Mỹ tại Sài Gòn thông báo với công luận Việt Nam Cộng hòa: mọi diễn biến về chính trị tại Sài Gòn hiện nay hòa toàn không liên quan đến trách nhiệm của chính phủ Mỹ và đại sứ quán Mỹ.
*
Xe Luân và Dung không thể nào vòng ra khỏi bùng binh chợ Bến Thành. Cả quảng trường đông nghịt, lùi lại cũng không được. Hằng trăm xe các loại đứng yên. Dân chúng từ nhiều ngã đổ về đây. Một tấm băng giăng cao, có vẻ viết vội nên chữ không ngay hàng thẳng lối: “Noi gương chết vì dân tộc chống độc tài của Quách Thị Trang! Đả đảo Hiến chương Vũng Tàu!”. Dưới chân tượng nữ sinh, một thanh niên đang cầm loa điện diễn thuyết. Quân cảnh và cảnh sát dã chiến kéo đến, song hàng rào bảo vệ quá dày, họ hò hét bảo giải tán, tiếng hò hét của họ bị các khẩu hiệu long trời át mất.
- Đây mới đúng là chúng ta cần!
Luân nói khẽ vào tai Dung. Khí thế hàng vạn – chắc hơn nữa – bừng bừng. Luân chợt nhớ tháng 8-1945, đúng ngày này, 25-8. Và Dung cũng nhớ y như vậy, ở Hà Nội.
Diễn giả nói gì, Luân và Dung không nghe rõ. Họ đoán lời diễn giả qua các nắm tay đưa lên và tiết thét khẩu hiệu:
- Hẳn không phải tất cả đều được lãnh đạo hay tổ chức cả!
- Tất nhiên... Làm sao tổ chức ngần ấy người. Nhưng, nghệ thuật của lãnh đạo là biết đưa khẩu hiệu đúng, khẩu hiệu đúng sẽ tập họp. Trong đây, bộ phận đông nhất là những người bất bình Hiến chương Vũng Tàu, những người không muốn Mỹ đổ quân lên Nam Việt Nam, đồng thời có nhóm từng đấu tranh chống Khánh, có nhóm yêu nước, có cả đồng chí ta lẫn bọn tình báo... Anh tiếc...
Dung đặt tay lên cánh tay Luân.
- Tướng Đức chậm quá... Biết làm thế nào?
- Anh muốn liên hệ với Tổng hội sinh viên...
Dung lắc đầu:
- Không cần! Em tin chắc Tổng hội đã được lãnh đạo. Cả một số bộ phận Phật giáo, như gia đình Phật tử, cả báo chí... Anh không nhớ Sa nói sao? Ở đâu cũng có người của ta!
- Nhưng... - Luân thở dài.
Dung thông cảm với chồng, cô siết cánh tay Luân:
- Chỗ của anh không phải ở Tổng hội, không phải các cuộc biểu tình. Ta cố vào dinh Độc Lập. Em tin tại đó sẽ có sẽ có cái gì sẽ xảy ra.
Luân dặn lái xe, nếu cuối cùng không đến dinh Độc Lập được thì quay về nhà. Anh, Dung và Thạch ra xe, len lỏi giữa đám đông, men hông chợ Bến Thành, đến dinh Độc Lập.
Cửa dinh đóng kín. Toán lính gác nhận ra Luân nên cho vào.
Tại tiền sảnh, Nguyễn Khánh đang đi lại, sốt ruột. Anh ta hờ hững chào Luân. Thành viên chính phủ có mặt đủ. Hình như chính phủ sắp họp.
Lâm Văn Phát đến bắt tay Luân:
- Chính phủ chưa họp được vì thiếu mấy người quan trọng, như hai phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn và Đỗ Mậu, ngoại trưởng Phan Huy Quát...
- Tụi nó sắp biểu tình tới đây!
Nguyễn Khánh nói trổng, sau khi nghe một sĩ quan cảnh sát báo cáo.
Và, vài phút sau tiếng thét của mấy vạn người dội mạnh vào dinh Độc Lập. Dinh Độc Lập thật sự bị bao vây từ bốn con đường.
“Giá mà dân chung trèo qua rào vào bắt hết chính phủ!”. Luân nghĩ trong bụng.
- Lúc này, tôi có một tiểu đoàn là đủ! – Tướng Lâm Văn Phát nói nhỏ với Luân.
Dân chúng giương biểu ngữ. Không phải một vài mà hàng trăm. Tất cả đều đòi hủy bỏ Hiến chương Vũng Tàu.
- Làm thế nào? - Nguyễn Khánh hỏi Trần Thiện Khiêm.
Khiêm không trả lời mà quay về phía Luân. Luân tảng lờ im lặng. Trong thâm tâm, Luân mong tình hình kéo dài, để cho độ căng thẳng đủ thành chất nổ. Khi quần chúng nổi nóng cái gì cũng có thể xảy ra cả. Quần chúng chỉ đứng ngoài rào, điều đó cho Luân thấy lực lượng lãnh đạo nòng cốt còn ít và non, đồng thời các thế lực khác vấn khống chế được quần chúng ở mức biểu dương thái độ mà họ định. Trời hôm nay oi bức, tuy nắng không gay gắt. “Cứ kéo thêm độ nửa tiếng nữa, khó tránh khỏi đột biến”. Luân thấp thỏm. Dung chia sẻ ý nghĩ của Luân: “Chỉ cần vài người hô khẩu hiệu, chẳng hạn “Xông vào dinh Độc Lập”, tình hình chuyển sang bước ngoặc ngay!”. Dung nói thật khẽ mà Luân nghe như lệnh khai hỏa. Anh ngó đăm đăm ra cửa chính dinh Độc Lập. Quân cảnh và cảnh sát sẵn sàng nổ súng, nhưng chúng sẽ xẹp liến nếu cả mấy vạn người xung phong. “Không phải là chuyện của anh!”. Dung lại siết cánh tay Luân đau điếng.
Bộ trưởng Nghiêm Xuân Hồng báo cáo việc gì đó với Nguyễn Khánh, Nguyễn Khánh tất tả vào phòng.
- Đại sứ quán Mỹ chị thị đây! – Luân bảo Dung, giọng ảo não.
Năm phút sau, Nguyễn Khánh tất tả ra, lôi theo phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh. Tiến sĩ, nhà chuyên môn uể oải cùng Khánh xuống thềm, tiếng ra cổng chính, với một tốp bảo vệ và nhân viên.
“Hỏng rồi!”. Luân than thầm.
Mười lăm phút sau, Khánh và tùy tùng trở vào. Đám đông giải tán.
Mặt Khánh nặng chình chịch.
Luân buồn rầu ngó Dung. Vừa lúc đó, một tiếng nổ rung rinh cả dinh Độc Lập. Chưa ai biết lý do.
Nghiêm Xuân Hồng từ văn phòng đâm bổ ra, líu lưỡi:
- Khách sạn Caravelle bị V.C nổ mìn, sụp mấy tầng!
Nguyễn Khánh điên tiết:
- Bắt được bọn khủng bố không?
- Không! – Hồng trả lơi.
- Thế nào ông Taylor cũng la lối... Đó là khách sạn của người Mỹ...
Một nhân viên đến báo có điện gọi Khánh.
Không phải Taylor la lối mà trung tướng Phạm Xuân Chiểu thông báo Hội đồng quân đội họp khẩn...
*
Tin tức
Reuter và UPI: Nhiều nguồn tin đồn đại công khai ở Sài Gòn: Sắp sửa nổ ra một đợt khủng bố các chùa, nhà sư quy mô như thời ông Ngô Đình Diệm, kể cả chùa Ấn Quang, do tướng Nguyễn Khánh chủ trương để dẹp chống đối. Mặt khác, có tin tín đồ đạo Phật sẽ đập phá các nhà thờ theo đạo Thiên Chúa, trong đó có nhà thờ Đức Bà. Giữa lúc ấy, các tướng Việt Nam Cộng hòa họp mật ở Bộ Tổng tham mưu.
Một tình hình khác thường diễn ra ở Sài Gòn: tín đồ theo đạo Phật canh giữ suốt đêm trụ sở của các nhà sư háo động và tượng một nữ sinh chết trước đây dựng ngay ngôi chợ to nhất thành phố; các khu đông người theo đạo Thiên Chúa vũ trang dao, gậy búa...
Trật tự trở nên tồi tệ khi hằng mấy chục nghìn dân chúng biểu tình chống tướng Khánh và khách sạn đông người Mỹ nay bị đánh mìn thiệt hại nặng nề người và vật chất. Việt Cộng nhận họ đã đặt quả mìn cực mạnh ấy, nhưng các chính khách cho tướng Khánh nổ mìn để cảnh cáo Mỹ nếu hạ bệ ông ta thì an ninh sẽ như thế hoặc người Mỹ nổ mìn để chứng minh cần hạ bệ tướng Khánh, người không đủ năng lực làm chủ thủ đô.
Tin từ Đà Nẵng càng bi thảm hơn: một đám dân chúng theo đạo Phật kéo ngang căn cứ Mỹ trên đường đến một ngôi chùa dự lễ. Lính Mỹ nổ súng. Dân chúng tức giận dùng đá ném vào lính Mỹ. Lính Mỹ bắn rát hơn. Đám đông chạy vào một làng theo đạo Thiên Chúa thì bị tự vệ làng tấn công. Cuộc xô xát ác liệt. Nhiều người chết (26-3-1964).
*
Điện mật:
Nơi nhận: Đại sứ M.Taylor – Sài Gòn.
Các diễn biến tình hình ngày 25 và 26 càng xác định quan điểm cần phải có thêm quân Mỹ ở Nam Việt và cần một bộ máy bản xứ hiệu lực. Tổng thống sẽ trực tiếp chỉ thị cho đại sứ và tướng Westmoreland bằng con đường riêng.
Ký: Dean Rusk.
*
Thông cáo của Hội đồng quân đội cách mạng:
Sau 2 ngày làm việc, Hội đồng quân đội cách mạng đã đi đến quyết định thu hồi Hiến chương ngày 16-8, sẽ tổ chức bầu nguyên thủ quốc gia và nguyên thủ quốc gia sẽ thực hiện một cơ cấu dân chủ. Quân đội trở về nhiệm vụ chính của mình là chiến đấu chống Cộng. Tạm thời, chính phủ hiện hành xử lý công việc trong một thời gian nữa.
*
Thông cáo của Hội đồng quân đội cách mạng:
Hội đồng quân đội cách mạng quyết định lập một Ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực các tướng Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Khánh.
Chính phủ Nguyễn Khánh phải triệu tập trong vòng 2 tháng, kể từ hôm nay, Quốc dân đại hội, trong lúc đó, để bảo đảm nguyên tắc dân sự hóa, ủy quyền Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh thừa ủy nhiệm Thủ tướng, quyền thủ tướng chính phủ.
*
Hội đồng quân đội họp từ 14 giờ 25, không khí ngột ngạt. Theo đúng thủ tục, chính tướng Nguyễn Khánh phải khai mạc hội nghị, song người khai mạc hội nghị là tướng Dương Văn Minh. Tâm trạng tướng Khánh khá phức tạp. Cú điện thoại của Phạm Xuân Chiểu triệu tập hội nghị bất thường khiến anh ta lo lắng. Biết đâu tại cuộc họp; anh ta phải xỏ tay vào còng và nhẹ nhất cũng lên Đà Lạt nghỉ mát một thời gian. Sự lấc cấc và lố lăng của anh ta bây giờ hành hạ anh ta. Khánh điện cho đại sứ Taylor và chỉ được trả lời như điệp khúc quen thuộc: Mỹ không can thiệp vào nội bộ đồng minh.
Một ý nghĩ lóe trong đầu Khánh: đại tá Nguyễn Thành Luân trong trường hợp này rất hữu ích. Do đó, Khánh mời Luân dự họp, tất nhiên, dự thính. Tướng Trần Thiện Khiêm ngần ngừ một lúc rồi đồng ý. Tướng Lâm Văn Phát đồng ý ngay.
Luân xuất hiện ở Hội nghị gần như không gây một chú ý nào, trừ cái ngó thăm dò và không thiện cảm của hai tướng Nguyễn Chánh Thi và Nguyễn Cao Kỳ. Hình như hai tướng có hỏi Khánh và Khánh trả lời – Luân biết, Khánh úp mở rằng đại sứ Mỹ muốn Luân dự họp.
Khánh ngại tướng Minh, thiếu tá Nhung, cận vệ của tướng Minh chết, các bạn của ông như Đôn, Kim bị lăng nhục, nếu tướng Minh trả thù thì đây là cơ hội tốt nhất.
Song, tuyên bố khai mạc của tướng Minh giúp Khánh lấy lại tư thế.
- Giữa lúc lộn xộn này, tôi xin anh em gác chuyện riêng tư sang một bên, chúng ta cùng nhau tìm cách đối phó với khó khăn của đất nước.
Luân ngồi trên hàng ghế thứ ba, kê sát tường như một thư ký. Anh quan sát các tướng. Những người này, tại Vũng Tàu, đã thông qua bản Hiến chương đang trở thành mục tiêu của mọi mũi tấn công, bây giờ cũng những đó làm ra vẻ bực bội.
- Chuyện ở Vũng Tàu không có lợi, nên tôi xin anh em bỏ nó đi... - Vẫn thái độ điềm đạm, tướng Minh tiếp tục hòa giải.
Luân thấy tội nghiệp cho viên tướng được kính trọng song, luôn luôn bị lợi dụng và luôn luôn chịu nhận sự lợi dụng ấy khá thành thực.
- Đã nghị quyết, đã tuyên cáo bây giờ rút lại, thiên hạ coi chúng ta như con nít!
Tướng Khánh lần lần ổn định tinh thần, mở đợt phản pháo.
- Chính mấy anh đồng lòng, chớ phải tôi ép uổng chi đâu!
Tướng Khánh như được thế, lấn tới.
“Rầm”! Ly tách nhảy dựng, tướng Nguyễn Cao Kỳ đứng phắt dậy, vỗ bàn thẳng cánh.
- Đồng lòng? Anh lấy sức ép của người Mỹ đặt tất cả trước sự đã rồi... Tình hình xấy hẳn, anh vẫn chưa hiểu sao?
Tướng Khánh không chịu thua, chồm người lên phái trước, nói gần như quát:
- Anh là người nói đầu tiên ở Vũng Tàu. Khi tôi đắn đo, anh còn chê tôi nhát. Loại người trở mặt từng giờ mà không xấu hổ...
- Ai trở mặt như còn đĩ? Ngủ với thằng này rồi ngủ với thằng khác mà lúc nào cũng nói: anh là người em yêu đầu tiên... - Kỳ bĩu môi. Lúc trước, người ta chắc cười phá lên vì câu ví von độc địa kia, nhưng không khí cuộc họp không thích hợp với các câu ví von.
- Tôi can các anh… - Tướng Minh rên rỉ.
- Coi như tất cả đều là đĩ! – Tướng Nguyễn Chánh Thi bô bô – Song đừng có tình chuyện làm trùm đĩ! Ông Khánh định mở nhà thổ. Dẹp liền vụ Hiến chương tào lao ngay!
- Tôi là người ủng hộ Hiến chương. – Tướng Đỗ Mậu nói, rất ung dung – Tôi không chối… Chúng ta dự định điều tốt, nhưng tình hình bất lợi, đòi vận dụng chiến thuật khéo…
- Tôi xá dài anh, anh Đỗ Mậu ơi! Miệng lưỡi anh lúc nào cũng ngọt… Tôi đi guốc trong bụng anh. Anh không dự họp nội các mà lòn ngả hậu. Thôi, tôi rút khỏi chức chủ tịch nhường cho anh đó… - Nguyễn Khánh xỉa xói Đỗ Mậu.
- Anh Khánh đánh giá tôi sai rồi. Tôi định xin rút khỏi Hội đồng. Tôi cáng đáng chức chủ tịch thế nào nổi…
Cứ lời qua tiếng lại như thế cho đến bữa ăn tối. Vừa ăn vừa cãi. Ăn xong, họp tiếp. Không ai chịu ai. Lâu lâu, tranh cãi giống hàng tôm hàng cá.
Điều mà Luân lo nhất là những cú điện thoại, khi thì Nguyễn Khánh tiếp điện, khi thì Đỗ Mậu, khi thì Trần Thiện Khiêm, khi thì Nguyễn Văn Thiệu. Mỹ đang theo dõi hội nghị khá khít khao. Luân nghĩ, nếu cứ để các tay này tố nhau thì hội nghị cả tháng không xong. Bầy ngựa giành kéo xe, chẳng ngựa nào chịu thua ngựa nào...
Đã 1 giờ sáng. Nhiều tiếng ngáp mệt mỏi, vài viên tướng ngủ gật không thèm che giấu, kể luôn tiếng ngáy ầm ĩ.
Một sĩ quan báo với Luân có điện.
Dung gọi anh, hỏi tình hình. Gác máy, Luân chưa trở lại phòng họp thì Jones Stepp gọi Luân.
- Chào đại tá!
- Chào tướng quân!
- Nên tạm ngưng hội nghị, mai sẽ tiếp... Tôi cho rằng như vậy là có lợi nhất...
Luân muốn nắm chắc hơn ý định của Mỹ nên anh nói:
- Thưa tướng quân, dù có họp ngày mai cũng khó đi đến thống nhât...
- Tôi hiểu... Và, tôi tin sau một giấc ngủ thoải mái, mọi người sẽ minh mẫn hơn.
Luân báo lại với tướng Minh ý kiến của Jones Stepp, tướng Minh – mệt mỏi hơn bất kỳ ai - gật đầu liền. Song, tướng Khánh nhất quyết đòi hội nghị phải đi đến kết luận. Giải pháp tạm thời là hội nghị “xả hơi”. Và, hội nghị “xả hơi” đến 8 giờ sáng – mỗi người tìm một chỗ ngả lưng, không ai rời Bộ Tổng tham mưu, không ai chịu bị đâm lén cả.
Ăn sáng xong, hội nghị bắt đầu. Lại cù cưa cù nhầy. Chủ đề là nên duy trì hội đồng quân đội hay chuyển sang chính quyền dân sự. Đây là chủ đề bên ngoài. Chủ đề đích thực là ai sẽ đứng đầu guồng máy ở Nam Việt. Mức phân hóa đến đây càng gay gắt. Đa số tướng không thể là chính khách bởi không có khiếu. Cách nào đó, chính tướng Minh sẽ đăng quang và cái gọi là “chỉnh lý” của Khánh vừa công cốc vừa dễ bị kết án. Rải rác đòi coi lại vụ “chỉnh lý”. Nguyễn Chánh Thi, trong vụ này, đứng về phía Khánh.
- Tôi thấy mấy anh em nên công bình... Tôi đã thăng bao nhiêu anh em lên cấp tướng. Tôi đâu có độc tài. Cấp đại tướng dành cho anh Khiêm... - Khánh đổi bài bản, đúng giọng nỉ non.
- Ối! Anh không phong thì người khác phong... - Đỗ Mậu gạt ngang ý của Khánh.
Ăn trưa. Họp tiếp. Luân thủy chung không nói một lời, dù đôi khi một tướng mời anh. Anh lắc đầu: Tôi chỉ xin nghe thôi.
Nguyễn Cao Kỳ ghé vào tai Nguyễn Chánh Thi:
- Tống cái thằng Cộng sản này ra khỏi cuộc họp. Có mặt hắn tôi thấy ớn ớn thế nào...
- Ừ... Đ.M... đấy là chỗ các tướng trong hội đồng...
Lâm Văn Phát ngồi cạnh nghe rõ, cười khẩy:
- Trước hết, hai ông hãy xin lịnh của tướng Jones Stepp... Va đến đây do cơ quan tình báo quân sự Mỹ phái.
- Để chi?
Phát nhún vai:
- Để coi tụi mìn múa giống thứ gì.
Kỳ và Thi xìu hẳn.
*
NHỮNG PHÁT ĐẠI BÁC THEO KIỂU NAPOLÉON
Hélen Fanfani (Financial Affairs)
Sài Gòn, tháng 8-1964.
Bộ Tổng tham mưu Quân đội Việt Nam Cộng hòa nằm trên con đường lớn dẫn đến sân bay Tân Sơn Nhất về trung tâm thành phố Sài Gòn, trong phút chốc đi vào biên niên sử của xứ sở Việt Nam cực kỳ rối loạn và tương lai mịt mù này.
Giữa trưa, giờ địa phương, tôi nhận được một cú điện thoại của một người bạn quen – xin tạm giấu tên – vội vã giục Victor, chồng tôi, mang máy quay phim đến trước cổng cơ quan quân sự đầy bí ẩn, như một thâm cung các vua chúa. Cửa Bộ Tổng tham mưu đen đặc người và người. Luớt qua họ, tôi biết liền đây là giáo dân Thiên Chúa từ nhiều vùng khác nhau kéo đến. Khẩu hiệu của họ khá lộn xộn. Dù sao, tôi và Victor cũng hiểu một trận phục thù đang diễn ra. Họ, những người biểu tình, bị truất phế đặc quyền sau cái chết thảm khốc của anh em ông Diệm, đã làm ra cớ đòi nợ. Tất nhiên, không phải Dương Văn Minh hay Tôn Thất Đính phải trả nợ. Chính tướng Nguyễn Khánh, theo họ, phải tỏ ra sòng phẳng. Mấy ngày đêm liền, Sài Gòn sống trong không khí tiền đảo chính và tự các giáo dân kinh nghiệm khơi ngòi nổ.
Lối bốn hoặc năm nghìn, hầu hết trai tráng, nắm trong tay các thứ có thể choảng nhau và cũng có thể giết nhau theo cách đánh giặc thời trung cổ, dao, búa, gậy, thanh sắt. Mặt mũi người nào cũng đầy sát khí. Con đường Lê Văn Duyệt tắc nghẽn. Quân cảnh và cảnh sát gọi bộ đàm liên tục. Cảnh sát dã chiến với mặt nạ phòng hơi cay, chiếc khiên và gậy quen thuộc cùng với một nhóm khác, đủ súng phóng hỏa tiễn, chờ một tín hiệu xanh.
Victor lướt máy. Cái khẩu hiệu đã vào phim. Ủng hộ Hội đồng quân đội cách mạng! Đả đảo Cộng sản và Trung lập! Đả đảo bọn phá hoại đoàn kết quốc gia! Đả đảo các hành động côn đồ ở Đài phát thanh và Bộ Thông tin! Yêu cầu được trao kiến nghị quyết tử chống Cộng cho Hội đồng quân đội...
Khó mà nói rằng đây là những yêu sách chống chính phủ. Thế nhưng, cổng Bộ Tổng tham mưu vẫn đóng im ỉm. Quân cảnh dùng loa kêu gọi đám đông giải tán. Chẳng những không giải tán, đám dông dùng tiếng “hô ta” lay cánh cửa sắt, mỗi lần mấy chục người lấy đà phóng vào cửa. Đã có những dấu hiệu cánh cửa sẽ đổ. Quân cảnh và cảnh sát dã chiến vung gậy. Thế là một trận hỗn chiến diễn ra. Quân cảnh và cảnh sát ít hơn, bị đánh dạt. Số có hỏa tiễn cũng bỏ chạy.
13 giờ 3 phút, một vị tướng được cả một trung đội bảo vệ ra sát cửa, tướng Nguyễn Ngọc Lễ.
- Yêu cầu không nhượng bộ? Yêu cầu không sửa hiến chương Vũng Tàu! Hoặc tướng Khánh tiếp tục là nguyên thủ quốc gia hoặc phải ra đây chịu tôi!
Một người - có vẻ là linh mục – xướng một câu, cả nghìn người phản ứng...
- Tôi yêu cầu đồng bào giải tán! Chúng tôi đang họp... - Tướng Lễ rõ ràng cố dằn cơn nóng, nói ôn tồn mà đầy quyền uy.
- Chả họp gì cả! Phải giải tán!
Đám hưởng ứng ồn ào.
Tướng Lễ quay trở vào.
- Nguyễn Khánh gặp chúng tôi! Hoan hô tướng Nguyễn Khánh! Treo cổ tướng Dương Văn Minh!
Tôi bảo Victor: “Họa chăng Chúa mới hiểu được là cái gì!”. Victor cười. Anh vốn ít nói song hẳn đây có kinh nghiệm hơn tôi...
Mười phút trôi qua. Đám đông bắt đầu hoạt động.
Khẩu hiệu lại hô vang rền và cánh cửa càng lúc càng long, sắp đổ tới nơi.
Tướng Nguyễn Ngọc Lễ trở ra. Nhưng ông không đi đến cửa. Tôi dụi mắt và đúng như tôi thoạt thấy, bốn khẩu đại bác 75 ly – pháo tự hành dính theo các xe chiến đấu – hạ thấp nòng. Victor bảo tôi: Napoléon tái sinh!
Thú thật, tôi không tin Victor, vì nhiều lẽ: đây là tín đồ theo đạo Thiên Chúa, không ai dám đối xử theo kiểu của viên tướng hơi mất thăng bằng về thần kinh trên đường phố Paris cách chúng ta hơn 100 năm; đây là pháo Mỹ và họ, những người biểu tình, đâu có đòi lật đổ chính phủ!
Họ dọa già thôi! Tôi đinh ninh vậy. Victor thận trọng lùi xe xa đám đông. Tôi cười anh.
Cổng Bộ Tổng tham mưu mở. Đám đông ùa vào. Và, trong một nháy mắt, họ hoặc tháo chạy, hoặc sẽ không bao giờ còn chay được nữa. Nòng đại bác khạc đạn, khối lửa giã đám đông thành từng mảnh, tiếp sau tiếng nổ đinh tai. Khó mà ước lượng số nạn nhân của các phát đại bác. Từng đống xác nhầy nhụa máu bít lối ra vào Bộ Tổng tham mưu. Đám đông bỏ chạy tán loạn. Cổng Bộ Tổng tham mưu khép lại một cách lạnh lùng. Tướng Nguyễn Ngọc Lễ bình thản đứng trên thềm...
Tôi bảo Victor thoát nhanh. Đã có một số quân cảnh hướng về phía chúng tôi, họ tịch thu máy. Victor lùi xe và trở đầu thật táo bạo. Tôi nghe nhiều tiếng đạn đuổi theo chúng tôi.
Xe chúng tôi lao vào trung tâm thành phố, bắt gặp nhiều toán dân chúng, đều là đạo Thiên Chúa, kéo về hướng đài phát thanh. Victor, theo đề nghị của tôi, vòng đến đài phát thanh. Chúng tôi đến vừa kịp khi một đại biểu của đoàn biểu tình trao cho giám đốc đài phát thanh bản tuyên ngôn: Lực lượng cộng hòa Công giáo do linh mục Hoàng Quỳnh, vị thầy tu chống Cộng khét tiếng ở Bắc Việt, yêu cầu giữ Hiến chương Vũng Tàu.
Trong lúc giám đốc đài và đại biểu đoàn biểu tình đang dằn co – viên giám đốc rõ ràng quá sợ hãi, vì hôm kia, đài của ông bị đập phá với lý do ngược lại – chúng tôi nghe nhiều tiếng thét ở đường Phan Đình Phùng, gần đó. Victor ghê rợn. Những điều tôi hỏi cho biết đoàn biểu tình này đã đánh nhau với học sinh trường Nguyễn Trường Tộ. Nghe đâu hai học sinh bị đâm chết và nghe đâu nhiều người biểu tình cũng bị chết.
Trước hai phe chực hầm hầm xông vào xé, hai vị lãnh đạo tinh thần đang nói. Tôi biết linh mục Hồ Văn Vui và thượng tọa Thích Tuệ Đăng cố giảng hòa.
Trời tối dần. Khi đường Phan Đình Phùng im ắn tôi xem đồng hồ: 19 giờ.
Một câu hỏi trong đầu tôi: Ai? Ai chủ mưu?Tôi sẽ điện cho đại sứ quán Mỹ và hẹn bài sau sẽ nói rõ về sự thể ly kỳ này...
*
... Sau các loạt đại bác mà bức tường Bộ Tổng tham mưu cho một hồi âm rõ mồn một, hội nghị Hội đồng như có một trọng tài thổi còi, không ai mở mồm. Khó mà để quyết người nào đã ra lệnh bắn, hành động hết sức mạo hiểm. Khi tướng Lễ vào báo cáo, Nguyễn Chánh Thi bô bô đúng kiểu của hắn:
- Bắn mẹ nó! Cho đại bác bắn... Đồ quấy rối.
Nguyễn Ngọc Lễ chờ. Không ai nói. Ông ta quay ra. Cứ coi như ý của Nguyễn Chánh Thi là ý của Hội đồng. Lễ chả thâm thù gì giáo dân Xóm Mới, Hố Nai, chả theo phe nào. Tuy nhiên, ông ta không thích cái trò gây rối khi mà ruột gan ông rối bời bời.
Luân xin nói. Đúng ra, anh cứu hội nghị. Tướng Minh vui vẻ ra mặt:
- Mời đại tá!
Luân nói:
- Thưa các vị tướng lãnh...
Cả cuộc họp dồn vào Luân. Gã đại tá “Cần Lao” hoặc “Cộng sản” nổi tiếng suy nghĩ tinh tế...
- Tôi xin trình bày một nguyên tắc để các vị cứu xét. Tôi không phải thành viên của hội đồng, nói ở đây là không đúng chổ, không đúng nguyên tắc.
- Nói đi, đừng dè dặt. – Nguyễn Khánh đốc vô.
- Cám ơn các vị... Nên nghĩ đến tình thế, tình thế đòi một đầu não khả dĩ giải tỏa các xung đột nay đã quá trầm trọng. Tôi đề nghị thành lập một Ban lãnh đạo quốc gia, đồng thời duy trì chính phủ hiện hữu trong một thời gian ngắn để đưa đất nước vào nề nếp dân chủ. Ban lãnh đạo quốc gia, theo tôi, gồm ba vị: trung tướng Dương Văn Minh, đại tướng Trần Thiện Khiêm và trung tướng Nguyễn Khánh...
Luân ngồi xuống. Tướng Minh trầm ngâm. Tướng Khiêm cố không bộc lộ sự hài lòng. Tướng Khánh thì giống như kẻ chết đuối vớ được cây sào cứu mạng.
- Tôi đồng ý! - Tướng Phạm Xuân Chiểu nói to.
- Tôi thấy nên... - Đỗ Mậu ngập ngừng.
- Vậy là đúng rồi! Cám ơn đại tá Luân! - Tướng Thiệu đưa tay. Lâm Văn Phát không hài lòng, nhưng không nói gì.
Mãi khi rời phòng họp. Phát hỏi riêng Luân:
- Ông Big Minh, thằng Khiêm tạm đươc, còn thằng Khánh?
Luân cười, vỗ vai bạn nói khẽ:
- Anh bỏ ý định của anh rồi sao?
*
Mặc Hội đồng quân đội đã ra quyết định, tình hình các nơi vẫn bên bờ vực xô xát lớn, tổng lực giữa các nhóm cực đoan Công giáo và Phật giáo. Khu Công giáo Phú Nhuận, Trương Minh Giảng báo động, tổ chức canh gác, chực chờ xung trận. Viện Hóa đạo, chợ Bến Thành và các chùa cũng quy tụ hàng trăm hàng nghìn sinh viên.
Thông cáo của Tòa Tổng giám mục và Viện Hóa đạo kêu gọi thông cảm không có tác dụng.
Học sinh, sinh viên hội thảo sôi nổi khắp các trường và thường xuyên tập trung ở các công viên lớn. Cảnh sát bắt bớ. Xung đột xoay qua giữa học sinh, sinh viên và cảnh sát.
Giữa trưa ngày 28, thủ tướng Nguyễn Khánh họp báo tại tòa Đô chính. Như được thêm sinh lực, Khánh đọc một bản soạn sẵn thóa mạ Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký không tiếc lời, ghép hai lãnh tụ Đại Việt và đảng Đại Việt vào trọng tội, tội âm mưu đảo chính. Nhưng, Khánh không nêu được bằng chứng thuyết phục, và gọi là cuộc họp báo mà các báo chỉ chỉ nghe Khanh nói, nói xong, Khánh lên xe dông mất.
Trường Nguyễn Bá Tòng bỗng bị một nhóm bao vây. Chẳng rõ nhóm nào đó tông tích ra sao, thật sự họ đến trường Nguyễn Bá Tòng làm gì, nhưng khu phố náo động. Hai phe đánh đấm nhau tơi bời. Báo Xây dựng của người theo đạo Thiên Chúa di cư và nhà in đặt trong trường bị đập phá. Bộ Tổng tham mưu điều quân Dù đến can thiệp. Quân Dù nổ súng...
Những ngày cuối tháng 8 thật ảm đạm: đám tang các nạn nhân trước Bộ Tổng tham mưu, ở trường Nguyễn Bá Tòng, ở các công viên... Hàng nghìn người bị bắt, bị dán cho cái nhãn du đãng.
Và, phó đại sứ Alexis Johnson nhận được bức điện của bộ Ngoại giao Mỹ, vỏn vẹn chỉ có một chữ: STOP!

CHƯƠNG 15

Thông cáo của Bộ Tổng tư lệnh quân đội chìm trong bao nhiêu thông cáo khác dù nó được cả Sài Gòn và đài Quân đội đọc ra rả suốt ngày: Quân đội sẽ nổ súng vào các đám biểu tình bạo động. Đây là cố gắng của tướng Nguyễn Khánh hòng “lập lại trật tự”, không phải do yêu cầu của tình hình mà do điện thoại của tướng Westmoreland.
- Tôi không thể chấp nhận sự việc ở Đà Nẵng.
Tướng Westmoreland nói về cuộc xô xát giữa một nhóm thủy quân lục chiến Mỹ với số tín đồ đạo Phật ngày 26-8. Vị Tổng tư lệnh Mỹ không cần biết sự thật – sự thật là lính Mỹ bắn trước. Và ông ta cũng không cần biết số phận bi thảm của hàng trăm người bị lính Mỹ săn đuổi chạy trốn vào một xóm đạo Thiên Chúa để hứng những loạt đạn khác. Tướng Khánh cũng không cần biết bao nhiêu người chết và bị thương. “Lập lại trật tự”. Trong những giờ phút ấy tướng Khánh cảm thấy mình cao lớn hẳn, nắm quyền lực hơn. Không có gì khiến Khánh bận tâm – những người theo đạo Thiên Chúa ngã gục trước phát đạn đại bác tại cổng Bộ Tham mưu hoặc theo đạo Phật tắt thở ở trường Nguyễn Bá Tòng. Phải làm cho người Mỹ công nhận Nguyễn Khánh, một “bàn tay sắt” tại Việt Nam Cộng hòa!
Bởi vậy, hàng nghìn người bị bắt, đâu khó khăn gì lắm lùa số nam nữ sinh viên học sinh lên xe cây!
Nguyễn Tôn Hoàn từ chức. Mặc kệ ông ta! Văn phòng liên lạc “bộ ba” Công giáo, Phật giáo, cảnh sát thành lập – muốn thành lập thì thành lập, muốn giải tán thì giải tán. Thượng tọa Viện trưởng Viện Hóa đạo Thích Tâm Châu ra thông bạch: Chính quyền vẫn đàn áp Phật giáo, nếu không chấm dứt và trả tự do cho người bị bắt thì ngày 27-10 sẽ có bãi thị, bãi khóa, đình công! Ồ! Khánh lấy khăn tay bịt mũi: Đến 27-10, ngót nghét 2 tháng, trong 2 tháng đó bao nhiêu biến động, hơi sức đâu mà lo. “Tay Thượng tọa láu cá này hùng hổ để xoa dịu Phật tử; tối hậu thư mà thời hạn hiệu lực lên đến 50 ngày, rõ ràng ông ta khuyến khích chính phủ cứ làm mạnh”, Khánh mỉm cười nghĩ đến điều đó.
“Tam đầu chế” vẫn phải có một cái đầu cao hơn. Sáng 1-9, Khánh khệnh khạng vào dinh Độc Lập, trễ hơn Dương Văn Minh và Trần Thiện Khiêm 15 phút. “Để xem không có mặt mình, hai lão kia bàn được cái gì...”. Khánh đinh ninh Ban lãnh đạo quốc gia phải chờ anh ta. Nhưng, Khánh thật sự hốt hoảng khi tại phòng họp, ngoài tướng Minh – ngồi ghế chủ tịch – và tướng Khiêm bên cạnh, có thêm tướng Thiệu, tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh, thiếu tướng Đỗ Mậu, quốc vụ khanh Lê Văn Hoạch, ngoại trưởng Phan Huy Quát, tổng trưởng nội vụ Lâm Văn Phát, tổng trưởng thông tin Phạm Thái, phó tổng thanh tra quân đội Nguyễn Thành Luân và đây là điều gây hốt hoảng cho Khánh – đại sứ Mỹ M. Taylor, phó đại sứ A. Johnson... Có vẻ cuộc họp đã bắt đầu đúng giờ. Nguyễn Khánh thấy tổng trưởng Phạm Thái đang báo cáo.
Tất cả ngó Khánh như ngó một nhân vật phụ - trừ đại tá Luân đứng lên chào Khánh theo cấp chức quân đội. Người ta bận nghe thông báo tình hình.
Nguyễn Khánh tìm chỗ ngồi, lẽ ra anh ta phải ngồi ngay chiếc ghế của tướng Minh, hoặc khiêm tốn hơn, cạnh tướng Minh như tướng Khiêm. Song, Khánh không dám ngoi lên hàng trên. Anh ta lắm lét ngó đại sứ Taylor. Đại sứ mãi chăm chú nghe tổng tướng Phạm Thái nói tiếng Anh rất trôi chảy. Khánh đành sà bên cạnh đại tá Luân, hàng ghế thứ hai.
- Họp bàn vấn đề gì? – Nguyễn Khánh hỏi Luân, thật khẽ.
- Về việc phó thủ tướng Nguyễn Tôn Hoàn từ chức và mấy vụ lộn xộn ở Huế...
- Sao có đại sứ Mỹ dự?
- Ông Minh mời họ...
- Sao lại có một số thành viên chính phủ, giống như phiên họp nội các “bỏ túi”?
- Cũng do ông Minh...
- Thế mà tôi không biết gì cả!
Luân không trả lời Khánh cũng im bởi Taylor chợt quay nhìn hai người, hơi cau mày, dấu hiệu yêu cầu trật tự và kỷ luật...
Tổng trưởng Phạm Hồng Thái dứt lời, bức tranh chính trị từ nam vĩ tuyến 17 đến Cà Mau khá đen.
- Mời anh Khiêm thông báo tin tức chiến sự. - Tướng Minh nói tiếng Việt.
Trần Thiện Khiêm rời chỗ ngồi, đến tấm bản đồ treo trên tường, cầm chiếc gậy. Khiêm nói tiếng Việt. Đại sứ Taylor khẽ gật đầu, mời Luân, Luân kéo ghế ngồi giữa đại sứ và phó đại sứ làm nhiệm vụ phiên dịch.
Bản đồ đã được đánh dấu những điểm xảy ra đụng độ giữa quân chính phủ, quân Mỹ với Việt Cộng. Không nhiều trận đánh lắm song hầu như tỉnh nào cũng có vài trận quy mô cỡ tiểu đoàn hoặc vài tiểu đoàn, đậm đặc ở miền trung, nhất là vùng Quảng Ngãi.
A. Johnson trao cho Taylor tờ giấy đánh máy – tin chiến sự của bộ tư lệnh Mỹ.
Khiêm thông báo độ 20 phút. Nguyễn Khánh là người ngỡ ngàng – anh ta không theo dõi chặt chẽ diễn biến của chiến trường.
- Không biết sắp tới còn ai trong chính phủ từ chức nữa? – Tướng Minh nêu một câu hỏi.
- Đó là về chính trị. Về quân sự, Việt Cộng sẽ đánh vào đâu? – Đại sứ Taylor cũng nêu một câu hỏi.
- Trả lời câu hỏi của trung tướng trong Ban lãnh đạo, tôi biết chắc thứ trưởng của tôi, đại tá Trần Ngọc Huyến, đã đưa đơn xin từ chức. - Tổng trưởng Phạm Thái nhỏm lên rồi ngồi xuống.
- Về hướng đánh của Việt Cộng, tôi nghĩ có thể là vùng IV. – Trần Thiện Khiêm trả lời.
- Đại tướng nghĩ “có thể” hay từ phân tích tin tình bao? – Johnson hỏi vặn, hơi châm chọc.
- Tất nhiên, từ phân tích tình báo... - Khiêm nói lại, giọng bực bội.
- Theo tôi, vụ ở Huế nên dàn xếp sớm. Kinh nghiệm cho thấy Huế dễ khơi ngòi nổ cho nơi khác. - Quốc vụ Khanh Lê Văn Hoạch lưu ý hội nghị. Ông nói tiếp: - Nên cử một phái đoàn cấp cao nhất ra Huế trấn an ngay.
- Tôi đồng ý với bác sĩ. – Tướng Minh nói – Tôi rất ngại các cuộc xung đột buộc phải quân đội can thiệp như vừa rồi...
- Tại sao, cảnh sát không can thiệp mà để quân đội dính vào chính trị? – Đại sứ Taylor hỏi tướng Lâm Văn Phát.
- Thưa đại sứ, đúng lý thì tôi, với tư cách Tổng trường Nội vụ phải trả lời, song đáng tiếc, người cần trả lời phải là tướng Nguyễn Khánh!
Lâm Văn Phát hất hàm về phía Khánh.
- Tại sao? Tôi vẫn chưa hiểu... - Taylor không ngó Khánh.
- Vì cái này đây!
Tướng Lâm Văn Phát rút trong cặp ra một tờ báo trải trước mặt đại sứ Mỹ, trỏ đoạn thông cáo của Bộ Tổng Tư lệnh do Nguyễn Khánh ký – đoạn đó được khoanh bút chì đỏ - cho phép quân đội nổ súng các cuộc biểu tình. Tướng Phát dịch luôn tiếng Anh thông cáo đó.
Maxwell Taylor, dù mặc thường phục, vẫn giữ tác phong của một quân nhân cấp cao, xoay ghế, ngó thẳng Khánh:
- Ông Khánh, tôi muốn ông giải thích lý do của thông cáo này...
Khánh quên hẵng vị trí của mình – trong Ban lãnh đạo quốc gia, Tổng tư lệnh quân đội, Thủ tướng chính phủ, đứng lên ấp úng:
- Thưa, nhu cầu an ninh đòi hỏi...
- Giải sử quân đội bắn vào nhóm dân chúng biểu tình thì ông có nghĩ hậu quả ra sao không? Cách đây mấy hôm các ông dùng đại bác bắn dân chúng... Tôi muốn giới thiệu với các ông bức điện của Tổng thống nước chúng tôi gởi cho tôi... Đọc bức điện đi Alexis!
Mặt Taylor lạnh như tiền. Alexis Johnson đọc bức điện.
“Gởi đại sứ Maxwell Taylor – Sài Gòn.
Tôi sửng sốt về những phát đại bác ở Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn. Xin lưu ý đại sứ để đại sứ lưu ý chính phủ Sài Gòn rằng vũ khí viện trợ cho Nam Việt không phải để cho ai đó bắn vào dân chúng tại thủ đô! Đức hồng y Spellman với lời lẽ gay gắt nhất phản đối tôi và quốc hội có thể nêu vấn đề này chất vấn tôi. Hoặc chính phủ Việt Nam Cộng hòa có đủ mọi phương tiện chiến thắng Cộng sản hoặc họ không có gì cả.
Tổng thống Mỹ đã ký:
L.B. Johnson”.
- Thế đấy!
Taylor quay ghế lại, dằn mạnh từng tiếng như ông đang đứng trước hàng quân hay trên bục giảng.
- Trung tướng Dương Văn Minh có nhã ý mời tôi và người phụ tá của tôi đến dự phiên họp bất thường ngày hôm nay. Chúng tôi vui lòng đến bởi chúng ta đã cột chung số phận với nhau. Sự khôn ngoan sẽ không bao giờ thừa, nhất là vào lúc khó khăn này. Chúng tôi không muốn nước Mỹ bị kỳ thị ở đây vì những lỗi lầm không phải từ chúng tôi... Quân đội Việt Nam Cộng hòa, tôi xin nhắc lại, hãy trở lại chỗ đứng của mình, hãy ngó về phía kẻ thù và đạn nên dùng đúng mục đích của nó... Nước Mỹ hỗ trợ hết lòng bạn hữu, song có những cái nước Mỹ không hỗ trợ nổi, đó là sự ổn định nội bộ Việt Nam Cộng hòa về chính trị, bắt đầu là các vị gánh vác trách nhiệm nặng nhất. Không được để ra bất cứ vụ lộn xộn nào. Và, thưa ông Tổng trưởng Nội vụ Lâm Văn Phát, chính ông chứ không phải trung tướng Khánh đảm bảo yêu cầu của tôi!
Lâm Văn Phát không như Nguyễn Khánh, thay vì đứng lên chắp gót chân tỏ ý tuân phục, anh ta run đùi, tay sờ cằm, ngó lên trần nhà.
Taylor tái mặt. Nhưng ông ta kịp kềm chế.
- Tôi và phó đại sứ cám ơn tướng Minh... Chúng tôi xin phép ra về...
Tướng Minh tiễn hai người Mỹ đến cửa phòng, Nguyễn Khánh tê tái theo họ xuống tận thềm và hai người Mỹ lên xe, đóng sầm cửa...
- Hắn làm thầy đời mà vô duyên! – Tướng Phát cười ruồi, ngay khi Taylor và Johnson vừa ra khỏi phòng – Ai vẽ kế hoạch bình đình Nam Việt trong 18 tháng! Hắn với thằng cha bịp bợm Staley cộng với thằng cha bịp bợm da vàng mũi tẹt Vũ Quốc Thúc. Ngay vụ nổ đại bác ở Bộ Tổng tham mưu, tôi nghĩ cũng do hắn chỉ thị cho Nguyễn Ngọc Lễ... Rồi, ai bắn vào dân Việt Nam tay không ở Đà Nẵng vừa rồi? Lính Mỹ!
- Nhưng, ta hãy nói chuyện trước mắt... - Phan Huy Quát ngắt lời Lâm Văn Phát.
- Trước mắt là chuyện gì? – Phát hỏi gay gắt.
- Trước mắt nên thu hồi lệnh cho phép quân đội nổ súng... - Người nói là Nguyễn Văn Thiệu – Tôi thắc mắc, ông Khánh bàn với ai mà ký lệnh đó?
Khánh chưa trở vô, Khiêm lắc đầu:
- Tôi không biết.
Khánh vô phòng. Tướng Minh làm nhiệm vụ cố hữu:
- Thôi, mấy anh em đừng cãi lẩy...
*
Ngày 3-9, tướng Dương Văn Minh cùng tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh bay ra Huế. Giới Phật giáo đón “người anh hùng 1-11-1963” lạnh nhạt. Tướng Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh vùng I, thậm chí không đến chào hai vị đứng đầu nhà nước và chính phủ. Giới Thiên Chúa giáo dĩ nhiên thù địch tướng Minh ra mặt.
Dù sao, Bộ Thông tin cũng có dịp ra thông cáo nói về sự lắng dịu của vùng sát giới tuyến nhân chuyến công cán này.
Người có thể đánh giá chính xác 2 ngày tướng Minh và tiến sĩ Oánh ở Huế là Hoàng Thị Thùy Dung, do đại tá Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia Trần Thanh Bền phái theo, để thực hiện phần nghiệp vụ cảnh sát ở phía Bắc Việt Nam Cộng hòa.
Tại cầu thang máy bay, tướng Minh thay mặt Ủy ban lãnh đạo quốc gia về quân lực; tiến sĩ Oánh, quyền Thủ tướng, được tỉnh trưởng Thừa Thiên và văn võ quan viên đón tiếp theo nghi thức long trọng, nhưng cả hai không vui. Họ ra đây vì những khả năng xấu – bất cứ lúc nào cũng có thể nổ ra bạo động dân chúng mà bạo động phức tạp: vừa xung đột tôn giáo vừa chống chính phủ. Cả hai đều ý thức vai trò trái độn của mình và đều hiểu người Mỹ rất e ngại an ninh vùng I.
Thùy Dung, một sĩ quan cấp thấp, xuống máy bay sau cùng. Tướng Minh không để ý Dung – đoàn tùy tùng khá đông. Nhưng, khi trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên cùng một cố vấn Mỹ ra đón Dung, tướng Minh mới biết một thiếu tá cảnh sát ngồi chung máy bay với ông và nữ thiếu tá đó là vợ của đại tá Nguyễn Thành Luân. Không bộc lộ một thái độ gì đặc biệt, tướng Minh lên xe, riêng Dung, cô cảm giác vị tướng không hài lòng, có thể ông nghĩ rằng ông bị theo dõi; cũng có thể cho tận bây giờ, ông chưa thích viên đại tá con nuôi giám mục, người của gia đình họ Ngô, một sĩ quan kháng chiến trở mặt, một người có cái gì đó vừa đáng phục vừa phải dè chừng.
Tại tỉnh đường Thừa Thiên, ngay khi vừa đến Huế, tướng Minh và tiến sĩ Oánh họp ngay với quan chức sở tại. Tướng Nguyễn Chánh Thi, như người ta thông báo, bận thị sát Quảng Trị, vắng mặt. Dung ngồi nép ở góc phòng. Đại tá chánh văn phòng Ủy ban lãnh đạo quốc gia giới thiệu phái đoàn Trung ương, tất nhiên không có tên Hoàng Thị Thùy Dung. Tỉnh trưởng rồi tiểu khu trưởng báo cáo. Tình hình ở Huế nói riêng, Thừa Thiên và vùng I nói chung không đến mức cần phải có một đoàn thượng đỉnh này. Cũng xảy ra vài ra vài vụ đụng chạm nhỏ của giáo dân hai tôn giáo lớn, đều được giàn xếp ổn thỏa. Mấy cuộc biểu tình rầm rộ, nay không còn nữa. Trưa, họ dùng cơm và nghỉ ngơi một chút, rồi tiếp tục làm việc. Trưởng ty cảnh sát báo cáo, vẫn theo tinh thần của tỉnh trưởng và tiểu khu trưởng. Thỉnh thoảng tướng Minh hỏi thêm và ông được trả lời rành rọt. Tóm lại, chẳng có chuyện gì ghê ghớm. Tối, tỉnh trưởng chiêu đãi.
Sáng, tướng Minh và tiến sĩ Oánh tiếp xúc giới Phật giáo. Không vị cao tăng nào dự họp. Một vài thượng tọa, đại đức và cư sĩ đến tỉnh đường. Họ phàn nàn về chính sách của chính phủ: tiếp tục kỳ thị đạo Phật, như “bắt nguội” các cư sĩ tích cực trong phong trào chống Diệm, như giữ nguyên bộ máy đàn áp Phật giáo ở thôn xóm, nhất là ngành cảnh sát, chùa chiền vẫn bị rình rập. Nghe một lúc, tướng Minh chợt nhớ ra, nhìn quanh phòng:
- Bà thiếu tá Hoàng Thị Thùy Dung không dự họp sao?
Ông hỏi. Dung không được mời. Tiến sĩ Oánh ra hiệu cho một sĩ quan gọi điện sang Ty cảnh sát. Một lúc sau, Dung đến.
- Mời thiếu tá nghe... - Tướng Minh bảo – Đây là việc thiếu tá... Mời các vị nói lại vụ kỳ thị đạo Phật. Xin giới thiệu bà thiếu tá Dung, ở Tổng nha cảnh sát quốc gia.
Dung khép nép ngồi ở góc bàn mở sổ tay ghi chép.
Những tố giác này không bất ngờ đối với cô. Cô biết khá nhiều vụ còn tệ hại hơn những cái các nhà sư và cư sĩ này đang phanh phui. Sau cuộc “chỉnh lý”, mọi thứ trở lại như cũ, tàn bạo và tinh vi. Đặc biệt, những người thật tâm bảo vệ đạo pháp bị khủng bố, công khai hoặc ngấm ngầm.
- Thiếu tá giải thích cho tôi rõ vì sao có những chuyện kỳ lạ như vậy? – Tướng Minh nghiêm mặt.
- Trình trung tướng, như trung tướng, tôi đã hỏi ông trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên... Tôi được trả lời: Ty chấp hành lệnh của Hội đồng quân đội cách mạng và của Tổng trưởng Nội vụ...
- Của thiếu tướng Lâm Văn Phát?
- Thưa không, của ông Hà Thúc Ký...
- Có văn bản không?
- Thưa, bằng khẩu lệnh...
- Vậy, đại tá Trần Thanh Bền không can thiệp?
- Thưa, đại tá cũng chỉ là cấp thừa hành...
Tướng Minh quay sang số đại biểu Phật giáo:
- Chư vị đã nghe... Hội đồng quân đội là danh xưng của tướng Khánh. Tôi muốn nói rõ để chư vị thưa lại với tôn hòa thượng: Chính phủ không hề theo đuổi chính sách kỳ thị tôn giáo. Về các việc mà các vị đã nêu, tôi sẽ bàn với đại diện Tổng nha, tức bà thiếu tá đây, cách giải quyết.
- Thưa trung tướng, ngài là Phật tử, thiện nam tín nữ cùng các tăng ni trong tỉnh cúi mong trung tướng ghé mắt cho bao nỗi khổ đau của Phật tử. Nhà tù nhốt hàng nghìn tín đồ...
Một đại đức nói mà rơm rớm nước mắt.
- Tôi ra Huế không với tư cách Phật tử. Tôi đại diện cho Ủy ban lãnh đạo và tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh là quyền thủ tướng.
Tướng Minh đính chính. Dung hiểu chỗ đứng rất tế nhị và cũng rất bấp bênh của tướng Minh. Trong giọng nói, ông ngượng ngùng khi phải dùng những danh xưng chính thức.
- Lẽ ra, tôi phải đến chùa Từ Đàm chào hòa thượng tăng thống và mời các vị bữa cơm chay. Song, mong các vị thông cảm...
Đoàn Phật giáo cám ơn tướng Minh, ra về. Trông bước đi của họ, họ không phấn khởi vì phát hiện tướng Minh không còn là tướng Minh của biến cố 1-11-1963.
Chính tướng Minh tự đánh giá mình cũng không khác. Khi khách ra về, chờ đợi tiếp đoàn đại biểu Thiên Chúa, ông trầm ngâm khá lâu.
- Bà thiếu tá! – Ông bảo Dung – Liệu bà có thể làm được điều gì có ích tại đây không?
- Thưa trung tướng, tôi chỉ được ủy quyền điều tra, nắm tình hình. Tuy vậy, do chức vụ Nha công vụ của Tổng nha, tôi có thể làm hai việc trong thời gian ngắn ngủi ở Huế: một là tôi lọc và thả lối một phần ba người bị bắt; tôi tạm thời ngưng chức một số cảnh sát thuộc cấp hạ sĩ quan bị tố cáo... Sẽ có một đoàn thanh tra ra Thừa Thiên sớm...
- Như thế này, – Tướng Minh suy nghĩ một lúc, nói - Bà ở lại thêm đôi ngày, cái gì giải quyết được thì giải quyết theo quyền hạn của bà, cái gì quá quyền hạn thì bà sưu tầm tài liệu mang về Sài Gòn... Được không?
- Thưa, được!
- Tôi sẽ để lại đây một toán quân cảnh bảo vệ và giúp bà.
- Có lẽ không cần, thưa trung tướng.
- Tại sao không cần?
- Đoàn cố vấn cảnh sát Mỹ ở đây sẽ làm các việc mà trung tướng lo ngại...
- À! Tôi hiểu. Dẫu sao tôi cũng để lại một đại úy và hai trung úy... Lúc cần người của ta vẫn hơn.
Đoàn đại biểu đạo Thiên Chúa vào, gồm bốn linh mục và năm trí thức. Những điều đạo Thiên Chúa tố cáo giống hệt đoàn Phật giáo: kỳ thị, bao vây, bắt bớ.
Dung ghi chép. Trong ghi chép, cô phát hiện ra một bàn tay nào đó thọc vào cốt gây xung đột tôn giáo. “Bàn tay nào đó” hẳn là CIA. Và nạn nhân đạo Thiên Chúa không ai khác hơn là những con người chính trực, những con người đứng về phái Phật giáo trước đây. Trong yêu sách của đoàn cũng như của đoàn Phật giáo – chen lẫn không ít những tính toán chỉ có lợi cho đôi thế lực, đôi tầng lớp, luôn cả nỗi hằn thù muốn thanh toán tôn giáo.
Tướng Minh và quyền thủ tướng Oánh dành phiên làm việc chót với chính quyền Thừa Thiên. Cũng chỉ là những dặn dò chung chung.
Bốn giờ chiều 4-9, hai lãnh đạo cao nhất của Việt Nam Cộng hòa rời sân bay Phú Bài về Sài Gòn.
Dung ở lại – cô thực hiện một số công việc. Thật ra, nếu phái đoàn cố vấn Mỹ không hỗ trợ cô thì cô không làm nổi. Do đó, đối tượng phải thuyết phục là các sĩ quan chuyên viên ngành cảnh sát và an ninh Mỹ. Dung phân tích cho họ thấy nếu tiếp tục bắt bớ, giam cầm, khủng bố như hiện nay thì sẽ đưa cả vùng I vào cảnh hỗn loạn và nguy hiểm. Dung đánh đúng chỗ các sĩ quan Mỹ lo sợ. Và, nhờ đó, cô hiểu một cách chắc chắn rằng hiện nay Mỹ đang xây dựng cái đầu cầu sửa soạn cho một cuộc đổ quân lớn. Không rõ lãnh đạo của ta nắm được tình hình này không?
Tối 5-9, tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư lệnh vùng từ về Huế. Khi biết Dung còn ở Huế, hắn cho mời đến bộ tư lệnh dùng cơm. Lời mời đó trùng với lời mời của đại tá trưởng đoàn cố vấn Mỹ ở Thừa Thiên và trung tá lữ đoàn trưởng Thủy quân lục chiến Mỹ - đang cùng nhóm tiền trạm nghiên cứu lục địa dọc đường số 9. Dung thu xếp, tất cả sẽ đến chỗ Nguyễn Chánh Thi!
- Bà thiếu tá được hộ tống kỹ quá! – Nguyễn Chánh Thi sỗ sàng khi Dung cùng hai thiếu tá cảnh sát Mỹ và ba quân cảnh Việt bước lên thềm ngôi nhà trong thành Mang Cá – nơi có lần Dung “lấy cung” tướng Mai Hữu Xuân. Đại tá trưởng đoàn cố vấn Mỹ và trung tá lữ đoàn trưởng Thủy quân lục chiến đón Dung rất niềm nở và trân trọng.
Là chủ tiệc, Nguyễn Chánh Thi chỉ nâng cốc và chốc chốc lại nâng cốc. Hắn ta nói không thạo tiếng Anh. Cho nên, buổi tiệc dồn lại ở hai sĩ quan Mỹ và Thùy Dung.
Chẳng khó gì mà không thấy Nguyễn Chánh Thi bực bực. Song, dù nốc khá nhiều rượu, hắn vẫn ngán hai sĩ quan Mỹ.
- Bà có phát hiện ra điều gì không tốt ở vùng I không? – Thi hỏi, lè nhè mà vẫn nhóng tai chờ câu trả lời.
- Thưa chuẩn tướng, khá nhiều điều không tốt... Có thể nói tướng Dương Văn Minh không hài lòng.
- Ồ! Big Minh hài lòng hay không, tôi cóc cần...
Dung dịch liền câu của Thi cho hai sĩ quan Mỹ. Viên đại tá cố vấn nhìn Thi với tất cả kinh ngạc. Thi thấy rõ.
- Tôi nói với bà, với nội bộ ta. Bà đừng dịch... Nếu bà không hài lòng thì tôi xin nhận lỗi.
- Rất nhiều văn bản do chuẩn tướng ký liên quan đến an ninh, ngoài phạm vi trách nhiệm của chuẩn tướng. Sài Gòn sẽ khiển trách và người Mỹ cũng sẽ khiển trách.
Từ đó, Thi không hé môi.
Sáng ngày 6, Dung lên máy bay về Sài Gòn. Cô đã cho Nguyễn Chánh Thi một vố chót: cô không đi máy bay quân sự của Bộ tư lệnh mà đi máy bay riêng của quân đội Mỹ, Nguyễn Chánh Thi bố trí vụ máy bay đâm xuống biển, phi công nhảy dù thoát.
Trong Bộ tư lệnh, các sĩ quan cấp dưới nghe vị tư lệnh vùng chửi thề bằng những từ tục tĩu nhất trần gian.
*
Thông cáo của Bộ Thông tin:
Hội đồng quân đội vừa họp phiên đặc biệt nhất trí cử trung tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch Ủy ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực. Nghị quyết mang số 2 LĐQGQL.
Sài Gòn ngày 7 tháng 9 năm 1964
*
Quyết định số 2 QGQL
Để tiến tới cơ chế dân chủ, theo nguyện vọng của quốc dân, Ủy ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực Việt Nam Cộng hòa quyết định:
Điều 1: Thành lập một Thượng hội đồng quốc gia.
Điều 2: Thượng hội đồng quốc gia có nhiệm vụ tạo các điều kiện thuận lợi triệu tập quốc dân đại hội là cơ quan lập hiến dự thảo hiến pháp cầu dân ý.
Điều 3: Trong khi chưa triệu tập Quốc dân đại hội, Thượng hội đồng quốc gia có nhiệm vụ soạn thảo bản Hiến chương mọi quy đinh cơ cấu quốc gia.
Điều 4: Thượng hội đồng quốc gia, từ nay cho đến khi xong chức trách, là cơ quan cố vấn tối cao cho Ủy ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và chính phủ.
Điều 5: Mời và được các vị sau đây đồng ý tham dự Thượng hội đồng quốc gia: Tiến sĩ nông học Phan Khắc Sửu, luật sư Lê Văn Thu, luật sư Nguyễn Văn Huyền, bác sĩ Trần Đình Nam, kỹ sư Trần Văn Văn, giáo sư Trần Văn Quế, ông Nguyễn Văn Lực, bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, bác sĩ Hồ Văn Nhựt, cụ Mai Thọ Truyền, giáo sư Ngô Gia Hy, bác sĩ Lê Khắc Quyến, giáo sư Tôn Thất Hanh, kỹ sư Lương Trọng Tường, ông Nguyễn Đình Luyện, ông Hồ Đắc Thắng.
Ký: Dương Văn Minh.
Sài Gòn ngày 8 tháng 9 năm 1964
*
Thông cáo của chính phủ:
Nay thu hồi ủy quyền thủ tướng của tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh vẫn là phó thủ tướng chính phủ. Công việc điều hành nội bộ do Thủ tướng Nguyễn Khánh phụ trách.
Sài Gòn ngày 8 tháng 9 năm 1964
Bộ trưởng Phủ thủ tướng
Nguyêm Xuân Hồng (ký)
*
Thông cáo của chính phủ:
Theo nguyện vọng của các quân nhân có tên sau đây, Thủ tướng chính phủ chấp nhận đơn xin từ chức Tổng trưởng và Bộ trưởng của: đại tướng Trần Thiện Khiêm (quốc phòng), thiếu tướng Lâm Văn Phát (nội vụ), thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu (quốc phòng), đại tá Trần Ngọc Huyến (thông tin), thiếu tướng Dương Ngọc Lắm (đô trưởng Sài Gòn). Cũng chấp nhận đơn xin từ nhiệm của luật sư Bùi Trường Hoàn (Quốc gia giáo dục) và giáo sư Trần Quang Thuận (xã hội).
Nay bổ nhiệm bác sĩ Nguyễn Lưu Viên làm Tổng trường nội vụ, giáo sư Trần Văn Hương, đô trưởng Sài Gòn với hàm Tổng trưởng, đại tá Nguyễn Quang Sanh, Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia thay đại tá Trần Thanh Bền chuyền hoàn về Bộ Tổng tham mưu.
Sài Gòn ngày 8 tháng 9 năm 1964
*
Thông cáo của Bộ Thông tin:
Ủy ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực quyết định cho phép các trung tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim và Mai Hữu Xuân được trở về Sài Gòn. Công tác trong quân ngũ các vị sẽ được quyết định sau.
Sài Gòn ngày 9 tháng 9 năm 1964
*
Thông cáo của Bộ Thông tin:
Kể từ hôm nay, theo quyết định của Ủy ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực, bãi bỏ chế độ kiểm duyệt báo chí trong tình trạng khẩn trương được ban hành trước đây.
*
Thư ngỏ của linh mục Hoàng Quỳnh:
(Tin các báo ngày 8-9-1964)
Linh mục Hoàng Quỳnh, tự xưng là chủ tịch Ủy ban tranh đấu Công giáo vừa gởi thư ngỏ cho Thủ tướng Nguyễn Khánh, trong đó, ông lên án chính phủ làm ngơ trước các vụ đàn áp tín đồ Thiên Chúa xảy ra khắp nơi, không tiến hành điều tra và truy tố kẻ phạm pháp, gây nên làn sóng bất bình trong giáo dân và cũng làm cho an ninh ở cơ sở thêm xấu. Linh mục cho biết giáo dân sẽ tổ chức vũ trang tự về và không chịu trách nhiệm và tình hình bởi chính phủ không đảm bào nổi đời sống bình yên của công dân.
*
Tin của AFP ngày 9-9-1964:
Chắc chắn do gợi ý của Bộ chỉ huy quân sự Mỹ, chính phủ của tướng Nguyễn Khánh vừa cho thành lập lại tỉnh Bạc Liêu, Châu Đốc và thị xã Vũng Tàu. Sự thay đổi này mang ý nghĩa quân sự nhiều hơn ý nghĩa hành chính và kinh tế. Quan điểm của người Mỹ là chia nhỏ địa bàn để kiểm soát. Còn lại thị xã Vũng Tàu lại là đầu cầu tiếp nhận quan trọng quân cụ Mỹ.
*
Đại tá Trần Thanh Bền đã từ giã cộng sự viên ở Tổng nha không hẳn là buồn. Trước mấy trăm sĩ quan, đại tá cảm on sự hợp tác quý giá mà mọi người dành cho ông và ông hy vọng người thay ông, đại tá Nguyễn Quang Sanh, cũng được sự hợp tác như vậy. Không nổ sâm banh, không tiệc, việc giao lãnh tiến hành thật nhanh.
Trần Thanh Bền dùng một giờ để giải quyết các cụ ứ đọng với Thùy Dung. Giám đốc Nha công vụ vẫn nằm bệnh viên nên Dung nắm đầy đủ mọi điều động nhân sự của Tổng nha.
- Bà tiếp tục giải quyết tình hình ở Thừa Thiên và vùng I, theo các quyết định mà tôi đã ký...
Trần Thanh Bền gõ gõ cây viết lên bàn:
- Không có cái gì vĩnh cửu, bà cũng hiểu. Người Mỹ đòi ta tăng cường hạ tầng cơ sở cho vững, nhưng không dễ. Tôi sẽ sang ngành tình báo quân sự, nói cách nào đó, vẫn liên hệ với Tổng nha và với bà. Thật ra, đại tá Sanh chắc không ở lâu ở Tổng nha đâu. Tổng giám đốc có thể thay đổi theo thời tiết chính trị, còn các nha chuyên môn cần tồn tại càng lâu càng tốt. Vì lẽ đó, tôi đã trình với Thủ tướng không thay đổi bất kỳ ai từ cấp Nha trở xuống. Biết đâu rồi bà làm việc với tôi lần nữa.
Bỗng, Bền hỏi một câu không dính đến việc đang bàn.
- Hình như đại tá Luân quen thân với tướng Dương Văn Đức?
- Quen thì có, thân thì không. – Dung đoán ra ý của Trần Thanh Bền.
- Tôi muốn khuyên đại tá Luân: Đừng quan hệ với tướng Đức!
- Vì sao? Trong công vụ, Phó Tổng thanh tra và tướng tư lệnh vùng vẫn phải làm việc với nhau.
- Tôi không nói hướng đó... Tất nhiên, trừ một ẩn số...
- Tôi chưa hiểu ý đại tá...
- Ẩn số đó là đại tá Luân trao đổi và được tướng Jones Stepp đồng ý về mọi quan hệ... - Bền vừa nói vừa ngó Dung.
- Nhà tôi chơi khá thân với tướng Jones Stepp. - Dung đánh đòn gió.
- Thế thì không có gì phải bàn... Còn bà, bà biết John Hing chớ?
- Biết! Tôi đã gặp ông ta...
- À! Đó là điều thú vị đối với tôi. Tôi cũng có gặp John Hing... Hình như bà gặp ông ta từ vụ cháu bị bắt cóc?
- Đúng...
Trần Thanh Bền như muốn hỏi thêm, nhưng suy tính một lúc, lại thôi.
- Nghề của chúng ta khá lắc léo. Bà đồng ý không?
Dung không xác nhận mà cũng không phủ nhận nhận xét tuy chung chung mà rất cụ thể của Bền.
- Đại tá Sanh, theo tôi, cũng đã gặp John Hing!
Dung không tỏ vẻ gì xúc động với cái tin úp mở này.
- Thôi chúng ta tạm chia tay... - Trần Thanh Bền ra khỏi Nha công vụ.
*
Luân liếc qua danh sách Thượng hội đồng Quốc gia. Có thể đây là kết qua của một cuộc trả giá dai dẳng giữa các phe nhóm và đòi Alexis Johnson cùng William Porter tốn nhiều công cân nhắc từng người. Cũng có thể đây là quyết định thảo trong vòng năm phút, nhớ ai ghi nấy, cốt cho có. Khả năng thứ nhất rất ít nếu không nói vô lý. Khả năng thứ hai thì rõ và bức tranh tô vẽ vụng về càng làm cho cảnh trí thêm lố bịch.
Dung rón rén đến sau lưng chồng. Cái đập vào mắt cô là tóc Luân chen quá nhiều sợi bạc. Không phải hàng ngày cô không thấy sự đổi màu này, song hôm nay, cô bỗng phát hiện tóc chồng cô đổi màu thật nhanh. Nỗi xót xa dâng lên mắt cô. Cô ghì cổ Luân và khóc rấm rứt.
Luân gỡ tay vợ, kéo ngồi bên canh, chậm nước mắt cho vợ.
- Bản danh sách lố bịch! - Luân lập lại ý nghĩ và cũng muốn xua đi cảm xúc của vợ, anh hiểu Dung xúc cảm vì cái gì.
Dung ngả đầu vào ngực chồng, không nói.
- Về những sợi tóc bạc, dễ đối phó thôi. – Luân vuốt ve Dung – Em mua cho anh một loại thuốc nhuộm bán đầy các tiệm! Còn bản danh sách...
- Lố bịch một cách không dấu diếm. – Dung trở lại công việc – Ông Sửu, ông Huyền, ông Nhựt, ông Hy... Cả giới danh tiếng chen vài người lạ hoắc, như Nguyễn Văn Lực...
- Một Quốc dân đảng đấy...
- Có thể. Một liên minh rộng nhất.
- Và cũng hẹp nhất, bởi mỗi người là một thế giới riêng...
- Tác giả lập danh sách đâu cần...
- Nó chỉ báo trước người Mỹ dọn đường cho chính sách mới bằng sự thất bại của tướng Minh, tướng Khánh và cả cái Thượng hội đồng này. Chủ bài của Mỹ còn lấp ló...
Dung thuật cho Luân nghe đối đáp của đại tá Trần Thanh Bền và cô. Luân ngao ngán:
- Mất cơ hội rồi! Tướng Đức không làm được cái tối thiểu mà ông muốn, tức loại Khánh.
Chuông điện thoại reo. Tướng Lâm hẹn gặp Luân gấp.
- Nếu Jones Stepp hỏi về anh, em cứ nói là anh đi gặp tướng Lâm.
... Luân dùng taxi và không mang bảo vệ theo. Anh đổi nhiều lần taxi, đi các chiều trái ngược để cuối cùng đến một con đường thật hẹp ở Chợ Lớn. Anh trà trộn dòng người, rẽ vào một hiệu ăn, gọi bia, quan sát bên ngoài. Khi biết chắc không bị theo dõi, Luân lại lộn ra đại lộ và nhà hàng Đồng Khánh. Luân ngờ ngợ về một số người lảng vảng – hẳn bảo vệ của tướng Lâm. Tướng Lâm, hóa trang một Hoa kiều, chờ Luân trong phòng dành riêng cho khách đặt trước. Nhân viên phục vụ cúi chào Luân lễ phép. Trong một thoáng, Luân xác định gã nhân viên này. Anh cười và nheo mắt với gã. Gã giả bộ ngờ nghệch không thành thạo lắm.
- Tôi phải có mặt ở Cần Thơ chiều nay... - Lâm nói.
- Có người theo dõi anh, - Luân bảo – Cũng có thể theo dõi tôi.
- Mặc kệ nó... Nếu cần, tôi bắn! Người của tôi quanh đây.
- Bao giờ thì khởi sự?
- Sáng mai...
- Theo tôi biết, mục tiêu của các anh hiện không ở Sài Gòn...
- Tôi cũng biết, song không trễ hơn được. Trễ hơn, lộ ráo. Anh biết thằng cha Đức nóng nảy lắm...
- Lẽ ra, ông ta làm ngay lúc vụ Hiến chương Vũng Tàu náo loạn. Bây giờ, mục tiêu của các anh được che chắn kỹ bằng ông Minh và cả một lô nhân sĩ trong Thượng hội đồng.
- Nhưng, Đức đã phát lệnh... Tôi phải có mặt để còn vớt vát.
- Có nên không?
- Nên! Vì không có tôi, Đức không tiến xa tới Sài Gòn và như vậy, thật vô nghĩa... Anh khuyên tôi điều gì?
- Lời khuyên quan trọng nhất đã không được anh nghe; nếu còn kịp, ngưng hành động, chờ cơ hội tốt hơn, nếu không kịp, anh dấu mặt.
- Anh quá cẩn thận. Sau tướng Đức là người Mỹ.
- Người Mỹ nào? - Luân hỏi, hơi cười.
- Tụi cố vấn quân đoàn.
- Yếu lắm! Người Mỹ phải cỡ Alexis Johnson. Cánh quân sự Mỹ không dám vượt quy tắc nhà binh đâu. Ngay Harkins còn chịu thua Cabot Lodge.
- Liệu Jones Stepp ủng hộ Đức không?
- Tôi nghĩ là không. Jones Stepp chỉ có nhiệm vụ lo tình báo quân sự.
- Kệ mẹ nó! Thử liều một keo...
- Các anh đánh sấp ngửa trong canh bạc chính trị e khó thắng... Tôi hỏi anh: quan hệ với phía bên kia thế nào?
- Tôi thì có... Chắc anh biết. Đức phản đối. Nó không thích.
- Ông ta định biểu dương lực lương, tạo tiếng vang chăng?
- Gần gần như vậy... Đúng ra, tôi với nó gặp ở chỗ phải loại thằng râu dê...
- Tướng Khánh không quan trọng như các anh gán cho ông ta... Nói chính xác, cái mục tiêu mà các anh nhắm hết còn là mục tiêu. Thậm chí, ít ra hai người sẽ cảm ơn các anh – cảm ởn trong bụng và kết án trên môi...
- Ai? Thằng Khiêm hả?
- Mới một người...
- Còn ai?
- Tướng Thiệu...
- Anh nói đúng... Tôi nhớ và không bỏ sót nó đâu.
- Quan hệ với phía bên kia của anh tới mức nào? Tôi muốn nói về việc hợp đồng...
- Đã bàn, song chắc lực lượng của họ có hạn...
- Bây giờ, hẳn chưa muộn, tôi khuyên các anh tuyên cáo rõ ràng mục đích ủng hộ tướng Minh và Thượng hội đồng, đòi thành lập một chính phủ dân sự do tướng Minh chỉ định thủ tướng...
- Chỉ định ai?
- Ai cũng được...
- Còn thằng Khánh?
- Khôn ngoan nhất là đổi mục tiêu...
- E Đức không nghe...
- Thành công hay thất bại của các anh nằm trong tuyên cáo chính trị. Các anh phải làm cho Mỹ yên tâm và thấy các anh có lý. Các anh cho Mỹ thấy nên chấp nhận quan điểm của các anh thì họ có khả năng giảm tối thiểu lực lượng tham chiến đồng thời vẫn thắng được Việt Cộng... Các anh nói rõ: Cần xây dựng lực lượng Nam Việt thật mạnh.
- Tôi chưa hiểu ý anh...
- Đằng sau hoặc bên trên mọi diễn viên sân khấu, là ngân hàng và các công ty sản xuất vũ khí vai vế. Họ cần tuôn hàng triệu tấn vũ khí sang đây. Nếu họ đánh giá các anh không gây trở ngại mà còn giúp họ những con số thu nhập khổng lồ thì các anh có cơ sở đứng được...
- Từ trước, theo tôi nghĩ, anh e ngại điều đó...
- Đúng. Nhưng, bây giờ, tôi lo ngại hơn mấy trăm nghìn quân Mỹ tràn ngập lãnh thổ ta. Súng đạn, các phương tiện chiến tranh... không còn cách nào xua chúng ra khỏi Việt Nam, nhưng hạn chế thực binh Mỹ thì vẫn chưa hết hy vọng, miễn các anh đừng chứng tỏ ngược lại: vũ khí Mỹ không đủ, phải cân bằng mấy chục sư đoàn...
- Hay anh cùng đi với tôi...
Luân nhếch mép:
- Chưa phải lúc... Dù rằng tôi đoán việc làm của các anh sẽ đẩy tôi vào một tình thế tế nhị, có khi nguy hiểm...
Hai người bắt tay nhau thật chặt. Luân không chúc tướng Lâm thành công mà chúc sức khỏe.
Luân về đến nhà. Dung để lại tờ giấy: Jones Stepp gọi cho anh và dặn anh gọi ngay cho ông ta.
... Luân quay máy. Saroyan nghe:
- Jones vừa sang đại sứ quán... Có việc gì, anh yêu?
- Có...
- Ảnh hưởng xấu hay tốt đến anh, Dung và con?
- Chưa biết phải nói với Saroyan thế nào cho đúng...
- Jones hẹn trưa về. Em sẽ đến với anh. Anh chờ em...
Luân chưa kịp trả lời thì Saroyan cúp máy. Điện thoại lại reo: Hélen Fanfani gọi Luân:
- Tôi biết một tin sắp đảo chính! Đại tá biết không?
- Ai cho cô tin đó?
- Tất nhiên, tôi có nguồn tin...
- Một nguồn tin thẩm quyền, đúng không? Và người ta không định bóp cuộc đảo chính trong trứng nước, trái lại, nóng lòng chờ nó, hoặc hối thúc cho nó diễn ra càng sớm càng tốt. Đúng không?
- Tôi phục đại tá. Đúng... Tôi cảm giác như vậy... Và, đại tá đứng ngoài cuộc chứ?
- Người ta muốn tôi đứng trong cuộc...
- Thái độ đại tá?
- Như cô đang nói chuyện, tôi đang ở nhà...
- Đó là một chi tiết quan trọng cho bài báo sắp tới của tôi...
- Cám ơn Hélen...
Saroyan vào nhà. Không e dè gì cả, cô ghì Luân và hôn đắm đuối...
- Thỉnh thoảng, anh cho em đôi phút của cuộc sống. – Saroyan nói, nước mắt đằm đìa.
Chuông điện thoại lại reo.
- A lô! À, chào ông, ông John Hing. – Luân ra dấu cho Saroyan, Saroyan ngồi xuống ghế, đờ đẫn.
- Tôi định nói chuyện với bà, lại gặp ông... - Đầu dây kia, giọng John Hing khàn khàn – Tôi đã nhận được tài liệu của bà. Tôi không nói về giá trị, chúng chẳng có giá trị gì, song vui lòng vì bà đã giữ lời hứa. Tôi muốn hỏi ông: Vừa rồi, ông vào Chợ Lớn làm gì?
Mồ hôi rịn trên trán Luân.
- Người của ông trả lời câu hỏi đó đầy đủ hơn tôi...
- Người của tôi gặp ông, nhưng mất dấu. Ông có vẻ giữ bí mật.
- Chưa hẳn là mất dấu. Tôi gặp người của ông và tôi không giữ bí mật – đúng ra – không giữ bí mật với ông...
- Ông gặp ai?
- Ông không biết sao?
- Tôi hỏi: ông gặp ai?
- Nếu thế tôi trả lời: Tôi gặp người tôi cần gặp.
- Thôi được... Ông không dự vào trò vui?
- Không!
- Tại sao?
- Nó không vui.
- Tốt lắm... Ba hôm nữa, tôi muốn gặp ông...
- Nếu tôi xếp đặt được thời khóa biểu.
- Tôi sẽ gọi lại. Hoặc ông gọi tôi. Chúc ông bình an!
Luân gác máy, ngồi cạnh Saroyan
- Em lo quá!
- Chưa có gì Saroyan phải lo. Nếu Jones Stepp hỏi, Saroyan cứ trả lời: tôi vừa gặp tướng Lâm và tôi không thích thú hành động của họ.
- Em nghe anh nói chuyện với John Hing vừa rồi... Liệu người ta sẽ đối xử với anh thế nào? Với Dung, với con...
Sau này, Saroyan dùng từ “con” để chỉ bé Lý, ngay cả nói chuyện với Thùy Dung.
Luân người đau khổ. Anh không trả lời Saroyan.
- Bất kể tình hình ra sao, không ai được đụng đến anh, đến nhà này...
Saroyan giọng dứt khoát. Dù đã nghe tiếng xe Dung gọi cổng, cô vẫn ôm đầu Luân và đằm thắm hôn lên mắt anh.
Dung vào nhà, ngồi sát Saroyan.
- Đừng khóc Saroyan... - Dung âu yếm, choàng vai Saroyan.
- Mình linh cảm có gì đó không ổn, Dung ạ...
- Nhưng, nếu Saroyan khóc thì chúng ta có vượt qua cái không ổn đó không?
- Mình không đủ sắc sảo như Dung và anh Luân của chúng ta...
- Tân Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia bận tíu tít... - Dung muốn xua tan không khí buồn, nói về công việc.
- Jones Stepp cũng bận tíu tít.
- Những người lo dàn cảnh bao giờ cũng bận khi vở tuồng chưa kéo màn. Khi kéo màn, họ chú ý đến diễn viên hơn là cảnh mà họ tốn công dàn dựng. – Luân nói, kiểu một triết gia.
- Em nghĩ giá mà anh, Dung và con đi nước ngoài một thời gian. Dung có thấy tóc anh Luân phàn bạc lấn phần đen không?
Saroyan vuốt tóc Luân.
- Sáng này, Dung đã khóc vì những sợi tóc bạc ấy! – Dung thú nhận.
- Ông Diệm, ông Minh, ông gì gì... anh quên đi...
Saroyan ngó Luân rồi Dung. Cô không tài nào hiểu họ.
- Trưa nay ta ăn cơm chung. – Saroyan nói như ra lệnh. Cô quay điện thoại:
- Hello! Jones đã về đấy hả? Em đang ở nhà vợ chồng anh Luân, trưa nay, Jones ăn một mình nhé!... Có, đợi một chút.
Saroyan trao máy cho Luân.
- Thưa tướng quân, tôi vừa gặp thiếu tướng Lâm... Thế à? Không, tôi muốn làm người quan sát... Chào tướng quân.
- Jones Stepp báo là đại sứ Taylor chờ biến cố như kẻ khát khô cổ chờ nước!
*
Một bộ tham mưu mới ra đời quanh tướng Nguyễn Văn Thiệu, nhân vật được Mỹ chọn lựa ngẫu nhiên lúc đầu, khẳng định về sau. Người phát hiện ra Thiệu, một nhân vật thuộc CIA - một nhân viên quèn. Trong cuộc đảo chính Diệm, tình báo Mỹ ngại Thiệu, sư trưởng sư đoàn bộ binh Nam Việt số 5 đóng cách Sài Gòn không xa, y ta theo đạo Thiên Chúa, nếu mang quân về “cứu giá” thì hỏng. Nhân viên tình báo kia lãnh nhiệm vụ lại trừ mối nguy hiểm này. Dự trù kinh phí khá lớn, nếu Nguyễn Hữu Có thất bại. Có thông báo: Thiệu sẽ ngả về phía nào ưu thắng. Nhân viên tình báo gặp Thiệu cùng đi với một gái điếm hạng sang. Thiệu như nuốt chửng cô gái điếm, được giới thiệu là vợ một trung úy sắp về dưới trướng Thiệu. CIA chỉ tốn không tới 2.000 dollar, Thiệu giao sư 5 cho người khác để trác táng suốt đêm ngày với cô gái điếm.
Từ ngẫu nhiên, CIA lần lần hiểu con vật họ sử dụng với giá rẻ mạt mang nhiều ưu điểm rất thích hợp đối với nghề buôn bán cả một quốc gia: Thiệu chẳng có lý tưởng gì ráo, hoặc có hai lý tưởng thiêng liêng nhất – tiền và gái; tuy là tín đồ Công giáo, Thiệu không tin cả Chúa, nếu cần bán Chúa cho một đêm ngủ với vợ người khác hấp dẫn về xác thịt, y sẵn sàng; thông minh, song chỉ vừa đủ để bày các trò vặt chứ không thể chống đối lại chủ; chẳng bạn bè tình nghĩa với bất cứ ai; tham gia đảng Đại Việt vì muốn dùng con đường đó mà leo cao, leo cao rồi đá đít luôn lãnh tụ; từng làm văn phòng Việt Minh huyện và mang luôn giấy tờ con dấu chạy sang quân đội Pháp; học trường Pháp nhưng chưa kịp thành trí thức đã tiêm nhiễm văn hóa Pháp; quê Ninh Thuận, lấy vợ Mỹ Tho, không lậm sâu một địa phương nào; thuộc lứa tạm gọi là trẻ; lính tẩy 100%, học trường võ bị Đà Lạt năm 1948, trường bộ binh ở Pháp và trường bổ túc Hà Nội, sau học trường quân sự Okinawa và Fort Bliss... So với Diệm, nhất định Thiệu dễ bảo một nghìn lần hơn; so với Dương Văn Minh, mồi nhử gì cũng nhử được Thiệu; so với Khánh, Thiệu láu cá hơn... CIA đã bỏ Thiệu và Nguyễn Thành Luân lên đòn cân. Tướng Maxwell Taylor thích Luân như thích một đồng nghiệp tài năng, tài trí, nhưng số đông tình báo lắc đầu; sử dụng Luân là một mạo hiểm vì chưa biết ai sử dụng ai... Vả lại, thời kỳ tạo một thủ lĩnh tầm vóc đã qua, bây giờ, Mỹ cần một tay sai, đúng với nghĩa trắng của từ tay sai. Với tính ma cô ma cạo, tính hiếu dâm và ham tiền – nói chung, tính hạ cấp ở một sĩ quan cao cấp – Thiệu rơi vào vòng tay CIA mặc dù Thiệu ảo giác chính các cô gái rất thành thạo trò e lệ rơi vào vòng tay y. Để sửa soạn con bài thật chắc chắn – Mỹ đau đầu với Diệm, với Minh và đang khổ sở vì Khánh – mũi đột kích chĩa vào vợ Thiệu. Cũng không khó khăn lắm khi một nhân viên tình báo hạng trung, người Mỹ gốc Ý, trở thành người yêu của vợ Thiệu: sau mỗi cuộc làm tình, vợ Thiệu tặng anh ta một sợi tóc. Và vào lúc này – cuối năm 1964, không thể đếm bao nhiêu sợi trong chiếc bình mà anh ta được lệnh giữ thật kỹ, thật mật, như giữ sinh mệnh của anh ta.
Bộ tham mưu riêng của Thiệu họp. Khá nhiều mưu sĩ. Họ đang nghiên cứu tỉ mỉ nguồn tin về cuộc đảo chính sẽ nổ ra trong ngày một ngày hai...
- Chúng ta chờ đợi... - Nhóm mưu sĩ hiến kế với Thiệu.
- Tướng Khánh sẽ phản ứng. Và, tướng Khánh là nấc thang mà anh phải đạp lên – đạp lên lưng hay lên đầu, tùy anh – để anh trèo đến chỗ mà anh phải tới... - Một mưu sĩ kết luận như vậy.
- Điều tối quan trọng là đừng để tướng Khánh bị bắt hay bị bao vây. Kinh nghiệm vụ Hiến chương Vũng Tàu cho thấy Khánh kém kiên định.
Gợi ý của một mưu sĩ khác được Thiệu khen và Thiệu gọi điện lên Đà Lạt cho Khánh:
- Anh khoan về Sài Gòn...
- Tại sao?
- Anh sẽ biết ngày mai... Tôi tha thiết mong anh nghe lời tôi.
- Được! Tôi nghe anh...
Đó là buổi chiều ngày 12-9-1964, thứ bảy.

CHƯƠNG 16

Sáng 13-9, Sài Gòn một lần nữa báo động mặc dù tin đảo chánh lan truyền trước đó trong các giới tại các điểm tụ họp, ngay quán cà phê.
Những đơn vị bộ binh di chuyển trên các xe vận tải lớn theo ngã Phú Lâm ụp vào thành phố với một số xe thiết giáp hạng nhẹ và xe kéo pháo.
Trong vòng một tiếng đồng hồ, quân đảo chính chiếm gọn các điểm chủ chốt từ Gia Định sang trung tâm Sài Gòn, kể cả Phủ Thủ tướng, Đài Phát thanh, các bộ, tòa đô chính và tòa tỉnh trưởng Bà Chiểu, Nha cảnh sát đô thành, Sở Bưu điện...
Mới có 10 tháng, ba cuộc đảo chính...
Dân chúng mở đài. Không ai hy vọng một cái gì đảo lộn ghê ghớm sẽ xảy ra nhưng tính hiếu kỳ thúc giục dân chúng. Và, “Hội đồng quân dân cứu quốc” lên tiếng:
“Hỡi quốc dân đồng bào!
Hỡi các chiến hữu trong quân lực Việt Nam Cộng hòa!
Kể từ sau chính biến 1-11-1963, nhất là sau mưu đồ bội phản ngày 30-1-1964, Việt Nam Cộng hòa rơi vào cơn hỗn loạn, trật tự kỷ cương đảo lộn, uy quyền quốc gia lung lay, sự nghiệp chống Cộng suy yếu. Tại sao? Tại sao sau bao nhiêu xương máu đổ ra vì sinh tồn của đất nước mà rốt cuộc chúng ta chuốc lấy cảnh đồi bại nhục nhã như vậy? Tại sao vô số nhà ái quốc nhiệt thành không được trọng dụng, các cơ quan quân đội và chính phủ chỉ dung nạp kẻ bất tài, thất đức? Tại sao trước mặt các bạn đồng minh, Việt Nam Cộng hòa trở nên sân khấu để vài phần tử tham quyền cố vi múa rối, làm trò hề, khiến quốc thể bị khinh miệt? Hỏi tức là trả lời. Tất cả chỉ vì Nguyễn Khánh, một phần tử cặn bã lợi dụng tình hình, xảo trá lừa mị đồng bào và chiến hữu, xuyên tạc sự thật, thông báo sai lạc diễn tiến ở Việt Nam Cộng hòa với các đồng minh, cốt thực thi chế độ độc tài, ngõ hầu thỏa mãn tham vọng cá nhân ích kỷ.
Một lần nữa, quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng quốc dân đồn bào phải đứng lên hành động cứu quốc. “Hội đồng quân dân cứ quốc” long trọng tuyên cáo.
Một, kể từ hôm nay, 13-9-1964, “Hội đồng quân dân cứu quốc” đảm đương mọi trách nhiệm đối nội vào đối ngoại của Việt Nam Cộng hòa, là cơ quan quyền lực tối cao nhất về chính trị, hành chính và quân sự.
Hai, giải tán chính phủ Nguyễn Khánh, ra lệnh cho Nguyễn Khánh phải trình diện trước Hội đồng trong vòng 12 tiếng đồng hồ.
Ba, Hội đồng hợp tác với Ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực, với Thượng hội đồng quốc gia để sớm có những thể chế và cấu trúc dân chủ phù hợp với lòng dân và nhu cầu bảo vệ Việt Nam Cộng hòa.
Bốn, Hội đồng kiên quyết đối phó với bất kỳ ai ngăn cản bước tiến của cách mạng đồng thời mong mỏi cuộc cách mạng diễn ra không đổ máu. Hội đồng tin tưởng vào lòng yêu nước, yêu chính nghĩa của tướng lãnh, đô đốc, sĩ quan và binh sĩ trong tất cả binh chủng Việt Nam Cộng hòa, tin tưởng sự sáng suốt của các nhân sĩ trí thức và các vị lãnh đạo tinh thần tôn giáo cùng toàn thể dân chúng không phân biệt tín ngưỡng hay giai tầng.
Năm, Hội đồng cam kết tôn trọng quyền lợi của các giới đồng bào, nghiêm cấm các hành động xâm phạm tự do và tài sản công dân. Ai vi phạm sẽ bị nghiêm trị theo luật lệ thời chiến.
Sáu, Hội đồng cam kết tôn trọng các hiệp ước đã ký với đồng minh.
Bảy, tạm thời ban bố tình trạng giới nghiêm trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa.
Tám, Hội đồng triệu tập ngay ngày hôm nay hội nghị các tướng lãnh, đô đốc, tại Tổng hành dinh của Hội đồng đặt tại Phủ Thủ tướng.
Hỡi quốc dân đồng bào!
Hỡi binh sĩ Việt Nam Cộng hòa!
Đất nước lâm nguy vì tên độc tài Nguyễn Khánh. Hội đồng quân dân cứu quốc kêu gọi tất cả siết chặc hàng ngũ quanh Hội đồng để hoàn thành nghĩa vụ cao cả mà lịch sử giao phó cho chúng ta.
Sài Gòn, 9 giờ sáng ngày 13-9-1964
Thay mặt Hội đồng quân dân cứu quốc.
Trung tướng DƯƠNG VĂN ĐỨC
Thiếu tướng LÂM VĂN PHÁT”
Một vài tờ báo ra số đặc biệt phát hành vào giữa trưa đăng tít to về cuộc đảo chánh và tuyên cáo của Hội đồng quân đân cứu quốc. Tất nhiên, báo bán chạy nhưng so với sự cố ngày 1-11-1963 dư luận không vồn vã bởi nhiều nhất nó cũng ngang cuộc “chỉnh lý” của Nguyễn Khánh, hoặc cứ diệu võ giương oai của của Nguyễn Văn Vĩ thời kỳ Ngô Đình Diệm – Bình Xuyên xung đột. Chưa chắc đã bằng Nguyễn Chánh Thi.
Nguyễn Thành Luân tiếp nhận tin đảo chính với thái độ bực dọc. Tuyên cáo bộc lộ điểm yếu của tướng Dương Văn Đức và Lâm Văn Phát: một cuộc trả thù trả oán cá nhân.
Kể ra, lực lượng của nhóm đảo chính cũng không mỏng lắm. Ngoài quân của quân đoàn 4, họ còn được một số đơn vị thuộc quân đoàn 3 hỗ trợ. Nhưng họ đã để sổng Nguyễn Khánh, không chiếm bộ tổng tham mưu và bộ tư lệnh không quân: về chính trị, họ không dám kêu gọi dân chúng xuống đường mà dầu kêu gọi vị tất đã có việc xuống đường bởi khẩu hiệu của họ lờ mờ quá – và hạn không chịu đưa tướng Dương Văn Minh lên vị trí “minh chủ”.
Luân biết rằng, anh không thể can thiệp nổi và khi mà sự thất bại của cuộc đảo chính không sao tránh khỏi, anh đành bó tay ngồi nhà, thậm chí e ngại tướng Đức hoặc tướng Phát gọi điện cho anh – nhất định tình báo Mỹ kiểm soát chặt chẽ đường dây liên lạc của anh.
Rồi, điện thoại vẫn reo.
- A lô! Tôi nghe đây...
- Có phải đại tá Nguyễn Thành Luân không?
- Phải...
- Tôi xin tự giới thiệu: người phát ngôn của Hội đồng quân dân cứu quốc...
- Ông cần chi ở tôi?
- Các vị tướng trong Hội đồng mời ông đến Tổng hành dinh...
- Tôi phải trình diện, đúng không? Nếu thế, xin tống đạt văn thư đến.
- Không phải! Đâu có chuyện đại tá trình diện, Hội đồng muốn trao đổi tình hình với đại tá...
- Tôi không có gì để trao đổi cả!
- Có chứ! Tiếp tục những lần các vị gặp nhau mà chưa đi đến kết luận... Cánh nhà binh đã hoàn thành nhiệm vụ, bây giờ, xin đại tá vào cuộc...
- Ông càng nói, tôi càng không hiểu...
- Ông có muốn trực tiếp nói chuyện với tướng Dương Văn Đức hoặc Lâm Văn Phát không?
- Tôi chẳng thấy cần thiết...
- Chẳng lẽ ông quên mối thù cũ?
- Mối thù nào?
- Ông là người thuộc gia đình cụ Ngô...
- Tôi chưa phủ nhận lần nào về mối quan hệ đó...
- Ông là người lãnh đạo của đảng Cần Lao...
- Tôi xin hỏi: Ông là ai?
- Tôi à... Trung tá Lê Đạo...
- Trung tá Lê Đạo? – Luân cau mày – À! Nguyên trưởng an ninh quân đội sư đoàn 13...
- Đại tá có trí nhớ tốt. Bây giờ, đại tá có thể đến chỗ chúng tôi không?
- Như tôi đã trả lời: Không!
- Tại sao? Đây là việc chúng ta cần bàn... Không phải tôi trực tiếp, song đại tá và tướng...
- Xin phép ông nhé!
Luân cắt máy. “Trò khêu khích!”. Tên Lê Đạo này chắc chắn không liên quan đến các tướng đảo chính.
Chuông điện thoại lại reo. Luân mặc kệ. “Tiếp tục trò khêu khích!”. Nhưng hết đợt này đến đợt khác, chuông reo liên tục. Cuối cùng. Luân nhấc máy, giọng cáu:
- Gì vậy?
Và anh cười liền: Dung gọi anh.
- Anh yêu!... Mấy ông tướng trời đất quấy rồi an ninh... Anh không đi đâu chứ?
- Không... Chỗ em yên không?
- Chưa thấy mấy ông đảo chính lò mò tới. Cổng Nha đóng... Đại tá Sanh, tổng giám đốc, điều mấy tiểu đoàn cảnh sát chiến đấu sẵn sàng nổ súng...
- Tốt! Em cẩn thận nhé...
Luân hiểu cú điện thoại của Dung không cốt thông báo những chuyện vặt ấy với anh, mà cốt để cho tình báo Mỹ nghe...
Và, điện thoại lại reo. Lần này John Hing nói chuyện với Luân.
- Hello! Đại tá đang làm gì đấy?
- Đang uống và đọc tiểu thuyết!
- Đọc một tác phẩm phiêu lưu nào đó phải không?
- Nếu thích phiêu lưu thì tôi không ngồi đọc sách!
- Tại sao ông không dự vào trò chơi này?
- Tôi không thích “trò chơi”!
- À, ông thích làm thật...
- Đúng, nếu tôi hành động thì dứt khoát không phải trò chơi...
- OK! Tôi vừa thích trò chơi vừa thích trò thật... Chúc đại tá uống một mình và giải buồn với một nhà văn giàu tưởng tượng.
Nhưng Luân không uống và không đọc. Anh nghĩ cách liên lạc với tướng Lâm, phải cứu vãn tình thế, phải bảo tồn lực lượng. Liên lạc bằng cách nào?
Luân, cuối cùng tìm được lối ra. Anh ngồi vào máy, đánh một thư:
“Anh Lâm,
Việc làm của các anh sẽ mang hậu quả nghiêm trọng cho bản thân các anh. Tôi đề nghị các anh mời tướng Big Minh phát biểu trên đài, kêu gọi không xung đột và nhận đứng ra giải hòa với các điều kiện: không ai được trả thù và quân ở đâu, về đó, cương vị vẫn như cũ. Đã không thể hành động mạnh mà cứ chần chờ, các anh tự trói mình... Mong anh hiểu. Không có hai khả năng. Các anh không dựa được vào dân, không hướng cho binh sĩ các nơi phải làm gì thì đến lúc các anh phải tính mình phải làm gì để không bị mất sạch.”
Thư không ký tên.
Luân gọi điện cho Saplen, nhà báo Mỹ ở khách sạn.
- Ồ! Đại tá... Tôi đang cùng cô Fanfani ngồi chờ tin... Cô Fanfani đánh cuộc với tôi là đại tá không ra khỏi nhà. Đúng không? Tôi muốn phỏng vấn đại tá về tình hình hiện nay... Thú thật, tình hình hơi khó hiểu...
- Phỏng vấn? Danh từ to tát quá. Tuy nhiên, tôi có thể nói vài suy nghĩ cá nhân, nếu ông bằng lòng với sự vô vị của những ý kiên mà ông sẽ nghe...
- Tôi sẽ đến! Và, tôi không rủ Fanfani cùng đi để bài của tôi thuộc loại “exclusive” (1)...
- Tôi chỉ ngại ông thất vọng. Một bình luận viên tồi về sự kiện cũng tồi tương ứng!
Saplen đến. Họ quen nhau và Luân hiểu nhà báo Mỹ này chơi thân với các tướng Việt Nam Cộng hòa.
- Tôi muốn tránh một tai họa! – Luân nói thẳng.
- Tôi cũng cảm giác các bạn tôi chọn không đúng thời cơ. – Saplen đồng tình – Và, hành động rụt rè quá...
- Rụt rè mà thiếu khôn ngoan...
- Rất đúng. Mấy gã CIA quen với tôi nhún vai: CIA chờ cái gì dữ dội hơn...
- Tướng Westmoreland chưa tỏ thái độ...
- Ông ta đang xem cuộc đua ngựa để chọn con ngựa mà ông tính có thể đánh cuộc không bị thua...
- Tôi cho rằng đại sư Taylor cũng như thế...
- Tất nhiên!
Luân trao mảnh giấy đánh máy cho Saplen, dịch cho ông hiểu và nhờ ông chuyển tận tay tướng Lâm.
- Được thôi. Tôi là nhà báo. Tôi xin gặp Hội đồng để lấy tin.
Mãi đến 2 giờ chiều, đài phát thanh quân đội mới đọc một lệnh ngắn của đại trướng Trần Thiện Khiêm: Các binh chủng không được theo phe đảo chính.
Sự chần chờ đó còn sớm hơn phát biểu của tướng Nguyễn Khánh trên Đà Lạt: 4 giờ 30. Tướng Khánh dùng từ phản loạn để chỉ hành động của tướng Đức và Phát.
Vợ chồng Luân ăn cơm chiều như thường lệ. Không đợi vợ báo, Luân cũng biết sinh hoạt đường phố bình thường, trừ các xe thiết giáp đậu tại các ngả giao thông quan trọng mà binh sĩ rõ ràng chẳng hiểu họ đang làm gì...
Báo buổi chiều đăng cuộc phỏng vấn của tướng Dương Văn Đức lẫn lệnh của tướng Khiêm và phát biểu của tướng Khánh.
- Thật phí! – Luân buôn thõng câu nói mà Dung hiểu.
Tờ báo trước mặt họ. Dung đọc các câu trả lời của tướng Dương Văn Đức với nhà báo Mỹ Saplen.
Saplen: Thưa trung tướng, đây là một cuộc đảo chính?
Tướng Đức: Không!
Saplen: Thế nó là cái gì?
Tướng Đức: Một cuộc biểu dương lực lượng...
Saplen: Mục đích của cuộc biểu dương lực lựong?
Tướng Đức: Để bảo vệ uy tín của chính phủ và quân đội...
Saplen: Tại sao phải bảo vệ uy tín bằng cách kéo quân về thủ đô, chiếm các cơ quan và thôi, không làm gì cả?
Tướng Đức: Uy tín chính phủ và quân đội xuống thấp do tướng Nguyễn Khánh dàn dựng các tấn tuồng mà mọi thứ trở thành đồ chơi của ông ta. Chúng tôi phải cho ông ta biết rằng quân đội là quân đội, rằng chúng tôi không phải trẻ con, rằng chúng tôi có thể thay đổi tình thế nếu ông ta không biết thân phận minh. Nếu chúng tôi đảo chính thì đã bắt ông ta rồi...
Saplen: Nhưng các ông tuyên bố giải tán chính phủ, tự xem Hội đồng cứu quốc như cơ quan quyền lực và đòi tướng Khánh phải ra trình diện...
Tướng Đức: Thời giờ này tuyên cáo của chúng tôi vẫn giữ nguyên hiệu lực!
Saplen: Ngoài ra, các ông còn có ý định gì nữa?
Tướng Đức: Chúng tôi phản đối việc trả tự do cho các tướng Kim, Đôn, Xuân, Đính...
Saplen: Các ông đã bắt các tướng ấy?
Tướng Đức: Chưa!
Saplen: Chưa, có nghĩa là sẽ bắt hoặc có thể bắt?
Tướng Đức: Khi cần...
Saplen: Trung tướng có thấy mâu thuẫn trong lập luận của trung tướng không? Tướng Khánh bắt giam các tướng có công lật đổ ông Diệm, trung tướng kết án tướng Khánh là bội phản, mưu mô và đồng thời phản đối sự trả tự do cho các tướng bị tướng Khánh bắt... Vậy, Hội đồng cứu quốc có thái độ như thế nào với tướng Big Minh?
Tướng Đức: Chúng tôi tôn trọng tướng Dương Văn Minh.
Saplen: Nếu đòi hỏi các ông không được tướng Khánh thỏa mãn, các ông sẽ làm gì?
Tướng Đức: Chúng tôi bắt buộc ông ta phải thỏa mãn!
Nhà báo Mỹ không bình luận thêm một đoạn nào, song cuộc phỏng vấn đủ để Luân thở dài liên tục...
- Jones Stepp có gọi điện cho anh không? – Dung hỏi.
- Không... Hình như ông ta và Saroyan đi vắng.
- Em quên, Saroyan báo là họ đi nghỉ đâu đó... Nhưng nếu có ở nhà, Jones Stepp cũng chưa lên tiếng đâu.
Luân gật đầu: Người Mỹ chờ liều lượng mà quân đảo chính cho thấy. Cuộc đảo chính cần cho họ ở một mức độ nhất định.
- Tận bây giờ, một ngày qua rồi, chính phủ Mỹ, đại sứ quán Mỹ không đưa ra lời bình luận nào. Tính chất khá bình thường đó nói lên nhiều điều... Ở Tổng nha, đại tá Sanh giàn giá thế thôi... Kiểu đảo chính Thái Lan mà!
- Nhưng, em nên nhớ, hậu trường đang bận rộn. Lê Đạo thăm dò anh...
- Lê Đạo nào?
- Em quên vụ sư đoàn 13, vợ chồng Phan Cao Tòng sao?
- À... Gã báo cáo láo trận Trảng Sụp...
- Gã hỏi anh sao không nhân thời cơ này trả thù cho ông Diệm và khôi phục ảnh hưởng đảng Cần Lao.
- Gã này không dính đám đảo chính.
- Vậy mà gã mời anh đến đại bản doanh của tướng Đức!
- Gã phịa đấy! Có khi từ cơ quan tình báo Mỹ, gã gọi anh...
- Chẳng “có khi” gì cả, đúng là gã ngồi trong phòng Phân cục tình báo nói chuyện với anh. Bởi vì sau đó. John Hing nói chuyện với anh...
- Anh Lâm chắc hiểu ý anh, song em nghĩ là anh ấy không làm được điều cần làm. Không có hai khả năng. Đúng. Các anh vẫn có thời gian và vẫn còn thời gian, nhưng em cảm thấy các cố vấn Mỹ kèm cả tướng Đức lẫn anh Lâm chặt quá... Họ chỉ cần kêu gọi dân chúng một tiếng, chỉ cần bám chặt lý do khôi phục ý nghĩa của cuộc lật đổ ông Diệm, tố cáo thật đậm hành động cướp công của Khánh thì sự thể khó mà biết sẽ chuyển biến ra sao...
Luân ngó vợ, buồn rầu:
- Giá anh hay em ở trong bộ tham mưu của họ...
- Người của ta hẳn quan hệ với anh Lâm, song...
- Ảnh hưởng gia đình có giới hạn. Anh Lâm chưa đủ hiểu biết để hành động có lợi nhất. Anh chỉ mong các anh ấy đừng bộc lộ hết lực lượng. Dù sao, một bộ phận Mỹ bày ra trò này, tự nó mang đến một số hậu quả khó tránh, tức sự rạn nứt trong quân lực, trong các tướng, thêm nhiều người bất mãn. Đó là việc mà anh và em phải nghiên cứu kỹ.
Trời tối hẳn, xe cộ ngoài đường vẫn không thưa. Đài phát thanh Sài Gòn tiếp tục đọc tuyên cáo của Hội đồng cứu quốc và đài phát thanh quân đội tiếp tục đọc lệnh của tướng Khiêm và tuyên bố của tướng Khánh, đài nào cũng chen kẽ bằng các bài hành khúc.
Dung tìm đài VOA. Đài đưa tin ngắn về tình hình Sài Gòn: một vụ chống đối tướng Nguyễn Khánh. Sau tin ngắn đài VOA đọc cuộc phỏng vấn tướng Dương Văn Đức của nhà báo Saplen có minh họa bằng vài đoạn văn ghi âm và cuối bản tin, bài viết của Saplen về Luân:
“Khi nghe tin đảo chính, một trong những người mà tôi muốn gặp ngay là đại tá Nguyễn Thành Luân. Tại sao ông ta không ít nhất cũng là thành viên trong ban lãnh đạo đảo chính? Và nhiều bạn nhà báo lẫn giới ngoại giao cùng sống chung trong khách sạn với tôi đo đạc tầm vóc của các sự kiện giật gân bằng đơn vị đo đơn giản: Đại tá Luân tham gia hay không? Một cô nhà báo, bạn thân của đại tá cam đoan rằng đại tá đang đứng ngoài vòng. Và, chúng tôi mất hứng thú.
Từ khách sạn Majestic, xe tôi qua vài đường phố lớn, binh sĩ đảo chính có vẻ làm chủ không khó khăn gì thủ đô Nam Việt, mặt khác, nếu đài không đọc tuyên cáo của quân đảo chính, tôi cảm nhận thành phố thanh bình hơn bao giờ hết! Những cô gái áo dài tha thướt hoặc quần jean áo pull cười khúc khích mỗi khi họ nghe tiếng huýt sáo trêu chọc từ trên các xe thiết giáp...
Đại tá Luân đón tôi tại nhà riêng, trong bộ thường phục. Có vẽ ông quan tâm mấy chậu hoa hồng hơn là cuộc đảo chính.
Với nụ cười hơi chế nhạo, ông ta hỏi tôi:
- Nên gọi sự việc đang diễn ra bằng cái tên gì cho chính xác?
Tôi không thể thực hiện điều tôi muốn vì ông Luân bàn quang.
- Tại sao? – Tôi hỏi ông.
- Tại vì tôi không phải là con bù nhìn múa may theo người điều khiển...
- Nếu ông chủ xướng và chủ động thì sao?
Ông lại cười:
- Câu hỏi quá sớm. Tôi không thể trả lời khi những điều kiện bắt buộc tôi hành động chưa hiện ra...
- Liệu chúng có thể hiện ra gì không?
Đại tá nhún vai:
- Tôi chưa bao giờ hành nghề thầy bói!...”
... Dung cười thật vui:
- Anh nói với Saplen như thế?
- Ông ta tưởng tượng ra thôi... Nhưng, chúng ta phải cảm ơn ông ta.
*
Cuộc đảo chính kết thúc, quân của tướng Đức rút khỏi thành phố. Không vấp phải trở ngại gì khi vào cũng như ra. Bấy giờ, Bộ ngoại giao Mỹ mới cho phát bản tuyên bố ngắn gọn: chính phủ Mỹ vẫn ủng hộ chính phủ Nguyễn Khánh – một tuyên bố che giấu sự chiếu lệ của nó.
Hai ngày sau, Nguyễn Khánh về Sài Gòn, ra lệnh điều tra cuộc đảo chính và cách chức trung tướng Dương Văn Đức, thiếu tướng Lâm Văn Phát, thiếu tướng Dương Ngọc Lắm, đại tá Huỳnh Văn Tồn, trung tá Dương Hiếu Nghĩa cùng một số người khác. Vài nhóm sinh viên tập họp dưới khẩu hiệu: Đả đảo bọn Cần Lao ngóc đầu dậy.
Tuy mọi việc có vẻ nhanh chóng đi vào quên lãng, Nguyễn Khánh lại cảm nhận mối đe dọa vị trí của anh ta tăng lên. Trong hàng ngũ sĩ quan cấp tướng, khi Khánh từ Đà Lạt về, không ai tỏ ra vui mừng, hình như họ bực tướng Dương Văn Đức đã do dự...
Biến cố của tướng Dương Văn Đức vừa tạm lắng – quyết định cách chức một loạt tướng và sĩ quan cao cấp mang ý nghĩa hình thức nhiều hơn, bởi vì không ai trọng bị bắt và có lẽ không dễ bắt họ nếu tướng Khánh không muốn đưa cuộc đảo chính thẳng thừng mà lần này, chưa hẳn Mỹ do dự bật đèn từ vàng sang xanh – thì cú đánh thứ hai khá nặng tay vào quai hàm tướng Khánh: Lực lượng đặc biệt người Thượng nổi loạn ở đồn Sapar.
Lực lượng đặc biệt một đồn trên cao nguyên Ban Mê Thuột xa xôi kia lại gây hốt hoảng cho Nguyễn Khánh hơn cả một vài dòng thời sự mang tầm vóc lớn: Hội đồng nhân dân cứu quốc thành lập ở Huế, nói là để ưu tiên bài trừ dư đảng Cần Lao, đòi cách chức Viện trưởng đại học Cao Văn Luận nhưng bên trong có trời mới biết ý định thật sự và lâu dài của họ là gì; trận bão lụt tệ hại hủy hoại cả dải miền Trung từ Huế, Đà Nẵng đến Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, nước dâng cao và cuốn sạch mùa màng, nhà cửa, vườn tược... gây đổ nát và giết chết nhiều người; vịnh Bắc Bộ sôi sục trở lại với các chạm trán giữa tàu tuần Bắc Việt và chiến hạm Mỹ; chiến sự vụt gia tăng khắp các vùng v.v...
Nguyễn Khánh có lý do để hốt hoảng. Trại Sapar do người Mỹ phụ trách, nói trắng ra, do CIA chi tiền và cử huấn luyện viên; họ chiếm đài phát thanh, nêu yêu sách tự trị cho người Rađhê trên một vùng rộng và để làm áp lực cho yêu sách, họ giữ 60 con tin là sĩ quan người Kinh.
Mối nguy hiểm không phải ở chỗ người Thượng nổi loạn, ở chỗ chiếm đài phát thanh Ban Mê Thuột, thậm chí yêu sách tự trị, càng không phải sinh mệnh 60 sĩ quan. Thêm một bằng chứng nữa về thái độ khó hiểu của người Mỹ đối với Nguyễn Khánh dù cho chỉ mới 60 ngày trước đó, Bộ Ngoại giao Mỹ nhắc lại cam kết ủng hộ chính phủ Nguyễn Khánh.
Trưa ngày 20, điện khẩn cấp ở Tư lệnh vùng 2 báo về sự kiện đồn Sapar đến tay Nguyễn Khánh. Ngôn ngữ của điện mật bao giờ cũng ngắn gọn: Vào 6 giờ 10 phút, lực lượng đặc biệt thuộc trại Sapar bắt giam 60 sĩ quan người Kinh trong lễ chào cờ sáng. Sau đó, họ chia làm nhiều tốp, trang bị súng tiểu liên, sử dụng xe bọc thép, chiếm các ngả ra vào thị xã và trung tâm thị xã, chiếm đài phát thanh, công bố yêu sách thành lập vùng tự trị Rađhê, mang tên trung tá Y Nouth, tư lệnh lực lượng đặc biệt. Quận trưởng Buôn Hồ Ymơ Eban chắc chắn hậu thuẫn cho nhóm này. Đại tá Đoàn Chí Khoa, chỉ huy bảo an tỉnh, người Chàm, im lặng. Xin cho lệnh ngay...
Nguyễn Khánh lặng người trước bức điện. Tướng tư lệnh vùng đóng ở Pleiku, hẳn nhận tin của một trung đoàn nào đó từ Ban Mê Thuột...
Tướng Trần Thiện Khiêm điện thoại cho Khánh – tin của Bộ quốc phòng không hơn báo cáo của vùng II lấy một chi tiết.
- Anh ra lệnh gì chưa? – Khánh hỏi.
- Tôi chờ ý anh... - Khiêm trả lời.
- Anh đã thông báo với tướng Westmoreland chưa?
- Đã... Và có người thông báo trước cho Bộ chỉ huy Mỹ rồi...
- Ai?
- Tướng Nguyễn Văn Thiệu!
- Lạ quá, sao ông Thiệu biết trước cả anh và tôi?
- Chỉ có ông Thiệu mới trả lời nổi câu hỏi đó!
- Bây giờ ta phải làm gì?
- Tôi chờ ý anh... - Khiêm lập lại.
- Tôi muốn biết ý anh...
- Tôi chỉ có thể nêu ý của tôi sau khi nghe ý của tướng Westmoreland...
- Tướng Westmoreland đã có ý kiến gì chưa?
- Ông ấy bảo đợi báo cáo của trung tá James Casey, người trực tiếp phụ trách đoàn sĩ quan huấn luyện Mỹ...
- Tôi phải làm gì?
- Anh hỏi một câu mà anh thừa biết tôi không thể trả lời vì anh chớ không phải tôi là thủ tướng.
- Hay là tôi liên lạc với đại sứ Taylor?
- Đó là chuyện của anh...
- Trước mắt, anh điện cho tư lệnh vùng, khoan có hành động gì cả...
- Nếu quân đội bị tấn công thì sao?
- Cố gắng tránh nổ súng...
- Tôi sẽ truyền đạt ý của anh như là mệnh lệnh. Có cần cho máy bay trinh sát thu nhập tình hình không?
- Tùy anh. Nhưng đừng gây căng thẳng... Tình báo quân sự của ta không nắm được chút gì triệu chứng vụ này?
- Chẳng có... Chính anh vừa rời Đà Lạt cách nay ba hôm thôi...
- Thôi được...
Khánh xin nói chuyện với đại sứ Taylor. Vẫn cô thư ký đỏng đảnh tiếp điện và vẫn rơi vào đúng giờ Taylor đang chơi cờ...
---
(1) độc nhất

CHƯƠNG 17

Luân nghe điện thoại của Dung: Anh rà đài Ban Mê Thuột, có việc đấy!
Lọc qua các làn sóng, cuối cùng rồi Luân nghe được đài Ban Mê Thuột. một người nào đó đang đọc một đoạn bằng tiếng Rađhê, Luân không hiểu. Anh chờ. Hết phần tiếng Rađhê, sau một bản hành khúc ngắn, đài phát tin tiếng Anh. Tất nhiên, đây là điều khá lạ lùng – chưa bao giờ đài địa phương có buổi phát tiếng Anh. Giọng xướng ngôn viên đúng là người Rađhê, toàn văn bản tuyên cáo của “lực lượng tự trị người Rađhê ở Nam cao nguyên Trung phần”:
“Dân tộc Rađhê sinh trưởng và làm chủ vùng cao nguyên Đăklăk từ rất xa xưa. Thế nhưng, mảnh đất do tổ tiên chúng ta khai phá thu hẹp dần, chúng ta phải đi sâu vào những nơi không có điều kiện sống, dân tộc chúng ta bị việt vong. Chế độ Ngô Đình Diệm bóc lột chúng ta. Chế độ của ông Nguyễn Khánh chẳng tốt đẹp gì hơn. Người Rađhê không thiếu trí thức, không thiếu sĩ quan có tài, vậy mà chúng ta luôn bị chèn ép. Người Mỹ đã kịp đến với chúng ta. Họ viện trợ cho chúng ta tất cả, gạo, muối, vải, máy điện, thuôc men. Nhưng chúng ta nhận rất ít sự viện trợ rộng lượng ấy. Các vị linh mục Tin lành của chúng ta không được tự do đi lại để giảng đạo. Người Rađhê trong quân đội, gan dạ và mưu trí, được huấn luyện tốt về làm tham mưu và chỉ huy, chưa ai được đề bạt cương vị cao, chỉ là lính đánh thuê cho người Kinh.
Phải chấm dứt nỗi bất công trên.
Chúng tôi, sĩ quan và binh sĩ Sapar, thể có Chúa Trời chứng giám, quyết không tiếc máu của mình, đòi chính phủ ông Nguyễn Khánh phải tiến hành thương lượng, trong đó, phải thỏa mãn đòi hỏi thiêng liêng của dân tộc Rađhê là để cho người Rađhê làm chủ vùng đất Đăklăk là xứ sở của mình, trong khuôn khổ liên bang với Việt Nam Cộng hòa. Quan cai trị nơi đây phải là người Rađhê và do hội đồng tự trị Rađhê đề cử và bổ nhiệm, quân đội người Rađhê thì sĩ quan phải là người Rađhê và chỉ hoạt động trên địa bàn của tỉnh Đăklăk, mở trường đại học cho người Rađhê.
Chúng tôi tin rằng các dân tộc bạn Sêđăng, Bana, Mơnông v.v... ủng hộ chúng tôi bởi vì chúng tôi đấu tranh cho cả quyền lợi các bạn, chúng tôi muốn luôn luôn là thân hữu của người Kinh và long trọng tuyên bố sẽ không bao giờ có một hành vi kỳ thị nào với các bạn trên địa bàn Đăklăk.
Chúng tôi kêu gọi người Mỹ, ân nhân lớn của chúng tôi, ủng hộ yêu sách khiêm tốn mà rất chính đáng trên. Chúng tôi kêu gọi cộng đồng thế giới chú ý đến số phận của chúng tôi. Chúng tôi kêu gọi Hội thánh Tin Lành thế giới và nước Mỹ theo lời dạy của Chúa cao cả đứng bên cạnh chúng tôi.
Chúng tôi tạm giữ 60 sĩ quan và không hề ngược đãi họ, để đề phòng sự tráo trở của chính phủ ông Nguyễn Khánh
Đăklăk, ngày 20 tháng 9 năm 1964
Trung tá Y Nouth”
Sau phần tiếng Anh, đài phát thanh tiếng Pháp, một số ngữ có lẽ là Sêđăng, Bana – Luân không rõ – rồi tiếng Việt.
“Màn này vừa hạn, màn kia đã vén... Tấn bi kịch quả dồn dập”. Luân trầm ngâm với các suy nghĩ.
Hôm qua, thiếu tướng Lâm Văn Phát gửi cho Luân một thư, công nhận việc làm của anh ta ấy nửa vời, bỏ lỡ thời cơ nhưng cho biết “đây chỉ là một keo, một khúc dạo đầu” hy vọng sau này sẽ bàn kỹ với Luân, “trên một tầm chính trị rộng hơn, với yêu cầu liên quan đến vận nước chứ không chĩa vào vài cá nhân, nhất là loại cá nhân thực tế sẽ bị Mỹ loại bỏ chẳng bao lâu nữa”
- Anh ta đĩnh đạc dần! – Luân kết luận và đốt bức thư của Lâm.
Luân cũng được thư của Nguyễn Thành Động:
“Tụi ông Đức, ông Lâm “chọc cứt không nên lỗ”, “vừa địt vừa run” thì ra cái con mẹ gì! Trong đội ngũ lại tạp nham đủ thứ tào lao... Nói thiệt, ai cũng trông chờ đại tá! Làm một phát ra hồn coi! Hễ phất cờ thì kêu gọi thanh niên xuống đường, mà cũng mí mí cho thấy mình không ưa Mỹ... Thằng Động này bàn những việc này với đại tá chẳng qua là đụng đâu nói đó, đại tá là sư phụ của tụi này. Vừa gặp thằng Phụng nó chửi ông Đức, ông Lâm tàn tệ...”
“Vẫn còn lực lượng, vẫn còn người dám hành động. Động bạt mạng song có suy nghĩ...”
Luân đang đốt thư Động thì chuông điện thoại reo: Thủ tướng Nguyễn Khánh mời Luân vào ngay Phủ Thủ tướng.
Nguyễn Khánh niềm nở khác thường, biểu lộ ngay trong cái bắt tay Luân.
- Anh Luân này, có việc cần anh đây... - Khánh mời Luân ngồi và vào đề ngay.
Việc mà Khánh cần, Luân đoán khi nhận được điện thoại, chắc chắn là vụ lực lượng đặc biệt Sapar.
Quả vậy!
- Anh đã nghe qua vụ nổi loạn ở Sapar chưa? – Khánh vừa hỏi vừa đùa về phía Luân mấy bức điện.
- Tôi nghe đài Ban Mê Thuột!
- Vậy sao? – Khánh kêu thảng thốt – Tôi chưa nghe... Nó nói giống gì?
Luân tóm tắt tuyên cáo của Y Nouth.
- Lớn chuyện đa! – Nguyễn Khánh nói giọng rầu rĩ – Thằng Y Nouth là thằng nào?
- Tôi chưa biết, song cũng dễ biết thôi. Nếu trung tướng cần, cho tôi vài mươi phút...
- Cần chớ! Anh gọi điện cho Tổng ủy tình báo hay Bộ quốc phòng, hay Tổng nha cảnh sát?
- Không, tôi gọi cho James Casey... Y đang ở Ban Mê Thuột.
- Liên lạc với Ban Mê Thuột chậm. Có nơi nào mau hơn không?
- Có... Xin phép tôi dùng điện thoại của văn phòng...
- Anh dùng điện thoại của tôi, ngay đây...
- Cám ơn trung tướng...
- Anh đừng xưng hô thủ tướng, trung tướng với tôi. Ta là bạn của nhau mà...
- Hello! Nguyễn Thành Luân đây... Xin gặp thiếu tướng Jones Stepp... May quá! Chào tướng quân...
Năm phút sau, Luân gọc ghi chép trong tờ giấy cho Khánh nghe.
- Y Nouth sinh năm 1931, người Buôn Hồ, dân Rađhê. Tốt nghiệp trung học ở Sài Gòn, theo lớp đào tạo sĩ quan ở Đà Lạt khóa 4, ra trường năm 1955. Năm 1957, bổ túc ở Okinawa về pháo binh. Năm 1958, tu nghiệp ở căn cứ Clack, Phi Luật Tân, tập sự chống du kích vùng núi đến năm 1961. Hàm đại úy từ 1959, năm 1961 thăng thiếu tá, cuối năm 1963, trung tá, biệt phái làm chỉ huy trưởng trường đào tạo lực lượng đặc biệt Sapar, quan hệ chặt chẽ với James Casey, Ymơ Eban, Đoàn Chí Khoa, Kossem của Miên. Có ba vợ, một người Rađhê, một người Việt lai Âu và một người Hoa, theo đạo Tin Lành truyền nối nhiều đời. Bố của Y Nouth là tộc trưởng một tộc thanh thế ở Buôn Hồ. Vợ người Hoa của Y Nouth đang ở Chợ Lớn, chủ hiệu buôn vàng lớn. Tất cả Y Nouth có 6 con, bốn trai hai gái... Nói tiếng Pháp giỏi hơn tiếng Anh.
- Cám ơn anh! Anh hỏi thì văn phòng của tướng Jones Stepp mới hé, tôi hỏi thì chớ hòng!
Giọng Khánh vừa rầu rĩ vừa pha chút ganh tị:
- Người Mỹ họ nắm sĩ quan của ta chặt quá!
Và, Luân hơi bỡ ngỡ khi Nguyễn Khánh gọi điện cho Bộ Tổng tham mưu:
- Nguyễn Khánh đây, cho tôi gặp sĩ quan phụ trách nhân sự. Này cho tôi biết về trung tá Y Nouth, chỉ huy trưởng lực lượng đặc biệt Sapar ở Buôn Mê Thuột... Không biết gì hết à? Tên lạ hoắc à?
Khánh dằn máy, trở lại chỗ ngồi, bóp trán:
- Hỏi thật anh, nếu không có nguồn tin của tình báo quân sự Mỹ, anh đã hiểu gã Y Nouth này chưa?
Khánh hỏi Luân theo kiểu sát hạch.
- Tất nhiên, với nhiệm vụ thanh tra, tôi ít nhiều biết về các sĩ quan từ cấp úy trở lên... Nhưng, hồ sơ của Mỹ đầy đủ hơn...
- Thôi, ta sẽ bàn sau việc lập hồ sơ các sĩ quan. Bây giờ, tôi muốn trao đổi với anh về cách thương lượng với Y Nouth... Anh từng cùng Ngô Đình Nhu đi thuyết Ymơ Eban... Ta nên bắt đầu từ đâu?
- Anh quyết định thương thuyết? – Luân hỏi và đổi cách xưng hô.
- Chớ còn con đường nào khác? Mỹ muốn vậy.
- Điều kiện ra sao?
- Tôi cũng chưa biết... Điều kiện của Y Nouth thì đã rõ...
- Anh có quyền thỏa mãn các yêu sách của họ không?
Khánh không trả lời Luân, anh ta như ngó vào chỗ mông lung. Câu hỏi của Luân đánh trúng tâm trạng của Khánh, người cách đây vài hôm hò hét cách chức một loạt tướng tá, đột nhiên thấy bơ vơ.
- Anh có cho rằng những vụ liên tiếp xảy ra là dấu hiệu của một cái gì đó? – Khánh hỏi lại Luân.
Luân không thường gặp Khánh và các lần gặp Khánh lại luôn ở trong tư thế pha một ít kịch, cho nên lần đầu Luân thấy Khánh đúng là Khánh. Khánh tránh trả lời Luân đặc biệt chữ “có quyền” mà Luân dùng. Nếu Khánh từ chối thương lượng, Mỹ sẽ bảo: Đấy, ông ta không thể đoàn kết quốc gia, yêu cầu sinh tử để chống Cộng hiệu quả. Nếu Khánh thỏa thuận theo điều kiện của Y Nouth thì vẫn không tránh khỏi một chẳng kém nghiệt ngã và vẫn của người Mỹ - của phán xét khác, người Mỹ song được ai đó phát ngôn: Đấy, ông ta bán rẻ lãnh thổ quốc gia, làm suy yếu tiềm lực chống Cộng, làm tan nát kỷ cương quân đội...
- Về nghĩa nào? Tôi muốn hỏi anh cái dấu hiệu kia. – Luân làm ra vẻ muốn sáng tỏ ý nghĩ của Khánh.
- Ví dụ, những tiết mục trình diễn theo một chương trình lập sẵn...
- Tôi chưa dám đoán vội vàng... Nhưng theo cái nghĩa tình hình xấu khuyến khích bao nhiêu đột biến thì tôi cho đây là một trong các dấu hiệu đáng lo ngại.
- Nghĩa nào cũng không ổn đối với chúng ta phải không?
Luân không gật đầu. Chữ “chúng ta” của Khánh hoàn toàn không chính xác – trong phòng chỉ có hai người và đại danh từ “chúng ta” không phản ánh nội dung chật chội của nó.
Dù sao, Luân cũng rút được một nhận xét bổ ích: Khánh dao động.
- Anh có quen má Bảy của tôi không? – Khánh lại hỏi một câu không ăn nhập với việc hai người đang trao đổi.
Tất nhiên Luân biết tiếng nữ nghệ sĩ lẫy lừng Trương Phụng Hải, tức cô Bảy Phùng Há và biết đối với quan hệ gia đình của Nguyễn Khánh với nữ nghệ sĩ này.
- Quen thì không, nhưng ai mà không biết cô Bảy – Luân trả lời đẩy đưa. Anh muốn tìm nguồn gốc thật sự câu hỏi không vô tình của Khánh.
- Tôi mới thăm bà... .. Bà khuyên tôi nên cẩn thận...
Cánh cửa hé từ từ.
- Cẩn thận như thế nào? – Luân hỏi.
- Bà không nói... Anh chắc biết tôi xem bà như mẹ. Phải có nguyên có gì đó bà mới nhắc tôi.
- Tại sao anh không hỏi kỹ?
- Bà lắc đầu: con lớn rồi, con tự suy nghĩ. Chiến tranh chỉ làm đồng bào mình đau khổ mà thôi... Bà bảo có bấy nhiêu.
Luân chợt bừng sáng trong đầu: Nữ nghệ sĩ Phùng Há quan hệ rộng, bạn bè nhiều, thân nhất có các ông Năm Châu, Ba Vân, Ba Du, Tám Danh, Tám Củi, bà Thanh Loan, ông Tư Trang... Các ông Năm Châu, Ba Vân đang ở Sài Gòn, họ chắc chắn không phải người xấu nếu không nói họ liên quan đến cách mạng từ rất lâu, trong hồ sơ Tổng nha, Năm Châu bị liệt vào danh sách “Cộng sản nằm vùng”. Các ông các bà khác hoặc ở Hà Nội, hoặc trong thu giải phóng. Kể thêm, còn ông Chín Châu, Ba Thừa Vĩnh, Triệu Vân...
- Ta trở lại vụ Sapar... - Luân bình thản trao đổi với Nguyễn Khánh. Thâm tâm, Luân tự trách mình đã quên môt khả năng có thể gọi là khá độc đáo để tiếp cận tướng Khánh.
- Chúng ta lên Ban Mê Thuột, sẽ tính toán tại chỗ.
- Tôi chưa biết tôi sẽ cùng đi với anh...
Nguyễn Khánh cười:
- Tôi dùng chữ “chúng ta” giữa lúc chỉ có mỗi tôi và anh. Anh không đi, làm sao “chúng ta” được.
- Nhưng từ đầu tới giớ, chưa bao giờ anh nói điều đó với tôi.
- Thôi mà! Anh cần gì tranh chấp thủ tục hình thức... Anh sửa soạn, ta lên đường trong ngày hôm nay...
- Đi bằng máy bay?
- Trực thăng...
Rồi mặt Nguyễn Khánh dàu dàu:
- Trực thăng riêng, đảm bảo...
- Tôi hỏi để biết chứ không phải sợ máy bay nổ như ở Đà Nẵng đâu! – Luân nói, hơi hài hước.
- Anh không sợ, còn tôi, tôi sợ... Nói thiệt với anh, chưa bao giờ tôi ớn các cú đâm lén bằng lúc này.
Theo Luân, Nguyễn Khánh linh cảm một số phận đen tối đang chờ anh ta. Không ít tiền lệ ở Việt Nam về lối “vắt chanh bỏ vỏ” của Mỹ. Nhưng, mặt khác, Khánh lại là con người háo danh, hám địa vị, thích quyền uy...
- Tại sao anh đích thân đi mà không cử một tướng khác?
- Tôi phải đi! – Khánh gằn giọng – Tôi phải cho mọi người biết tôi đủ sức giải quyết các vụ phức tạp... Chính tôi, chứ không phải ai khác!
Khánh vừa nói vừa trỏ ngón tay cái vào ngực mình. Luân bông nhớ Tôn Thất Đính, trong cuộc họp báo sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm đã có một cử chỉ y hệt như vậy.
- Vụ Ymơ Eban, chính Ngô Đình Nhu lên tận sào huyệt của Fulro kia mà!
Khánh quả quyết. Tất nhiên, Luân hiểu Khánh chẳng có gì cả so với Nhu - Nhu gặp Ymơ Eban vì lý do chính trị chung chứ không để tự quảng cáo: sau này, gần như Nhu không một lần nhắc “cuộc đi săn” ở bảng làng heo hút kia.
*
Trực thăng hạ cánh trong tiếng gầm rú của hàng tốp máy bay chiến đấu và trực thăng bảo vệ; mặt đất được canh phòng nghiêm ngặt. Tướng tư lệnh vùng, tỉnh trưởng đón Nguyễn Khánh và hộ tống về biệt thự.
Dọc đường, Luân không thấy quân của Y Nouth. Thật ra, lực lượng Đặc biệt đã rút về trại, vẫn con tin và chiếm đài phát thanh.
Nghe báo cáo tình hình xong, Khánh chỉ thị:
- Giành lại đài phát thanh nhanh gọn!
Cũng chẳng nổ súng, lực lượng đặc biệt “trao trả” đài phát thanh, lên xe nổ máy, chạy xuyên thị xã về trại, không tỏ vẻ hối hả mà cốt phô trương thanh thế.
Khánh mất bình tĩnh:
- Bao vây trại Sapar, cắt mọi nguồn tiếp tế, cả nước và điện...
Lần này lệnh của Khánh không được thi hành.
- Tôi nhắc lại: bao vây... - Khánh bật dậy, thét.
- Thưa trung tướng, trong trại có đến 30 sĩ quan Mỹ... Không thể thực hiện các điều đó.
Khánh giống cầu thủ mất đà khi lao theo bóng, ngồi phịch xuống ghế. Bao nhiêu hào khí bốc hơi trong nháy mắt.
- Vậy thì phải làm sao? – Khánh hỏi, yếu ớt.
Không ai trả lời.
- Anh Luân có ý kiến gì?
Luân như đắn do một lúc:
- Tôi xin phép vào trại Sapar, gặp trung tá James Casey.
- Muốn gặp trung tá James Casey thì không cần vào Sapar. Chiều nào ông ta cũng uống rượu ở bar và đêm ông ngủ tại một biệt thự gần ngay đây thôi... Có lẽ, bây giờ, ông đang chơi bài hay uống rượu tại biệt thự. - Tỉnh trưởng Đăklăk báo cáo.
- Cho tôi nói chuyện với trung tá James Casey, nếu ông ở nhà... - Luân đề nghị.
James Casey ở nhà.
- Tôi muốn gặp trung tá! – Luân nói và cả phòng đều nghe.
- Chào đại tá, người bạn quý của tôi... Nhưng vì việc công hay tư?
- Tất nhiên, tôi lên đây với trung tướng, thủ tướng chính phủ...
- Nghĩa là vì việc công. Nếu thế, tôi xin tiếp đại tá trong trại Sapar.
- Bao giờ?
- Tùy đại tá...
- Tôi sẽ thông báo trong vòng vài phút...
Luân che máy, thuật lại lời của James Casey.
- Họ muốn cái gì? – Khánh hỏi.
Luân nhún vai.
- Anh hẹn chiều nay đi... Thử coi. Tôi nghĩ chẳng có gì nguy hiểm đâu.
Luân trả lời James Casey.
Chiếc xe Jeep chở Luân đến cổng doanh trại Sapar, cách thị xã 4 cây số. Doanh trại trên ngọn đồi, bao bọc chiến hào, rào kẽm gai và tường cao, nhiêu lô cốt, thoáng nhìn, có thể đánh giá khu doanh trại khá rộng.
James Casey đón Luân, đưa xe anh vào trong. Các tốp lực lượng đặc biệt đi lại rầm rập. Ngôi nhà hai tầng dành cho cố vấn Mỹ mới xây xong, nơi James Casey tiếp Luân. Vài sĩ quan Mỹ chào Luân rồi lẩn mất.
- Giờ này, các cố vấn lên lớp lý thuyết ở các toán... - James Casey giải thích. Y mời Luân chọn rượu.
- Trại Sapar là trung tâm lớn nhất cao nguyên đào tạo lực lượng đặc biệt người Thượng - James Casey vừa nhấp Cognac pha Soda vừa trình bày – Tại đây, mỗi khoá 6 tháng, với gần 500 học viên... Khung huấn luyện gồm 60 sĩ quan và hạ sĩ quan Việt Nam, 30 sĩ quan Mỹ. Bộ chỉ huy lực lượng đặc biệt sắc tộc Rađhê đóng ngay trong trại mà người cầm đầu, như đại tá biết, là trung tá Y Nouth... Hiện, dưới quyền ông ta đã có 4 tiểu đoàn hoạt động từ Tuyên Đức lên đến Kontum. Cuối năm này, tiểu đoàn thứ năm sẽ xuất quân. Đại tá hẳn đã đánh giá được hiệu lực của lực lượng đặc biệt từ nhiều năm nay. Y Nouth là một sĩ quan học vấn cao, giỏi tổ chức, thông minh và uy tín...
James Casey không đi vào nội dung việc thương lượng, Luân cũng không nhắc.
- Ta đi một vòng, đại tá đồng ý? - James Casey mời.
Luân cùng James Casey ngồi chung trên xe của Luân, chạy theo các con đường trải đá đỏ, qua những dãy nhà cất theo lối trại lính lợp tôn tương đối rộng và không quá tồi tàn. Xen kẽ các dãy trại lính, những ngôi nhà khang trang hơn, lính ngồi trên bàn nghe giảng.
Xe ngừng trước một tiệm giải khát, James Casey dẫn Luân vào. Đúng ra đó là nơi ăn uống và nhảy dành cho lực lượng đặc biệt: cửa kính, máy điều hoà không khí, quầy đủ loại rượu, thuốc là, đồ hộp... Họ uống mấy lon bia Đan Mạch.
- Có ba nơi như thế này... - James Casey khoe.
- Lương của lực lượng đặc biệt đủ cho họ tiêu xài ở nơi này không? – Luân hỏi, như tò mò.
- Thừa! Lương họ ngang với lương quân nhân Mỹ...
Trở về phòng khách James Casey:
- Hôm nay, đại tá thích ở trong trại Sapar không? Tôi sẽ giới thiệu đại tá với Y Nouth. Hai người định chương trình làm việc, tôi chỉ làm trung gian thôi...
- Sẵn sàng... Song tôi phải báo cho tướng Khánh...
- Được, đại tá dùng điện thoại của tôi.
Nghe Luân báo sẽ ở đêm trong trại, Khánh hơi lo. Có thể anh ta lo về an toàn cho Luân mà cũng có thể lo điều khác: Luân chơi canh bạc trên lưng anh ta.
- Trung tá James Casey nói chuyện với trung tướng! – Luân mỉm cười, trao máy cho James Casey.
- Xin chào Trung tướng Thủ tướng... Nếu trung tướng thích, xin mời vào trại Sapar ngủ đêm với chúng tôi!
James Casey nheo mắt ngó Luân. Tất nhiên Khánh từ chối.
- Ông ta sợ chính ông ta làm con tin! - James Casey cười hóm hỉnh.
“Nguyễn Khánh cũng là một thứ con tin của Mỹ!”. Luân nghĩ bụng.
- Trước khi ăn tối, tôi muốn thăm một số sĩ quan Việt Nam Cộng hòa bị giữ. Trung tá giúp tôi nhé!
- Tôi phải trao đổi với trung tá Y Nouth... Chắc có thể được.
Luân biết James Casey chả trao đổi gì với Y Nouth. Hắn ta vào phòng một lát rồi trở ra, cùng một đại úy Mỹ.
- Đại úy Jeffroy Tukey sẽ đưa đại tá đến khu con tin.
“Khu con tin” là một ngôi nhà gạch được canh gác cẩn thận. Sáu mươi sĩ quan và hạ sĩ quan chia nhau các phòng, mỗi phòng 4 người, mừng rỡ khi nghe Luân đến...
- Đại tá thương lượng chóng chóng cho chúng tôi ra khỏi đây. Tù túng quá! – Một trung tá nói như mếu.
Điều kiện ăn ở của họ cũng không đến nỗi nào. Nhưng họ sợ bị giết.
- Tụi nó dám giết chúng tôi, nếu yêu cầu của tụi nó bị bác... - Vẫn viên trung tá – chắc cấp cao nhất trong số con tin – than thở.
- Song điều kiện của Y Nouth cao quá, tôi e trung tướng Nguyễn Khánh không đồng ý! – Luân bảo.
- Gì mà cao? Nguyễn Khánh nhờ ai mà leo lên ghế hiện nay... Hy sinh hết chúng tôi ư? Kệ Nguyễn Khánh, chúng tôi chỉ tin đại tá thôi...
- Cuộc thương lượng chưa bắt đầu... Tôi chưa dám hứa điều gì. Nhưng tôi tin tình hình không đến nỗi xấu... Tất cả đều do người Mỹ, như đại úy Tukey đây, quyết định... Đại úy không bao giờ cho phép ai hành động man rợ...
Luân biết Jeffroy Tukey rành tiếng Việt song gã giả bộ như không hiểu gì cả.
Trung tá Y Nouth vạm vỡ, ăn mặc đĩnh đạc, đeo quân hàm y như sĩ quan Mỹ, bắt tay Luân theo kiểu bề trên và chủ nhà, mới Luân và Casey ngồi vào bàn – bàn kê ở cuối phòng. Nhạc ầm ĩ. Các binh lính, sĩ quan lực lượng đặc biệt ngồi chật phòng, cũng đều ăn mặc chỉnh tề.
“Chúng nó dàn cảnh đây”, Luân nghĩ thầm.
- Chúng ta biết nhau cả rồi... tôi không cần giới thiệu thêm. – James Casey đóng vai người đạo diễn...
- Tôi đồng ý! – Luân nói – Dù tôi là người đi trước để thu xếp một cuộc gặp gỡ chính thưc giữa trung tá Y Nouth với trung tướng Nguyễn Khánh...
- Nghĩa là ông không có nhiệm vụ vàn bạc về bản tuyên cáo của chúng tôi?... - Y Nouth hỏi, xoi mói.
- Đúng! Tôi không có quyền...
- Hóa ra cái giá của Y Nouth này cũng khá cao... Nhưng nói thật, nếu thương lượng được với đại tá, tôi thích hơn... - Y Nouth nốc một ly rượu, lau mép bằng chiếc khăn tẩm nước hoa.
- Nếu như vậy, trung tá thương lượng với trung tá James Casey càng dễ dàng hơn... - Luân cười.
- Thôi, tôi đã đồng ý không bàn chuyện chính trị tối nay... - James Casey rót vào ba cốc và lại mời.
- Tôi muốn hỏi thăm sức khỏe bác sĩ Ymơ Eban...
- Ồ! Ông ta khỏe... Nhưng, chúng tôi không gặp nhau.
- Tại sao?
- Nói thế nào với đại tá đây? Mỗi người có lối đi riêng.
- Các ông đúng là say máu chính trị. - James Casey kêu lên – Đã cam kết: ăn uống nghe nhạc, nhảy... Món thịt rừng nướng này tôi cam đoan đánh bạt các khách sạn danh tiếng của Sài Gòn... Nào...!
- Vả lại, ông ta thích Tổng tư lệnh nhưng đất ông ta kiểm soát thu hẹp dần. Không ở đâu nhiều Việt Cộng hơn Buôn Hồ. Thế mà, ông ta cấm lực lượng đặc biệt chúng tôi vào địa giới của ông ta. – Y Nouth không thèm đếm xỉa đến James Casey – Và chính phủ Sài Gòn chỉ biết ông ta...
Giọng Y Nouth càng lúc càng hậm hực.
- Ý của chính phủ là hòa hợp các lực lượng dân tộc. – Luân theo đuổi mục đích của mình.
Y Nouth cười to, đến sặc, phải uống một ngụm rượu để dằn cười rõ ràng mỉa mai.
- Trước hết, ông Nguyễn Khánh hãy hòa hợp với ông Dương Văn Minh, ông Trần Văn Đôn, ông Dương Văn Đức... Người ta đồn và người ta viết trên báo đại tá Nguyễn Thành Luân là nhà tư tưởng. Nhưng lẽ nào ông bán rao thứ rẻ tiền ấy?
- Ông đại tá Luân phải nói như cương vị, chức vụ của ông đòi hỏi... Ông là một quân nhân kiểu mẫu. - James Casey đỡ lời.
- Không! – Luân can thiệp – Trung tá nhận xét đúng...
- Cám ơn đại tá! Tôi chống Cộng. Lý do đơn giản: tôi sinh và được nuôi dưỡng để chống Cộng. Tôi chống Cộng theo cách của tôi. Tôi đứng đầu lực lượng đặc biệt, môt loại binh chủng cơ động. Nói cách khác, tôi đánh du kích với Việt Cộng.
- Nhưng lực lượng đặc biệt do người Mỹ thành lập, huấn luyện, trang bị và trả lương... - Luân phản kích...
- Phải! Tuy nhiên, người Mỹ đã thất bại ở nhiều nơi. Tôi đã nghiên cứu kỹ. Lực lượng đặc biệt phát sinh từ Bình Dương và chính đại tá diệt nó!
Thấy Luân nhổm người, Y Nouth đưa tay ngăn:
- Đại tá nghe cho hết... Thứ biệt kích đó không diệt cũng không xong. Bọn cướp “Rừng Xanh”, tôi hiểu. Còn chúng tôi khác. Lực lượng đặc biệt trang bị súng, mìn, tất nhiên, trang bị cả thuốc trị bệnh, muối. Tôi xây dựng một chương trình khác. Về phương diện này, trung tá James Casey không huấn luyện cho chúng tôi mà học ở chúng tôi...
James Casey chẳng tỏ vẻ một chút tự ái:
- Hoàn toàn đúng như vậy...
- Nếu thế, quân hàm trung tá hơi thấp đối với ngài Y Nouth.
- Tôi không thích quân hàm. – Y Nouth vụt cười ha hả - Đại tá cao hơn tôi một cấp, nhưng chính trung tướng Khánh sẽ là người đối thoại với tôi... Trong khi tôi cho người đối thoại xứng đáng lại là đại tá! Thực chất tài năng, đại tá nên là đại tướng... Chỗ chúng ta quan tâm và chắc có thể gặp nhau không ở số hoa mai trên cầu vai. Tôi biết đại tướng Trần Thiện Khiêm và tôi dám nói tôi là người đứng trên bục giảng về chiến tranh chứ không phải ông đại tướng đó...
- Ta có thể thỏa thuận được chăng, theo tinh thần mà trung tá nói: sẽ thương lượng nhưng nên thả các con tin ra. – Luân đề nghị.
- Thả con tin? Ông Khánh hay lật lọng...
- Nhưng, 60 con tin đâu phải là vốn bảo đảm có giá!
- Đúng! Đa số là cò con... Nhưng, tôi đồng ý tra tự do sáng mai cho 60 con tin và giữ đại tá làm con tin... Được không? - Y Nouth nói, đôi mắt ánh lên vẻ tinh nghịch.
- Tôi sẵn sàng.
- Con tin có nghĩa là chính phủ phản bội, chúng tôi sẽ bắn con tin.
- Tôi hiểu!
- Trung tá James Casey thấy thế nào?
- Ồ... Phức tạp, rất phực tạp! Một triệu lần phức tạp... Đại tá làm con tin nghĩa là đại sứ quán Mỹ, nghĩa là tướng Jones Stepp làm con tin. Chúa ơi! Sao được. Tôi phản đối. Và, tôi mà vấy vào đây thì bà đại tá sẽ nhổ vào mặt tôi!
- Trung tá James Casey hơn một lần thổ lộ tình cảm đặc biệt với bà đại tá, phu nhân của ông...
- Trung tá Y Nouth không nói, đại tá cũng hiểu... Nhưng, đó là một phụ nữ chỉ biết có chồng mình...
- Ta trở lại việc trao đổi con tin... - Luân cắt đứt câu chuyện có thể phát triển thành tào lao.
- Sáng mai, tôi thả hết! Chỉ đại tá ở lại thôi... Bây giờ, nhạc đã tấu. Người ta đã dọn bàn nhảy.
Như từ dưới đất chui lên, hằng trăm phụ nữ ăn mặc hở hang đang bước ra sàn.
- Tôi phải nhảy! - James Casey uống cạn cốc rượu chọn liền một cô.
- Trung tá không nhảy? – Luân hỏi.
- Thỉnh thoảng thôi... Tôi không thích. Tôi có gia đình và thú thật, phục vụ ba bà vợ không phải là điều hay nếu ta còn nhảy nhót... Đại tá ít nhảy, tôi hiểu... Tôi muốn hỏi thẳng đại tá một câu: Tướng Khánh có thể là con tin đổi chác có giá trị không?
- Chà! Ý nghĩ táo bạo... Song, trước khi trả lời trung tá, tôi còn chưa rõ: Làm thế nào để bắt một thủ tướng làm con tin?
Y Nouth cười nửa miệng:
- Với ông Dương Văn Đức thì đó là điều khó. Với tôi, rất dễ. Nếu ông thách, nội đêm nay, tướng Khánh sẽ bị nhốt!
- Tôi không tin...
- Tại sao?
- Người Mỹ sẽ trừng phạt các ông.
- Nếu chính Mỹ thực hiện thì sao?
- Tôi nghĩ rằng tốt nhất ông đừng nghĩ đến chuyện phiêu lưu đó...
- Đại tá hoặc giả vờ hoặc quả ngây thơ. Thôi, ta nghỉ. Tôi hơi mệt và có lẽ đại tá cũng ghét ồn ào. Chúng ta về nhà. Tùy đại tá, tôi vẫn còn phòng cho khách, chỗ các cố vấn Mỹ cũng thế...
- Tôi đi với trung tá!
- Hay! Tôi sẽ nói với James Casey...
Y Nouth vẹt các cặp đang ôm ghì dưới ánh đèn mờ ảo, đến cạnh James Casey nói cái gì đó mà Casey gật đầu.
Luân và Y Nouth rời quán ăn, lên xe.
Cô vợ người Hoa từ Chợ Lớn lên, đón họ ở thềm. Đêm đó. Luân ngủ trong một phòng đủ tiện nghi. Thạch cùng ngủ với anh.
- Chúc đại tá ngon giấc! – Y Nouth chia tay Luân ngay cửa phòng... - Bảo vệ của đại tá cứ ngon giấc! - Y Nouth ra hiệu chào Thạch.
Và Luân ngủ ngon giấc thật... Chỉ tội Thạch trằn trọc mãi...
*
Sáng sớm Y Nouth gõ cửa phòng Luân:
- Mời đại tá đến chứng kiến lễ phóng thích các con tin. Tôi đã hứa thì tôi giữ lời.
Tại ngôi nhà tạm giữ các con tin, chưa ai thức dậy hẳn. Cho nên khi nghe cửa mở và tiếng giày khua, tất cả hốt hoảng rời khỏi giường, càng hốt hoảng hơn khi thấy Y Nouth xộc và nhà thét:
- Mặc quần áo và tử tế, tập họp ngay ngoài sân! - Anh ta thét bằng tiếng Kinh.
- Chúng nó xử bắn chúng ta! – Ai đó rên tuyệt vọng.
Năm phút sau, 60 con tin đứng giữa sân. Bấy giờ họ mới nhìn ra Luân.
“Nếu đúng đạo lý, 60 thằng này cũng đáng bị bắn... Chúng đào tạo bọn biệt kích...”. Luân, mặt lạnh lùng, nghĩ đến công việc rất mâu thuẫn của mình.
Y Nouth lướt qua khối người lẩy bẩy, tái nhợt. Anh ta chợt mỉm cười. Có lẽ anh ta đánh giá sự đảo lộn này một cách thích thú.
- Chính phủ và chúng tôi chưa thương lượng. – Y Nouth nói tiếng kinh – Lẽ ra, các ông còn nằm ở đây một thời gian và số phận sẽ được quyết định tùy kết quả của thương lượng.
- Họ đày chúng ta đi đâu? – Một người trong số con tin nói khẽ mà ai cũng nghe.
- Nhưng đại tá Nguyễn Thành Luân đến Sapar và tự nguyện làm con tin thay cho các ông. Vậy, tôi cho phép các ông rời trại. Xe đang chờ. Ai cần lấy đồ đạc gì, vào lấy ngay để còn kịp về thị xã ăn sáng!
Sự sợ hãi chuyển sang ngơ ngác, ngơ ngác chuyển sang ngờ vực, ngờ vực chuyển sang vui mừng tột độ, bởi Luân bảo họ:
- Nhanh lên, các bạn!
Không ai vào nhà. Hai chiếc xe tải quân sự đỗ trước cổng, họ tranh nhau lên xe...
Luân sánh vai Y Nouth, đi ăn sáng.
- Tám giờ rưỡi, ông Nguyễn Khánh sẽ đến đây! – Y Nouth báo một tin mà Luân bàng hoàng.
- Tất nhiên, người Mỹ ra lệnh cho ông ta vì tôi muốn cuộc thương lượng diễn ra ngay trong trại này, lãnh thổ của tôi!
Y Nouth cười ha hả.
- Các ông đòi quyền tự trị, tôi không ngạc nhiên. Không chỉ có các ông đòi quyền đó. Phía bên kia, ông Ibih Aléo cũng đang thực hiện quyền đó. - Luân bắt đầu tiến công, nhân lúc James Casey không có mặt.
- Tôi hiểu, thưa đại tá! Tôi chưa hân hạnh quen ông Ibih Aléo nhưng danh tiếng của ông ấy lớn. Nguyên là sĩ quan của Pháp, nhà của ông ấy gần đây... Tôi còn biết nhiều người Rađhê trong hàng ngũ Cộng sản, như Y Ngông Niek Đam, như Y Ban, như thượng tá Y Blốc đang là phó tư lệnh Cộng sản ở Tây Nguyên...
Y Nouth xoay tách cà phê, nói mà không ngó Luận:
- Trung tá quen Francisci không? Bonnaventuro Francisci? – Luân chợt hỏi.
- Biết! Hơn cả biết, chơi thân với nhau nữa... Đại tá cũng quen y ta? - Y Nouth không dấu kinh ngạc, ngó Luân trân trân.
- Tạm gọi là biết... - Lung nói đủng đỉnh – Các ông có làm ăn với nhau?
- Ồ! Vậy là đại tá thông thạo hơn tôi tưởng... Có làm ăn!
- Còn với Kossem ở Cambốt?
- Không... Đó là cánh của Ymơ Eban.
- Với Đoàn Chí Khoa?
- Không... Gã này láu cá lắm...
- Lực lượng đặc biệt của trung tá...
Không đợi Luân nói hết câu, Y Nouth đã chen vào:
- Tất nhiên, gọi là Lực lượng đặc biệt thì phải hành động như tên của nó: Khủng bố... Song, dưới quyền của tôi, phạm kỷ luật như cướp, hiếm dâm, lập tức bị xử bắn!
- Người Mỹ bỏ tiền ra để xây dựng một lực lượng như thế sao?
- Thưa đại tá, ông quên một điều người Rađhê chúng tôi vẫn có những cái đầu. Hình như đại tá chỉ tin rằng người Rađhê chuyên bị lừa, xỏ mũi... Không hẳn như thế đâu.
- Các ông đòi tự trị, nhưng trong phạm nào?
- Hai phạm vi: Về địa bàn, chúng tôi phải làm chủ khu vực do chúng tôi lựa chọn, về quyền lợi chúng tôi bình đẳng với người Kinh...
- Nếu ông Nguyễn Khánh không thỏa mãn?
- Chúng tôi sẽ đánh!
Luân cười mỉm, Y Nouth đỏ mặt.
- Đại tá nghi ngờ khả năng đánh của chúng tôi?
- Không phải nghi ngờ mà quả quyết rằng các ông không đánh được!
- Tại sao?
- Người Mỹ không cho phép... Họ chỉ muốn các ông đóng vai trò khuấy động tạo sức ép... Thế thôi. Các ông trái ý họ, họ không chi tiền, không tiếp tế, không cấp vũ khí...
Y Nouth lại cười.
- Đại tá vẫn đánh giá chúng tôi theo cách cũ. Lẽ nào tôi không tính những tình huống ấy? Núi rừng Tây Nguyên bạt ngàn, chúng tôi hiểu quê hương mình. Người Mỹ lợi dụng chúng tôi và tại sao chúng tôi không lợi dụng người Mỹ. Đại tá vừa hỏi Francisci... Tôi ngỡ đại tá nắm được cái cốt yếu rồi... Vả lại, thưa đại tá kính mến, dù thuộc sắc tộc Rađhê, tôi không bao giờ quên Tây Nguyên là bộ phận của nước Việt Nam, gọi tôi là dân tộc Việt Nam cũng không sai.
Thấy Luân im lặng, Y Nouth nói luôn:
- Có đến hai Việt Nam phải không? Nhưng chẳng lẽ chúng tôi chọn thứ Việt Nam của Nguyễn Khánh!
“Khêu khích chăng?”. Luân quan sát Y Nouth. Không! Viên trung tá không có vẻ chỉ điểm hay tình báo.
Luân trầm ngâm một lúc:
- Trung tá cho tôi hỏi một câu, một câu hơi nguy hiểm, song tôi tin là chúng ta sòng phẳng...
- Tôi nghe câu hỏi của đại tá...
- Trung tá là chi, tức thân tộc gần xa, với cụ Ibih Aléo?
- Với người khác, câu hỏi đó sẽ được trả lời bằng phát súng... Nhưng, tôi tí nhiều nghe nói về đại tá. Tôi không bà con gì với cụ Ibih Aléo, nhưng tôi là em trai út của thượng tá Y Blốc! Nói cho chính xác, cùng cha khác mẹ...
- James Casey có biết điều này không?
- Việc đầu tiên của James Casey là tìm gốc tích tôi. Song, làm sao ông ta phăng ra nổi. Người Rađhê chúng tôi thuộc mẫu hệ. Mẹ tôi chỉ là một người bình thường, đã mất khi tôi còn bé. Cha tôi cũng mất sớm, anh tôi ra đi khi tôi còn đi học... Chị tôi nuôi tôi và chị tôi có môt lý lịch không chê vào đâu được: vợ một mục sư người Mỹ.
Luân nghiêng dầu, suy nghĩ. Y Nouth nhận thấy chút hoài nghi trong mắt Luân.
- Chắc đại tá nghiên cứu lý lịch của tôi và nhận thấy tôi quan hệ quá chặt với Pháp rồi Mỹ...
- Về mặt đó, không riêng gì trung tá... - Luân trả lời lơ lửng.
- Hoặc vì tôi có tới bà vợ mà một là nhà buôn người Hoa?
Luân im lặng.
- Tại sao tôi không cố làm cho thiên hạ biết tôi cần thêm nhiều vợ nữa, như phong tục dân tộc tôi cho phép và như một bảo đảm chính trị cho tôi? – Y Nouth cười mỉm. - Còn người Hoa, đúng, vợ tôi người Hoa... Tôi cưới từ lâu. Và, hẳn đại tá hiểu, có đến mấy loại người Hoa trên Việt Nam...
Luân chụp tay Y Nouth, siết chặt. Y Nouth cũng có cử chỉ tương tự.
Họ phải ngừng cuộc nói chuyện vì được báo: Nguyễn Khánh và đoàn tùy tùng đã đến.

CHƯƠNG 18

Trong lúc Nguyễn Khánh ở Ban Mê Thuột thì Sài Gòn lại lên cơn sốt, lần này mang tính chất đặc biệt: công nhân, lao động toàn thành phố bắt đầu cuộc tổng đình công lớn nhất từ 6 giờ sáng ngày 21-9 và kéo dài đến 23-9. Chủ xướng cuộc tổng đình công là Tổng liên đoàn lao công Thiên Chúa giáo, tổ chức nghiệp đoàn hàng đầu ở Việt Nam Cộng hòa, với người lãnh đạo khét tiếng Trần Quốc Bửu, được đánh giá là “Cần Lao gộc”. Các tổ chức nghiệp đoàn khác cũng phối hợp với Tổng liên đoàn Lao công như Tổng liên đoàn lao động mà lãnh tụ Lê Văn Thốt bị công an cho vào sổ “liên quan tới Việt Cộng”. Liên hiệp các nghiệp đoàn tự do mà lãnh tụ là Bùi Lượng được thợ thuyền xem như có líu với đảng Đại Việt, lực lượng thợ thuyền mà lãnh tụ Nguyễn Khánh Văn ít nhiều nhờ vả Pháp...
Lý do của cuộc tổng đình công: Hãng dệt Vimytex vô cớ sa thải công nhân.
Tổng nha cảnh sát quốc gia biết tin sẽ có cuộc Tổng đình công từ ba hôm trước, khi đại diện nghiệp đoàn không đi đến thỏa thuận với Ban giám đốc hãng dệt – hãng dệt loại lớn, trang thiết bị tối tân và riêng cái tên cho thấy bề thế của nó: Việt – Mỹ. Nhưng, Tổng nha không nghĩ rằng cuộc tổng đình công sẽ được hưởng ứng rộng. Bởi vậy, chiều 20-9, đại tá tổng giám đốc không ra một chỉ thị gì đột xuất.
Dung bị dựng dậy vào 5 giờ rưỡi sáng. Cô thiếu úy Hằng trực đêm gọi điện cho Dung:
- Thưa thiếu tá! Đại tá triệu tập các sĩ quan chỉ huy có mặt ở Tổng nha trước 6 giờ!
- Tại sao?
- Cuộc tổng đình công sắp bắt đầu...
- Chúng ta đã biết việc đó rồi...
- Nhưng tình hình nghiêm trọng hơn...
- Nghiêm trọng như thế nào?
- Thưa, em chỉ được lệnh như thế...
- Chị sẽ có mặt.
Dung hôn nhẹ lên má con, căn dặn chị Sáu rồi lái xe đến Tổng nha. Cô đến vừa kịp lúc đại tá Nguyễn Quang Sanh bắt đầu nói, bên ngoài trời chưa sáng hẳn, những giọt mưa đêm còn đọng trên lá cây thỉnh thoảng buông xuống thềm một tiếng lách tách buồn bã.
- Cuộc tổng đình công sắp bắt đầu... - Đại tá vén xem đồng hồ - Còn 5 phút nữa... Trừ bệnh viện, còn toàn thành phố sẽ không có điện và nước. Từ 8 giờ trở đi, sẽ có những cuộc biểu tình và tuần hành lớn. Ít có khả năng cuộc tổng đình công chỉ chĩa vào vụ sa thải công nhân Vimytex. Thật ra, đêm qua, giữa lúc các ông bà ngủ yên, – Đại tá hơi cười - Tôi đã phải thức để gặp trực tiếp chủ hãng Vimytex và vụ sa thải coi như kết thúc êm đẹp: không ai bị đuổi cả. Nhưng thông báo của Bộ lao động và cả của tôi cho các nghiệp đoàn không được hưởng ứng. Thủ tướng hiện không có mặt ở thủ đô, phó thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh bảo ông không được ủy quyền xử lý các tình huống tương tự. Phó thủ tướng Đỗ Mậu bảo đó là việc của Bộ lao động và của Tổng nha. Đại tướng Trần Thiện Khiêm hỏi vặn tôi: Đại tá muốn chúng tôi nã đại bác vào người biểu tình? Trung tướng Dương Văn Minh yêu cầu tôi hãy làm việc đúng người có trách nhiệm...
Dung thấy rõ đôi mắt đỏ chạch của đại tá Tổng giám đốc...
- Tôi gọi điện cho đoàn cố vấn Mỹ. Họ bảo: Chuyện của các ông!... Các bạn nghe chưa? Tôi gõ hết các cửa dù giữa đêm và dù bây giờ cũng nhận tiếng quở trách, thậm chí, tiếng chửi kèm theo tiếng ngáp. Và bây giờ, tôi làm phiền các bạn, những cộng sự của tôi. Tôi vừa chỉ thị...
Đèn vụt tắt. Nhưng ánh sáng ban mai đã dần dần tràn vào phòng.
- Nhà đèn đình công rồi! Họ không dọa suông đâu.
Cả phòng nghe tiếng thở dài của đại tá Tổng giám đốc.
- Tôi nói đến đâu rồi? À, tôi vừa chỉ thị cho Nha cảnh sát đô thành, Nha cảnh sát Nam phần tung lực lượng bảo vệ các cơ quan quan trọng, các sứ quán và tôi sẽ gặp ông Trần Quốc Bửu. Tôi hy vọng cuộc tổng đình công chấm dứt nội nửa ngày hôm nay. Lực lượng dã chiến của Tổng nha phải sẵn sàng, hễ nơi nào gọi bộ đàm báo cáo có biến động thì lập tức can thiệp. Giải tán tất cả các cuộc tập họp dù mang màu sắc nào – tôi nhấn mạnh: sư sãi, linh mục... cũng không được biểu tình khi mà cả nước đang sống trong lệnh giới nghiêm. Các ông bà chỉ huy phải trực tại chỗ. Quá 12 giờ trưa, căn cứ vào tình hình diễn biến, tôi sẽ gặp lại tất cả tại đây...
Đại tá ngập ngừng một lúc, nói tiếp:
– Giải tán mọi cuộc biểu tình nhưng không được gây thương tích cho bất kỳ ai! Không bắt ai!
Mọi người lặng lẽ rời phòng với gương mặt nặng chình chịch: Làm sao giải tán biểu tình mà không va chạm và nhất là không bắt ai? Lệnh của đại tá Tổng giám đốc tự nó đã vô hiệu hóa ngay từ đầu.
- Bà thiếu tá Thùy Dung, tôi nói chuyện với bà!
Tổng giám đốc gọi Dung.
- Tôi hẹn 7 giờ gặp ông Trần Quốc Bửu và các ông lãnh đạo nghiệp đoàn tại Nhà Kiếng. Bà cùng đi với tôi!
Dung đứng nghiêm, dấu hiệu tuân lệnh và rời phòng, về Nha công vụ.
Trên bàn viết của Dung đã có sẵn một số tờ báo, phần lớn là báo của chính phủ, quân đội và vài tờ “độc lập” vẫn phát hành dù tổng đình công. Liếc qua các tít to, Dung nắm được ý nghĩa sâu xa của cuộc tổng đình công, hoặc, nói cách khác, biết được lực lượng nào nhảy vào vòng chiến với ý đồ riêng. Công nhân lao động tham gia bởi lẽ đơn giản: quyền lợi của họ bị xâm phạm, hôm nay chủ sa thải công nhân Vimytex, ngày mai Vinatexco, ngày mốt Caric, Nhà Đèn, rồi BRJ – RMK, Caltex v.v... Nhưng, cũng không chỉ bấy nhiêu lý do. Khi Dung vào Nam một thời gian thì nổ ra cuộc tổng đình công nhân ngày 20-7 – đó là cuộc tổng đình công chính trị đòi hai miền Nam Bắc hiệp thương, lập lại quan hệ bình thường, tiến tới tổng tuyển cử thống nhất nước nhà, chỉ diễn ra vài giờ. Một ít lần “tổng đình công” do Trần Quốc Bửu xướng xuất để chống Cộng, chống Bình Xuyên, chống Nguyễn Chánh Thi, ủng hộ “Ngô Chí sĩ”... là trò đùa vô duyên. Lần này tổng đình công thật sự. Hàng chục vạn công nhân lao động nghỉ việc hẳn hoi. Đằng sau yêu sách chống sa thải, cả một sức bật mạnh mẽ: biểu thị sự bất mãn đối với chế độ và biểu thị luôn nguyện vọng ngăn ngừa Việt Nam thành một Triều Tiên thứ hai với hàng trăm nghìn quân viễn chinh Mỹ, với tàn phá và chết chóc khó lường, với nguy cơ đe dọa nền luân lý dân tộc... Na ná như phong trào lật đổ Ngô Đình Diệm năm trước những người lao động bình thường nhân một cái cớ để tỏ thái độ. Bởi vậy, cuộc đình công đầu tiên giương cao khẩu hiệu kinh tế lại chính là đợt tiến công chính trị. Theo Dung, chưa đủ sức phát khởi cuộc tổng đình công, chủ yếu là lợi dụng các thế lực tranh chấp, nhưng nó cũng giới thiệu nước mức tiến bộ của cách mạng trong vòng 10 tháng qua, kể từ chính biến 1-11-1963. Chưa thể đòi hỏi cách mạng cao hơn...
Còn Mỹ? Mỹ muốn thêm có một cú cảnh cáo Nguyễn Khánh? Hãy đóng cho thật tốt vai trò lót đường, hãy tỏ ra một tướng lãnh thật sự “bàn tay sắt” – lần thử thách có thể là cuối cùng.
Còn các thế lực khác? Các phe phái chính trị sau thắng lợi xé bỏ Hiến chương Vũng Tàu, vẫn chưa hạ được Khánh, kể cả cuộc “biểu dương lực lương” của tướng Đức. Cuộc chạy đua để trở thành con ngựa độc quyền kéo cỗ xe của Mỹ kích thích dữ dội ham muốn điên dại các chính khác và cả các tướng lãnh. Quân đội chống Nguyễn Khánh, người Thượng chống Nguyễn Khánh, sinh viên học sinh chống Nguyễn Khánh, bây giờ, thợ thuyền chống Nguyễn Khánh. Thế là đủ, quá đủ. Cho nên, họ gặp nhau và dù “đồng sàng dị mộng”, họ đều chống, chống thật, chống giả, lợi dụng sức chống đối của kẻ khác...
Thái độ của Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia cho thấy điều đó: lệnh của ông cực kỳ bí hiểm. Thật ra ông đã thổ lộ: gõ cửa ông Nguyễn Xuân Oánh, đại tướng Trần Thiện Khiêm, trung tướng Dương Văn Minh, phái đoàn Mỹ. Đại tá Nguyễn Quang Sanh không dại gì đưa đầu gánh chịu hậu quả, nếu các cuộc biểu tình rùm beng đến mức nguy kịch thì cả Mỹ lẫn tướng Khiêm sẽ phải hành động, nhiều nhất ông bị khiển trách “không làm tròn nhiệm vụ” hơn là các lời cáo buộc các cực kỳ dữ dội.
Bảy giờ kém mười, Thùy Dung có mặt ở văn phòng Tổng giám đốc.
- Tôi vừa điện cho ông Nguyễn Khánh, ông còn ngủ. Ta sẽ nói chuyện với ông ấy khi đến Nhà Kiếng.
Hai xe con và một xe hộ tống rời Tổng nha. Tại trụ sở Tổng liên đoàn lao công đường Lê Văn Duyệt, thợ thuyền tập trung đông đặc, chờ giờ xuất phát. Qua bộ đàm trên xe, đại tá Sanh và Dung biết nhiều trung tâm đang sửa soạn xuống đường, có cả học sinh sinh viên tháp tùng.
Trần Quốc Bửu và một số người cầm đầu Tổng liên đoàn Lao công đón các nhân viên cấp cao của ngành cảnh sát khá hờ hững. Không ai ra cổng chờ họ, không ai đứng trên thềm đón họ.
- Chào đại tá và thiếu tá! – Trần Quốc Bửu chìa tay theo lối kẻ cả. - Mời hai vị và các vị cùng đi đợi tôi vài phút...
Trần Quốc Bửu tiếp họ ngay trong phòng làm việc giữa lúc các tay “cai thầu” nghiệp đoàn – như báo chí gọi – đang họp.
Mặc kệ sự có mặt của Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia. Trần Quốc Bửu bô bô:
- Thế nhé... Lộ trình như đã ấn định: từ sân Tao Đàn, Hồng Thập Tự, đến Ngã Sáu, theo Lê Lai đến chợ Thái Bình, ra Trần Hưng Đạo, qua chợ Bến Thành, theo Lê Lợi, đến Nguyễn Huệ, dừng một lúc ở tòa đô chính, theo Lê Thánh Tôn đến Công Lý, dừng một lúc trước dinh Độc Lập, rồi theo Thống Nhất đến phủ Thủ tướng trao kiến nghị, xong, theo Cường Để rồi Bến Bạch Đằng, Hàm Nghi, giải tán tại công viên Quách Thị Trang... Đội tự vệ sẵn sàng nếu cảnh sát dã chiến can thiệp thì kiên quyết giữ vững hàng ngũ...
Dung biết lộ trình của cuộc tuần hành đã được phổ biến chi tiết từ hôm trước và chắc chắn vừa đây, Thường vụ Tổng liên đoàn lao công đã thống nhất - cô nhìn tấm bảng đen, vẽ phấn xanh lộ trình ấy – nhưng Trần Quốc Bửu vẫn lập lại lần nữa trước đại diện ngành cảnh sát, như cách tuyên chiến.
Hầu hết những người có mặt trong phòng ra khỏi phòng.
- Tôi muốn gặp đủ đại diện các tổ chức công đoàn tại đây... - Đại tá Sanh mở đầu.
Trần Quốc Bửu nhún vai:
- Chúng tôi hành động độc lập... Nếu đại tá muốn gặp ông Thốt thì xin mời đến đường Lý Thái Tổ. Còn ông Nguyễn Khánh Văn, ông Bùi Lượng, họ ở đâu nhỉ? Tôi sẽ hỏi giúp đại tá.
Trần Quốc Bửu giữ thái độ trịch thượng, không chỉ với Tổng nha cảnh sát mà với các nghiệp đoàn.
- Chúng ta nên tìm một giải pháp êm thắm... Chủ hãng Vimytex đã thu nhận số công nhân sa thải... - Nguyễn Quang Sanh nhún nhường.
- Trễ rồi, thưa đại tá. - Trần Quốc Bửu cười rộ - Tôi không làm thì ngọn cờ sẽ rơi vào tay Lê Văn Thốt hay Bùi Lượng.
- Nhưng Tổng liên đoàn lao công là lực lượng đông nhất!
- Đúng... Nhưng, tôi không muốn lép. Các ông chửi Cần Lao... Xin lỗi bà thiếu tá, vì đại tá Nguyễn Thành Luân bào giờ cũng là cấp trên của tôi trong đảng Cần Lao – nên đảng Cần Lao cần cho các ông biết chúng tôi không thể là chiếc thùng rỗng. - Trần Quốc Bửu huênh hoang.
- Do đó, tôi và thiếu tá Thùy Dung đến đây để thương lượng. Ta nên ngưng cuộc tuần hành... - Nguyễn Quang Sanh cố nhịn.
- Làm thế nào được? - Trần Quốc Bửu ngó Thùy Dung... - Lẽ ra Tổng nha nên thương lượng nội bộ... Bà Thùy Dung là người có thể bật đèn đỏ, nếu bà muốn... - Trần Quốc Bửu cười rất khó hiểu.
- Tôi làm sao bật đèn được? – Dung cười mỉm.
- Được! Nếu ngài Alexis Johnson và ngài Jones Stepp trao đổi với bà... chính xác là, với đại tá Nguyễn Thành Luân.
Trần Quốc Bửu phản kích, mặt tỉnh bơ.
- Ông nhận bao nhiêu đô la để làm việc này? – Dung hỏi, giọng cay độc.
- Chắc hơn số đô la bà nhận để im lặng... Hơn nhiều nữa. Đúng là bất công! Bà chẳng làm gì cả... - Trần Quốc Bửu không kém cay độc.
- Tôi thấy không cần đôi co. Việc nhận đô la của ai đó để làm trò, là quyền sở thích của riêng ông. Tùy ông. Nhưng ông, ông Bửu, ông đi hơi xa... - Dung nghiêm mặt.
- Bà yên tâm... tôi không đi xa đến mức như đại tá Luân đi xa đâu... - Trần Quốc Bửu ném một cái cười khinh bạc.
- Ta sẽ không thể bàn bất kỳ điều gì với những người như ông Bửu, thưa đại tá! – Thùy Dung nói lạnh lùng.
- Đúng! – Nguyễn Quang Sanh gật đầu.
- Vậy xin mời hai vị rời nơi đây... đây không phải chỗ của sở mật thám mà là cơ quan của giới thợ thuyền. – Trần Quốc Bửu chỉ tay ra cửa...
Nguyễn Quang Sanh giận run người mà không biết phải là gì. Dung lặng lẽ đến máy điện thoại.
- Bà thiếu tá gọi người đến bắt tôi! Tôi chờ... - Trần Quốc Bửu tiếp tục mỉa mai.
Dung quay số.
- Hello! Tôi muốn nói chuyện với ông John Hing.
Mặt Trần Quốc Bửu từ vênh váo bỗng cụp xuống, da đỏ au bỗng tái mét...
- Bà... Bà... - Hắn lắp bắp.
- Chào ông, ông John Hing... Tôi là Hoàng Thị Thùy Dung. Tôi muốn hỏi ông, ông chi cho ông Trần Quốc Bửu bao nhiều tiền Việt Nam và dollar để tổ chức các cuộc biểu tình, đình công?... Tất nhiên, tôi cần thiết gấp vì những lý do chưa tiện thông báo với ông... Ông nói bao nhiêu? Năm triệu đồng Việt Nam... Trao bằng tiền mặt. Tốt... Mười nghìn dollar gửi ngân hàng Thụy Sĩ... Xin ông nói lại... Ký hiệu ngân hàng số 0762A371... Ông Bửu có biên nhận không? Có à? Tốt lắm... Ngoài ông Bửu ông còn chi cho ai nữa? Ông Bùi Lượng? Bao nhiêu? Một triệu đồng Việt Nam... Không có dollar. Còn ông Thốt? Không ư? Không loại tiền nào cả ư? Tôi hiểu... Không thể mua ông Thốt, tôi đồng ý với ông. Tôi đang nói chuyện với ông tại văn phòng ông Bửu. Sao? Điều kiện ông Bửu còn thêm cả một chuyến nghỉ mát nửa tháng ở Hongkong... Ông cho ông ta bần tiện? Tùy ông. Ông hứa chia cho những người phe cánh của ông? Tôi sẽ hỏi họ... Cám ơn, nếu ông chụp cho tôi biên nhận do ông Bửu ký... Trưa nay, ông gởi đến văn phòng của tôi... Tất nhiên, ông chọn người không kỹ. Chào ông!
Trần Quốc Bửu ngồi chết trân trên ghế. Đại tá Sanh bĩu môi...
- Thế nào? Thưa lãnh tụ Tổng liên đoàn Lao công? – Dung hỏi – Tôi sẽ thông báo tin này trên báo chí, kèm theo ảnh chụp biên nhận của ông... Tốt nhất ông tìm chỗ trốn. Còn ông định chuồn ra nước ngoài thì không được đâu. Ông lợi dụng những người lao động trên 10 năm rồi và ông vẫn còn chưa thỏa mãn. Trương mục ngân hàng Thụy Sĩ của ông hẳn lên đến con số triệu. Chính phủ có thể phong tỏa trương mục ấy... Ổng chẳng Cần Lao, chẳng Quốc gia gì cả. Đơn giản thôi, ông là tay bịp! Ông nghĩ rằng chúng tôi có thể tống giam ông ngay, được không?
- Bà... Bà... - Trần Quốc Bửu lắp bắp mãi.
- Công nhân Vimytex sa thải, công nhân thành phố phản đối. Tôi không thấy có gì thiếu chính đáng. Các tổ chức nghiệp đoàn tỏ thái độ phản đối chủ Vimytex, tôi cũng không thấy gì thiếu chính đáng. Nhưng ông, ông hành động như gã lái buôn. Dù có người chết, người bị thương, ông mặc kệ. Không lột bộ mặt ông thì thợ thuyền phải đổ cả máu cho ông mập ú ra, cho ông có đến năm, bảy vợ... Không thể được!
Dung quay sang đại tá Sanh:
- Ta về, thưa đại tá!
Dung mở cửa phòng. Bên ngoài một nhóm người lố nhố. Họ theo dõi cuộc nói chuyện vừa rồi. Điều không thể tránh khỏi là họ sẽ ùa vào phòng, đòi Trần Quốc Bửu chia chác.
*
Về đến Tổng nha, đại tá Sanh đọc một loạt báo cáo cuộc tổng đình công được hưởng ứng khá rộng, cuộc tuần hành kéo dài trên các lộ chính của thành phố với nhiều khẩu hiệu vượt khỏi giới hạn vụ Vimytex đòi tự do nghiêp đoàn, đòi chấm dứt đuổi thợ cúp lương, đòi tự do báo chí, hội họp, đòi bảo vệ văn hóa dân tộc, chống chế độ độc tài v.v...
Đại tá xin liên lạc với Thủ tướng Nguyễn Khánh. Cũng đến mười phút, cuộc nói chuyện mới bắt đầu:
- Trình trung tướng, tình hình đình công, biểu tình ở Sài Gòn khá rắc rối...
- Tôi có nghe báo cáo. Các anh phải dập tắt ngay!
- Nhưng bằng cách nào?
- Bằng cách nào, tùy các anh... Tôi đang ở trong trại Sapar.
- Xin trung tướng cho lệnh về ông Oánh hoặc đại tướng Khiêm.
- Tôi lệnh cho anh, không được sao?
- Thưa rất khó... Lệnh phải mang chữ ký...
- Anh không biết tôi đang gặp khó khăn trong thương lượng với trại Sapar sao?
- Dù sao cũng xin trung tướng nói chuyện với ông Oánh hoặc ông Khiêm...
- Được! Tôi sẽ nói...
Đại tá Sanh gác máy, bảo Dung:
- Ta đợi lệnh của ông Oánh, ông Khiêm...
Nhưng, không có lệnh mà chỉ có báo cáo và báo cáo ngày càng xấu. Dinh Thủ tướng gần như bị bao vây...
Gần 10 giờ trưa, điện reo. Trần Quốc Bửu nói chuyện với đại tá Sanh.
- Tôi nghe đây!
- Tôi đã ra lịnh đình chỉ tuần hành và sẽ chấm dứt tổng đình công vào 12 giờ trưa...
- Thế là tốt!
Nghe đại tá Sanh thuật lại, Dung chỉ cười.
- Tại sao bà cười?
- John Hing ra hiệu cho Bửu...
- Tôi cũng nghĩ như thế...
- Song, từ khi cuộc tổng đình công và tuần hành nổ ra, Trần Quốc Bửu không còn quyền nữa. Người đình công, người tuần hành giữ quyền... Ông Bửu không bắt buộc nổi hàng vạn người theo ý ông ta...
- Nghĩa là sao?
- Nghĩa là phải thỏa mãn một phần yêu sách cảu thợ thuyền nếu chúng ta không muốn chứng kiến các cuộc bạo động...
- Nhưng, bà cũng hiểu, chúng ta đâu có quyền?
- Tốt hơn hết, đại tá cứ làm báo cáo từng giờ cho chính phủ... Việc này chính phủ phải quyết định.
*
Điện mật:
Trưởng ty cảnh sát Bình Định gửi đại tá Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia – Sài Gòn.
Tình hình thành phố Quy Nhơn đột nhiên căng thẳng. Chừng ba tới bốn nghìn thanh niên xông vào chiếm đài phát thanh và một số đông công sở như dinh tỉnh trưởng, tu thông tin, tu giáo dục v.v... giương khẩu hiệu chống Cần Lao, cho đài phát thanh tuyên cáo của Hội đồng Nhân dân cứu quốc, phổ biến báo chí và truyền đơn đả kích chính phủ. Nghiêm trọng hơn, từng tốp mang dao, gậy, dây thừng lục sục các phố, khám phá, gọi rằng tìm bắt dư Cần Lao nhưng phần lớn lại là công chức đương nhiệm liên quan đến thiểm ty (mật báo viên), các cán bộ chiêu hồi và công dân vụ. Tỉnh trưởng không cho chỉ thị. Quân đội không can thiệp. Tỉnh xin chỉ thị Sài Gòn, không được trả lời. Kính trình đại tá và chờ hướng dẫn...
11 giờ ngày 21-9-1964
*
Điện khẩn, mật:
Trưởng ty canh sát quốc gia Bình Thuận khẩn cấp báo Tổng nha: Sáng nay, hơn 1.000 thanh niên mang gậy gộc tập họp tại dinh tỉnh trưởng, hô hào diệt Cần Lao và xông vào đập phá công sở. Cảnh sát can thiệp. Đã xảy ra đổ máy. Thiểm ty chờ chỉ thị Tổng nha.
11 giờ ngày21-9-1964
*
Tin đài VOA:
Chiến hạm Mỹ tuần tra thường lệ trên hải phận quốc tế thuôc vịnh Bắc Việt bị năm tiểu hạm Cộng sản tiến công bằng ngư lôi. Để tự vệ, chiến hạm Mỹ phản kích, bắn chìm ba tiểu hạm Cộng sản.
*
Tin đài Hà Nội:
Sáng nay, 22-9, một khu trục hạm Mỹ cùng sáu tiểu tỉnh và một tuần dương hạm thâm nhập trái phép vào lãnh hải Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khỏi hải phận quốc tế đến 10 km. Hải quân đã nhắc nhở tàu Mỹ bằng các phương tiện thông dụng quốc tế: trên làn sóng điện, dùng pháp màu và bằng hiệu cờ, nhưng hạm đội Mỹ vẫn ngang ngược tiến sâu vào lãnh hải Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tàu tuần của Hải quân Việt Nam và pháo bờ biển buộc phải bắn cảnh cáo. Hạm đội Mỹ khai hỏa dữ dội, kết hợp với máy bay xuất phát từ tàu chờ máy bay đậu ngoài xa. Hai hộ tông hạm Mỹ bị trúng đạn, từ đó, chúng mới rút lui...
*
Nguyễn Khánh và đoàn tùy tùng vào trại Sapar, đúng 8 giờ sáng. James Casey và Nguyễn Thành Luân đón Khánh ngay cổng.
Vẻ mặt căng thẳng của Nguyễn Khánh – còn đám tùy tùng thì sợ hãi – giảm hẳn khi thấy James Casey.
- Chào trung tướng! - James Casey chập gót chân đúng điều lệnh, nhưng mặt thì lộ vẻ đùa cợt.
Luân cũng chào Khánh. Khánh bảo Luân cùng ngồi xe với anh ta, theo sau xe James Casey, chạy vào giữa khu trại.
- Họ tổ chức đàng hoàng quá! – Khánh quan sát và nhận xét.
- Thế nào? Anh đi tiền trạm, thấy khả năng thu xếp ổn thỏa được không? – Khánh hỏi Luân.
- Hơi khó đoán... Y Nouth là người bản lĩnh.
- Ông ta đòi cái gì?
- Như những thứ ông ta tuyên bố trên đài...
- Ông tá dám đánh lại quân chính phủ sao?
- Tôi nghĩ rằng ông ta dám...
- Lực lượng đặc biệt bao nhiều mà dám đánh?
- Vấn đề không phải ở chỗ ông ta có bốn năm tiểu đoàn. Ông ta có địa bàn, có dân và có người Mỹ!
Nguyễn Khánh im lặng một lúc:
- Chính cái sau mới phức tạp cho mình... Trong bị của họ thế nào?
- Hơn quân đội một bậc!
- Vậy sao?
- Đúng... Họ có nhiều tiểu liên AR.15, M.79, M.72, cối, đại liên, phóng lựu, tất cả đều loại mới...
- Từ đâu mà họ có?
Luân cười:
- Từ cái sau cùng mà anh vừa nhắc!
- Tụi Mỹ đểu thật!
Y Nouth chỉ đón Nguyễn Khánh ngay cửa ngôi nhà khách, không chào theo quân kỷ mà bắt tay, theo lối ngang vai ngang vế.
- Ta không nên để mất thì giờ! – Y Nouth nói ngay khi mọi người đã ngồi quanh chiếc bàn dài.
Phòng không treo cờ Việt Nam Cộng hòa.
James Casey đứng lên:
- Người Mỹ là bạn của mọi người Việt Nam. Thật bất tiện nếu tôi dự vào cuộc trao đổi của các bạn hữu của Mỹ, về các bất đồng hoàn toàn nội bộ của các bạn. Bởi vậy, tôi chỉ xin đóng vai trò môi giới và bây giờ, các bạn gặp nhau. Tất cả sẽ tùy thuộc vào các bạn, tức tùy thuộc vào sự thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau của các bạn. Người Mỹ chỉ hy vọng một điều: chúng tôi có điều kiện tốt nhất để giúp các bạn, dĩ nhiên, nếu xảy ra tranh chấp gay gắt thì chúng tôi khó làm tròn trách nhiệm mà Tổng thống nước chúng tôi giao cho chúng tôi. Tôi chờ đợi kết quả tích cực của hai phía, tại đây... Xin phép các bạn, tôi phải trở lại công việc thường ngày của tôi. Hôm nay, lực lượng đặc biệt diễn tập chiến đấu quy mô 3 tiểu đoàn trên địa hình rừng núi, cuộc diễn tập trải rộng trong phạm vi 100km vuông, quanh thị xã sẽ kết thúc vào 16 giờ chiều... Tôi bắt buộc ngồi trên trực thăng suốt thời gian diễn tập, trừ một giờ nghỉ ăn trưa... Lẽ ra, trung tá Y Nouth chỉ huy cuộc diễn tập này, song cuộc hội đàm hai bên quan trọng hơn.
James Casey chào và ra khỏi phòng.
“Lão nói dóc!” - Luân cười trong bụng – “Làm quái gì có cuộc diễn tập quy mô như vậy...”
Nguyễn Khánh cảm nhận những lời của James Casey từ góc độ khác: Mỹ tỏ rõ thái độ thiên vị, trong phát biểu James Casey nhắc mấy lần “cuộc gặp gỡ giữa các bạn”, “cuộc hội đàm hai bên”... Hạ một trung tướng Thủ tướng chính phủ bằng một gã trung tá chỉ huy biệt kích!
Điện thoại reo, Nguyễn Quang Sanh thông báo tình hình Sài Gòn. Khánh trả lời. Mặt Y Nouth thoáng vẻ cười cợt.
Đúng là thế của Nguyễn Khánh yếu thêm khi giữa lúc này, Sài Gòn lại tổng đình công...
“Phải thu xếp vụ lực lượng đặc biệt này thật nhanh mới ổn”. Khánh nghĩ trong đầu và bắt đầu nghe Y Nouth trình bày...
Nghe xong, Khánh đề nghị ngưng họp nửa giờ, để đoàn chính phủ hội ý.
- Anh thấy sao? – Khánh hỏi Luân.
- Đòi hỏi hơi cao...
- Quá cao! Song, anh biết cái gì đang diễn ra ở Sài Gòn không?
Luân không biết.
- Tổng đình công, biểu tình lớn... Gay go!
Luân chủ ý kéo dài cuộc thương lượng, làm cho nó bế tắc càng tốt. Y Nouth có lý do để hành động mạnh và Mỹ không trách được anh ta.
- Chuyện Sài Gòn rồi sẽ yên... Nếu không dẹp vụ nổi loạn ở đây, thật nguy hiểm... - Luân gợi ý.
- Đúng là nguy hiểm... Nhưng, nếu Sài Gòn rối loạn, lại xảy ra đảo chính thì sao?
Đó là điều Khánh sợ nhất.
- Khó xảy ra đảo chính lắm!
- Tôi không tin... Anh quên rằng thằng Khiêm đang nắm quân. Anh quên rằng thằng Thiệu... Đảo chính bây giờ dễ ợt!
- Nhưng, còn Mỹ...
- Đảo chính lật đổ tôi thì ăn nhằm gì với Mỹ? Có khi họ còn khoái nữa. Nếu không như vậy, họ cho đám Y Nouth này gây rối làm chi?
- Nhưng, anh phải cẩn thận. Anh tại cớ cho các tướng lãnh chống anh...
- Tôi hiểu. Khó quá! Mọi thứ do Mỹ hết ráo!
Khánh kết luận một cách chua chát.
*
Tin các báo:
Ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực ra sắc lệnh số 4 chỉ định 17 hội viên Thượng hội đồng quốc gia. Thượng hội đồng đã làm lễ trình diện tại hội trường Diên Hồng. Kỹ sư nông học Phan Khắc Sửu được bầu làm chủ tịch Thượng hội đồng.
Phát hiện tại một là rèn ở Xóm Củi trên một ngàn con dao do tàn dư Cần Lao sửa soạn một cuộc tàn sát đẫm máu...
Hội đồng Nhân dân cứu quốc Thừa Thiên họp đại hội, có đại biểu Hội đồng Nhân dân cứu quốc các tỉnh Trung phần tham dự, chuẩn bị thành lập Ủy ban Trung ương Hội đồng Nhân dân cứu quốc nhằm mục đích thanh toán Cần Lao khắp Trung phần.
“Lực lượng sinh viên học sinh bảo vệ giáo dục thuần túy” biểu tình trước Viện Đại học Sài Gòn, yêu cầu “đưa chính trị ra khỏi học đường”. Hội đồng chỉ đạo sinh viên học sinh Sài Gòn cũng ra nghị quyết theo tinh thần tương tự.
Các cuộc bạo động dưới danh nghĩa chống Cần Lao vẫn tiếp tục ở Quy Nhơn và nhiều nới khác.
Thượng tọa Thích Trí Quang yêu cầu Việt Nam Cộng hòa và Mặt trận Giải phóng ngừng chiến ở vùng bão lụt.
Phó thủ tướng Đỗ Mậu đệ đơn từ chức. Ông Nghiêm Xuân Hồng, bộ trưởng phủ thủ tướng cũng từ chức.
*
Thông cáo của phái đoàn viện trợ Mỹ:
Báo chí Việt ngữ địa phương đưa tin về vụ bắt hàng ngàn dao ở lò rèn Lâm Hiệp Thành, Xóm Củi, thuộc thành phố Chợ Lớn. Phái đoàn viện trợ Mỹ được phép cải chính: đó là nông cụ do phái đoàn thuê để cung cấp cho vùng Bình Định.
*
Bình luận của đài BBC:
Giữa lúc tình hình chính trị ở Sài Gòn rối ren, lực lượng Việt Cộng tấn công mạnh ở các tỉnh Trung phần Việt Nam thì một thượng tọa có danh tiếng ở Nam Việt kêu gọi đôi bên tạm ngừng chiến được giới chính trị và quân sự Sài Gòn hoang nghênh vì nó cứ cho các tiền đồn Nam Việt khỏi bị tiêu diệt.
*
MỘT CÁI CHẾT MỞ ĐẦU
Hélen Fanfani (Financial Affairs).
Sài Gòn, ngày20-10.
Khi bài báo này đến tay bạn đọc thì cả thế giới đã đều biết trước một con người Việt Nam bước lên bục danh dự chỉ dành cho những nhân vật lịch sử và bất tử. Ảnh của anh, được đăng trên khá nhiều báo gần như khắp các lục địa, trừ ở Việt Nam Cộng hòa. Hai tay bị cột vào cọc gỗ, không cần bịt mắt, người thanh niên 25 tuổi mấy giây cuối cùng của mình bằng khẩu hiệu: Cụ Hồ Chí Minh muôn năm! Việt Nam muôn năm! Đội hành quyết hẳn đã run tay vì chính họ, ngày 15-10-1964, đã chứng kiến câu chuyện có vẻ như thần thoại.
Nguyễn Văn Trỗi, người thợ trẻ, đặt mìn dưới chiếc cầu nối sân bay Tân Sơn Nhất và trung tâm thành phố Sài Gòn định giết chét Bộ trưởng quốc phòng Mỹ cách đây không lâu, ý định của anh không đạt được và anh bị bắt. Những người du kích Venezuela thu xếp với chính phủ Mỹ một cuộc trao đổi: sinh mệnh của anh Trỗi và sinh mệnh một sĩ quan Mỹ bị du kích Venezuela cầm tù. Đề nghị hết sức công bằng dù cũng hết sức lạ lùng – mối quan hệ tinh thần giữa hai phong trào chống Mỹ ở hai lục địa cách nhau nửa vòng trái đất.
Có vẻ người Mỹ đắn do. Người ta hy vọng không ai phải chết trong vụ này, nếu cuộc trao đổi xúc tiến.
Thế nhưng, không hiểu do áp lực nào, cuộc trao đổi kết thúc bằng những phát súng. Cả thế giới sửng sốt. Qua báo chí và đài phát thanh nước ngoài, dân chúng Sài Gòn sửng sốt. Sửng sốt vì cách thi hành bản án hấp tấp và từ sửng sốt chuyển sang khâm phục người Cộng sản trẻ nhất định sẽ thành biểu tượng cho nhiều thế hệ Viêt Nam.
Hẳn người cuối cùng ra lệnh thi hành án giờ đang bàng hoàng. Một cái chết của một người dấy lên bao nhiêu suy nghĩ, gợi lên bao nhiêu hành động, nhất là người đó chỉ làm cái việc mà hàng triệu người Việt Nam đang làm: chống lại sự có mặt của người Mỹ trên đất nước họ.
Giới cầm quyền Việt Nam muốn chứng tỏ lòng trung thành của họ với Mỹ ư? Đương nhiên rồi, song cách chứng tỏ quá vụng về, đem lại hậu quả khó lường.
Các bạn nhà báo nước ngoài ở Sài Gòn và không ít nhà ngoại giao bảo tôi: chính phủ của tướng Nguyễn Khánh quả thiếu thông minh.
Cùng ngày, tòa án quân sự xử tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát và một tá sĩ quan cao cấp trong biến động ngày 13-9. Không ai, trong chúng tôi, nghĩ đến một cái gì ghê ghớm sẽ xảy ra. Chắc chắn, nhóm tướng Đức sẽ trắng án. Nhưng, nương nhẹ số sĩ quan dám chiếm thủ đô, mưu toan lật đổ tướng Nguyễn Khánh trong khi xử tử một thanh niên yêu nước, lần nữa, chính phủ Sài Gòn rời vào cơn rồi loạn của mọi tính toán.
Anh thợ trẻ Nguyễn Văn Trỗi chết. Với lớp trẻ Sài Gòn mà tôi gặp gỡ, đó là cái chết mở đầu, như tôi đọc trong sách về cái chết của một học sinh tên Ơn 40 năm trước, mở đầu thời kỳ lớp trẻ Sài Gòn không khoan nhượng với chính quyền khi họ nhận ra chính quyền ấy hiện dưới mọi lăng kính mà cái họ ghét nhất trong một nước sôi sục chủ nghĩa quốc gia: công cụ của Mỹ...

CHƯƠNG 19

Đại hội các sắc tộc Thượng khai mạc tại Pleiku.
Nguyễn Khánh đọc một diễn văn dài, hứa hẹn một loạt thay đổi chính sách đối với người Rađhê, Sêđăng, Mơnông, Giarai, Bana v.v... mà điểm được nhấn mạnh nhiều lần là thực hiện quyền bình đẳng giữa mọi người Kinh và người Thượng sống trên lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Tất nhiên, Khánh lẩn tránh yêu sách tự trị địa phương và số đại biểu chọn lọc này cũng không nêu yêu sách như là tiên quyết. Sự chia rẽ ngay trong hàng ngũ đại biểu đã giúp cho Khánh hướng mục đích của đại hội theo ý định của chính phủ: dẹp bỏ các chống đối vũ trang, mơn trớn các tộc trưởng với đủ thứ bảo đảm lợi quyền riêng của họ.
Ymơ Eban là chỗ dựa quan trọng của Khánh. Còn Y Nouth, với chủ tâm khác, không đăng đàn, không tuyên bố. Điều anh ta cần đã đạt được: lực lượng đặc biệt người Thượng chẳng những tồn tại mà còn rộng địa bàn hoạt động, do Y Nouth chỉ huy, sĩ quan các cấp trong lực lượng đều là người Thượng, trực tiếp nhận viện trợ của Mỹ, không bị bất cứ một câu thúc hay kiểm soát nào... Thỏa thuận trong cuộc hội đàm Sapar mang lợi thế cho Y Nouth. Về mặt uy tín, Y Nouth vọt lên như “người hùng” thật sự - anh khước từ quân hàm đại tá mà Nguyễn Khánh mớm cho. Ai cũng biêt, nếu Y Nouth đòi quân hàm chuẩn tướng hay thiếu tướng, chắc chắn Nguyễn Khánh không dè xẻn, nhưng Y Nouth nói rõ: Với anh, quân hàm không là cái gì cả, anh chỉ muốn phục vụ người Thượng và không hề toan tính bán sinh mệnh của đồng đội để được thăng cấp. Lập tức, người ta loan truyền thái độ khẳng khái của Y Nouth như phẩm chất của một lãnh tụ chân chính.
Luân khâm phục tài quyền biến của Y Nouth.
Khi họ chia tay nhau – Nguyễn Khánh hấp tấp về Sài Gòn bởi cuộc tổng đình công khá phức tạp đe dọa chế độ - Luân và Y Nouth không nói với nhau bằng lời mà bằng mắt.
Tòa án quân sự tha bổng các bị can trong vụ “biểu dương lực lượng” ngày 13-9. Hơn nữa, các tướng bị an trí ở Đà Lạt được tái bổ dụng phụ tá cho Tổng tư lệnh. Để tạo cân bằng, năm chuẩn tướng thăng thiếu tướng: Nguyễn Cao Kỳ (không quân), Lê Nguyên Khang (thủy quân lục chiến), Bùi Hữu Nhơn, Phạm Văn Đổng (bộ binh), Nguyễn Chánh Thi (dù) và thăng phó đề đốc Hải quân Chung Tấn Cang lên đề đốc.
Báo chí rộ loạt bài phê phán tuyên bố của Nguyễn Khánh ở Pleiku: Quân đội là cha của quốc gia. Trong lúc bốc đồng, quả Nguyễn Khánh có lỡ mồm tuyên bố như thế. Và, bây giờ anh ta phải chống đỡ hết sức vất vả. Nguyễn Khánh thanh minh rằng câu nói đó chỉ nhằm nhấn mạnh vai trò của quân đội chứ tuyệt nhiên không hề đặt quân đội lên đầu dân chúng. Lời qua tiếng lại một lúc rồi đột nhiên đại tướng Trần Thiện Khiêm nhận chức vụ mà anh ta không bao giờ chờ đợi khi đang thăm viếng các quốc gia đồng minh với tư cách thay mặt cho Ban lãnh đạo lâm thời quốc gia và quân lực: Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ. Nguyễn Khánh đã hành động để tự vệ.
Giữa mớ bòng bong của tình thế, quyết định tỉa bớt những người có khả năng dành ngôi vị của mình, Nguyễn Khánh tìm lối thoát bằng các mẹo đầy mâu thuẫn. Gạt Khiêm còn có một lý do trực tiếp: Lê Văn Ty, thống tướng, chết vì ung thư, để lại ghế Tổng tham mưu trưởng – ghế đó, Nguyễn Khánh e sợ rơi vào tay Khiêm.
Nhưng Thượng hội đồng quốc gia lại bầu Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng chứ không bầu Nguyễn Khánh.
Lễ bàn giao quyền lực thật buồn tẻ. Khánh phải gắng gượng để xuất hiện trong buổi tiếp tân.
Phan Khắc Sửu chọn đại tá Nguyễn Thành Luân làm phát ngôn viên chính thức của Quốc trưởng và theo gợi ý của đại tá, mời bác sĩ Hồ Văn Nhựt lập chính phủ. Bác sĩ Nhựt, một nhân sĩ nổi tiếng thiện cảm kháng chiến Việt Cộng đã từ chối.
- Tôi không thích trở thành bù nhìn.
Ông nói thẳng như thế với Nguyễn Thành Luân.
- Tại sao đại tá giới thiệu tôi? – Ông nói thêm – Bây giờ cứ để cho mấy lão đầu cơ nhảy múa. Đất nước không thể bình an khi Mỹ càng lúc càng đông và bọn quân sự tạm rút lui trên các danh nghĩa trang trí. Tôi mà làm thủ tướng thì trong một ngày thôi sẽ bị bắt, bị xử bắn, bởi tôi sẽ phát lời kêu gọi bạn của tôi là luật sư Nguyễn Hữu Thọ cùng tôi tổ chức một cuộc gặp gỡ tìm kiếm giải pháp hòa hợp dân tộc, tống khứ Mỹ và tôi tớ chúng ra khỏi đất nước ta. Thôi, cứ để tôi yên với cái Hội đồng thập tự của tôi, nới mà tôi có thể làm đôi điều giảm bớt nỗi khổ cho đồng bào ta.
Luân cảm phục bác sĩ. Anh nhớ thời kháng chiến chống Pháp, bác sĩ Hồ Văn Nhựt đã từng dám bôi xóa khẩu hiệu đả đảo Việt Minh mà chính quyền Bảo Đại bắt buộc cơ quan Hồng thập tự phải đóng trên các công văn. Cùng các nhân sĩ hàng đầu của miền Nam như Lưu Văn Lang, Dương Minh Thới, Phạm Văn Lạng, Thượng Công Thuận, Nguyễn Xuân Bái, bác sĩ sẵn sàng tham gia mọi phong trào yêu nước, đòi hòa bình và độc lập. Nhưng, bác sĩ hiểu rõ trò hề mà Mỹ dàn dựng cốt hạ áp suất cơn thịnh nộ của các giới, sau đó, sẽ hành động thô bạo hơn.
- Tôi không phải là chất an thần! Bây giờ, làm cho dân chúng lầm tưởng một chính phủ dân sự sẽ mang lại điều tốt lành, theo tôi, đó là một thứ cò mồi mạt hạng!
Càng nói, bác sĩ càng nổi nóng. Ông vứt cho Luân một tờ báo trong đó đăng tít to lời kêu gọi của một Thượng tọa: Thành lập chính phủ dân sự!
- Nếu không phải đần độn về chính trị thì là một kẻ nối giáo cho Mỹ! – Bác sĩ gằn giọng.
Phan Khắc Sửu, cuối cùng rồi cũng có Thủ tướng: Trần Văn Hương.
Chương trình của chính phủ Trần Văn Hương được đón tiếp vừa lạnh nhạt vừa nóng bỏng. Lạnh nhạt từ phía đông dân chúng – chẳng ai tin ông giáo sư gàn gàn này làm được bất cứ chuyện nào, trừ chuyện mỗi lần Mỹ lâm nguy thì ông đưa lưng ra đỡ. Nóng bỏng từ phía quân giải phóng: Đúng ngày Trần Văn Hương trình bày chương trình của chính phủ dân sự thì sân bay Biên Hòa bị pháo kích nặng nề nhất: hàng trăm thương vong đến gần 30 chiếc máy bay chiến đấu bị hủy diệt, đau đớn hơn là gần 20 chiếc loại B.57, máy bay phản lực ném bom tan xác...
Nước Mỹ sửng sốt. Tin chiến sự che lấp danh sách nội các Trần Văn Hương, dù Hương có tô vẽ cho mình một lô cộng sự ít dính dáng đến các vụ bê bối trong quá khứ: Đích thân Hương kiêm Tổng trưởng quân lực, bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng nội vụ, tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh, Phó thủ tướng kiêm Thống đốc ngân hàng, Phạm Đăng Lâm Tổng trưởng ngoại giao, Lữ Văn Vĩ Tổng trưởng Tư pháp, Lê Văn Tuấn, Tổng trưởng thông tin, Nguyễn Duy Xuân, Tổng trưởng kinh tế, Lưu Văn Tính, Tổng trưởng tài chính, Ngô Ngọc Đối, Tổng trưởng cải tiến nông thôn, Lê Sĩ Ngọc, Tổng trường công chánh, Phân Tấn Chức, Tổng trưởng van hóa giáo dục, Trần Quang Diệu, Tổng trưởng y tế, Đàm Sĩ Hiến, Tổng trưởng xã hội, Nguyễn Hữu Tùng, Tổng trưởng lao động, Phạm Văn Toàn, Tổng trưởng phủ thủ tướng.
Thế nhưng, vấn đề then chốt vấn còn y nguyên: Nguyễn Khánh được cử làm Tổng tư lệnh.
Và lập tức, Tổng hội sinh viên ra tuyên cáo: khó mà tín nhiệm một chính phủ như của Trần Văn Hương. Nguyễn Xuân Chữ, bác sĩ, nhân vật thay Phan Khắc Sửu đứng đầu Thượng hội đồng quốc gia, từ chức để phản đối thành phần chính phủ Trần Văn Hương, một chính phủ mà theo các chính khách, thuộc nhóm “Tinh thần” của Trần Văn Hương, nhóm chính trị ôm ấp nhiều tham vọng.
Giữa lúc đó, cơn bão Iris thổi vào miền Trung, gây tổn thất nghiêm trọng về người và của: Phú Yên, Quy Nhơn, Quảng Nam, Quảng Ngãi đều chìm dưới những cơn mưa kéo dài ba ngày liền.
Rồi cái phải đến đã đến: Tướng Dương Văn Minh rời Sài Gòn với chức danh đặc phái viên của Quốc trưởng.
Trước khi lên đường, tướng Minh gặp đại tá Nguyễn Thành Luân và Hoàng Thị Thùy Dung, hai người chào từ biệt tướng Minh tại nhà riêng và với tư cách cá nhân.
- Vậy đó! – Tướng Minh thở dài. - Tôi cám ơn anh chị tiến tôi như tiễn người bạn thân, dù thật ra, tôi biết anh chị chưa quên cái chết của ông Diệm, ông Nhu.
- Thưa trung tướng. – Dung nói – Trung tướng cũng có nhiều mất mát, chẳng hạn thiếu tá Nhung...
Mắt của tướng Minh thêm tối:
- Khó làm lường hết những thứ tráo trở của chính trị... Tôi dốt chính trị và thiệt thòi... Bây giờ, tôi bắt đầu một cuộc sống lưu vong, không lần này cũng lần khác.
- Thưa trung tướng, hẳn trung tướng không phải là trường hợp cá biệt... - Luân cũng ngậm ngùi.
- Tôi hy vọng... - Tướng Minh bỏ lửng câu nói, ngó Luân.
Luân biết vị tướng hy vọng điều gì. Nhưng, anh không muốn đi sâu hơn vào nỗi niềm riêng – dù sao, với tướng Minh, bài học quá khứ mang giá trị tỉnh ngộ chẳng ít thì nhiều.
- Chúng ta rơi vào bẫy và đóng vai bù nhìn... - Tướng Minh chép miệng – Tôi hiểu hơi chậm về người Mỹ... Anh Luân nhất định hiểu hơn tôi, phải làm gì đây?
Luân và Dung thông cảm cái đau của tướng Minh. Ông đặt câu hỏi vào lúc mà ông không còn tí khả năng để làm cái gì.
- Chiến tranh ác liệt. Đồng bào sẽ chết chóc. Ngày 1-11 năm ngoái trở thành cái mộc chuyển tình thế ác liệt, tôi ân hận lắm. Không biết đồng bào đánh giá tôi thế nào?
Tướng Minh có vẻ không chỉ nói với vợ chồng Luân.
Sau cơn bão Iris cơn bão thứ hai ụp tới. Cả miền Trung bị tàn phá khủng khiếp. Cơn bão Joan vừa dịu thì cơn bão Kate vét nốt những gì còn sót lại từ vĩ tuyến 17 giờ trở vào tận Nha Trang.
Không khí chính trị ùn ùn giống các cơn bão. Học sinh, sinh viên hội thảo liên miên, nhất là khi Trần Văn Hương tuyên bố: chính phủ không nhượng bộ, quyết lập lại kỷ cương. Sáu tờ báo bị tịch thu.
Một đoàn đại biểu tình sinh viên gặp Phan Khắc Sửu, đòi giải tán chính phủ Trần Văn Hương. Phát ngôn viên của Quốc trưởng, đại tá Nguyễn Thành Luân, trả lời các hãng thông tấn nước ngoài về cuộc gặp gỡ đó, “Quốc trưởng nhận ý kiến của sinh viên, hứa sẽ xem xét...”
- Thái độ của Quốc trưởng ra sao? Đồng tình hay không với nguyện vọng của sinh viên? – Một nhà báo Mỹ hỏi.
Đại tá Luân mỉm cười:
- Tôi chỉ là phát ngôn viên. Quốc trưởng Phan Khắc Sửu không nói một lời nào về vấn đề mà nhà báo quan tâm nên tôi không có cơ sở để giải thích...
- Xin đại tá cho biết ý riêng của mình. – Hélen Fanfani tấn công Luân.
- Thưa cô Fanfani. – Luân điềm tĩnh – Nếu phóng viên Financial Affairs muốn biết ý kiến cá nhân tôi thì chúng ta nên có một cuộc gặp mặt khác. Hôm nay, tôi là phát ngôn viên chính thức của Quốc trưởng và trách nhiệm của tôi chỉ cho phép tôi nói những điều đẫ được Quốc trưởng thông qua.
- Và, Quốc trưởng chỉ nói những điều được phái quân sự, những người vẫn cầm quyền thực tế cho phép? – Hélen Fanfani chưa chịu rút lui.
- Tôi không được ủy quyền giải thích câu hỏi đó. – Luân đáp lại, tỉnh bơ.
- Thế thì, chúng tôi nên tìm sự thực ở đâu? – Một nhà báo Pháp hỏi.
Luân nhún vai, nheo mắt như cười với Hélen.
- Hẳn đại tá bảo chúng tôi gõ cửa tướng Taylor...
Luân không xác nhận và cũng không phủ nhận ý kiến châm chọc đó của Hélen Fanfani.
Ngày 22-11, Sài Gòn mịt mù lự đạn cay. Học sinh, sinh viên biểu tình lớn, tràn ngập các khu vực quan trọng nhất của thành phố. Cảnh sát phản ứng. Đôi bên xung đột dữ dội. Ngày 23, tình hình tiếp tục căng thẳng. Ngày 24, hàng loạt trường bãi khóa và học sinh chiếm trường. Học sinh Cao Thắng, Nguyễn Trường Tộ, Lê Quý Đôn đóng kín cổng, trương biểu ngữ và gọi loa chống chính phủ. Cảnh sát phá cổng, nhưng bị học sinh đánh lui. Phụ huynh mang cơm, nước tiếp tế cho học sinh. Ngày 25, trường Hồng Lạc bãi khóa, phản đối chính phủ đàn áp học sinh. Quân dù can thiệp, ném lựu đạn vào học sinh. Dân chúng ùa đến bao vây quân dù. Quân đội được tăng cường. Trận chiến kéo dài từ sáng đến 9 giờ đêm.
Chính phủ Trần Văn Hương ra lệnh thiết quân luật và giới nghiêm: cấm mọi đi lại trong thành phố từ 10 giờ đêm đến 5 giờ sáng. Thiếu tướng Phạm Văn Đổng được cử làm Tổng trấn Sài Gòn – Gia Định và đại tá Trần Thanh Bền trở lại làm Tổng giám đốc cảnh sát thay thế Nguyễn Quang Sanh – người thay Bền mấy tháng trước.
*
- Hello! John đây...
- Chào John. William đây...
- Cục diện có vẻ khớp với tính toán của chúng ta...
- Đúng... Nhưng đừng vội. Phải thêm liều lượng nữa để cho bản thân tình hình chứng tỏ trò chính trị không phải là trò nên chơi. Bob Hope là chuyện khác, chuyện chọc cười...
- Phan Khắc Sửu và Trần Văn Hương hơn Bob Hope, họ không chọc cười mà chọc giận...
- Càng tốt.
- Bao giờ Westy thêm được quân?
- Taylor còn phân vân. Canh bạc một khi mỗi tụ bài chồng cao các xấp giấy dollar lên thì Taylor mới chọn hẳn chỗ đứng. Tổng thống chờ ý kiến Taylor mà đại tướng chưa chịu mặc quân phục, đang thắt cà vạt đại sứ đúng phong cách...
- Time is money... (1)
- Tôi hiểu... Thậm chí hiểu hơn ông. Và, Taylor hiểu bằng cả hai chúng ta gộp lại. Các thùng súng của anh bạn không hoen rỉ đâu mà lo. Phải thêm một pha nữa...
- Pha gì?
- Pha anh hề râu dê lên sân khấu.
- Và dọn đường cho gã kia?
- Tất nhiên... Vợ của gã đã tặng cho người của tôi đến hơn trăm sợi tóc rồi đấy...
- Còn gã đã ngủ với người của tôi ngần ấy lần...
- Chụp hình đủ cả chứ?
- Quay phim.
– Còn vợ gã?
- Cũng quay phim!
- Hoan hô.
- Tôi chọn một gã nữa để kèm...
- Thằng cao bồi lô can?
- Nó xứng đáng hơn hết...
- Đã gài thế chưa?
- Rồi... Một chiêu đãi viên Hàng không! Có thể dẫn gã đến gặp Diêm vương cũng được...
- Còn tay Luân?
- Phải tranh luận với Taylor và Westy...
- Cho Jones Stepp và mụ vợ của y về vườn...
- Tôi đủ thông minh...
- Nhất là mụ vợ...
- Bà ta đẹp quá!
- Ồ! William, chớ vấy vào váy của mụ...
- Đừng hòng! Mụ sẽ nhổ nước bọt vào mặt tôi hay anh.
- Tôi không quan tâm...
- Thôi nhé...
*
ẨN SỐ CỦA MỘT BÀI TOÁN
Hélen Fanfani (Finamcial Affairs).
Sài Gòn, cuối tháng 11-1964.
Ba cơn bão liên tục chĩa vào Trung phần Việt Nam Cộng hòa nhưng cũng lung lay hàng cổ thụ thủ đô Nam Việt – có vài cổ thụ đổ - và khói lựu đạn cay mù mịt đẩy cả Việt Nam Cộng hòa vào màu huyền hoặc. Vị thủ tướng tự gán cho mình sắc thái lãnh tụ, một Mussolini phương Đông, ban hành hàng loạt biện pháp gọi là “lập lại trật tự”. Ông bao giờ cũng lầm lì, ngẩng cao chiếc đầu hớt tóc ngắn, khoa gậy giống như ông đứng trước học sinh ngày nay thách thức chiếc gậy của ông, dù chiếc gậy ấy biến thành hàng vạn dùi cui cảnh sát.
Khi tôi viết bài này, ngày cuối cùng của tháng 11 đang ầm ĩ trôi qua. Tinh mơ hôm nay, một đầu tàu hỏa không người lái, chở một khối thuốc nổ, chạy hết tốc lực vào Ga Sài Gòn và chúng ta biết cả một quả bom lớn vang động trung tâm thành phố, hủy phá nhà ga. Bức ảnh kèm theo cho thấy mọi đổ nát; nhưng bức ảnh không làm sao trình bày hết lối đánh chắc chắn vô cùng độc đáo của nhưng người chống lại chính phủ Nam Việt.
Hôm qua, tận mắt tôi chứng kiến một lối đánh khác – mà bức ảnh kèm có thể giúp bạn đọc đôi khái niệm. Một học sinh, tên Lê Văn Ngọc, bị cảnh sát và lính dù giết ngày 25, nay được chôn. Tôi ước tính chắc hơn một vạn người – hoặc hai vạn – tiễn đưa người học sinh xấu số đến nơi nghỉ. Cảnh sát và quân đội chực hờ. Song, không ai dám can thiệp. Nếu một tiếng súng nổ, đám tang sẽ trở thành một cuộc nổi dậy dữ tợn mà vị Thủ tướng giáo sư phải đối đầu với học trò; chưa ai biết liệu vị giáo sư sống nổi không. Phải đợi đám tang qua cây cầu nối trung tâm thành phố với thành phố Gia Định, cảnh sát mới ngăn cản. Cảnh sát đòi những người đưa đám tang tháo bỏ một khẩu hiệu, thật ra là hai câu thơ, khổ thay, của một nhà thơ rất nổi tiếng có chân trong giới cầm quyền Bắc Việt – ông Tố Hữu.
Căm thù lại giục căm thù
Máu kêu trả máu, đầu kêu trả đầu...
Khẩu hiệu, hai câu thơ ấy, ký tắt tên tác giả: T.H. Đám học sinh, sinh viên – đông nhất trong những người tiễn đưa Lê Văn Ngọc - kiên quyết chống lại, giữ khẩu hiệu như giữ lá cờ chiến đấu. Thế là xô xát. Trọng sự việc này, cảnh sát đã làm một trò khá trơ trẽn: họ giữ một ô tô và cho biết trong ô tô có súng. Tất nhiên, xe của cảnh sát hóa trang và súng cũng của cảnh sát. Trò vu khống bị la ó. Ngay số nhà báo nước ngoài chúng tôi cũng cười chế nhạo cảnh sát. Một vài thanh niên bị bắt, và hàng nghìn thanh niên giải vây. Đám tang có thể dừng ngay trên cầu, tắc nghẽn giao thông và thêm một duyên cớ để công luận Việt Nam Cộng hòa và nước ngoài phẫn nộ chính phủ.
Sau cùng, cảnh sát nhượng bộ. Đám tang thành cuộc tuần hành lớn, dọc đường thu nhận thêm người, kéo dài đến mấy cây số.
Trong suốt tuần lễ qua, ông Trần Văn Hương bị lôi cuốn vào trận đánh kỳ lạ giữa thành phố. Học sinh, sinh viên – đặc biệt là học sinh – bãi khóa chiếm trường liên miên. Cảnh sát và quân đội chạy như con thoi, hết can thiệp nơi này đến can thiệp nới khác. Và, ông Hương hò hét khản giọng: lập lại trật tự. Trật tự ngày mỗi tồi tệ hơn.
Tướng Dương Văn Đức động binh, lực lượng đặc biệt người Thượng nổi loạn, công nhân Sài Gòn tổng bãi công, học sinh, sinh viên bãi khóa. Việt Cộng đánh mạnh, mưa bão dồn dập, tướng Khánh rời ghế thủ tướng, tướng Khiêm và tướng Minh bị tống xuất, tướng Đôn, Đính... trở lại nhiệm sở, ông kỹ sư Phan Khắc Sửu đăng quang như chiếc bóng, ông Trần Văn Hương gây gổ... Và, đại sứ Mỹ im hơi lặng tiếng.
Tất cả những xáo trộn gần như bất tận trên nói điều gì? Hoặc hé ra điều gì?
Bài toàn còn ẩn số. Phải chăng người ta – “người ta” có thể là Tổng thống Johnson, có thể là ngài Colby, có thể là đại sứ Taylor - muốn thúc đẩy tình hình vào quỹ đạo đã được sửa soạn: chỉ có quân lực Mỹ trực tiếp tham chiến mới hòng cứu vãn số phận của Nam Việt.
Nếu đó là ẩn số thì là một ẩn số chẳng đòi hỏi các nhà toán học lôi nó ra – bất kỳ ai đếm được từ 1 đến 10 là có thể cho số thành.
Nhưng, liệu vài chục vạn hoặc hơn nữa số thực binh Mỹ sẽ làm được gì trước các đầu xe lửa không người lái, trước đám học sinh nhìn Mỹ như nhìn kẻ xâm lược, trước số mà Mỹ gọi là bạn bè hoặc chỉ có cái tên đính kèm học vị hoặc dở hơi, hoặc đầy tham vọng cá nhân?
Trò chơi bắt đầu cách nay một năm. Trò chơi, như những năm tháng ở Việt Nam giúp tôi quan sát đám trẻ nhỏ thích chơi gọi là, theo lối Việt Nam bịt mắt bắt dê...
*
Gần 10 thanh niên, gồm ba nữ, đến nhà Luân một cách đột ngột không hẹn trước, vào một buổi sáng. Vợ chồng Luân sửa soạn đi làm, họ tiếp tại phòng khách. Nhìn qua, vợ chồng Luân đoán ngay họ thuộc lớp “tranh đấu”, có người là sinh viên, có người chắc còn ở các lớp phổ thông.
Mấy năm nay, thành phố rung chuyển vì lớp trẻ học đường, lớp trẻ nói chung, từ nhóm Lê Quang Vịnh, qua Quách Thị Trang, Nguyễn Văn Trỗi và mới đây Lê Văn Ngọc. Tập thể lớp trẻ mở ngay mặt trận chiến đấu nơi nhạy cảm chính trị nhất dẫn đầu, chiếm một mặt bằng thật rộng trên báo chí và nguồn thông tin trong và ngoài nước.
Dung hiểu thật rõ những vụ bắt bớ, tra tấn hàng loạt, do cảnh sát cả Nam Việt thực hiện và hằng mấy trăm người đang bị giam, chờ ngày đi đày. Không ai sẽ được tòa án xét sử vì một lẽ đơn giản: không có lý do để xét xử. Những tuyên bố của cảnh sát về bắt được nơi này lựu đạn, nơi nọ súng lục... hầu hết giả tạo. Chính Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia nhiều lúc phàn nàn: gán ghép kiểu này phe đối lập lật tẩy mà không ai khác phải đưa đầu chịu trận là Tổng nha, dù lệnh từ chỗ khác, chủ yếu là Tổng tư lệnh và Tổng trưởng nội vụ, tất nhiên, khẩu lệnh. Khá nhiều lần, Dung tranh cãi với Tổng giám đốc – Trần Thanh Bền – Nguyễn Quang Sanh rồi Trần Thanh Bền – về khả năng gây tức giận trong công luận do các hành động trấn áp và lộng quyền của cảnh sát. Lập luận của cô khiến các tay đứng đầu ngành cảnh sát phải suy nghĩ, nhưng nó chỉ có thể gỡ một ít vụ quá xôn xao, còn, như guồng máy phải quay, ngành cảnh sát bổ sung thêm lực lượng dã chiến chống biểu tình, được trang bị mặt nạ, hơi cay và phi tiễn, thành lập thêm các phòng chuyên điều tra học sinh, sinh viên mà phái đoàn cố vấn Mỹ khuyến cáo phải tìm cho ra đầu não của “Liên hiệp học sinh – sinh viên giải phóng khu Sài Gòn – Gia Định”, nòng cốt của Việt Cộng tác động trong các trường học, trước hết, các trường dạy nghề, trường tư thục và một loạt trường đại học, cao đẳng. Những tài liệu mà phái đoàn cố vấn Mỹ cung cấp cho thấy có mối quan hệ giữa các tổ chức “Nhà giáo yêu nước”, “Nghiệp đoàn giáo dục”, “Tổng liên đoàn lao động”, số trí thức gồm cả nhà văn, nhà báo ngày xưa chồng pháp với “Liên hiệp học sinh – sinh viên giải phóng”, với Tổng hội sinh viên, các ban đại diện các trường – những chi nhánh công khai đặt dưới quyền điều khiển của khu đoàn thanh niên nhân dân cách mạng – tức Việt Cộng.
Phái đoàn cố vấn Mỹ thật sự lo lắng sức bật của lớp trẻ. Những ngày đầu, Nguyễn Khánh coi thường “mấy chú học trò”. Nhưng, cú xé Hiến chương Vũng Tàu đã cảnh cáo anh ta cùng bộ sậu quân sự. Điều mà Khánh và cánh võ biền chưa hiểu thì tình báo Mỹ nhìn rõ: tính chất của phong trào học sinh thay đổi từng tháng một. Nếu ngày xưa, học sinh sinh viên và thanh niên nói chung là những tranh cảnh minh họa cho các chính khách mang nhiều lốt áo dấy lên sự chống đối Diệm để giành quyền lực thì từ giữa năm 1964, họ tự chứng mình khả năng độc lập về chính trị, khả năng liên kết với nhau và khả năng liên kết rộng lớn – thậm chí, không trừ tạo ra đồng minh trong thanh niên Mỹ - tuy mục đích còn mơ hồ, nhưng đúng là thế lực đáng sợ, thế lực với cái nghĩa đầy trọng lượng ném lên đòn cân chính trị ở thủ đô và các thành phố lớn nhỏ của Nam Việt. Truyền đơn xuất hiện mỗi ngày một nhiều, rồi nội san in ronéo, rồi hội thảo, rồi xuống đường. Tới nay, chưa có khẩu hiệu chống Mỹ nào công khai trên băng, áp phích là liệt khắp nơi, nhưng đã qua thời kỳ “đả đảo tàn dư Cần Lao”, “đả đảo Thực Phong Cộng” còn khá rầm rộ cách đây vài tháng thôi.
- Các bạn biểu tình tôi? – Luân cười cởi mở, mời họ ngồi.
- Hay với tôi, một nhân viên Tổng nha cảnh sát? – Dung cũng cười.
- Không phải! – Một thanh niên gầy gò, mặt mũi sáng sủa, có vẻ người cầm đầu nhóm, trả lời – Chúng tôi muốn tranh luận với đại tá trước, với bà thiếu tá sau...
- Sẵn sàng! – Luân trở lại thái độ nghiêm chỉnh.
- Chúng tôi hỏi: Tại sao đại tá lại nhận chức phát ngôn viên cho ông Phan Khắc Sửu?
- Việc đó làm các bạn không bằng lòng?
- Tất nhiên! Không bằng lòng và khó hiểu. Một người như đại tá lại làm cái loa cho một nhân vật bù nhìn, chúng tôi cố tự giải thích mà không tìm được lời đáp nào thỏa đáng.
Luân nhìn khắp lượt toàn nhóm.
- Tôi rất kính trọng các bạn trẻ... - Luân nói từ tốn – Vừa rồi, các bạn đã hành động như một chiến sĩ chân chính... Xin cho phép tôi hỏi các bạn: Theo các bạn, tôi nên làm gì? Và, trong khi thừa hành “cái loa” như các bạn khinh miệt, tôi phạm sai lầm nào đáng xấu hổ?
Người đại diện của nhóm có vẻ hơi lúng túng trước câu hỏi ngược của Luân. Một nữ - chắc chắn là nữ sinh trung học – đã thay lời bạn:
- Phát ngôn của đại tá chưa có gì gọi là xấu hổ. Cái đáng xấu hổ là việc làm của người phát ngôn.
Giọng cô đầy trách móc.
- Cám ơn cô bạn đã nói thẳng. Song, câu hỏi của tôi chưa được trả lời trọn vẹn... - Luân vẫn một mực ân cần.
- Ông nên làm gì, phải làm gì, không ai thay ông trả lời được. Chính ông, ông biết... - Cô gái vẫn giữ thế tiến công.
- Vì lý do đó mà các bạn đến nhà tôi?
- Đúng một nửa, tức đúng với đại tá... - Một nam thanh niên đeo kính cận trả lời.
- Như thế này, – Luân như tâm sự với người anh tin cậy – Tôi phát ngôn cho ông Sửu, danh nghĩa là Quốc trưởng, mà không phát ngôn cho chính phủ hay quân đội... Tôi không chọn nghề “ống loa”, người ta mời và tôi nhận. Bởi vì, trong lúc này, theo tôi, là việc làm có thể có được một chút lợi ích nào đó. Một chút thôi. Mọi cái sẽ qua nhanh. Các bạn hiểu chớ?
- Tại sao đại tá không thành lập một đảng chính tri? Chúng tôi cho rằng với tư cách một đảng chính trị, đại tá rộng đường hoạt động hơn... - Người trưởng nhóm nói.
- Đảng chính trị? – Luân cười – Chẳng lẽ các bạn khuyên tôi bỏ “ống loa” cho ông Quốc trưởng bù nhìn để thành thủ lĩnh nhóm xôi thịt? Đảng chính trị, đúng là cần. Nhưng, nó không thể tồn tại giữa Sài Gòn. Một đảng được phép hành nghề của Bộ nội vụ, các bạn thử tưởng tượng, nó là loại gì? Tôi không thích bị báo chí Sài Gòn gọi là “chánh khứa”!
- Có nhiều loại đảng! Đại tá thành lập một đảng đối lập, công bố đường lối chính trị rõ rệt, tức khắc dân chúng ủng hộ...
- Đường lối sẽ thế nào? - Luân lắc đầu, anh ngó thẳng vào những người đối thoại - Không đường lối nào tốt hơn sự lựa chọn của các bạn. Các bạn đã thấy, khẩu hiệu đòi có một chính phủ dân sự ra đời, y một trò ảo thuật. Nay mai, sẽ có lập luận: chính phủ dân sự bất lực, phải tái lập quyền uy của quân đội... Tất cả màn khói ấy nhằm vào cái gì? Các bạn thích bị khoác bộ quân phục, nhét súng vào tay và buộc phải bắn lung tung không? Bắn ai? Ai chết? Quá đủ rồi cái trò “đảng đối lập”. Tôi không chọn con đường, nói trắng ra, là chỉ có lợi cho những kẻ buôn súng và buôn máu... Mọi thứ đều có giới hạn. Chúng ta đang ở chỗ phải phá giới hạn cũ. Nói thật chính xác, nếu những người có nhiệt tâm không phá vỡ giới hạn đó thì thế lực khác cũng phá vỡ nó. Các bạn, tôi tin là đầy nhiệt tâm, nên suy nghĩ chủ động... Các bạn hiểu ý tôi không?
Luân nói tựa như với đồng chí, đồng tâm, mặc dù anh hoàn toàn nói theo thân phận anh cho phép, có thể hiểu bằng nhiều cách – ví dụ trong số này có một tình báo Mỹ hay một gã khiêu khích của phe phái ghi âm lời của anh, cũng vô hại.
- Chúng tôi cám ơn đại tá... Bây giờ, xin được hỏi bà thiếu tá Cảnh sát quốc gia...
Dung cười:
- Xin mời!
- Tại sao bà vẫn tòng sự ở Tổng nha? – Một cô gái hỏi.
- Thế, tôi nên tòng sự ở đâu? Tôi là sĩ quan cảnh sát, đương nhiên tôi phải ở nếu không Tổng nha thì một Nha, một Ty thuộc ngành cảnh sát...
- Bà không thấy bao nhiêu chuyện tàn bạo của cảnh sát sao?
- Vấn đề có lẽ nên đặt thế này: Tôi có tàn bạo không? Bởi vì, các bạn đến đây gặp cá nhân tôi, tôi là phó chủ sự của một Nha của Tổng nha, nhưng tôi không lấy tư cách ấy để nói chuyện với các bạn.
- Chúng tôi biết bà ở Nha công vụ... Nhưng, nếu người ta điều bà sang Nha hoạt vụ chẳng hạn, hay cảnh sát đặc biệt, bà sẽ trở nên tàn ác...
- Ở Nha công vụ, nếu muốn tàn ác, chẳng khó gì. – Dung cười mỉm – Nhưng, vấn đề là phía các bạn, nên hoạt động thế nào để không bị các nhóm hoạt vụ gây phiền toái...
- Nghĩa là bà khuyên chúng tôi xuôi tay? – Một cô gái hỏi gay gắt.
- Tôi không khuyên gì cả. Tôi chỉ nhắc rằng nếu các bạn biểu tình bãi khóa, chiếm trường... thì theo tôi, tùy các bạn. Đừng để những trái lựu đạn – không phải những chai xăng dầu – và khẩu súng ngắn vấy vào các cuộc biểu thị thái độ chính trị.
Dung cố gắng vận dụng lối phân tích về phương châm đấu tranh, cố không dám phiêu lưu quá xa và hy vọng nhóm trẻ này hiểu được.
- Tang chứng của cảnh sát trong vụ đám tang Lê Văn Ngọc là giả tạo! – Một người nói hằn học.
- Đúng, tôi đồng ý. Do đó các bạn bị bắt được thả ngay. Nhưng... - Dung không nói tiếp.
- Nhưng sao? – Một nữ thành niên hỏi, nôn nả.
- Nếu đó là tang chứng thật. - Dung cắn môi – Mọi lẫn lộn đều phải trả giá, đôi khi quá đắt. Tôi chỉ có thể đối thoại với các bạn bấy nhiêu.
Xem đồng hồ, Dung đứng lên:
- Tôi phải đi làm, chào các bạn.
- Bà ấy không hỏi tên bất kỳ ai trong chúng ta – Một người nói khẽ, song Luân nghe.
*
Tuyên bố của Hội đồng tướng lĩnh:
Từ ngày 1 đến ngày 4 tháng 12-1964, các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa từ chuẩn tướng và phó đề đốc trở lên, trừ số bận công vụ ngoài nước hoặc không thể rời sở chỉ huy do chiến sự bắt buộc, đã họp hội nghị toàn thể.
Là những quân nhân mang trọng trách giữa thế nước nguy hiểm, Việt Cộng mở rộng họat động khắp các vùng cùng với tốc độ gia tăng thâm nhập vũ khí và thực binh của Cộng sản Bắc Việt vào lãnh thổ Nam Việt Cộng hòa các tướng lãnh đã xem xét mọi khía cạnh của đất nước. Đây không phải là cuộc họp do Bộ Tổng tư lệnh triệu tập, nên không liên quan đến vị thế chính thức của từng thành viên có mặt. Hội nghị ghi nhận những ý kiến sau đây:
1. Các tướng lãnh cho rằng việc các tướng lãnh trở về quân đội là để tạo bầu không khí dân sự tốt đẹp ngõ hầu lập một chính phủ đủ quyền lực và làm tròn sứ mạng chống Cộng.
2. Các tướng lãnh nhắc lại lập trường của mình: ủng hộ một chính quyền dân sự lành mạnh, trung thành với Tổ quốc, kiên quyết chống Cộng, đại diện được cho khối đoàn kết toàn dân, không thiên lệch về một đảng phái nào và cũng không chịu bất kỳ áp lực nào về đường hướng họat động.
3. Các tướng lãnh hy vọng chính phủ dân sự hiện nay yểm trợ đắc lực cho quân đội trên chiến trường, giữ an toàn ở hậu phương, ngăn ngừa mọi mưu toan quấy rối khiến chiến sĩ không yên tâm hoàn thành nhiệm vụ hoặc phải can thiệp để vãn hồi trật tự hậu phương.
4. Các tướng lãnh đã trao đổi và thống nhất rằng dù dân chủ thực thi đến đâu, vẫn cần phải có một thiết chế riêng của các tướng lãnh bởi quốc gia đang giữa thời chiến. Thiết chế ấy là một Hội đồng quân lực. Danh sách các vị đứng đầu Hội đồng quân lực đang còn trao đổi và sẽ được công bố khi thuận tiện.
5. Các tướng lãnh mong muốn giữa tướng lãnh Việt Nam và Mỹ cùng các nước đồng mình Việt Nam Cộng hòa thường xuyên tiếp xúc trên các bình diện hoạch định hợp đồng chiến thuật, trao đổi kỹ thuật và mong muốn hỗ trợ kiến thức bằng cách tăng thêm số sĩ quan Việt Nam Cộng hòa tu nghiệp và nghiên cứu tại các trường và học viện Mỹ, Trung Hoa Dân Quốc, Phi Luật Tân và Đại Mã Lai Á.
Làm tại Đà Lạt ngày 4 tháng 12 năm 1964.
*
Tin tức báo cáo:
Một trận đánh ác liệt gây thương vong khá nặng cho quân lực vùng IV ngày 5-12, tại Tân Lộc. Đây là cuộc chạm trán lớn giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa với Tiểu đoàn U Minh 2 của Việt Cộng, thuộc An Xuyên.
Chuẩn tướng Đặng Văn Quang vừa được thăng thiếu tướng và đặc cách phụ trách Tổng ủy trưởng Tổng ủy tính báo Việt Nam Cộng hòa.
Chiến trận gia tăng ác liệt tại An Lão (Bình Định), Tam Kỳ (Quảng Tín). Không quân Việt Nam Cộng hòa can thiệp, thả nhiều bom napan. Chiến sự cũng rộ lên ở Tây Ninh, Định Tường, Vị Thanh.
Mìn nổ một quán rượu mà quân nhân Mỹ thường lui tới ở đường Trần Hưng Đạo, gây thương vong đáng kể.
Thượng tọa Thích Tâm Châu, Viện trưởng Viện hóa đạo kêu gọi tăng ni, Phật tử tránh âm mưu xách động của Việt Cộng, giữ bình tĩnh.
Ba tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuân bị mưa lụt 20.000 nhà bị nước cuốn đi cùng với 500 người.
Luật sư Phan Tân Chức, Tổng trưởng Bộ giáo dục đệ đơn từ chức. Thủ tướng Trần Văn Hương đã cử giáo sư Nguyễn Văn Trường thay thế.
Thượng Hội đồng quốc gia thăm dò ý kiến một số nhân vật về việc triệu tập quốc dân đại hội.
Một số tướng lĩnh trẻ yết kiến quốc trưởng Phan Khắc Sửu đề nghị cho một số tướng lĩnh già về hưu. Quốc trước hứa sẽ cứu xét.
Quốc trưởng nâng quân hàm trung tướng Dương Văn Minh (đang công du ngoại quốc) và trung tướng Nguyễn Khánh lên đại tướng.
*
Thông cáo của Hội đồng quân lực:
Theo quyết định của hội nghị Đà Lạt ngày 4-12, một Hội đồng quân lực Việt Nam Cộng hòa được thành lập với tư cách cố vấn để giúp Tổng tư lệnh thực hiện công bằng trong quân đội.
Hội đồng quân lực cho rằng Thượng hội đồng quốc gia chia rẽ bè phái nghiêm trọng, mua chuộc cả tướng lãnh, làm suy yếu tiềm năng chống Cộng, nên quyết định giải tán Thượng hội đồng. Đất nước không thể bảo tồn được với những phần tử xôi thịt.
Quân lực Việt Nam Cộng hòa, trung thành với mục đích ái quốc và chống Cộng, quyết không thi hành chính sách của ngoại bang nào cả.
Thà thanh bạch trong độc lập còn hơn giàu sang mà tủi nhục trong nô lệ ngoại bang.
Hội đồng quân lực vẫn lưu nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và vẫn tín nhiệm chính phủ do giáo sư Trần Văn Hương đứng đầu. Hội đồng yêu cầu chính phủ triệu tập quốc dân đại hội, trong khi chờ đợi, Quốc trưởng giữ quyền lập pháp và quân đội sẽ hòa giải cho mọi tranh chấp.
Sài Gòn, ngày 20 tháng 12 năm 1964
Đại tướng Nguyễn Khánh.
*
Thông cáo báo chí:
Hội đồng quân lực không phải là hội đồng quân đội cách mạng. Sau quyết định tối cần thiết ngày 20-12, Hội đồng trở lại cương vị cố vấn cho Tổng tư lệnh.
Ngày 23 tháng 12 năm 1964.
Bộ Thông tin.
*
Tin các báo:
Mìn nổ dữ dội ở khách sạn Brinsk, gần trụ sở Quốc hội. Khánh sạn Brinsk dành riêng cho quân nhân Mỹ cư ngụ. Thiệt hại được biết là khá nặng. (Các báo Việt ngữ)
Đại tướng Dương Văn Minh từ Đài Bắc trở về Sài Gòn. Đại tướng không tuyên bố gì cả. Cũng không có một nghi lễ đón nào. (Nhật báo Viễn Đông – Tiếng Pháp).
Chiến sự dữ dội tại Bình Giã thuộc Phước Lễ. Việt Cộng tập trung lực lượng khá lớn, đánh vào các đơn vị quân lực Việt Nam Cộng hòa đang hành quân tảo thanh. Hình như Việt Cộng bố trí sẵn trận địa phục kích và quân đội Việt Nam Cộng hòa gồm bốn tiểu đoàn bộ binh rơi vào bẫy của Việt Cộng. Bộ Tổng tham mưu đã điều lực lượng tiếp viện chưa từng có, đổ bộ bằng trực thăng, tham chiến gồm các tiểu đoàn Dù, Biệt Động quân và Thủy quân lục chiến. Không quân bắn phá cực kỳ mãnh liệt các khu rừng nghi là có Việt Cộng. Pháo binh tập trung độ cao, bắn hàng vạn quả đại bác vào khu vực thật ra không rộng. Các giới am hiểu quân sự cho rằng đây là trận đụng độ lớn nhất giữa quân lực Việt Nam Cộng hòa và Việt Cộng từ khi xứ này rơi vào chiến tranh. Theo các giới am hiểu quân sự, cuộc thử sức này cho thấy khả năng của Việt Cộng đã hình thành lên đến đơn vị trung đoàn và phối thuộc nhiều binh chủng – lực lượng không thể hoài nghi từ Bắc Việt vào mà tuyển chọn tại chỗ.
Chắc chắn tướng Nguyễn Chí Thanh, nay là nhân vật số 1 của Việt Cộng ở Nam Việt muốn thể nghiệm quy mô tấn công, không đơn thuần du kích. Người chỉ huy trực tiếp, theo tin tình báo, là Năm Truyện và Sáu Tòng – những cái tên tự nó đã giới thiệu quê quán Nam Bộ của họ.
Tổn thất của quân lực Việt Nam Cộng hòa, cả trực thăng bị bắn rơi, được một số sĩ quan cấp tướng ở Bộ Tổng tham mưu (ông đề nghị dấu tên) đánh giá là “nặng nề hơn bất kỳ trận đánh nào trước đây”.
Cuộc chiến kéo dài ba đêm ngày. Việt Cộng rút lui khi không còn việc gì để làm nữa, với một số khí tài chiến tranh khá lớn và một số tù binh chưa biết là bao nhiêu.
Chúng tôi xin gặp trung tướng Westmoreland, hỏi về trận Bình Giã. Ông trả lời đầy ngụ ý: một cái nhún vai. (Tin của UPI).
*
TƯỚNG NGUYỄN KHÁNH MUỐN GÌ?
Hélen Fanfani (Financial Affairs).
Ngày 25 tháng 12, tướng Nguyễn Khánh – vừa thêm một ngôi sao trên cầu vai do ông tự gắn cho và để đỡ ngượng, ông gắn luôn cho ông Big Minh mà ông này tỏ thái độ khó chịu khi được gọi là đại tướng, Big Minh chỉ thích cấp trung tướng do chính Tổng thống Ngô Đình Diệm phong cho – đi một đường mà báo địa gọi là “lả lướt” khi tuyên bố với phóng viên báo New York Herald Tribune: Đại tướng Taylor, đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam Cộng hòa đã có những hành vi “khó tưởng tượng” và “không thể chấp nhận”, tức dùng áp lực với chính phủ Việt Nam Cộng hòa để thay đổi những con người ở các cấp mà hoàn toàn do ông độc đoán chỉ định. Tướng Khánh còn nói: Việt Nam Cộng hòa sẽ mất nếu vị đại sứ Mỹ muốn đóng vai trò viên Thái thú hay Toàn quyền thuở Việt Nam là thuộc Trung Hoa và Pháp. Theo ông Khánh, Mỹ nên “tính việc lớn với những ai có thực lực ở xứ này; ông Taylor không thể buộc dân Nam Việt chịu đựng những nhà lãnh đạo mà họ không muốn”
Lời tuyên bố của tướng Khánh nhắc chúng ta nhớ những lời tương tự của ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu trước khi hai ông bị trả đũa. Nhưng, ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu lại thuộc lớp người khác. Họ có quan điểm riêng và đúng là họ có thực lực. Ông Khánh nhắc chữ “thực lực” để tự khoe mình trong khi ai cũng biết, ông chẳng có cái gì cả.
Tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn đã ra một thông báo báo chí trả lời trực tiếp ông Khánh. Đại sứ Taylor chỉ làm theo nhiệm vụ của một đại sứ. Thông báo rất ngắn gọn mà ai cũng thấy giọng khinh bạc quen thuộc của người Mỹ.
Tướng Nguyễn Khánh “làm mình làm mẩy” nhằm mục đích gì? Ở Việt Nam Cộng hòa, không phải là điều tối mật về sự tranh giành chức vị trong hàng tướng lãnh. Ông Khánh, tất nhiên, muốn khẳng định chiếc ghế của ông.
Nhưng, hình như một số người Mỹ nào đó có quyền lực “bật đèn xanh” cho ông Khánh. Ông Khánh muốn gì thì hết sức rõ còn một số người Mỹ bảo trợ cho ông Khánh muốn gì, cái đó còn trong vòng bí ẩn.
---
(1) Thời gian là tiền bạc

CHƯƠNG 20

Việc mà Luân và Dung linh cảm sẽ đến đã đến. Jones Stepp và Saroyan rời Sài Gòn theo lệnh của Bộ Quốc phòng Mỹ, với lý do “Thiếu tướng Jones Stepp đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tại Việt Nam Cộng hòa” và đồng thời vinh thăng lên Trung tướng. Cái không bình thường là hạn kỳ rời Sài Gòn của trung tướng – trong vòng ba hôm.
Jones Stepp không tỏ ra bối rối trước quyết định của chính phủ Mỹ, hình như ông đã biết từ lâu. Mời Luân đến nơi làm việc, Jones Stepp tỏ vẻ hài lòng thời gian gian ông có mặt ở Việt Nam. Cuộc trao đổi bên ngoài coi như rất cởi mở nhưng mỗi bên đều thăm dò lẫn nhau.
- Tình hình Nam Việt tất nhiên là xấu, có thể đi đến chỗ tồi tệ nữa. Song, xét về chức trách cá nhân tôi cố gắng hết mức. Tổ chức tình báo quân sự do tôi lãnh đạo đạt nhiều kết quả hơn tôi hy vọng, và nếu tình hình không ổn thì rõ ràng do ngươi ta chưa biết sử dụng các kiến nghị của tôi và do nội bộ chính trị xứ này quá phức tạp... Tôi cảm ơn đại tá về tình cảm dành cho Saroyan và tôi cũng như về những đóng góp của đại tá vào chính sách chung của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Đại tá dự định sẽ làm gì trong tương lai?
- Người cần phải cảm ơn tướng quân là tôi. Tình bạn mà tướng quân và phu nhân không ngừng thể hiện với tôi và nhà tôi khiến tôi xúc động. Trong tương lai, tôi làm gì? Tôi là một quân nhân và sẽ theo sự điều động của cấp trên...
- Rất tiếc tôi không ở Sài Gòn nữa và càng tiếc hơn tôi sẽ nghỉ hưu khi về đến Mỹ, nên không thể cộng tác với đại tá. Dù sao, tôi không bao giờ quên đại tá và khi cần, đại tá và phu nhân báo với chúng tôi một tiếng, lập tức đại tá sẽ được hỗ trợ của chúng tôi, dĩ nhiên, với tư cách riêng. Tại sao đại tá không vận động ra đơn vị, nơi đó phù hợp với thói quen năng nổ của đại tá.
Luân cười:
- Tôi không bao giờ vận động cho mình một cái gì đó.
- Nhưng bạn bè của đại tá rất thích đại tá cầm quân.
Luân nhún vai:
- Chúng ta là quân nhân và quân nhân cần kỷ luật...
Mắt của Jones Stepp ánh lên một thoáng giễu cợt:
- Đúng... tôi đồng ý. Tôi sẽ không cần giới thiệu đại tá với người tiếp nhiệm tôi. Ông James Casey chẳng lại gì với đại tá – ông ta cũng vừa được thăng đại tá. Tôi không được ủy quyền thay mặt cho nước Mỹ nói mấy lời sau đây, song tôi nghĩ bổn phận buộc tôi phải nói: Nước Mỹ tự hào có ở đây những người bạn tốt như đại tá.
Saroyan đến nhà Luân. Cuộc chia tay thật buồn.
- Ai biết được cái gì sẽ xảy ra với anh Luân, Thùy Dung và bé Lý... Tất cả đều kỳ quặc. James Casey thành thạo mọi thứ và tôi rất lo. – Saroyan ngập ngừng, liếc Dung – Gã thuộc hạng dâm đãng... Ngay với tôi, hễ có dịp là hắn sỗ sàng...
- Cái đáng lo không phải từ gã James Casey đâu. – Luân bùi ngùi bảo Saroyan... - Cuộc tranh giành ghế bất kể sống chết từ khi ông Diệm chết, đến đỉnh cao. Người Mỹ, qua thí nghiệm, đang sửa soạn tốp kéo cỗ xe mới và họ quyết định chơi một canh bạc lớn, thậm chí lớn hơn canh bạc Triều Tiên. Vai trò của Jones Stepp chấm hết, dù Saroyan ở lại hay về Mỹ, tình hình vẫn không thay đổi.
- Anh lo lắng điều gì? – Saroyan hỏi.
- Tôi và Dung mến Saroyan. Chúng ta gần như cùng một nhà với nhau. Tôi nhớ lại, có lần Saroyan nói rằng ở lâu trên mảnh đất này, Saroyan hiểu thêm và kính trọng thêm dân tộc chúng tôi. Một dân tộc như thế mà bị vùi dập bằng bom, bằng pháo, bằng hàng trăm nghìn quân ngoại quốc. Saroyan có thấy nỗi bất công, nỗi đau không? Tại sao? Tại sao người ta nhất quyết bắt dân tộc chúng tôi phải sống theo mẫu của người ta? Tôi bất lực ngăn ngừa thảm họa đó...
- Em hiểu. Nhưng, nếu anh cho phép, em có lẽ khuyên: anh bất lực với cả một ý đồ khó mà cưỡng lại nổi, song lẽ nào anh không đủ sức bảo vệ anh, Thùy Dung và bé Lý? Điều đó chẳng khó khăn mấy, thậm chí dễ dàng nữa...
- Saroyan khuyên tôi khom lưng làm ngựa à?
- Không! Không đời nào! Em trọng anh và dù có mặt Thùy Dung ở đây, em cũng không dấu em yêu anh... vì anh không chịu khom lưng. Tại sao anh không xin giải ngũ và sống ở nước ngoài?
- Saroyan! Em hiểu cho anh, anh ghét thói khom lưng ngang thói đào ngũ...
- Anh đâu có đào ngũ? Anh đã phục vụ hết mình và anh có quyền nghỉ ngơi...
Dung nãy giờ lặng lẽ theo dõi cuộc đối thoại, chợt lên tiếng:
- Saroyan, mỗi người có một lý do riêng. Cám ơn Saroyan quan tâm đến chúng tôi. Nhưng, Saroyan yên tâm. Chúng ta biết cư xử thế nào cho phù hợp...
Bữa cơm tiễn biệt không có lấy một tiếng cười.
- Anh đã từng cứu mạng sống em, suốt đời em không quên... Em nghĩ cách trở lại Sài Gòn... - Saroyan nói.
Luân hốt hoảng:
- Chớ! Saroyan đừng ly dị Jones. Nguy hiểm lắm.
- Và tai tiếng nữa – Dung thêm vào.
- Nguy hiểm? Tai tiếng? Em đâu cần. Em cần cái khác chỉ có anh, Thùy Dung mới giúp em đủ can đảm mà sống. Tại sao em không thể sống có ích hơn?
- Bất kể như thế nào, tôi van Saroyan đừng trở lại đây... – Luân nói thiểu não.
- Đó là quyền của em... Thôi, ta từ biệt. Chúc may mắn.
Saroyan vào phòng, hôn bé Lý, trở ra hôn Dung thật lâu rồi hôn Luân – nước mắt đầm đìa.
Vợ chồng Saroyan lên máy bay được hai hôm thì Luân đựoc công lệnh: bổ nhiệm là tùy viên báo chí của tòa đại sư Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ.
Nhận công lệnh, Luân gặp Quốc trưởng Phan Khắc Sửu; vị quốc trưởng ngớ ra: Tại sao điều động người phát ngôn của Quốc trưởng mà không tham khảo Quốc trưởng lấy một tiếng?
Luân thấy không cần trao đổi với Phan Khắc Sửu – ông ta vẫn có thể nhận một công lệnh tương tự!
- Tổng trưởng ngoại giao Phạm Đăng Lâm ký công lệnh à? – Sửu hỏi.
Luân biết Phạm Đăng Lâm chỉ là cái máy ký, nơi quyết định là ở chỗ khác.
- Chắc họ thấy tôi nghe lời đại tá trong một loạt vụ hủy bỏ án tử hình, thả sinh viên học sinh bị bắt nên muốn đẩy đại tá đi xa. Thôi, đại tá cứ thi hành, tôi sẽ bàn lại với ông Hương...
Hẳn là Phan Khắc Sửu chẳng bao giờ bàn lại với ông Huong. Trong đầu Luân, một kế hoạch hành động hiện rõ dần.
Dung không đi theo Luân. Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia Trần Thanh Bền dứt khoát bác bỏ đơn xin nghỉ việc của Thùy Dung:
- Bà chưa thể nghỉ, dù nghỉ có thời hạn... Bao giờ tôi thôi nhiệm vụ Tổng giám đốc, lúc đó sẽ tùy bà...
Luân chào tướng Dương Văn Minh tại nhà riêng.
- Thưa đại tướng...
Luân chưa nói hết câu, Big Minh đã ngăn anh:
- Đừng gọi tôi là đại tướng... Tôi không nhận cấp bậc đó, đại tá hiểu từ lâu...
- Thưa trung tướng, – Luân sửa cách xưng hô – Tôi trình với trung tướng tôi được lệnh sang Mỹ, làm tùy viên báo chí đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa...
Tướng Minh không tỏ một chút ngạc nhiên:
- Vậy đó! Tướng Khiêm đi, bây giờ anh. Và, sắp tới, tôi cũng đi, lần này giống anh, đi luôn!
- Làm sao đi luôn được, thưa trung tướng?
- Ờ... Nhưng, họ nắm quyền...
- Ta đành chịu mãi số phận cá nằm trên thớt hay sao?
Tướng Minh nhìn Luân mệt mỏi:
- Không chịu cũng không được! Ngay mấy bạn của tôi nay chỉ đóng vai trò hụ hợ... Cỡ ông Đôn mà trợ lý cho ông Nguyễn Khánh thật tức cười... Anh có biết ông Hinh sang Pháp làm chức gì không?
Luân không theo dõi việc này nên lắc đầu.
- Nguyễn Văn Hinh, bạn của ông Đôn, hàm tướng 4 sao Pháp, tư lệnh không quân Pháp kiêm Tổng tham mưu phó!
Trong cách nói của tướng Big Minh, Luân tìm thấy nhiều ẩn ý: Người Pháp biết trọng dụng nhân tài hơn người Mỹ, loại tướng lĩnh do Pháp đào tạo giỏi hơn loại tướng lĩnh do Mỹ đào tạo...
Luân thở dài. Anh mong chờ một Dương Văn Minh khác.
- Thưa trung tướng, nghe tin ông Dưong Văn Nhựt đang cầm quân...
Tướng Minh không phản ứng gì cả, nói rất bình thản:
- Gia đình tôi chia làm hai xu hướng. Chú Nhựt theo Việt Minh từ ngày đầu. Tôi không giống chú Nhựt... Đó là chuyện mấy chục năm qua...
- Còn bây giờ? – Luân hỏi, hơi lộ liễu.
- Bây giờ, có lẽ chú Nhựt đúng... Việt Minh, Việt Cộng có cái gì đó như lý tưởng. Còn tôi, anh nhiều bạn bè, chúng ta có cái gì?
- Nếu người Mỹ mời trung tướng ra làm Quốc trưởng, trung tướng có chấp nhận không?
Tướng Minh cười, cái cười vừa hộc hạc vừa chua chát:
- Lúc này, Mỹ không nghĩ đến tôi đâu. Nếu họ nghĩ đến tức là tách tôi khỏi Nam Việt. Họ đang thí nghiệm một lý thuyết và tôi phản đối. Tôi đã gặp tướng Taylor, khuyên ông ta thận trọng. Chết hàng triệu người không phải chuyện chơi. Mỗi ngày nghe tin chiến sự gia tăng tôi buồn lắm. Taylor hỏi tôi chịu ném bom miền Bắc không, tôi lắc đầu: ném bom ở đâu cũng không được.
- Nhưng, theo tôi biêt, ông Trần Văn Hương đồng ý...
- Ồ! Ông Hương là thầy dạy tôi, nhưng ông tìm lối đi khác tôi, ông muốn tiêu diệt Cộng sản, cả Cộng sản miền Bắc. Ông thích làm lãnh tụ, nhưng...
- Xin nghe trung tướng...
- Nhưng ngày cái ghế thủ tướng của ông cũng chẳng vững vàng gì. Ông hạ thấp mình trước Nguyễn Khánh...
- Trung tướng có nhiều bè bạn, anh em, học trò, cấp dưới đang nắm quân... - Luân gợi ý chẳng lấy gì làm khéo.
- Anh, đại tá Nguyễn Thành Luân, cũng có nhiều bè bạn, anh em, học trò, cấp dưới đang nắm quân. Anh làm được cái gì? Trừ khi anh là Tổng thống Mỹ hoặc đại sứ Mỹ ở Sài Gòn. Tôi không ưa lối làm lơ lửng của anh Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát.
- Thưa trung tướng, tôi biết trung tướng rất quả quyết trong vụ 1-11-1963.
- Cám ơn anh, nhưng anh phải trừ cho tôi tội giết anh em ông Diệm...
- Trong tương lai, trung tướng sẽ làm gì?
- Sẽ gặp anh ở một nước nào đó, ngoài Việt Nam Cộng hòa!
Tướng Dương Văn Minh rõ ràng thối chí, bi phẫn. Luân từ giã “thần tượng 1-11-1963” và đến gặp Nguyễn Khánh.
- Tôi biết quyết định cử anh là tùy viên báo chí tại Mỹ. - Nguyễn Khánh nói liền – Quyết định đó do áp lực của tướng Thiệu và Kỳ. Anh chịu khó một thời gian, rồi đâu sẽ vô đó...
- Liệu “đâu sẽ vô đó” không? – Luân cười mỉm.
- Ờ! Thì nói vậy... Biết ngày mai ra sao? Tôi đang được thổi lên mây đây. Nhưng, có khi tôi gặp anh ở Mỹ... Huê Kỳ mà! Họ làm chính trị y như trên phim, biến các cấp chức y như Garry Cooper, cần giật gân thì rút hai khẩu Colt 45 bắn lia lịa...
- Nhưng đại tướng...
- Trời đất! Đại tướng ăn thua mẹ gì, Chủ tịch cũng chẳng ăn thua mẹ gì. Tụi nó điếm đàng lắm. Tôi hơi chậm hiểu...
- “Tụi nó” là ai?
- Trời đất! Anh còn hỏi đố tôi. Thằng Thiệu, thằng Kỳ, chớ ai!
- Nhưng, hai người đó khó hợp tác với nhau lắm...
- Đúng, rồi hai đứa nó sẽ lôi ông bà ông vãi ra chửi nhau, trong khi trước mặt, hai đưa phải ngoi lên cái đã.
- Còn tướng Nguyễn Chánh Thi nữa?
- Ối! Thằng bá láp. Đại xạo. Nó không nằm trong thực đơn của Mỹ đâu.
- Đại tướng căn dặn gì tôi trước khi tôi sang Mỹ?
- Căn dặn anh là kiếm cho tôi một tiệm ăn nào đó để tôi sang có chỗ mà sống!
- Đại tướng bi quan quá!
- Kép hát nào cũng chỉ một thời ăn khách. Tôi tính toán rồi, bọn Mẽo xài tôi bấy nhiêu thôi...
- Và đại tướng cam chịu số phận?
- Không cam chịu thì làm cái gì? – Anh có một cái đầu để Mẽo suy tính cách đối phó với anh. Tôi thua anh xa quá!
Luân không nói nhiều với Dung. Hai vợ chồng biết rõ bước ngoặc trong đời họ bắt đầu.
- Cố liên lạc với A.07, báo cáo... - Luân dặn.
- Anh nên tin cho anh Nguyễn Thành Động, Lưu Khánh Nghĩa, cả anh Lâm biết anh ra đi...
- Báo chí sẽ công bố. Anh đề nghị báo công bố... Anh lo cho em. Có gì bất trắc, nên vào khu ngay...
- Anh yên tâm. Em đủ sức đương đầu với mọi bất trắc. Nhất là em biết chúng ta xa nhau chẳng bao lâu.
Luân ghì vợ vào lòng, hôn thắm thiết. Đó là đêm cuối cùng của Luân và Dung trên chiếc giường quen thuộc, vương hơi của cả hai gần 10 năm...
*
Thông cáo của Bộ Ngoại giao:
Chính phủ Việt Nam Cộng hòa vừa cử đại tá Nguyễn Thành Luân làm tùy viên báo chí tòa đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ.
*
Tin các báo:
Sáng hôm nay, ngày 1-1-1965, đại tá Nguyễn Thành Luân lên đường sang châu Âu và sẽ từ châu Âu sang Mỹ nhận nhiệm vụ mới: tùy viên báo chí đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa.
Ra tiễn đại tá có bà đại tá và con, phó đại sứ Mỹ ở Sài Gòn William Porter, đại diện đại tướng Nguyễn Khánh, đại diện Tổng trưởng Ngoại giao, đại diện Bộ Quốc phòng và nhiều thân hữu của đại tá, các nhà báo trong ngoài nước. Đại tá Nguyễn Thành Luân đã trả lời phỏng vấn ngắn của nữ ký giả Hélen Fanfani tờ Financial Afairs...
*
Luân tạm biệt Sài Gòn với bao nhiêu sự cố dồn dập. Trận Bình Giã lại nổ ra, với mức độ và quy mô lớn hơn lần trước. Quân đội Sài Gòn rơi vào cái bẫy giăng sẵn, cuộc truy kích của quân đội Sài Gòn thực tế là sai lầm về chiến thuật: ngỡ rằng quân Giải phóng đã rút xa, nên tung hằng mấy trung đoàn cốt giương oai và cũng cốt chứng minh với người Mỹ khả năng đối phó của lực lượng tổng trù bị, can thiệp nhanh ở những nơi sôi bỏng nhất, đạt hiệu quả cao nhất cùng khả năng chỉ huy và tham mưu vững vàng của sĩ quan trong các chiến dịch mang tính chất binh chủng hợp thành. Những tham vọng ấy đều tiêu tan giống như các đơn vị bị băm nát có đơn vị mất luôn phiên hiệu. Đài Giải phóng và đài Hà Nội đánh giá trận Bình Giã là bước ngoặc trong loạt chiến tranh được mệnh danh “không tuyên chiến” hoặc “chiến tranh đặc biệt” – Mỹ cung cấp khí tài và cố vấn là chủ yếu. Bình Giã tuyên án tử hình chiến lược mà Taylor là cha đẻ: một kiểu tiết kiệm nhân mạng Mỹ.
Taylor sẽ phải rời Sài Gòn thôi – Luân nghĩ. Ngũ Giác Đài dứt khoát xem xét phương án thứ hai – đổ bộ thực binh Mỹ lên Nam Việt với một số lượng nhất định, chắc chắn đợt đầu phô trương, không thể ít hơn một trăm ngàn. Chính Taylor đã thú nhận: Mỹ phải trả đũa – tức Mỹ phải tự mình gánh vác trách nhiệm ở Nam Việt. Dọn đường cho phương án thứ hai. Mỹ gợi ý các nước Đông Nam Á chi viện cho Sài Gòn. Philippines đáp ứng sớm nhất nhưng chỉ bằng một đội y tế gồm 34 người. Đại Hàn hưởng ứng tiếp theo: Gởi 2.000 quân trong sư đoàn Mãnh Hổ. Dù sao Mỹ cũng gặp khó khăn hơn lúc chiến tranh Triều Tiên: lúc ấy, lợi dụng được lá cờ Liên hiệp quốc, còn bây giờ thì không. Đồng minh Mỹ ở Tây Âu phản đối sự can thiệp quân sự của Mỹ vào Việt Nam. De Gaulle không phải là loại dễ khuất phục. Tuy nhiên, Mỹ vẫn sửa soạn cho phương án đã chọn. Các vụ ném bom bắc vĩ tuyến 17 nhặt hơn, cho phép Sài Gòn bắn phá Vĩnh Linh. Chính Nguyễn Cao Kỳ trực tiếp lái máy bay Skyraider cùng cả một phi đội làm việc đó. Mỹ đặt ở Đà Nẵng giàn hỏa tiễn đất đối đất Hawks. Và, cố vấn an ninh của Tổng thống Mỹ L.B. Johnson vừa nhậm chức, William Bundy, bay sang Sài Gòn.
Muốn triển khai quân, Mỹ cần hai điều kiện: quân đội Sài Gòn phải đảm bảo đương nổi vai trò hỗ trợ và bình định để quân Mỹ đứng trên tuyến 1, tình hình chính trị Sài Gòn phải ổn.
Điều kiện thứ nhất không đơn giản. Các tướng Sài Gòn chẳng ai chịu ai và hội đồng tướng lãnh cứ họp liên miên, khi ở thủ đô, khi ở Vũng Tàu, khi ở Đà Lạt, khi ở Nha Trang. Kết quả đầu tiên là tướng tư lệnh vùng IV Nguyễn Văn Thiệu trở thành tướng 3 sao – trung tướng. Đại tá đầu 1963, trung tướng đầu 1965, Thiệu leo lên chiếc thang quân hàm với tốc độ phi mã.
Điều kiện thứ hai còn gay cấn hơn gấp bội. Thượng hội đồng quốc gia – một kiểu nghị viện – bị giới quân sự giải tán, có người bị bắt, chưa biết xoay xở làm sao để chính phủ có được cái áo hợp pháp thì Phan Khắc Sửu và Trần Văn Hương hục hặc. Nguyễn Khánh đứng ra hòa giải: Hương phải nhận Sửu và Sửu phải nhận Hương trên chức danh do thằng cha tào lao nào đó đặt ra. Rồi, đến lượt Sửu mời hết các phe – cả dân lẫn quân sự - đến phủ Quốc trưởng để “tìm tiếng nói chung”. Trong lúc đó, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đột nhiên nhảy ra tiếp xúc giới Phật giáo gọi là tham khảo thành lập một hội đồng quân dân. Nguyễn Chánh Thi, tư lệnh vùng I không chịu lép vế: gã họp báo, tuyên bố lia lịa về đủ thứ chuyện, kể luốn chuyện gã dốt trân. Nguyễn Khánh điên tiết, bảo Trần Văn Hương tuyên bố danh sách chính phủ cải tổ: Hương vẫn thủ tướng, Nguyễn Lưu Viên đệ nhất phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng nội vụ, trung tướng Thiệu đệ nhị phó thủ tướng, tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh đệ tam phó thủ tướng, trung tướng Trần Văn Minh – biệt danh là Minh nhỏ - tổng trưởng quân lực, Phạm Đăng Lâm tổng trưởng ngoại giao, Lữ Văn Vĩ tổng trưởng tư pháp, thiếu tướng Linh Quang Viên tổng trưởng tâm lý chiến, Nguyễn Duy Xuân tổng trưởng kinh tế, Huỳnh Văn Đao tổng trưởng tài chính, Ngô Ngọc Đối tổng trưởng cải tiến nông thôn, Nguyễn Văn Trường tổng trưởng văn hóa giáo dục, Trần Quang Diệu tổng trưởng y tế, Đàm Sĩ Hiến tổng trưởng xã hội, Nguyễn Hữu Hùng tổng trưởng lao động, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ tổng trưởng thanh niên và thể thao, Phạm Văn Hoàn tổng trưởng Phủ Thủ tướng.
Chính phủ dự định trình diện ngày 19-1-1965, phải đình hoãn vì bốn tướng không đến họp, mãi ngày 21 mới ra mắt được. Dư luận đón chính phủ Trần Văn Hương bằng các cuộc biểu tình mà xu hướng chống Mỹ mỗi ngày mỗi rõ: Phòng thông tin Mỹ ở nhiều nơi bị người biểu tình đốt phá, quy mô biểu tình khá lớn, xô xát với cảnh sát cũng dự dội. Đặc biệt cuộc biểu tình trưa 22-1, tức một ngày sau khi nội các Trần Văn Hương ra mắt, hàng nghìn người đứng trước sứ quán Mỹ đường Hàm Nghi, với các biểu ngữ: Hãy để cho dân Việt tự quyết định công việc của nước Việt. Đám biểu tình đập phá thư viện Mỹ. Trần Văn Hương bẽ mặt, công khi xin lỗi đại sứ Taylor và chửi rủa dân chúng thậm tệ. Trong một bài phát thanh, Hương gọi phần tử biểu tình là “lũ lưu manh cạo trọc đầu để làm trò khỉ”. Hương điều quân dù canh gác Viện Hóa đạo, lính dù có thái độ cực kỳ khả ố đối với nữ sinh Phật tử. Ở Huế, Phòng thông tin Mỹ bị đốt cháy, phó lãnh sự Mỹ can thiệp, bị dân biểu tình ném đá.
Taylor đành phải họp với Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương và Nguyễn Khánh. Cuộc họp chẳng thu kết quả. Sửu đòi quyền Quốc trưởng thật sự, Hương đòi chức thủ tướng không lệ thuộc vào Sửu, Khánh đòi hai người phải tôn trọng quân đội, Taylor đòi mọi lộn xộn phải được thu xếp thật nhanh.
Hàng nghìn tăng ni khắp Nam Việt tuyệt thực. Học sinh, sinh viên tiếp tục xuống đường, ở Sài Gòn và hầu như không sót tỉnh nào, từ Quảng Trị trở vào. Trường Bồ Đề trở thành một thứ bản doanh của thanh niên. Lại tự thiêu: nữ sinh Đào Thị Yến Phi 17 tuổi; tự thiêu giữa thành phố Nha Trang.
Hội đồng quân lực quyết định: giao cho tướng Nguyễn Khánh giải quyết cuộc khủng hoảng nhưng theo hướng của tướng Kỳ: triệu tập hội đồng quân dân.
Lần này, Sửu thắng Hương: Hương nhường ghế cho tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh. Tiến sĩ Oánh chỉ lót đường thôi. Ngày 16-12-1965, Hội đồng quân lực tuyên cáo:
“Như đã nhiều lần trình với quốc dân đồng bào, các tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa chỉ mong muốn ở Nam Việt thiết lập được một thể chế dân chủ, thế nhưng thời gian qua chứng tỏ dân tình ly tán, chính phủ không điều khiển được công việc quốc gia, không đủ sức đoàn kết các đồng bào, làm cho uy tín của Việt Nam Cộng hòa suy giảm, an ninh rối loạn, tạo cơ hội tốt cho Việt Cộng đánh mạnh. Một lần nữa, Hội đồng quân lực buộc phải hành động cứu nước. Hội đồng tuyển nhiệm quốc trưởng, chỉ định thủ tướng, thành lập hội đồng quân dân, triệu tập quốc dân đại hội. Sau khi xong nhiệm vụ lịch sử, Hội đồng trở lại vị trí của mình. Hội đồng quân lực tuyên bố chính sách quốc gia như sau: nỗ lực chiến đấu để xây dựng tự do và thanh bình cho xứ sở, liên kết thân thiện với các nước tự do, chống xâm lược Cộng sản, xây dựng dân chủ, cải tiến xã hội”.
Đại tướng Nguyễn Khánh, Tổng tư lệnh quân đội, theo nội dung tuyên cáo của Hội đồng quân lực, ký quyết định tuyển nhiệm kỹ sư nông học Phan Khắc Sửu làm Quốc trưởng và bổ nhiệm Phan Huy Quát làm thủ tướng.
Phan Huy Quát nhanh nhẩu nêu danh sách nội các ngay trong ngày: Quát thủ tướng, trung tướng Nguyễn Văn Thiệu phó thủ tướng kiêm tổng trưởng quân lực, luật sư Trần Văn Đỗ phó thủ tướng kiêm tổng trưởng ngoại giao, luật sư Trần Văn Tuyên phó thủ tướng phụ trách kế hoạch, bác sĩ Lê Văn Hoạch quốc vụ khanh, bác sĩ Nguyễn Tiến Hỷ quốc vụ khanh kiêm tổng trưởng giáo dục, thiếu tướng Linh Quang Viên tổng trưởng thông tin tâm lý chiến, Trần Văn Ân, tổng trưởng chiêu hồi, giáo sư Nguyễn Văn Vĩnh tổng trưởng kinh tế, giáo sư Trần Văn Kiện tổng trưởng tài chính, kỹ sư Nguyễn Ngọc Tố tổng trưởng canh nông, kỹ sư Ngô Trọng Anh tổng trưởng giao thông công chánh, giáo sư Trần Quang Thuận tổng trưởng xã hội, bác sĩ Nguyễn Tăng Nguyên tổng trưởng y tế, Nguyễn Văn Hoàng tổng trưởng lao động, Y sĩ trung tá Nguyễn Tấn Hồng tổng trưởng thanh niên, Bùi Diêm bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Nguyễn Văn Tương thứ trưởng nội vụ, kỹ sư Bùi Hữu Tuấn thứ trưởng công chánh.
Danh sách trên cho thấy tham vọng của Phan Huy Quát: lôi kéo đủ phe nhóm, từ Phật giáo, Thiên Chúa, Cần Lao, đến Bình Xuyên, Cao Đài...
Hội đồng quân lực cũng ra quyết định thành lập Hội đồng quốc gia lập pháp gồm 20 người thuộc nhiều xu hướng: Luật sư Nguyễn Huy Chiểu, bác sĩ Phạm Hữu Chương, trung tướng Phạm Xuân Chiểu, Đề đốc Chung Tấn Cang, thiếu tá Đỗ Đăng Công, giáo sư Cao Hữu Định, giáo sư Nguyễn Lương Hưng, bác sĩ Phạm Văn Hạt, giáo sư Bùi Hữu Tuấn, Trịnh Quốc Khánh, đại tá Đoàn Chí Khoa, giáo sư Phạm An Khoang, Nguyễn Long, đại tá Bùi Văn Mạnh, Hùynh Văn Nhiệm, thiếu tá Nguyễn Phúc Quế, luật sư Nguyễn Lâm Sanh, Nguyễn Văn Thanh, Nguyễn Trân, Trần Quang Vinh. Phạm Xuân Chiểu được bầu làm chủ tịch hội đồng.
Đài phát thanh BBC dành cho đại tá Nguyễn Thành Luân một buổi phỏng vấn đặc biệt, nhân đại tá trên đường sang Hoa Kỳ nhận nhiệm vụ tùy viên báo chí đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa, ghé thăm Anh quốc: “Như đa số thính giả bản đài biết, đại tá Nguyễn Thành Luân là một nhân vật nổi tiếng ở Việt Nam Cộng hòa, ông cùng cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu thảo ra nền tảng lý thuyết Cần lao Nhân vị cho chế độ Ngô Đình Diệm và nền tảng đó tỏ ra hữu hiệu ngót 10 năm trên một đất nước mà Cộng sản giữ ưu thế trên nhiều phương diện. Sau đây xin mời quý vị thính giả nghe cuộc phỏng vấn bằng tiếng Việt. Đại tá nhã nhặn dành cho thính giả tiếng Anh buổi phỏng vấn mà bản đài sẽ phát liền khi chấm dứt chương trình Việt Ngữ.
BBC: Thưa đại tá, xin đại tá cho thính giả của đài BBC một cái nhìn tổng quát tình hình hiện nay ở Việt Nam Cộng hòa.
ĐẠI TÁ NGUYỄN THÀNH LUÂN: Tôi cám ơn đài BBC đã tổ chức buổi phỏng vấn này, tạo cơ hội cho tôi trình bày vài suy nghĩ về vị thế hiện tại của Việt Nam Cộng hòa. Nhìn tổng quát, tình hình không khả quan so với trước chính biến 1-11-1963, cách nay hơn một năm. Lúc bấy giờ, trên cả ba bình diện Việt Nam Cộng hòa đều khá ổn định. Về bình diện chính trị, đất nước có một quốc hội, một hiến pháp, một Tổng thống và một nội các khả thi các chính sách, tuy xảy ra vụ Phật giáo song đang trên đà giàn xếp ổn thỏa, dan tâm xao xuyến mức nào đó nhưng vẫn chưa sứt mẻ niềm tin ở chính nghĩa quốc gia và khả năng phục hồi an ninh. Việt Nam Cộng hòa giữ được uy tín quốc tế và mối quan hệ thân thiết với thế giới tự do, không nảy sinh tranh chấp gì quan trọng với các quốc gia theo xu hương Bangdun trong vùng Nam Á và Thái Bình Dương. Việt Nam Cộng hòa là đồng minh trung thành của Hoa Kỳ. Về bình diện kinh tế và xã hội, các mặt nông, kỹ nghệ, kinh tế, thương mại, các mặt học đường và ngôn luận, tất cả đều phát triển bình thường, có tăng hàng năm, số tiền viện trợ của Hoa Kỳ và các nước bạn được dùng đúng mục tiêu, không có tệ nạn tham nhũng. Về bình diện quân sự, Việt Cộng quấy phá từng nhóm nhỏ an ninh lãnh thổ nói chúng không đáng lo ngại, quân lực Việt Nam Cộng hòa đảm đương không quá vất vả các quân khu, sĩ quan không tham chính, kỷ luật được tôn trọng.
BBC: Thưa đại tá theo cách trình bày của đại tá chế độ của ông Diệm là lý tưởng. Nhưng tại sao dân chúng Việt Nam lại ủng hộ chính biến 1-11-1963?
ĐẠI TÁ LUÂN: Tôi không bao giờ cho rằng chế độ ông Diệm là lý tưởng. Nó có một số khuyết tật, tỷ như nó tự giới thiệu gần như độc quyền của những người Thiên Chúa giao di cư, như thuộc địa phương của miền Trung, quê quán của ông Diệm và về sau nó mang dáng dấp cung đình. Tuy nhiên, tôi so sánh thời kỳ ông Diệm với hiện nay là ai cũng thấy sự hoán đổi đáng phàn nàn: từ trị ra loạn, từ hiến chế ra quân phiệt, từ vững vàng ra suy yếu...
BBC: Nghĩa là đại tá kết án chính biến 1-11-1963 và các vị chủ xướng chính biến đó?
ĐẠI TÁ LUÂN: Về một khía cạnh nào, chính biến có nhu cầu khách quan của nó. Một số vị chủ xướng cuộc lật đổ ông Diệm, theo tôi nghĩ, vì lòng yêu dân tộc. Nhưng, sát hại anh em ông Diệm dứt khoát là sai lầm. Sai lầm nối tiếp là không kịp thời định hướng chính trị, thiếu những người sáng suốt cai trị đất nước, quá mềm yếu trước nguy cơ kiêu binh. Tôi cho rằng người Mỹ hối hận đã hại anh em ông Diệm và xóa mà không có cái thay thế.
BBC: Thưa đại tá, có phải đại tá cho rằng mọi sự nay đều quá muộn?
ĐẠI TÁ LUÂN: Tôi không nghĩ một cách tuyệt đối như vậy. Song, nếu người Mỹ từ trước đến nay đều lo lắng sự dính liệu của bản thân mình quá sâu vào một đất nước xa lạ và luôn muốn tránh điều ấy thì tình thế chưa quá muộn...
BBC: Người Mỹ, Tổng thống Johnson chắc chắn ngại một Triều Tiên thứ hai?
ĐẠI TÁ LUÂN: Nam Việt không phải là một Triều Tiên theo nghĩa sao chép sự kiện cách chúng ta 15 năm. Nhưng, Nam Việt có thể dành cho nước Mỹ một số phận bi đát hơn Triều Tiên dù ở đây rất ít khả năng Mỹ chạm trán với Trung Cộng hay Nga Sô mà chỉ chạm trán với Cộng sản Việt Nam thôi.
BBC: Xin đại tá nói rõ hơn ý vửa rồi.
ĐẠI TÁ LUÂN: Không hoặc ít khả năng chạm trán trực diện với Trung Cộng và Nga Sô, tình cảnh Mỹ không vì vậy mà ít phức tạp hơn. Chạm trán với cả làn sóng thế giới kết án chiến tranh xâm lược, với sự thiếu nồng nhiệt của một số đồng minh lớn như Pháp, Anh, với thái độ bất bình của Ấn Độ, Indonésia và sau cùng, với chính các tầng lớp người Mỹ...
BBC: Theo đại tá, đâu là lối thoát?
ĐẠI TÁ LUÂN: Phải đặt vấn đề Nam Việt, vấn đề Nam Việt và Đông Dương trên mối cân bằng chính trị. Đây là bài toán chính trị cần đáp số chính trị. Theo đuôi một phương pháp khác giải bài toán sẽ không bao giờ tìm được chìa khóa và hậu quả thì vô cùng nặng nề, cho cả Việt Nam lẫn Mỹ.
BBC: Xin được hỏi câu cuối cùng: Đại tá dự định làm gì ở Hoa Kỳ?
ĐẠI TÁ LUÂN: Tôi thành thực vui mừng trở lại Mỹ, gặp lại bạn bè. Trong nhiệm vụ tùy viên báo chí, tôi cố làm cho dư luận hiểu thực chấp vấn đề Nam Việt.
BBC: Thế thì đại tá sẽ làm ngược lại ý kiến của chính phủ Việt Nam Cộng hòa!
ĐẠI TÁ LUÂN: Miễn tôi không làm ngược lợi ích lâu dài và cơ bản của Việt Nam Cộng hòa và Mỹ.
BBC: Xin cảm ơn đại tá.
*
Điện khẩn: Gửi đại tá Nguyễn Thành Luân.
Sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Washington.
Thủ tướng chính phủ không hài lòng về những câu trả lời của đại tá với đài BBC. Thủ tướng yêu cầu từ nay đại tá không được lên tiếng nếu không xin ý kiến đại sứ.
Văn phòng phủ Thủ tướng – Sài Gòn.
*
SAI LẦM VÀ SAI LẦM
(Bài của cựu đại sứ ở Nam Việt F. Rheinardt trên báo New Yorker Magazine).
Một người bạn của tôi – và đương nhiên cũng là một người bạn của nước Mỹ- vừa đến thủ đô Washinton trong một nhiệm vụ hết sức khiêm tốn: tùy viên báo chí tòa đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ. Vợ tôi và tôi ra sân bay đón ông cùng với vị đại diện sứ quán Việt Nam Cộng hòa. Buổi đón tiếp, trong bụi tuyết lả tả sẽ hết sức lạnh lẽo nếu không có mặt tướng hồi hưu Jones Stepp và phu nhân, cùng một số nhà báo, truyền thanh, truyền hình đông đảo khác thường. Vị đại diện lên máy bay và chúng tôi biết ông trao cho đại tá Nguyễn Thành Luân, người bạn mà tôi nói, bức điện khẩn của Sài Gòn yêu cầu không được tuyên bố điều gì với báo chí Mỹ. Tất nhiên, như tôi biết về ông trong những ngày đầu khó khăn của chế độ Sài Gòn, ông vẫn là ông. Ông tươi cười bắt tay và ôm hôn chúng tôi, tươi cười với các ống kính. Ông đã thoải mái trả lời nửa giờ liền các câu hỏi của báo chí và đài truyền hình như ông đã làm ở London. Vị đại diện sứ quán mặt tái, còn ông, ông hẹn các nhà báo lần khác, nhiều thì giờ hơn, sẵn sàng thỏa mãn mọi tò mò của công luận Mỹ. Tuy nhiên, 30 phút cũng đủ cho chính giới Mỹ hiểu được hai điều trọng yếu: một là, nếu Tổng thống Johnson tiếp tục đường lối hiện nay thì Nam Việt là con đường hầm như bộ tiêu hóa cực kỳ tốt nuốt hàng nghìn tỉ dollar và hàng trăm nghìn binh sĩ Mỹ, nuốt luôn uy tín của một đại cường quốc đang lãnh đạo thế giới tự do; hai là ông đầy bản lĩnh. Điều trọng yếu thứ nhất, với tôi, chưa phải đã thật hoàn hảo, tôi còn nhiều điểm để tranh luận và tôi chờ đợi dịp thuận lợi, chờ bài báo mà ông hứa sẽ viết ngay cho tờ Washington Post. Điều trọng yếu thứ hai, cũng với tôi, thì không còn gì để bàn cãi. Nguyễn Thành Luân, một sĩ quan cấp cao của Việt Minh kiến thức phong phú, hợp tác với Ngô Đình Diệm khi ông này lên cầm quyền ở Sài Gòn. Là sĩ quan (ông bổ túc ở học viện Fort Bragg), Nguyễn Thành Luân đúng hơn là nhà tư tưởng chiến lược, tổ chức và chỉ đạo. Tôi từng trao đổi với ông và tìm thấy ở ông một tiềm năng trí tuệ đặc sắc. Tướng Collins cũng đồng ý với tướng Taylor nhận định về ông không khác. Lúc còn là phó tổng thống, ông L.B. Johnson từng nói với tôi: Đó là người cần cho nước Mỹ.
Thế nhưng, chính ông Cabot Lodge đã làm hỏng tất cả. Hạ bệ ông Diệm chỉ là một khía cạnh, khía cạnh kia quan trọng hơn, là hình thành đội ngũ kế tiếp. Chúng ta lún sâu vào sai lầm. Tập đoàn đang thống trị Nam Việt bát nháo chưa từng thấy và bây giờ chính nước Mỹ bị họ xỏ mũi dẫn đi chẳng biết về đâu và đến đâu. Lẽ nào nước Mỹ phải thỏa mãn thói đàng điếm, thói bốc đồng của các tướng và chính khách Nam Việt tối dạ nhất về chính trị? Và, một con người, cha đẻ mọi chủ thuyết hoàn hảo, chống Cộng khôn ngoan, con người đó đột nhiên bị đuổi ra khỏi Tổ quốc mình và nhận một chân thơ lại tại một sứ quán. Cách làm của tướng Nguyễn Khánh, chắc chắn được ông Colby ngầm ủng hộ, nhằm thải loại tất cả những ai nhiệt thành tiết kiệm máy cho Mỹ và thuế cho công dân Mỹ. Tổng thống Johnson, ngoại trưởng Dean Rusk cần hiểu: sai lầm như thế là đủ, quá đủ. Tướng Westmoreland đang xin quân. Tôi, với tư cách nguyên đại sứ Mỹ ở Nam Việt xin cái khác: Hãy biết dùng người Việt, họ đủ tài năng và kinh nghiệm hơn chúng ta. Ngăn chặn Cộng sản ở Nam Việt không thể bằng các sư đoàn Mỹ, không thể bằng hạm đội và không quân Mỹ.
Công chúng Mỹ cần biết: ở Việt Nam không chỉ có Nguyễn Khánh lố bịch mà còn có những người nghiêm túc như đại tá Nguyễn Thành Luân.

CHƯƠNG 21 - KẾT

Tết Nguyên Đán Ất Tỵ là một cái Tết không vui của mẹ con Thùy Dung. Nhà vắng vẻ, tuy vẫn có đủ mọi thứ của ngày Tết, vẫn nhận được quà và thiệp chẳng kém hơn bất kỳ năm nào. Luân không ở nhà, lý dó đó chưa thật sự quan trọng, quan trọng là tương lai của Luân.
Luân đi rồi, Dung bình tĩnh làm một cuộc tính sổ 10 năm. Sơ hở không ít trong từng ấy thời gian họat động song cô tin chắc rằng không có sơ hở nào đến độ bộc lộ chân tướng của Luân cũng như cô. Xét cho cùng, kẻ đáng gờm nhất là John Hing, qua đánh giá của cô chưa vượt qua những dấu hỏi nghi ngờ, phân vân thông thường trước một nhân vật kiểu Luân.
Thế thì, điều nguy hiểm chỉ có thể từ hai hướng: một là chính sách Mỹ thay đổi sâu xa, thay đổi ở tầm vóc chiến lược và Luân không phải là con bài đáp ứng cho chiến lược Mỹ tại Nam Việt, Mỹ cần một tay sai ngoan ngoãn đảm bảo trang trí mặt tiền nhằm giảm nhẹ phản ứng của các nguồn dư luận bản địa và quốc tế khi Mỹ đưa một khối lượng thực binh lớn vào đây, biến cuộc chiến tranh ít nhiều mang ý nghĩa nội chiến thành cuộc chiến tranh Mỹ. Luân bỗng nhiên hóa ra một trở lực Mỹ cần thu xếp; hai là các tay sai Mỹ ganh tị, chúng đều tự thấy bé nhỏ trước Luân và cố loại Luân bằng mọi giá để giữ chân độc quyền chấp hành ý muốn của Mỹ - các tay sai quân phiệt này đều liên quan với các công ty Mỹ, với các phe nhóm “diều hâu” Mỹ, đều phần nào ý thức vai trò cai trị mà 10 năm qua Mỹ đã tập tành cho chúng, chúng đích thị là tầng lớp giàu có và không bao giờ chịu rời quyền lực gắn chặt với của cải, giống bọn độc tài Nam Mỹ, châu Phi, một số nước châu Á...
Thái độ chính trị của Luân có quá cứng không? Hơn ai hết, Dung hiểu chồng mình: nỗi đau khổ dằn vặt anh là viễn cảnh chiến tranh quy mô và hiện đại tàn phá quê hương, không thu hẹp ở miền Nam và anh tự đặt cho mình ngăn ngừa tai họa ấy, tai họa dân tộc. Nhưng, lãnh đạo hơn một lần dặn Luân: trong mọi tình huống, phải giữ đúng thân phận phần tử quốc gia, thậm chí thân Mỹ, để tồn tại trong lòng địch càng lâu càng tốt, leo càng cao càng tốt. Sự can thiệp của Mỹ ở Nam Việt biến thành cuộc chiến tranh xâm lược, theo Dung, đã quá hiển nhiên. Vấn đề là Luân có thể đóng vai trò một gã hỗ trợ cho cuộc chiến tranh xâm lược ấy, cuộc tàn sát đại quy mô không?
Đến tướng Big Minh còn không cam tâm thực hành ý định của Mỹ thì Luân làm sao nhận thân phận tên bù nhìn để mỗi ngày chứng kiến hàng vạn đồng bào mình chết vì bom đạn Mỹ? Luân giữ cá tính riêng: anh phản đối mọi hình thức chiến tranh xâm lược. Trong một bối cảnh nào đó, cá tính của anh phù hợp với mưu toan của Mỹ, nhưng nay thì rõ ràng mưu toan của Mỹ khác xa với quan điểm của Luân từng bảo vệ. Tuy vậy, theo Dung, chiến tranh ở cường độ cao không thể kéo dài. Rồi, Mỹ cũng phải theo các giáo điều của cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn: đánh nhanh; khi không đánh nhanh đươc, một lần nữa, Mỹ sẽ thay đổi chiến lược. Luân có thể ẩn nhẫn chờ thời cơ không? Đáng tiếc, Dung là vợ của Luân, cô giãi bày suy nghĩ chứ không ra lệnh được cho Luân – cô biết, Luân rất tôn trọng kỷ luật.
Phần Dung, cô luôn giữ thân phận một sĩ quan cảnh sát mẫn cán, chưa một lần bị khiển trách về công vụ. Thái độ của Mỹ, của các tướng Nam Việt khiến cô yên lòng – không phải yên lòng cho cô mà cho chồng cô. Ít nhất, người ta chưa quyết xóa bỏ Luân bằng một hình thức nào đó. Dĩ nhiên, cần xin chỉ thị của cấp trên, của anh Sáu Đăng hay của chú Thuận. Dung nghĩ cách trực tiếp báo cáo và xin chỉ thị...
Giữa lúc ấy, M. George Bundy, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Mỹ Johnson đến Sài Gòn. Một trong những người mà Bundy đề nghị gặp và làm việc là Dung.
Bundy tiếp Dung tại phòng khách đại sứ quán Mỹ.
- Tôi rất hân hạnh chào bà. – Bundy mở lời rất nhã nhặn – Tôi nghe tin đại tá Nguyễn Thành Luân sang Washington, nhưng chưa được gặp... Bà đã biết nhiệm vụ của tôi trong chuyến khảo sát tại chỗ tình hình Nam Việt, tôi muốn trình với Tổng thống Johnson một hoàn cảnh Nam Việt thật trung thực. Tôi đã làm việc với đại sứ nước chúng tôi, với tư lệnh Westmorland và phó của ông ta, tướng Throckmorton, với quyền thủ tướng chính phủ Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Xuân Oánh, với một số tướng lãnh và với đại tá Tổng giám đốc cảnh sát quốc gia. Nếu bà vui lòng, thưa bà thiếu ta, tôi xin phép hỏi bà một số khía cạnh mà tôi tin bà rất am tường, khía cạnh dính đến ngành mà bà làm việc.
- Thưa ông cố vấn đặc biệt, tôi rất sẵn lòng, tuy nhiên, tôi xin thưa trước: sự hiểu biết của tôi có giới hạn...
Bundy xua tay:
- Trước khi gặp bà, tôi đã được nghe nói về bà... Ta hãy tiết kiệm thời gian. Theo bà, tình hình an ninh Nam Việt hiện nay như thế nào? Tốt, xấu? Tại sao?
- Câu hỏi của ông hơi rộng. Thưa ông, nước chúng tôi đang ở trong một dạng chiến tranh, tùy cách gọi của mỗi phía, “chiến tranh đặc biệt”, “chiến tranh không tuyên chiến” và “chiến tranh chống du kích”... Với thực tế như thế, an ninh cần được hiểu theo nghĩa nào, thưa ông?
Bundy mỉm cười:
- Bà đúng là một sĩ quan cảnh sát... Tôi xin thu hẹp nghĩa an ninh ở các vùng do chính phủ kiểm soát, chủ yếu, ở các thành thị...
- Điều này, có lẽ ông không cần hỏi cũng đã nắm được các diễn biến: chưa lúc nào ở Việt Nam Cộng hòa nhiều cuộc bãi công, bãi khóa, chiếm trường biểu tình và xung đột trên đường phố như lúc này...
- Xin lỗi bà. – Bundy ngắt lời Dung - Từ tháng 5-1963 đến chính biến 1-11, xáo trộn chính trị không kém bây giờ...
- Ông nhận xét không sai. – Dung nhỏ nhẹ - Nhưng, đó chỉ là nhận xét về hình thức, về cái biểu hiện bên ngoài...
- Tôi chưa hiểu ý bà...
- Trước kia, xung đột xuất phát từ những bất đồng quan điểm giữa thế lực chống ông Diệm và ông Diệm, trong khuôn khổ chủ nghĩa quốc gia. Còn bây giờ...
Bundy chăm chú nghe, gật đầu như đã nắm được ý của Dung.
- Còn bây giờ, một sự phân hóa sâu sắc trong cách nhìn vận mệnh Nam Việt. Không ít người cho rằng quân đội Mỹ cần đến Việt Nam Cộng hòa càng đông càng tốt, không giới hạn khu vực và cường độ chiến tranh dưới vĩ tuyến 17, xóa bỏ các hình thức cai trị đất nước bằng bầu cử và dân sự mà có ngay một chế độ độc tài quân sự đủ cứng rắn. Phía khác, đông hơn, cho rằng quân đội Mỹ vào Việt Nam Cộng hòa tức nền độc lập ơ đây bị sứt mẻ, Mỹ khôi phục hình ảnh của Pháp ngày xưa, là quốc gia xâm lăng và để bảo đảm cho ý định xâm lăng Mỹ chỉ dùng những người bản xứ dễ sai bảo... Đáng quan tâm là lối nhìn sau không phải chịu tác động của Việt Cộng, và nó được chia sẻ bởi nhiều giới kể cả giới thượng lưu, tu hành, tầng lớp trí thức, đặc biệt là số trẻ.
Dung ngừng nói. Bundy ngó lên trần nhà.
- Xin bà nói tiếp... Những lời vừa rồi của bà hết sức bổ ích đối với tôi, chắc chắn nó sẽ là môt bộ phần hợp thành bản báo cáo mà tôi sẽ trình cho Tổng thống Johnson.
- Do đó khía cạnh an ninh của Việt Nam Cộng hòa khá phức tạp. Từ hoàn cảnh khách quan xáo trộn nên an ninh và sinh nở các nhân tố mất an ninh có vẻ ngày càng thêm đậm nét và sẽ triền miên. Như ông có thể xác minh, sự ổn định đòi hỏi một loạt điều kiện mà trung tâm phải là đời sống chính trị trở lại trạng thái bình thường, luật pháp với các điều khoản chi tiết hướng đất nước chứ không phải các tuyên cáo, tuyên ngôn, quân luật... Tôi không ngại Việt Cộng quấy rối an ninh – giải quyết vấn đề Việt Cộng là cả một chiến lược lâu dài – mà tôi ngại những xáo trộn từ bản thân chế độ Việt Nam Cộng hòa. Tôi chưa rõ cấp trên của tôi phát biểu với ông ra sao, riêng tôi, nếu không thu xếp ổn thỏa nội bộ chúng ta, thì, ngành an ninh đành bất lực. Làm sao chúng tôi dám nổ súng vào các đám biểu tình?
- Bà có lý... Càng không dám nổ súng vào đám biểu tình khi đám biểu tình chống quân Mỹ đổ bộ lên đây, đất nước đầy ý thức quốc gia. Chỉ có thể ngăn ngừa điều đó bằng một cuộc vận động lớn, rộng rãi, để mọi người Việt Nam Cộng hòa hiểu sự cần thiết phải có mặt quân đội Mỹ...
- Nhưng đó không phải là trách nhiệm của ngành cảnh sát chúng tôi.
- Tôi hiểu... Bây giờ, tôi xin được hỏi bà một câu hoàn toàn riêng: Bà có tán thành sự có mặt của quân đội Mỹ ở Việt Nam Cộng hòa không?
Bundy ngó thẳng vào Dung.
- Thưa ông cố vấn đặc biệt, tôi chỉ là một sĩ quan cảnh sát trung cấp, một người thừa hành. – Dung tránh đôi mắt của Bundy, làm ra vẻ nghiêm túc.
- Bà vẫn có quyền có ý kiến riêng. Bà đỗ cao học luật, một trí thức. – Bundy không rời khỏi mắt Dung.
- Thưa ông, nếu thế thì tôi xin nói: tôi không tán thành!
- Lý do?
- Không cần thiết!
- Không cần thiết hay bà cho đó là một hành động xâm lược?
Đến lượt Dung ngó thẳng vào mắt Bundy:
- Không cần thiết để phải mang tiếng xâm lược.
- Nếu tôi hay ai đó chứng minh với bà sự cần thiết có mặt của quân đội Mỹ, chứng minh đầy thuyết phục, bà sẽ nói sao?
- Tôi sẵn sàng nghe ông chứng minh!
- Tôi không đủ sức làm việc đó. Người khác sẽ làm...
Dung mỉm cười.
- Bà không tò mò hỏi ai sẽ chứng minh sao?
- Không! Vì tôi đã biết...
- Ai?
- Quân đội Mỹ!
- Bà cực kỳ thông minh.
- Nhưng, quân đội Mỹ sẽ thuyết phục tôi hay ông, điều đó tương lai sẽ trả lời.
- Tôi khâm phục bà, bà thiếu tá! – Bundy đứng lên.
- Rất cám ơn ông cố vấn...
... Hôm sau Trần Thanh Bền gặp Dung:
- Bundy nể bà lắm, bà Luân... Ông ta bảo không dễ gì có được một trợ tá cỡ như bà. Bà làm tôi vinh dự lây!
... Tờ Ngôn luận và vài tờ báo đăng mẩu rao vặt:
“Đồn điền cà phê rộng 20 mẫu gần thị xã Ban Mê Thuột cần bán gấp. Đồn điền đã khai thác mùa thứ hai, có nhà ở, điện nước. Liên lạc với Madame Vũ, 96 Đồng Khánh trong giờ làm việc”.
Bốn ngày sau mẩu rao vặt xuất hiện tren báo, trong giờ làm việc, Sa gọi điện thoại cho Dung:
- Chào chị! Sáu giờ chiều thứ bảy, mời chị đến nhà tụi em ăn cơm.
Dung nén xúc động.
- Vụ gì mà mời chị ăn cơm?
- Nhà em sinh cháu, có bữa cơm mừng.
- Thế à? Tốt quá... Trai hay gái?
- Dạ trai... Chị nhớ nhà tụi em không?
- Nhớ chứ. Đường Trương Minh Giảng...
- Dạ đúng...
... Chiều thứ bảy, Dung dặn chị Sáu hễ ai hỏi thì bảo Dung đi chơi cuối tuần đâu đó, mang Lý gởi nhà bác sĩ Soạn, lái xe qua cầu Trương Minh Giảng. Sa, ăn vận như một sĩ quan bộ binh, đón Dung quá chợ một quãng, thay Dung cầm lái rẽ vào một con đường nhỏ. Xe chui vào một gara. Sau đóng kín cửa gara hai người chuyển sang xe Peugeot, vẫn do Sa cầm lái, phóng lên ngã tư Bảy Hiền.
- Có việc gì gấp lắm sao chị nhắn tin trên báo?
- Gấp. Chị muốn báo cáo trực tiếp với cấp trên một số tình hình và xin chủ trương.
- Anh Luân có tin gì về không?
- Có, anh gọi điện cho chị luôn... Ta đi đâu đây?
- Suối Cụt. Em định đón chị và đưa đến điểm hẹn. Khi nào em ngừng xe, chị cứ xuống, ngay tay mặt có một con đường đất nhỏ. Chị đường hoàng theo con đường đất, đi chừng non trăm mét, thấy ngôi nhà nào cổng gạch thì vào. Sáng mai, trời mờ mờ, sẽ có người đưa chị bằng ô tô trở ngược về Sài Gòn, em đón chị phía trên ngã tư Hóc Môn...
- Chị sẽ gặp ai?
- Em không rõ...
- Sa lập gia đình chưa?
- Thời buổi này, với công tác của em, độc thân dễ xoay sở hơn.
- Em có học hành gì thêm không?
- Có chớ. Em học trường tư, vừa học kỹ thuật cơ khí vừa học ngoại ngữ. Sắp dự thi theo lối ghi danh để lấy bằng kỹ sư.
- Chà, giỏi quá!
- Em còn theo lớp hàm thụ điện trường đại học Canberra ở Úc nữa...
- Chị mừng cho em. Sống thế nào?
- Mỗi ngày em làm thợ nửa ngày trong một xưởng, lương khá. Chỉ mỗi một cái là chưa xoay được giấy miễn quân dịch. Nhưng, thế nào cũng xoay cho xong.
- Có tìn gì về Quyến không?
- Ảnh lại đi tu nghiệp bên Mỹ.
- À! Chị nhớ rồi... Thảo nào!
- Sao?
- Chổ chị làm có cô thiếu úy, cô ấy với Quyến hình như yêu nhau. Một hôm, tình cờ chị thấy cô ta đọc một lá thư mà phong bì đóng dấy bưu điện Philadelphia.
- Em biết. Chị Hằng mà. Anh Quyến đã hứa hôn với chị Hằng...
- Hằng hiểu rõ Quyến không?
- Không đâu! Anh Quyến giữ nguyên tác kỹ lắm. Say này, thành vợ chồng rồi chắc anh Quyến phải nói thiệt thôi. Nghe đâu chị Hằng tốt...
- Cô ấy tốt. Gia đình cũng tốt. Cô ấy là thư ký của chị.
- Chà! Ngộ quá há! Vậy là lão Quyến yên chí lớn rồi. Có chị kiểm tra, lão khỏi lo.
- Sa thường gặp Hằng không?
- Không... Em nghe anh Quyến nói lúc em còn công tác chung, trước khi anh Quyến đi Mỹ. Bây giờ, tụi em sinh hoạt đơn tuyến, không được quyền gặp nhau. Chị Hằng đẹp không hả chị?
- Rất đẹp!
- Tình hình coi bộ rối quá. – Sa đổi chủ đề - Mỹ vô nước mình đông quá, em lo bên mình vất vả...
- Tất nhiên là vất cả rồi.
Trời tối. Xe giảm tốc độ đỗ ngay đầu một con đường đất, giữa khu phố đèn leo lét. Dung xuống xe, khuất vào bóng đêm. Xe Sa tiếp tục lao về hướng Trảng Bàng.
Dung tìm ngôi nhà cổng gạch không khó – nó nằm thụt sâu trong xóm và là ngôi nhà duy nhất có cổng gạch. Qua khỏi cổng đã có người đón.
- À, cô Hai bây về tới rồi... - Giọng một phụ nữ lớn tuổi.
Người phụ nữ đó kéo Dung ra phía sau nhà.
- Cô vòng phía cửa hông, mấy ảnh đang đợi cô. – Bà nói vào tai Dung.
Cửa hông hé mở. Dung lách vào và cửa khép lại. Ngọn đèn điện đủ sáng căn phòng và đủ cho Dung nhận ra ông Thuận, chú cô, đang dang rộng tay đón cô.
- Chú!
- Con!
Chú Thuận trỏ người kia – trạc 40, da ngăm, mặt mũi khôi ngô, mặt đồ bà ba đen.
- Đây là anh Chín...
Tự nhiên, Dung đoán ra ngay người mà lần đầu cô gặp.
- Thưa anh... Có phải anh là Chín Dũng...
Người kia cười:
- Chà! Bà thiếu tá Tổng nha theo dõi kỹ các nhân vật Việt Cộng quá... Xem hình tôi ở Tổng nha, phải không?
Dung bẽn lẽn. Về đây, cô thấy như về nhà, nên không giữ ý tứ.
- Ngồi xuống! - Người mà Dung gọi là Chín Dũng mời Dung ngồi trên một trong các chiếc ghế tựa kê quanh một bàn.
- Dạ có ảnh của anh... Có khá nhiều báo cáo về anh.
- Chúng nói giống gì về tôi?
- Dạ, Tổng nha biết anh Chín làm bí thư khu ủy, có chân trong Trung ương Đảng, trong vụ Phật giáo năm 1963, anh Chín đột nhập vào Sài Gòn, nay đóng căn cứ ở vùng Hố Bò. Chúng biết tên thật, quê quán, bí danh của anh Chín.
- Vậy là quá đủ! - Anh Chín cười – Cô đã dùng cơm chưa?
- Dạ, em ăn rồi.
- Có tin gì anh Bảy không?
- Dạ, nhà em gọi điện cho em, lần mới nhất hôm thứ năm rồi. Nhà em đang đi các bang phía đông nước Mỹ.
- Cháu khỏe không?
- Cám ơn, cháu khỏe.
- Bây giờ, chúng ta làm việc. Tôi được ủy nhiệm của A.07 gặp cô. Lẽ ra, anh Sáu Đăng cũng gặp, song anh ấy ở xa, được tin cô nhắn khẩn trên báo, tôi nghĩ là cô không thể chờ đợi, nên một mặt báo về trên, một mặt nhờ anh Thuận tổ chức gặp cô. Tôi không dám dùng điện thoại, e mật mã bị phát hiện, nên viết thư tay báo về trên, thơ tay đi hơi chậm. Tôi và anh Thuận sẽ nghe cô. Lúc đầu, tôi định phái anh Thuận vào Thành, song đầu mối đi vắng, đến nhà cô không tiện nên đành mời cô ra. Liệu kế hoạch đi lại của cô đảm bảo không?
- Thưa, em nghĩ là đảm bảo.
- Dù vậy, cũng không nên ở lâu. Sáng mai cô phải có mặt ở Sài Gòn. Cẩn thận tối đa Mỹ cũng không thừa đâu. Cô có thể nói hết...
- Con báo cáo thật chi tiết. – Chú Thuận nói – Anh Chín là người chịu trách nhiệm cao trong Đảng.
- Dạ, con biết...
- Cô chia thời gian để sau chót hai chú cháu còn nói chuyện gia đình nữa.
- Cám ơn anh Chín nhiều.
- Trước khi cô thông báo, tôi hỏi mấy việc: Từ khi anh Bảy đi, ai thường liên lạc với cô?
- Dạ, John Hing gọi điện mươi lần...
- Giục cô chuyển tin tức của nội tuyến, phải không?
- Dạ, phải. Nhưng gã quan tâm hơn là em liên hệ với các bạn nhà em.
- Các ông bạn đó có điện hay thư từ gì không?
- Thư từ thì không. Điện thoại thì có Nguyễn Thành Động, Trương Tấn Phụng, thiếu tướng Lâm, đại tá Tồn, trung tướng Đức, trung tá Dương Hiếu Nghĩa, James Casey...
- Trừ James Casey, các ông kia điện đến nhà cô, dễ gây chú ý... - Anh Chín nhận xét.
- Dạ, họ chỉ hỏi thăm sức khỏe em và cháu Lý.
- Tất nhiên... Song, làm một bảng liệt kê danh sách người ta thấy ngay là đại tá Nguyễn Thành Luân quan hệ thân mật với ai, xu hướng chính trị như thế nào? Thậm chí có người đã đảo chính. – Giọng anh Chín không vui.
- Em hiểu, nhưng em làm sao ngăn họ?
- Tôi không trách cô. Cô không làm gì được. Chúng tôi sẽ giúp cô...
- Cách đây bốn hôm, em gặp George Bundy...
- Vậy sao? Tay cố vấn đặc biệt của Johnson gặp cô thì có nhiều ý nghĩa đây... Thôi, bây giờ, cô nói đi, nói từ đầu... ..
Dung cố gắng tóm tắt các mặt tình hình, đưa ra các nhận xét. Mất đến hai tiếng đồng hồ. Anh Chín và ông Thuận lặng lẽ nghe, thình thoảng hỏi thêm vào chi tiết. Dung trình bày khá thoải mái.
- Bây giờ đã gần 10 giờ. Ta giải lao một chút! - Anh Chín bảo, mà mặt vẫn còn trầm ngâm.
Ông Thuận gõ nhẹ lên vách.
Một mâm cháo gà do người phụ nữ đón Dung ở cổng mang vào.
- Sắp tới giờ giới nghiêm rồi. Hễ ăn xong thì đèn tắt. Tôi thay bằng đèn dầu. Chú ý, nghe tôi gõ nhẹ lên vách thì vặn lu đèn, im lặng, bởi tụi dân vệ tuần tra. Còn có động, tôi sẽ dẫn cả ba vào chỗ bí mật. Cứ yên tâm. Bảo đảm trăm phần trăm. Chung quanh, có bảo vệ võ trang, nột quá họ nổ súng... - Người phụ nữ nói mà không ngó Dung.
- Gì mà phải nổ súng? - Anh Chín cười – Dân vệ cũng có anh em mình...
- Ậy, tôi nói cho hết lý vậy thôi. Tôi với con Út canh cho tới sáng...
Cháo gà nấu ngon. Dung ăn cứ ngỡ lần đầu dùng món này.
Đèn tắt. Tiếng kẻng giới nghiêm vang trong đêm vắng. Ngọn đèn dầu thay đèn điện.
- Ta đợi một chút! – Anh Chín nói – Dân vệ sắp tuần tra.
Đúng vậy, độ vài phút sau, bên ngoài vọng vào tiếng giầy khua trên đường, tiếng huýt gió, tiếng cười và chửi thề.
- Tôi có vài ý kiến. Cô Dung cố nhớ. À! Mimôsa cố nhờ và truyền đạt bằng cách nào cho Kỵ sĩ. – Anh Chín bắt đầu trình bày suy nghĩ của anh.
- Sau chiến dịch Bình Giã, chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở Nam Việt Nam phá sản. Mỹ không còn hy vọng dùy trì chủ nghĩa thực dân mới nguyên bản nữa. Trước đây, chúng lập luận rằng tiềm năng chống Cộng tại chỗ bị ức chế do chính sách không được lòng dân và không liên minh được các phe phái của Ngô Định Diệm, nên ra tay gạt bỏ Diệm. Chúng vẫn tin vào công thức viện trợ Mỹ cộng với một chính quyền và quân đội tay sai đủ sức dánh bại Mặt trận Giải phóng. Nhưng, với nhóm Dương Văn Minh, chúng thấy nguy hiểm. Kéo dài thêm một thời gian nữa, chính quyền Sài Gòn dễ ngã theo xu hướng thân Pháp, theo hướng trung lập kiểu Cao Miên, Lào thì Mỹ phải thua thiệt. Cho nên, chúng cho Nguyễn Khánh “chỉnh lý”. Đến đây, một yếu tố Mỹ không lường trước nhảy lên vũ đài, tôi muốn nói lực lượng quần chúng Sài Gòn và các thành thị. Trước kia, vì Mỹ còn giấu mặt nên đối tượng đấu tranh của quần chúng là Ngô Đình Diệm, nhưng sau vụ “chỉnh lý”, đối tượng phơi bày mỗi lúc mỗi rõ ràng hơn. Nguyễn Khánh phải nhượng bộ, tức Mỹ phải thay đổi chiến thuật. Thế là vở tuồng “chính phủ dân sự” ra đời. Nhưng, vở tuồng không hấp dẫn. Mỹ lại quay trở về với nhóm quân sự. Cái vòng lẩn quẩn ấy khiến chúng vừa suy yếu về lực, vừa rối loạn về ý chí. Ta lại đánh mạnh. Nội bộ Mỹ phân chia làm hai: duy trì công thức cũ và thay đổi công thức. Phe diều hâu mạnh hơn. Tức Mỹ sẽ đưa quân vào, số lượng chắc chắn đông. Mỹ cần nhóm tay sai lo cung cấp quân hỗ trợ, còn quân chủ công thì Mỹ đảm đương. Mỹ mở rộng phạm vi oanh tạc ra Bắc vĩ tuyến 17, trực tiếp khiêu khích ở Vịnh Bắc bộ. Nói cách khác, chiến tranh sẽ ác liệt. Lực lượng chính trị trong các thành phố đang phân hóa, số tiến bộ lần lần xây dựng thành tổ chức nhưng chưa đủ sức ngăn chặn ý đồ của Mỹ. Chúng ta cần một thời gian sửa soạn đồng thời cũng là thời gian đụng độ thẳng với quân đội Mỹ. Chừng nào, với một số lượng lớn, mà Mỹ không thắng được thì bấy giờ một giải pháp sẽ ra đời. Tuy nhiên, cần hết sức chú ý thái độ của đông đảo quần chúng các thành thị khi Mỹ vứt bỏ mặt nạ “chỉ hỗ trợ cho chính quyền Nam Việt” mà trực tiếp tham chiến, tức công khai xâm lược nước ta, kéo theo các hậu quả xấu khác về đạo lý, về kiểu sống; quần chúng sẽ được cổ vũ ý thức dân tộc. Đồng thời, nội bộ tay sai cũng vì giành ăn đồng thời một bộ phận chịu tác động ý thức quần chúng sẽ bị chia rẽ nghiêm trọng. Chính giới Mỹ không thể thuần nhất được. Các đồng minh quan trọng hàng đầu của Mỹ chắc chắn không hoàn toàn tán thành đường lối của Mỹ. Các quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc ở châu Á như Ấn Độ, Nam Dương sẽ phản ứng. Phe xã hội chủ nghĩa dĩ nhiên càng tăng cường ủng hộ chúng ta, trừ Trung Quốc bắt đầu bộc lộ bản chất cơ hội, về khách quan tiếp tay cho Mỹ.
Từ tầm nhìn chung ấy, tôi xin lưu ý Kỵ sĩ và Mimôsa mấy điểm sau đây: cuộc chiến đấu cảu dân tộc ta nhất định phải lâu dài, khó khăn, phực tạp, đòi hỏi nhiều hy sinh và đòi hỏi nhiều sách lược khôn khéo. Trận địa không chỉ ở nông thôn và rừng núi mà cả các thành thị, phương thức không chỉ bằng vũ trang mà cả chính trị, đôi khi chính trị giữ vai trò đột phá ở những thời điểm nào đó. Xoáy sâu vào nội bộ kẻ thù, gây xáo trộn cũng là một cách đánh địch hiệu quả. Cuộc đảo chính 1-11-1963 và các mâu thuẫn bùng nổ trong nội bộ chế độ Sài Gòn trong hơn năm nay đã hủy hoại nghiêm trọng thế lực của kẻ thù. Nay mai, đến lượt quần chúng Mỹ và các nước sẽ tỏ thái độ, chúng ta tin điều đó.
Kỵ sĩ và Mimôsa len sâu vào bộ máy ngụy, lại có quan hệ với Mỹ, kẻ cả cơ quan tình báo, nên cố bảo tồn, chỉ hành động khi thật sự cần thiết, khi xét hành động của mình mang lại giá trị chiến lược. Kỵ sĩ đôi lúc thiếu bình tĩnh. Hiện nay, Mỹ và ngụy đánh hơi thấy Kỵ sĩ là mối lo cho chúng, bởi vậy, phải hết sức thận trọng. Ta cần đặt ra nhiều phương án. Nếu bị uy hiếp, thì cả hai lập tức rời Sài Gòn vào chiến khu. Cũng có thể Kỵ sĩ rời Sài Gòn, còn Mimôsa thì tiếp tục bám trụ, tất nhiên với điều kiện an toàn tuyệt đối. Tôi tin là Kỵ sĩ không ở Mỹ lâu, bản thân Kỵ sĩ không thích mà một bộ phận tình báo Mỹ cũng muốn Kỵ sĩ có mặt ở Sài Gòn đóng vai trò đối tượng với các nhóm cầm quyền dù trước mặt Mỹ chưa dùng Kỵ sĩ như con chủ bài. Để bảo vệ Kỵ sĩ, chúng tôi quyết định tuyển chọn một trung đội tin cẩn, hai vệ sĩ, một lái xe và một cán bộ làm thư ký cho Kỵ sĩ. Họ đang lần lượt đăng ký và Dân vệ và Bảo an các tỉnh, chúng tôi sẽ cung cấp danh sách để Kỵ sĩ thông qua thủ tục hợp pháp điều động họ về quanh Kỵ sĩ. Trong hoạt động Kỵ sĩ hẳn cần một số tiền, chúng tôi đã bố trí cách cung cấp cho Kỵ sĩ rất bí mật...
Dung chú ý lắng nghe từng lời anh Chín. Khi anh Chín dứt lời thì Dung thưa:
- Nhà em nóng ruột quá. Xin anh Chín tìm cách dặn trực tiếp nhà em, coi như mệnh lệnh... Thú thực, em chỉ góp ý thôi còn nhà em bao giờ cũng suy nghĩ và hành động không phải lúc nào cũng trao đổi với em.
Anh Chín cau mày, còn chú Thuận thì thở ra.
- Tôi hiểu... Anh Bảy rất nhạy bén và cũng dễ kích động. Tôi sẽ gởi thơ cho anh ấy... Nhưng...
Anh Chín ngập ngừng một thoáng. Dung chăm chú ngó, chờ đợi.
- Nhưng nếu một cái gì đó xảy ra ngoài dự kiến của chúng ta thì tôi mong cô chú mình thật vững. Ý tôi muốn nó tuy vợ chồng, song Kỵ sĩ và Mimôsa nhận hai nhiệm vụ khác nhau, trước kia, Mimôsa trợ thủ cho Kỵ sĩ, từ nay trở đi, mỗi người độc lập tác chiến. Điều này rất khó, tôi biết, song nguyên tắc công tác đòi hỏi hai đồng chí phải chấp hành. Tôi còn băn khoăn cháu Lý. Nên chăng đưa cháu ra Hà Nội?
Dung lắc đầu:
- Không cần, thưa anh. Vả lại...
Mặt Dung bừng đỏ.
- À, ông bà sẽ có cháu thứ hai?
Dung dạ thật nhỏ:
- Khoảng tháng 7 em sinh...
- Tùy cô... Không có vấn đề gì. Ta sẽ xoay và đâu rồi vô đó thôi.
Toán dân vệ tuần canh đợt hai, vẫn bước chân rào rạo ngoài đường.
- Tôi đã nghe và đã nói. Bây giờ, tôi phải về căn cứ. Chúc cô và Kỵ sĩ thắng lợi!
Anh Chín bắt tay Thùy Dung thật chặt.
- Anh Thuận ở lại với cô. Hai chú cháu cần trò chuyện riêng. Có gì cần dặn thêm, anh Thuận sẽ dặn cô.
Anh Chín ra cửa. Dung ngồi yên khá lâu, cho đến lúc tiếng chó cuối xóm ngừng sủa.
Từ đó cho đến hết giờ giới nghiêm, hai chú cháu to nhỏ. Rồi Dung, rời Suối Cụt, trên một mô tô do một cô gái đèo, đến chỗ hẹn với Sa, khi quốc lộ đã rộn ràng xe cộ. Một điều mà Dung không biết: Chú Thuận đã giấu cô về tin bố đẻ Dung qua đời...
*
Điện khẩn:
Nơi gởi: Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa – Sài Gòn.
Nơi nhận: Đại sứ Việt Nam Cộng hòa – Washington.
Thủ tướng chính phủ quyết định triệu hồi đại tá Nguyễn Thành Luân, tùy viên báo chí của sứ quán. Yêu cầu đại tá Nguyễn Thành Luân về Sài Gòn bằng chuyến bay gần nhất. Lúc nào lên đường, Đại sứ quán điện báo cho biết.
*
Phúc trình của Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ gởi Bộ Ngoại giao Sài Gòn:
Từ khi đại tá Nguyễn Thành Luân sang Mỹ, ông rất ít đến Đại sứ quán. Các giới Mỹ, trong đó có những giới quan trọng như một số thượng và hạ nghị sĩ, tướng lãnh, nhà chính trị, nhà báo, giáo sư ở nhiều bang mời ông họp mặt, nói chuyện. Ảnh hưởng của ông khá lớn trong dư luận do các cuộc diễn thuyết và một số bài báo của ông. Hiện nay, ông đang ở Cựu Kim Sơn theo lời mời của Thống đốc bang California. Chúng tôi đã điện thoại cho ông báo quyết định của chính phủ. Ông trả lời chưa thu xếp được nhanh. Chúng tôi xin lưu ý ở nhà: Ông cùng đi với vợ chồng tướng hồi hưu Jones Stepp và hình như ông George Bundy từ Sài Gòn về đã hỏa tốc bay đến Cựu Kim Sơn gặp đại tá Luân, có lẽ môi giới cho gặp gỡ giữa đại tá và ngoại trưởng Dean Rusk, Bộ trưởng Quốc phòng Mac Namara, không loại trừ ông Colby.
*
Điện khẩn:
Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, đệ nhất Phó chủ tịch Hội đồng quân dân gởi Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ.
Thu xếp cho đại tá Nguyễn Thành Luân về Sài Gòn nhanh nhất.
*
Phúc trình của Đại sứ Việt Nam Cộng hòa ở Mỹ gởi Hội đồng quân dân:
Chúng tôi đã truyền đạt lệnh triệu hồi đại tá Nguyễn Thành Luân về Sài Gòn. Nhưng, hôm qua, văn phòng Bộ ngoại giao Mỹ điện thoại cho chúng tôi: Đại tá Nguyễn Thành Luân còn một cuộc tiếp xúc quan trọng với Ngoại trưởng Mỹ, Cố vấn đặc biệt của Tổng thống, chủ tịch Hội đồng các tham mưu trưởng Mỹ nên chưa thể về nước sớm được.
*
Điện khẩn:
Gởi Bộ ngoại giao Việt Nam Cộng hòa - Sài Gòn.
Đại tá Nguyễn Thành Luân lên đường về nước chuyến bay thứ nhất của hãng Pan American vào 18 giờ, giờ Washington hôm nay.
Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ.
*
Điện khẩn:
Bộ ngoại giao Việt Nam Cộng hòa gởi Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ.
Chuyến bay mà Đại sứ quán bảo là đại tá Nguyễn Thành Luân về Sài Gòn đã hạ cánh tại sân bay Tân Sơn Nhất sông không có mặt đại tá. Yêu cầu xác minh đại tá ở đâu? Trên đường bay, máy bay chỉ ghé Honolulu và không có ai ở lại đó. Danh sách hành khách không có tên đại tá.
*
Điện khẩn:
Đại sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ gởi Bộ Ngoại giao – Sài Gòn.
Chính Đại sứ Trần Thiện Khiêm cùng nhiều nhân viên sứ quán và cả vợ chồng tướng Jones Stepp cùng nhiều quan chức Mỹ tiễn đại tá Luân tận cầu thang máy bay. Chúng tôi đã kiểm tra danh sách ở hãng hàng không. Đúng là không có tên đại tá. Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo với chúng tôi, đại tá là khách quý của chính phủ Mỹ, do đài thọ riêng của Hãng hàng không khỏi mua vé.
Chúng tôi sẽ điều tra và báo cáo sau.
*
Mệnh lệnh của Hội đồng quân nhân:
Ra lệnh cho đại tá Nguyễn Thành Luân, tùy viên báo chí của sứ quán Việt Nam Cộng hòa tại Mỹ, trong vòng 24 giờ đồng hồ phải ra trình diện với trung tướng Trần Văn Minh, Tổng tham mưu trưởng tại Bộ Tổng tham mưu.
Sài Gòn ngày 15 tháng 2 năm 1965.
Ký:
Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu.


HẾT

Ván bài lật ngửa - Phần 1+2
Ván bài lật ngửa - phần 3+4
Ván bài lật ngửa - phần 5+6
Ván bài lật ngửa - phần 7
Ván bài lật ngửa - phần 8

Không có nhận xét nào: