Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Những ngôi chùa ở Việt Nam - Phần 1

 CHÙA HOÀ THẠNH



Chùa thường gọi là chùa Cây Mít, tọa lạc ở xã Nhơn Hưng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, cách thị xã Long Xuyên 87km. Chùa được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIX và được trùng tu mở rộng vào những năm 1921-1923. Hòa thượng trụ trì Diên Minh là hội viên thường trợ của Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học vào những năm 1930. Chùa còn bảo tồn nhiều pho tượng cổ có giá trị nghệ thuật. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA LINH SƠN



Chùa thường được gọi là chùa Phật bốn tay, tọa lạc ở xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Cách chợ Vọng Thê 2km về hướng Đông theo triền núi Ba Thê. Ngôi chùa hiện nay được xây dựng vào năm 1913 và trùng tu những năm gần đây. Trong chùa có pho tượng đức Phật bằng đá cao 1,70m, ngang gối 1,10m và 2 tấm bia đá, một tấm bia cao 1,80m, bề ngang 0,82m và bề dày 0,24m ghi bằng chữ Phạn (hoặc có thể là chữ viết của dân tộc Phù Nam khoảng 20 thế kỷ trước). Đây là những hiện vật của văn hóa ốc Eo và chùa nằm trong vùng di chỉ văn hóa khảo cổ ốc Eo nổi tiếng. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia

CHÙA LONG HƯNG



Chùa thường được gọi là chùa Giồng Thành, tọa lạc ở xã Long Sơn, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang cách thị xã Long Xuyên khoảng 75km theo đường Châu Đốc-Tân Châu. Chùa được Thiền sư Minh Lý xây dựng vào năm 1875, chùa có kiến trúc hài hòa theo phong cách Aá-Âu. Kiến trúc mặt tiền hiện nay được trùng tu vào năm 1970. Chùa có tấm bia ghi việc cụ Nguyễn Sinh Sắc đã ở chùa từ năm 1921 đến 1923. Ơở chánh điện có nhiều pho tượng cổ như tượng đức Phật Di-đà, bộ tượng Thập Điện Minh Vương... Hai ngôi tháp mộ lớn ở chùa là tháp của Hòa thượng Đạt Điền (đời 38) và Hòa thượng Chơn Như (đời 40). Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia

CHÙA NAM LONG

Tại ấp Hưng Trung thuộc xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang ngày nay, nằm bên bờ rạch Cốc là ngôi Nam Long tự. Đó là một ngôi chùa nhỏ, kiến trúc đơn sơ với mái thiếc và vách ván, được xây dựng dạng nhà sàn chống lũ cho phù hợp với vùng đất thấp thuộc khu vực trũng nhất của tỉnh An Giang. 
Vào nửa cuối thế kỉ XIX, chùa được dựng lên để che mắt giặc Pháp, tránh sự ruồng bố và phá rối căn cứ kháng chiến chống Pháp của Đức Cố Quản Trần Văn Thành(1) sau cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa. Năm 1930, để giữ lại vết tích quan trọng của Đức Cố Quản, chùa được người trụ trì là Nguyễn Hiền Lương, còn gọi là ông Chín Tửu, pháp danh Nhựt Tảo trùng tu.

Ngôi chùa được kết cấu dạng 4 mái, tạo chính điện bên trong có hình vuông, với 4 cột nên người dân thường gọi cấu trúc sườn mái theo dạng tứ trụ hay tứ tượng. Đây là một ngôi chính điện có bày trí khá đặc biệt với 3 bàn tam cấp nối liền nhau. Mặt vách chính điện trên cao là bức hoành ghi 4 chữ: "Đại hùng bửu điện". Thấp hơn là bức trướng bằng vải đỏ ghi 4 chữ Hán đọc từ  phải sang: Bửu Sơn Kỳ Hương. Có tất cả 5 bài vị được thờ tại bàn tam cấp này. Bàn cao nhất của chính điện là một long vị bằng gỗ, chạm khắc tinh xảo, ghi 8 chữ Hán theo hàng dọc: "Cung thỉnh Bửu Sơn Kỳ Hương chứng minh". Bàn tiếp theo ở bậc thấp hơn là nơi đặt bài vị gỗ đơn sơ bằng chữ Hán: "Nam mô Cửu Huyền Bá tánh chi vị". Dưới bài vị này là một bài vị gỗ, nền vàng, ghi chữ Hán màu đỏ, viết thành hai hàng dọc. Đầu bài vị đọc từ phải sang trái là hai chữ Nam mô. Hàng dọc bên phải gồm 4 chữ Trần phủ Đức Ông. Hàng dọc thứ hai bên trái là 4 chữ: Nguyễn phủ Đức Bà. Cuối bài vị là 2 chữ Hán ở giữa đọc từ trên xuống: Chi vị.

Bài vị thứ tư được xếp chồng lên bài vị thứ năm, được đặt ở bàn thấp nhất. Đây thực ra là một bộ ván gõ, bề dầy mặt ván khá cao. Bài vị bên trong bằng sơn mài cẩn xà cừ các chữ Hán và hoa văn hình học gồm 3 chữ Hán theo hàng dọc "Vạn Thọ Đường" kích thước lớn. Hai bên là hai câu đối, mỗi bên 7 chữ Hán. Đặt chồng lên phía ngoài bài vị này là một bài vị kích thước nhỏ hơn, nền vàng, ghi chữ Hán-Nôm màu đỏ từ trên xuống gồm 9 chữ: "Nam mô Trần phủ đức Cậu Hai chi vị". Phía trước chính điện, làm nền cho các bài vị là tấm trần điều che phủ gần hết phần vách chính điện. Hai bên vách phía trên trang trí hai cặp quạt, mỗi bên gồm một cây lớn và một cây nhỏ, được làm bằng lông sếu. Dưới hai quạt này còn đặt hai quạt vải đỏ, viền len xanh. Quạt có hình tròn, cán là cọng sắt uốn theo hình tam giác cân. Nền quạt ghi 5 chữ: "Việt Nam đại cường quốc" bằng chữ Hán, thành hai hàng ngang dọc. Giữa bài vị thờ đức Ông và đức Bà là 2 ảnh màu vẽ trên kiếng, hình Quan Công với Quan Bình và Châu Xương. Lư hương, chân đèn, chân chò, giàn đựng đũa và tô, chén cũng được đặt thờ. Được biết đây là những hiện vật đào được trong lần trùng tu chùa khi đào đất dựng cột vào năm 1930. Các hiện vật tìm được dưới nền chùa là những đồ gia dụng gồm 2 tô lớn, 1 chén, 1 đĩa nhỏ và 1 chun trà(2) đều có ghi dưới đáy 2 chữ Nội phủ và chữ Ngọc.

Dọc hai bên bàn thờ là giàn đặt bát bửu. Đối diện với bàn thờ chính điện là một bàn thờ nhỏ, đặt hướng vào chính điện. Trước kia đây là nơi đặt thờ Năm Ông, nay dành thờ Tam Hoàng. Phía trên bàn này là tấm hoành phi ghi 4 chữ: "Phật Nhật Quang Huy". Góc trái chùa có đặt đại hồng chung còn khá mới ghi 4 chữ Hán: Xuân, Hạ, Thu, Đông ở 4 núm, nơi dóng chuông. Về phía phải chính điện là bàn thờ dành cho Cửu Huyền của vị trụ trì chùa. Hiện người trông nom chùa là một cư sĩ(3).

Khảo sát khá kĩ vị trí chùa Nam Long cũng như nghi thức thờ, cúng, các ngày cúng trong năm, hiện vật đặt thờ... đã cung cấp cho chúng ta những cứ liệu quan trọng, góp phần khẳng định thêm, làm rõ hơn các dữ liệu, sự kiện ở một số công trình đã công bố trước đây về Trần Vạn Thành, về địa điểm đặt đại bản doanh, tổng hành dinh, căn cứ kháng chiến chống Pháp của khởi nghĩa Bảy Thưa.

1. Về vị trí đại đồn Hưng Trung

Tháng 6 năm 1867, sáu tỉnh Nam Kỳ nhanh chóng rơi vào tay Pháp. Trước đây, từ sau sự hình thành của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, Trần Văn Thành đã cầm đầu một nhóm tín đồ đi vào vùng Láng Linh khai hoang lập ấp, nên ông rất thông thạo địa hình nơi này. Vì vậy, sau khi Pháp chiếm các tỉnh Nam Kỳ và bắt đầu đưa chiến hạm, dàn mặt trận, chĩa đại bác vào thành An Giang, Trần Văn Thành đã có những trận giao chiến đầu tiên với Pháp từ đầu năm 1868. Ông cùng gia đình và nghĩa quân – binh Gia Nghị – rút vào rừng Bảy Thưa để xây dựng căn cứ kháng chiến. Một hệ thống đồn được dựng lên, tạo thành căn cứ địa rộng lớn tại khu vực Láng Linh bao gồm: "Đại đồn Hưng Trung nằm giữa, chung quanh có các đồn khác bao bọc, giữ gìn. Phía tả có đồn Cái Môn nằm giữa hai đìa Nanh Heo và Dày Trăm thuộc xã Thạnh Mỹ Tây. Phía hữu có đồn Giồng Nghệ thuộc xã Vĩnh Hanh (H. Châu Thành). Phía trước có đồn Hờ (Vàm Cái Dầu – H. Châu Phú). Phía sau có trạm canh Ông Tà (Tân Cương, H. Tri Tôn). Về phía Tây Bắc gần đồn Cái Môn có đồn Lương (ấp Long Châu 3, xã Thạnh Mỹ Tây(4). Theo tài liệu của Trần Văn Đông, “đại đồn Hưng Trung nay thuộc xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú. Nhân dân quanh vùng thường gọi Cốc Ông Đạo Cậy (vì ông Cậy cất cốc tại đây)’(5). Một ý kiến khác cho rằng: "Tổng hành dinh đặt tại trung tâm rừng Bảy Thưa, đặt tên là đồn Hưng Trung. Qua khảo sát thực địa, qua kí ức các bô lão, đối chiếu với bản đồ hành chính hiện nay thì đồn Hưng Trung nằm trên nền chùa Nam Long hiện thuộc xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang"(6).

2. Nền chùa Nam Long trước đây

Qua hai ý kiến nêu trên, đồn Hưng Trung có vị trí khác nhau. Như vậy, để có căn cứ xác định được vị trí của đồn Hưng Trung, cần xét đến vai trò của chùa Nam Long. Dựa trên những cứ liệu quan trọng về ngôi chùa, cách bày trí, cùng hiện vật đào được tại nền chùa đã cho thấy chùa Nam Long có những đặc điểm gợi cho chúng ta thấy rõ hơn vị trí của ngôi chùa sau cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa. Có thể nghĩ rằng, trước đây, trên nền chùa hiện nay đã có một ngôi nhà nhỏ. Ngôi nhà này, qua các hiện vật đào được, cho thấy chủ nhân của nó phải là một quan lớn của triều đình, hoặc có mối quan hệ thân thiết với triều đình và được vua ban tặng. Các loại tô chén ấy là những mặt hàng gốm sứ Trung Quốc, được sản xuất theo đơn đặt hàng của Việt Nam. Đây là những hiện vật được sử dụng phổ biến trong triều đình nhà Nguyễn, đặc biệt là dưới triều vua Tự Đức. Hai chữ Nội phủ dưới đáy hiện vật cho thấy điều đó. Đáy hiện vật cũng giới thiệu tên lò gốm Ngọc ở Trung Quốc. Nền đất đào được các hiện vật nói trên nằm cách đại bản doanh, tức đồn Hưng Trung 500 mét (nơi mà sau này ông Đạo Cậy đã đến dựng cốc lá). Như vậy, nền chùa trước đây có thể là ngôi nhà mà ông Trần Văn Thành và vợ là bà Nguyễn Thị Thạnh đã lưu trú trong thời gian điều hành cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa. Giai đoạn ấy thuộc đời vua Tự Đức. Các hiện vật đào được đều thuộc giai đoạn này. Trần Văn Thành, thủ lĩnh đội binh Gia Nghị, người cầm đầu phong trào kháng chiến chống Pháp đặt địa điểm cư trú gần đại bản doanh, tổng hành dinh, tức đại đồn Hưng Trung ấy, hiện nay là địa điểm cốc Ông Đạo Cậy, như Trần Văn Đông nhận xét. Còn Nam Long tự là nơi cư trú của ông bà, vì vậy nó trở thành một địa điểm lịch sử quan trọng, nên sau cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, nhóm nghĩa quân trốn thoát phải tìm mọi cách giữ gìn lại vết tích của nó. Chùa Nam Long, do vậy được dựng lên như một bình phong để duy trì một di tích lịch sử quan trọng của An Giang, nơi có dấu ấn cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, từ đấy xuất phát ra những chỉ đạo quan trọng có tính quyết định đối với cuộc kháng chiến chống Pháp. Chính vì vậy mà không phải ngẫu nhiên, bên trong chính điện ta tìm thấy bài vị thờ Trần Văn Thành được ghi với một nội dung khá khác biệt hơn so với các nơi khác. Đó là việc thừa nhận đây là phủ ông và phủ bà: Nam mô Trần phủ đức ông, Nguyễn phủ đức bà chi vị; Nam mô Trần phủ đức cậu Hai chi vị(7).

Cặp quạt và bộ ván gõ có lẽ là vật sử dụng trước đây của ông và bà Trần Văn Thành, nay được đặt thờ trang nghiêm trên chính điện. Ngoài 3 ngày cúng các rằm lớn trong năm (rằm tháng giêng, tháng 7, tháng 10), vía Phật Thầy Tây An (11, 12/8), những ngày cúng khác tại chùa Nam Long chủ yếu cũng là những ngày giỗ của ông Trần Văn Thành (21, 22/2)(8), bà Nguyễn Thị Thạnh (5/5), ông Trần Văn Nhu (con trưởng của ông bà, giỗ ngày 24, 25/3 âm lịch)... Điều này cho thấy đây là địa điểm kỉ niệm nơi cư trú xưa kia, là phủ của Quản Cơ Trần Vạn Thành chứ không phải là ngôi chùa thuần tuý thuộc giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương. Bài vị cao nhất trên chính điện đã ghi: Bửu Sơn Kỳ Hương chứng minh!

3. Chùa Nam Long, sau cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa đã được dựng lên để làm bình phong che mắt giặc Pháp, tránh sự ruồng bố, phá rối của chúng, và trên hết là nhằm vào việc giữ gìn di tích cũ một cách trọn vẹn. Người có nhiệm vụ giữ vững ngôi chùa ấy đã đặt tên cho địa điểm này là Nam Long tự (Chùa của rồng ở phương Nam). Do xuất phát từ mục đích ấy và nguồn gốc giáo lí của đạo giáo Bửu Sơn Kỳ Hương nên chùa không thờ Phật. Tất cả những bày trí, từ trần điều đến long vị được đặt thờ sau năm 1930 là hoàn toàn theo nghi thức của Bửu Sơn Kỳ Hương, một đạo giáo mà Trần Văn Thành chính là người đã được trao truyền để tiếp nối vẻ vang nền đạo sau khi Phật Thầy Tây An tịch diệt.

4. Ngoài dấu ấn của việc thờ tự, chúng ta cũng tìm thấy trên vách chính điện 5 tư liệu quan trọng, đó là bản sao văn bằng phong cho ông Nguyễn Kế Trung làm chức chính đề đốc, ghi năm "Tự Đức nhị thập bát niên" (tức năm 1875-THL); bản gốc hộ giới điệp bằng chữ Hán; bản gốc lòng phái thế độ của ông Nguyễn Hiền Lương (tức người trụ trì chùa Nam Long trước đây) bằng chữ Việt; hai bản gốc lòng phái thế độ do Tỉnh Hội Lục Hoà Phật Tử cấp, ghi hai thứ chữ Hán và Việt. Trong thời gian trụ trì, ông Nguyễn Hiền Lương đã dùng hình thức đi cúng đám, giúp đỡ bà con trong vùng khi có nhu cầu cầu siêu cho thân nhân quá vãng. Trong chùa vẫn còn giữ lại một con dấu  bằng đồng, hình tròn, ghi 4 chữ Hán Vãng sanh thần chú. Đây là chứng cứ cho thấy việc sử dụng bản in này dùng làm sớ cầu siêu những năm sau khi trùng tu chùa là khá phổ biến, và đồ hình khắc trên con dấu này còn mang ảnh hưởng của Phật giáo Mật tông.

Tóm lại, căn cứ vào những hiện vật đào được, qua nghi thức cúng lễ và thờ tự tại chùa Nam Long đã góp phần quan trọng cho việc xác định vị trí đại bản doanh của cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa. Đó là địa điểm thuộc Cốc Ông Cậy hiện nay, nằm cách chùa Nam Long 500 mét, băng qua con rạch Cốc nhỏ. Chùa Nam Long trước đây là nơi cư trú của ông bà Trần Văn Thành – Nguyễn Thị Thạnh để điều động cuộc khởi nghĩa tại đại bản doanh gần đây! Kháng chiến Bảy Thưa kết thúc, hai di tích quan trọng là tổng hành dinh và phủ của ông bà đã được người dân– những tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương– những nghĩa quân trong cơ Gia Nghị – tìm cách gìn giữ, bảo vệ đến ngày nay, nhằm lưu giữ lại, qua việc thờ tự, như một thông điệp cho thế hệ tiếp nối về một truyền thống đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, chống ngoại xâm, một tinh thần yêu nước nồng nàn, đầy tính dân tộc. Điều đó được thể hiện và phát huy qua hình ảnh chiếc quạt thờ ghi 5 chữ:  Việt Nam đại cường quốc! Đó là khát vọng của người dân Nam Bộ nói chung và nhân dân An Giang nói riêng về hình ảnh của một nước Việt Nam hùng mạnh và phát triển. Cơ sở và cội nguồn của niềm tin và khát vọng ấy đã được hàng hàng lớp lớp anh hùng liệt sĩ, qua bao thế kỉ, vì nước quên thân, hiến dâng máu xương mình vì một tương lai tươi sáng của dân tộc

TỊNH XÁ NGỌC GIANG



Tịnh xá tọa lạc tại số 80B đường Trần Hưng Đạo, phường Mỹ Xuyên, thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang. Tịnh xá được xây dựng vào năm 1960. Sư Giác Thảo đã tổ chức trùng tu, mở rộng vào năm 1992. Tịnh xá thuộc Giáo đoàn 1 của hệ phái Phật giáo Tăng già Khất sĩ Việt Nam

CHÙA PHÚ THẠNH



Chùa thường được gọi là chùa Truông, tọa lạc ở tổ 24, ấp Châu Long 6, xã Vĩnh Mỹ, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Chùa được dựng vào giữa thế kỷ XIX, đại trùng tu vào năm 1934 và những năm gần đây. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm, kiến trúc chùa mang cả phong cách Aá-Âu. Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng ở Châu Đốc

CHÙA TÂY AN



Chùa tọa lạc ở ngã ba núi Sam, xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang. Chùa được Tổng đốc Doãn Uẩn cho xây dựng vào năm 1847. Năm 1861, chùa được trùng tu chánh điện và hậu tổ. Kể từ đời Phật thầy Minh Huyên trụ trì đến nay, chùa đã trải qua 7 đời truyền thừa. Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Kiến trúc chùa ngày nay được tôn tạo dưới thời Hòa thượng Bửu Thọ vào năm 1958. Ngài cho xây 3 ngôi cổ lầu,mặt tiền chùa và sửa lại chánh điện, tạo nét kiến trúc phương Đông kết hợp với kiến trúc Âởn Độ. Ơở chánh điện và hậu điện, có khoảng 200 pho tượng, đa số bằng danh mộc. Chùa còn có nhiều hoành phi và câu đối. Chùa là ngôi danh lam bậc nhất ở An Giang và Nam Bộ. Hàng năm có hàng vạn du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA TAM BẢO

Chùa Tam Bửu do sư tổ họ Ngô, húy là Lợi mà trong đạo gọi là Đức Bổn Sư, lập ra. Cụ Ngô Lợi còn có tên là Hữu, sanh năm Canh Dần (1829) tại Dội (gần biên thùy Châu Đốc). Cụ Ngô Lợi dẫn hơn bốn trăm hộ gia đình khắp Nam kỳ lục tỉnh lên núi Tượng (Liên Hoa Sơn) “trảm thảo khai hoang”, ngoài việc thiết lập nên kiểng chùa này còn thiết lập thôn ấp mới gọi là thôn An Định. Cuối tháng Giêng năm Bính Tý - 1876, cụ khai sáng đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa lấy bốn chữ Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật Thầy làm tổ, giữ tứ ân, trọng hiếu nghĩa. Tín đồ khá đông mà toàn thể đều được dạy tôn thờ Phật đạo, dạy cư sĩ tại gia. Cụ là người ghét Tây, mến những bậc trung lương ái quốc, nên trong bốn ân đó có ân Tổ quốc. Cụ liên lạc với cụ Quản Thành, một đại đệ tử của Phật Thầy và là một lãnh tụ kháng Pháp. Pháp có mấy lần tìm nhưng không bắt được cụ. Cụ Ngô Lợi viên tịch vào năm Canh Dần (1890) trong lúc không đau ốm gì. Truyền rằng xác cụ được một mãnh hổ cõng vào giấu trong một hang núi và xác ấy khô lại, không hôi thối.

Theo quyển “Cẩm nang du lịch An Giang” (Ban tổ chức lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam - Châu Đốc - An Giang, 2001), thì chùa Tam Bửu được xây dựng vào năm 1882. Chùa nằm về phía Đông vách núi Tượng, cách chân núi hơn mười thước. Khởi thủy, chùa được cất bằng cây lá đơn sơ và đã trải qua nhiều lần bị lính mã tà đốt phá với 7 lần pháp nạn. Người xưa kể, bọn lính cho rằng đây là vùng căn cứ tự trị do ông Ngô Lợi cầm đầu nên vào thôn đánh đuổi dân làng, cướp giật nhiều thứ từ vật dụng quý cho đến heo, gà... suốt thời gian từ 1876 đến 1888. Theo tư liệu của tủ sách sưu khảo Phật giáo Bửu Sơn Kỳ Hương do Hà Tân Dân biên soạn và một số vị cao đồ địa phương, thì đến năm 1885 chùa được tái thiết. Đến tháng 2 năm 1888, khi chính quyền Pháp cho thôn An Định sáp nhập xã Ba Chúc (tỉnh Châu Đốc thời bấy giờ) thì chùa Tam Bửu mới được trùng tu khang trang.

Cứ tưởng chùa đã hết “pháp nạn”. Năm 1978, khi bọn Pôn Pốt đánh sang biên giới nước ta, nhân dân khắp nơi trong xã chạy vào chùa trú ẩn. Ngày 13-4-1978, quân Pôn Pốt bắn phá vào hậu liêu của chùa, làm một mảng tường hư sụp, khiến 40 người chết và 20 người bị thương. Người bị thương và người chết nằm chồng chất lên nhau. Đến ngày 20-4-1978, bọn Pôn Pốt tràn vào chùa lần thứ hai, bắt hơn 700 người đem ra khỏi chùa, cướp hết đồ đạc rồi phân ra nam, nữ. Nam đưa về hướng cánh đồng Lạc Quới, nữ đưa về hướng kinh Năm Xã, còn lại những người già yếu bệnh tật không đi nổi, chúng lôi vào nhà khách bắn chết, sau đó đốt chùa. Riêng 700 người bị bắt chỉ có 2 người sống sót trở về, còn bao nhiêu chúng hành hạ, hãm hiếp phụ nữ và giết hết ngoài cánh đồng gần chùa.



Thăng trầm trên 100 năm, ngày nay chùa Tam Bửu vẫn còn nét cổ với nhiều mái, nhiều gian, lợp ngói với nóc chóp cao. Chùa tọa lạc trong khuôn viên rộng trên 3ha. Ngoài ngôi chính điện còn có nhiều gian phụ như nhà khách, nhà tiếp tân, nhà bếp và nhà nghỉ có sức chứa hàng trăm người. Chùa hiện có khoảng 30 bàn thờ từ chính điện ra đến tận cột phướng. Trong chính điện thờ Quan Thánh Đế Quân, Hội đồng Thượng Phật, Cửu huyền bá tánh, Thập vương, Hộ pháp, Chánh tăng, Phật vương, Phật thầy, Phật trùm... Tiền sảnh tạc 4 con rồng vào 4 trụ, gần cột phướng thờ Thiên, Địa thần, Thổ trạch. Việc cúng bái với rất nhiều nghi lễ, ngoài rằm và hăm chín, ba mươi hằng tháng, còn những đại lễ khác như: Đức Bổn Sư viên tịch (13-10 âm lịch), rằm tháng bảy (Trai đàn), cúng hội Chánh đán, Đoan ngũ, giỗ tập thể...

Chùa Tam Bửu (thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) vừa có kiến trúc cổ vừa mang dấu ấn lịch sử thời khẩn hoang, đã được Nhà nước công nhận di tích kiến trúc cấp quốc gia hơn 20 năm qua. Hiện nay mỗi ngày chùa thu hút hàng trăm người trong và ngoài nước đến hành hương.  

CHÙA XVAYTON



Chùa Xvay-ton (chùa Xà Tón) tọa lạc ở khóm 3, thị trấn Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang là một trong những ngôi chùa của đồng bào dân tộc Khmer. Chùa được dựng sơ sài vào thế kỷ XVII. Đến năm 1896, chùa được xây dựng kiên cố cho đến nay. Xvay là khỉ, Ton là kéo, tên chùa được người dân tộc Khmer đặt cho vùng đất ngày trước còn hoang vu, ít người ở và trên cây nhiều đoàõn khỉ sinh sống. Những ngày lễ hàng năm ở chùa là: Lễ Cholchonam Thmay (lễ vào năm mới), lễ Pisatbochia (lễ ơn Phật), lễ Chol cà sa (lễ cấm cung sư sãi), lễ Đolta (lễ ông bà) và lễ Dâng y (lễ cúng dường quần áo cho sư sãi)... Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Chùa Xà Tón (Xvayton) là một ngôi chùa thờ Phật nổi tiếng (theo phái tiểu thừa), tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc chùa tháp của đồng bào Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Nam Bộ. Chùa Xà Tón nằm ngay ở trung tâm huyện lî Tri Tôn (An Giang).

Đối với đồng bào Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long và An Giang, chùa là nơi thờ Phật, là trung tâm văn hóa, nơi gìn giữ những phong tục, tập quán, kiến trúc, điêu khắc, nghệ thuật dân tộc cổ truyền; nơi thanh niên và bà con dân tộc Khmer đến tu học để trở thành người có tri thức, đức hạnh và chăm chỉ lao động.

Các vị cao niên người Kher và các vị sư sãi ở đây cho biết, chùa Xà Tón đã được xây dựng cách đây hơn 200 năm. Lúc đầu, chùa được dựng bằng gỗ, lợp lá, nền đất. Ngày xưa vùng Tri Tôn còn hoang vu, rậm rạp, dân cư rất thưa thớt. Trên những ngọn cây to cao nhiều cành, nhiều lá có từng đàn khỉ (Xvay) đu vào nhau, nối đuôi nhau mà chuyền đi (ton). Bà con Khmer dựng chùa thờ Phật ở đây và đặt tên chùa là Xvayton (biến âm thành Xà Tón cho dễ đọc).

Năm 1896 và 1933 chùa Xà Tón được xây dựng lại bằng gạch ngói, cột bằng gỗ câm-xe, nền chùa đắp cao 1,8 m được xây bằng đá xanh. Giống như các chùa Khmer khác ở đồng bằng sông Cửu Long, chùa Xà Tón cũng theo cùng một quy cách bố cục và kiến trúc thống nhất. Chính điện chùa Xà Tón nằm ở trung tâm khu đất của chùa. Chính điện được xây theo hướng đông-tây có nóc nhọn và hai mái cong gợi hình ảnh nằm dài uốn cong của rắn thần Naga, tượng trưng cho sự bất diệt, dũng mãnh. Mái chính điện được dựng cao dần theo tam cấp, lợp ngói đỏ, xanh, vàng, trông rực rỡ dưới nắng. Chung quanh ngôi chính điện là các dãy tháp, kiểu thức thanh nhã tinh tế, vút dần lên cao, với các tượng nhỏ chung quanh và trên đỉnh là tượng thần Bayon bốn mặt bằng đá (thần sáng tạo). Trong các tháp này là hài cốt đã hỏa táng của các nhà tu hành ở chùa. Phía trước chùa có hồ lớn trồng hoa sen, hoa súng; bên trái chùa là hàng dừa trĩu quả và các cây cổ thụ cành là là rủ bóng xuống hàng tháp. Trong ngôi chính điện có tượng Phật lớn ngồi trên bệ cao. (Chỉ có một tượng Phật cao gần mái đặt ở chính điện). Trên các bức tường chung quanh có nhiều hình vẽ kể lại cuộc đời của Phật và các môn đồ, nhưng nay đã phai màu. Đằng trước tượng Phật còn có nhiều tượng nhỏ bằng bạc, bằng gỗ khá đặc sắc. Chính điện là nơi hành lễ, thuyết pháp, còn nơi học, nơi ở của các vị sư là những dãy nhà khác, có phần nhỏ hơn nhưng cũng có hai mái cong gập lại, có nóc nhọn và có hình tễợng thần rắn Naga.

Hằng năm ở chùa Xà Tón có 5 ngày hội lớn: Lễ hội Chol Chhnam Thmay là lễ năm mới vào tháng Tư; lễ Pisát Bôchia là lễ nhớ ơn Phật; lễ Phật sinh vào rằm tháng Tư âm lịch; lễ Chol Neasa là lễ cấm ba tháng sư không ra khỏi chùa (từ rằm tháng Sáu đến rằm tháng Chín âm lịch); lễ Pha Chum Bênh, còn gọi là Đôn ta là lễ thanh minh cúng ông bà, lễ tỏ lòng biết ơn tổ tiên; lễ Kà Thận là lễ sắm quần áo cho sư sãi, sắm vật dụng cho chùa hay cho trường làng. Vào những ngày đó, bà con Khmer đến chùa lễ Phật rất đông vui.

Những ngôi chùa Khmer như ngôi chùa Xà Tón với hình tượng rắn thần Naga - biểu tượng cho sự Bất diệt, với các ngôi tháp có tượng thần Bayon bốn mặt - thần sáng tạo là những nét độc đáo, cổ kính của các làng Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Nam Bộ. 

CHÙA VẠN LINH



Núi Cấm xưa có tên là núi Gấm, có người còn gọi là Thiên Cẩm Sơn. Đây là ngọn núi hùng vĩ và cao nhất (716m) trong dãy Thất Sơn (An Giang), là nơi nổi tiếng sơn kỳ thủy tú với nhiều danh lam thắng cảnh. Về đêm, ở đây, tiết trời lành lạnh, sương phủ trắng, nên được người đời phong tặng là “Đà Lạt 2”. Đến núi Cấm, phần lớn là khách hành hương. Họ đến để chiêm bái các nơi thờ phụng như cửa Sơn Thần, điện Bồ Hong, vồ Ông Bướm, vồ Bà, điện Cây Quế, điện Kín... nhưng đông nhất là viếng chùa Phật Lớn, chùa Phật Nhỏ và chùa Vạn Linh.

Chùa Vạn Linh trước kia có tên là chùa Lá. Vị khai sơn dựng chùa đầu tiên là ông Nguyễn Văn Xứng, sinh năm 1895 tại Bến Tre, đệ tử của tổ Phi Lai thuộc dòng Lâm tế. Ngài đã thế phát xuất gia lên núi tìm thầy học đạo từ năm 1918, pháp danh Thượng Thiện Hạ Quang. Theo lời kể của hòa thượng Thích Hoằng Xưng, thường trực tại bổn chùa: Vào năm 1929 hòa thượng Thượng Thiện Hạ Quang đã chọn đất trên núi Cấm lập am thờ Phật. Lúc đầu chùa được cất bằng tranh lá đơn sơ, dần dần đệ tử quy tụ về đông hơn, mới cùng nhau ra công góp sức tu bổ. Đến năm 1940, cái am nhỏ trở thành một ngôi chùa khá khang trang lấy tên là Vạn Linh. Ba năm sau, chùa được xây dựng lại, mái lợp ngói, vách đá, to đẹp và trang nghiêm. Nhưng vào năm 1946, giặc Pháp đã phá hủy hoàn toàn ngôi chùa! Để tiếp tục giữ gìn nơi thờ phượng, tu hành, quý thầy dựng lại chùa mới. Đến năm 1970, một lần nữa chùa bị tàn phá bằng những đợt ném bom của máy bay Mỹ. Cả khu vực chùa bị chúng biến thành bình địa. Giữa cảnh hoang tàn đổ nát ấy, ông Lâm Cáo Kía, một cư sĩ mộ đạo, dựng lại một cái chòi lá ngay trên nền chùa cũ để chờ ngày đủ khả năng khôi phục lại ngôi chùa tôn nghiêm này... 

Năm 1995, các sư tăng và phật tử bắt tay vào việc xây dựng ngôi chùa mới gần bên nền chùa cũ, trên một sườn đồi thoai thoải rộng bốn mẫu, xung quanh là rừng cây là một nơi u nhàn để tu niệm. Chùa được xây dựng theo lối kiến trúc vừa mang sắc thái Á Đông vừa mang tính hiện đại, bao gồm tiền đường và hậu đường trên một diện tích 500m2. Phần chính điện là nơi an vị các tượng Phật sơn son thiếp vàng. Ba ngọn tháp trước tiền đường làm tăng thêm vẻ thâm nghiêm của ngôi chùa. Bên trái là tháp chuông chín tầng với quả đại hồng chung nặng 1,2 tấn. Bên mặt là tháp To. Chính giữa là Quan Âm các chín tầng, cao 35m. Từ sân chùa đến hậu liêu, tả hữu đều có dãy hành lang dài để khách đi dạo. Xung quanh chùa còn có những vườn hoa, vườn kiểng, vườn cây ăn trái. Ngồi nghỉ chân dưới những tàn cây bên hông chùa hoặc đi dạo bất cứ nơi nào trong khuôn viên chùa Vạn Linh, chúng ta cũng đều có thể nghe tiếng rì rào của gió đùa lá cây, thỉnh thoảng lại nghe tiếng quốc kêu khắc khoải... Tất cả đã tạo nên một nét đẹp hài hòa giữa lối kiến trúc tôn giáo và cảnh sắc thiên nhiên. 

Với những gì hiện có, chùa Vạn Linh cùng toàn thể cảnh quan xung quanh, là điểm du lịch sinh thái, văn hóa, giáo dục, lịch sử độc đáo của núi Cấm.   

CHÙA ĐẠI TÒNG LÂM

Là một trong những ngôi chùa rộng, đẹp với cảnh quan thiên nhiên tươi xanh bốn mùa, chùa Đại Tòng Lâm tọa lạc ở xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nằm bên trái Quốc lộ 51 hướng đi Vũng Tàu, cách thành phố Hồ Chí Minh 70km



Chánh điện mới 
Chùa do hòa thượng Thích Thiện Hoa và hòa thượng Thích Thiện Hòa khai sơn vào năm 1958, sau đó được trùng tu lại vào năm 1982, cổng tam quan vững chãi xây bằng đá vào năm 1974. 
Với khuôn viên sân chùa rộng đến gần 100ha, du khách ngay khi vừa bước qua cổng chùa sẽ được chiêm ngưỡng, thưởng thức một không gian xanh mát, hai bên lối đi trồng rất nhiều loại cây thẳng tắp, chánh điện được đặt ở phía đối diện vườn hoa mai, phía trước là tượng Phật Bà quan âm thanh thoát. Ngay bên cạnh chánh điện còn có tượng Phật nằm với chiều dài gần 2,5m, cao chín tấc. Nối dài ra khoảng đất trống phía sau chùa, cảnh quan thiên nhiên lại càng xinh đẹp, yên ả hơn nữa. Vòng ra bên trái chánh điện là con đường trải sỏi dẫn tới một không gian bát ngát cây cỏ. Ngay giữa khoảng đất rộng phía trước hồ nước bên trong chùa là bức tượng đứng Quan âm Nam Hải cao 17m. Đứng ở đây, khách vãn cảnh nghe gió lộng mênh mông, tiếng chim hót ríu rít trên những cành cây và còn có thể ngắm cảnh trời xanh ngắt một màu. Cách hồ nước một đoạn không xa là bức tượng Phật ngồi dưới gốc bồ đề tuyệt đẹp. Cội cây xù xì, thân cây cao thẳng tắp vút lên trời. Phía trước cụm cảnh quan này còn có hai chú hạc đứng chầu. Đây là một trong những cảnh quan được nhiều du khách  trầm trồ khen ngợi. Gần đó, nhà chùa xây dựng một chánh điện mới rộng hơn, cao hơn chánh điện cũ bên phía cổng chùa. Ngôi chánh điện mới nhìn ra bốn hướng đều thấy mênh mông cây cối với những không gian tuyệt đẹp như chốn bồng lai. Những mái ngói cong cong của ngôi chùa in trên nền trời làm nổi bật những đường nét điêu khắc được chạm trổ tinh xảo. Mỗi chiều về, giữa ánh nắng nhạt màu, khi tiếng chuông chùa hòa quyện vào gió, vào mây, du khách đến đây như thấy lòng mình thư thái hẳn. Lối vào chánh điện được đặt vô số các chậu hoa kiểng lung lay trong gió. Trong chùa còn có tháp Đa Bảo được xây dựng vào năm 1983 thờ chư Phật và có vườn tượng minh họa các sự tích Đức Phật Thích Ca. Nằm giữa vùng đất yên bình trên đường quốc lộ, vì thế du khách khi đến tham quan chùa Đại Tòng Lâm luôn được đắm mình trong không khí mát lành của cây cỏ, thiên nhiên, rũ bỏ những ưu tư mệt nhọc. Tất cả mọi cảnh vật trong chùa đều gợi lên nét thanh tịnh, xưa cũ tự bao đời. 



Ngoài ra, không gian trải rộng trong khuôn viên chùa còn là nơi dừng chân nghỉ ngơi được ưa thích của những khách đường xa trong lộ trình TPHCM - Vũng Tàu. Chính vì thế, mỗi năm chùa Đại Tòng Lâm đã đón tiếp hàng vạn người từ phương xa đến tham quan, chiêm bái vãn cảnh chùa.  

CHÙA HẢI VÂN



Chùa tọa lạc ở đường Hạ Long, phường 1, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chùa được Sư bà Thích nữ Như Thanh khai sơn vào năm 1966. Sư bà tiếp tục cho trùng tu, mở rộng ngôi chùa vào các năm 1969, 1972, 1974. Ngôi Quan Âm bảo điện được xây dựng năm 1990 và hoàn thành năm 1992, được coi là lớn nhất của Phật giáo Việt Nam ngày nay.

CHÙA HUÊ LÂM



Chùa tọa lạc ở 383/5 ấp Quảng Phú, xã Phú Mỹ, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cách chùa Đại Tòng Lâm khoảng 500m. Chùa được xây dựng từ năm 1976. Đến năm 1978, Sư bà Thích nữ Như Thanh cho mở rộng thành một ngôi già lam thanh tịnh. Bên trái chùa có Quan Âm đài được dựng năm 1989.

CHÙA LINH SƠN



Chùa tọa lạc ở số 61 đường Hoàng Hoa Thám, phường 2, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chùa được dựng vào thế kỷ XIX trên triền núi nhỏ Vũng Tàu. Đến năm 1921, chùa được dời về địa điểm hiện nay. Chùa được trùng tu vào năm 1959. điện Phật hiện có tôn trí tượng đức Phật Thích-ca bằng đá thuộc thời kỳ văn hóa Ôởc Eo (tượng đã phủ sơn). Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA LONG BÀN



Chùa tọa lạc ở thôn Long Phượng, thị trấn Long Điền, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chùa được xây dựng từ năm 1845 và trùng tu nhiều lần. Nơi đây còn bảo tồn những đặc trưng kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc cổ, đặc biệt là các bao lam, các câu đối được chạm khắc tinh xảo, ở vườn chùa có cây thốt nốt cao khoảng 20m, chu vi thân gốc 3,40m. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA LONG HÒA



Chùa thường được gọi là chùa Phật, tọa lạc ở số 12/6B, ấp An Thạnh, xã An Ngãi, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chùa do Thiền sư Liễu Huệ khai sơn vào khoảng giữa thế kỷ XVIII. Kiến trúc chùa ngày nay do Thiền sư Huệ Đăng cho trùng kiến vào năm 1929. Ơở điện Phật có nhiều pho tượng cổ: tượng đức Phật Di-đà bằng đồng cao 0,75m, tượng Bồ-tát Quan Thế Âm, Thế Chí bằng gỗ cao 0,80m, tượng Tổ Đạt-ma bằng đất nung cao 0,60m, bộ tượng Thập bát La-hán bằng đất nung cao 0,67m ... Đây là ngôi chùa cổ nổi tiếng ở vùng Bà Rịa xưa nay.

CHÙA NIẾT BÀN TỊNH XÁ



Tịnh xá tọa lạc ở đường Hạ Long, phường 1, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tịnh xá được xây dựng 4 tầng lầu với diện tích 1.000m2 bên triền núi Nhỏ từ năm 1969 đến năm 1974. Ơở đây có cây trụ phướn, hình tượng tháp cổ hoa sen cao 21m với 42 tầng ốp gạch men; đại hồng chung nặng 3,5 tấn; tranh ghép mảnh Long Mã cao 4m, rộng 2m; ở lầu 3, có thuyền Bát-nhã đầu rồng bằng ciment đắp gạch men đủ màu, dài 12m. Đặc biệt là pho tượng đức Phật Thích-ca nhập niết-bàn ở chánh điện, tượng dài 12m màu hồng thạch, phía sau là rừng cây Sa-la rộng lớn. Tịnh xá đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA THIÊN THAI



Chùa tọa lạc ở xã Tam An, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, sát núi Chân Tiên, trên con đường đi vào chùa Long Hòa, dinh Bà Cố... Chùa được Hòa thượng Thanh Kế - Huệ Đăng xây dựng vào năm 1909. Năm 1931, Hòa thượng Thanh Kế - Huệ Đăng thành lập Thiên Thai Thiền giáo tông, Liên Hữu hội và cho xuất bản tạp chí Bát Nhã Âm. Điện Phật được bố trí 4 mặt chung quanh một cột đá. Mặt chính có tôn trí xá-lợi đức Phật. Trước chùa có khu tháp Thiên Bửu mới được xây dựng qui mô.

THÍCH CA PHẬT ĐÀI

Toà Bảo Tháp

Du khách đến thăm thành phố biển Vũng Tàu dường như ai cũng đến viếng Thích Ca Phật Đài. Phật đài nằm ở Tây Bắc sườn núi lớn Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, rộng khoảng 5 hecta là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng nằm ở Tây Bắc sườn núi Lớn.

Phật Đài là công trình do hệ phái Phật giáo Nam tông xây dựng năm 1961 và hoàn thành năm 1963, gồm Thiền Lâm Tự phía dưới và Thích Ca Phật Đài phía trên. Thiền Lâm Tự vốn là một ngôi chùa nhỏ do một công chức hồi hưu quê quán ở Vũng Tàu xây dựng từ năm 1957. Đến năm 1961, ngôi chùa được trùng tu bên dưới và xây dựng thêm Thích Ca Phật Đài trên núi, ngoài ra còn xây một nhà tạm trú dành cho Phật tử từ xa đến hành hương.

Tại chân núi Lớn, sát đường đi du khách đã thấy một cổng tam quan to lớn với 4 cây cột vươn lên vững chắc, thanh thoát. Qua cổng tam quan, theo từng bậc đá men sườn núi, du khách đi lên núi bằng một con đường quanh co xinh đẹpđẹp: một bên vách núi nhẵn nhụi như tường thành, một bên là lũng sâu soải dài ra phía biển. Gần đến đỉnh là  một khu rừng thưa ríu rít tiếng chim trong các tàn cây.
 
Tượng Kim Thân Phật Tổ

Theo con đường làm bằng những bậc đá, rải rác trên sườn núi, du khách sẽ chiêm ngưỡng cả một “thế giới” các pho tượng minh họa sự tích đức Phật : Thích-ca đản sinh,Thích-ca xuất gia, Thích-ca thành đạo, Thích-ca chuyển pháp luân, Thích-ca nhập niết bàn, voi và khỉ dâng quả… Nhìn ngắm “vườn tượng” diệu kỳ của Phật pháp rồi cùng nhớ lại lịch sử hình thành và ý nghĩa của cụm di sản tôn giáo này:

- Từ một khu rừng rậm hoang vu, năm 1957, quan Phủ hồi hưu Lê Quang Vinh đã dựng lên ngôi Thiền Lâm Tự làm nơi tu hành cho gia đình. Sau, Hội Phật Giáo miền Nam nhận thấy vị trí ngôi chùa rất lý tưởng để xây dựng thành khu vực tôn thờ Ngọc Xá Lợi, diễn tả lại cuộc đời của Đức Phật Thích Ca.

- Ngày 20.7.1961 Thích Ca Phật Đài được khởi công xây dựng, khánh thành trọng thể ngày 09.03.1963.

- Bảo Tháp cao ba mét là nơi chứa di cốt của ông Phủ Vinh, vị sư trụ trì đầu tiên ngôi chùa này. Phía trên là ngôi Thiền Lâm Tự, là điện thờ phật chính của chùa.
 
Tượng Đức Phật nhập Niết bàn

- Cụm tượng bao gồm: Tương Phật Đản Sinh ở bên trái Thiền Lâm Tự, diễn tả một hài nhi đứng trên tòa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất. Tượng “Cắt tóc đi tu” tạc một chàng trai dùng kiếm cắt tóc diễn tả sự tích Thái Tử Tất Đạt Đa dùng kiếm cắt tóc để biếu lộ quyết tâm sắt đá của mình bắt đầu cuộc sông tu hành. Tượng Kim Thân Phật Tổ là hình tượng Đức Phật Thích Ca đúc bằng xi măng cốt sắt, cao 6m, đặt trên tòa sen cao 4m. Tượng Voi và Khỉ dâng hoa cho Đức Phật. Qua khỏi vườn Lộc Giả lên cao hơn có bức tượng Phật nằm và một số đồ đệ đứng xung quanh, tượng dài 12m diễn tả lúc Đức Phật nhập Niết Bàn, năm ấy được gọi là Năm Phật lịch thứ nhất tức là năm 544 trước Công nguyên.

- Toà nhà Bát Giác nằm bên phải bức tượng “Voi, Khỉ dâng hoa quả” là một tòa nhà hình bát giác tượng trưng cho vườn Lộc Giả, nơi Đức Phật chuyển pháp luân. Bên trong ngôi nhà Bát Giác này có xây một bàn thờ ở trên là tượng Phật cùng 5 môn đệ đầu tiên. Chung quanh bệ thờ tám mặt này ghi những lời Phật dạy gọi là "Bát chánh đạo". Trên đỉnh tòa nhà Bát Giác có đúc một cây "Đuốc Huệ" với ý nghĩa Đạo Phật sẽ soi sáng trí óc nhân loại. Dưới "Đuốc Huệ" là 12 nấc "Thập nhị nhân duyên" nói lên 12 điều cơ duyên mà con người sẽ vướng mắc trong cuộc đời trần tục, phía dưới được xây thành hình tứ diện tượng trưng cho "Tứ diệu đế" của nguyên lý đạo Phật.

Cổng tam quan to lớn với 4 cây cột vươn lên vững chắc, thanh thoát.

- Trở lại đường cũ, rẽ trái, ta sẽ thấy tòa Bảo Tháp, tương truyền là nơi lưu giữ kho cốt của Đức Phật sau khi hỏa táng. Tháp cao 19 mét đứng uy nghi trên nền bát giác rộng lớn, trước Bảo Tháp là bàn thờ và một tấm bia chữ Hán: "Nam mô bổn sư Thích Ca mô ni Phật". Bốn góc Bảo Tháp có bốn đỉnh chứa đựng đất thiêng thỉnh về từ bốn nơi động tâm của Đức Phật tại Ấn Độ; là: Lumbini: nơi Phật sinh ra, Uruvela: nơi Phật thành đạo, Isipatana: nơi Ngài truyền đạo, Kusinara: nơi Ngài nhập Niết bàn. Theo truyền tụng, trong Tháp có chứa đựng 13 viên Ngọc Xá Lợi do các nước Sri Lanka, Miến Điện, Thái Lan hiến cúng.

Từ vị trí của Thích Ca Phật Đài, nhìn chung quanh sườn núi lớn, biển hiện ra ở cả 3 phía. Từ đây có thể nhìn thấy mũi Cần Giờ, đảo Long Sơn và tổ hợp dàn khoan dầu khí ngoài khơi xa. Với địa thế thiên nhiên và cảnh quan hùng vĩ, khu vực Thích Ca Phật Đài đã trở thành điểm du lịch - văn hóa nổi tiếng có sức thu hút đông đảo du khách đến tham quan Vũng Tàu – Bà Rịa.  

CHÙA ĐỒI CAO



Chùa thường được gọi là chùa Đông Cao, chùa Cao, tọa lạc trên một ngọn đồi thuộc xã Tân Hương, huyện Phổ Yên, tỉnh Bắc Thái. Từ Hà Nội đến địa phận tỉnh Bắc Thái, đi 16km nữa thì đến chùa. Chùa được dựng từ lâu. Ngôi chùa ngày nay do sư cụ Đàm Hinh tổ chức xây cất vào ngày 17 tháng 5 năm 1992, hoàn thành ngày 21 tháng 7 năm 1992. Chùa còn giữ được các ngôi tháp, bia, cột đá thời Hậu Lê, như tấm bia cổ có khắc niên hiệu Chính Hòa năm thứ 18 (1697).

CHÙA HỘI TÔN



Chùa tọa lạc tại ấp 8, xã Quới Sơn, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre, cách huyện l?hâu Thành khoảng 5km. Chùa được Thiền sư Long Thiền (quê ở Quảng Ngãi) dựng vào giữa thế kỷ XVIII, dưới triều Chúa Võ Vương Nguyễn Phước Khoát (1738-1765). Vị trụ trì kế tiếp là Thiền sư Khánh Hưng, đời 36 dòng Lâm Tế đã trùng tu chùa vào đầu thế kỷ XIX, tôn tạo tượng Phật và pháp khí, đúc đại hồng chung năm 1805. Chùa còn được trùng tu vào các năm 1884, 1947 và 1992. Chùa hiện nay còn giữ một số bản gỗ khắc kinh (chữ Hán), nhiều tượng cổ. Trong vườn chùa có 15 bảo tháp các ngài Bảo Chất, Quảng Giáo, Tâm Định, Chánh Hòa ...

CHÙA TUYÊN LINH



Chùa tọa lạc ở ấp Tân Quới Đông B, xã Minh Đức, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Chùa được xây dựng vào năm 1861 có tên chùa Tiên Linh. Năm 1907, Hòa thượng Khánh Hòa về trụ trì đã trùng tu và đổi tên là chùa Tuyên Linh năm 1924. Năm 1941, Hòa thượng đã tổ chức trùng tu, mở rộng ngôi chùa. Hòa thượng là người chủ xướng "Phong trào chấn hưng Phật giáo" từ những năm 1920, lập các trường Phật học để đào tạo tăng ni, trong đó có trường Phật học ở chùa Tuyên Linh. Ngôi chùa hiện nay được trùng tu năm 1983. Ơở vườn chùa có bảo tháp ghi tên ba vị Tổ: Hòa thượng Khánh Phong (1823-1905), Thiền sư Minh Bảo (1846-1919) và Pháp sư Khánh Hòa (1877-1948). Chùa đã được Bộ Văn hoá công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA VIÊN MINH



Chùa tọa lạc tại số 156 đường Nguyễn Đình Chiểu, thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Chùa được dựng từ lâu, nguyên là một miếu thờ Quan Công. Kiến trúc hiện nay được xây dựng từ năm 1951 đến năm 1959. Chánh điện được bài trí trang nghiêm, đặc biệt có hai pho tượng Phật Di-đà và Thích-ca cốt bằng nan tre. Ơở sân trước, có tôn trí pho tượng Bồ-tát Quan Thế Âm đứng trên đài sen, cao 3m, có hạc chầu hai bên. Chùa hiện đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bến Tre.

CHÙA LINH PHONG

L.T.S : Đào Tấn - nhà văn hoá lớn của nước ta, không chỉ là nhà soạn tuồng kiệt xuất, nhà thơ tài ba, ông còn để lại nhiều áng văn hay. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của ông về chùa Linh Phong, một ngôi chùa đẹp nổi tiếng ở Bình Định trước đây. Bài dịch trích trong tập bản thảo "Mai viên cố sự " của Lộc xuyên Đặng Qui Địch .

Cách thành Đồ Bàn hơn ba mươi dặm vê hướng đông bắc, quanh các thôn Phương Phi Phương Thái thuộc vùng biển đều là núi non cả (trong quần sơn này) nổi lên một ngọn núi cao chót vót, xinh xắn, đứng một mình, đó là ngọn núi có chùa Linh Phong. (Nơi này) rừng suối cây đá có vẻ đẹp kín đáo và thanh cao không đâu bằng. Có thể nói đây là ngọn núi đẹp nhất tỉnh ta.

Vào năm thứ mười một đời vua Hiếu Minh (Quốc chúa, Minh Vương, Nguyễn Phúc Chu) ở triều trước nước ta, nhằm năm thứ 23 niên hiệu Chánh Hoà nhà Lê, tức năm nhâm Ngọ (1702) có Mộc Y Sơn, ông tu tại núi này. Kết vỏ cây làm áo, mùa đông mùa hè vẫn mặc như thế, ung dung sống bên sườn núi, trong hang đá, ra vào không ai định trước được. Người trong vùng chẳng biết họ tên ông (nhân thấy ông ở trong núi, gọi ông là Sơn ông (ông Núi). Khảo tự phổ riêng của chùa (Linh Phong) cùng bài vị các đời trụ trì thờ tại chùa, thấy có ghi ông họ Lê tên Ban, người ở kinh đô Trung Quốc. Gọi Sơn ông là Lê Ban chưa biết đúng không hoặc ông là người giấu tên trốn đời, sống hoà mình vào đám người chằm nón đốn củi dệt chiếu câu cá cũng chưa biết chừng! Ông ở núi này được vài năm thì chọn lưng chừng núi chỗ có con suối sâu và dài, phát cây hoang, vác đá lớn xếp chỗ nọ, lắp chỗ kia, lấy thanh tre làm một cái am nhỏ (công việc xây dựng nhanh chóng như có quỷ thần dị vật ngầm giúp). Am cất xong, đặt tên là: "Dũng tuyển tự "chùa "Dũng tuyển " gối đầu vào ngọn núi rất ca, cạnh con suối trong luôn có nước chảy, hai bên có mây già đá lạ, cây kỳ, hoa nổi tiếng, chỗ cao chỗ thấp chứa sẵn cái vẽ rất yên tĩnh và rất sạch sẽ. Cảnh trí này đều do tay ông sắp đặt lấy với tâm hồn của người thợ, lập riêng thành thế giới cỏn con giữa cõi trời và cõi người. Phía tả chùa có gian nhà đá, nóc bằng như trần nhà, hai bên thẳng như vách, giữa như giường nằm, ngoài như bậc thềm, như sân. Trên mặt sân đá về phía hữu có chỗ lõm xuống, có truyền thuyết cho rằng đây là cối giã gạo của Sơn Ông. Hoặc cho rằng : "Ông chứa nước nơi này để đổ vào nghiên khi mài mực". Thiên nhiên sắp đặt, nghiễm nhiên thành một ngôi nhà nhỏ. Lúc rảnh rỗi ông thường đến chơi trong nhà đá, một mình ngồi niệm kinh, nay do chỗ này mà tưởng tượng được cách sinh hoạt của ông. Tương truyền ban ngày ông ở trong núi đốn củi, bó thành bó lớn, phải sức của hai người khiên nổi, vậy mà chỉ một mình ông vác xuống chân núi, đặt bên đường. Người qua lại đều biết là chỉ của Sơn Ông, bèn đem rau gạo mà đổi. Ông hoặc đồng tử xuống núi lấy gạo rau rồi đi, chưa từng đối đáp một ai về việc đổi chác nhiều ít thế nào. Ngày khác cũng vậy như thế được mười mấy năm không thể biết được tung tích. Núi nhiều cọp chỉ một mình ông ở với một đồng tử, người với cọp beo như quen biết nhau, quên vật quên mình. Xưa có ông Đồng Cảnh Đạo ẩn trong núi Thương Lạc, mặc áo lá cây, gảy đàn ca hát, tự lấy thế làm vui, trùng độc và thú dữ qua lại bên cạnh. Như Sơn Ông đây là nhà sư (mà hành tung có khác gì bậc ẩn giả kia. Ôi (nếu không phải thế thì) sao dạo biển chơi mây rồi cuối cùng thì gửi dấu nơi núi này?

Kịp đến năm thứ 8 đời vua Hiến Ninh (Ninh Vương, Nguyễn Phúc Chú) nước ta, nhằm cuối năm Vĩnh Khánh thứ 4, đầu năm Long Đức nguyên niên nhà Lê, tức cuối năm Nhâm Tý đầu năm Quí Sửu (1732) vua khen ông là bậc chân tu, sai sùng tu chùa. Chùa tranh thành chùa ngói bắt đầu từ đây. Vua ban tên chùa là: "Linh Phong thiền tự" bên tả khắc "Vĩnh Khánh Quí Sửu xuân vương chính nguyệt = tháng giêng năm Quí Sửu Vĩnh Khánh nhà Lê ", bên hữu khắc: "Quốc chúa ngự đề = chính tay Quốc chúa" và ban ngự liễn: 

"Hải ngạn khởi lương nhân, pháp vũ phổ thiên tư Phật thổ .
Linh Phong ngưng thụy khí , tường vân biến địa ấm nhân gian !"
(Bờ biển dấy nhân hay, mưa khắp trời nhuần Phật thổ ;
Núi Linh ngưng khí tốt, mây lành rợp đất hộ nhân gian !)

Bên tả khắc "Quí Sửu cốc đán = Buổi sáng tốt năm Quí Sửu". Bên hữu khắc "Quốc chúa ngự đề ". Dưới bốn chữ "quốc chúa ngự đề" ở tấm biển và ở câu liễn này đều có khắc "Thần ngự bửu tỉ = ấn báu" "Thần ngự " của nhà vua. Vua còn ban cho Sơn Ông hiệu Tịnh Giác Thiện Trì Đại Lão Thiền Sư.

Vào năm thứ 3 đời vua Hiếu Võ (Võ Vương Khúc Khoát) nước ta, nhằm năm thứ nhì niên hiệu Cảnh Hưng nhà Lê, tức năm Tân Dậu (1741 ), vua sắc triệu Sơn Ông về kinh để hỏi về giáo lý đạo Phật. Ông chống gậy tầm xích đến chơi nơi vua đóng đô, chưa đầy tháng thì đã từ tạ xin về. Vua ban một bộ áo cà sa có vòng ngọc móc vàng làm pháp phục, ân sủng thật hiếm có. Trong loạn lạc thời Tây Sơn chùa bị đổ nát, chính là lúc ông qua đời, tăng chúng các chùa họp lại lo việc mai táng cho ông, tháp xây bên hữu chùa. Tại tháp có câu liễn :

"Quyển Thạch tiệm thành sơn, thản thản u trinh Thường Lạc thổ .
Chúng lưu nan vi thuỷ, mang mang không tế Động Đình Thiên!"

(Góp đá dần thành non, u nhã phẳng phiu đất Thường Lạc ;
Họp dòng khó nên nước, hư vô man mác trời Động Đình !)

Bên hữu viết : "Ngụy Thái Đức bát niên = Năm thứ 8 hiệu Thái Đức (1785) nhà Tây Sơn", nay vẫn còn. Do đó biết ông viên tịch thời Tây Sơn .

Sau khi Thế tổ Cao Hoàng Đế nhà Nguyễn ta định rồi. Triều đình vâng mệnh hỏi han đến tình trạng chùa Linh Phong. Năm Gia Long thứ 7 Mậu Thìn (1808), triều đình phụng mệnh truyền ý chỉ của Thánh Mẫu Hiếu Khương Hoàng Hậu rằng "Vật thường trụ của chùa Linh Phong (đã đổ nát) không ai được lấy càn, để đợi sùng tu". Năm Minh Mệnh thứ 7, Bính Tuất (1826) vua sắc trấn thần đệ tương pháp phục triều trước đã ban cho Sơn Ông để vua xem, rồi ra lệnh theo cách thức cũ chế một bộ cà sa mới có móc vàng và vòng (kim loại) tạc hình voi, ban cho chùa Linh Phong làm vật để thờ ông. Vua còn lệnh xuất kho trong cung một trăm hai mươi lạng bạc, sai Trấn thần trùng tu chùa, nên đài giảng kinh ấy, ghế ngồi nói Pháp ấy trang nghiêm không đâu bằng, cỏ non thông lớn đều thấm nhuần ơn mưa móc mà Sơn Ông chưa kịp thấy. Có thuyết nói rằng: "Khoản niên hiệu Minh Mệnh (một đêm) vua không được khoẻ, vừa chợp mắt thì mộng thấy được một nhà sư già mặc áo vỏ cây, đứng bên giường ngọc mà quạt hầu. Rạng sáng hôm sau mình rồng khoẻ khoắn, vua đem điều chiêm bao nói cho quan chấp chánh biết, nhân đó nhớ chuyện Mộc y Ông ở chùa Linh Phong về triều trước, vua làm lấy lạ (cho sự linh dị của Sơn Ông) bèn ra lệnh trùng tu chùa. Ôi ! Ông cũng lạ lùng thay! Mặc áo vỏ cây làm sư, cửa vàng yết chúa, nhà đá niệm kinh, giường ngọc hiển mộng, qua lại cõi trần sắc tướng không không, nay tên ông cùng tên núi đều truyền, đáng làm thắng tích ở tỉnh ta .

Giữa niên hiệu Kiến Phúc, Hàm Nghi, Tấn tôi bỏ quan về nhà ở phía nam kinh đô, gửi thân nơi cửa thiền để tránh loạn, kiệu chàm gặp trúc thường qua lại núi này chùa này. Người xưa một năm ở núi quá nửa. Tấn tôi lúc bấy giờ cũng tương tự như thế. Lúc ở núi, nhân hứng có đề mấy câu vụng về, nay ghi lại đây vài câu liễn :

"Thập niên hồ hải qui lai mộng 
Nhất kỉnh yên hoa tự tại thiên! " 
(Một cảnh khói hoa trời tự tại ,
Mười năm hồ hải giấc qui lai!) 
" Giai sĩ từ bi ninh thị phật,
Sơn ông danh tự bán nghi tiên !"
(Đây học trò lành âu cũng Phật,
Đó ông núi gọi nửa ngờ tiên !)

Lại đề một câu liễn nhỏ tại nơi ở là ngôi nhà nhỏ cạnh ngôi chùa :

" Thạch thất niên thiên huỳnh hổ ngoạ,
Hoạ trì thập nguyệt bạch liên khai"

(Nhà đá cọp vàng nằm ngàn thuở
Ao hoa sen trắng nở đầu đông)

Đó là tả cảnh thật. Ở núi rỗi việc, bèn sưu cầu di tích của Sơn ông, chẳng có văn bia làm chứng, chỉ tìm được giấy rách sách nát có đề năm ghi tháng, tham khảo sách Đại Việt Sử Ký cùng thực lục tiền biên của bản triều (đối chiếu với tàn chỉ tệ biên) để tìm chứng cứ đích xác, được điều nào ghi điều nấy. Lại được hơn 200 tấm ván khắc trọn một bộ "Pháp hoa kinh giải" cùng con dấu riêng bằng đá quí, khắc: "Bán sơn trung tự = chùa ở lưng chừng núi" khắc "Khai sơn Dũng Tuyển tự = lập nên chùa dũng tuyển". Khắc: "Nhân hiệu sơn Ông = người có tên hiệu là Sơn Ông", khắc: "Thạch trung kiến ngã = tìm ra trong đá", khắc: "Tĩnh phương = nơi yên tĩnh", khắc: "Tịnh tính = tính vắng lặng ", khắc: "Thạch thất = nhà đá". Tất cả được 7 cái, lối chữ triện rất xưa. Tấn tôi lau sạch bụi, đặt vào tráp nhỏ cùng một bản hộ "Pháp hoa kinh giải" giao cho tự tăng cất giữ cẩn thận. Cũng có đôi ba tờ giấy có dấu chữ Sơn Ông để vịnh như tự tăng chẳng biết đã lấy bồi bức mà vẽ tượng! Tấn tôi lật bề lưng bức tượng mà xem, phần lớn chữ hiện rõ nhưng không hiểu, thật đáng tiếc! Năm Ất vị niên hiệu Thành Thái (1895) Tấn tôi thư Thượng thư bộ công, đem chuyện chùa Linh phong tâu lên Tây Cung để cầu xin ấn chỉ Tây Cung lệnh xuất kho trong cung 70 lạng bạc, sai tỉnh thành quyên thêm người trong tỉnh được bao nhiêu thì gọp chung với số bạc đã ban mà đốc thúc việc trùng tu chùa. Tháng tám năm Đinh Dậu, nhằm năm thứ 9 niên hiệu Thành Thái thì lạc thành. Tấn tôi chưa thể về thăm nhưng theo lời người làng ra, ai cũng nói : "Quang cảnh chùa Linh Phong nay trở nên sáng sủa và mới mẻ!" Đáng mừng! Đáng yên tâm! Nhân rổi việc sổ sách tại bộ lược thuật những nét chính, sai các con là Thoại Thạch Nhữ Tuyên ghi lấy, vì chùa Linh Phong là phương tiện nhỏ đưa người đến giác ngộ (nên phải viết) để sự tích chùa khỏi bị vùi lấp chứ chẳng phải làm văn vậy ./.
CHÙA LONG KHÁNH



Chùa tọa lạc tại số 141 đường Trần Cao Vân, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Chùa được Thiền sư Đức Sơn khai sơn vào năm 1695. Thiền sư người Trung Quốc, sang Việt Nam vào thời Vua Lê Hy Tông (1676-1705). Chùa được trùng tu nhiều lần dưới thời các Thiền sư: Tịch Thọ, Thiên Thánh, Chánh Nguyên, Chánh Nhơn. Khánh đồng được đúc năm 1739. Năm 1957, Hòa thượng Huệ Long đã tổ chức trùng kiến ngôi chùa kéo dài 20 năm. Chánh điện bài trí tôn nghiêm, tượng đức Phật Thích-ca ở giữa bằng đồng, cao 2m, được đúc tại chùa năm 1960. Pho tượng đức Phật A-di-đà ở sân trước chùa cao 17m, được tôn trí vào năm 1972. Chùa hiện đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Định.

TU VIỆN NGUYÊN THIỀU



Chùa tọa lạc trên một quả đồi gần tháp Bánh Iít, thuộc xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Chùa được xây vào năm 1956. Phật đài bên phải tôn trí pho tượng đức Phật Thích-ca cao 15m, an vị năm 1962. Thượng tọa trụ trì Thích Đồng Thiện đã tổ chức tôn tạo ngôi chùa thành một danh lam ở Bình Định ngày nay.

CHÙA THẬP THÁP



Chùa Thập Tháp Di Đà nằm cách TP Quy Nhơn khoảng 28km, được hòa thượng Nguyên Thiều dựng vào năm 1683, trên gò đất có mười ngôi tháp Chàm. Đây là ngôi chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế, được trùng tu bốn lần vào các năm 1820, 1849, 1877 và 1924. Đến nay chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm, cổ kính. Nằm khuất trong vườn cây cổ thụ sum suê cành lá và quanh năm đắm chìm trong mầu xanh của ao đầm, của cây cỏ, chùa Thập Tháp từ lâu đã trở thành danh lam thắng cảnh nổi tiếng của Bình Định, thu hút nhiều khách thập phương về hành hương, cúng tế, lễ bái hoặc tham quan, khảo cứu vì đây là ngôi cổ tự xưa nhất ở miền trung. 

Chùa nằm phía bắc thành cổ Đồ Bàn, kinh đô của nước Chiêm Thành ngày xưa, gần Quốc lộ I và cách thành phố Quy Nhơn độ 28km. Thời xa xưa, trên gò đất cao ấy có đến mười ngôi tháp Chàm cổ kính nằm án ngữ mặt bắc Đồ Bàn cho nên người ta mới gọi là gò Thập Tháp.

Kể từ khi vào trấn đất Thuận Hóa và mở mang bờ cõi xa dần về phía nam, ngoài việc chăm lo về chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa trong hơn hai trăm năm, các chúa Nguyễn đều coi trọng đạo Phật cho xây dựng nhiều chùa chiền, đúc nhiều chuông, nhiều tượng Phật.

Bấy giờ có Tế Viên Hòa thượng, Giác Phong lão tổ đều là người Trung Hoa tham gia truyền bá đạo Phật ở Việt Nam. Năm ất Tî (1665) đời chúa Nguyễn Phước Tần, có vị thiền sư người Trung Hoa đến Việt Nam, ở lại đất Quy Ninh (Bình Định ngày nay) để tìm đất cất chùa. Ông cho phá hủy mười ngôi tháp Chàm đã bị sụp đổ để lấy gạch xây dựng chùa thờ Phật gọi là chùa Thập Tháp.

Chùa được xây dựng vào năm Quý Hợi (1683) niên hiệu Chánh Hòa nhà Lê và vị thiền sư có công xây dựng chùa chính là hòa thượng họ Tạ, húy là Nguyên Thiều, quê quán ở Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ông tu về Thiền Tông thuộc phái Lâm Tế. Năm Tân Mùi (1691) nhà Lê, chùa được vua Lê Hiển Tông ban cho biển ngạch đề "Thập Tháp Di Đà tự". Sau khi xây dựng chùa Thập Tháp Di Đà, hòa thượng Nguyên Thiều mở trường truyền đạo. Được ít lâu, ông giao cho đệ tử trông coi rồi ra Thuận Hóa lập chùa Phổ Thành ở Hà Trung, vào Gia Định lập chùa Giác Duyên, sau đó trở ra Thuận Hóa lập thêm chùa Quốc Ân.

Dưới đời chúa Nguyễn Phước Trăn (1687-1691) ngài phụng mệnh nhà chúa trở về Trung Hoa tìm mời thêm các danh tăng và cung thỉnh pháp tượng, pháp khí đem về miền trung Việt Nam. 

Chùa Thập Tháp Di Đà xây bằng gạch Chàm, lợp ngói âm dương, bốn vày, ba gian, hai chái, kiến trúc theo hình chữ khẩu, có hai lớp tường bao bọc chung quanh. Những khu vực chính của chùa gồm có khu chính điện, khu phương trượng, khu tây đường và đông đường, có dãy hành lang rộng lớn nối liền, bao bọc một sân rộng, có lát gạch vuông, bày đủ các thứ cây cảnh. ở khu chính diện, kết cấu chủ yếu là gỗ quý được chạm trổ rất tinh xảo, công phu với những họa tiết hoa cuộn, hoa sen, rồng, phượng cách điệu. Đầu tám hàng trụ cột và đầu kèo được chạm, trang trí cổ tự. Ngoài những công trình chính, bên cạnh chùa còn có 24 bảo tháp lớn nhỏ mang hình thái kiến trúc nhiều thời khác nhau. Trước chùa còn có ao sen rộng, xây bằng đá ong xưa. 

Trong chùa có ba tạng kinh, giấy khổ rộng, chữ to bằng ngón tay út. Bộ kinh hết sức cổ, có lẽ do sư tổ Nguyên Thiều đã thỉnh từ Trung Hoa sang vào lúc phụng mệnh chúa Nguyễn về nước vào cuối thế kỷ 17. Ngoài ra, chùa còn có hai tượng Hộ Pháp và 36 tượng La Hán bằng gỗ chạm khắc tinh vi. 36 tượng La Hán, mỗi vị cao nửa mét, thờ hai bên án cạnh bàn thờ Phật, mỗi bên 18 vị, mỗi vị có khuôn mặt và dáng điệu khác nhau. Còn hai tượng Hộ Pháp đặt ở hai bên cửa bước vào cao đến hai mét. Tại chùa còn có quả chuông đường kính 70cm, nặng 500kg, đúc từ năm 1893.

Trong tất cả chùa chiền ở miền trung được xây cất từ thời các chúa Nguyễn, thì chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định là chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế và được xem nhễ là chùa tổ.

Nhưng về sau, ngài Nguyên Thiều ra trụ trì ở Thuận Hóa và tịch ở đó cho nên đệ tử mới lấy chùa Quốc Ân làm chùa tổ thay cho chùa Thập Tháp Di Đà. Còn ngài Nguyên Thiều sau khi tịch (1729) được chúa Nguyễn Phước Chu ban thụy hiệu là "Hạnh Đoan Thiền Sư" và có bài minh khắc vào bia đá ca ngợi đạo đức của hòa thượng. 

Qua nhiều lần trùng tu, tái tạo, cái cũ và cái mới đan xen, nhưng chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, tôn nghiêm cổ kính. Chùa được trùng tu cả thảy bốn lần. Lần trùng tu đầu tiên vào năm Minh Mạng thứ nhất (1820), lần thứ hai vào năm Kỷ Tî (1849) dưới thời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, lần thứ ba vào năm Bính Tuất (1877) dưới thời vua Tự Đức và lần thứ tư vào năm Giáp Tý (1924) dưới triều vua Khải Định.

Năm 1924, hòa thượng Phước Huệ là tổ thứ 40 phái Lâm Tế và là tổ thứ 13 của phái Nguyên Thiều đứng ra xây dựng, mở rộng chùa và dựng thêm cổng Tam quan như ngày nay.


CHÙA MINH TỊNH



Nguyên năm Giáp Thìn (1902), Đại lão Hòa thượng Chơn Phước, tự Đạo Thông, hiệu Huệ Pháp, đời thứ 40 thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh (Tổ Minh Hải), từ Quảng Ngãi vào Bình Định để cùng cộng tác với Quốc sư Phước Huệ và Pháp sư Phổ Huệ mở dạy các khóa Kinh, Luật, Luận cho chư Tăng ở nhiều tỉnh về học.

Khi đến Quy Nhơn thì duyên lành Ngài gặp hai Phật tử: Trừng Quế và Trừng Quy cúng cho Ngài một thảo am tại đồi cát thuộc khu 3 (lúc bấy giờ), từ đó Ngài xây dựng thành ngôi Tam Bảo Minh Tịnh trang nghiêm.

Nơi đây không những dành cho tín đồ Phật tử đến lễ bái mà còn là nơi tiếp tăng độ chúng, đào tạo không ít học Tăng nổi danh, cụ thể như Hòa thượng Thích Khánh Anh được Hòa thượng Chơn Phước giáo dưỡng và đưa vào Nam phụ trách khóa học tại Phật học đường Lưỡng Xuyên năm 1927 và nhiều khóa Phật học khác; Hòa thượng Khánh Anh đã nổi danh là Pháp sư uyên thâm và được Phật giáo miền Nam suy tôn là vị Pháp chủ.

Cùng những khóa học do Hòa thượng Chơn Phước trực tiếp dạy như Hòa thượng Bình Chánh trú trì Tổ đình Sơn Long - Quy nhơn, Hòa thượng Huyền Quang, Hòa thượng Huyền Ấn, Hòa thượng Thiện Hòa, Hòa thượng Thiện Hoa và nhiều lớp đệ tử xuất gia có trình độ học Phật khả dĩ đã đóng góp cho sự phát triển của Phật giáo nước nhà nói chung và Phật giáo tỉnh Bình Định nói riêng.

Đến năm Bảo Đại thứ 19 (1944) được triều đình Huế Sắc tứ biển ngạch chùa Minh Tịnh và Sắc chỉ khâm ban Đao điệp tăng cang cho Đại lão Hòa thượng Chơn Phước (Ngài là vị Tổ khai sơn chùa Minh Tịnh).

Qua 2 câu đối sau đây do Hòa thượng Chơn Phước trước tác, hiện treo tại nhà Tổ của chùa Minh Tịnh.

Câu 1 :           
a)- Minh tư đạo, giác tư dân, trực chỉ vân phi thiên nguyệt lãng
b)- Tịnh bổn tâm, chương bổn Phật, viên âm lôi hưởng hải phong triều.

Xin tạm dịch :
a)- Hiểu đạo và làm được đạo, ấy là ánh sáng trăng, sao đêm rằm.
b)- Tâm ta vượt khỏi mê lầm, rõ bày tâm Phật viên âm khắp truyền.

Câu 2 :
a)- Minh cảnh tuyệt thân, sơ khứ giả bất lưu, lai bất cự.
b)- Tịnh tâm vong ký, ức lâm hề phi tịch, thị phi huyên.

Tạm dịch :
a)- Tâm ta sáng tỏ như gương, người qua, kẻ lại khỏi vương vấn lòng.
b)- Chơn như hai chữ đã thông, dù rằng núi vắng, chợ đông không phiền.

Với ý nghĩa của hai câu đối trên, đủ để cho những người tin đạo suy nghĩ và nhận định về tinh thần tu học và hành đạo của những bậc thầy Tổ.

Đến năm 1962 vì chiến tranh bùng nổ, phi trường Quy Nhơn được thiết lập quy mô hơn, nên ngôi chùa Minh Tịnh bị thiên di đến vị trí mới thuộc khu 6 (lúc bấy giờ), hiện nay là đường Hàm Nghi, phường Ngô Mây, TP Quy Nhơn.

Từ năm 1963 đến nay (2005) Thượng tọa Thích Trí Giác là đệ tử thừa kế trú trì chùa Minh Tịnh đã lần lượt trùng tu như: Cổng tam quan, nhà Tổ, Trai đường, Đông đường và đang tiến hành trùng tu ngôi Chánh điện một cách quy mô hơn và sẽ tiếp tục xây cất Tây đường và nhiều công trình khác của chùa còn lại.

Những sinh hoạt của chùa :

 Đầu năm 1961 mở Đại giới đàn truyền giới cho hàng xuất gia và tại gia; Giới tử được thọ giới trên hàng ngàn vị.

 - Năm 1965 đến 1974 mở trường dạy văn hóa phổ thông cho các lớp từ tiểu học đến trung học đã giúp cho tăng chúng và con em đồng bào khó khổ được theo học nơi đây, phần nhiều là được miễn phí.

- Năm 1974 đến nay (2005) có chữa trị bệnh về thuốc Đông y nhất là chuyên về khoa “Trật đả” nghĩa là trật gãy xương và nội thương vì đánh, té, ngã v.v... đã giúp cứu chữa cho đồng bào ở gần xa nhiều ca bệnh đáng kể được bình phục.

 - Hằng năm vào những ngày lễ lớn chư Tăng và Phật tử đi thăm viếng ủy lạo tại các bệnh viện như : Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Phong Quy Hòa, Bệnh viện Tâm thần, nơi con em khuyết tật chất độc màu da cam, bệnh AIDS ...

- Tổ chức các khóa tu Bát quan trai cho hàng Phật tử tại gia.

CHÙA NHẠN SƠN QUÁCH TẤN

Chùa Nhạn Sơn thờ Phật, ở phía bắc thành Bình Định, cách chừng bốn năm cây số. Từ Bình Định đi xe lửa đến ga Vân Sơn, trông về hướng tây thì thấy một hòn núi đất sỏi, ba ngọn tròn trịa, màu gạch chín, dưới chân một đám xoài xanh rậm làm nổi bật sắc sỏi đỏ và màu đất xám ở chung quanh. Đó là núi Long Cốt, trước kia làm tiền án cho thành Đồ Bàn, hiện nay làm bức bình phong yểm hộ chùa Nhạn Sơn nép mình dưới bóng xoài sum mát. Núi nằm trong thôn Nhạn Tháp, nên cũng thường gọi là núi Nhạn Tháp, và chùa nằm dưới chân núi nên mang tên là chùa Nhạn Sơn.

Kiến trúc của chùa không có chi lạ, và tên Nhạn Sơn mới đặt sau này. Trước kia gọi là Thạch Công Tự, tục gọi là chùa ông Đá, vì trong chùa có hai tượng đá rất to lớn. Hai tượng này đứng đối diện nhau. Mỗi tượng cao đến ba thước tây và lớn có đến hai ôm người lớn. Mình khoác áo đại bào, đầu đội mũ vũ đằng, tay cầm vũ khí (một tượng cầm giản, một tượng cầm kiếm), mặt mày dữ tợn, người yếu bóng vía không dám đứng cận kề. Người ta bảo đó là tượng của hai ông Huỳnh Tấn Công và Lý Xuân Điền đời nhà Trần.

Truyền rằng: Huỳnh Tấn Công người quê Hóa Châu, tài gồm văn võ, ra Thăng Long tìm bác làm quan lớn tại triều. Dọc đường bị nạn, nhờ Lý Xuân Điền ở Ninh Bình cứu trợ, nên hai người kết làm bạn thân. Lý Xuân Điền cũng là một bậc anh tuấn, văn thông võ luyện. Sau khi Huỳnh Tấn Công tìm gặp được bác rồi, thì Lý Xuân Điền được người bác của Huỳnh tiến cử lên nhà vua. Lúc bấy giờ ở biên thùy thường bị người Trung Hoa quấy nhiễu, nhà vua sai Lý Xuân Điền cầm binh đi đánh dẹp.

Ở nhà Huỳnh Tấn Công thi đậu trạng nguyên cả văn lẫn võ. Gặp lúc Chiêm Thành kéo quân sang đánh Hóa Châu, vua sai Huỳnh Tấn Công đem đại binh đi chinh phạt. Quân nhà Trần đuổi quân Chiêm Thành ra khỏi nước và thừa kế đánh thẳng vào kinh thành địch. Nhưng bị lầm quỷ kế, binh sĩ lớp bị giết, lớp bị bắt sống, Huỳnh Tấn Công cũng bị bắt làm tù binh.

Không thấy vua nhà Trần cho người đến chuộc tù binh, vua Chiêm bèn bán Huỳnh Tấn Công cho nước khác làm nô lệ. Huỳnh Công nay bị bán chỗ này, mai chỗ nọ, tấm thân chịu lắm đau thương. Sau lại lọt vào tay một vị lão thần nước Chiêm Thành, Huỳnh Tấn Công trở về lại Chiêm Thành. Về Chiêm, nhờ cứu vị lão thần khỏi bệnh dịch tả, Huỳnh Tấn Công được trọng đãi, không còn phải làm những công việc nhọc nhằn.

Trong khi Huỳnh Tấn Công ở Chiêm Thành thì Lý Xuân Điền dẹp giặc xong trở về xin trí sỹ. Nghe tin bạn mắc nạn, họ Lý thu góp tiền của, tìm đường sang Chiêm Thành. Trải bao nhiêu ngày tháng, chịu bao nhiên gian lao, Lý Xuân Điền tìm được Huỳnh Tấn Công, mừng vui thương tủi, nước mắt nghẹn lời. Rồi Lý Xuân Điền xin chuộc bạn. Vị lão thần Chiêm Thành, phần đã chịu ơn Huỳnh Tấn Công cứu khỏi bệnh, phần cảm tấm lòng vị nghĩa của Lý Xuân Điền, nên hoan hỷ để cho Huỳnh Tấn Công về quê hương mà không nhận tiền chuộc. Hai người bái biệt vị quan Chiêm.

Lý, Huỳnh ra về được ít lâu, vị quan Chiêm thương nhớ, bèn mướn thợ tạc tượng hai ông để ngày ngày thấy mặt.

Đó là sự tích hai ông đá chùa Nhạn Sơn. Do sự tích ấy mà nhiều người gọi chùa là Song Nghĩa tự.

Chuyện họ Huỳnh, Lý lưu truyền đã từ lâu. Có người đã viết thành tiểu thuyết (xuất bản vào khoảng 1920-1925) và cụ Bùi Văn Lang, giáo sư ở Bình Định đã đem sự tích vào sách Địa Dư Mông Học tỉnh Bình Định (xuất bản năm 1933 và tái bản năm 1935). Nhờ vậy mà chuyện họ Lý họ Huỳnh được phổ biến rộng rãi và hai ông đá trở thành "người có gốc rễ hẳn hoi". Những người nghe, phần nhiều đều tin là sự thật. Và người ở trong chùa cũng dùng sự tích họ Lý họ Huỳnh để cắt nghĩa sự hiện diện của hai ông đá. Nhưng sự thật thì sao?

Trước hết thử mở pho Việt Sử xem kỹ lại. Các tướng đem quân đi đánh giặc Tàu, giặc Chiêm đều có ghi rõ danh tánh. Không có tướng nào mang tên Lý Xuân Điền và Huỳnh Tấn Công. Mà chẳng cần phải lật sử cho tốn công. Chúng ta lật thử tấm áo bào của hai ông đá lên thì biết rõ: Không phải hình tượng người Việt Nam vì từ xưa đến nay, trừ hai cha con Chử Đồng Tử và anh Trần Minh, không có ai chịu mặc vỏn vẹn có chiếc "khậu tối cổ" là chiếc khố rằn ri. Mà hai tượng đá chùa Nhạn Sơn lại đóng khố. Đóng chiếc khố nhiều màu, đẹp đẽ mà những đồng bào thiểu số giàu có của chúng ta thường mặc. Chắc có bạn sẽ bảo:

-    Bởi Huỳnh Tấn Công ở Chiêm Thành lâu ngày, nên theo phong tục người Chiêm?

Xin cãi:

-    Cũng có lý, song Lý Xuân Điền ở Việt Nam mới qua, sao lại "Chiêm Thành hóa" ông ấy vội quá thế. Huống nữa người đời Trần, trừ đám vũ công vũ nữ, không mấy ai học múa, nhất là các quan lớn thay mặt vua chăn dân, hay vâng mệnh vua đi đánh giặc. Mà hai tượng ông đá chùa Nhạn Sơn lại thể hiện dáng điệu hai người đối nhau mà múa: chân sụn, thân uốn, tay dương… Rõ ràng đây là hai tượng người Chiêm đương biểu diễn một vũ khúc.

rước đây gần bốn mươi năm, đi học về, ghé xem lại ông đá, một vị phụ lão ở trong thôn cho biết rằng: "Hai pho tượng ở dưới đất trồi lên đã có trên hai trăm năm. Ban đầu chỉ ló chỏm mũ, rồi ló đầu cổ, lần đến cả châu thân. Khi lên khỏi mặt đất thì đứng yên. Người trong thôn rất lấy làm quái gở. Có kẻ tọc mạch đến rờ rẫm quấy quá thì liền bị nhức đầu nóng lạnh. Van vái lại khỏi. Nhân dân địa phương sợ bèn lập đền thờ, ban đầu lợp tranh, sau mới sửa lại ngói gạch". 

Nói rằng "hai pho tượng ở dưới đất trồi lên" là gián tiếp bảo rằng không biết ai tạc ra và tạc từ đời nào. Chớ theo những người đã có công khảo cứu thì: "Xưa kia trên hòn Long Cốt có ba ngọn tháp Chàm cao lớn xây trên ba đỉnh núi (bởi vậy núi có tên nữa là Tam Tháp Sơn) và chung quanh tháp có nhiều tượng bằng đá xanh, lớn có, nhỏ có. Vì Long Cốt là nơi hiểm yếu đối với thành Đồ Bàn, cho nên giặc đến đánh thành thì chiếm cứ Long Cốt trước. Mà thành Đồ Bàn bị biết bao nhiêu lần công phá, núi Long Cốt đã biết bao nhiêu lần bị họa lây, nên những kiến trúc trên núi đều bị sụp đổ hết. Những tượng đá lớp thì bể nát, lớp thì bị vùi lấp. Hai tượng đá chùa Nhạn Sơn hoặc là hai tượng đá ở trên núi lăn xuống, hoặc là ở nơi chân núi bị vùi lấp, người địa phương cày cuốc chạm phải mới đào lên.

 Xem cho kỹ thì hai pho tượng đều bị gãy mất hai bàn tay và hai bàn tay hiện hữu là hai bàn tay bằng gỗ tháp vào. Hai bàn tay đá nhất định là hai bàn tay xòe, vì tượng đương múa. Nhưng người Việt Nam, hoặc không thông thạo điệu múa của người Chàm, hoặc muốn cho pho tượng thêm phần oai nghi, mới tiện tay cầm vũ khí. Cây kiếm và cây giản của hai tượng cầm cũng bằng gỗ. Chắp tay xong lại còn lấy sơn, sơn một tượng đen, một tượng đỏ với chiếc khố màu sặc sỡ.

Khi chùa mới lập, thì hai tượng đá chỉ mang một nước sơn mà thôi. Sau này người ta mới bày kết thêm râu đội thêm mũ và mặc thêm áo, trông có phần Việt Nam. Và chùa lập ra, lúc ban đầu chỉ để thờ "hai ông đá". Không ai biết là hai ông gì, nên chùa mới lấy tên là Thạch Công tự, nhưng gọi là ông đá nghe không "oai" nên nhiều người gọi ông Đen là ông Ác, ông Đỏ là ông Thiện. Chùa mới sửa sang lại để thờ Phật chừng bốn lăm năm chục năm nay. Khi ấy chùa mới đổi tên là Nhạn Sơn, và hai ông đá vẫn đứng ở chỗ cũ: giữa chùa, trước bàn phật, như hai ông hộ pháp. Trong chùa Nhạn Sơn, ngoài hai ông đá ra, không có gì lạ và người ta đến chùa vì hai ông đá hơn là vì Phật vì Tăng (ý nói người đến chùa để tham quan là chủ yếu). 

Trước khi, chùa được nhiều du khách đến viếng, chẳng những vì hai ông đá mà thôi, mà còn vì phong cảnh ở quanh chùa. Chùa ẩn hiện dưới bóng xoài xanh, dựa lưng vào núi Long Cốt, trông như một bình hoa để trước một bức Tam Sơn màu đỏ gạch. Trước mặt chùa lại có một ao sen rộng hơn 50 mẫu, hình trăng lưỡi liềm, tên là Tân Nguyệt Trì. Mùa xuân, mùa hạ thì trước chùa hiện một vành trăng non, sắc hồng thay sắc vàng, hương sen thay thế hương quế. Mùa thu mùa đông thì trăng non láng lai sắc bạc, khi thì óng ánh dưới bóng trời xanh, khi thì lờ mờ trong màn mưa xám. Dưới vòm trời xanh, nắng vàng rực rỡ, hay sương lam lờ mờ, ba ngọn tháp màu đà non chung quanh có người đá, voi đá, nghê đá… sắc xám, đứng sừng sững trên dãy núi ba ngọn, nửa trên màu gạch chín, nửa dưới màu xoài xanh… Dưới chân núi, mặt tây mặt nam, đồng xanh trải lụa gợn sóng… Trước mặt hồ Tân Nguyệt khi thì hồng, khi thì bạc… nằm cong cong như chiếc nỏ mà núi Long Cốt là lảy thần… Ở phía bắc, thành Đồ Bàn nguy nga và lộng lẫy như người Chiêm nữ mới điểm trang mà Long Cốt là vầng trán khảm ba hạt kim cương tháp… Quang cảnh vô cùng ngoạn mục.

Tháp nay không còn nữa, thành Đồ Bàn xưa không còn nữa, hồ Tân Nguyệt không còn nữa. Tháp bị phá, thành bị phá, hồ bị lấp thành đồng ruộng. Đồng lại bị đường xe lửa cắt đôi, cho nên ngày thường đi ngang qua chùa không còn thấy nữa. Nhưng đến mùa lụt, nước bạc khỏa bờ, lên đứng trên núi Long Cốt mà trông thì vẫn còn trông phảng phất hình trăng đêm mồng năm mồng sáu.

Thời tiền chiến, Thi Nại Thị đến viếng chùa có cảm tác mấy câu rằng:

Chùa xưa ẩn bóng xoài xanh,
Thờ hai tượng đá Chiêm Thành bấy nay.
Tượng nơi đây đêm ngày hương khói,
Giống Chiêm Thành mòn mỏi gió sương.
Rồng thiêng riêng gởi nắm xương,
Trăng non soi dấu tang thương, não nùng!
Cuộc thành bại xoay vòng sớm tối,
Thành Đồ Bàn mở lối đi chung,
Cõi trần không – sắc, sắc – không,
Hồi chuông triêu mộ gọi lòng từ bi. 

TỔ  ĐÌNH QUANG  HOA

Tổ đình Quang Hoa nguyên toạ lạc ấp Luật Bình, thôn Hoàng Oanh đông, thuộc Thời tú, huyện Tuy Viễn, phủ Qui Ninh, trấn Bình Định, trạm Bình Điền (nay là thôn Luật Bình, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định). Cách thành Đồ Bàn khoảng 8 dặm về hướng Đông Nam, đối diện núi Tình Giang độc lập. Chùa xưa nay vẫn toạ tý, ngọ hướng, Bình nhâm phân kim, kiến trúc kiểu Á đông.

Chùa Quang Hoa nói theo Ngự-Tử Kim-Phê thì phải là “Quang Hoa Hộ Quốc Trường An Quan Tự”. Chùa Quang Hoa là hậu thân của Hoa Phong Quang Tự. Hoa Phong Quang Tự lại là hậu thân của Quang Minh Thiền Tự. Quang Minh Thiền Tự do Đức Tổ Nguyệt Ân Thiền Sư, huý Minh Lượng (người Phúc Kiến), thế hệ thứ 36 sáng lập. Ngài thuộc dòng phái Lâm Tế Nghĩa Huyền, chi phái ngài Tuyết Phong Tổ Định Thiền Sư. Ngài Nguyệt Ân sang Việt Nam và sáng lập chùa Quang Minh vào năm nào, thời đại nào, không còn tự tích để tra cứu (?). Tuy nhiên, năm Bính Tý (1696) niên hiệu Chánh Hoà thứ 17, ngài Giám Huyền Thiền Sư – đời thứ 36, chi phái Tổ  Minh Hoằng, huý Như Diệu là vị tổ thứ 3 của chùa Quang Minh nhằm vào thời chúa Nguyễn Phúc Chu – miếu hiệu Đức Minh vương, ngự đề một câu đối hiện thờ tại chùa rằng: Quang Minh Tự là một ngôi “danh lam cổ tích”. Căn cứ  theo Kim Phê thì phải trên dưới vài trăm năm người xưa mới gọi “danh lam cổ tích” ! Theo các nhà phân tích thì Chùa Quang Minh có niên đại khai sơn trước chùa Thiên Mụ – Huế khá xa, hay ít ra cũng khoảng 20 năm.

Theo các tài liệu còn lại trong chùa: Khoảng đầu thế kỷ 17, ngài Giám Huyền khai sơn chùa Dũng Tuyền núi Phương Phi - Phù Cát, nay là chùa Linh Phong - Phù Cát. Năm Quí sửu (1733), ngài Bích Phong, huý Từ Giác trụ trì có một Phật tử là Phó Đề Lãnh Tạo Thành Hầu, phát tâm cúng dường toàn bộ ngân khoản để tái thiết tự viện. Ngày 27 tháng 9, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 5 được Ngự Tứ Kim Phê cải hiệu là “Quang Hoa Hộ Quốc Trường An Quan Tự” cho đến ngày nay, hiện ta gọi tắc là chùa Quang Hoa. Từ năm 1800 đến 1880, thời kỳ Gia Long phục quốc, chùa cực thịnh, nhất là về điền địa. Đương thời chùa có hơn 200 mẫu ruộng, vườn chùa rộng 15390 mét vuông, chùa được miễn thu thuế ruộng và không sai 30 Tăng chúng. Đó là thời kỳ cực thịnh, vàng son nhất của chùa Quang Hoa. Sau thời kỳ Gia Long đến nay, vì nhiều lý do khách quan lẫn chủ quan, chùa ngày một dần đi đến chỗ suy vi. Hiện vườn chùa chỉ còn 757 mét vuông và ruộng đất chỉ còn 540 mét vuông.

Đức Tổ Nguyệt Ân Thiền Sư sáng lập chùa Quang Hoa xong, sau đó ngài ra Hội An, Quảng Nam - Đà Nẵng sáng lập chùa Vạn Đức, là một trong ba ngôi Tổ Đình tại Hội An ngày nay.

Trải qua 11 đời kế thừa truyền đăng Tổ ấn, các lần trùng tu Tổ Đình Quang Hoa gần nhất được chư Tôn Đức tỉnh nhà và phật tử trong vùng ghi lại như sau:

- Ngài Viên Nghĩa huý Trừng Thâm, thế hệ 42 (đệ tử ngài Thanh Chánh – chùa Tịnh Lâm, Phù Cát) đã trùng tu Tổ Đình Quang Hoa tương đối khang trang trong đời trụ trì của mình. Ngài sanh năm Giáp Thìn (1844) và viên tịch ngày 19 tháng 6 năm Canh Tý (1960). Tháp Ngài hiện ở hướng Đông Nam vườn chùa.

- Đại đức Thích Bửu Thắng huý Thị Ân, thế hệ 42 (đệ tử ngài Như Quang, hiệu Tâm Dung chùa Thiên Lộc), trong đời trú trì của Đại đức chùa gặp phải nhiều trận thiên tai, toàn bộ chùa bị hư hoại và xuống cấp trầm trọng. Đứng trước những khó khăn của một vùng kinh tế nông thôn hẻo lánh, Đại Đức đành phải dùng một số ít ruộng của chùa thế chấp để có thể tái thiết lại điện Phật làm nơi kinh kệ cho đồng bào phật tử trong vùng. Đại đức viên tịch ngày 24 tháng 4 năm  Tân Tỵ (2001).

Đương kim trụ trì là Đại Đức Thích Vạn Phước – đệ tử cố Thượng toạ Thích Đồng Hạnh (Tổ đình Hưng Long) – kế thừa Phật sự (kể từ ngày 24 tháng 4 năm Quí Mùi-2003). 

Đến thăm chùa Quang Hoa, hiện tại các phòng ốc, tường rào của chùa bị hư hoại khá nặng, khả năng tài chánh cho việc trùng tu chỉ là con số “không” (0), trong khi nguồn thu nhập chính của cư dân trong vùng chỉ trông vào mảnh ruộng những lúc không bị thiên tai - mất mùa... Đứng trước những suy tàn của một ngôi cổ tự trong tỉnh nhà, đọc lại những trang sử vàng son một thời, sao khỏi chạnh lòng!!! Chúng tôi tự hỏi thầm với lòng rằng: “Bao giờ một ngôi chùa Quang Hoa khang trang được “đứng dậy từ những đổ nát, điêu tàn”, dù là chỉ trong khiêm tốn, để bà con trong vùng có thể hôm sớm được về với lời Kinh tiếng Kệ? Bao giờ tiếng chuông chùa Quang Hoa ngân nga trở lại trong sương mai đưa bà con cư dân trong vùng ra đồng bắt đầu một ngày đồng án; lại vọng ngân những cung điệu vỗ về, thức tỉnh nhân tâm những lúc chiều về?”. Dẫu biết tất cả đều vô thường, ngôi chùa cũng phải biến thiên theo những thăng trầm của vận mệnh, nhưng chúng tôi vẫn tin rằng Phật pháp mầu nhiệm, chùa Quang Hoa sẽ được phục hoạt trong một tương lai không xa, cái tên “Quang Hoa Hộ Quốc Trường An Quan Tự” không còn bị chìm vào quên lãng!

Mỗi một viên gạch đóng góp của phật tử mười phương vô cùng ý nghĩa vào những lúc như thế này!   

TỔ ÐÌNH SƠN LONG



Lưng tựa núi Trường Úc, mặt hướng về dãy Trường Sơn, Tổ Ðình Sơn Long từ bao đời nay tồn tại oai nghiêm, cổ kính như một chứng nhân lịch sử phát triển Phật giáo Bình Ðịnh. Chùa Hang – tên dân gian thường gọi Tổ Ðình Sơn Long – gắn liền với những huyền tích trong câu chuyện của người dân vùng Nam Bình Ðịnh, là nơi các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu về những di vật văn hóa.
Nối liền thành phố Qui Nhơn và huyện Tuy Phước là cụm núi Trường Úc đồ sộ – một địa danh gắn liền với phong trào khởi nghĩa Tây Sơn lịch sử: Tây bắc Trường Úc, ngày nay vào các dịp Tết Nguyên đán vẫn tồn tại lễ hội “chợ Gò” như một nét sinh hoạt để nhớ về nơi quân đội Tây Sơn trú đóng thưở nào. Phía nam chân núi Trường Úc, Tổ Ðình Sơn Long tọa lạc tại phương Nhơn Bình, thành phố Qui Nhơn với bề dày lịch sử, phong cảnh trầm mặc, cổ kính đã trở thành một di tích văn hóa Phật giáo.

Tổ Ðình Sơn Long nguyên là Giang Long Thiền Thất, do Thiền sư  Thiệt Ðăng hiệu Bửu Quang – đệ tử Toå sư Minh Hải (Tổ đình Chúc Thánh- Hội An) – sáng lập vào những năm thuộc niên hiệu Chánh Hòa đời Hậu Lê (1680 – 1690), nằm trên sườn núi Trường Úc, bấy giờ là thôn Thuận Nghi, huyện Tuy Viễn, phủ Qui Ninh, trấn Bình Ðịnh. Sau khi thành lập, Trường Úc cùng với đầm Thị Nại và thủ phủ Qui Nhơn trở thành chiến địa cho các cuộc giao tranh thời Trịnh – Nguyễn – Tây Sơn; Giang Long Thiền Thất nhiều lần bị tàn phá. Ðến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 5 (1744), được sự đồng ý của bổn sư là Tổ Toàn Ý (Tổ Ðình Phồ Bảo, Phước Thuận, Tuy Phước), ngài Hoằng Nghĩa (1701 – 1804) chuyển Giang Long Thiền Thất xuống chân núi, tái thiết trong địa thế “Long chầu Hổ phục” và cải hiệu thành Sơn Long Tự  đến ngày nay.

Hơn 300 năm lịch sử với bao biến cố của thời cuộc, Tổ Ðình Sơn Long từng là nơi dừng chân để tổ chức, bố trí trận đánh vào thành Qui Nhơn của anh em nhà Tây Sơn buổi đầu khởi nghĩa; nơi Võ Trứ – lãnh tụ cuộc khởi nghĩa ‘Tăng đạo, sơn dân” thời kháng Pháp – tạm dừng chân trên đường từ Chùa Linh Phong – Phù Cát vào Bình Phú – Phú Yên mưu đồ nghiệp lớn cho dân tộc; nơi này cũng được chọn làm điểm trao đổi tù bình chieán tranh Pháp – Việt (1954).v.v.

Trải qua 10 đời kế thừa trụ đời kế thừa trụ trì, Tổ Ðình Sơn Long lần lược đổi thay từ mô hình kiến trúc chữ “Môn” (   門  ) sang lối kiến trúc “tiền đường hậu tẩm, đông tây đối diện” (thời ngài Ấn Hải); và năm 1958, Hoà thượng Thích Bình Chánh tu chỉnh lại theo lối kiến trúc kiên cố Tây AÂu, nhưng vẫn giữ được những đường nét cổ kính.

Ðến Tổ Ðình Sơn Long du khách không chỉ mục kích chiêm ngưỡng nơi lưu dấu của các bậc Cao Tăng – Tổ Ðức một thời, không chỉ tham quan cảnh trí thanh tao thoát tục; Sơn Long Tự còn là điểm dừng chân của “tao nhân mặc khách”, các nhà khảo cứu quan tâm. Tổ Ðình Sơn Long hiện còn “trụ đá biết nói của Phật giáo Bình Ðịnh”. Trụ đá cao 2.40m, phía trên chạm khắc tượng đức Phật tọa thiền, sau lưng là “thất xà” (Mãng xà vương 7 đầu Muchalinda). Trải qua bao năm tháng những đường nét xưa không còn nguyên vẹn. Ðại Ðức Thích Ðồng Ðức – trụ trì Tổ Ðình Sơn Long – cho biết: “Theo kết quả phân tích, xác định ban đầu của các nhà nghiên cứu trụ đá này có niên đại từ thế kỷ VIII. Ðiều này là dấu hiệu đáng mừng, chứng minh Phật giáo du nhập vào đất Chiêm Thành từ rất sớm. Hiện nay, các giáo sư, các nhà khoa học còn đang kiểm chứng để đưa ra câu trả lời chính xác”.

Khẳng định ví trí của Tổ Ðình Sơn Long, Hòa thượng Thích Bảo An – Trưởng môn phái Lâm Tế Chúc Thánh tại Bình Ðịnh – nói: “Với bề dày lịch sử có được, Tổ Ðình Sơn Long xứng đáng được chọn làm “Tổ Ðường” của môn phái Chúc Thánh tại Bình Ðịnh, làm nơi quy ngưỡng cho Tăng Ni, Phật tử tỉnh nhà. Sơn Long không những là thắng tích của Phaät giáo Bình Ðịnh, mà còn là chứng nhân của bao cuộc thăng giáng, hưng phế của lịch sử dân tộc, đáng được sử sách ghi nhận lưu truyền mai sau ”.
CHÙA AN LẠC



Nằm ở làng Lại An, xã Hàm Thắng, huyện Hàm Thuận Bắc, so với các ngôi chùa khác ở Bình Thuận, chùa An Lạc được xem là một trong số những ngôi chùa cổ còn giữ nguyên kiến trúc nghệ thuật ban đầu khởi dựng và xin giới thiệu đôi nét về lịch sử hình thành và giá trị kiến trúc nghệ thuật của ngôi chùa cổ tiêu biểu này. 

Ngược dòng lịch sử hơn 300 năm về trước, vào thế kỷ XVIII trở đi một bộ phận cư dân các tỉnh Bắc Trung bộ và Trung Trung bộ lần lượt di cư về phương Nam khai khẩn đất đai, an cư lập nghiệp và trong đó có Bình Thuận chúng ta. Nhóm tụ cư ban đầu được hình thành trên cơ sở dòng tộc, họ hàng đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau để tạo lập cuộc sống mới, chẳng bao lâu những vùng đất hoang vu đã trở thành đồng ruộng, xóm ấp và làng Lại An đã hình thành trong bối cảnh ấy.Khi cuộc sống ổn định, để tưởng nhớ đến những người đầu tiên có công khai phá đất đai, tạo dựng xóm làng, các làng đều lập đình, chùa để thờ. 

Theo gia phả một số tộc họ để lại, hai họ có công khai phá, tạo lập làng Lại An là Tiền - Trần và Hậu – Võ Lịch sử hình thành, phát triển của Phật giáo Bình Thuận cũng như nguồn gốc ra đời của các ngôi chùa luôn gắn với quá trình di dân của bộ phận cư dân từ Bắc Trung bộ và Trung Trung bộ vào Nam khai khẩn đất đai tạo lập cuộc sống mới. Trong lớp cư dân di cư đó, ngoài những người ra đi tìm cuộc sống mới, bên cạnh đó còn có không ít nhà sư người Việt, người Hoa và đông đảo tín đồ Phật giáo. Tại Bình Thuận nhiều ngôi chùa ra đời trong hoàn cảnh này như: chùa Phật Quang (chùa Cát), chùa Liên Trì (chùa Tre) ở Phan Thiết; chùa Cổ Thạch (chùa Hang) ở Tuy Phong; chùa Linh Sơn Trường Thọ (chùa Núi) ở Hàm Thuận Nam… và chùa An Lạc cũng ra đời vào thời gian này.Như đã nêu trên, theo đoàn di dân Phật giáo đã xuất hiện ở làng Lại An khá sớm và theo tục truyền vào năm 1778 đã xây xong chùa An Lạc. 

Chùa được đặt tên là An Lạc, với ước mong nơi đây sẽ là nơi con cháu đời đời an cư lạc nghiệp. Tuy nhiên, qua các nguồn tư liệu Hán Nôm còn lưu giữ tại chùa và một số nguồn tư liệu lịch sử thì xưa kia Đại sư Huệ Đức – Định Thiền từ Điện Bàn, Quảng Nam du hóa vào Bình Thuận, đến làng Lại An thấy cảnh trí yên lành, thanh tịnh, đất đai trù phú nên dừng chân du hóa để làm nơi tu niệm. Đại sư có pháp danh Như Hải, tự Định Thiền, tục danh là Lê Thành, sinh năm Đinh Dậu (1836), viên tịch năm Giáp Dần (1904). Đại sư là bậc chân tu nghiêm trì giới hạnh và được dân làng rất cảm mến.Pháp giới, đạo đức của Đại sư được Án sát sứ Phạm Kiêm Bố chánh sứ tỉnh Bình Thuận miêu tả: “Nơi chùa Phật An Lạc ở xã Lại An, phủ hạt Hàm Thuận có vị sư tên Lê Thành, hiệu Huệ Đức, tuổi cao phát nguyện quy y từ nhỏ, làm thông kinh kệ, giữ vẹn pháp giới, chứng quả đạo tràng lại siêu phàm thoát tục…”.

Theo nguồn tư liệu lưu giữ tại chùa, năm Thành Thái thứ 11 (1899) xây chính điện có cổ lầu lợp ngói âm dương, tường xây vôi gạch rất nguy nga đồ sộ. Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900) mới hoàn thành và tổ chức lễ khánh thành rất trọng thể. Hiện nay tại chính điện chùa An Lạc còn lưu giữ thanh xà cò khắc dòng chữ Hán có nội dung: Long Phi Thành Thái thập nhất niên tuế thứ kỷ hợi thu nhất nguyệt thập nhất nhật bổn thôn đồng cấu tạo linh tự nhất tòa. Tạm dịch: Bổn thôn xây dựng một tòa chùa linh vào ngày 11 tháng 7 năm Thành Thái thứ 11 (1899).Chùa An Lạc trải qua hơn 100 năm tồn tại đã gắn chặt với đời sống văn hóa tinh thần, tín ngưỡng tôn giáo của tín đồ phật tử địa phương qua nhiều thế hệ. Những năm chống Pháp, thực hiện lệnh “Tiêu thổ kháng chiến” nên đã có rất nhiều đình, chùa ở khu vực Hàm Thắng, Phú Long bị tháo dỡ. Nhưng chùa An Lạc vẫn còn tồn tại. Xét về mặt nào đó thì đây là một sự may mắn, nếu không chúng ta lại mất một di tích kiến trúc nghệ thuật có nhiều giá trị tiêu biểu.

Quần thể kiến trúc nghệ thuật chùa An Lạc được bố trí theo dạng chữ khẩu, bao gồm chính điện ở phía trước, nhà thờ tổ ở phía sau, nhà đông – tây lang nằm ở hai bên và chính giữa là khoảng sân trống. Trong kết cấu kiến trúc chùa An Lạc, ông cha ta ngày trước sử dụng đồng thời hai dạng kiến trúc dân gian tiêu biểu bấy giờ là tứ trụ và 8 cột chính ở trung tâm và các cột phụ ở xung quanh để lắp ghép, nối ráp với nhau tạo nên không gian hài hòa, phù hợp với chức năng, tín ngưỡng thờ phụng của di tích. Gỗ là vật liệu chính yếu trong kết cấu kiến trúc, với chức năng liên kết chịu lực. Tất cả các bộ phận, chi tiết gỗ đều được chế tác từ các loại gỗ quý ở địa phương, được tạo dáng, trau chuốt và chạm trổ công phu, tinh tế qua bàn tay tài hoa, khéo léo của nghệ nhân xưa. Bên cạnh đó, các họa tiết trang trí trên nóc mái, các hình tượng đắp nổi trên vách cổ lầu; trên các vì kèo, trính cho đến cách bài trí thờ phụng bên trong đều thể hiện rõ sắc thái của một công trình kiến trúc tôn giáo ở thế kỷ XIX.

Ngoài những nét độc đáo trong kiến trúc nghệ thuật, chùa An Lạc còn bảo lưu một số di vật cổ mang tính nghệ thuật và giá trị lịch sử cao. Đáng kể nhất là những di sản Hán Nôm có nhiều giá trị văn hóa – lịch sử và văn học dân gian gắn liền với quá trình di dân, hình thành làng xã của cha ông làng Lại An ngày trước. Nội dung ca ngợi công đức của các bậc tiền nhân dày công dựng chùa, hành đạo, hướng con người tu tâm, dưỡng tính và vươn đến chân – thiện – mỹ. Với những giá trị về lịch sử – văn hóa, và kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu đó, ngày 25/1/2006 Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận có quyết định số 266/QĐ-UBND chính thức xếp hạng chùa An Lạc là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh. Đây là niềm vinh dự, tự hào của nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc nói chung và nhân dân xã Hàm Thắng nói riêng.

CHÙA CỔ THẠCH (CHÙA HANG)

Chùa thường được gọi là chùa Hang tọa lạc ở xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, trên ngọn núi cao 64m, bên bãi biển Cà Dược. Chùa lúc đầu chỉ là một thảo am do Thiền sư Bảo Tạng khai sơn vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Ông Hồ Công Điểm đã tổ chức xây dựng ngôi chùa khang trang, đặt tên là Cổ Thạch. Sau đó, chùa lại nhập với chùa Bình Phước và được trùng tu mở rộng, chùa được trùng tu nhiều lần từ năm 1956 đến 1964. Chùa là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở miền Trung.

Cổ Thạch là một vùng núi đá rộng, gồm hàng ngàn hàng vạn tảng đá lớn nhỏ, có tảng đá còn nguyên khối to như những ngôi nhà, có tảng giống như bàn Thạch, có những tảng đá chồng lên nhau úp vào nhau như có bàn tay người sắp đặt, bố trí, có những tảng đá có hình thù kỳ lạ đầy tính cách huyền bí và chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo với nhiều hang động nguyên sinh luồn sâu vào trong núi. 

Trên là đá núi, cây rừng chen chúc nhau, dưới chân Cổ Thạch là biển trong xanh rầm rì sóng vỗ quanh năm, bãi tắm tự nhiên hình thành, cách đó không xa là bãi đá nhiều màu đã có từ hàng ngàn năm trước tạo cho Cổ Thạch đầy đủ những yếu tố sơn thủy hữu tình. 

Phong cảnh thiên nhiên yên tĩnh có nhiều hang động, cây rậm là điều kiện cho muông thú sinh sống từ bao đời , cũng là nơi phù hợp với việc lập chùa và tu hành của những thế hệ tu sĩ từ những thế kỷ trước. Việc chọn điểm, lập am, dựng chùa của các nhà sư xưa kia thật tuyệt diệu . Hàng chục công trình kiến trúc nối tiếp nhau trải rộng trên khu đồi núi đá rộng chừng 4 ha với cổng tam quan là điểm đặt chân đến đầu tiên ở Cổ Thạch Tự. Khu chính điện xen kẽ với những phiến đá dựng đứng cao vút của thiên nhiên. Tiếp đến là các nhà tổ, gác chuông, lầu trống, nhà thiền, Từ đường...cùng hàng chục hang cốc ăn sâu vào núi, cuốn hút du khách trên một hành trình không biết mệt mỏi vì những điều kỳ diệu của thiên nhiên. 

Mỗi hang động có một vị trí, chức năng riêng do những thế hệ nhà sư trước đây quy định. Hang thờ Tổ khai lập Cổ Thạch Tự là nhà sư Bảo Tạng , có tượng nhà sư và nhiều bài vị của các nhà sư khác có công lao xây dựng chùa đã viên tịch. Hang thờ Phật Chuẩn Đề là một hang động bên trong tượng Phật có 8 tay và nhiều tượng cổ. Hang Tam Bảo thờ 23 pho tượng Phật cổ với nhiều kích thước và niên đại khác nhau, các hang động khác cũng được kiến tạo phù hợp với điều kiện thờ phụng. Bước vào những hang động chính trong khu vực để chiêm bái , lễ Phật để tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên, du khách có cảm giác như đang lạc vào những hang Phật, cửa tiên. 

Cổ Thạch Tự ngoài vẻ đẹp tự nhiên của hang động kết hợp với sự sáng tạo của con người, ở đây còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá lịch sử quý hiếm : Nhiều di sản văn hoá Hán Nôm, liễn, đối, hoành phi và những tài liệu có từ ngày tạo lập chùa. Một số cổ vật có giá trị lịch sử văn hoá khác như Đại Hồng Chung, Trống sấm đều có niên đại từ nửa đầu thế kỷ XIX. 

Cổ Thạch Tự hàng chục năm nay do Hoà Thượng Thích Minh Đức trụ trì là điểm du lịch chính của Bình Thuận, hàng chục vạn du khách từ mọi miền đất nước đến đây hàng năm để chiêm bái, lễ Phật và tham quan danh lam thắng cảnh độc đáo hiếm có ở đây. Những giá trị về thắng cảnh thiên nhiên và về lịch sử văn hoá, Cổ Thạch Tự đã được Nhà Nước xếp hạng di tích thắng cảnh cấp Quốc gia năm 1993.                          



Cổ Thạch Tự có nghĩa là “chùa đá xưa”, còn có tên gọi mộc mạc dân dã là “chùa Hang”- một trong những danh thắng nổi tiếng ở phía Bắc tỉnh Bình Thuận và khu vực miền Nam. Ngự trong những hang động trên đồi núi thấp ở độ cao hơn 64m so với mặt biển, chùa Hang thấp thoáng ẩn hiện như một chốn “bồng lai” xa mờ…

Quá khứ vẫn còn mãi với thời gian 

Theo vị sư già Thích Quảng Đức trụ trì ở chùa đá xưa, dưới Triều Nguyễn khoảng cuối thế kỷ XIX, thì chùa Hang thuộc Bình Thuận phủ, Tuy Phong huyện, Bình Thạnh thôn, nay là xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. 

Chùa cách thị xã Phan Thiết 98km về phía Bắc, cách thị trấn Liên Hương 8km về phía Đông. Phía Đông Nam của chùa giáp với biển Đông, ba mặt còn lại là rừng núi và những dải đá nguyên sinh tuyệt đẹp. Cổ Thạch Tự mang một vẻ đẹp nguyên sơ độc đáo, gối đầu trên vùng đồi núi với hàng ngàn phiến đá và hang động muôn màu đa dạng vô cùng huyền bí. Nơi đây quanh năm chan hòa ánh nắng, khí hậu mát mẻ trong lành được chắt lọc bởi những luồng gió biển mặn mà, mát lạnh. Tất cả tạo nên một thiên cảnh trầm lặng lý tưởng cho việc tu hành của các nhà sư và trở thành điểm du lịch thú vị cho người phàm trần.

Ngược dòng thời gian trở về những năm 1835 - 1836, lúc ấy có vị Thiền sư Bảo Tạng tìm đến Bình Thạnh lấy việc đạo hạnh, tu tịnh để cứu vớt người đời khỏi bể trầm luân trong lúc xã hội phong kiến Triều Nguyễn nhiễu loạn quá nhiều mâu thuẫn. Ông đã chọn địa điểm khai lập nên Cổ Thạch Tự và trụ trì nơi đây 5 năm. Sau đó, vị Thiền sư giao chùa cho các đệ tử trông coi, ông tiếp tục độc hành vào phía Nam của tổ quốc và dừng chân ở miền Đông Nam Bộ (Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu). Để tưởng nhớ công lao của vị Thiền sư Bảo Tạng có công khai sơn lập nên Cổ Thạch Tự, nhà chùa lấy ngày 25.05 làm ngày giỗ Tổ hàng năm.

Gần 170 năm đã trôi qua, Cổ Thạch Tự từ một thảo am nhỏ đã được tôn tạo theo thời gian và mở rộng thêm một số công trình phụ cảnh để phục vụ cư dân bản địa và  khách du lịch. Vẻ đẹp thiên nhiên hiếm có của chùa từ lâu đã trở nên nổi tiếng được nhiều người khắp nơi biết đến, khách du lịch thường xuyên hành hương về chùa viếng Phật và tham quan. 



Ngôi chùa sừng sững, nổi bật trên cao giữa bầu trời xanh lộng gió. Ngược lại, ngay phía dưới chân chùa là đại dương mênh mông mờ ảo tạo nên một cảnh quan sơn thủy hữu tình. Hình thể các công trình kiến trúc từ Tam quan đến Ngọ môn, lầu Chuông, gác Trống, Chính điện nhà thờ Phật Tổ…và các công trình khác của chùa  thể hiện nghệ thuật tạo dáng tinh tế nơi cổ tự. Đặc biệt, đập ngay vào ánh nhìn của du khách là hình tượng “tứ linh” Long, Lân, Quy, Phụng, nét đặc trưng trong kiến trúc tôn giáo, cung đình được thể hiện trên mái chùa và nhiều nơi tôn nghiêm nhất.

Lối vào chùa qua cổng Tam quan quay về phía Tây Nam là con đường có 36 bậc thang được gắn kết với nhau bằng phiến thạch. Dưới chân bậc thang là đôi rồng uốn lượn hai bên được đúc bằng xi-măng như chào đón những ai có duyên đến viếng chùa. Bên phải chiếc cầu gần cổng Tam quan là bức tượng hình Hổ ngồi và bên trái là tượng Voi nằm được tạc tạo tinh vi. Ba phiến đá tự nhiên nổi lên cao xếp thành hàng ngang ở phía trước khu Chính điện làm nổi bật con cá Kình bằng đá tự nhiên (theo Kinh của Phật gọi là con “ma kiệt”, một loài thủy quái được xem là hóa thân từ Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát để giúp đỡ ngư dân khi gặp nạn ở biển khơi). Nếu chui vào từng hang đá trong khu Chính điện, du khách mới thấy hết sự trang nghiêm của Phật đường. Mỗi hang động là mỗi vẻ đẹp tự nhiên kết hợp với kiến trúc cổ trở nên huyền bí một cách lạ lùng.

Cổ Thạch Tự còn là nơi giữ gìn được nhiều di sản có giá trị lịch sử, văn hóa và nghệ thuật có sức thuyết phục lòng người. Đứng trước hàng chục câu liễn, câu đối có niên đại cổ được khảm bằng xà cừ, chạm khắc trên gỗ, ghép mực sành làm cho ta có cảm giác nơi đây thực sự là cảnh tiên ở cõi trần:

 “Không cốc đúc âm danh giáo địa
 Xuân bôi vui thọ cổ phong nhân”. 

Tạm dịch là:

"Hang không người có tiếng động
Mùa xuân người xưa mi dài tuổi cao".

Hoặc:

“Trống chuông mộc đã trăm lạy ba đời Phật
  Đèn nhang tỏa sáng thấu chín tầng trời “

Cổ Thạch Tự

Khách đến chùa Hang - Cổ Thạch Tự quanh năm. Sau khi viếng cảnh chùa, du khách thường tập trung xuống bờ biển. Chính vì thế, suốt chiều dài bãi đá con lúc nào cũng đằy ắp bóng người. Những thú vui mùa hè như tắm biển, vớt rong đuôi ngựa, nhặt bào ngư, sưu tầm đá cuội, cắm trại …có sức thu hút du khách thật sự. Mỗi người mách cho nhiều người, tốp này đến tốp kia lại đi, cứ thế mọi người bảo nhau cùng đến nơi đây tham quan, nghỉ dưỡng. 

Đêm ở Cổ Thạch Tự. Dưới ánh trăng vàng, du khách có thể lặng thinh lắng nghe tiếng sóng biển rì rào, thì thầm những bản tình ca muôn thuở. Và mọi người cùng tận hưởng bầu không khí trong lành, luồng gió mát rượi mang hương vị nồng nàn mặn chát của biển, dõi mắt tận khơi xa để có thể thấy được hàng nghìn chiếc đèn câu nhấp nháy trong đêm như một thành phố nổi trên mặt nước.

Thật là thiếu sót nếu không nhắc đến người dân bản địa nơi đây. Nếu như cảnh vật của chùa Hang nên thơ kỳ vĩ bao nhiêu thì người dân Bình Thạnh cần cù lao động, chân chất hiền hòa bấy nhiêu và bền bỉ kiên cường, đấu tranh bất khuất chống giặc ngọai xâm. Từ thuở khai thiên lập địa đến nay, Cổ Thạch Tự đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử. Ngoài việc đạo, bước đi của chùa còn gắn với việc đời, việc nước cùng với nhân dân góp phần giải phóng quê hương. Chùa Hang còn là điểm bí mật nuôi giấu cán bộ, trong đó có nhiều vị lãnh đạo cấp cao của Chính phủ. “Hang âm phủ” ở phía sau Lầu Trống (nay đã lấp kín), chính là con đường độc đạo ngầm sâu trong lòng đất có lối ra tận bờ biển đã giúp cho nhiều cán bộ cách mạng thoát khỏi nhiều trận càn quét,  bắn phá của giặc trong suốt 2 thời kỳ kháng chiến. 

Cổ Thạch Tự đã tồn tại biết bao thế hệ, gắn với nhiều ý nghĩa về lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa và có giá trị đích thực qua mỗi thời đại khác nhau. Không những thế giờ đây, Cổ Thạch Tự còn là điểm dừng chân du lịch lý tưởng của thế hệ hôm nay và cho cả thế hệ mai sau.  

CHÙA LINH SƠN TRƯỜNG THỌ
Chùa Núi Tà Cú




Chùa thường gọi là chùa Núi tọa lạc trên núi Tà Kóu, thuộc xã Tân Lập, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Chùa do Tổ Sư Hữu Đức khai sơn vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Trong đợt trùng tu vào năm 1963, chùa tôn trí pho tượng đức Phật nhập niết-bàn dài 49 thước phía sau ngôi chánh điện. Chùa được Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bình Thuận tổ chức trọng thể lễ đặt đá khởi công đại trùng tu vào ngày 7-5-1993. Thượng tọa Thích Chơn Thành, hiện là viện chủ chùa Liên Hoa, bang California Hoa Kỳ, được cử làm Trưởng ban trùng tu. Chùa là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở miền Trung. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Chùa núi Tà Cú từ lâu là một thắng tích độc đáo với cụm kiến trúc cổ trên lưng chừng núi giữa cảnh sắc thiên nhiên trầm tịch. Chùa có quá trình hình thành khá lâu đời và rất đặc trưng về tư tưởng thoát tục của Phật giáo. Khoảng năm 1872, nhà sư Trần Hữu Đức tự Thông An từ quê nhà Phú Yên đến Phan Thiết rồi ẩn thân ở làng Kim Thạnh (Bàu Trâm) dựng ngôi thảo am vừa tụ tập vừa bốc thuốc cứu độ chúng sinh. ở đó được 30 năm, nhà sư Hữu Đức tìm lên ngọn núi cao xây chùa làm nơi thiền định. Năm Tự Đức thứ 33 (1880), Đức bà Từ Cung lâm trọng bệnh nhưng các quan ngự y bất lực nên nhà vua ra châu tri khắp nước tìm phương thuốc chữa bệnh cho mẫu hậu. Nhờ y pháp tuyệt diệu của tổ sư Hữu Đức mà Hoàng thái hậu thoát chết. Vua Tự Đức tỏ lòng khâm phục bèn phong tặng 4 chữ "Linh Sơn Trường Thọ" cho ngôi chùa.

Nằm cạnh quốc lộ 1A, cách Phan Thiết 28 km và Saigon 170 km, khách hành hương đặt chân lên từng bậc đá xuyên qua những vòm cây xanh lá với đoạn đường 2000 m thì đến khu chùa Long Dao. Dọc đường với các độ dốc uốn lượn quanh co theo triền núi có những điểm nghỉ mang tên Đá Bàn hạ, Đá Bàn thượng, dốc Bằng Lăng và cuối cùng là dốc Yên Ngựa. Chùa ở độ cao 470m, nhìn ra hướng Biển Đông. Khu vực chùa có địa hình rộng và nguồn nước tinh khiết chắt ra từ các khe đá nên bao giờ cũng mát lạnh, ngọt ngào. Khách sẽ có cảm giác đang về với vùng trời Đà lạt vì nhiệt độ trung bình dao động từ 16-20độ C. Vào giấc chiều hay ban sớm, những thoáng sương bay lãng đãng nơi lũng núi gợi lên bao cảm xúc thi vị, bồng bềnh. Phân cách giữa ngôi chùa Linh Sơn Trường Thọ (chùa Tổ) và chùa Long Đoàn (chùa dưới) là một đoạn dốc với rừng cây bằng lăng cổ thụ và cụm tượng Tam Thế Phật. Nhưng độc đáo hơn là ở lưng vách núi phía trên có tượng Phật Thích Ca nhập Niết bàn dài 49m, cao 7m là một công trình mỹ thuật đồ sộ giữa thế núi cao và heo hút. Phía dưới chân tượng Phật nằm khoảng 100 m có một hang núi sâu thẳm vẫn còn là điều bí ẩn với bao huyền thoại về người khai sáng đã tịnh độ ở đây.

Vào những ngày xuân, ngày giỗ tổ khai sơn Hữu Đức (viên tịch cách đây 111 năm) khách thập phương về đây như ngày hội.

Tà Cú - độc đáo cụm di tích, khu bảo tồn hoang dã     
 
Hướng về phía Tây Bắc theo con đường nhựa trải dài từ cây số 23, Quốc lộ 1A đi Thuận Ninh, Hàm Thuận Nam, là những cánh rừng xanh ngát, nơi có nhiều gỗ quý, thú rừng và các hệ thực vật quý hiếm ở Việt Nam: Đó là khu bảo tồn thiên nhiên Tà Cú (Bình Thuận). 
 

Ở núi Tà Cú, các nhà nghiên cứu thực vật của Viện sinh vật nhiệt đới đã thu thập và đánh dấu được 1.061 ký hiệu mẫu vật. Là một núi thấp ven biển có diện tích chỉ 1.104 ha, nhưng rất đa dạng về các loài thực vật. Trong đó có 689 loài thực vật bậc cao, chiếm 6,5% tổng số loài thực vật được ghi ở Việt Nam. Sự đa dạng của thảm thực vật núi Tà Cú đã đưa nhiều nhà nghiên cứu đến đây và chứng tỏ hệ thực vật của Tà Cú thật sự là phần quan trọng trong hệ thực vật Việt Nam. Chẳng hạn, núi Tà Cú có đến 3 trong tổng số 4 loài thuộc giống Carallia (giống duy nhất sống trên cạn của họ Rhizophoraceae trong hệ thực vật Việt Nam). 

Hiện Tà Cú đang "sở hữu" 144 loài cây đại mộc cho gỗ quý, 38 loài cây làm cảnh, 34 loài cây có thể ăn được. Đặc biệt có 5 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam như Afzelia xylocarpa, Irvingia malayana… Ưu thế nhất của Tà Cú là cây thuốc. Theo tài liệu và kinh nghiệm của các thầy thuốc gia truyền trong vùng, vốn nhiều năm tìm cây thuốc tại đây, núi Tà Cú có đến 159 loài cây thuốc. 

Khu hệ động vật rừng được chia làm 3 vùng: Vùng núi Tà Cú, Tà Đặng có địa hình là núi cao, dốc, là rừng kín, nhiều hoa quả, nên tập trung nhiều loài thú như: khỉ đuôi lợn, voọc xám, cầy, chồn, sóc, chim, công… Bìa rừng có heo, nhím. Vùng đồi thấp, rừng thưa có các loại thú ăn có như hoẵng, cheo, thỏ, gà rừng. Vùng bưng, đầm lầy tập trung nhiều loài cá nước ngọt, các loài bò sát: trăn, rắn, rùa vàng, ba ba… 

Ngoài động thực vật, nơi đây còn có những danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng. Chùa Núi, gồm chùa Linh Sơn Trường Thọ (chùa trên), do vua Tự Đức ban phong vào khoảng năm 1880 và Linh Sơn Long Đoàn (chùa dưới). Hai chùa này tọa lạc ở phía Nam núi Tà Cú, có độ cao 475 m so với mặt nước biển. Chùa Núi là một cụm di tích, danh lam, thắng cảnh có giá trị về mặt kiến trúc và nghệ thuật văn hóa. Hình thể kiến trúc chứa đựng những đặc trưng cơ bản của nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là phong cách kiến trúc thời Nguyễn. 

Chùa Núi còn thể hiện quy mô to lớn, hiện đại qua nghệ thuật đắp các tượng phật. Đó là sự kết hợp hài hòa, cân xứng địa thế của núi rừng và cảnh sắc thiên nhiên. Những tượng tiên, phật cùng mô típ hoa văn, trang trí làm cho các điện thờ toát lên vẻ trang trọng, linh thiêng. Đặc biệt, trên đỉnh ngọn núi cao nhất có tượng Phật nằm với chiều dài 49 m. Đây là tượng Phật nằm lớn nhất Việt nam và khu vực Đông Nam Á. 

Chùa Núi còn gắn liền với những năm tháng quân dân Bình Thuận kiên cường đấu tranh chống Pháp, chống Mỹ. Núi Tà Cú là một căn cứ địa quan trọng của tỉnh, nơi trú quân, nuôi giấu cán bộ cách mạng. Năm 1953, giặc Pháp truy quét cán bộ cách mạng ẩn náu trong chùa, chúng đã bắn chết nhà sư Tục Tuệ, trụ trì chùa vì tội liên hệ, che giấu cán bộ cách mạng. Chính các giá trị, ý nghĩa về khu di tích này mà ngày 7-1-1993, cụm di tích danh lam thắng cảnh chùa Núi đã được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. 

Bên cạnh hệ thống các chùa, tượng Phật, sườn Bắc núi Tà Cú là một cụm danh thắng: Hòn Lan - Đá Một, Bàu Ông Hút, suối nước nóng… Nhìn về phía bên kia thấy rõ mồn một hải đăng Khe Gà, bãi biển Khe Gà, địa chỉ du lịch phía nam tỉnh. 

Với địa hình trải rộng trên 5 xã và thị trấn Thuận Nam, lại phong phú về động thực vật, khu bảo tồn thiên nhiên Tà Cú trong những năm qua đã và đang được tỉnh, huyện Hàm Thuận Nam đầu tư xây dựng và bảo vệ. Tuy nhiên, Tà Cú vẫn bị tác động khá mạnh của cư dân xung quanh. Hệ thống thực vật núi Tà Cú vẫn bị lén lút khai thác. Mùa khô, tình hình cháy rừng vẫn diễn ra vì địa hình toàn khu vực phức tạp, việc khoanh nuôi, bảo vệ gặp nhiều khó khăn. Tháng 4-1997, tỉnh Bình Thuận đã thành lập ban bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên núi Tà Cú gồm 22 cán bộ, nhân viên. Ban đã thành lập 5 tổ bảo vệ, kiểm tra, kiểm soát thường xuyên toàn bộ khu vực. Công tác tuyên truyền về ý thức bảo vệ rừng trong dân cư rất được địa phương chú trọng. Với ưu thế thuận lợi, chỉ cách Phan Thiết có 30 km, lại nằm giữa cụm du lịch Thuận Quý - Khe Già, bên cạnh có cáp treo Tà Cú, nếu ngành du lịch đưa việc tham quan, khám phá những điều kỳ thú của khu bảo tồn thiên nhiên Tà Cú cộngvới hành hương về đất Phật vào các tour du lịch thì tiềm năng dồi dào này sẽ nhân đôi.

CHÙA NÚI TÀ KÚ

Chùa núi Tà Cú tọa lạc trên núi Tà Cú ở độ cao hơn 400 m, thuộc thị trấn Thuận Nam, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, cạnh quốc lộ 1A, cách Phan Thiết 28 km về phía Nam. Chùa là một di tích lịch sử - văn hóa quốc gia của Việt Nam



Lịch sử

Vào giữa thế kỷ 19 nhà sư Trần Hữu Đức (1812-1887) pháp danh Thông Ân, pháp hiệu Hữu Đức từ Phú Yên vào Bình Thuận dựng một thảo am ở làng Kim Thạnh (Bàu Trâm) vừa tu hành vừa bốc thuốc. Ông đã từng tu hành và góp nhiều công sức chăm lo Phật sự ở nhiều chùa tại Bình Thuận như chùa Cổ Thạch, chùa Linh Sơn (Tuy Phong), Phước Hưng (Phan Thiết) và một số chùa ở đảo Phú Quý. Năm 1872 nhà sư lên núi Tà Cú tu hành trong một hang đá (sau này gọi là hang Tổ). Cho đến lúc mất sư Hữu Đức không xuống núi nữa. Lúc đương thời nhà sư Hữu Đức là một thầy thuốc giỏi. Năm Tự Đức thứ 33 (1880) hoàng thái hậu bệnh nặng, chư thần tâu xin rước sư về giúp trị bệnh nhưng nhà sư từ chối, chỉ gởi người về triều. Bệnh hoàng thái hậu hết, vua Tự Đức mới ban cho tên chùa là Linh Sơn Trường Thọ và nhà sư là "Đại lão hòa thượng". Đến khi nhà sư Hữu Đức viên tịch (nhằm ngày 5 tháng 10 năm 1887 âm lịch) thì sư Tâm Hiền lập ngôi chùa mới ở phía dưới, sau này gọi là chùa Dưới hay chùa Long Đoàn và chùa Linh Sơn Trường Thọ là chùa Trên.

CHÙA PHẬT QUANG



Đó là chùa Phật Quang, chùa nằm trong con hẻm đường Võ Thị Sáu, phường Hưng Long,TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Theo thống kê của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam: toàn VN có 22.089 ngôi chùa do giáo hội quản lý, riêng Bình thuận có 288 chùa, và tại Phan Thiết có 40 chùa trong đó có chùa Phật Quang.

Chùa Phât Quang theo lịch sử được ghi nhận như sau: cách đây trên 300 năm tại thôn An Hoà, tổng Vạn Phước huyện An Phước, phủ Bình Thuận, đạo Ninh Thuận, có một ngôi chùa tên là chùa Bồ Đề sau đó (không rõ năm nào) đã đổi tên là Phật Quang như hiện nay. Năm 1987 chùa vẫn còn lụp xụp, dưới tượng Phật có một cái hầm dài khoảng 2m ngang hơn 1m, trong hầm có cất giấu một bộ kinh và được phát hiện tại đây khi các sư dọn dẹp trong chùa. Bộ kinh khắc gỗ này đã có hơn 300 năm căn cứ vào đoạn văn ghi trong kinh: “Long đức tam niên tuệ thứ giáp dần, tứ nguyệt thơ nhất nhật khánh tạo”. 



Như vậy,  tại ngôi chùa này, bộ kinh này bắt đầu khởi công vào năm 1704 và hoàn thành năm 1732 vào thời nhà Lê trung hưng. Bản kinh được khắc trên gỗ thị gồm 118 bản, trong đó có 8 bản là tranh khắc gỗ, nói về cuộc đời của Đức Phật. Căn cứ vào ghi chú trong bộ kinh âm bản, bộ kinh này do 3 vị thiền sư là ngài Minh Dung hiệu Pháp Không, ngài Khánh Tài tự là Thiện Huệ, ngài Thiện Pháp hiệu là Bảo Hương và 12 đệ tử khác thực hiện trong 28 năm (1704 – 1732) có kích thước 80cm dài, rộng 40cm dầy 4cm khắc hai mặt. Bộ kinh Pháp Hoa chia thành: 7 quyển, 28 phẩm có 60.000 từ bằng chữ Nho, từ âm bản này có thề nhân bản (in ra) được nhiều bộ kinh khác và được xem như là nguyên bản, qua nghiên cứu bộ kinh có ghi được làm tại phủ Ninh Thuận là 1 đạo của tỉnh Bình Thuận. Phù hợp với lịch sử là vào thời Chúa Nguyễn, gỗ thị được chuyển từ vùng Bình Thuận ra Kinh Thành để khắc các bộ kinh tương tự. Kinh Pháp Hoa theo lịch sử Phật giáo được ghi lại: Trước khi Phật Thích Ca nhập Niết Bàn có thuyết pháp về hai bộ kinh là Pháp Hoa và Niết Bàn - thuyết pháp xen kẽ trong 8 năm, sau khi Phật nhập Niết Bàn bộ kinh này qua Đông Đô (Trung Hoa) vào thời nhà Tùy. Trước đời Đường và sau thời Tam Quốc sau đó du nhập vào Việt Nam.

Tết 1987 bộ kinh được công bố và triển lãm tại ngay ngôi chùa, báo Thuận Hải và báo xuân của Phan Thiết lần đầu tiên công bố phát hiện này, Sau đó Hoà thượng Trí Quang sợ thất lạc nên đem cất giấu kỹ sau chùa, cách đây 4 năm ông Nguyễn Văn Mỹ, giám đốc công ty du lịch lữ hành Đất Việt đến chùa và được thầy Huệ Tánh cho xem và chụp ảnh, và chính ông Mỹ đã thuyết phục được nhà chùa cho mượn 3 thanh trong bộ kinh về TP triển lãm.

Năm 1968 chùa bị bom hư hại khá nặng, và sau đó chùa được tu sửa nhiều lần. Năm 1997 Chùa bị sập hết một chái và được chính quyền cho mở rộng và xây dựng mới, năm 2002 bắt đầu khởi công và hoàn thành năm 2004. Việc xây dựng chùa do ngân sách riêng của chùa và sự đóng góp của Phật tử khắp nơi cúng dường, theo sư trụ trì: Hoà thượng Thích Huệ Tánh 78 tuổi kể lại: "Việc xây dựng chùa cũng có nhiều giai thoại có thể tóm lại như sau: khi đào móng thứ nhất sâu độ 2m4 thì đụng mạch nước ngầm, không thể đổ móng, phải dùng 6 máy hút bùn hút nước liên tục mới có thể tiếp tục thi công được, đào đến móng thứ chín thì phát hiện 3 tượng Phật cổ có niên đại trên 300 năm. Móng cuối cùng trong 18 móng thì phát hiện một quả bom chưa nổ có chiều dài 1,8m năng hơn 500kg chỉ cách phòng chủ trì 7m và phòng tỳ kheo khoảng 7m, phải mất 13 ngày đội công binh lập phương án mới vô hiệu và mang quả bom đến nơi an toàn.”

Thoạt nhìn chùa Phật Quang có một kiến trúc mới nhưng bề dày lịch sử của ngôi chùa thật đáng kinh ngạc: với trên 300 năm tồn tại, có nhiều pho tượng cổ giá trị cao, các dụng cụ trong chùa đều đặc biệt như chiếc trống cổ, chuông, mỏ được xem là lớn nhất (được ghi lại trong sách kỷ lục) kiến trúc đẹp nhiều hoa văn trang trí với khu vườn tượng dựa vào lịch sử Phật Giáo, Và nhất là được “mục sở thị” bộ kinh làm bằng gỗ thị xưa nhất và độc nhất Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn.

CHÙA HỘI LINH



Chùa tọa lạc tại số 314/36, đường Cách Mạng Tháng 8, phường An Thới, thành phố Cần Thơ. Chùa được ông bà Phạm Văn Bường xây dựng vào năm 1907 với tên Hội Long Tự. Chùa còn có tên là Xẻo Cạn vì cạnh chùa trước đây có con rạch cạn. Trụ trì thời gian đầu là ngài Thích Khánh Hưng. Đến năm 1914, Hòa thượng Thích Hoàng Đạo trụ trì đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa và đổi tên là Hội Linh Tự. Chùa đã qua 6 đời trụ trì, Hòa thượng Thích Chơn Đức trụ trì hiện nay đang tiếp tục công việc trùng tu, bảo tồn các tượng cổ. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
 
Khi chùa mới thành lập có tên gọi "Hội Long Tự" có ý mong muốn sự thịnh vượng tốt đẹp cho nhân dân quanh vùng. Từ năm 1914, lúc Hòa thượng Thích Hoàng Đạo trụ trì, chùa đổi tên là "Hội Linh Cổ Tự". Ngoài ra chùa còn có tên "Chùa Xeo Cạn", vì cạnh chùa trước đây có con rạch cạn, nay đã bị bồi lấp. 

Nhìn vào cổng tam quan có đại tự Hội Linh Cổ Tự cùng đôi câu đối ở hai hàng cột cổng: 

- Hội thượng diên chân chùa tiếp dân thập phương quy giác lộ. 
- Linh sơn khai nhãn tạng đề huế tứ chúng xuất mê tân. 

Ta hiểu 2 câu đối đó: Chùa Hội Linh là nơi hội tụ mọi người trong xã hội, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn để nghe phật pháp và được hướng dẫn bằng phương tiện mà Phật dạy, dẫn dắt mọi người đi vào con đường sáng sủa, hạnh phúc. 

Chùa Hội linh thuộc số nhà 314/36, tổ 5, khu vực 3, đường Cách Mạng Tháng Tám, Phường An Thới, Thành phố Cần Thơ tỉnh Cần Thơ. 

Chùa được xây cất năm 1907, lúc đó còn là vùng đất ngoại vi thị xã. Từ UBND tỉnh theo đưòng Nguyễn Trãi đi tiếp theo con đường Cách Mạng Tháng Tám khoảng 4 km rồi nhìn về bên phải ta thấy một cổng lớn mang dòng chữ "Hội Linh Cổ Tự", từ cổng vào 200 mét là nơi tọa lạc của ngôi chùa. 

Ngày 15/1/1907, để làm điều kiện, ông Phạm Văn Bường và bà Nguyễn Thị Tám đã sáng lập nên chùa Hội Linh. 

Lúc đầu chùa xây cất bằng tre lá, sau đó nhờ bà con quyên góp nên 1914 chùa được xây cất bằng gỗ và gạch ngói. 

Tính đến 1992, chùa đã có 6 vị Hòa thượng trụ trì: 

- 1907-1914: Hòa thượng Thích Khánh Hưng 
- 1914-1922: Hòa thượng Thích Hoàng Đạo 
- 1922-1944: Hòa thượng Thích Trí Đăng 
- 1944-1970: Hòa thượng Thích Pháp Thân 
- 1970-1972: Hòa thượng Thích Pháp Thiện 
- 1972- đến nay: Hòa thượng Thích Chơn Đức. 

Các vị hòa thượng trụ trì ở đây là các vị chân tu, có kiến thức sâu rộng biết phân biệt rõ cái ác, cái thiện trong giáo lý và trong đời sống xã hội. 

Bước vào địa phận chùa, thoạt đầu ta gặp phòng thuốc từ thiện và nghĩa địa ở phía trước chùa, đó là thuyết sinh, lão, bệnh, sử của nhà Phật. 

Chùa được xây bằng vật hiện đại nhưng vẫn giữ được phong cách Việt Nam, các thiết bị trang trí, đề tài thể hiện vẫn theo những quy ước truyền thống: mai- lan- trúc- sen- rồng, bầu rượu, vv... Tóm lại, mảng điêu khắc ở chùa Hội Linh rất đáng kể, không những về số lượng mà cả về chất, tiêu biểu là tượng Giám Trai, tượng này có thể xếp vào lọai quý hiếm. 

Các hiện vật trong chùa có chuông đồng, mõ, bộ binh khí (16 cái), 66 tượng chất liệu có loại gỗ, xi măng, thạch cao và đồng, giường sắt vạt gỗ và bộ bàn ghế gỗ cán xà cừ.

CHÙA KHÁNH QUANG



Chùa tọa lạc ở số 97 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, thành phố Cần Thơ. Tên chùa "Khánh Quang" được ghép tên của hai Hòa thượng Khánh Anh và Huệ Quang là hai vị cao tăng Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Chùa do Thượng tọa Thích Huệ Thành sáng lập vào năm 1966, ban đầu ngôi chùa chỉ cất bằng gỗ lợp tôn. Đến năm 1969 theo đề án xây dựng của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện, chùa được xây cất qui mô theo 3 đợt, mỗi đợt 3 năm. Công trình đến nay đã xong đợt 2, hoàn thành ngôi chánh điện và hai dãy Đông lang, Tây lang để thờ Phật và làm nơi sinh hoạt tăng ni, cư sĩ, Phật tử. Chùa hiện đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Cần Thơ.

CHÙA LONG QUANG



Chùa tọa ở xã Long Hòa, thành phố Cần Thơ. Chùa do Thiền sư Liễu Huệ - Thiện Quyền, dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 37 khai sơn năm Minh Mạng thứ năm (1824), ban đầu có tên là Long Trường Tự, sau Thiền sư Quảng Văn đổi tên là Long Quang Tự. Năm 1922, Thiền sư Từ Quang cho tạc nhiều pho tượng thờ bằng gỗ giáng hương, đặc biệt là bộ Thập bát La-hán rất sinh động. Chùa được trùng tu nhiều lần. Năm 1930, ngài Từ Thới đã tổ chức xây dựng ngôi chùa qui mô. Vị trụ trì hiện nay là Đại đức Thích Bình Tâm đã hoàn thành đợt 1 trùng tu mở rộng chùa vào ngày 08-01-1995. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA NAM NHÃ



Chùa Nam Nhã, do lão Thái Nguyễn Giác Duyên lập nên, hồi cuối thế kỷ 19, nổi tiếng về vẻ đẹp kiến trúc bề thế, vững chãi mà hài hòa với thiên nhiên. Chùa cũng từng là trụ sở chính của phong trào Đông du (1907 - 1940), nơi chu cấp cho các học sinh du học và chống lại chính sách ngu dân của thực dân Pháp. Chùa chủ trương ăn chay nhưng không cạo đầu hay mặc nâu sồng và rất đề cao ý chí tự lực tự cường để tồn tại và phát triển.

Ai đã một lần đến thành phố Cần Thơ (Tây Đô) chắc không thể bỏ qua cơ hội ghé thăm chùa Nam Nhã, còn gọi là chùa Minh Sư hay Đức Tế Phật Đường, nằm cách trung tâm thành phố 5 km về phía bắc. Ngôi chùa này nổi tiếng không chỉ về vẻ đẹp kiến trúc, mà còn bởi lịch sử hình thành và phát triển của nó gắn liền với phong trào cách mạng của nhân dân và tinh thần bất khuất của một số sĩ phu, văn thân yêu nước trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.

Chùa Nam Nhã thuộc ấp Bình Nhật, xã Long Tuyền (nay thuộc phường An Thới thành phố Cần Thơ), phía trước chùa là dòng sông Bình Thủy in hình những bóng cây đại thụ, đối diện là đình Long Tuyền uy nghi đồ sộ. Phía đông là cồn Sơn ví như trái châu của suối Rồng (Long Tuyền) và cồn Bình Thủy ví như lưỡi rồng, nằm giữa dòng sông Hậu cuồn cuộn chảy theo những lớp sóng bạc đầu.

Chùa được xây cất trên một khoảnh đất hàng chục mẫu, cổng chùa xây bằng gạch cổ, lợp ngói ta, vững chãi bề thế. Sân chùa được bao quanh bởi một khu vườn lớn trải dài ra tận bờ sông Bình Thủy; giữa vườn là hòn non bộ cao trên 2m được đặt trong một bồn nước trong xanh xây bằng gạch tầu đỏ sậm, trong vườn trồng nhiều cây tùng, cây trắc và các cây cổ thụ khác. Đan xen dưới những gốc cây này là những cây kiểng quý giá, tuổi ngót 100 năm được cắt uốn rất công phu.

Chính diện là một ngôi nhà lớn 5 gian, xây theo lối vòng cung, mỗi gian được 4 cột xi-măng chống đỡ với 3 vòm bán nguyệt. Các họa tiết hoa văn trang trí ở đây đều được tô đắp rất công phu tỉ mỉ làm tăng vẻ mỹ lệ của gian chính diện. Sau chính điện là một hành lang dài có hai căn phòng tiếp khách quý. Bên phải và bên trái chùa là 2 dãy nhà lợp ngói gọi là Đông Lan đường (còn gọi là Cần đạo đường) dùng cho nam giới và Tây Lan đường (còn gọi là Khôn 

đạo đường) dùng cho nữ giới ăn thông với nhà bếp. Sau chùa là cả một vườn cây ăn trái, xanh tốt quanh năm, mùa nào quả ấy, tiêu biểu cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Lịch sử chùa Nam Nhã có nhiều nét độc đáo. Nguyên từ năm 1895 do chịu ảnh hưởng hệ tư tưởng của các vị lão sư Đinh Hảo Khiêm, Ngô Cẩn Tiền ở chùa Quảng Nam (Đa Kao, Sài Gòn) xuống Bình Thủy truyền đạo Minh Sư thờ Tam Giáo (Nho, Phật, Lão), lão thái Nguyễn Giác Duyên bèn dẹp tiệm thuốc bắc ở chợ Bình Thủy về ấp Bình Nhật và lập nên ngôi chùa Nam Nhã. Đầu tiên, ngôi chùa chỉ có 3 gian, cột gỗ, cổng và mái lợp ngói rất đơn sơ 

gồm chính điện là gian giữa, hai gian bên là Đông Lan đường và Tây Lan đường. Đến năm Đinh Tî (1917), Nguyễn Giác Duyên và em là Nguyễn Giác Cung, cùng ban chủ sự chùa gồm Dương Văn Đạt (thầy Ba Chệt), Mai Thị Đồ, Bùi Hữu Sanh (con trai thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa) cùng chung lo xây lại chùa lần thứ hai có nhà Tam Bảo. Đến năm 1923, chùa lại được tu bổ, hoàn thiện thêm một lần nữa và có quy mô to lớn như ngày nay.

Nam Nhã chính là tên hiệu thuốc bắc của lão thái Nguyễn Giác Duyên, chùa còn có tên là Minh Sư. Từ ngày đầu thành lập, tại chùa đã có nhiều hoạt động yêu nước và tiến bộ.

Chùa Nam Nhã còn nổi tiếng vì đây là trụ sở chính của phong trào Đông du (1907-1940) do cụ Phan Bội Châu khởi xướng. Ngôi chùa là nơi thường lui tới của các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Cường Để, Nguyễn Hào Vĩnh... Trong thời kỳ Đông du, chùa đã tự tổ chức ra nhiều cơ sở kinh tài, lấy tiền nuôi học sinh du học, chống lại chính sách ngu dân của thực dân Pháp. Tại đây, nhiều cuộc bình thơ, họa thơ đã được tổ chức và xuất hiện nhiều áng văn thơ yêu nước, có nội dung đòi độc lập dân tộc, dân chủ, dân quyền. Văn phẩm Đạo Nam kinh do chùa Nam Nhã phổ biến, thời kỳ này bị Pháp liệt vào loại sách cấm, đã đề cao vai trò học vấn, chống ngu muội, chống mê tín, đề cao tiến bộ khoa học kỹ thuật của văn minh loài người. Có những bài diễn ca như:

"Văn minh ta phải học khôn, 
Theo người Anh, Pháp, theo gương Hoa Kỳ.
Trăm nghề học, học chi cũng được,
Học thiên văn rồi học địa dư,
Học toán pháp, học binh thư,
Canh nông học sách, lập thư viện đường".

Chùa chủ trương ăn chay, nhưng không cạo đầu, không mặc nâu sồng, ai mặc quần áo gì cũng được miễn là trang nghiêm và kín đáo. Chùa chỉ có một cái chuông để thỉnh báo cho thiện nam tín nữ trước khi lễ. Chùa tập trung vào tu dưỡng tâm tính con người, lấy sản xuất, tự lực tự cường để tồn tại và phát triển. Ngày nay, chùa Nam Nhã vẫn duy trì được lối sống giản dị đó, du khách đến chùa bất kỳ lúc nào cũng thấy một không khí làm việc tấp nập trong sự yên tĩnh đặc biệt.

CHÙA PHẬT HỌC CẦN THƠ



Chùa tọa lạc ở số 11 đại lộ Hòa Bình, thành phố Cần Thơ. Chùa trước đây là trụ sở của hội Phật học Nam Việt tỉnh Cần Thơ. Chùa được xây dựng vào năm 1961 tại khu trung tâm thành phố Cần Thơ, chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa là nơi qui tụ đông đảo Phật tử đến sinh hoạt và nghe giảng pháp cùng nhiều đoàn khách trong nước, nước ngoài tham quan, chiêm bái. Chùa đã được trùng tu nhiều lần.

CHÙA PHƯỚC HẬU


 
Từ Thành phố Cần Thơ, xuôi dòng sông Hậu về phía hạ lưu cách thị trấn Trà Ôm không đầy một cây số, bạn sẽ thấy ở Tản Nhạn có một ngôi chùa cổ đứng giữa những tán tre già. Đây là một di tích có tầm quan trọng đặc biệt đối với lịch sử Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX cũng như lịch sử Cách mạng của tỉnh Vĩnh Long và khu Tây Nam Bộ. Giữa thế kỷ XIX nơi đây chỉ là một am nhỏ do các tu sĩ từ miền Trung vào đây lập nên. Nhờ công quả của các vị ấy cùng với dân làng Đông Hậu qua nhiều lần xây cất, trùng tu chùa Phước Hậu trở thành một thiền điện uy nghiêm. Từ đời Hoà thượng Hoàng Chỉnh khai sơn năm 1910 ngôi chùa là một trong các Tổ đình của Thiền Tông Nam Tế ở Việt Nam. Gọi là Tổ đình bởi trong Tháp Đa Bảo của chùa Phước Hậu có thờ di cốt của các vị cao tăng từng lãnh đạo phong trào Phật giáo ở Nam Kỳ, một phong trào tiến bộ nhằm gắn đạo phật với truyền thống dân tộc và đời sống xã hội, đó là Thiền sư Khánh Hoà người khởi xướng phong trào đấu tranh Phật giáo vào năm 1930, Thiền sư Huệ Quang vị pháp chủ đầu tiên của Giáo hội, Thiền sư Khánh Anh pháp chủ đời thứ hai, vị thứ tư là Hoà thượng Thích Quảng Đức, nhà sư đã tự thiêu tại Sài Gòn ngày 11/6 /1963 để phản kháng chế độ Ngô Đình Nhiệm được giới phật tử tôn vinh là Bồ Tát. 

Chùa Phước Hậu xứng danh là một Tổ đình, bởi đây là nơi trụ trì hành đạo của nhiều vị hoà thượng có học vấn uyên bác, có tinh thần yêu nước và xu hướng tư tưởng tiến bộ. Nhiệm chủ đời thứ hai là Hoà thượng Khánh Anh trụ trì từ năm 1939 đến năm 1961, ông là một học giả lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX. Ông có công rất lớn trong việc nghiên cứu và giảng dạy Phật học ở Nam Bộ, đào tạo nhiều thế hệ tăng ni trong đó có các vị đã trở thành rường cột của Giáo hội như Thiện Hoà, Chí Thiện, Thanh Từ, Diệu Linh, Diệu Tỉnh...ông còn biên soạn nhiều kinh điển, phiên dịch nhiều tác phẩm phật học có giá trị. Thiền sư Khánh Anh không những tinh thông kinh kệ mà còn giỏi văn thơ, trong đời thường cũng như trong chữ nghĩa ông đã để lại trong lòng các môn đệ hình ảnh một người có tâm hồn lạc quan, rộng lượng và giàu lòng yêu nước, ông là một trong những người đã tích cực vận động cho phong trào thống nhất Phật giáo Việt Nam. Thiền sư Khánh Anh được đề cử vào chức vụ cao nhất của giáo hội vào năm 1959, sau khi Thiền Sư Khánh Anh tạ thế năm 1961, người kế nghiệp là Thượng toạ Thiện Hoa tiếp tục làm rạng rỡ thêm truyền thống của chùa Phước Hậu, là một cao tăng xuất gia từ năm lên bảy tuổi, ông đã giành trọn cuộc đời để phát huy những thành quả của các bậc tôn sư, ông dày công biên tập và xuất bản hàng trăm tác phẩm để quảng bá tư tưởng Phật giáo yêu nước và tiến bộ cho công chúng trong hoàn cảnh Miền Nam đang bị xâm lược bởi chủ nghĩa thực dân mới. Ông cũng là người đã góp phần to lớn làm cho học viện ấn Quang trở thành một trung tâm đào tạo cán bộ, một cơ sở hành pháp có uy thế có sức mạnh đoàn kết tăng ni phật tử vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, vì độc lập tự do. Chùa Phước Hậu dưới sự cai quản của ông càng tỏ rõ hơn ngôi vị một tổ đình, nơi mà chân tu phước đạo đã trở thành truyền thống đến ngày nay. 

CHÙA ÔNG

Tọa lạc trên đường Hai Bà Trưng, nhìn ra bến Ninh Kiều là Chùa Ông do người Hoa thuộc hai Phủ Quảng Châu, Triệu Khánh (Quảng Đông - Trung Quốc) góp công xây dựng vào những năm 1894 - 1896. Hầu hết vật liệu xây dựng quan trọng liên quan đến diện mại kiến trúc đều đưa từ Quảng Đông sang.

107 năm trôi qua, Chùa Ông ở Cần Thơ vẫn trong tình trạng hoàn hảo từ hình dáng bên ngoài đến trạm trổ nội điện. Trong chùa, gian chánh điện thờ Quan Công, bên phải thờ Thổ Địa, Thiên Hậu Thánh Mẫu; bên trái thờ Đổng Vĩnh Trạng nguyên, Tài Bạch Tinh Quân (Thần Tài)... Hàng năm, cứ vào ngày 24 tháng 6 âm lịch, các vị cao tuổi trong Ban trị sự chùa cùng đông đảo người Hoa ở địa phương tổ chức lễ vía Ông, còn gọi là lễ vía Quan Thánh Đế. Chùa Ông được đồng bào người Hoa, người Kinh thường xuyên đến viếng. 

Ngày Tết là một sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo quan trọng, là những này lễ hội lớn nhất trong năm. Tùy theo điều kiện kinh tế mà trong những ngày này đồng bào Hoa mang đến chùa heo quay, heo sống, gà vịt, bánh trái, nhang đèn... Họ sửa sang trang hoàng lại chùa, tắm gội và ăn mặc thật đẹp đẽ cùng nhau đốt cho các vị thần những nén hương với tất cả sự trong sạch và tinh khiết của thể xác và tâm hồn. Thỉnh thoảng có những năm Ban quản trị còn tổ chức sinh hoạt lễ hội dân gian truyền thống như múa lân, rồng, sư tử, thi đấu võ thuật, biểu diễn nghệ thuật sân khấu Quảng Triều. 

Nhìn về mặt tôn giáo, tín ngưỡng của chùa Ông cũng như một số chùa Hoa khác ta thấy một đặc điểm đáng lưu ý là phần tín ngưỡng có vẻ nổi bật hơn tôn giáo.

Tất cả Chùa Ông do người Hoa cất ở Việt Nam đều không biệt lập trong khuôn viên rộng lớn (dù người Hoa đủ khả năng mua những sở đất lớn) mà luôn cất gần sát lộ, hài hòa với phố thị. Ngôi chùa rực rỡ, vui tươi và gần gũi với mọi người, như một biểu tượng của bình anh, may mắn, phát đạt.

Chùa Ông ở Cần Thơ là một di tích lịch sử - văn hóa được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng cấp quốc gia.

Ngày nào cũng có người đến viếng Chùa Ông. Không kể các ngày lễ hội thường kỳ hàng năm qui tụ đông đảo nhân dân, hầu như ngày nào cũng có người đến viếng chùa. 

Chùa Ông có những ngày lễ sau: 
"Ngày vía" tức là ngày sinh của các vị thần được thờ. 
- Quan Công: 13 tháng riêng âm lịch 
- Thiên Hậu: 23 tháng 3 âm lịch 
- Ông Bổn:15 tháng 3 âm lịch 

Vào những ngày này người ta sắm sửa lễ vật đến cúng chùa tùy theo tính chất và tập tục của các thần mà lễ vật đang cúng không khác nhau. 
- Quan Công: Cúng chay, lễ vật là hoa quả hương đèn 
- Bà Thiên Hậu: Cúng heo quay sơn đỏ 
- Ông Bổn, thần tài: Cúng heo chưa chín. 
CHÙA BỬU ĐỨC



Chùa tọa lạc ở số C 61 ấp Bửu Long, xã Tân Bửu, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Chùa được xây dựng vào năm 1970, kiến trúc theo kiểu tháp xá-lợi San-chi ở Âởn Độ. Sư Giác Chánh thuộc hệ phái Phật giáo Therarada đã trùng tu ngôi chùa năm 1990, đúc tượng đức Phật Thích-ca cao 4m tôn trí ở chánh điện. Hội chùa hằng năm được tổ chức vào ngày rằm tháng 10 (âm lịch).

CHÙA BỬU PHONG




Chùa tọa lạc trên núi Bửu Long, thuộc xã Tân Bửu, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, gần khu du lịch Bửu Long. Chùa được dựng vào thế kỷ XVII. Lúc đầu chỉ là một thảo am, sau do Thiền sư Pháp Thông xây cất thành ngôi chùa nhỏ. Chùa được trùng tu mở rộng vào năm 1829, vào cuối thế kỷ XIX và các năm gần đây. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa còn bảo tồn một pho tượng Di-đà cổ và đã tôn tạo vườn tượng Phật lộ thiên khá lớn. Chung quanh vùng núi có nhiều ngôi tháp cổ. Chùa là một danh lam thắng cảnh ở miền Nam, hàng năm đón nhận hàng vạn du khách, Phật tử đến tham quan, chiêm bái

CHÙA CHÚC THỌ



Chùa tọa lạc ở số 542/A2, xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, trong vùng đất cổ cù lao Phố. Chùa được dựng vào thế kỷ XIX, còn có tên là chùa Thủ Huồng, do tích ông Thủ Huồng sau khi được người vợ quá cố dẫn đi thăm âm phủ, đã thấy tội ác của mình nên đã bán cả gia sản để làm phước, xây chùa. Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Chùa còn bảo tồn 3 pho tượng Phật cổ bằng gỗ và bộ tượng La-hán cao 0,74m bằng đất nung ở thế kỷ XIX.

CHÙA ĐẠI GIÁC



Chùa tọa lạc ở xã Hiệp Hòa, thành phố Biên hòa, tỉnh Đồng Nai, trong vùng đất cổ cù lao Phố. Chùa được dựng từ cuối thế kỷ XVII. Công chúa Ngọc Anh, con thứ ba của Nguyễn Vương đã xin xuất gia thọ giới với Thiền sư Mật Hoằng. Đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Vương cho trùng kiến ngôi chùa, xây lầu chuông, lầu trống, tạc pho tượng Di-đà cao 2,25m. Chùa còn bảo tồn nhiều tượng cổ và tấm hoành phi sơn son thếp vàng ghi "Đại Giác Tự" do Công chúa Ngọc Anh cúng vào năm 1820. Chùa được đại trùng tu vào năm 1959. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA LONG THIỀN



Chùa tọa lạc ở số K2/3B Tân Bình, phường Bửu Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Chùa được dựng vào cuối thế kỷ XVIII và đã được trùng tu nhiều lần. Ơở điện Phật, có nhiều pho tượng Phật cổ bằng đất nung và bằng đồng. Trụ trì chùa hiện nay là Hòa thượng Thích Huệ Thành, nguyên Tăng Thống Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, hiện là phó Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đã trùng kiến ngôi chùa vào năm 1956 và những năm gần đây. Chùa đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Đồng Nai. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA PHẬT TÍCH TÒNG LÂM



Chùa tọa lạc ở xã An Phước, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Chùa do Hòa thượng Thích Nhật Minh khai sáng vào năm 1962. Ngôi chánh điện được xây dựng vào năm 1963 theo kiểu kiến trúc Âởn-Hồi do cánh thợ Nguyễn Văn Ba ở Sóc Trăng thực hiện. Trước chùa có hồ sen, giữa hồ đặt bảo tượng Bồ-tát Quan Thế Âm cao 12m, tôn trí năm 1963. Bên trái chùa có tháp Tam Bảo cộng đồng cao 27m, được xây dựng năm 1987. Chùa đã được trùng tu nhiều lần.

THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU

Thiền viện tọa lạc tại xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Thiền viện mang tên một danh sư Việt Nam đời Lý (thế kỷ XII). Thiền viện do Hòa thượng Thích Thanh Từ khai sơn vào tháng 8 năm 1974. Điện Phật được kiến lập năm 1986, đài chuông được dựng năm 1988, ngôi chánh điện được đại trùng tu năm 1995. Thượng tọa Thích Nhật Quang trụ trì hiện nay đang mở rộng Thiền viện trở thành trung tâm của các thiền viện nổi tiếng trong vùng như: Thiền viện Viên Chiếu, Thiền viện Linh Chiếu, Thiền viện Huệ Chiếu, Thiền viện Phổ Chiếu, Thiền viện Liễu Đức...Hiện Thiền viện Thường Chiếu có khoảng trên 120 tăng chúng đang tu hành. Xin giới thiệu bài viết dưới đây của thầy trụ trì (BBT)

THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU

Thường Chiếu ! Danh xưng một vị Thiền sư Việt Nam nổi tiếng thời Lý. Sư họ Phạm, quê làng Phù Ninh, từng làm quan cho triều đình. Là một bậc trượng phu quân tử có tiết tháo, không khiếp phục uy quyền, xem thường công danh sự nghiệp ở đời, nên chốn quan trường đối với Sư chỉ như trò bọt bóng . Nghe danh Thiền sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh Quả, Sư liền từ quan, tìm đến xuất gia học Thiền và đắc pháp luôn tại đây.

Sau, Sư về Trụ Trì chùa Lục Tổ ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức. Tăng chúng đua nhau theo học rất đông. Từ đó, Sư trở thành một danh tăng lỗi lạc đương thời. Bình nhật, Sư luôn lấy đạo cả làm trọng, tỉnh lực giác tâm là chánh, thường hành chiếu soi, sống tự tại, chết ung dung. Hôm sắp tịch, Sư hơi đau bụng, bèn gọi chúng lại nói:

Ðạo vốn không nhan sắc,
Ngày ngày lại mới tươi.
Ngoài đại thiên sa giới,
Chỗ nào chẳng là nhà ?
 
Ðạo bổn vô nhan sắc,
Tân tiên nhật nhật khoa.
Ðại thiên sa giới ngoại,
Hà xứ bất vi gia ?

Nói xong, Sư tịch. Thật còn gì tuyệt bằng ! Có thể nói, môn phong của Sư được các thế hệ sau phát triển rực rỡ và chuyển tiếp thành dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đời Trần sáng chói mãi về sau. Danh Sư vì thế đã trở thành danh xưng của Thiền viện Thường Chiếu non một thế kỷ sau. Nơi đây - Thường Chiếu - không chỉ ảnh hiện một tấm gương sáng xa xưa cho người sau theo dấu soi mình, mà với ý nghĩa tròn đủ đó, Thường Chiếu còn là phương châm, là sở nguyện của Hòa thượng ân sư đối với chư Tăng: " Phản quan tự kỷ, bổn phận sự " - luôn tự soi chiếu lại chính mình -. Ðây cũng chính là cương lĩnh yếu chỉ của dòng Thiền Việt Nam cuối thế kỷ 20 này.

DUYÊN KHỞI THÀNH LẬP THIỀN VIỆN THƯỜNG CHIẾU.

Vào những năm 73 -74, khi mở khóa thiền thứ hai tại Tu viện Chân Không, Hòa thượng nhận thấy Tăng ni về núi tham học khá đông. Theo đó, nhu cầu đời sống vật chất của chư Tăng cũng được đặt ra. Biết rõ điều ấy, hai Phật tử chủ chùa Linh Quang (cũ) ở Cát Lở phát tâm cúng dường thửa đất 52 mẫu tại Xã Phước Thái - Huyện Long Thành,để Hòa thượng lập Thiền trang. Nhận thấy cơ duyên đã đến, Hòa thượng liền tùy hỷ. Thiền viện Thường Chiếu được ra đời từ đó.

1. Giai đoạn đầu từ 1974 - 30/ 04/ 1975: Thời sơ khai.

Ngôi chùa Thường Chiếu đầu tiên là một căn nhà lá, mái tol, nằm trơ vơ trên một dãy đất cát trắng phếu với sỏi đá khô cằn. Thầy Ðắc Huyền được Hòa thượng bổ nhiệm làm lính tiên phong - Trụ trì đầu tiên - với số chúng là bốn vị. Mấy anh em xuống núi trong giai đoạn này quả thật là phải " cạp đất mà ăn ". Vì vậy Hòa thượng luôn động viên, luôn tiếp sức qua những lần về thăm. Thầy không chỉ dùng lời mà còn cộng sự, cuốc đất trồng khoai, thân giáo chư tăng. Bây giờ ngồi mà nhớ lại hồi xưa, nếp nhà tranh, ánh đèn dầu, khung trời nắng cháy.Ai tới đây rồi cũng phải ngao ngán. Thường Chiếu lúc đó, không biết ra sao ở ngày mai ? Song nhờ có Hòa thượng luôn yểm trợ tinh thần, giúp chư tăng vượt qua mọi khó khăn, giữ vững tâm nguyện tu hành của mình, nên rồi tất cả cũng kham nhẫn được. Vạn sự khởi đầu nan. Xưa nay vẫn vậy.

Ðến 30 / 04 / 75, đất nước giải phóng, lịch sử sang trang. Chư Tăng ni cũng thay đổi cuộc sống tu hành của mình theo nhịp đổi thay chung của đất nước. Thế là Tăng ni của cả hai viện Chân Không và Bát Nhã khóa hai cùng xuống núi, về đây làm ruộng rẫy. Thầy Phước Hảo và Thầy Ðắc Pháp cũng có mặt trong giai đoạn này để hướng dẫn chúng tu học và lao động, Tuy nhiên, thời gian chỉ có hai tháng thì giao lại cho Thầy Nhật Quang làm Huynh Trưởng. Ngẫm lại trong cuộc vô thường, bể hóa cồn dâu có khác gì nhau. Cũng chỉ đùa mà thôi.

2. Giai đoạn hai từ 1975 - 1986:

Thời vượt khó.Năm 1975, Thầy Nhật Quang lãnh trách nhiệm Huynh Trưởng với tổng số chúng là 20 vị. Hòa thượng cho cất thêm một tăng đường bằng lá và cái thất sàn cũng bằng lá, nép mình khiêm cung bên bụi tre hồi đó chính là phương trượng của Thầy bây giờ.Thanh Qui Bách Trượng được áp dụng từ đây. Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực ( một ngày không làm, một ngày không ăn ).

Tu, học và lao động trở thành ba yếu tố căn bản không thể thiếu của Thiền sinh Thường Chiếu và các Chiếu phụ cận ra đời tiếp theo sau như Viên Chiếu (1975), Linh Chiếu (1980) . Việc tu được Hòa thượng cụ thể hóa như hơi thở, việc học như uống nước, việc làm như ăn cơm. Một trong ba đều cần thiết đối với đời sống tu học của Thiền sinh. Ðể chấn chỉnh môn phong trong giai đoạn này, Hòa thượng Viện Trưởng đã sửa đổi bản Thanh Qui Chân Không, cho ra đời bản Qui Ước áp dụng chung cho các Thiền viện. Tinh thần tu, học và lao động tuy phôi thai  nhưng đã gầy dựng được một sức sống mới trong tăng đoàn. Sức sống ấy đã được Thiền tăng chuyển tải trên đồng khô ruộng cạn, trên từng nhát cuốc đường cày, lúc đẩy xe kéo củi, khi đào giếng khoét mương.khắp trong bạn lứa anh em, đâu đâu cũng hùng hồn vang vọng như một hành khúc:
 
Một ngày không làm là một ngày không ăn,
Có đâu chỉ ngồi mới là thiền tăng,
Trâu đen rồi đây sẽ thành trâu trắng,
Chẳng phí đi kiếp người mới thật là Tăng.

Với một bối cảnh kinh tế ngặt nghèo như vậy, Tăng ni phải lao động để duy trì sự sống, nên công phu tu tập hẳn nhiên bị trì trệ.Sau một ngày sinh hoạt nặng nhọc, anh em không sao tránh khỏi sự mệt mỏi lúc về đêm.

Những buổi thiền tọa vì thế chỉ là những buổi ngủ ngồi, gật gà gật gưỡng trông thật thảm. Vì vậy, thiền tăng nào không đủ niềm tin với pháp môn, chưa vững chắc công phu tu học thì dễ thối lui bỏ cuộc. Ngược lại, với những ai đủ nghị lực, giàu ý chí thì đây chính là môi trường tốt cho một cuộc đọ sức.

Lần đó, Thầy Nhật Quang vào thăm Viên Chiếu. Lắng nghe câu chuyện tu học và làm việc của quí cô, Thầy nể quá. Giữa rừng hoang hẻo lánh, nước độc suối sâu, mấy huynh đệ là phái yếu lại dám đương đầu với sơn lam chướng khí, đói rét nắng mưa. quần tụ bên nhau, san sẻ từng chút khổ vui để được yên sống tu hành. Lần đó trở về, Thầy đã ghi vào nhật ký câu này: " Quạnh hiu là thước đo của tâm hồn ", để tự răn mình và cũng để đánh dấu một thời của huynh đệ đồng tu. 

Vì nặng về lao động nên những năm này, việc tu tập của Tăng ni không tiến triển bao nhiêu. Hòa thượng luôn trăn trở điều này. Bởi vì nếu Tăng ni không có niềm vui, bước đường tu nhất định sẽ thối khuất. Thế nên, dù còn nhiều khó khăn nhưng Thầy vẫn cố gắng cho ra đời các thiền thất, nhằm tạo điều kiện cho thiền sinh sau một thời gian nhọc nhằn, có được nơi yên tỉnh, có thì giờ, để hạ thủ công phu tu hành. Thật vậy, từ khi có các thiền thất, tinh thần tu tập của Tăng ni phấn chấn hẳn lên, kết quả thấy rõ. Hòa thượng rất vui và Ngài cả quyết " Tăng ni có tu là có tiến ". Cho nên dù đường lối tốt mà không đủ duyên thì việc tu tập cũng không thể thành công được. Nhưng rồi vào những năm kế tiếp 78, 79, 80; hoàn cảnh xã hội bên ngoài biến chuyển, việc họp chúng đông đảo tu học càng gặp nhiều trở ngại hơn nữa. Ðể thích nghi với hiện tình, bản Qui Ước lại một lần nữa chuyển sang chế độ Trụ trì.

Ðầu năm 80, Thầy Thiện Phát từ chùa Linh Quang về Thường Chiếu thay thế Thầy Nhật Quang lãnh trách nhiệm Trụ trì vì Thầy Nhật Quang sẽ nhập thất. Thời gian từ 80 - 85 là đỉnh cao của những năm cam go và thử thách của Thiền viện. Số thiền sinh giảm dần xuống, có khi chỉ còn khoảng 10 vị, kể cả Trụ trì. Hòa thượng cũng khó tới lui. Thường Chiếu lại quạnh hiu, côi cút từng ngày. Hồi tưởng những năm tháng này, quả là:

Thương hải tang điền rộn đổi thay,
Lầu sò chợ bể gợn u hoài.

Nhưng, có thế cũng là hay. Bởi vì dòng đời luôn sinh động và luân lưu biến hóa không cùng. Phải ở trong đó mà nghiệm lấy mới thẩm thấu được hai chữ " vô thường " nhi " hữu thường ". Vạn pháp cứ thế tạm đến tạm đi, thì Thường Chiếu chợt đổi chợt thay, cũng có lạ gì đâu ?

3-Giai đoạn ba từ 1986 - 1993:

Thời chuyển mình.Ngày 18 / 03 Âl (1986), Phật xuống núi, Thầy xuống núi, vì Chân Không nằm trong khu quân sự nên bị giải tỏa. Tăng ni và Phật tử cùng trở về chùa gốc, tháo gở từng tấm tol, từng viên gạch, chuyền nhau xuống núi. Hai mươi năm gầy dựng, thoáng một phút mất tâm.

Hôm ấy rời núi, Hòa thượng đã gởi lại mộ cha. Ông vẫn còn trên đó để mà gẫm cái lẽ Sắc Không, hợp tan trong cõi tạm. Ngày 24 / 03, Thầy đóng mốc đắp đất làm nền cho ngôi Chánh điện Thường Chiếu, mà thật ra là của Chân Không dời về. Ngày 15 / 04 Khánh thành Chánh điện Thường Chiếu. Như vậy chỉ trong khoảng chưa đầy 20 ngày, tất cả đều đổi thay. Chân Không mà Thường Chiếu.

Kể từ đây, một luồng sinh khí mới thổi về miền đất cháy. Thiền viện mới thật sự hiện diện đúng với tên gọi của mình. Hòa thượng Viện Trưởng chánh thức chấn tích khai đạo tại đạo tràng Thường Chiếu, trực tiếp hướng dẫn Tăng ni Phật tử tu thiền. Thường Chiếu và các Chiếu phụ cận như được hồi sinh. Tăng chúng lên dần tới 100 vị. Lúc này, Thầy Nhật Quang đã đương nhiệm Trụ trì trở lại.

Ðến đây, hoàn cảnh xã hội bên ngoài cũng đang trên đà phát triển. Có thể nói: " Ðất nước Việt Nam đang hồi đi lên để gầy dựng một xã hội văn minh dân giàu nước mạnh ". Từ đó, cơ sở vật chất của các Viện cũng được mười phương đàn tín hổ trợ xây dựng lại tương đối ổn định. Thường Chiếu từng phút từng giây thay da đổi thịt.

Vào cuối năm 1989, Hòa thượng làm Trưởng đoàn cùng một số Tăng ni Phật tử ra Bắc viếng thăm các thắng tích danh lam, đồng thời cũng để sưu tập thêm các tư liệu về Thiền tông của Phật Giáo Việt Nam còn rải rác ở các trung tâm ngày xưa như Luy Lâu, chùa Kiến Sơ, Trúc Lâm Yên Tử v.v. Chuyến đi thành công. Với tư liệu và số hình ảnh đã thu thập được, không bao lâu sau quyển Thiền sư Việt Nam được tái bản với phần bổ khuyết tương đối hoàn bị. Và tiếp theo đó, quyển Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ 20 ra đời, chánh thức công khai hóa đường lối tu Thiền của các Thiền viện trực thuộc hệ thống hướng dẫn của Hòa thượng. Một bước ngoặt mới trong lịch sử Thiền tông nước nhà thời hiện đại được mở ra.

Số Phật tử tham học tu thiền phát triển ngày càng mạnh. Các đạo tràng lần lượt xuất hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh như Thái Tuệ, Tuệ Tâm, Tâm Ðức. mở đầu cho những đạo tràng sau này ở miền Trung như Sen Hồng, Sen Xanh. cùng quy hướng về Hòa thượng tu thiền. Có thể nói, con đường hoằng pháp đến đây đã hanh thông.

Năm 1990, do nhu cầu tham học của Phật tử lên quá cao nên Hòa thượng cho phép trùng tu điện Phật, Tổ đường, cất thêm giảng đường, thiền thất và toàn bộ cơ sở nhà Tăng, thư viện. Ngoài ra, khu ngoại viện cũng được mở rộng cho chư Tăng ni lớn tuổi nương về tu tập. Số thiền thất khu ngoại viện bấy giờ lên đến trên 100 ngôi.

Trong đó, Bửu Sơn dẫn đầu nhưhậu thân của vùng Sơn thất. Thường Chiếu đã vượt qua những gian lao thử thách và hôm nay đã sừng sững trưởng hành với thế vững chắc trang nghiêm của mình. Thường Chiếu ! Tự bản thân nó đóng một vai trò như ánh đuốc trong đêm đen, giúp cho bao kẻ lạc bước kịp thời thấy lối quay về. Phật tử Từ Âm trong một lần xúc cảm đã viết lời này: - " Thường Chiếu là nơi tổ ấm của những ai lạc loài."

Dưới sự chỉ giáo, chăm chút kỷ lưỡng của Hòa thượng, huynh đệ đã vỡ khóc vỡ cười sau những lần nhập thất chuyên tu. Kết quả ấy đã đem lại nguồn an ủi cho Thầy và đồng thời cũng là niềm khích lệ lớn lao cho tất cả huynh đệ đồng tu. Tăng ni vui sống hài hòa, cùng một lý tưởng, một pháp tu, một Ân sư, đùm bộc gắng gổ bên nhau, miệt mài công phu. Niềm vui sáng đạo thì chưa dám tự hào, nhưng trong thâm tâm mỗi thiền sinh nơi đây, một ngày sống là xứng đáng một ngày. Mỗi ngày qua không phí uổng kiếp người, không tăm tối ngược xuôi bắt bóng đuổi hình. Thiền tăng với một quyết tâm thực hiện cho bằng được lý tưởng tối hậu là làm người " vô sự " mới chịu thôi.

Ðồng cảm với nguồn vui ấy, trong một lần họp mặt huynh đệ, Thầy Trụ trì đã để lại trong lòng anh em câu nói đầy đạo tình: - " Dù gian khó, ta hằng sống trong hòa khí trong an lành. Dù vui sướng, ta thường nhắc mau dừng bước lang thang này." Với niềm tin và tình thương ấy, Thường Chiếu đã tự sáng soi và soi sáng khắp nơi ánh thiền quang rạng ngời.

Khoảng năm 1991 - 1992, Hòa thượng thường lên Ðà Lạt vào những mùa nắng vì Thường Chiếu rất nóng. Nhận thấy khí hậu cao nguyên thích hợp cho người tu thiền, Hòa thượng liền khởi niệm thành lập Thiền viện chuyên tu trên đó. Ðáp lại hoài vọng ấy của Thầy, Tăng ni và các Phật tử chung sức chung lòng lo lắng xin phép giấy tờ. Ðến năm 1993, Ni sư Huệ Hạnh báo tin được Trúc Lâm. Thầy trò vui mừng khởi sự xây dựng Thiền viện Trúc Lâm ngay lập tức.

Song song với việc kiến lập Thiền viện Trúc Lâm, Hòa thượng quyết định trùng tu lại chánh điện Thường Chiếu. Ðồng lúc ấy, Thầy thực hiện một chuyến Tây du, vừa để viếng thăm Tăng ni Phật tử bên đó, vừa để trị luôn bệnh tim. Ngày Rằm tháng 10 năm ấy (1993), Thầy trở về nước niêm hương An vị Phật và khánh thành Chánh điện Thường Chiếu. Chư sơn đồng câu hội, khói trầm xông tỏa; Thường Chiếu uy nghi và hùng dũng, rờ rỡ giữa trời không.

4-Giai đoạn bốn từ 1993 trở về sau:

Thường Chiếu ngày nay.Năm 1994 Khánh thành Thiền viện Trúc Lâm. Thiền tăng Thường Chiếu lại một lần nữa phấn phát lên đường. Lúc này, tổng số chúng tại đây lên đến 150 vị. Trên 40 huynh đệ được Hòa thượng tuyển đưa vào Nội viện Trúc Lâm - Ðà Lạt. Thật là một diễm phúc lớn lao vô cùng.

Bởi vì Thiền viện Trúc Lâm ra đời được xem như là lý tưởng tối hậu của Thầy. Thầy từng nói: - " Tôi bao giờ cũng nghĩ đến trách nhiệm của mình. Làm sao cho Tăng ni tu hành đến nơi đến chốn. Sáng được việc lớn trong hiện đời là nguồn hạnh phúc vô biên của Tăng ni mà cũng là hoài bảo tha thiết nhất của đời tôi. "

Chân tinh thần của dòng thiền Trúc Lâm - Yên Tử được phục hồi sau một thời gian ngót 700 năm vắng bóng. Ðây là một dòng thiền chính thống Việt Nam, xứng đáng để cho hàng Tăng sĩ chúng ta tự hào về một thiền phái của người Việt Nam; vừa liễu ngộ Phật pháp, vừa làm tròn bổn phận đối với quốc tổ và dân tộc. Các vua Trần ở trên ngôi cửu nghi, nhưng tấc lòng lúc nào cũng hướng về chốn thiền môn, thích cảnh thanh thoát cao nhàn, thường dạo chơi trong núi sâu rừng thẳm, không ưa vương bổng buộc ràng. Tuy nhiên khi đất nước gặp cơn binh biến, vua tôi đã chung sức chung lòng, hy sinh tất cả để giữ vững giang sơn gấm vóc. Ðứng trước thế lực như vũ bảo của ngoại xâm, triều đình lãnh đạo toàn dân xông pha đuổi giặc, không trốn tránh, không khiếp nhược, luôn giữ thế tự chủ, độc lập về mình. Lịch sử chống ngoại xâm của nước ta, thật không thời nào hiển hách vang dội như những chiến công oanh liệt đời Trần. Trúc Thiên, một học giả Thiền đã tán dương thật trọn vẹn điều này trong một đoạn thơ của mình : 
 
Ðường đi lên có Trần Triều Thái Tổ
Tay khiển trượng thiền tay vó câu
Thế đạo suy vi, cường khấu ngặt
Ngàn xưa đuốc tuệ rạng ngàn sau.
( Ðường đi lên - Trúc Thiên )

Vì vậy, việc khôi phục lại tinh thần Thiền tông đời Trần cũng có thể xem là một bổn phận chung của hàng Tăng sĩ Việt Nam vậy.

Năm 1996, được tin phục hồi Chân Không. Quả là chim bay về tổ, nước chảy về nguồn. Tăng ni lại cùng nhau thướng sơn. Phải chăng Thiền tông đã tới hồi sống dậy thật rồi ? Nhưng cũng vì thế, Hòa thượng lại càng nhọc nhằn nhiều hơn. Vừa trực tiếp chăm lo cho chư Tăng ni tại Thiền viện Trúc Lâm, vừa phải về đây giảng dạy cho Tăng ni các thiền viện và Phật tử, đồng thời lo lắng mọi việc cho Chân Không mới được phục hồi. Rồi lại còn phải về Thành phố dạy Thiền tại Ðại học Vạn hạnh, chùa Ấn Quang, chùa Xá Lợi. Hòa thượng đã tận tụy hy sinh vì tứ chúng mà quên thân mình. Hàng đệ tử trong môn hạ nhìn thấy việc làm của Thầy ai cũng xót xa, mà không biết bao giờ mới có thể đảm đương gánh vác cùng Người ? 

Phật tử bốn phương tụ hội về Thường Chiếu ngày càng đông đảo, Tổ đường không còn chỗ dung. Vậy là năm 1998, Hòa thượng lại một lần nữa đại trùng tu Tổ đường Thường Chiếu. Nhờ sự quan tâm giúp đỡ của các cấp chính quyền, Mặt trận, Ban tôn giáo, Tỉnh hội Phật giáo và sự ủng hộ nhiệt thành của Tăng ni, Phật tử gần xa nên chỉ trong vòng bốn tháng, ngôi Tổ đường trang nghiêm tráng lệ được hoàn thành.

Thường Chiếu có thể xứng đáng gọi là Tổ đình để phục hưng dòng Thiền Việt nam cuối thế kỷ 20 rồi. Thành tựu này nếu không nhờ Phật lực gia bị thì thật không thể ngờ. Cho nên Hòa thượng vẫn luôn nhắc nhở:

- Phước báo hạnh nghiệp đều do nơi công đức huân tu mà ra. Ngày nay các Thiền viện đã được sung mãn, chư Tăng ni càng phải đem hết tâm huyết tu hành. Có thế mới mong đền đáp được tứ ân trong muôn một. Nếu không như vậy, quyết phải rơi vào các đường để trả lại nợ trước.

Ðến đây, việc kiến thiết việc tu tập đã vào nề nếp. Hòa thượng bắt đầu để tâm vào văn hóa. Thầy những mong phải dịch thuật và giảng dạy tất cả kinh sách, ngữ lục của các Thiền sư Việt Nam, để kết tập thành một tủ sách Thiền học Việt Nam; nhằm khêu sáng trở lại nền văn hóa thiền học nước ta từ nghìn xưa, cho Tăng sĩ Việt Nam nối bước các bậc tiền bối, tiếp tục thực hiện sứ mạng truyền đăng tục diệm của mình. Ban văn hóa Thường Chiếu ra đời vào năm 1998. Dưới sự lãnh đạo của Hòa thượng, toàn bộ sự nghiệp dịch thuật và trước tác của Thầy được chỉnh đốn và bổ khuyết thêm cho hoàn bị.

" Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc" một lần nữa lại được tuyên dương như là kim chỉ nam cho Tăng ni tất cả các Thiền viện. Thanh Quy mới được ra đời, thống nhất đường lối và chủ trương tu Thiền của các Thiền viện thuộc thiền phái Trúc Lâm cuối thế kỷ 20. Thường Chiếu bây giờ là đàn anh của các Chiếu. Vì vậy chư Tăng nơi đây càng phải ý thức trách nhiệm là người đi đầu của mình. Sự tu học và sinh hoạt hàng ngày phải được thể hiện trong phong cách của một hành giả thực tu thực học. Giờ này, không còn gì để thiền tăng luận bàn hay do dự nữa, chỉ một việc thẳng tiến lên đường. Ðó cũng là tất cả những gì Hòa thượng ân sư của chúng ta mong mỏi nhất.
 
TỔNG KẾT

Hai mươi lăm năm, Thường Chiếu luôn trở mình, từ mái tranh gốc rạ cho đến có được những đường nét hôm nay, con người hôm nay. Tất cả đủ để nói lên tâm lực, trí lực và dũng lực của người Thầy dẫn đường. Từ con số không, Hòa thượng đã từng bước gầy dựng trong trắc trở nguy nan, cũng chỉ vì hai tiếng Tăng Ni. Giờ đây phần còn lại, có giữ vững được hay không, có phát triển thêm lên được hay không đều tùy thuộc vào lực tu của tất cả chúng ta.

Thường Chiếu ! Tự bản thân hai chữ ấy đã như một lời răn nhắc chư Tăng phải biết việc bổn phận của mình. Tất cả một đời của Hòa thượng đã cho hết Tăng ni, tất cả những hoài bảo thiết tha nhất của mình, Hòa thượng cũng đã tỏ bày hết cùng Tăng ni. Không còn một tấm lòng nào hơn thế nữa của một bậc Tôn sư. Thập phương tín thí cũng đã hy sinh biết bao công của. Tiền nhân đã ủy thác, hậu lai đang trông chờ. Chúng ta có thể ngồi yên nhìn đời mình trôi qua được sao ? Chúng ta có thể mặc tình lơ đễnh để cho sự nghiệp khôi phục Thiền tông Việt Nam của Thầy vụn vỡ tan hoang được sao ? Chúng ta có thể bóp nát niềm tin trong lòng bạn lứa anh em được sao ? Mọi điều ấy phải được trả lời bằng tất cả tủy não cân xương của những con người dám buông tay bên bờ vực tử sinh, trước khi hoàn lại cố hương.  

CHỦA KIẾN AN CUNG

Chùa Kiến An Cung hay còn gọi là chùa Ông Quách nằm ngay tại trung tâm thị xã Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp. Chùa được xây dựng do Hoa kiều ở tỉnh Phúc Kiến - Trung Quốc di cư sống tại Sa Đéc để thờ cúng tổ tiên và dạy dỗ con cháu. 
Chùa Kiến An Cung được bắt đầu khởi công xây dựng từ năm Giáp Tý (1924) đến mùa thu Đinh Mậu (1927) thì làm lễ khánh thành. Chùa gồm 3 gian, gian giữa là điện thờ (Kiến An Cung) gian bên tả là trụ sở tập hiền, gian bên hữu là trường. 
Chùa đã được sửa chữa 3 lần nhưng vẫn ở vị trí cũ. 

Chùa Kiến An Cung xây dựng theo kiểu chữ "Công" gồm có 3 gian. Bên tả và bên hữu bằng nhau. Gian giữa (điện thờ) rộng hơn. Mái ngói gồm 3 lớp, mặt trên ngói, giữa gạch, dưới là ngói. Ngói được lợp theo gợn sóng rồng, trải nền cho những ngọn sóng cong vút lên cao, tạo mái ngói theo kiểu "Ngũ hành". Mỗi đầu ngọn sóng là một cung điện thu nhỏ laiồ, bao gồm có 6 cung điện toàn bộ chùa không có kèo, chỉ có đòn tay ráp mộng lại chịu lực trên những cột gỗ tròn. Ơở mặt chính trên vách chùa có trang trí những cây cối, chim thú, tượng người ghép bằng mảng gốm màu thu nhỏ tạo thành những bức tranh nằm theo các đường gờ lắp kính 5mm. Mái trước cửa ra vào có 4 chậu hoa bằng gỗ sơn son thếp vàng đỡ 6 con sơn chạm trổ hoa lá, ở giữa có tấm hoành phi "Kiến An Cung", trang trí rồng, mây, nai, hạc. Trên cửa ra vào có 6 con lân gỗ thếp vàng đội 6 con sơn. Trên mặt của mỗi cánh cửa có vẽ cảnh sinh hoạt của vua quan. Hai bên cửa chính có hai câu đối trang trí hoa văn chạy xung quanh và nền chạm hóa mai và hạc thếp vàng. Trên cửa chính có tranh vẽ màu và trên cửa hai bên có chạm khắc bông sen, chim thú. 

Vào cửa là phần chính điện, trên mái ở gian giữa có treo một tấm hoành phi chạm trổ hoa lá sơn son thếp vàng. Dưới là một bức tranh vẽ màu hai mặt chạy dài suốt 3 gian. Phía dưới có một bao lam trang trí chim trĩ, công, bông sen, nho, sóc hai mặt giống nhau và thếp vàng. Hai câu đối cặp theo cột gắn với bao lam. Phần trên của mỗi câu đối có khắc đầu rồng, cành mai, phần dưới có khắc bát tiên. 

Đối diện với chính điện, trên các cột có gắn 2 câu đối thếp vàng, nền chạm trổ mai hạc, ở hai bên có hai câu đối nền sơn vàng và viền khung, bên cạnh có 2 bức tranh vẽ màu. Giữa các cột có gắn các đầu hình rồng đỡ những cây xà ngang có tranh vẽ màu. Trên xà ngang lại có 6 con sơn có tranh vẽ màu đội các cây xà dọc của mái. 
Gian bên phải có khắc đôi cá hóa long hai mặt giống nhau thếp vàng cặp sát theo góc cột thay thế con sơn. Ơở vách phải có 40 bích họa màu và ở vách đối diện có 30 bích họa màu. Phần vách ở dưới đều trang trí hoa văn màu xanh. Mặt sau của gian chính điện cũng trang trí giống như mặt trước của chính điện. Ơở 4 cột có gắn 4 câu đối. Phần trên của 2 câu đối có chạm hình con dơi, phần dưới chạm chậu hoa, hai câu đối chạm hoa lá bướm, chim thú. 

Phần mái hai bên có hai con lân đội hai con sơn. hai con sơn này lại đội xà ngang. Hai cột sát vách có gắn 2 câu đối bằng xi măng. Ơở 2 cột giữa có gắn hai câu đối của chính điện đối diện với hai câu đối của điện thờ. 

Phần giữa của chính điện và điện thờ có một khoảng để trống lấy ánh sáng, hai bên của phần này nối chính điện và điện thờ thành hai gian đối xứng nhau. Mỗi bên đều có 8 cánh cửa chạm trổ hoa lá, ong bướm, chim muông qua bên trái là trụ sở và bên hữu là trường học. 4 câu đối nền vàng viền đỏ gắn ở 4 cột đối diện với 2 gian nối. 
Phần điện thờ, mặt ngoài ở gian giữa có hai câu đối trang trí hoa sen, cành đào gắn ở cột, phía trên có một bức hoành phi "Bảo quốc an dân" trang trí hoa lá, chùm nho sơn son thếp vàng, dưới có một bao lam khắc khỉ, nai, chim phượng hai bên có hai câu đối chạm trổ rồng phượng gắn vào cột. 

Gian trái có bức hoành phi "Thanh thủy tể sư", gian phải có bức hoành phi "Bảo sanh đại đế". Trên các xà ngang có 4 con lân đỡ 4 con sơn. Ơở dưới xà ngang có 6 đầu rồng đỡ xà ngang gắn với cột. 

Phần dưới điện thờ có bao lam chạm nổi cuốn thư, hoa cúc, hoa sen, chim trĩ, chim sâu sơn son thếp vàng. Hai bên của mỗi bao lam đều có 2 bức họa chạm trổ gắn chặt bao lam với cột gỗ, đứng trên bệ đá. Trên hai cột đều treo hai câu đối trang trí hoa văn chữ "Vạn" và có điểm thêm hoa cúc. Hai đầu của các câu đối có trang trí cây cỏ, chim muông, thú vật. Đặc biệt chữ viết trên hai câu đối theo kiểu chữ "Hình lư hương". 

Phía ngoài, ở giữa có một bàn thờ hình chữ nhật. Hai bên có hai bàn thờ nhỏ. Trên các bàn thờ đều có lư hương bằng đồng, hai con hạc đồng, hai chân đèn bằng đồng, một bát hương bằng gốm. 

Bên ngoài có 3 bàn thờ hình chữ nhật bằng gỗ đặt ngang trên các bàn thờ đều có lư hương, 2 chân đèn đồng, 3 cây hương trượng, giữa các bàn thờ có 4 bộ bát bửu đặt xuôi theo cột. Hai vách của các gian này có bích họa, mỗi bên có 32 tranh vẽ. 

Phần điện thờ có 3 gian: Gian giữa có khám thờ Quảng Trạch Tôn Vương. Phần trên của khám trang trí 2 rồng tranh châu, hoa lá sơn son thếp vàng. Hai bên có khám thờ "Bảo sanh đại đế" bên trái thờ "Thanh thủy tể sư" cũng trang trí hoa lá rồng mây, sơn son thếp vàng. 

Trước các khám thờ có 3 bàn thờ hình chữ nhật bằng gỗ. Trên mỗi bàn có đặt một lư hương và hai hộp bằng đồng đựng đèn sáp. Riêng bàn thờ giữa có đặt thêm ba hộp kính đựng tượng. 

Phía ngoài điện thờ trên sát mái chùa có treo ba hoành phi đối diện với khánh thờ "Thanh Thủy Tể Sư", Quảng Trạch Tôn Vương, Bảo Sanh Đại Đế, đặt trên 6 đầu dư hình rồng nhô ra đỡ lấy các hoành phi, dưới các đầu dư hình rồng có 3 bức tranh vẽ màu trên gỗ. 

Ngoài Quảng Trạch Tôn Vương còn có hai vị thần được thờ ở hai bên trong gian chánh điện. Bên tả là Thanh Thủy Tể Sư, nguyên là thầy thuốc chữa bệnh cho nhân dân. Bên hữu là Bảo Sanh Đại Đế, có nhiệm vụ bảo vệ sanh mệnh các vị vua chúa.

CHÙA TAM BẢO

Đi trên Quốc lộ 80 hướng từ thành phố Hồ Chí Minh về tỉnh Đồng Tháp, qua khỏi ngã ba Trung Lương, đến địa danh ấp Tân Thuận, xã Tân Nhuận Đông là chùa Tam Bảo khiêm nhường ẩn mình trong xóm làng. 
Con đường nhỏ hẹp với dãy hoa vàng nở rộ hai bên dẫn chúng tôi đến chùa vào một buổi sáng đẹp trời của một ngày cuối năm Ất Dậu.  Không giống như một số ngôi chùa hay thiền viện khác thường ẩn mình trong rừng sâu hay nằm trên núi cao tách biệt với thế giới ồn ào náo nhiệt bên ngoài, chùa Tam Bảo nằm ngay trong thôn làng, được bao bọc bởi nhà dân chúng, bởi luống cải, vườn rau.  Tuy kiến trúc có vẻ như hiện đại, nhưng với mái chùa cong lợp lá tranh nên vẫn ấp ủ hình dáng của một ngôi chùa miền quê yên bình.  Khách phương xa cảm thấy cảnh quan thanh tịnh xa hẳn chốn thị thành với bao nỗi muộn phiền.

Theo thầy trụ trì Thích Phước Chí  kể lại, sự ra đời của ngôi chùa này bắt nguồn từ những năm tháng khó khăn sau ngày thống nhất đất nước, mới đầu chỉ là một ngôi chùa nhỏ trên một mẫu đất hoang nhiều cỏ tranh và mồ mả. Hòa thượng Thích Huệ Phương là vị trụ trì đầu tiên ngôi chùa này.  Đến năm 1987, do nhu cầu tu học của Phật tử và do sự hỗ trợ từ tinh thần đến vật chất của thiền sư Thích Duy Lực, một ngôi thiền đường mới chứa được khoảng gần một trăm người được xây cất lên và những khoá thiền thất hàng tháng được tổ chức sau đó dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thiền sư.  Thiền sư Thích Duy Lực không những là người có công đem pháp môn thiền Tham Thoại Đầu đến với Phật tử Việt Nam mà còn mang đến tận vùng đồng bằng sông nước Cửu Long này. Khoảng mười năm sau, số người tham dự các khoá thiền thất mỗi ngày mỗi đông, nhất là vào các khoá an cư kết hạ của chư tăng ni miền Tây nên thầy trụ trì và thầy phó trụ trì Thích Minh Thiền cùng chư tăng ni và cư sĩ Phật tử thường trú quyết định xây cất ngôi chùa mới đối diện với ngôi thiền đường hiện tại, có kích thước to lớn hơn, với một chánh điện được dùng làm nơi toạ thiền rộng rãi và khang trang hơn.  Cho đến nay việc xây dựng vẫn chưa được hoàn tất, mái chùa vẫn là mái chùa tạm lợp bằng lá tranh đã qua hơn hai mùa mưa nắng, tường xung quanh vẫn chưa có cửa nên gió lùa lồng lộng và nền chánh điện vẫn còn đậm nét mầu bê tông nguyên sơ.  Thầy Minh Thiền cho biết khi đủ ngân khoản chùa sẽ ưu tiên lợp mái chùa bằng ngói âm dương và hy vọng mái chùa sẽ được lợp xong trước hoặc sau mùa kết hạ năm Bính Tuất 2006. 

Chùa Tam Bảo, còn được gọi là Thiền đường Tam Bảo, có lẽ là ngôi chùa Thiền tông chuyên tham thiền Thoại Đầu duy nhứt ở vùng đồng bằng sông nước Cửu Long, nơi quy tụ khoảng 200 tăng ni miền Tây về đây kết hạ mỗi năm từ ngày rằm tháng tư đến ngày rằm tháng bảy âm lịch.  Ngoài các khoá kết hạ dành cho chư tăng ni, chùa thường xuyên tổ chức định kỳ các khoá thiền thất vào trung tuần mỗi tháng, bắt đầu vào ngày 14 âm lịch, dành cho tăng ni và cư sĩ Phật tử bốn phương.  Mỗi khoá qui tụ khoảng 100 hành gỉa tham thiền.  Có lẽ nơi đây là một trong hai trung tâm tu học Phật giáo trên toàn nước mở rộng cho số đông cư sĩ Phật tử tại gia đến tu hành tại chùa nhiều ngày đêm dưới mô hình Thiền thất hay Phật thất. 

Được biết thiền thất là một mô hình tổ chức tu tập tương đối khá mới ở Việt Nam.  Dường như chỉ mới xuất hiện từ khi cố hoà thượng Thích Duy Lực hoằng truyền pháp môn thiền Tham Thoại Đầu từ năm 1977.  Thiền thất có nghĩa là một tập thể gồm nhiều người cùng hành trì pháp môn thiền trong thời gian bảy ngày bảy đêm tại một thiền đường hay tại một ngôi chùa.  Cũng đôi khi hai hay ba thiền thất tổ chức liên tục, như bên Trung Hoa có nơi tổ chức bảy thất liên tục tức 49 ngày đêm tham thiền.  Ý tưởng về mô hình tổ chức các khóa tu Thiền thất được khai sáng tại Trung Hoa, không biết rõ từ bao giờ nhưng có thể bắt đầu từ triều đại nhà Tống.  Đền triều đại nhà Thanh pháp này được hưng thịnh, lịch sử ghi lại vua Ung Chính (1723-1736) thường đả thiền thất tại hoàng cung và dưới vua có hơn mươì người được ngộ đạo sau những kỳ đả thiền thất. 

Mục đích của những hành giả tham gia thiền thất là khai mở trí tuệ, trở về bản thể chân tâm vốn hằng thanh tịnh bằng cách làm ngưng lại dòng tâm ý thức trôi chảy liên tục trong tâm con người từ thời vô thuỷ. 

Được biết, bản thể chân tâm của con người vốn thanh tịnh, nhưng vì môt niệm bất giác, tức nhất niệm vô minh sinh khởi, nên sinh ra ý thức phân biệt, gây thành có ta, có cái không phải ta, sinh ra đối đãi, và từ đó dòng tâm ý thức tham sân si dấy lên, ngày càng dầy đặc, trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi, tạo nghiệp quả, vay trả, trả vay không ngừng.  Nay muốn trở về bản thể cội nguồn thì phải dừng được dòng tâm ý thức.  Nghĩa là dừng lại những tạo tác của ý thức thường lưu, luồng tư tưởng, những ý niệm và nhận thức.  Và pháp dụng công là đơn cử một câu thoại đầu, ngày đêm sáu thời như một dòng nước chảy không cho gián đoạn, đi cũng thiền, ngồi cũng thiền, đứng cũng thiền, nằm cũng thiền - nói chung là đi, đứng, nằm, ngồi đều tham thiền.  Tham Thiền tức là tham cứu "một niệm chẳng sinh."  Tham cũng có nghĩa là Tham Khán hay cũng có nghĩa là Chiếu Cố Thoại Đầu.  Chiếu là phản chiếu.  Cố là quay nhìn lại, tức là nhìn lại tự tánh.

Trong lúc ngồi thiền hay kinh hành, còn gọi là tọa hương hay đi hương, hành gỉa không nói chuyện. Mỗi người tự mình chiếu cố thoại đầu của mình, tự mình dụng công. Nhìn thấy bất cứ ai, nghe bất cứ âm thanh gì cũng không quan tâm tới.  Ai tới thì tới, ai đi thì đi, ai nói thì nói, chỉ chuyên tâm, chuyên chí tham thiền tựa như thuật ngữ thiền học gọi là gà ấp trứng hay mèo rình chuột.  Nghĩa là khi hành công phu, nên dứt hết tất cả vọng niệm. Chẳng đoái hoài đến ngoại cảnh chỉ tự dứt tâm mình thôi. 

Ở Chùa Cao Mân bên Trung Hoa, ngày thường cũng đả Thiền thất nhưng thời khóa dụng công phu nhẹ hơn, thời lượng ngồi thiền và kinh hành chỉ khoảng 14 tiếng. Vào mùa đông thì tổ chức liên tục mười thất với thời lượng ngồi thiền và kinh hành là 19 tiếng một ngày: Bắt đầu từ 4 giờ 30 sáng đến 11 giờ khuya mới nghỉ, công phu như thế được miên mật và tinh tấn hơn, nên trong Thiền thất, theo sử sách ghi lại có nhiều vị Tổ sư khai ngộ. 

Với Thiền Đường Tam Bảo, khi được hỏi về thời khoá tu tập, thầy Minh Thiền cho biết chương trình tu tập hàng ngày bắt đầu từ 3 giờ rưỡi sáng cho đến 9 giờ đêm mới nghỉ, trong đó thời lượng tọa thiền và thiền hành tức là tọa hương và đi hương là 10 tiếng đồng hồ.  Thời khoá này là thời khoá áp dụng hàng ngày dù có thiền thất hay không có thiền thất.  Hiện tại chùa có khoảng 40 thường trú, vừa tăng ni và cư sĩ.  Có ni xá riêng dành cho ni và nữ cư sĩ Phật tử.

Thầy cho biết thêm chi tiết thời khóa tu như sau: Buổi sáng: 3 giờ rưỡi là thức chúng, từ 4 giờ đến 5 giờ rưỡi là tọa hương và đi hương, 6 giờ là tiểu thực, từ 6 giờ rưỡi đến 7 giờ rưỡi là chấp tác, từ 8 giờ đến 11 giờ là tọa hương và đi hương. Giờ thọ trai là 11 giờ 5 phút và 12 giờ trưa là chỉ tịnh.  Buổi chiều: 13 giờ thức chúng, từ 13 giờ rưỡi đến 16 giờ rưỡi là thời tọa hương và đi hương, 16 giờ 35 phút là dược thực. Buổi tối: 18 giờ rưỡi đến 20 giờ rưỡi là thời toạ hương và đi hương, 21 giờ chỉ tịnh. 

Được biết thầy phó trụ trì Minh Thiền, với 25 tuổi hạ, hiện là giáo thọ sư của chùa và là Chủ Thất các khoá Thiền thất.  Thầy cho biết số Phật tử tham dự mỗi khoá thiền thất ngày một gia tăng nên các Phật tử muốn tham dự hãy ghi danh trước để chùa sắp xếp.  Chùa tổ chức ăn ở và tu học miễn phí cho các Phật tử tham dự khoá tu.  Quý Phật tử phương xa có thể đến tham quan chùa và được mời tu thử một ngày nếu thích.   Chúng tôi, một nhóm Phật tử hải ngoại cũng được mời tham dự một ngày tu và dùng bữa cơm chay thanh đạm trong im lặng cùng với các hành giả thường trú đang tu học.  Sau giờ thọ trai, các hành giả được tự do sinh hoạt cá nhân nhưng chúng tôi thấy đa số họ đều đi ngủ trưa.  Đời sống tại thiền đường thật êm ả thanh bình, cái êm ả thanh bình của quê hương miền Nam.

Được hỏi về chi phí tổ chức cho 12 khóa thiền thất và một khóa an cư kết hạ mỗi năm cũng như kinh phí xây cất ngôi chùa mới, thầy trụ trì Thích Phước Chí cũng như thầy phó Thích Minh Thiền đều cho biết là do Phật tử bốn phương hỷ cúng.  Người tặng viên gạch, người cúng dường bao ciment, người đem đến bó rau, bao gạo…v…v…Chùa không quyên tiền cho việc xây cất, cũng không đòi hỏi người đến tu phải đóng lệ phí tu học mà chỉ mong người đến tu tinh tấn tham thiền.  Nếu sau khi tu cảm nhận được niềm an lạc thì hãy giúp người khác bằng cách này hay bằng cách khác để họ có cơ hội đến tham thiền học đạo.  Rất trân trọng cảm tạ thầy Phước Chí và thầy Minh Thiền. 

Tại Việt Nam, pháp môn thiền tham công án hay tham thoại đầu, không còn được nghe nói đến từ sau Tổ Liễu Quán thị tịch năm 1742, nay đang được sống lại. Ngoài chùa Tam Bảo ở Đồng Tháp còn có chùa Phật Đà ở Saigon, các Thiền đường Pháp Thành và Liễu Quán ở Bà Rịa Vũng Tầu và Thiền đường Từ Ân ở Hoa Kỳ đều có đông Phật tử đã được học pháp Tham Thoại Đầu và đang nỗ lực tham thiền.  Một giờ tham thiền là một giờ an lạc, là một giờ xa lìa ác đạo.  Một ngày tham thiền là một ngày an lạc, là một ngày không khởi nghiệp tham sân si, là một ngày tới gần giải thoát

CHÙA BỒ VÀNG



Chùa tọa lạc ở thôn Như Nguyệt, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc. Chùa nằm bên bờ sông Như Nguyệt, địa điểm phòng tuyến của nước ta năm 1077. Di tích hiện nay là một số tảng chân cột có chạm rồng trên những cánh sen và các pho tượng hậu bằng đá xanh ở hai bên vách chánh điện. Ngôi chùa hiện nay được xây dựng vào đầu năm 1993. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia


CHÙA CẢM ỨNG (CHÙA TRĂM GIAN)



Chùa thường được gọi là chùa Tam Sơn, chùa Trăm Gian, tọa lạc ở thôn Tam Sơn, xã Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. Chùa dựng vào thời Lý. Sách Từ điển di tích-văn hóa Việt Nam cho biết các Thiền sư Lã Định Hương (mất năm 1050), Nghiêm Bảo Tính (mất năm 1034), Phạm Minh Tâm (mất năm 1034) thuộc đời thứ 7, 8 Thiền phái Vô Ngôn Thông từng trụ trì, giảng đạo ở thế kỷ XI. Đến thế kỷ XVII, bà cung phi Nguyễn Thị Ngọc Vĩnh hưng công trùng tu mở rộng, xây bật gạch từ chân núi lên chùa, dựng lầu chuông (năm 1693), dựng cột đá Chúc thiên đài (1697) ghi tên những người góp công xây chùa. Các năm sau tiếp tục đúc chuông, tô tượng. Pho tượng Bồ-tát Quan Âm thiên phủ thiên nhãn (cao 1,70m tòa sen 0,37m), tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ v.v... là những pho tượng quí của dân tộc. Chùa còn giữ nhiều di vật quí như: viên gạch chạm nổi hoa sen thời Trần (mỗi cạnh: 0,32m), chuông, khánh đá ngang 1,40m, chạm khắc hai mặt, ở đường viền có các hình hoa, lá, rồng, phượng... Ngôi chùa hiện nay được Sư cụ Đàm Chúc tổ chức dựng lại từ năm 1973. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA CẢNH LONG ĐỒNG KHÁNH (CHÙA DẠM)




Chùa thường được gọi là chùa Dạm hoặc chùa Tấm Cám, tọa lạc ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc. Chùa được khởi dựng vào năm 1086, đời Vua Lý Nhân Tông, do tích bà Linh Nhân Hoàng thái hậu (tức Yỷ Lan Nguyên phi) hối hận việc đã bức tử Hoàng thái hậu họ Dương và 76 cung nữ, nên đã cho xây nhiều chùa tháp lúc về già. Chùa được xây dựng trong suốt 8 năm với quy mô to lớn, dạng kiến trúc bốn lớp trên núi Dạm (Đại Lãm). Ngôi chùa hiện nay được xây dựng sơ sài trên nền cũ. ?rước chùa còn có một tấm bia đặt trên lưng rùa và một cột đá cao khoảng 5m, bề ngang một cạnh khoảng 1,6m, có chạm nổi đôi rồng ngoắc đuôi nhau, đầu vươn cao, chầu một viên ngọc. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Khởi công năm 1086 và hoàn thành năm 1094, chùa Dạm (Nam Sơn, Quế Võ, Bắc Ninh) là một công trình đồ sộ, uy nghiêm, nằm dựa vào sườn ngọn núi cao nhất trong dãy Lãm Sơn, trên bốn lớp nền dài 120 m, rộng 70 m ghép bằng đá. Không chỉ nổi tiếng bởi kiến trúc hài hòa, hội đủ huyết mạch linh thông theo thuyết phong thủy, chùa Dạm còn nổi tiếng bởi những tác phẩm điêu khắc tài ba, bao hàm tư tưởng thâm thúy, cao siêu của người Việt, vốn được xem là những tác phẩm mở đầu cho nghệ thuật tạo hình tượng đài hoành tráng ở Việt Nam.

Xứ Kinh Bắc là một trong những trung tâm Phật giáo cổ xưa và lớn nhất ở Việt Nam. Trải qua nhiều thế kỷ, mỗi triều đại lại tu bổ hoặc xây mới một số công trình chùa chiền, đền tháp. Vương triều Lý - một vương triều hiển hách về võ công văn trị và rất sùng mộ đạo Phật, tôn đạo Phật là quốc giáo, đã để lại nhiều dấu tích lịch sử làm vẻ vang nền văn hóa dân tộc.

Chùa Dạm (thuộc xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh) là danh lam thắng cảnh điển hình.

Căn cứ vào các thễ tịch cổ, chùa Dạm được Vua Lý Nhân Tông (1072-1127) cho xây dựng vào năm Quang Hựu thứ 2 (1086). Để tiện vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ công trình, vua cho đào ngòi Con Tên từ chân núi Lãm Sơn chạy thẳng ra sông Đuống. Năm 1087, "Vua ngự đến chùa Lãm Sơn, đến đêm ban yến cho các quan. Vua làm 2 bài Lãm Sơn dạ yến". Công trình làm trong 9 năm mới xong. Vua ban tên chùa là Cảnh Long Đồng Khánh, lại thân đề biển bằng chữ Triện.

Năm Long phù nguyên hóa thứ 5 (1105), vua Lý Nhân Tông cho xây thêm ba tháp đá nữa. Chùa làm xong (1094), Vua ban 300 mẫu ruộng tự điền để nhà chùa có hoa lợi hương khói và 7 gia đình ở mé dưới núi được giao việc chuyên đóng - mở cửa chùa.

Nếu như chùa Phật Tích ở dãy Nguyệt Hằng (huyện Tiên Sơn) gần đấy có 300 gian, có tòa nhà đá, bảo tháp nhiều tầng, giếng rồng, ao rồng... thì các công trình kiến trúc của chùa Dạm hẳn là vượt xa hơn thế. Nguyên do: sau chiến thắng lẫy lừng chống Tống trên phòng tuyến sông Cầu khẳng định nền độc lập tự chủ Đại Việt, Nhà Lý có xu hướng chấn hưng văn 

hóa dân tộc đồng thời phát triển mạnh kinh tế đất nước. Vì vậy hàng loạt chùa chiền ở Kinh Bắc nơi phát tích triều Lý càng được quan tâm. Rút kinh nghiệm xây dựng đồ sộ chùa Phật Tích trước đó ít lâu, chùa Dạm được dựng huy hoàng hơn.

Về sự bề thế của chùa Dạm, dân gian đã lưu truyền qua câu ca: "Mười lăm trăng náu, mười sáu trăng treo, mười bảy phẩy giường chiếu, mười tám đóng cửa chùa Dạm", có nghĩa là cứ sau ngày rằm người ta đóng cửa chùa, bắt đầu từ xẩm tối đến lúc trăng lên cao mới đóng hết tất cả các cửa.

Kiến trúc sư và các nhà điêu khắc xưa đã khéo tổ chức không gian một cách hợp lý để nhân gấp bội giá trị - vẻ đẹp công trình và biểu đạt ý niệm triết - mỹ á Đông.

Chùa đặt ở sườn núi phía nam của dãy Lãm Sơn, chính giữa ngọn cao nhất. Núi Rùa làm tiền án, ngòi Con Tên làm Minh Đường bên tả có Thanh Long, bên hữu có Bạch Hổ chầu về. Chùa Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông theo thuyết phong thủy.

Chùa dựa hẳn vào sườn núi và 4 lớp nền đá trườn theo sườn núi vừa tôn tầm cao công trình vừa tạo dáng vẻ uy nghiêm, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên chung quanh. Hơn nữa tránh được nạn lụt lội ở vùng "rốn nước" Quế Võ lắm đồng sâu ruộng trũng. Chiều dài của lớp nền 120 m, rộng 70 m (chùa Phật Tích là 100 m và 60 m). Tổng cộng diện tích gần 8.000 m2. Bốn lớp nền được bó ghép bằng đá tảng (mỗi viên có kích thước 50x60 cm). Các lớp đá được cấu tạo choãi chân đế, chếch khoảng 70 độ, và có độ cao 5-6 m. Mỗi cấp giật lùi vào khoảng 1,5 m làm tăng sự ổn định, vững chắc của nền. Đường lên xuống mỗi lớp nền khá rộng (khoảng 25 bậc đá).

Lớp nền thứ nhất gọi là "bãi hội", hằng năm cứ đến mồng 8 tháng 9, nhân dân ba thôn (Triều, Trung, Trị) và 18 xã thuộc huyện Võ Giàng cũ tổ chức lễ hội và vui chơi ở đây. Còn 3 lớp nền phía trên dựng các cụm kiến trúc lộng lẫy, nguy nga (điện đường, long vũ, bảo tháp...).

Vua Trần Nhân Tông (1258-1308) từng về thăm và có làm bài thơ Đại Lãm Thần quang tự ca ngợi quần thể di tích này:

"Thần Quang tự kiểu hứng thiên u
Sanh thỏ phi ô thiên thễợng du
Thập nhị lâu đài khai hoa trục
Tam thiên thế giới nhập thị màu".

Tạm dịch:

"Chùa Thần Quang vắng vẻ, cảnh vật có nét hứng thú u nhã riêng
Mặt trời lặn, mặt trăng lên như ngao du giữa bầu trời
Mười hai tòa lâu đài mở ra tranh vẽ
Ba ngàn thế giới nhập vào đôi mắt nhà thơ"

Hơn bốn thế kỷ sau, nhà bác học nổi tiếng Lê Quý Đôn đã qua đây, miêu tả:

"Toàn vân lục tính tham thiên thụ
Bàn lĩnh thanh hoàn thập lục hương"
Tạm dịch:

"Ba ngàn thông tám vờn mây biếc
Mười sáu làng xanh rợp núi non".

Không chỉ có công trình kiến trúc quy mô, chùa Dạm còn độc đáo bởi nghệ thuật tượng đài hoành tráng. Trên lớp nền thứ hai của chùa, thời Lý đã dựng tượng đài. Khu bên phải (của chùa) hình vuông, mỗi chiều 7 m, cao 2 m đều kè đá đục chạm rất sâu hoa văn sóng nước (kiểu thức thời Lý). Khu đất bên trái (của chùa) hình tròn đường kính 5 m, cao 1 m. Ngay giữa khu đất hình tròn có một cột biển bằng đá nhám liền khối cao 5 m (không kể phần ngọn bị gãy). Cột biển ấy gồm hai phần: khối hộp vuông ở dưới làm đế (gắn sâu vào lớp lối đá mạ của núi), khối trụ tròn ở trên (có đường kính 1,5 m). Đoạn dưới của khối trụ tròn chạm nổi đôi rồng đuôi giao nhau, thân hình uốn lượn mềm mại quanh cột, đầu nghểnh cao cùng chầu vào viên ngọc tỏa sáng. Đầu rồng có mào lửa bốc lên, chân rồng năm móng nhọn sắc. Bộ đài là ba vòng tròn chạm hoa văn sóng nước (sóng xô, sóng cuộn).

Hai hình tròn và vuông ở lớp nền thứ hai tượng trưng Vũ Trụ theo quan niệm người xưa: "Trời tròn-đất vuông". Cột đá khổng lồ là biểu tượng Linga (sinh thực khí) thể hiện ước vọng mưa thuận gió hòa, vạn vật phồn thịnh, sinh sôi nảy nở của cư dân Việt chuyên canh lúa nước.

Việc chọn cột đá lớn nguyên khối (loại đá nhám bản địa) để làm Linga và chạm đá thành nhiều vòng sóng nước để làm Yoni chứng tỏ trình độ phân thạch, trình độ điêu khắc tài ba đồng thời cũng bao hàm tễ tưởng thâm thúy, cao siêu của tổ tiên người Việt.

Với những công trình ở chùa Dạm, có thể coi vương triều Lý là vương triều mở đầu cho nghệ thuật kiến trúc và tạo hình tượng đài hoành tráng của quốc gia Đại Việt.

Cột biển - tượng đài hoành tráng ở ngoài trời (tồn tại hơn 9 thế kỷ) đã trở thành niềm tự hào của nền điêu khắc Việt Nam. Nhiều nghệ sĩ đã say mê chiêm ngưỡng cột biển đó in bóng ấn tượng, kỳ ảo vào núi non, đồng ruộng sông ngòi ở các thời điểm khác nhau khi mặt trời chiếu rọi. Không phải ngẫu nhiên mà cột biển chùa Dạm được gia công thành phiên bản đặt tại sân Viện bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

"Của thiêng còn một chút này", đó là những bức tường đá ở các tầng nền, là cột biển, là Yoni và những chân cột đá tảng lớn (75cmx75cm chạm hình hoa sen) còn sót lại ở chùa Dạm. Nhưng tiếc thay những di vật quý báu ấy đang bị rơi vào tình trạng hoang phế, xuống cấp thảm hại. Việc tu sửa tùy tiện, chắp vá thô kệch hiện nay đã "giết chết" vẻ đẹp và giá trị của những tác phẩm điêu khắc "độc nhất vô nhị" nơi đây. Đáng lẽ phải kè lại những tầng nền cho vững chắc ở ngay chỗ dựng cột biển và dọn sạch cỏ dại xung quanh thì người ta lại đổ bốn cột bêtông cốt thép và định lắp mái lên trên cột biển. Hành động ấy đã vô tình hủy hoại một tuyệt tác của dân tộc.

Các bức tường đá cũng bị bạch đàn "vây bủa", che khuất. Tại sao ở chốn danh lam cổ tích như chùa Dạm, cơ quan văn hóa tỉnh Bắc Ninh không đầu tư vào hướng dẫn địa phương xã Nam Sơn trồng thông, trúc hoặc cây cảnh để tạo khuôn viên đẹp đẽ cho quần thể di tích đặc biệt này?

Chẳng còn bao lâu nữa Việt Nam sẽ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, chùa Dạm là một điểm văn hóa - du lịch trong lộ trình lịch sử, mong sao Bộ Văn hóa và chính quyền cũng như cơ quan chức năng tỉnh Bắc Ninh nên sớm có kế hoạch đầu tư tu bổ một cách khoa học và thích đáng để khôi phục diện mạo hoành tráng cho công trình thời Lý.  

CHÙA HÀM LONG



Chùa tọa lạc ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc. Chùa được xây dựng vào thời Lý, tương truyền đây là nơi tu hành của Thiền sư Dương Không Lộ. Sách "Việt Nam Phật giáo sử luận II" (Hà Nội, 1994) có nói đến Thiền sư Như Trừng tự Lân Giác hiệu là Cứu Sinh, đệ tử của Thiền sư Chân Nguyên. Ông tu tại chùa Liên Tông (sau đổi là Liên Phái), Hà Nội. Ông có lập thêm chùa Hộ Quốc (Thọ Xương) và chùa Hàm Long (Bắc Ninh). Trước khi mất, ông đã chỉ định Thiền sư Tính Ngạn trụ trì chùa Hàm Long, Thiền sư Tính Dược trụ trì chùa Liên Tông, trung tâm của hệ phái do ông thành lập. Chùa được trùng tu nhiều lần. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Ơở điện Phật có 4 pho tượng bằng đồng: tượng đức Phật Thích-ca (cao 2,10m), tượng A-nan và Ca-diếp (cao 1,86m), tượng Hoàng hậu Ma-gia (cao 1,58m) được đúc tại địa phương khoảng 50 năm nay. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA LINH CẢM



Chùa thường được gọi là chùa Bách Môn, tọa lạc ở thôn Long Khám, xã Việt Đoàn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. Chùa được dựng từ thời Lý đã được trùng tu nhiều lần. Ngôi chùa mới hiện nay được xây dựng vào năm 1992. Theo sách Mỹ thuật của người Việt (Hà Nội, 1989), còn tồn tại đến những năm 1947-1948, đây là ngôi chùa hiếm có đầy tính hoành tráng xây trên núi Khám Sơn. Chùa có mặt bằng hình vuông, bàn thờ Phật bày bốn phía hình chữ thập với một hệ thống tượng dày đặc của thế kỷ XVII. Chùa đã đại trùng tu vào những năm 1556, 1612. Đến thời Trịnh Sâm (1767-1782), bà Chúa Chè Đặng Thị Ngọc Huệ tổ chức kiến thiết quy mô theo quy cách trăm cửa mở ra bốn phía bên ngoài. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA LINH ỨNG



Chuà thường gọi là chùa Ngọc Khám, tọa lạc ở thôn Ngọc Khám, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Chùa được dựng vào thời Trần. Ngôi chùa hiện nay được dựng trên nền chùa cũ vào năm 1986, ở điện Phật còn ba pho tượng Phật bằng đá xanh là những di tích cổ. Sách Địa chí Hà Bắc (Hà Bắc, 1982) cho biết ba pho tượng đá ở chùa là công trình nghệ thuật của thời Trần còn lại. Sách Mỹ thuật của người Việt (Hà Nội, 1989) khẳng định niên đại muộn nhất của ba pho tượng là thế kỷ XV. Những mô-típ chạm khắc trên ba bệ tượng như rồng, hoa sen, hoa cúc, dương xỉ có xu hướng cấu trúc như các chạm khắc trang trí Lý - Trần. Hiện nay có tài liệu gọi ba pho tượng là bộ Di-đà Tam Tôn (Di-đà, Quan Âm, Thế Chí), có tài liệu gọi là bộ tượng Tam Thế Phật (Di-đà, Thích-ca, Di-lặc) : tượng Phật Di-đà cao 2,30m (phần tượng 1,37m), tượng Phật Thích-ca cao 2,39m (phần tượng 1,37m) và tượng Phật Di-lặc cao 2,49m (phần tượng cao 1,40m). Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia

CHÙA NINH PHÚC (CHÙA BÚT THÁP)



Chùa thường gọi là chùa Bút Tháp, tọa lạc bên đê sông Đuống, thuộc xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Theo sách Địa chí Hà Bắc (Hà Bắc, 1982) thì chùa có từ đời Vua Trần Thánh Tông (1258-1278) khi Thiền sư Huyền Quang (đỗ Trạng nguyên năm 1297) đến trụ trì ở đây. Ông đã cho dựng ngọn tháp đá cao 9 tầng có trang trí hình hoa sen. Đến thế kỷ XVII, Thiền sư Chuyết Chuyết trụ trì chùa, ông viên tịch năm 1644. Năm đó Công chúa Diệu Tuệ (Lê Thị Ngọc Duyên) và Hoàng hậu Diệu Viên (Trịnh Thị Ngọc Trúc) đã đến tu tại đây. Vị sư trụ trì lúc này là Minh Hạnh (1644-1659). Năm 1646, Chúa Trịnh Tráng đã ra lệnh cho xây lại chùa. Chùa kiến trúc theo kiểu "Nội Công Ngoại Quốc", gần 10 ngôi nhà với 162 gian. Bên phải có ngọn tháp đá Báo Thiên cao hơn 13m, phía sau có ngọn tháp Tôn Đức cao khoảng 10m. Chùa còn giữ những tác phẩm điêu khắc tiêu biểu của nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam, như bảo tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn, tượng Tây Thiên Đông Độ Việt Nam lịch đại tổ vv... cùng 91 bức chạm khắc đá ở tòa thượng điện, lan can, tường tháp... lấy đề tài trong cuộc sống hiện thực. Chùa được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915-1921 và hiện nay 1992-1996. Đây là ngôi chùa có kiến trúc quy mô, hoàn chỉnh nhất còn lại ở nước ta. (Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA DÂU



TTO - Chùa Dâu tên chữ là Pháp Vân tự, Diêu Ứng tự hay Cổ Châu tự, thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. 

Chùa nằm ở trung tâm của khu di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu và phong phú bậc nhất của quê hương Kinh Bắc. Nơi đây bao gồm thành cổ Luy Lâu, đền thờ và văn mộ Sĩ Nhiếp, hệ thống chùa tháp, dấu tích đền đài, dinh thự, đường xá, bến bãi, phố chợ, hàng trăm mộ táng, lò gạch ngói, gốm cổ… làm chứng tích một thời kỳ dài hàng chục thế kỷ trước và sau Công nguyên. 

Nơi đây từng là thủ phủ của quận Giao Chỉ, sau là Giao Châu - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của nước ta. 

Những tài liệu, cổ vật còn lại ở chùa Dâu, đặc biệt là bản khắc “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh”, có niên đại 1752 cùng kết quả nghiên cứu về lịch sử Phật giáo VN của các nhà sử học và Phật học đã khẳng định chùa Dâu là tổ đình của Phật giáo VN xuất hiện cách đây khoảng 1800 năm.

Vào đầu công nguyên, các tăng sĩ Ấn Độ, tiêu biểu là Khâu Đà La, đã tới vùng Dâu - tức Luy Lâu, tiến hành truyền bá đạo Phật, lập nên trung tâm Phật giáo Luy Lâu - một trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất VN. 

Chùa tháp được xây cất nguy nga bên cạnh thành quách, đền đài, cung điện, lầu gác, bến bãi, phố chợ sầm uất của đô thị Luy Lâu, trong đó chùa Dâu là một trung tâm trong hệ thống các chùa thờ Phật và thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) - một nét độc đáo trong sự kết hợp giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian của người Việt ở vùng Dâu. 

Chùa Dâu trở thành trung tâm của Thiền phái Tì -ni -đa -lưu -chi, nơi trụ trì của nhiều cao tăng VN, Ấn Độ và Trung Quốc đến để nghiên cứu, biên soạn, phiên dịch kinh Phật, đào tạo tăng ni. 

Thời Lý -Trần, chùa Dâu được trùng tu mở rộng với quy mô lớn mà người có công đầu là trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Vua quan, các cung tần mỹ nữ các triều đại thường lui tới thăm chùa, lễ Phật, cầu đảo, cầu tự. 

Lễ hội chùa Dâu hàng năm vào ngày tám tháng tư âm lịch- ngày kỷ niệm Phật mẫu Man Nương sinh hạ nữ nhi. Đây cũng là một trong những lễ hội Phật giáo lớn của vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. 

Trải qua bao biến động lịch sử, thành lũy, đền dài, dinh thự của trung tâm Luy Lâu bị hoang phế. Nhưng chùa Dâu với tháp Hòa Phong vươn cao và hàng trăm gian chùa cổ kính vẫn tồn tại với thời gian. 

Đặc biệt, ngôi tháp Hòa Phong 3 tầng vươn cao, hệ thống tương Pháp Vân (tức bà Dâu), kim đồng ngọc nữ, tượng Mạc Đĩnh Chi, các ngai thờ, tương Thạch Quang, bia đá… là những di sản nghệ thuật quý và tiêu biểu của thời Lê. Đáng chú ý là bộ khắc ván “Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh” là nguồn sử liệu đặc bịệt quan trọng giúp cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo VN.

Chùa Dâu



Chùa Pháp Vân thường được gọi là chùa Dâu, tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa Pháp Vân cùng các chùa Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện hợp thành chùa Tứ Pháp. Ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần: chùa Pháp Vân thờ Bà Dâu, chùa Pháp Vũ thờ Bà Đậu, chùa Pháp Lôi thờ Bà Dàn, chùa Pháp Điện thờ Bà Tướng. Chùa được xây dựng từ đầu công nguyên ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu, là một trung tâm Phật giáo Việt Nam xưa nhất. Từ cuối thế kỷ VI, Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci), người Nam Âởn Độ, đã mở đạo tràng thuyết pháp tại chùa, lập nên Thiền phái đầu tiên ở Việt Nam. ởChùa đã được Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đứng ra dựng lại với quy mô lớn vào thế kỷ XIV và được trùng tu nhiều lần ở các thế kỷ sau. Ơở tòa thượng điện, còn một số mảng chạm khắc của thời Trần, thời Lê. Chùa có tháp Hòa Phong nổi tiếng, tương truyền có 9 tầng, nay chỉ còn 3 tầng, được đại trùng tu vào năm 1737. Chùa Pháp Vân là một danh lam bậc nhất của xứ kinh Bắc xưa nay, được xem là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Ấn Tượng Chùa Dâu

Gần hai ngàn năm biến dịch với bao lần đổi thay, tu tạo có lẽ bây giờ cảnh quan chùa Dâu đã khác xưa nhiều. Nghe nói, trước đây con đường vào chùa đẹp lắm. Qua tam quan đồ sộ và bãi đất rộng nằm giữa hai dãy ao dài in bóng chiếc cầu chín nhịp có mái lợp, kiểu nhà cầu cổ ta còn thấy ở Hội An và một số nơi khác, khách bộ hành vào chùa dâng hương thờ Phật. Đây là ngôi chùa được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam, ngay từ thế kỷ thứ II sau Công nguyên. 

Cũng như nhiều chùa chiền trên đất Việt, chùa Dâu được cất theo kiểu nội công ngoại quốc, một kiểu kiến trúc á Đông truyền thống. Bốn dãy nhà liên thông hình chữ nhật bao quanh ba ngôi chính: Tiền đường, Thiện hương và Thượng điện. Hậu đường xưa giờ không còn nữa, nhưng khách thăm chùa vẫn còn được chứng kiến bốn mươi tễ gian nhà oản hai bên tả hữu. Giữa sân chùa trải rộng là cây tháp Hòa Phong. Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Thời gian đã lấy đi sáu tầng trên của tháp, nay chỉ còn ba tầng dưới nhưng vẫn uy nghi, vững chãi thế đứng ngàn năm. Dấu vết xưa nhất còn lại của ngôi chùa được khảo cổ học xác định là từ đời Trần, đợt tu bổ lớn nhất là vào năm 1313, đời vua Trần Anh Tông.

Theo nghiên cứu sử học, chùa Dâu với nhiều tên gọi: Diên ứng tự, Pháp Vân tự, Thiền Đình tự, Cổ Châu tự...có thể ra đời đồng thời với truyền thuyết Man Nương, một trong những mã khóa mở vào tầng sâu của văn hóa Kinh Bắc. Vậy nên, hợp với chùa tổ Man Nương là cả một quần thể những chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Tướng, chùa Dàn thờ tứ pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Là nơi giao lưu của hai luồng văn hóa Phật giáo, một từ ấn Độ sang, một từ phương Bắc xuống, nơi đây từng là nơi "kinh đô" của Phật giáo Việt Nam hơn mười thế kỷ đầu; với nhiều nhà sư nổi tiếng, với hội tắm Phật mùng tám tháng tễ hàng năm:
 
Dù ai buôn bán trăm bề
Nhớ ngày mùng tám thì về hội Dâu.

Một trong những ấn tượng khó có thể quên được ở nơi đây là những pho tượng thờ. Tượng Pháp Vân uy nghi, trầm mặc, màu đồng hun. Gương mặt đẹp với nốt ruồi to đậm giữa trán gợi liên tưởng tới những nàng vũ nữ ấn, tới quê hương Tây Trúc, nơi cội nguồn của tễ tưởng thiện căn, của đức Từ - Bi - Hỉ - Xả. Tượng Pháp Vũ với những nét thuần Việt, đức độ, cao cả. Đặc biệt hai pho tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ đặt hai bên điện thờ chính gợi nhớ tới những cô thôn nữ của miền quê quan họ nơi này. Dáng người thắt đáy lưng ong uyển chuyển, vành khăn vấn trên đầu bình dị và mềm mại, chiếc áo tứ thân mớ ba mớ bảy với dải lụa đào thướt tha... Cha ông ta đã rất tinh tế, nhuần nhị khi đặt tượng thờ Kim Đồng, Ngọc Nữ. Về đây, ta gặp sự giao hòa đẹp đẽ giữa tễ tưởng Phật giáo chính thống, một dạng thức văn hóa tinh thần ngoại nhập, với tâm linh, tinh thần bình dân, thuần phác. Ta cũng lại thấy ở đây một minh chứng rõ nét cho quá trình tiếp biến văn hóa, sự Việt hóa những giá trị tinh thần khi nhập nội.

Về chùa Dâu, về Thuận Thành, ta như được tắm mình trong không khí cổ xưa qua dấu ấn của nhiều tầng bậc lịch sử - văn hóa. Đây, đô thành Luy Lâu xưa bên dòng Thiên Đức gợi nhớ thời oanh liệt của Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống xâm lược Đông Hán những năm đầu thế kỷ. Đây dòng sông Dâu đã vào thơ Tố Hữu "con sông Dâu chảy về đâu, mà lơ thơ đến Luy Lâu lại dừng". Đây nữa, miền đất trù phú Keo - Dâu với tích truyện cô thôn nữ hái dâu nết na, xinh đẹp trở thành Nhiếp chính ỷ Lan tài giỏi, trông coi việc nước, giúp vua đánh giặc. Còn kia là Bút Tháp với tượng Phật Bà nghìn mắt, nghìn tay nổi tiếng; là làng tranh Đông Hồ, nơi tâm hồn dân gian dẫu hoàn cảnh nào vẫn luôn mỉm cười trên sắc vàng giấy điệp. Cạnh đó, dòng sông Đuống "ngày xưa cát trắng phẳng lỳ" giờ vẫn bình thản trôi như đã từng trôi qua những bến bờ lịch sử. Và từ chùa Dâu, ta có thể rẽ ngang thăm núi Thiên Thai hay về bên kia sông Đuống dâng hương các vị vua đời Lý tại đền Đô.

Lịch sử đã từng khẳng định vị trí của chùa Dâu trong đời sống văn hóa, tâm linh dân tộc. Ngày nay, chùa Dâu đang được Nhà nước và Giáo Hội Phật giáo Việt Nam quan tâm trùng tu, tôn tạo để xứng đáng với tên gọi"trung tâm của Phật giáo Việt Nam"nhiều thế kỷ. 

CHÙA PHÚC NGHIÊM



Chùa thường gọi là chùa Tổ, tọa lạc ở xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc. Chùa được xây dựng từ lâu đời. Chùa thờ Phật và thờ Bà Man Nương. Theo trích truyện Man Nương trong sách Chùa Việt Nam (Hà Nội, 1993) thì vào thời Sĩ Nhiếp, có một cô gái tên là Man Nương đã có thai khi nhà sư Khâu Đà La vô tình bước qua mình. Đứa bé gái mà Man Nương sinh ra đã được nhà sư đặt vào thân một cây đa. Cây đa về sau bị đổ, trôi xuống sông và dân làng đã lấy gỗ của cây tạc thành các tượng nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đem vào thờ trong bốn ngôi chùa ở vùng Dâu, tức các chùa Tứ Pháp. Có hai hội lễ ở chùa. Theo sách Từ điển Hội lễ Việt Nam (Hà Nội, 1993), ngày 17 tháng giêng, tương truyền là ngày sinh của Man Nương, là hội thi bánh dày nổi tiếng ở làng Dâu. Ngày mồng 8 tháng 4 (âm lịch) là hội lễ tắm tượng Phật Bà Tứ Pháp ở chùa Dâu. Trước và sau lễ, đều có nghi thức rước tượng các Bà về chùa Tổ bái Phật Mẫu Man Nương. Chùa đã được trùng tu nhiều lần.

CHÙA THIÊN TÂM (CHÙA TIÊU)


Chùa thường gọi là chùa Tiêu Sơn tọa lạc ở sườn núi Tiêu, thuộc xã Tương Giang, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc. Chùa được dựng từ thời Lý. Chùa là nơi tu thiền và giảng pháp của nhiều cao tăng thời Lý, như Thiền sư Vạn Hạnh. Ơở chùa có tấm bia đá cao 0,68m ngang 0,40m khắc bốn chữ: "Lý Gia Linh Thạch". Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) giới thiệu chùa này xưa là nơi trụ trì của Thiền sư Vạn Hạnh đồng thời cũng là nơi sinh của Vua Lý Thái Tổ. Sử xưa cho biết ở Viện Cảm Tuyền chùa Thiên Tâm có con chó đẻ con sắc trắng đốm đen thành hình hai chữ "Thiên tử" điều đó ứng với việc Vua Lý Thái Tổ sinh năm Giáp Tuất rồi lên làm vua. Chùa được trùng tu nhiều lần. Cổng chùa hiện nay được xây năm 1986. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.



CHÙA TIÊU

Dọc quốc lộ 1 A đường Hà Nội - Lạng Sơn, ai đã từng đi đâu, về đâu, nhưng chưa lấy một lần đến vãng cảnh chùa Tiêu thì thật là đáng tiếc. Trở ngại về địa lý hay eo hẹp về thời gian, nhưng chỉ cần mạnh dạn một chút, quyết tâm vượt qua các ngại ngùng trong lòng là có thể đến được chùa Tiêu.

Chùa Tiêu có tên là chùa Thiên Tâm còn gọi là Tiêu Sơn tự, chùa nằm trên lưng chừng núi Tiêu. Nay thuộc xã Tương Giang - huyện Tiên Sơn - tỉnh Bắc Ninh. Chùa Tiêu là một danh thắng nổi tiếng và cũng là - trung tâm Phật giáo cổ xưa của Việt Nam.

Những công trình còn lại của chùa Thiên Tâm (chùa Tiêu) hiện nay là sản phẩm kiến trúc nghệ thuật thời Lê - Nguyễn. Chùa Tiêu hầu như không bị ảnh hưởng bởi các biến cố lịch sử qua nhiều thời kỳ và chỉ cách thủ đô Hà Nội khoảng 20 km mà thôi.

Từ xưa, ở đây, núi bắc, sông nam sơn thủy hữu tình, con sông Tiêu Tương chảy qua bây giờ đã biến thành đồng ruộng, làng mạc trù phú. Dấu ấn một thời chỉ còn lại là một cái hồ sen dưới chân núi trước cửa chùa.

Theo bước chân du khách về chốn này, dưới bóng cây xanh mát rượi, ta bước lên từng bậc gạch. Ta đang lần tìm đến nơi phát tích của một triều đại phát triển toàn diện và một quốc gia phong kiến độc lập: triều nhà Lý.

Trước mắt ta, trên sân lữ khách dừng chân, cũng là đường dẫn đến chùa chính nhà thờ tổ, hiển hiện một nhà bia mới dựng. Thành kính thắp nén hương, trân trọng xem câu đối trên cột nhà bia viết bằng chữ Hán:

"Lý gia linh tích tồn bi kỷ

Tiêu Lĩnh danh kha đắc sử truyền"

(Dẫu thiêng nhà Lý còn bia tạc

Danh thắng non tiên có sử truyền).

Mặt chính của tấm bia khắc chữ Hán Nôm:

"Lý gia linh thạch". Mặt sau bia quay vào phía núi khắc chữ Hán nhỏ. Theo ông Nguyễn Công Nha người làng Đình Bảng tạm dịch như sau:

"Chùa Thiên Tâm có Lý Vạn Hạnh (là người trụ trì tăng viện người làng Cổ Pháp (nay thuộc làng Đình Bảng - huyện Tiên Sơn - tỉnh Bắc Ninh).

Đặc biệt, sườn đông bên tả ngạn sông Tiêu Tương có bà Phạm Mẫu người ở Hoa Lâm, lên chùa đèn nhang gặp người thần ngẫu nhiên có thai, rồi sinh ra Lý Công Uẩn tại tam quan chùa ứng Tâm hương cổ pháp còn gọi là chùa Dân thuộc xã Đình Bảng ngày nay...".

Trong Đại Việt sử ký toàn thễ có ghi việc này:

"Thái tổ Hoàng đế họ Lý, tên húy là Công Uẩn người châu Cổ Pháp. Mẹ họ Phạm đi chơi chùa Tiêu Sơn cùng với người thần... Có chửa sinh vua ngày 12/2 năm Giáp Tuất, niên hiệu thái bình năm thứ năm (974) thời Đinh. Mới ba tuổi... Sư Khánh Văn nhận làm con nuôi, bé đã thông minh vẻ người tuấn tú khác thường, lúc nhỏ đi học nhà sư Vạn Hạnh thấy khen rằng "đứa bé này không phải người thễờng, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy cơ, gỡ rối làm bực minh chủ trong thiên hạ".

Nói về chùa Tiêu là nói đến Thiền sư Vạn Hạnh. Bởi lẽ chùa Tiêu là chốn tu thiền giảng đạo của nhiều bậc cao tăng trong đó sư Vạn Hạnh là người trụ trì.

Thiền sư Vạn Hạnh là một con người tài năng: về đạo thì "linh thông tam pháp cửu lễu" còn binh pháp thì thuộc lòng binh pháp của Tôn Tử "Vũ".

Do có công lao cố vấn cho triều tiền Lê và Lý, Thiền sư Vạn Hạnh được suy tôn là quốc sư, hiện nay trong chùa Tiêu còn bài vị thờ sư tổ:

"Lý triều tể tướng Thiền sư Vạn Hạnh vị".

Sư thần Ngô Sĩ Liên thừa nhận: "Mắt trông thấy Lý Thái Tổ biết là người khác thường, đến khi thấy sét đánh thành vết chữ thì đoán ngay thời thế thay đổi, như thế là có trí thức vượt người thường".

Nghe các cụ Đình Bảng kể rằng: Thiền sư Vạn Hạnh sinh ra trong một gia đình đại thế tộc, nhiều đời làm quan. Gặp thời loạn thập nhị sứ quân không biết đâu chính, đâu tà đành thành tâm tu luyện đợi thời cơ xoay chuyển thế cuộc. SưLý Khánh Văn, sư Lý Vạn Hạnh là hai anh em ruột. Lý Khánh Văn có công nuôi dưỡng. Lý Vạn Hạnh có công dạy dỗ đào tạo và huấn luyện người "lãnh đạo" quốc gia. Họ đều là những cao tăng có kiến thức uyên bác. Năm 1018 Thiền sư Vạn Hạnh không ốm đau bệnh tật gì mà mất, người thời ấy đã truyền lại rằng ngài đã hóa thân.

Vào thập kỷ 90, nhân dân xã Tương Giang, nhà chùa Tiêu Sơn và những người hảo tâm đã đóng góp công sức xây dựng tượng Thiền sư Vạn Hạnh trong tưã thế thiền sừng sững giữa đỉnh Tiêu Sơn.

Cảnh đấy, người đây đã tạo cảnh quan xứ này thêm trang trọng và bề thế.

Đến thăm chùa Tiêu, đọc lại 10 điều tâm niệm của người xưa, để tưởng nhớ suy ngẫm, học hỏi những gì tốt đẹp về đạo đức lẽ sống, cách làm người, âu cũng là để cho lòng ta thanh thản, cho trí óc ta trong sáng hơn. Đồng thời ta cũng biết thêm một di tích lịch sử và nghệ thuật được Nhà nước công nhận.

CHÙA VĨNH NGHIÊM



Chùa thường gọi là chùa Đức La, tọa lạc ở thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Hà Bắc. Chùa được dựng vào thời Trần, là một trung tâm lớn của Phật giáo Việt Nam. Chùa từng là nơi thuyết pháp của Trúc Lâm Tam Tổ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang) và là nơi đào tạo, định chức danh các tăng sĩ thời Trần. Ca dao cổ có câu: Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm, Vĩnh Nghiêm chưa tới, thiền tâm chưa đành. Kiến trúc chùa ngày nay khá bề thế với diện tích khoảng 10.000 mét vuông gồm tam quan, chùa Hộ, nhà thiêu hương, chùa Phật, nhà tổ, gác chuông hai tầng mái và nhà trai. Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) cho biết chùa có từ thời Lý, được xây dựng qui mô, sau bị binh hỏa đổ nát. Địch Vũ Hầu Nguyễn Thọ Cường hưng công tu sửa chùa vào năm 1606. Đến đầu thời Nguyễn, chùa lại được đại trùng tu: tượng Phật, tượng 3 vị tổ Trúc Lâm và nhiều bức chạm khắc có giá trị nghệ thuật được sáng tác trong lần trùng tu này. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA CHIÊU THIỀN



Chùa thường được gọi là chùa Láng, tọa lạc ở đường Láng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, cách trung tâm thủ đô khoảng 7km về phía Tây. Chùa được khởi dựng vào đời Vua Lý Anh Tông (1138-1175). Chùa thờ Phật và thờ Thiền sư Từ Đạo Hạnh (?-1117), thuộc Thiền phái Tì-ni-da-lưu-chi. Ngày 7 tháng 3 âm lịch là ngày sinh của Thiền sư đã trở thành ngày hội chùa Láng: (Trở về hội Láng, trở ra hội Thầy. Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu. Kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu vào năm 1666 và giữa thế kỷ XIX với vẻ cổ kính vẫn còn giữ được của một danh lam từ tám thế kỷ trước ở kinh thành Thăng Long. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Ngày xửa ngày xưa có ngôi chùa Láng

Tác giả bài viết này-René le Clère- là hội viên danh dự Hội Nhà văn Canada, cộng tác viên của Trung tâm nghiên cứu và hợp tác quốc tế Canada (CECI), đã đến Việt Nam dạy tiếng Pháp tại một trường cao đẳng ở Hà Nội. Theo yêu cầu của tác giả, chúng tôi giới thiệu với bạn đọc một cách nhìn của người nước ngoài đối với kiến trúc cổ và sinh hoạt tín ngưỡng ở nước ta .

Thỉnh thoảng để tránh cơn buồn ngủ buổi trưa, tôi đi lang thang đến tận chùa Láng, ở quận Đồng Đa (phía Tây Hà Nội). Giống như những ngôi chùa khác, đây là nơi để tĩnh tâm. Tín đồ phật tử tìm đến sự bình an cho tâm hồn, để cuốn hút vào việc làm từ thiện, tìm sự thanh thản, quên mình. Những người trẻ tuổi đến đây để học tập trong yên tĩnh và cầu Phật độ trì cho được điểm cao trong kỳ thi. Sinh viên trường Mỹ thuật tập vẽ ký họa.

Vào ngày rằm và mồng một hằng tháng, tín đồ Phật giáo thường đến đây. Khách du lịch cũng đến. Đôi khi ngay cả trong bóng đêm dày đặc, những người trẻ tuổi luyện tập võ thuật ở sân chùa. 

Ở Việt Nam, hầu như mỗi khu dân cư đều có những chùa thờ Phật riêng. Việc xây dựng một ngôi chùa phải đáp ứng một số điều kiện. Địa điểm phải linh thiêng, hơi cao để tránh bị ngập lụt. Thông thường quanh chùa không có dân cư sống tập trung. Chọn địa điểm cũng phải phù hợp với yêu cầu phong thuỷ, đây là khoa chọn vị trí cho một thành phố, một ngôi mộ hay một nhà ở, phải phù hợp với quy luật của vũ trụ. Khái niệm về kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên phải được kết hợp với các tiêu chuẩn thẩm mỹ, thiên văn đã được định sẵn. 

Trong khuôn viên chùa thường có một con suối hoặc một cái ao rộng hay hẹp. Có cả một cái giếng. Đôi khi có một cái ao hình bán nguyệt để tạo nên một sự thăng bằng nào đó giữa âm dương. Nên nhớ rằng trục xây dựng của chùa nói chung thường hướng về phía Nam hay phía Tây, Nam là hướng của tâm linh, Tây là hướng của an tĩnh (...).

Một chút lịch sử địa phương Chùa Láng nằm trên đất xã Láng Thượng, cách trung tâm Hà Nội khoảng 7km. Tuy gọi là chùa Láng, nhưng tên chữ là Chiêu Thiên tự, hay còn gọi là chùa Cả. Quanh khu vực đó ta thấy có Viện Quan hệ quốc tế (IRI), Trường Đại học Luật, Trường Đại học Ngoại thương, Đại học Giao thông gần sát ngay Cầu Giấy. 

Tất nhiên trong chùa có tượng Phật, nhưng đặc biệt là tượng Từ Đạo Hạnh (một trong những nhà sư nổi tiếng thời Lý, sống ở Láng, nhưng tịch ở chùa Thầy) và cả tượng vua Lý Thần Tông. Theo một số tác giả, chùa này được xây dựng từ thế kỷ XII, dưới triều Lý Nhân Tông, trên mảnh đất vốn của gia đình cha mẹ Từ Đạo Hạnh. Một số tác giả khác phản bác ý kiến này mà nói rằng ngôi nhà nơi sinh ra nhà sư là chùa Nền hiện nay (ở phía Tây Bắc chùa Láng, cách 800 bước, nghĩa là đi bộ hết 10 phút), được xây dựng trên nền nhà cũ của cha mẹ nhà sư nổi tiếng đó 

Theo một số người khác, ngày 7 tháng 3 âm lịch năm 1996, chùa kỷ niệm 900 năm tỏa sáng. Như vậy chùa được xây năm 1096. Lại có người viết rằng chùa xây dưới thời Lý Anh Tông (1135 - 1175) . Người khác còn viết rằng những kiến trúc đầu tiên được dựng lên dưới triều Lý (1010 - 1225) mà không nói cụ thể hơn 
Toàn bộ chùa ngày nay được xây lại năm 1666 , đã được trùng tu lại nhiều lần, nhất là vào giữa thế kỷ XIX và đặc biệt năm 1989, nhưng vẫn giữ lại kết cấu xưa.

Trong những bia của chùa, đáng chú ý nhất là tấm bia lập năm 1656. Về mặt nghệ thuật và kiến trúc, đáng lưu ý là hai chiếc cổng đồ sộ và ngôi đình bát giác. 

Hãy đi theo người hướng dẫn 

Phải đi tìm những mái nhà ẩn dưới các tán cây cổ thụ rậm rạp. Khuôn viên của chùa là một hòn đảo yên tĩnh, biệt lập, xa cách cái ồn ào chốn thị thành. Không có nhà gác với lầu cao và lan can chạm trổ, không có những nóc nhọn thếp vàng chọc thẳng lên trời. Ngôi chùa này hòa lẫn vào cảnh quan, bao quanh có những ruộng rau, là nơi được coi là đẹp nhất của thủ đô Việt Nam.

Nếu khách hành hương hay tham quan đến từ đại lộ vành đai Láng chạy dọc sông Tô Lịch (xưa kia buôn bán tấp nập, trên bến dưới thuyền), thì phải đi qua cổng chùa đồ sộ, tiếc rằng đang bị đổ nát. Một con đường đất, hai bên có những ngôi nhà nhỏ, dẫn đến ngôi chùa cách khoảng 350 bước chân người lớn.

Người tinh mắt sẽ nhận thấy bên vệ đường hai tấm bia nhỏ bằng xi măng khuất trong bụi cây và hoa lá, trước khi đến cổng chùa. Tấm bia ghi bằng chữ Hán, nhắc nhở người qua đường phải ngả nón, xuống ngựa, biểu thị sự tôn kính đối với thần Phật! Hai tấm bia đó nằm bên phải và bên trái cổng chính vào chùa, tấm thứ nhất cách 100 bước về phía sông Tô Lịch, tấm thứ hai cách 80 bước về phía Viện Quan hệ quốc tế. 

Hai con voi đắp bằng vôi vữa nằm phủ phục bên phải và bên trái cổng tam quan, có mái che, yên bình chờ đợi nhà vua trở lại cầu nguyện trong chùa (...). 

Vườn, gác chuông, tượng... 

Tận phía sau chùa, có một mảnh vườn với hai gác chuông thấp. Một treo chuông, một treo khánh. Thỉnh thoảng các nhà tu hành đọc kinh và điểm bằng những tiếng chuông, đánh bằng vồ bằng gỗ.Trong một cái chậu đá giống như chiếc hòm thế kỷ XII của Pháp (đáng tiếc là ngày nay đã được làm lại bằng xi măng), người ta đốt tiền giấy, đốt những lá sớ viết chữ Nho, để cúng cho những người đã trở về với tổ tiên. 

Rồi còn có nhà thờ tổ, bên trong có tượng thờ Mẫu (Mẫu thiên, Mẫu địa, Mẫu thủy), với nhiều pho tượng đẹp. Ở đây có rất nhiều bát hương. Sự hiện diện của Mẫu, một tín ngưỡng dân gian Việt Nam, được các nhà sư chấp nhận đưa vào chùa để không xâm phạm đến truyền thống tín ngưỡng bản địa. 

Cuối cùng có một ngôi nhà cất giữ nhiều gươm giáo và 13 tấm bia khắc chữ Nho. Đấy là những bia gì? Những bài văn bia có nói đến sự kiện gì quan trọng không? Không ai biết chính xác. Bên ngoài có một hồ nước nhỏ, hình tròn, có tường thấp bao quanh. Mặt hồ nổi lên những bông sen nở rộ. 

Phía sau chùa, du khách còn phát hiện thêm nhiều loại cây (như tre, chuối, cây hoa đạị..), đấy là khu vườn tháp mộ, với mười ngôi mộ các vị cao tăng, mà tiếc thay nhiều bài minh trên mộ đã bị xoá mờ. Nếu không làm gì bây giờ thì ngày mai ai còn biết được những vị cao tăng đó là ai và công tích các vị đó như thế nào.

Vào những ngày rằm và mồng một, tín đồ và du khách, gồm cả trẻ già, đến chùa rất đông để cầu nguyện, cúng lễ. Bên trong điện thờ, một không khí thích hợp với việc tĩnh tọa, các tín đồ đi từ ban thờ này đến ban thờ khác, cắm những nén hương (bao giờ cũng là số lẻ) lên những bát hương nhỏ. Không có tiếng ồn ào, sự yên tĩnh trang nghiêm luôn được tôn trọng. Những ngày hội lễ, nhất là vào những ngày đầu năm âm lịch, cạnh cổng tam quan người ta bày bán hàng vàng mã, giấy bạc giả đô la Mỹ hay tiền địa phương, để cúng cho tổ tiên đã khuất. Đấy là tục lệ. 

Khách tham quan có lẽ sẽ ngạc nhiên, chùa Láng không phải là nơi tu hành của các vị tăng. Chỉ có các ni sư. Tất cả có 5 vị do một sư bà đứng đầu. 

Buổi tối, khi thành phố Hà Nội đã yên nghỉ trong không khí nóng bức, từ bên ngoài chùa, người ta nghe thấy tiếng đọc kinh nhịp nhàng, thỉnh thoảng điểm những tiếng mõ tiếng chuông...

Đi thăm chùa Láng đem lại cho ta một niềm mê say. Các phật tử và du khách sẽ ngạc nhiên vì bố cục hài hòa và cân đối của tổng thể các dãy nhà, đem lại cho nó một vẻ đẹp kiến trúc vừa rộng lớn nhưng đơn sơ. Sự thanh thản của nơi đây chỉ có thể làm nảy sinh những tình cảm tốt lành.   

CHÙA ĐẠI BI (KIM LIÊN)



Chùa thường gọi là chùa Kim Liên, tọa lạc ở xã Quảng An, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng trên một dãi đất ven hồ Tây về phía Bắc, sát chân đê Yên Phụ. Xưa kia, đây nguyên là chùa Đống Long dựng từ thời Trần trên nền cũ của cung Từ Hoa có từ thời Lý.
Năm 1639, chùa được đại trùng tu và mang tên chùa Đại Bi. Năm 1771, Chúa Trịnh Sâm cho dời chùa Bảo Lâm về tu bổ chùa Đại Bi và đổi tên là chùa Kim Liên. Vào năm 1792, chùa lại được đại trùng tu, mang dấu ấn kiến trúc nghệ thuật thời Tây Sơn. Từ năm 1983 đến 1987, chùa được trùng tu, vẫn giữ kiến trúc ngôi chùa cổ hơn 200 năm trước. 

CHÙA ĐẠI DƯƠNG SÙNG PHÚC



Chùa thường được gọi là chùa Sủi hay chùa Phú Thị, tọa lạc ở xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Lý. Ngôi chùa hiện nay còn giữ được nhiều di tích của thế kỷ XVII, XVIII, XIX như bộ tượng Tam Thế Phật (tượng gỗ phủ sơn, cao 1,15m), các mảng chạm rồng ở vì kèo, khánh đá, bia đá, đại hồng chung... Ở chùa có điện thờ Bà Ỷ Lan Nguyên phi. Chùa tọa lạc ở xã Phú Thị là quê hương của nhiều nhà khoa bảng, nhiều nhà văn thơ nổi tiếng như : Nguyễn Huy Cận (1728- 1780), Nguyễn Huy Lượng (thế kỷ XVIII), Cao Bá Quát (1808-1854)... Chùa có một không gian thoáng đãng hòa hợp với kiến trúc cổ tạo sự đa dạng trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Chùa kiến trúc theo kiểu chữ "Tam" với 3 nếp nhà: chùa Thượng, chùa Trung, chùa Hạ xếp song song. Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Đặc biệt là cổng tam quan, một kiến trúc bằng gỗ độc đáo với những mảng chạm khắc tinh xảo. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận làDi tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA ĐẠI PHÚC



Chùa thường được gọi là chùa Ngọc Trục, tọa lạc ở thôn Ngọc Trục, xã Đại Mỗ, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, cách trung tâm thành phố 17km về phía Tây. 
Chùa được dựng từ thời Hậu Lê và được trùng tu nhiều lần. Lần trùng tu mới nhất vào năm 1947 do Sư cụ Thích nữ Đàm Nhâm tổ chức. Ngôi chùa ngày nay vẫn còn mang một giá trị lớn về kiến trúc nghệ thuật. Từ ngoài vào, chùa có các công trình sau: cổng tam quan (còn gọi là cổng ngũ quan) xây hai tầng; nhà vuông (còn gọi là tam quan) được xây giữa cổng ngũ quan và chùa chính; ngôi chùa chính xây kiểu chữ "Đinh" gồm tiền đường và hậu cung. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Có 50 pho tượng tròn, trong đó có những pho tượng nổi bật là: tượng đức Phật Di-lặc (cao 0,60m), tượng Tuyết Sơn (cao 0,56m, thế kỷ XIX), toà Cửu Long (thế kỷ XVIII) ,tượng Bồ-tát Chuẩn đề... 

Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá quốc gia.

CHÙA MỘT CỘT (CHÙA DIÊN HỰU)

Chùa thường được gọi là chùa Một Cột, tọa lạc ở đường Chùa Một Cột, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. * Chùa được Vua Lý Thái Tông (1028-1054) cho xây dựng vào năm 1049, do tích nhà vua chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa. Sư Thiền Tuệ khuyên vua xây chùa, dựng cột đá giữa ao, đặt tòa sen của Phật trên cột như đã thấy trong chiêm bao. Ngôi chùa đuọc xây lại vào thời Trần (năm 1249) và đã trùng tu nhiều lần. Chùa hiện nay gồm một ngôi chùa nhỏ và đài Liên Hoa được xây dựng vào năm 1955. Gắn liền với lịch sử thủ đô, chùa Một Cột là biểu tượng của Hà Nội ngàn năm văn vật. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.



Chùa Một Cột ở Hà Nội hiện nay là tên quen thuộc của Liên Hoa Ðài dựng trong khuôn viên của một quần thể kiến trúc chùa, gồm chính điện thờ Tam Bảo, nhà Tổ, nhà khách v.v. được gọi chung là chùa Diên Hựu (lấy tên đầu của Liên Hoa Ðài). 

Chùa Một cột nổi danh vì kiến trúc độc đáo là một lầu gỗ hình vuông đặt trên một cột đá trồng giữa một hồ nước. Lầu được củng cố bằng một hệ thống con sơn sóc nách bằng gỗ. Tất cả tượng hình cho một bông sen vươn lên khỏi mặt nước, do đó mà có tên là Liên Hoa Ðài. 

Liên Hoa Ðài theo sử biên niên đã được dựng vào thời Lý năm 1049. Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi: 

«Mùa đông tháng 10 âm lịch, dựng chùa Diên Hựu ở vườn Tây cấm (bên phía Tây cấm thành Thăng Long). Trước đấy vua Lý Thái Tông (1028-1054) chiêm bao thấy Ðức Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa. Khi vua tỉnh dậy, vua đem việc đó nói với bầy tôi, có người cho là điềm không lành. Có nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, làm tòa sen của Phật Quan Âm đặt trên cột trụ như đã thấy trong mộng. Cho các nhà sư đi vòng lượn chung quanh tụng kinh, cầu cho vua trường thọ«. Vì thế gọi là chùa Diên Hựu (kéo dài tuổi thọ). 

Năm 1105 vua Lý Nhân Tông lại cho sửa sang, tô điểm Liên Hoa Ðài, đào thêm hồ, xây tháp báu ở phía trước. Văn bia tháp Sùng thiện Diên Linh trên núi Ðọi (tỉnh Hà Nam) có đoạn ghi tả chùa Diên Hựu (Một Cột) ở Thăng Long như sau: 

«Ðảo ao thơm Linh Chiểu, giữa ao trồi lên một cột đá, trên cột đá hoa sen nghìn cánh xòe ra. Trên hoa dựng một ngôi đền đỏ xẫm, trong đền đặt một pho tượng Quan Âm sắc vàng. Vòng quanh ao có dẫy hành lang trang trí bằng những hình vẽ bao bọc. Ngoài hành lang lại đào ao Bích Trì, mỗi phía đều bắc cầu cong để đi lại. - sân trước mặt, hai bên tả hữu xây tháp báu lưu ly...« 

Hai tháp báu này xây bằng gạch nung đất trắng, một cạnh gạch có chạm rồng (kiểu rồng thời Lý) ngoài cũng phủ men trắng mà khoảng năm 1954 đã được tìm thấy trong khuôn viên chùa Diên Hựu. Thiền sư Huyền Quang, đệ tam tổ phái Trúc Lâm thời Trần có làm thơ vịnh cảnh Diên Hựu Tự dưới trăng thu, có đề cập đến những ngọn tháp này: 

«Thượng Phương thu dạ nhất chung lan, 
Nguyệt sắc như ba phong thu đan, 
Xi vần (chi vẫn)* đảo miên phương kính lãnh, 
Tháp quang song chĩ, ngọc tiêm hàn« 
Phương trượng đêm thu vẳng tiếng chuông, 
Lá bàng đỏ xẫm ánh trăng suông, 
Gương hồ in ngược chim đầu nóc, 
Một đôi tháp ngọc nhọn đầu vươn.

Vua Lý Nhân Tông còn cho xây thêm một gác chuông bằng đá cao mấy trượng và đúc một quả chuông thật lớn định để treo lên, nhưng chuông rè, không kêu nên để bỏ ở thửa ruộng bên chùa. Ruộng trũng nhiều rùa, nên được gọi là chuông Qui điền. Chuông này sau Vương Thông nhà Minh bị Bình Ðịnh Vương vây hãm, phá đi để lấy đồng đúc khí giới (T.K.X.V). 

Vào những ngày sóc (mồng một), ngày vọng (rằm) mỗi tháng nhà vua thường đến lễ chùa và hàng năm đến ngày Phật Ðản (mồng 8 tháng tư ta) vua đều đến dự lễ tắm Phật. Ðó là thời cực thịnh của chùa Diên Hựu. Từ đó đến nay, chùa cùng với đất nước trải qua bao cuộc thịnh xuy nhưng vẫn tồn tại và đã được tu sửa nhiều lần. 

Ý niệm xây dựng chùa Một Cột có lẽ đã phát xuất từ thời Ðinh Lê (T.K.X.) bằng chứng là ở Hoa Lư cũng còn di tích của một chùa Một Cột. 

Còn chùa Một Cột thời Lý tức Diên Hựu Tự là «Hoa sen nghìn cánh nở trên cột đá« trên dựng điện Phật, mặc dù «hoa sen nghìn cánh« có là mỹ tự đi nữa thì kiến trúc xưa cũng to lớn huy hoàng hơn bây giờ. Một số nhà khảo cứu đã đưa những con số chiều cao, chiều rộng to lớn gấp bội hiện nay nhưng không biết căn cứ vào đâu. Những hình ảnh xưa nhất của Liên Hoa Ðài, được ghi lại là những tấm hình chụp về cuối thế kỷ XIX (khoảng trên một trăm năm trước đây) cho ta thấy chùa Một Cột bấy giờ trông tương tự như bây giờ, nhưng tình trạng bắt đầu hư nát và quang cảnh xung quanh khá hoang tàn. 

Ðến năm 1923 chùa Một Cột được trường Viễn Ðông Bác Cổ xây cất lại và xây bao lan bọc quanh 4 phía hồ. Nhưng cuộc trùng tu này vì thiếu kinh nghiệm nên kết quả không được mỹ mãn lắm. Kích thước thì nhỏ hẹp đi, mái cũng thấp hơn, quang cảnh có gọn gàng phong quang hơn nhưng đường nét cũng khô khan hơn. Nhưng từ đây trở đi nhờ phương tiện truyền thông, sách vở, báo chí hình ảnh, chùa Một Cột được phổ biến, thậm chí nha bưu điện Ðông Dương cũng dã mấy lần phát hành tem chùa, nên càng ngày kiến trúc này càng được biết đến, không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới nữa. Ðến cuối năm 1954 khi thi hành hiệp định Genève, quân Pháp sửa soạn rút lui khỏi Hà Nội và miền Bắc Việt Nam thì có kẻ lạ mặt đặt thuốc nổ phá hủy chùa Một Cột ngày 11-9-1954 (rằm tháng tám ta). Liên Hoa Ðài bị phá hủy từ mặt sàn trở lên vì chất nổ được dấu ở dưới bát hương. Tuy nhiên, pho tượng Quan Âm nơi đây, vẫn ngồi y nguyên ở gần ngay đấy, chỉ bị rời mấy cánh tay gỗ chắp. Sau khi tiếp quản Hà Nội, được mấy tháng thì chính quyền tiếp quản quyết định phục hồi lại chùa và ủy nhiệm cho chuyên viên Sở Bảo Tồn Cổ Tích Nguyễn Bá Lăng, nghiên cứu họa đồ và điều khiển công trường. Họa đồ đã được nghiên cứu căn cứ theo một ảnh chụp cũ khoảng cuối thế kỷ XIX của trường Viễn Ðông Bác Cổ. Vì là ảnh chụp lập diện (géométral) nên những kích thước cũ, chiều rộng, chiều cao, độ dốc mái kể cả chi tiết tầu đao, lan can được phục nguyên một cách chính xác. Cột đá đường kính 1m20 và bộ con sơn sóc nách bên dưới vẫn được giữ nguyên, còn bên trên bình đồ vuông nay được phục nguyên mỗi mặt rộng 4m20, chiều cao từ sàn đến diềm mái là 2m20. Chi tiết trang trí trên nóc mái là đôi rồng ngoảnh cổ lại chầu mặt nguyệt, là đặc điểm trang trí từ thời cuối Lê sang Nguyễn được đắp lại như cũ. Bốn góc mái đao được làm cong hớt lên hơn trước một ít. Những hình đắp trang trí trên bốn góc đao trong hình chụp không rõ vì đã hư mòn thì được đắp lại theo hình đầu rồng lá lật như kiểu cuối thời Lê, còn thấy khá phổ thông ở các kiểu kiến trúc cổ tại miền Bắc. Vách gỗ bao quanh cung thờ được làm theo kỹ thuật cổ truyền là vách nong đố gỗ. Lan can được làm con tiện và cái «vỉ ruồi« trang trí ở hai đầu hồi thì được chạm theo kiểu chép ở nhà thủy tạ chùa Tam Sơn, huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Bên trong, phía sau bên trên bàn thờ Ðức Quan Thế Âm, được trang trí bằng một giải ván thượng diệp chạm lưỡng long chầu nguyệt dập theo một kiểu chạm gỗ ở đình làng Ðình Bảng (Bắc Ninh). Cũng ở đây bên trên giáp mái treo tấm bảng chữ Hán «Liên Hoa Ðài«. Tòa Liên Hoa đài này đã được dập kiểu để dựng trong vườn của một bảo tàng viện tại Varsovia (Ba Lan) nhưng theo tỷ lệ thu nhỏ ơ và thay thế cầu thang gạch bằng cầu thang gỗ. Làm như vậy có lý hơn vì rất có thể là trước kia người ta leo lên Liên Hoa đài bằng một thang gỗ, rồi đến cuối thế kỷ trước Kinh lược Hoàng Cao Khải trong đợt tu bổ cổ tích mới cho xây bằng gạch như hiện nay: Liên Hoa đài nằm chếch phía sau, bên phía Tây Bắc chính điện thờ tam bảo trong khu vườn riêng của chùa, thì nay vườn này được mở rộng thành công viên của thành phố, mé bên kia khu vực chùa Diên Hựu thì khoảng thập niên 80 dùng để xây tòa nhà Bảo tàng Hồ Chí Minh đồ sộ cao lớn ở gần xát ngay bên, không biết tôn trọng di sản lịch sử văn hóa xưa. Tuy nhiên khách vào thăm chùa Một Cột vẫn đông đảo vì ai cũng nhận thức là chùa Một Cột đích thực là kiến trúc văn hóa Việt Nam. 

Lư Công Uẩn cũng như các vua Lư kế tiếp, đă xây dựng một quốc gia tiến bộ, khác hẳn Đinh, Lê ở trước, mà các triều đại sau cũng khó sánh bằng. Thời đại nhà Lư là thời đại toàn thịnh của Phật giáo mà cũng là thời đại có ư thức dân tộc rất cao, tinh thần quốc gia hùng mạnh trong lịch sử độc lập của nước Việt. Chùa Một Cột đă xuất hiện một cách tự hào, độc đáo trong cái tinh thần đó.Theo truyền thuyết chùa Một Cột h́nh thành từ một giấc mộng của vua Lư Thái Tông: "Tháng Hai, mùa xuân năm Kỷ Sửu (1049) đổi niên hiệu là Sung Hưng Đại Bảo năm đầu. Trước đó vua nằm mộng thấy Phật Quan Âm ngồi trên đài hoa sen, dẫn vua lên đài, khi tỉnh dậy, vua nói chuyện lại với triều thần, có người cho là điềm xấu, nhưng thiền sư Thiền Tuệ th́ khuyên vua nên xây chùa, dựng cột đá giữa hồ, xây đài hoa sen có tượng Phật Quan Âm ở trên, đúng như h́nh ảnh đă thấy trong mộng. Các nhà sư chạy đàn xung quanh, tụng kinh cầu sống lâu và đặt tên là chùa Diên Hựu". (Lư Kỷ - Toàn thư).

Như vậy th́ chùa Một Cột lấy nguồn cảm hứng từ giấc mộng đài sen với Phật Quan Âm. Cảm hứng từ mộng là một loại tâm lư nghệ thuật của các dân tộc phương Đông, và h́nh dáng chùa đă bao năm nhiều ư nghĩa nghệ thuật tôn giáo. Từ thời nhà Đinh đă dựng cột bia đá gọi là cột "nhất trụ" để cầu tuổi thọ, cầu cho vận nước cường thịnh lâu dài. Cái ư niệm đó tượng trưng bằng h́nh "Một Cột" cũng mang một ư nghĩa với nguyên lư sinh thành của địa mẫu, hay nguồn sống vũ trụ. Đến đời nhà Lư th́ cái cột "Nhất Trụ" ấy lại bao trùm nhiều ư nghĩa hơn nữa khi vua Lư Thái Tông (1028-1054) đă biến h́nh "Nhất Trụ" thành h́nh hoa sen, bằng cách cho xây trên đỉnh cột một cái điện nhỏ bằng gỗ lợp ngói mái cong để trở thành chùa Diên Hựu (tức Một Cột). Chùa có h́nh dáng một hoa sen, nếu nh́n từ xa th́ đúng đó là một hoa sen lớn, mọc lên từ hồ nước, chiếc cột là cọng sen. H́nh ảnh hoa sen đă có trong tinh thần dân tộc từ thời nhà Đinh: Đinh Bộ Lĩnh ở cạnh đền Sơn Thần, ngoài cửa có đám sen núi, có dấu chữ thiên tử. Mẹ Lê Hoàn có mang nằm mộng thấy trong bụng sinh hoa sen. Năm 1058, tháng 6, niên hiệu Long Thị Thái B́nh thứ 5, vua Lư Thánh Tông cho xây điện Linh Quang, bên trái dựng điện Kiến Lễ, bên phải dựng điện Sùng Nghi, phía trước điện dựng lầu gác chuông Một Cột sáu cạnh h́nh hoa sen. Trong quan niệm của người quân tử th́ hoa sen luôn mang một ư nghĩa đẹp, tượng trưng cho những ǵ cao quư nhất trên đời. Nơi nào có hoa sen là nơi đó có Phật ngự trị. Nơi nào có dấu sen là nơi đó có dấu vết hiền nhân. Nơi nào có hồ sen phải là nơi thanh tịnh. Hoa sen đă được người b́nh dân tôn quư, ví với những người có tâm hồn thanh cao, sống nơi bụi trần mà không bị danh lợi ô uế, ràng buộc, cám dỗ:

"Trong đầm ǵ đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn".

Cũng v́ hoa sen mang một ư nghĩa như thế, nên hễ người ta nói tới hoa sen là nói tới Phật, sen là chỗ Phật ngự, toà sen là toà Phật. V́ vậy mà vua Lư Thái Tông đă mộng thấy hoa sen với Phật Quan Âm đứng trên đài sen và giấc mộng ấy đă được hiện thực bằng ngôi chùa Một Cột có h́nh dáng hoa sen với tượng Phật Bà Quan Âm được thờ trong đó.

Tín ngưỡng Phật Bà Quan Âm trong dân tộc Việt cũng là một tín ngưỡng đặc biệt, nó biểu hiện cho ḷng yêu thương vô bờ của Mẹ, hoà đồng với tín ngưỡng sùng bái Nữ Thần trong tư tưởng b́nh dân Việt Nam. Người b́nh dân Việt Nam với tâm hồn chất phác, chân thật, luôn luôn có khuynh hướng nguyện cầu một đấng từ bi cứu khổ, cứu nạn như Bồ Tát Quan Âm hay là Nữ Thần Địa Mẫu của họ. Họ nương tựa vào đó như 

một nơi an lành, như đứa trẻ cảm thấy được yên ổn trong đôi tay của mẹ... Họ luôn luôn yên tâm khi tin tưởng có Quan Âm Bồ Tát ở bên cạnh che chở, độ trì́.

Xem thế, chùa Một Cột quả là một tác phẩm nghệ thuật tân kỳ, thể hiện trọn vẹn cái tâm linh độc đáo của dân tộc. Với chiếc cột độc nhất dựng sừng sững giữa hồ biểu hiện cho tín ngưỡng về nguồn sống vũ trụ, về Âm Dương hoà hợp sáng tạo... và với tượng Phật Bà Quan Âm tượng trưng cho t́nh mẹ, cho Thánh mẫu từ bi luôn cứu độ chúng sinh, chùa Một Cột quả là gói ghém hoàn toàn cái tinh thần tín ngưỡng đặc biệt của Việt Nam thời Lư. Tinh thần đó đă dung hoà với các tư tưởng vừa trí thức, vừa b́nh dân, nhất là nó thể hiện một cái tinh thần hợp sáng nhưng độc lập của quốc gia./.  

CHÙA HỒNG PHÚC (HÒA NHAI)



Chùa thường gọi là chùa Hòe Nhai, Hòa Giai, tọa lạc ở số 19 phố Hàng Than, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Lý, đã được trùng tu nhiều lần vào các năm 1687, 1899 và 1952. Ơở sân chùa có một số bia đá, trong đó có tấm bia dựng năm 1703 ghi vị trí chùa ở tại Hòe Nhai, Đông Bộ Đầu (nơi quân dân ta chiến thắng quân Nguyên vào năm 1258 ở gần chùa). Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều tượng cổ như tòa Cửu Long (tượng đức Phật đản sinh), pho tượng kép bằng gỗ tạc một vị Phật ngồi trên lưng một vị vua nằm phục xuống, ... Chùa là tổ đình Thiền phái Tào Động của Phật giáo Miền Bắc Việt Nam. (Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia

CHÙA HƯNG KHÁNH



Chùa thường gọi là chùa Vua, tọa lạc ở phường Phố Huế, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. ?hùa Vua là tên gọi chung của cụm di tích gồm chùa Hưng Khánh và điện Thiên Đế thờ Đế Thích, mặt hướng Đông Nam, được dựng vào đời Lê. Đế Thích (Sakradevànàm Indra) theo Từ điển Phật học Hán Việt (Hà Nội, 1992 ) là vị chủ cõi trời Đao-lợi, thống lĩnh 33 vùng trời, thuộc thượng tầng cõi Trung giới, cao hơn trời Tứ Thiên Vương và thấp hơn trời Dạ-ma. Thần Đế Thích còn được truyền thuyết dân gian cho là bậc giỏi nhất trong nghệ thuật đánh cờ qua câu chuyện "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" được lưu truyền rộng rãi. Cũng vì thế, lễ hội hàng năm của chùa vào đầu tháng giêng (các ngày 6, 7, 8 và 9 âm lịch) đều có tổ chức thi cờ ở sân trước cửa chùa. Ai đoạt giải 3 năm liền sẽ được ghi tên vào bia đá đặt tại nhà bia ở sát sân cờ. Chùa đã được Bộ Văn hoá công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia

CHÙA HUYỀN THIÊN



Chùa tọa lạc ở số 54 phố Hàng Khoai, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Chùa được khởi dựng vào thời Lý. Kiến trúc được tu bổ, sửa chữa nhiều lần, định hình vào thời Nguyễn. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng gỗ có gía trị nghệ thuật như tượng các vị Bồ-tát Quan Âm, Thế Chí, Văn-thù, Phổ Hiền, tượng hai vị Hộ Pháp (mỗi tượng cao 3m) v.v... Chùa có điện thờ tượng đức Huyền Thiên Trấn Vũ. Chùa là danh lam của kinh thành Thăng Long ngày xưa. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA KIẾN SƠ



Chùa tọa lạc ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa do Thiền sư Cảm Thành dựng trước năm 820. Đến năm 820, Thiền sư Vô Ngôn Thông từ Quảng Châu, Trung Quốc sang nước ta, được Thiền sư Cảm Thành tôn làm thầy, mời ở lại trụ trì chùa Kiến Sơ. Từ đấy, chùa trở thành trung tâm của Thiền phái Vô Ngôn Thông. Ở hai dãy tả hữu Tam bảo của chùa hiện nay có thờ tượng Thiền sư Vô Ngôn Thông, tượng Lý Công Uẩn và thân mẫu của ông.... 
Đây là ngôi chùa cổ danh tiếng có từ trước thế kỷ X ở nước ta. Chính Lý Công Uẩn hay lui tới chùa nên khi lên làm vua là Lý Thái Tổ (1010-1028), nhà vua thường thỉnh Thiền sư Đa Bảo (đời thứ 5 dòng Vô Ngôn Thông) vào cung thưa hỏi yếu chỉ Thiền và vua đã xuống chiếu trùng tu chùa. Chùa lúc bấy giờ có hơn một trăm tăng đồ. 

Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Di tích cổ còn rất ít. Chùa còn giữ chiếc khánh đá bề ngang 2,3m, cao 0,60m, dày 0,17m. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA KIM SƠN



Chùa thường được gọi là chùa Kim Mã, tọa lạc ở số 223 phố Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Trong Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) cho biết xưa kia nơi đây là bãi tha ma, làm pháp trường xử trảm các tội nhân. Dân thôn Mã Trại dựng am Vạn Linh bằng tranh để siêu độ âm hồn. Năm 1881, am bị bão đổ, dân bản thôn dựng lại bằng gạch ngói, tô tượng Phật để thờ, thường gọi là chùa Tàu Ngựa. Năm 1898, chùa trùng tu, đổi tên là Kim Mã. Sư cô Thích nữ Đàm Tiến, trụ trì ngôi chùa hiện nay đã tổ chức nhiều lần trùng tu, tôn tạo ngôi chùa. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng gỗ có giá trị nghệ thuật. Chùa đã được Bộ Văn hoá công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA KIM LIÊN



Nằm ở phía đông bắc hồ Tây, kề bên khách sạn Thắng Lợi và hàng loạt biệt thự hiện đại đang đua nhau mọc lên - chùa Kim Liên là ngôi chùa nổi tiếng từ xưa... Đất dựng chùa là nền cũ của cung Từ Hoa, thuộc trại tằm Tang. Từ Hoa là con gái vua Lý Thần Tông (1128 - 1138). Vua dựng cung Từ Hoa cho công chúa và các cung nữ ở đó để thấu hiểu thêm công việc đồng áng vất vả mà thấy rõ hơn giá trị ngôi tôn quí của mình. Đến đời Trần, trại Tằm Tang đổi thành phường Tích Liên. Dân làng dựng chùa Đống Long trên nền cung Từ Hoa cũ. Đến năm 1771, đời Lê Cảnh Hưng, chùa được tu sửa lớn và đổi tên là chùa Kim Liên. Năm 1792, đời vua Quang Trung, chùa được xây dụng lớn, về diện mạo cơ bản giống như hiện nay.

Tới thăm chùa Kim Liên, ta thầm cám ơn người xưa đã tạo nên một danh lam thắng cảnh đẹp lưu lại cho hậu thế. Chùa nằm trên một bán đảo nhỏ, hình đất như con rùa vàng. Ngay khi tới cổng chùa, khách thăm đã bị choáng ngợp bởi cổng tam quan độc đáo. Đây là một ngôi tam quan không giống bất cứ ngôi tam quan nào ở các chùa khác, toàn bộ kết cấu tam quan có mái che được đỡ từ các thân cột. Từ giữa các thân cột. Từ giữa các thân cột, những "con rường" vươn dài tạo nên bộ vì nóc đỡ mái. Bộ mái lợp ngói vảy cá nhiều tầng, ở giữa đột ngột vươn cao như bông sen tỏa nở trên mặt nước Tây Hồ mênh mang bốn mùa sóng phủ - một nét đẹp đặc sắc bất ngờ.

Bước qua tam quan, men theo con đường nhỏ bên phải, du khách tới đầu hồi gian tiền đường để lãng du về đất Phật. Nhìn từ bên hông chùa, các tầng mái nhấp nhô, những đầu đao cong vút tạo cảm giác như các lớp cung điện trùng điệp như cùng hiện về trong thoáng chốc, phô diễn tài nghệ kiến trúc của người xưa. Chùa hình chữ "tam" gồm ba nếp nhà song song với nhau, tường gạch bao quanh tới tận rìa mái. Ơû các đầu hồi nhà có cửa sổ tròn với những dấu hiệu "sắc sắc không không" mang đậm ý nghĩa triết lý phật giáo. Nét kiến trúc của chùa Kim Liên gợi nhớ tới chùa Tây phương nổi tiếng.

Các pho tượng Phật được bày thành hai lớp, trên cùng là bộ Tam thế, tiếp theo là tượng A-di-đà, tượng Quan Thế Âm và tượng Đại thế chỉ ở hai bên cùng Anam, Ca diếp là hai đại đệ tử của Đức Phật. Lớp dưới là Quân âm chuẩn đề, tượng Ngọc Hoàng, dưới cùng là tòa Cửu Long. Các pho tượng đều mang phong cách điêu khắc thế kỷ XVIII - XIX, chùa có tượng Uy vương Trịnh Giang, người đã cấp tiền hưng công tu tạo chùa năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771). Chùa Kim Liên còn lưu giữ được một tấm bia cổ, nay dựng phía bên phải cổng chùa, trên bệ đá hình vuông, dù năm tháng đã làm phai mờ nhiều nét chữ nhưng còn xem được niên hiệu: Thái Hòa tam niên Âất Sửu - tức năm 1445 thời Lê Nhân Tông. Đây là tấm bia cổ nhất ở Hà Nội hiện nay.

Danh sĩ Phạm Đình Hổ đả ghi lại trong "Tang thương ngẫu lục" về cảnh đẹp chùa Kim Liên như sau: "...chùa xoay lương ra sông Nhị, hồ Tây quanh trước mắt, khói sóng man mác, trời nước một màu...", "... phía bên trái có mấy gò nổi, tháp gạch xây ở trên, khóm trúc, cội tùng phơ phất... "

Chùa Kim Liên vẫn soi bóng trên sóng nước Hồ Tây. Bông sen vàng vẫn vươn cánh trên nền nước biếc. Ai đã tới Hà Nội, với lòng ngưỡng vọng những giá trị lịch sử văn hóa truyền thống, không thể không một lần tới thăm cảnh đẹp này.

Chùa Kim Liên Trước Nguy Cơ Bị Sập

Khắp chùa Kim Liên (Quảng An, Tây Hồ, Hà Nội) bây giờ là những cột chống tạm bợ. Danh thắng nổi tiếng bên Hồ Tây này đang bị xuống cấp trầm trọng.

Nhìn bề ngoài thì chùa Kim Liên vẫn giữ nguyên được dáng vẻ đường bệ. Đây là một ngôi chùa lớn, hai tầng mái, được xem là "Bông sen vàng" của Hồ Tây. Vốn là đất cung Từ Hoa cũ của triều Lý, chùa Kim Liên được xây dựng đồ sộ như hiện nay vào thời Lê và trở thành một danh thắng nổi tiếng bên Hồ Tây được ca ngợi hết lời trong "Tang thương ngẫu lục" của cụ Phạm Đình Hổ. Các tầng mái nhấp nhô, những đầu đao cong vút tạo cảm giác như các lớp cung điện trùng điệp như cùng hiện về trong thoáng chốc...

Đấy là nét độc đáo của chùa Kim Liên, và chính nó giờ đây đã trở thành gánh nặng cho ngôi chùa: Trải qua gần 300 năm, các kết cấu gỗ vốn được làm hết sức đồ sộ, nặng nề (có thể xem là đồ sộ nhất trong các chùa ở Hà Nội hiện nay) đã xuống cấp. Và các mối ghép ở các thanh ngang đỡ bộ vì nóc khổng lồ đã dãng ra, nếu chúng khuỵu xuống thì nguy cơ kéo đổ cả ngôi chùa là cầm chắc.

Khắp chùa là những cột chống tạm bợ, và dây rợ quây lại lằng nhằng. Dán đầy ở các cột là những tờ giấy cảnh báo "nguy hiểm, không đi lối này", "Tránh xa lối này...". Ngẩng lên mái thì một thanh ngang đồ sộ đã bị mối ăn sạch sẽ chỉ còn trơ mỗi lớp vỏ rỗng hoác!

Trao đổi với chúng tôi, ông Phương - Trưởng phòng Văn hóa - Thông tin quận Tây Hồ - tỏ ra hơi e ngại việc một số nhà sư vẫn trong chùa. Ông cho biết, ngay từ năm 2002, UBND quận đã chỉ đạo cho tổ chức di dời tượng phật và các đồ thờ tự ra khỏi chùa. Cũng theo ông Phương thì "không những kết cấu gỗ bị mối mọt, mà nhìn phía ngoài một mái đao cũng đã bị sệ. Khi cả khối mái chùa lớn như thế bị sệ thì cực kỳ nguy hiểm".

Năm nay quận Tây Hồ đã lo được 60 triệu để "cứu chữa" chùa, nhưng qua khảo sát tình hình thì số tiền này chỉ như muối bỏ bể, thà đừng làm còn hơn. Các cán bộ quản lý văn hóa cũng nghĩ thế và họ đang chờ hai dự án lớn tu bổ chùa Kim Liên, một của thành phố đang chỉ đạo triển khai và một của một số tổ chức nước ngoài đang xin được tài trợ. Tuy nhiên, nước xa không cứu được lửa gần. Điều cần thiết bây giờ là phải tăng cường gia cố chùa Kim Liên bảo đảm sự an toàn cho chính các nhà sư.
(Báo Thể thao và Văn hóa)

CHÙA LIÊN PHÁI



Chùa tọa lạc ở phố Bạch Mai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Chùa do Lân Giác Thượng sĩ thuộc Thiền phái Lâm Tế lập vào năm 1726, đời Vua Lê Dụ Tông. Thượng sĩ chính là Phò mã Trịnh Thập, con trai Tần Quang Vương, cháu nội Chúa Trịnh Căn, lấy con gái thứ tư Vua Lê Hy Tông. Một lần ông cho đào đất ở gò cao sau nhà thì thấy một cái ngó sen. Ông cho là mình có duyên với đạo Phật nên đã biến phủ đệ thành chùa và xuống tóc xuất gia. Chùa ban đầu mang tên Liên Tông, đến đời Tự Đức, đổi thành chùa Liên Phái để tránh húy. Chùa có hai ngôi tháp lớn. Phía trước là tháp Diệu Quang cao 10 tầng, hình lục lăng, xây vào khoảng thế kỷ XIX, đặt xá lợi Tổ Diệu Quang cùng 5 nhà sư khác và ở vườn tháp sau chùa có tháp Cứu Sinh, là tháp mộ của Lân Giác Thượng sĩ được xây vào khoảng năm 1733. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
 
Chùa Liên Phái hay còn gọi là chùa Liên Tôn, nằm trong ngõ Liên Phái, phố Bạch Mai (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Một đặc điểm nổi bật so với các chùa ở Hà Nội là chùa Liên Phái có niên đại hơn 250 tuổi, hơn nữa, trong chùa còn có một ngôi tháp Cửu Sinh cũng có niên đại hơn 250 tuổi. Đây là ngôi tháp cổ nhất và có lai lịch rõ ràng nhất trong khu vực nội thành ở Hà Nội.

Sự tích về sư tổ ngôi tháp Cửu Sinh được kể lại như sau: Trịnh Thập sinh năm 1696, là con trai Tấn Quang Vương Trịnh Bính. Trịnh Thập lấy con gái thứ tễ vua Lê Hy Tông (1676-1705) được lập phủ riêng ở phường Hồng Mai (sau đổi tên là Bạch Mai). Một lần, Trịnh Thập cho đào đất ở gò cao sau nhà để xây bể cạn thì thấy trong lòng đất có một cái ngó sen (không thấy nói là bằng chất liệu gì). Trịnh Thập cho đó là dấu hiệu của Phật và tin rằng mình có duyên với đạo Phật. Ông bèn biến phủ đệ của mình thành chùa gọi là chùa Liên Tông, gọt tóc đi tu đồng thời trở thành vị tổ thứ nhất của chùa này. Trịnh Thập mất năm 37 tuổi (1733) hài cốt được táng trong ngôi tháp xây ở giữa gò, nơi dạo trước đã đào được ngó sen.

Chùa được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 18, lúc mới xây dựng chùa có tên là Liên Hoa. Năm 1733 đổi tên là chùa Liên Tông. Đến năm 1840, vì phải kiêng tên húy vua Thiệu Trị, cho nên đổi tên chùa là chùa Liên Phái như ngày hôm nay.

Theo như tấm bia hiện còn ở trong chùa khắc vào năm Tự Đức thứ 10 (1857) thì chùa được xây dựng vào năm Bảo Thái thứ 7, tức năm 1726. Chùa đã được tu bổ nhiều lần, đợt tu bổ lớn nhất là vào năm ất Mão 1855, đã tu bổ lại nhà tổ, nhà tầng, hành lang phải và trái, tô tượng Phật, v.v. hết một nghìn quan tiền công đức. Công việc này làm trong sáu năm trời mới hoàn thành. Đến năm Kỷ Tî 1869 lại làm thêm gác chuông, xây dựng tường bao quanh với quy mô rộng lớn. Hai bên cổng của chùa Liên Phái là hai hồ nước rộng. Ngay trước cổng là ngôi tháp Diệu Quang hình lục lăng cao mười tầng. Tiếp đến là nhà bia, có 34 tấm bia ghi lại sự tích của chùa và các lần tu bổ, trên tấm bia còn ghi tên những người đóng góp công đức tu bổ và xây dựng lại chùa. Qua sân rộng là nhà bái đường và khu tam bảo, khu thờ phật. Từ tam bảo đi qua một sân nhỏ là đến nhà tổ. Sau chùa là khu vườn tháp được xây dựng trên một gò đất cao, có chín ngôi tháp xây thành ba hàng. Hàng thứ nhất có hai ngôi tháp. Hàng thứ hai ở giữa có năm ngôi tháp gồm những ngôi tháp cao, trong đó có ngôi tháp Cửu Sinh xây bằng đá. Hàng thứ ba có hai ngôi tháp. Ngoài ra, trong chùa còn có một ngọn tháp cao chín tầng kiến trúc đẹp xây dựng vào khoảng năm 1890.

Trong chùa Liên Phái, ngoài tượng Phật còn có tượng Thượng Sĩ Lân Giác, một quả chuông có chữ "Liên Tông tục diện" (nghĩa là Liên Tông kế tục sáng ngời) nét chữ thời Lê Trung Hưng. Theo như tấm bia dựng năm Tự Đức thứ 7 thì các đời sau của phái Liên Tông có: Sư Tổ thứ 2 là sư tổ Khai Sơn, sư Tổ thứ 3 là sư tổ Bảo Sơn, sư Tổ thứ 4 là sư Tổ Từ Phong...

Quy mô hiện nay của chùa hầu như không thay đổi gì mấy so với lần sửa chữa giữa thế kỷ 19. Chùa Liên Phái với tháp Cửu Sinh đã làm cho chùa có giá trị rất lớn. Chùa đã được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1962.

CHÙA LINH QUANG ( CHÙA BÀ ĐÁ)



Chùa thường được gọi là chùa Bà Đá, tọa lạc ở số 03 phố Nhà Thờ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê. Tương truyền Chúa Trịnh cho đào đất đắp thành, một người dân làng thấy một pho tượng Bà bằng đá liền dựng một miếu nhỏ để thờ. Về sau dân làng xây miếu thành chùa, nên ngôi chùa có tên "Bà Đá". Tượng đá ở chùa đã mất. Ngôi chùa hiện nay có hệ thống tượng ở điện Phật là những tác phẩm điêu khắc quí của thế kỷ XIX, chùa có hai đại hồng chung, một cái đúc năm 1823, một cái đúc năm 1881 và một khánh đúc năm 1842. Chùa là ngôi tổ đình của Thiền phái Lâm Tế ở miền Bắc, là nơi đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo thành phố Hà Nội.


CHÙA LINH TIÊN (CHÙA HỘI XÁ)



Chùa thường gọi là chùa Hội Xá, toạ lạc ở thôn Hội Xá, xã Hội Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, ở phía Nam bờ đê sông Đuống. Chùa trước đây thuộc phủ Thuận An, sau là tỉnh Bắc Ninh, đến năm 1961, mới thuộc Hà Nội. Chùa được tạo dựng từ lâu đời gắn với làng Hội Xá nằm trong địa bàn sinh tụ chính của cư dân Việt cổ thời dựng nước. Văn bia và hệ thống tượng của Phật điện cho biết chùa đã được trùng tu thế kỷ XVI, đợt tu sửa cuối cùng ghi trên bia là vào năm 1935. Chùa được xây dựng trên khu đất cao, mặt hướng Tây, gồm tiền đường và hậu cung kết cấu kiểu chữ "Đinh". Chùa có 12 tấm bia đá, trong đó 3 tấm bia có niên đại triều Lê và 9 tấm bia thuộc triều Nguyễn. Đại hồng chung có tên "Linh Tiên tự chung" đúc năm 1844. Bộ tượng Tam Thế Phật ở điện Phật có giá trị nghệ thuật cao, thuộc thế kỷ XVII-XVIII. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA LÝ TRIỀU QUỐC SƯ

Chùa tọa lạc ở số 50 phố Lý Quốc Sư, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Chùa được khởi dựng từ thời Lý. Ngày xưa là đền thờ Lý Quốc sư Nguyễn Minh Không. Đến năm 1954, Hòa thượng Thích Thanh Định về trụ trì, tu sửa ngôi đền, đổi thành chùa thờ Phật. Đại đức trụ trì hiện nay là Thích Bảo Nghiêm đã tổ chức trùng tu ngôi chùa từ năm 1992, bài trí Phật điện tôn nghiêm. Phía sau điện Phật là điện thờ Quốc sư Nguyễn Minh Không, ở đây còn có tượng ngài Từ Đạo Hạnh và tượng thân mẫu của ngài được đắp nổi trên bia đá. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA PHÁP VÂN (CHÙA NÀNH)



Chùa thường được gọi là chùa Nành, tọa lạc ở làng Nành, xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa được khởi dựng vào thời Lý. Ngôi chùa hiện nay còn có nhiều di vật của thế kỷ XVII, XVIII, như chuông đồng (1653), khánh đồng (1733), 3 tấm bia đá cùng nhiều pho tượng gỗ phủ sơn rất quý như bộ tượng Tam Thế Phật (tượng cao 0,80m, tòa sen và đế cao 0,70m), tượng Tuyết Sơn (cao 0,73m), tượng Bát bộ Kim Cang (cao 1,56m), tượng Thập Điện Minh Vương (cao 1,35m), tượng Thập bát La-hán (cao 1,08m), tượng Bà Nành v.v... 
Hòa thượng Thích Mật Trọng trụ trì ngôi chùa từ năm 1958 đến nay đã tổ chức trùng tu nhiều đợt, vẫn giữ được đường nét cổ kính trong kiến trúc và điêu khắc của một danh lam ở thủ đô. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia

CHÙA NÀNH

Nằm cách trung tâm Thành Phố Hà Nội khoảng 17 km về phía đông-bắc, chùa Nành còn có tên là chùa Pháp Vân, thuộc xã Ninh Hiệp (huyện Gia Lâm, Hà Nội). Quy mô của chùa khá lớn, bao gồm: thủy đình, tam quan, tiền đường, cầu, tam bảo, tả vu, hữu vu, nhà Tổ, điện Mẫu và khu phụ. Phía trước chùa Nành là hồ nước rộng, thoáng mát. Điều này cũng phù hợp thuyết "phong thủy". 

Tương truyền, chùa Nành được xây dựng từ thời Lý. Trải qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa, kiến trúc trong chùa hiện nay chủ yếu mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn. Đặc biệt, trong chùa còn lưu giữ được nhiều di vật quý như: bộ tượng Tam Thế Phật tượng Tuyết Sơn, tượng Bát bộ Kim Cang, tượng thập Điện Minh Vương, tượng Thập bát La hán,... Trong đó, bộ Tam Thế vừa có giá trị nghệ thuật cao vừa có niên đại sớm, niên đại thế kỷ 16. Trong 



chùa Nành còn lưu giữ được nhiều bia đá có niên đại từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20. Đặc biệt, có một chuông đồng được đúc vào năm 1653, khánh đồng đúc năm 1733. Bên cạnh hệ thống tượng Phật, chùa Nành còn có tượng bà Nành - đây là dấu tích của sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam.

Hội chùa Nành cũng là một trong những lễ hội đặc sắc ở Hà Nội hiện nay. Hội được tổ chức từ mồng 4 đến mồng 6 tháng 2 (âm lịch) hằng năm. Tại hội chùa, các trò chơi dân gian được tổ chức sôi nổi, như: bơi thuyền, thi nấu cơm, thi nâng cây phan. Cây phan là một bó khoảng 60 cây tre để nguyên cả thân và ngọn. Dân chúng tin rằng, cuộc sống ấm no của cả làng phụ thuộc nghệ thuật nâng cây phan. Vì vậy, các trai làng thường phải luyện tập nâng cây phan trước ngày lễ hội. Sau các nghi lễ là các trò chơi khác thể hiện tín ngưỡng, như cầu mưa, cầu nước, cầu phồn thực của cư dân với nền nông nghiệp lúa nước ở đồng bằng sông Hồng. Hội chùa Nành có thể so sánh với các lễ hội khác ở khắp nơi trên mọi miền đất nước, là một trong những lễ hội còn giữ được nét sinh hoạt văn hóa mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Chùa Nành đã được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật.


CHÙA PHÚC KHÁNH



Chùa thường được gọi là chùa Sở, tọa lạc số H.171, tổ 1, phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Chùa nằm bên phải phố Tây Sơn, gần ngã tư Sở. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê. 
Tương truyền vào thời kỳ này, chùa là cơ sở đào tạo tăng tài cho Phật giáo, sau đó gặp cơn binh hỏa bị hư hỏng hoàn toàn. Có tài liệu cho chùa nằm trong khu vực diễn ra trận đánh Đống Đa năm 1789 nên bị đổ nát, sau được nhà sư Chiếu Liên xây dựng lại với sự hổ trợ của Đô đốc Trần Văn Lễ (thời Tây Sơn) đã từng ém quân ở chùa. Ông còn cho đúc quả đại hồng chung và pho tượng Cửu Long cúng chùa. 

Chùa qua nhiều lần trùng tu, xây dựng. Năm 1950, dân làng đã góp công góp của xây dựng ngôi chùa ngày nay. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. ở đây có 20 pho tượng có giá trị nghệ thuật cao. Chùa có 21 tấm bia đá, tấm cổ nhất là năm 1698; 3 đại hồng chung, chuông cổ nhất đúc năm 1796; 14 bộ bao lam (cửa võng) và các đồ thờ khác như bát hương đồng, long ngai, nhang án... đều rất quý. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA PHÚC LÂM



Chùa thường được gọi là chùa Chân Tiên, tọa lạc ở số 151 phố Bà Triệu, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thế kỷ XIX. Theo tư liệu của chùa, thì chùa được xây dựng vào thời Lý với tên chùa Báo Thiên với ngôi tháp Báo Thiên nổi tiếng nhất Thăng Long thời bấy giờ. Chùa đã bị hư hỏng vì chiến tranh, phải dời đi nhiều nơi. Đến cuối thế kỷ XIX, chùa dời về địa điểm hiện nay. Tên chùa Chân Tiên là ghép của hai tên thôn Chân Cầm và quán Chúng Tiên. Sư cô Thích nữ Đàm Luận, trụ trì chùa từ năm 1954 đã tổ chức trùng tu mở rộng chùa những năm gần đây. Chánh điện bài trí tôn nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng quý của thế kỷ XIX. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA QUÁN SỨ



Chùa tọa lạc ở số 73 phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) cho biết chùa được triều đình dựng vào đầu đời Lê sơ để đón tiếp sứ giả các nước ngoài như Chiêm Thành, Vạn Tượng, Nam Chưởng... đến lễ Phật. Năm 1822, chùa được sửa sang lại làm chỗ lễ bái cho quân nhân. Năm 1827, Hòa thượng Thanh Phương ở Hà Sơn Bình đến trụ trì lo việc trùng tu, tô tượng, đúc chuông... Đệ tử của ngài là Văn Nghiêm lại cho đắp thêm 27 pho tượng. Năm 1934, Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ đặt trụ sở ở chùa. Chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng năm 1941. Chùa hiện nay đặt trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Chùa Quán Sứ

Mặc dù không có lịch sử lâu đời và kiến trúc độc đáo như nhiều ngôi chùa khác ở Hà Nội, nhễng chùa Quán Sứ lại được nhiều người Việt Nam biết tới, coi như một ngôi chùa thiêng bậc nhất của Thủ đô. Chùa được Hội Phật giáo lấy làm trụ sở, lại ở giữa thành phố và cũng có một lịch sử khá đặc sắc. 

Nguyên vào giữa thế kỷ 14 đời Trần Dụ Tông, ở khu vực này có nhà Công quán của triều đình dùng để đón các sứ thần của các quốc gia phía Nam, như Chiêm Thành, Vạn Tượng, Nam Chễởng... Vì các sứ thần này theo đạo Phật nên để tiện cho việc cúng tế của họ trong những ngày dài chờ đợi được tiếp kiến, giải quyết công việc... triều đình cho lập ngay cạnh Công quán một ngôi chùa. Có lẽ vì thế mà người ta gọi ngôi chùa này là chùa Quán Sứ. 

Sau này Công quán bị hủy bỏ nhưng chùa vẫn được giữ lại. Năm 1822, chùa được sửa sang làm chỗ lễ bái cầu đạo cho quân nhân. Năm 1934, Hội Phật giáo Bắc Kỳ lấy chùa làm Hội quán. Năm 1942 chùa được xây dựng lại theo quy mô như ta thấy ngày nay. Năm 1958, Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam lấy chùa làm trụ sở. 

Tiền đường chùa Quán Sứ thờ Phật, hậu đường thờ quốc sư triều Lý là Thiền sư Khuông Lộ. Trong chùa, ngoài các cơ quan của Hội Phật giáo còn một thư viện lớn, lưu giữ nhiều kinh sách Phật giáo. Bên ngoài cổng chùa cũng có một cửa hàng bán kính sách, đồ thờ. 

Chùa nằm ở trung tâm Thủ đô nên rất thuận tiện cho việc đi lại vãn cảnh, cúng bái của khách thập phương. Vào những ngày rằm, ngày mồng một, ngày lễ tết, đặc biệt là ngày Phật đản... các Phật tử, các thiện nam, tín nữ kéo về đây rất đông, tấp nập cả một đoạn đường Quán Sứ. 

Nhiều người Việt và cả người nước ngoài đến Hà Nội dẫu có bận bịu mấy cũng gắng đến vãn cảnh thắp nhang ở chùa Quán Sứ vì trong thâm tâm họ, chưa vào Quán Sứ cũng coi như chưa đến Hà Nội. 

CHÙA SÙNG PHÚC



Chùa còn có tên là Linh Nhân Từ Phúc, chùa Bà Tấm, tọa lạc ở xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa được khởi dựng vào thời Lý. Di tích hiện nay còn hai sư tử đá đội bệ Tam Thế (mỗi sư tử cao 1m, ngang 1,4m), một con sấu đá (dài 2m) ở thành bật lan can và hai bia đá. Trong khuôn viên chùa có đền thời Bà Yỷ Lan Nguyên phi. Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Chùa thường được gọi là chùa Bộc, tọa lạc tại đường chùa Bộc, phường Khương Thượng, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Chùa còn có tên là Thiên Phúc. Bản lịch sử của chùa có ghi vào năm 1676, đời Vua Lê Hy Tông, vị Tăng lục Trương Trung Bá cùng nhân dân xây dựng lại chùa đã bị chiến tranh tàn phá. Chùa đã được trùng tu vào năm 1792 và đổi tên là chùa Thiên Phúc. Trước năm 1945, Hòa thượng Chính Công trụ trì đã khai trường thuyết pháp đào tạo được nhiều tăng, ni. Ơở chùa có cơ sở chữa bệnh bằng thuốc Nam nổi tiếng. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia

CHÙA TAM BẢO



Chùa thường được gọi là chùa Tứ Liên, tọa lạc ở xã Tứ Liên, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê. Tài liệu của chùa cho biết chùa được dựng vào đời Vua Lê Thần Tông, năm Đức Long thứ ba (1631). Chùa được trùng tu nhiều lần. Năm 1992, Sư cô Thích nữ Đàm Đoan đã tổ chức trùng tạo ngôi chùa bằng vật liệu kiên cố, khánh thành ngày 20-10-1992. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA THẦN QUANG



Chùa thường được gọi là chùa Ngũ Xã, tọa lạc ở phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê, giữa thế kỷ XVIII. Chùa thờ Phật và thờ Thiền sư Nguyễn Minh Không, tục truyền là tổ nghề đúc đồng. Năm 1952, chùa được xây dựng lại hoàn toàn. Tượng đức Phật A-di-đà bằng đồng ở chánh điện là pho tượng đồng lớn nhất nước ta hiện nay. Tượng được đúc từ năm 1949 đến năm 1952, cao 3,95m, nặng 10 tấn. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA THÁNH CHÚA



Chùa tọa lạc ở xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Chùa được dựng vào thời Lý. Đến đời Lê, một bộ phận dân làng Dịch Vọng được tách ra lập xã Mai Dịch, từ đó chùa là chùa chung của hai xã Dịch Vọng và Mai Dịch. Ngôi chùa hiện nay được xây cất vào năm 1934, Sư cụ Thích nữ Đàm Văn đã tổ chức tu sửa chùa nhiều lần. Cổng chùa được sửa lại năm 1992. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm, chùa có nhiều pho tượng quí. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA TRÙNG NGHIÊM (CHÙA KEO)



Chùa thường gọi là chùa Keo, tọa lạc ở làng Keo thuộc xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa được xây dựng vào thời Hậu Lê. Tương truyền chùa có vào đầu Công nguyên cùng với hệ thống chùa Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện qua huyền tích Man Nương: khi tạc cây đa cổ thụ thành tượng Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Tướng, Bà Dàn thì còn dư một khúc cây, người ta tạc tượng Bà Keo là em út thờ ở chùa làng Keo, gần làng Dâu thờ bốn bà chị. Chùa còn một số di tích cổ như đại hồng chung, khánh. Ơở điện Phật có tượng Bồ-tát Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn cao 1,37m và tượng Bà Keo cao 1,40m ngang gối 0,67m. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA VINH KHÁNH



Chùa thường gọi là chùa Võng Thị, tọa lạc ở khối 75 Võng Thị, phường Bưởi, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Chùa được khởi dựng vào thời Lý, đã được trùng tu nhiều lần. Sư cô Thích nữ Đàm Đạo trụ trì đã tổ chức tôn tạo gần đây. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Tầng trên cùng an vị bộ tượng Phật Tam Thế. Mỗi tượng cao 0,90m, kể cả tòa sen là 1,20m, ngang gối 0,54m, tạc bằng gỗ vào thời Mạc. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA TRẤN QUỐC



Chùa tọa lạc phía Nam hồ Tây, đường Thanh Niên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) giới thiệu chùa nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý Nam Đế (541-547) tại thôn Yên Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa được tiếp tục trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1637 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1824, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc từ đời Vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.,Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, nằm cạnh Hồ Tây, ở cuối đường Thanh Niên, quận Ba Đình, Hà Nội. Chùa được xây từ thời Lý Nam Đế (541-547) ở gần sông Hồng, đến năm 1615, được dời vào vị trí ngày nay. Chùa có vườn tháp cổ u tịch, có nhiều tượng Phật giá trị, đặc biệt là tượng Thích Ca nhập Niết Bàn. Chùa là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), thì chùa Trấn Quốc nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế, 541-547), tại thôn Y Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639,chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1639 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1842, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời Vua Lê Hy Tông đã đễợc nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.

Ta hoài niệm cùng vườn tháp nhấp nhô cao thấp, nhỏ to lời vang vọng giữa hư vô, nghe rõ tiếng ngọn chua me, cỏ ấu đang phập phồng hơi thở dưới chân tháp đầy hơi ẩm sương hồ, nghe lao xao trong gió tiếng mõ cầu kinh đang luận bàn Sắc Sắc Không Không. Ra phía trước sân chùa, thả tầm nhìn vào mênh mông sóng biếc, ta đứng dưới gốc bồ đề nguyên sinh ra từ Tây Trúc, được Tổng thống ấn Độ mang đến đây cho cây bén rễ, mang theo mầu Thiền. Mỗi chiếc lá đề có hình tim, cuống nhỏ nên mỏng mảnh, chỉ phơ phất gió đã rung rinh rào rạt.

Cũng giống như hầu hết những ngôi chùa khác trên đất nước Việt, chùa Trấn Quốc có nhiều lớp, có nhà bái đường, nhiều tượng Phật từ thấp đến cao, từ to đến nhỏ, vàng son lấp lánh, hương khói quanh năm... Đặc biệt có pho tượng Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thếp vàng lộng lẫy.

Chùa còn có 14 tấm bia, trong đó có bia của Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính, tiến sĩ Phạm Quý Thích dựng năm 1639 và 1015...

Chùa Trấn Quốc nằm trên bán đảo phía đông của Hồ Tây, nên thuộc đất làng Yên Phụ, nơi có ngôi đình thờ thánh. Vào mùa xuân hằng năm dân làng tổ chức đám rước từ đình sang chùa rồi từ chùa về làng bằng cả một đoàn thuyền nối nhau cờ reo trống thúc tưng bừng.

Người vào chùa Trấn Quốc, ngoài việc thành tâm lễ Phật còn là để có một chút ngao du ngắn, được thăm một danh lam nổi lên thanh bình giữa phố phường ồn ào, tất bật. Tịch mịch ngay giữa lòng thành phố, cái đáng quý còn đáng được bình phương lên nữa.

Chiều Trấn Quốc. Trời bình lặng. Hồ như một lão tăng chân tu, ngồi thiền trong hoàng hôn, lắng nghe câu kệ giữa bốn bề mây nước, dù phế hưng vẫn rộn rã những nẻo nào...

Hà Nội vẫn may mắn còn rất nhiều chùa chiền đền miếu. Nào Kim Liên, Một Cột, Liên Phái, Quán Sứ, Thái Cam... Nào đền Quán Thánh, Bích Câu đạo quán, nào đền Bạch Mã, đền Lý Quốc Sư...

Riêng Trấn Quốc vẫn thuộc loại chùa cổ nhất, như đã đắc đạo trên đường tu luyện mà mặt nước Hồ Tây đầy huyền thoại làm chứng quả. Chùa không nhiều bậc đá rêu phong, hay núi non trùng điệp, nhưng thật yên bình cùng sóng nước ngân nga, vẫn có thể cho hồn ta giọt nước cành dương, rửa đi một phần thế tục, để làm Lành làm Thiện với nhân gian...

 CHÙA BÀ ĐANH (BẢO SƠN TỰ)

Chùa Bà Đanh còn được gọi là Bảo Sơn tự, nằm ở thôn Đanh, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng. Từ thị xã Phủ Lý, qua cầu Hồng Phú, theo đường 21, đến cây số 7, qua cầu Quế, đi thêm 2km là đến chùa. 

Cũng như các ngôi chùa khác, chùa Bà Đanh thờ Phật, song ở chùa Bà Đanh ngoài tượng Bồ Tát còn có tượng của Thái Thượng Lão Quân, tượng Nam Tào, Bắc Đẩu và các tượng của tín ngưỡng Tứ Phủ, một tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Có tượng của hệ thống Tứ Phủ vì chùa thờ Tứ Pháp. Sự tích Tứ Pháp với các bà mẹ Mây(Pháp Vân), Mưa (Pháp Vũ), Sấm (Pháp Lôi), Chớp (Pháp Điện) như là sự hỗn dung giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian bản địa đã được chép trong Truyện Man Nương của Lĩnh Nam chính quái (Trần Thế Pháp, thế kỷ XIV, Vũ Quỳnh – Kiều Phú, 1492). 

Câu chuyện về gốc tổ Tứ Pháp được hình thành từ mẹ Phật Man Nương đã lan truyền khắp vùng đồng bằng Bắc bộ và cũng được lưu hành ở đây. Người dân Kim Bảng tin rằng, từ khi thờ Tứ Pháp, vùng Bắc Ninh được mưa thuận gió hoà, phong đăng hoà cốc, mùa màng bội thu. Do vậy, họ bèn họp nhau lên xứ bắc để xin chân nhang về thờ. Các làng Vân Lâm, Đặng Xá, Vân Châu, Bầu thôn, Bài Lễ… đã xin chân nhang, tạc tượng Tứ Pháp để thờ, từ đó, tục thờ Tứ Pháp lan truyền ở các xã vùng ven sông Đáy trên đất Hà Nam. 

Dân làng Đanh cũng đang có ý định xin chân nhang ở Bắc Ninh về thờ thì xảy ra một câu chuyện lạ. Địa phương còn lưu hành một truyền thuyết sau: Trước đây, ở vùng này luôn gặp mưa to, gió lớn nên việc sản xuất gặp nhiều khó khăn, mùa màng thất bát gây ra cảnh đói kém triền miên. Cho đến một hôm, một cụ già cao tuổi trong làng nằm mộng thấy một người con gái trẻ trung, xinh đẹp, đoan trang, khuôn mặt phúc hậu, vầng trán và đôi mắt thông minh hiện ra nói rằng: Ta được thần cho về đây để chăm nom và chỉ khu rừng đầu làng làm nơi dựng chùa. Nơi ấy bấy giờ là vạt rừng rậm rạp có nhiều cây cổ thụ, sát bờ sông là một hòn núi nhỏ, nhô mình ra mặt nước, trong rừng rộn rã tiếng chim quang cảnh thật là thần tiên. 

Ngôi chùa ban đầu được xây dựng tranh tre nứa lá đơn sơ, đến năm Vĩnh Trị, đời Lê Hy Tông, khu rừng mới được mở mang quang đãng để xây chùa lại cho khang trang. Khu vực này cấm người dân làm nhà ở nên cảnh chùa càng thêm trang nghiêm, vắng vẻ. Ngôi chùa được xây dựng ít lâu thì có một cây mít cổ thụ ở quanh chùa bỗng dưng bị gió to quật đổ. Dân làng đã đẵn lấy gỗ để tìm thợ về tạc tượng. 

Bỗng nhiên có một khách thập phương tìm đến chùa nói rằng mình làm nghề tạc tượng và được báo mộng đến đây. Người khách tả hình dáng và dung nhan người con gái đã báo mộng thì thấy giống hệt vị thần đã báo mộng cho cụ già trong làng. Năm ấy gặp mùa mưa lũ, nước sông dâng cao, tạc tượng gần xong thì dưới bến nước trước chùa có vật lạ, nửa nổi, nửa chìm, không trôi theo dòng nước, đẩy ra mấy lần lại thấy trôi trở lại. Thấy chuyện lạ, dân làng vớt lên xem thì hoá ra đó là một cái ngai bằng gỗ bèn rước ngay vào chùa. Thật lạ lùng, pho tượng tạc xong thì đặt vừa khít vào ngai. Từ đó trong vùng mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu, tiếng đồn Thánh Bà Bảo Sơn linh ứng lan truyền khắp nơi, khách thập phương về lễ rất đông. Những người làm nghề sông nước xuôi ngược qua đoạn sông này gặp mùa lũ đều lên chùa thắp hương cầu mong yên ổn. 

Truyền thuyết này có đôi nét gần gũi với truyền thuyết Man Nương, ở những chi tiết như cây gỗ trôi sông (Truyện Man Nương) và ngai gỗ trôi sông (truyền thuyết về Bà Đanh), ở bản chất của vị thần cả hai nơi thờ đều là nữ thần nông nghiệp. Ngoài ra, ở truyền thuyết về Bà Đanh ta còn thấy bóng dáng của tục thờ thần sông nước của nhân dân vùng ven sông Đáy. 

Chùa quay mặt ra hướng nam mạn sông Đáy. Phía ngoài cùng, giáp với đường đi và gần bờ sông là cổng tam quan của chùa. Công trình này được tôn cao vượt hẳn lên năm bậc và hai đầu xây bít đốc. Tam quan có ba gian, hai tầng. Tầng trên có hai lớp mái, lợp bằng ngói nam, xung quanh sàn gỗ hàng lan can và những chấn song con tiện, tầng này sử dụng làm gác chuông, ba gian dưới có hệ thống cánh cửa bằng gỗ lim. Phía ngoài cửa hai bên là hai cột đồng trụ được xây nhô hẳn ra. Trên nóc tam quan đắp một đôi rồng chầu vào giữa. Hai bên cổng chính là hai cổng nhỏ có tám mái, cửa phía trên lượng cong hình bán nguyệt. Ngày thường, khách ra vào lễ chủ yếu đi bằng cửa bên này, chỉ khi nào nhà chùa có đại lễ thì cửa chính ở giữa mới được mở. 

Qua cổng tam quan là khu vườn hoa, sân lát gạch, hai dãy hành lang hai bên. Nhà bái đường có 5 gian, hai đầu xây bít dốc, lợp ngói nam. Nhà rung đường 5 gian hai đầu xây bít dốc, lợp ngói nam, cửa đức bàn nối liền với toà bái đường. Nhà thượng diện có 3 gian, hai bên xây tường bao, phía trước là hệ thống cửa gỗ lim. Lòng nhà ở đây so với khu bái đường và trung đường thì hẹp hơn nhưng được xây cao hẳn lên. Nằm về phía tây khu chùa là khu nhà ngang gồm 5 gian, ba gian vừa dùng làm nơi thờ các vị tổ đã trụ trì ở đây, hai gian đầu hồi được ngăn thành 2 gian buồng làm nơi ở cho người tu hành. Đằng trước nhà tổ là một sân gạch, phía ngoài là khu vườn để trồng hoa với cây lưu niên. Phía đông của khu chùa là phủ thờ Mẫu làm giáp với dãy trung đường. Toàn bộ khu vực chùa có tường bao quanh. 

Chùa Bà Đanh là một hệ thống tổng thể bao gồm nhiều công trình với gần 40 gian nhà. Theo nhân dân địa phương cho biết thì ngôi chùa đã được xây dựng từ lâu đời nhưng được trùng tu nhiều lần. Các công trình còn lại đều được xây dựng từ thế kỷ XIX trở lại đây. 

Xưa nay khi nhắc tới chùa Bà Đanh, người ta thường hiểu đó là ngôi chùa có cảnh quan sơn thuỷ hữu tình, thanh u, cô tịch và linh thiêng nổi tiếng một thời. Chùa có vẻ đẹp cổ kính, thâm nghiêm vào loại hiếm có của tỉnh Hà Nam. 

Chính giữa hệ thống của bức bàn bằng gỗ lim của tầng dưới tam quan có bức chạm ngũ phúc (5 con dơi ngậm chữ thọ). Ở mỗi cột trụ được thiết kế nhô hẳn ra phía ngoài hai tường bên, nghệ nhân xưa đều đắp nổi tường hình tứ linh: long, ly, quy, phượng theo thế đối xứng, cầu kỳ, uyển chuyển. Trên nóc tam quan có đắp một đôi rồng chầu mặt nguyệt bằng vôi cát và mảnh sứ, mang phong cách rồng thời Nguyễn. Đáng chú ý nhất ở tam quan là đôi rồng đá và đôi hổ đá được bố trí dọc theo hai bên bậc lên xuống, theo thế đối xứng, chầu vào nhà Bái đường. Nếu so với tượng đôi rồng chầu mặt nguyệt trên nóc tam quan, thì tượng đôi rồng đá dưới chân trong tam quan được trổ đơn giản, hiền lành hơn, còn phảng phất bóng dáng con rắn, chứ chưa mang hình kỳ đà. Tương tự như thế, đôi hổ đá ngồi chếch 450 phía sau, cũng được chạm trổ đơn giản, hiền lành, không dữ tợn như tượng ngũ hổ các nơi thờ khác. Đây là những di vật thuộc loại quý hiếm đầy chất dân gian rất cần được bảo vệ. 

Gần như toàn bộ nghệ thuật kiến trúc và nghệ thuật chạm khắc của ngôi chùa tập trung thể hiện ở nhà bái đường – nơi hành lễ thường ngày của các nhà sư và các phật tử. Nhà bái đường năm gian, khung gỗ lim, đầu hồi bít đốc và cũng đắp nổi hai con rồng. Quan sát từ giữa sân gạch, người ta sẽ thực sự hứng thú khi được chiêm ngưỡng hệ thống tượng đắp nổi theo đề tài "Tứ long chầu mặt nguyệt" trên nóc nhà mái đường. Cả bốn con rồng, từ kiểu dáng thân hình uốn lượn, đến mắt, râu, vuốt, vây đều rất sinh động, uyển chuyển, mà cũng rất dữ dội, tưởng như đang vờn nhau, bay lượn trong khoảng không bao la. Phong cách rồng thời Nguyễn thể hiện ở đây rất đậm nét. 

Đầu hai dãy hành lang và liền với nhà bái đường là hai cột trụ cao vút, sừng sững, uy nghi. Trên mỗi cột đều đắp nổi hình tứ linh: long, ly, quy, phượng theo thế đối xứng, gợi cảm giác hài hoà, cân đối, vững bền. Từng đường nét của hình long, ly, quy, phượng đều toát ra vẻ tỷ mỷ, đông phu, tài hoa của các nghệ nhân xưa. Tài năng chạm khắc của nghệ nhân xưa thể hiện trên sáu cột cái của toà nhà này. Vì kèo thứ nhất (tính từ Tây sang Đông) một mặt áp tường, chạm mặt hổ phù, trúc hoá long, hoa hồng, quả đào, quả lựu. 

Vì kèo thứ hai, mặt trước chạm "Ngũ phúc" (năm con dơi), hoa mai, hoa hồng dàn tranh, bút lông quả và bầu rượu, mặt sau chạm (ngũ long tranh châu), hoa hồng, hoa lan, mai hoá. Vì kèo thứ ba, mặt trước chạm "Tứ linh" (long, ly, quy, phượng), "Tùng mã" (từng và ngựa), "Mai điểu" (hoa mai và chim), quá giang chạm đàn tranh, đàn nguyệt, phách, mặt sau, chạm "Tứ linh", bầu rượu, cuốn thư. Vì kèo thứ tư, mặt trước phía trên chạm "Lưỡng long chầu nguyệt", phía dưới chạm "Tứ linh", quá giang: chạm hoa hồng, cây tùng, cuốn thư, kim tiền, đàn và sáo. Vì kèo thứ năm, mặt trước chạm mặt hồ phù, nghê chầu hai bên, mai hoá, quá giang chạm: quả đào, phật thủ, quả lựu, hoa hồng, cuốn thư và con dơi, mặt sau: chạm "Ngũ phúc", quả đào, hoa hồng, cuốn thư. Vì kèo thứ sáu, (một mặt áp tường) chạm mặt hổ phù, thông hoá long, trúc hoá long, trên quá giang chạm quả đào, mai, trúc, nho, lựu, đào mai, quạt vải. Ngoài sáu vì kèo còn có sáu cột cái bằng gỗ lim, đứng giáp ranh giữa nhà bái đường và nhà trung đường. Trên mỗi thân cột đều chạm chìm hình rồng leo chầu vào ban thờ ở giữa gian thứ ba với các nét chạm rất tinh xảo. 

Về mặt đề tài, nếu là động vật, thì nghệ nhân đắp nổi hay chạm theo đề tài: "Tứ long" (long, ly, quy, phượng), "Ngũ phúc" (năm con dơi), "Lưỡng long chầu nguyệt", "Ngũ long tranh châu", "Tứ long chầu mặt nguyệt", nếu là thực vật, thì có các đề tài: "Tứ quý" (Tùng, cúc, trúc, mai), "Bát quả" (đào, nho, lựu, vả, phật thủ), nếu là thực vật kết hợp, thì các các đề tài: "Mai điểu" (Hoa mai và chim), "Tùng mã" (cây tùng và ngựa), "Trúc hóa long", "Thông hoá long"… Ngoài ra, còn có đề tài quen thuộc như dàn tranh, dàn nguyệt, phách, sáo, bút lông, bầu rượu, quạt quả vả mà dân gian vẫn hiểu là "Bát bảo" (tám loại quý). Trong quá trình sáng tạo, nghệ nhân xưa đã kết hợp thể hiện những đề tài ước lệ tượng trưng của nghệ thuật mang tính cung đình ("Tứ linh", "Ngũ phúc", "Lương long chầu nguyệt", "Ngũ long tranh châu", "Mai điểu", "Tứ quý", "Tùng mã") với những đề tài thuộc nghệ thuật dân gian như "Ngũ quả", "Bát quả", đàn, sáo, nhị, phách. Lối thể hiện phối hợp khéo léo giữa lối chạm nổi, chạm long với lối chạm chìm. Tất cả đều được cách điệu hoá mà vẫn có hồn, sinh động. 

Trong nhà thượng đường của chùa Bà Đanh, có nhiều tượng thờ như tượng Tam thế, tượng Ngọc Hoàng và thái thượng Lão Quân, tượng Bà Chúa Đanh. Có thể coi pho tượng Bà Đanh là một trung tâm của chùa. Tượng được tạc theo tư thế toạ thiền trên chiếc ngai đen bóng (chứ không phải là toà sen), với khuôn mặt đẹp, hiền từ, đầy nữ tính, gần gũi và thân thiết, chứ không có dáng vẻ siêu thoát, thần bí như các tượng Phật khác. Sự hài hoà giữa pho tượng và chiếc ngai tạo nên vẻ hấp dẫn của nghệ thuật điêu khắc chùa Bà Đanh.

CHÙA LONG ĐỌI SƠN



Chùa nằm trên núi Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam, cách Phủ Lý khoảng 8 km về phía Bắc. Chùa Đọi được xây dựng vào năm 1054 và được trùng tu năm 1118-1121. Đây là ngôi chùa cổ có nhiều nét văn hoá nghệ thuật kiến trúc tinh xảo, mang đậm dấu ấn qua các thời kỳ lịch sử. Hàng năm vào ngày 21/3 âm lịch chùa Đọi Sơn mở hội. Với vị trí địa lý thuận lợi, phong cảnh thiên nhiên đẹp, nơi đây sẽ là một điểm du lịch khá hấp dẫn. 

Từ Hà Nội, trên quốc lộ 1 từ Đồng Văn rẽ trái đi Hoà Mạc 8km là đến chùa. Ngôi chùa được xây dựng trên đỉnh núi, trong khuôn viên 2 hec-ta vườn rừng. Chùa quay về hướng nam, đúng như câu tục ngữ: Đầu gối núi Đọi, chân dọi Tuần Vường, phát tích đế vương, lưu truyền vạn đại. 

Chùa Long Đọi Sơn có tên là Diên Linh tự. Chùa do vua Lý Thánh Tông và Vương phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 (tể tướng Dương Đại Gia và thiên sư Đàm Cứu Chỉ được mời đến trụ trì và tham gia xây dựng). Đến đời Lý Nhân Tông, nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121. Các công trình ở đây là chùa và tháp. 
 
Ngay cổng chính, trước tòa tam bảo là nhà bia để tấm bia Sùng Thiện Diên Linh nổi tiếng. Khi xây xong chùa và tháp, nhà vua sai Thượng thư bộ Hình Nguyễn Công Bật soạn văn bia. Văn bia nguyên có tên là Đại Việt quốc dương gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh tháp bi, được viết xong ngày 6 tháng 7 năm Tân Sửu (1121). Nội dung bài văn bia chủ yếu ca ngợi công lao tài trí của Lý Nhân Tông trong việc xây dựng, kiến thiết và đánh giặc giữ nước. Mặt sau tấm bia ghi việc Thái hậu Ỷ Lan cúng vào chùa 72 mẫu ruộng làm đèn nhang năm 1121 , khắc bài thơ của Lý Thánh Tông làm vào năm Quang Thuận thứ 8 (1467) nhân dịp nhà vua đi bái yết sơn lăng lên thăm chùa và ghi việc tu sửa chùa vào thời vua thứ 5 nhà Mạc (1591). Sau nhà bia là tòa tam bảo, rồi đến chùa chính gồm 6 gian. Phía sau chùa chính là sân, vườn hoa, hai bên sân là hai hành lang, mỗi bên đặt 9 pho tượng La Hán. Sau cùng là hậu điện. Bên phải chùa, cạnh vườn hoa là nhà thờ tổ, nhà giảng đường và nhà khách. Phía sau nhà thờ tổ là gian nhà trai, thiền tổ và sau cùng là bếp. 

Đi theo lối cổng phụ, sẽ đến nơi trước kia có ngọn tháp Chùa Đọi. Cây tháp là một công trình được xây dựng công phu. Tháp gồm "13 tầng chọc trời, mở 40 cửa đứng gió". ở tất cả các cửa vách đều chạm rồng. Đây là loại tháp vuông 4 mặt. Ngoài tầng đế và hai tầng trên không có cửa, còn lại 10 tầng mở cửa cả 4 phía. Tháp Sùng Thiện Diên Linh là tháp mộ, tầng trên "đặt hồng vàng xá lị, tỏa tường quang cho đời thịnh sau này". Tầng đế hợp với tầng đầu tiên thành nơi thờ Phật, trong đó có đặt tượng Đà Bảo Như Lai. Trên các xà của tháp có treo chuông đồng. Đây là loại chuông nhỏ có khả năng là những bộ đinh đang, khi gió thổi va vào nhau tạo thành những âm thanh réo rắt. 

Tầng dưới chân tháp trước đây có "tám vị tướng khôi ngô đứng chống kiếm trang nghiêm chia đều ở bốn cửa" (nay chỉ còn lại 6 pho tượng), trên nóc có "tiên khánh bưng mâm, hứng móc ngọc cho bầu trời tạnh ráo". Cả cây tháp như là một ngọn bút, một tượng đài cao, bao gồm nhiều hình tượng và được thể hiện bằng nhiều phong cách khác nhau. Bên cạnh đó, ở rải rác trong các thành phần kiến trúc còn có nhiều tượng trang trí như tượng chim thần đầu người mình chim đặt trên các con sơn, tượng giống như ở các cửa cuốn, các đố dọc. ngay cả những viên gạch dùng để ghép tường cũng có trang trí những hình vũ nữ đang múa. 

Chùa Long Đọi Sơn đứng vững hơn ba trăm năm. Đầu thế kỷ XV, khi giặc Minh xâm lược nước ta, chùa và tháp đã bị phá hủy hoàn toàn. Riêng bia vì không phá nổi, chúng đã lật đổ xuống bên cạnh núi. Khi lên thăm cảnh chùa, vua Lê Thánh Tông có bài thơ cho khắc ngay sau tấm bia Sùng Thiện Diên Linh, trong đó có những câu tố cáo tội ác của giặc: Hoang đường vua Lý bia còn đó. Tàn bạo quân Minh tháp khác xưa… 

Mãi tới cuối thế kỷ XVI, vào năm 1591 đời Mạc Mậu Hợp, tức là gần 170 năm sau khi bị giặc Minh tàn phá, ngôi chùa bị bỏ phế hoàn toàn, nhân dân địa phương mới "dựng lại bia đổ, bắc lại xà nhà và những chỗ tường hư hỏng, làm cửa xây tường khiến cho sau hơn 500 năm, một nơi thắng cảnh trong chốn tùng lâm lại được mới mẻ" (Bài văn khắc mặt sau bia Sùng Thiện Diên Linh). Vào năm Tự Đức thứ 13 (1860), chùa Đọi Sơn có sửa sang thượng điện, tiền đường, nhà tổ, siêu hương, gác chuông, nghi môn. Đến năm 1864, chùa lại tiếp tục sửa hành lang, đúc tượng Di Lặc, đúc khánh đồng và đúc khánh đá do sư tổ đời thứ 5 là Thích Chiếu Trường chủ trì xây dựng hoàn chỉnh, từ đó trở thành trường Bắc Kỳ Phật giáo. Tại tiền đường, thượng điện tượng Phật rất nhiều. Hai bên chùa là 18 gian hành lang thờ thập bát La Hán. Ngay ngõ vào là hai dãy nhà đắp cảnh thập điện. Ngoài ra, chùa còn có nhà tổ, nhà khách, tăng phòng… tất cả có 125 gian.

Trong kháng chiến chống Pháp, năm 1947 theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến, chùa bị bỏ hoang suốt 10 năm trời, các sư sãi đều phải tản cư đi nơi khác. Ngay sau ngày hoà bình lập lại, năm 1957, các sư cùng các tín đồ phật tử và nhân dân địa phương cho sửa chữa, tôn tạo lại di tích. 

Các di vật của chùa Long Đọi còn giữ được như tấm bia Sùng Thiện Diên Linh, 6 pho tượng Kim Cương trong 8 pho có từ ngày xưa là những hiện vật rất quý báu đối với việc nghiên cứu văn hoá nước ta cách đây gần một thiên niên kỷ.   

Bia cao 2,5m, rộng 1,65m, dày 0,3m. Bệ bia là một khối đá hình chữ nhật dài 2,4m, rộng 1,8m, cao 0,5m không tạc hình con rùa như các chân bia khác mà tạc hình hai con rồng uốn khúc. Bệ chia làm hai phần, phần nằm tiếp xúc với đất hình chữ nhật, phần phía trên chạm khắc hình sóng nước 2 lớp trên cao và dưới thấp. Mặt bệ bia chia làm hai nửa, tạc hình hai con rồng, đuôi ở đoạn sau, xoắn thành 4 khúc khép kín. Mỗi con rồng có 4 chân, đầu rồng có bờm nhưng nay chỉ có cổ đầu rồng đã bị phá vỡ. Chạy vành ngoài mặt chính của bia là những con rồng được chạm nối tiếp nhau. Trán, diềm và cạnh bia đều lấy hình rồng làm đối tượng trang trí, ở trán bia có 2 con rồng chầu vào giữa tên bia Đại Việt quốc dương gia đệ tứ Sùng Thiện Diên Linh tháp bi. Hai mặt cạnh bia mỗi bên có 9 ô quả trám, trong mỗi ô có chạm hình rồng.

Hiện này chùa Đọi còn giữ được 6 trong 8 pho tượng Kim Cương, trong đó, có những pho bị mất đầu hoặc sứt gẫy đã được đắp lại bằng xi măng. Các pho tượng Kim Cương ở chùa Đọi có kích thước xấp xỉ nhau, cao bằng người thực, khoảng 1,6m đứng chống gươm trước bụng. Tượng được tạc bằng đá khối, phục trang theo lối võ quan. Lá chắn che trước ngực, áo giáp ngoài được trang trí tỉ mỉ bằng hình hoa cúc, hình xoắn. Trên toàn thân áo còn rải rác những bông hoa nhỏ nhiều cánh. Cán gươm được trang trí hình ho cúc dây. Tượng được tạc nổi một phần theo kiểu phù điêu về phía đằng trước, phía sau lưng lẫn luôn vào khối đá. Tượng đứng thẳng, hai chân hơi dõng theo thế đứng vững chãi của người lính gác, hay tay khuỳnh chống gươm trước bụng, đầu đội mũ trùm tai, mặt tròn trặn, nhẹ nhõm. 

Tượng đầu người mình chim mang hình tượng nghệ thuật trong thần thoại Ấn Độ, gọi là tượng chim thần Ki-na-ri. Tượng được tạc bằng đá ráp, cao 40cm, tạc một hình người nửa dưới là chim, chân và cánh thể hiện rất rõ, chân có móng, đuôi nhiều lông cao vút. Hình tượng người rất thực. Trên đầu tượng, tóc tết thành hình cầu, vắt ngang trán là một vành khăn rủ xuống ngang vai. Trên hai cánh chim là những đường cong khắc chìm vòng quanh vành ngoài, bên trong có những đường xoáy trôn ốc được cách điệu theo hình hoa lá chạm nổi. Thu hút nhất ở tượng là bộ mặt. Đây là bột mặt trầm tư, đôi mày thanh tú và dài, cặp mắt hơi xếch, đuôi mắt dài hơn, quặp xuống, làm môi khép lại thoáng như có nụ cười. Mũi dọc thẳng, cao. Bộ tóc phía trên đầu được thắt bằng một dải điểm hoa, tạo thành búi trên đỉnh đầu. Đây là những mô típ trang trí của thế kỷ XI–XII. 

Tại chùa Đọi đã tìm thấy một số viên gạch bằng đất nung có hình vũ nữ, một số viên khác có hình rồng: 
 
Gạch đất nung có hình vũ nữ: Kích thước trung bình của loại gạch này rộng 0,15m, dài 0,22m, dày 0,08m, được nung già, có màu đỏ son. Hình các vũ nữ múa ở đây được miêu tả cách điệu, dáng điệu các nhân vật mềm mại uyển chuyển, gương mặt tươi sáng với một nụ cười kín đáo, tóc chải ngược về phía sau, uốn bồng lên cao, mũ che một phần tóc, chân đi hài mũi cong, bắp tay, cổ tay để trần có đeo vòng, quần ống túm, áo thêu thùa công phu. Động tác của các vũ nữ như đang lướt về phía trước, toàn thân như đang đung đưa, chân hải bước lên, chân trái gập xuống, hai cánh tay để trần tung ngang vai, đầu lắc lư theo nhịp trống. Hai bàn tay xòe ra là một động tác vũ đạo vừa như đỡ một tấm xà chạm cách điệu ở phía trên. Toàn bộ cả mảng gốm này được ghép lại với nhau toát lên một vẻ say sưa với cuộc sống.

Gạch đất nung có hình rồng: Loại gạch này có chiều dài 0,24m, cao 0,1m được nung già, có màu đỏ. Viên gạch được khắc trọn vẹn một con rồng. Đây là một con rồng thân hình tròn, có nhiều khúc uốn lượn, thân dài và nhỏ dần về phía đuôi, có dáng dấp một con rắn. Đầu rồng có tỷ lệ cân đối với thân, chân rồng thanh mảnh, râu thoát ở hàm trên ra, có hai đường sóng cuộn vào nhau. Bờm sau gáy thoát ra từ nhiều đốt, lượn về đằng trước hoặc đằng sau. Con rồng được tạo ở tư thế mình nghiêng, đắp nổi trên gạch nhưng rất sinh động.

Đây là pho tượng đồng nặng 1 tấn, được đúc vào năm 1864. Toàn bộ pho tượng được đặt vào thế ngồi thoải mái, chân phải chống lên, chân trái xếp vào lòng. áo mặc nhưng chỉ xỏ hai cánh tay, để hở cả ngực và bụng, bụng căng tròn, ngực nở, vai đầy đặn. Bộ mặt được diễn tả thành công thể hiện sự no đủ, vui tươi. Tai dài, dầy. Các khối thịt ở cằm, má được chú ý khắc hoạ. Pho tượng được tạo với tư thế ngồi, đầu hơi ngửa ra sau, chiều ngang được mở rộng ra hai bên, số đo chiều ngang lớn hơn số đo chiều cao. Tất cả các chi tiết đều thể hiện sự thống nhất của một ý đồ nghệ thuật và qua đó, biểu hiện tư tưởng của tác giả 

Trong các lễ hội thờ Phật, đặc sắc và đông đảo nhất là lễ hội chùa Đọi Sơn thuộc xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, Hà Nam. 

Hàng năm cứ đến ngày 21 tháng 3 âm lịch, chùa Đọi Sơn mở hội. Nhân dân trong vùng và rất đông khách thập phương đã về dây lễ và văn cảnh chùa. Từ sáng sớm, đoàn rước kiệu đã hành lễ từ chân núi lên chùa làm lễ, dâng hương tưởng niệm Lý Nhân Tông, người có công mở mang xây dựng chùa. Sau phần lễ dâng hương là các đội tế nam quan, tế nữ quan tạ ơn Trời Phật. 

Về phần hội, vào ngày lễ hội chùa Đọi Sơn, có nhiều trò vui được tổ chức như nấu cơm thi, thi dệt vải, bơi thuyền, hát chèo, hát đối, hát giao duyên, hội chọi gà, tổ tôm điếm, múa tứ linh, dấu vật, đánh cờ người.


 

CHÙA ĐẠI BI (CHÙA BỐI KHÊ)



Chùa thường gọi là chùa Bối Khê, tọa lạc ở xã Bối Khê nay là xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Chùa được dựng vào thời Trần, khoảng năm 1338. Kiến trúc hiện nay chủ yếu là những lần trùng tu vào cuối thế kỷ XVIII và năm 1923. Chùa còn giữ được nhiều di vật của thời Trần ở tòa thượng điện, và tượng Bồ-tát Quan Thế Âm tạc vào thế kỷ XVI. Theo sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), ngoài chư Phật, chùa còn thờ Minh Đức chân nhân đời Trần. Ngài họ Nguyễn, húy là Nữ, tự Bình An, tu hành đắc đạo, tăng đồ theo thụ giáo rất đông. Hàng năm mở hội lễ vào ngày 12 tháng giêng (âm lịch). Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử  văn hóa quốc gia.

Tam quan và gác chuông chùa Bối Khê
TTCT - Những ngày chớm hạ này theo quốc lộ 21B, tới chùa Đại Bi (thường được gọi là chùa Bối Khê) ở thôn Bối Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây - cách Hà Nội chừng 20km, du khách sẽ được ngắm những hoa sen trắng, thơm ngào ngạt ẩn dưới tầng tầng cành lá trong không gian cổ kính của một ngôi chùa có từ thời nhà Trần.

Không vươn lên từ mặt nước hồ, những hoa sen kỳ lạ chùa Bối Khê bung ra tinh khiết trắng từ những cành lá xanh. Búp sen nho nhỏ giống hệt búp sen thường thấy.

Thoạt nhìn, hoa sen chùa Bối Khê nhang nhác hoa trà, lá giông giống lá cây sanh nhưng tỏa hương thơm đặc trưng của hoa sen nước, có phần đậm đà hơn. Mùa hoa sen từ tháng 4 - tháng 6 âm lịch, hoa nở tới 1 - 2 tuần mới tàn.

Chỉ có ở chùa Bối Khê (?)

Tương truyền những cây hoa sen kỳ lạ này đã có hàng trăm năm trong khuôn viên chùa. Dân làng không ai rõ, gọi là sen cạn. Trước đây chùa có hai cây sen tổ cao chừng 5m nhưng một cây đã chết vì sâu mọt. Có hồi trên báo chí từng tranh luận về câu ca dao Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen, còn theo lời ông Nguyễn Mạnh Hùng, bảo vệ chùa Bối Khê: “Mọi người bảo làm gì có cành sen, nhưng chỉ chùa làng tôi có cành sen”.

Hiện trong khuôn viên chùa cũng chỉ có vỏn vẹn ba cây sen. Hai cây sen con cao chừng 2m, trồng trước tam bảo, được chiết từ cây sen tổ cạnh hậu cung thờ thánh. Theo ông Hùng, hai cây sen con mỗi năm chỉ nở chừng 10 hoa. Khi chúng tôi đến chùa, hai cây sen con mới nở chừng 1-2 hoa và đang có nụ, thế mà trong không gian ầm ầm tiếng cưa đục, xây trát đại tu ngôi chùa cổ vẫn ngát hương. “Chùa cũng đã có ý định nhân giống sen trồng nơi khác trong làng nhưng không sống được” - ông Hùng bảo.

Ngôi cổ tự độc đáo

Hoa sen trắng trên cây con
Chùa Bối Khê ẩn dưới tầng lá mát rượi bóng đề, đa cổ thụ ba người ôm không xuể, kề bên là hàng loạt di tích cổ kính khác. Trên gác chuông chùa có treo quả chuông đồng đường kính 60cm, cao 1m, đúc năm Thiệu Trị thứ 4 (1844). Chùa được dựng vào thời Trần, khoảng năm 1338, toàn bộ kiến trúc được sắp xếp cân xứng hợp thành kiểu nội công ngoại quốc. Qua khỏi gác chuông là sân gạch rộng xanh mát những cây đại, móng rồng, sen cạn... Hai bên là hai hồ sen, cũng là giếng nước sinh hoạt cho dân làng trước đây, nay là nơi biểu diễn văn nghệ trong dịp hội chùa.

Trong số 58 pho tượng của chùa có những tượng đẹp không kém tượng chùa Mía, chùa Dâu, chùa Thầy..., chẳng hạn tượng Ngọc hoàng Thượng đế, thập điện Diêm vương, và nhất là tượng Phật Quan Âm 12 tay cao chừng 2m ngồi trên tòa sen đặt trên bệ đá chạm khắc hình rồng, chim thần, hoa lá có niên đại 1382, triều vua Trần Phế Đế.

Chùa còn nhiều hiện vật quí hiếm: nhang án hoa sen bằng đá được làm vào thời Trần (1382), đèn gốm trang trí hình cánh sen, rồng đắp nổi và tượng Quan Âm Nam Hải thời Mạc, cùng nhiều bia đá mà cổ nhất là bia sự tích “Bối động thánh tích bi ký” có niên đại Thái Hòa 11 (1453)...

Hằng năm chùa mở hội vào ngày 12 tháng giêng âm lịch. 14 thôn lân cận rước kiệu thánh làng mình về tế lễ thánh Bối Khê, sau đó rước kiệu thánh lên đình Kim thờ Hai Bà Trưng. Một dự án trùng tu chùa với tổng kinh phí 15,87 tỉ đồng được khởi công vào tháng 11-2005 và phải mất ba năm mới hoàn thành.

Dù được công nhận là di tích quốc gia hạng đặc biệt, là một trong sáu di tích quan trọng hàng đầu của Hà Tây (cùng với chùa Hương, chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Đậu, làng cổ Đường Lâm), lại nằm trong vòng cung du lịch chùa Hương - Quan Sơn - làng nghề Hà Tây nhưng đến nay chùa Bối Khê vẫn vắng vẻ khách thập phương, người hành hương, chiêm bái di tích. Một ngôi chùa cổ kính nhất, độc đáo vào bậc nhất VN, ngát hương sen kỳ lạ vẫn chưa được mấy người biết đến.

CHÙA ĐẠI BI (CHÙA HIỆP THUẬN)



Chùa thường gọi là chùa Hiệp Thuận, tên nôm là chùa Bà Tề, tọa lạc ở thôn Hiệp Thuận, xã Hiệp Thuận, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây. Chùa cách Hà Nội khoảng 25km về phía Tây Bắc. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê và đã được trùng tu nhiều lần.Có một số tài liệu cho biết chùa được dựng từ thời Tiền Lê, tên "Bà Tề" ẩn chứa sự cổ kính và chưa giải thích được. Tòa Tam bảo ngôi chùa hiện nay có kiến trúc chữ "Công", nội thất bài trí khá nhiều tượng. 72 pho tượng đất nung sơn son thếp vàng, nhiều tượng có 2 bộ như 2 tượng Cửu Long, 2 tượng Chuẩn-đề, 2 bộ tượng Văn-thù, Phổ Hiền v.v... Đặc biệt, chùa có tôn trí 3 pho tượng Tam Thế bầng gỗ cao 0,93m, ngang gối 0,63m được tạc theo phong cách tượng trong vùng Đông Nam Aá. Chùa có quả đại hồng chung khắc chữ "Bà Tề tự chung" đúc năm Gia Long thứ 12 (1813), khánh Bà Tề đúc năm Minh Mạng thứ 3 (1822), chân tảng đá chạm hình 16 cánh sen vào thời Lê. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

CHÙA LONG CHÂU



Chùa thường được gọi là chùa Trầm, tọa lạc ở xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. Chùa được dựng từ thời Lý ở chân núi Tử Trầm, và được xây dựng lại vào năm 1696 đời Vua Lê Hy Tông và năm 1913 đời Vua Duy Tân. Đặc biệt ở chùa có động Long Tiên với 48 pho tượng Phật bằng đá có niên đại thời Hậu Lê. Bàn thờ Tam Bảo được bài trí tôn nghiêm. Giữa động, chạy dọc vách động là các pho tượng Phật, Bồ-tát, La-hán... Chùa là một danh lam thắng cảnh của Hà Tây. Đông đảo Phật tử, du khách đến chiêm bái; thanh niên, học sinh đến tham quan, cắm trại thường xuyên. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA QUẢNG NGHIÊM (CHÙA TRĂM GIAN)

Chùa thường gọi là chùa Trăm Gian, chùa Tiên Lữ, tọa lạc ở thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Chùa được khởi dựng từ thời Lý và đã được trùng tu nhiều lần. Tên chùa Trăm Gian vì quần thể kiến trúc ở đây có đến 104 gian nhà, chia thành ba cụm. Cụm thứ nhất gồm hai quán ở đường vào; cụm thứ hai là gác chuông hai tầng tám mái dựng năm 1693, tầng trên treo quả đại hồng chung đúc năm 1794 có bài minh của Tiến sĩ Trần Bá Lãm. Cụm thứ ba là ngôi chùa chính gồm bái đường, nhà thiêu hương và thượng điện. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Có hơn 150 pho tượng bằng gỗ và đất nung phủ sơn. Bộ Thập bát La-hán và bộ Thập Điện Minh Vương là những tác phẩm nghệ thuật bằng phù điêu gỗ sơn. Đặc biệt ở gian giữa thượng điện có một bệ hình khối chữ nhật bằng đất nung đỏ, chung quanh trang trí nhiều hình động vật và hoa lá, trên là đài sen, được nhiều tư liệu cho niên đại thời Mạc. Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng vào bậc nhất ở Việt Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Vì ở xóm Núi thuộc xã Tiên Phương, huyện Hoà Đức, Hà Tây. Chùa được lập từ đời Lý Cao Tông (1185) trên một quả đồi cao khoảng dăm chục mét, có tên là núi Mã, xung quanh có nhiều cây cổ thụ che rợp mặt đồi. Đời Trần có một vì cao tăng tu tại đây, tên là Nguyễn Lữ, hiệu Bình A. Tương truyền tuy có nhiều phép lạ. Sau khi ông mất, dân làng xây tháp để giữ gìn hài cốt và tôn gọi là Đức Thánh Bối.Chùa Quảng Nghiêm là một quần thể kiến trúc 

độc đáo. Theo cách tính cứ 4 góc cột là một gian thì chùa có cả thảy 104 gian, chia thành 3 cụm kiến trúc chính. 

Cụm thứ nhất gồm 4 cột trụ và 2 quán, trước đây là nơi đánh cờ người trong ngày hội, tiếp đó là nhà Giá ngự nhìn ra mặt hồ sen, nơi đặt kiệu thánh để xem trò múa rối nước.

Trèo qua mấy trăm bậc gạch xây là tới cụm thứ hai gồm một toà gác chuông 2 tầng mái, có lan can chạy quây 4 mặt. Các ván bằng đều có chạm hình mây hoa. Tại đây treo một quả chuông cao 1,10 m, đễờng kính 0,6 m, đúc năm 1974. Trên chuông có khắc một bài minh của Pham Huy ích. Qua gác chuông, leo 25 bậc đá xanh hình rồng mây, đến sân trên có kê một sập đá hình chữ nhật.

Lại leo 9 bậc đá, hai bên có lan can chạm hình rồng cuộn khúc thế tới cụm thứ 3 đó là chúa chính, gồm nhà bái đường, toà thiêu hương, và thượng điện. Hai bên là 2 dãy hành lang. Trong cùng là nhà tổ, giữ lại có lầu trống bên trong treo một trống lớn, đường kính 1m và một khánh đồng dài 1,20m, cao 0,60m đúc năm 1749. Tại đây có 153 pho tượng, hầu hết bằng gỗ, một số ít bằng đất nung, đặc biệt quý là tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát. Trong chùa còn có nhiều bia, hoành phi, câu đối. Riêng có hai câu đối khảm trai, tương truyền có từ thời nhà Hồ (1400-1406). Về mặt nghệ thuật điêu khắc thì tượng ở đây không vượt được tượng ở chùa Sùng Phúc, nhễng về mặt lịch sử thì lại có pho tượng đáng chú ý. Tượng này đặt ở gian bên trái. Đó là tượng đô đốc Đặng Tiến Đông, một tướng lĩnh Tây Sơn, chỉ huy đạo quân đánh vào phía nam Thăng Long, đánh đòn quyết định sự thất bại thảm hại của quân xâm lược nhà Thanh, giải phóng Thăng Long vào ngày 5 tết Kỷ Dậu (1789) và có văn bia do Phạm Huy ích soạn nói về Đặng Tiến Đông cùng với sắc phong về đời Tây Sơn cho vị đô đốc lừng danh này, nhân dân địa phương quen gọi là tượng Quân Độ. Tượng này được phát hiện vào năm 1972. Ngoài ra còn có tượng Đức Thánh Bối đặt trong khám gỗ gian bên phải. Đây là tượng cốt rút bằng mây đan ngoài bọc vài sơn, tễơng truyền là tượng bỏ hài cốt của ông.

Chùa đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá.
 
Ở nước ta có khá nhiều ngôi chùa có qui mô lớn được gọi là chùa trăm Gian. Trong số đó, Quảng Nghiêm Tự (tên thông dụng là chùa Trăm Gian là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất được xây dựng trên núi Sở thuộc thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây. 

Toàn bộ quần thể chùa được xây dựng dàn trải trên sườn phía Nam của núi Sở nhưng cổng vào được tạo hình như một nghi môn thường thấy trong kiến trúc đình đền lại nằm chếch về phía Ðông - Nam giáp đường đi. Sau cổng vào là con đường gạch chạy giữa những rặng thông theo hình chữ chi với nhiều cấp nền dẫn lên khu vực chính của chùa. Mở đầu cho khu vực này là tòa nhà Giá Ngự, nơi rước kiệu Thánh ra xem các trò vui được tổ chức ở hồ bán nguyệt dưới chân núi, nơi được coi như là minh đường - gợi khúc sông cong tự phúc - cho cả ngôi chùa. Ngược lên cao, sau tòa Giá Ngự, Gác chuông chùa nằm trên trục tâm của tòa Tam bảo là một trong số ít gác chuông cổ hiện tồn tại với những hình chạm rồng ổ xen lẫn mây lửa của nghệ thuật chạm khắc thế kỷ 17. Tòa Gác chuông này có mặt bằng hình vuông cao 2 tầng với 8 mái uốn cong lên bởi những hoa đao khiến cho công trình như một bông sen khổng lồ vô cùng thanh quý. 

Vượt 27 bậc đá từ Gác chuông là lên đến sân trên của chùa, nơi kê chiếc sập đá có đặt một bát hương để du khách hành lễ trước khi lên đến thềm chùa. Bố cục của khu Tam bảo gồm Tiền đường, Thiêu hương, Thượng điện được kết hợp với nhau thành hình chữ Công và được xây bao lại bằng những hành lang dài ở 2 bên đặt bạ tranh Thập bát vị La hán và Hậu điện ở phía sau thành hình chữ Quốc theo dạng thức bố cục "nội công - ngoại quốc". Nhờ được xây dựng trên nền cao, tòa Tiền đường với 7 gian có được dáng vẻ trang nghiêm và uy nghi cần có nơi cửa Phật. Hệ thống Tam bảo bên trong dù bị xây kín nhưng ánh sáng vẫn vào được nhờ những sân thiên tĩnh tạo nên một độ sáng vừa phải cho khu Phật điện mang đầy vẻ linh thiêng nhưng lại giản dị, gần gũi giữa đạo và đời. Ðặc biệt nổi tiếng trong số các tượng Phật trong chùa là pho Tuyết Sơn mô tả chân thực hình ảnh Ðức Phật gầy gò khi tu khổ hạnh trong núi Tuyết Sơn với những xương sườn, đường gân và mạch máu nổi lên khá rõ. Ngoài ra chùa hiện còn lưu giữ một số hiện vật có giá trị như đôi rồng đá thời Trần có thân dài mập nhưng ghép đầu rồng thời Nguyễn làm lan can thành bậc cửa chùa, bộ tranh La hán tranh Thập điện Diêm vương... 

Là một trong những cổ vật nổi tiếng của Hà Tây, chùa Quảng Nghiêm không chỉ là một trung tâm tín ngưỡng và tôn giáo mà còn là một ngôi chùa có giá trị to lớn về mặt nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc. Chính vì vậy chùa luôn thu hút một số lượng lớn Phật tử du khách về chiêm bái. 

CHÙA SÙNG NGHIÊM (CHÙA MÍA)



Chùa thường gọi là chùa Mía, tọa lạc ở xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội khoảng 45km về phía Tây. Chùa được dựng vào thời Trần. Đến thế kỷ XVII, bà Nguyễn Thị Dong, vợ Chúa Trịnh Tráng (được nhân dân tôn kính gọi là Bà Chúa Mía) đã cho xây dựng lại. Văn bia năm 1634 ở chùa cho biết chùa được trùng tu lớn vào năm 1632. Chùa có gác chuông là ngôi nhà ba gian kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái. Ơở đây có một tấm bia năm 1621, một tấm bia năm 1750, một quả đại hồng chung đúc năm 1745 và một khánh đồng đúc năm 1846. Gần gác chuông và cây đa cổ thụ là tòa bảo tháp Cửu phẩm Liên Hoa cao 13m thờ vọng Xá-lợi đức Phật. Qua khỏi Bát-nhã môn là nội điện. Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Chùa có 287 pho tượng thờ, trong đó có 174 tượng đất nung. Nhiều tượng ở chùa là những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng như: tượng Tuyết Sơn (cao 0,76m), tượng Quan Âm Tống Tử (cao 0,76m), tượng Bát bộ Kim Cang (cao khoảng 2m), tượng Bà Chúa Mía (cao 0,76m)v.v... Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA SÙNG PHÚC (CHÙA TÂY PHƯƠNG)



Chùa thường gọi là chùa Tây Phương, tọa lạc trên núi Tây Phương (xưa gọi là núi Câu Lậu), ở xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Chùa đã được trùng tu nhiều lần vào các thế kỷ XVII, XVIII. Năm 1632, chùa xây dựng thượng điện 3 gian và hậu cung cùng hành lang 20 gian. Khoảng những năm 1657-1682 Tây Đô Vương Trịnh Tạc cho xây lại chùa mới. đến năm 1794, chùa được đại tu hoàn toàn, lấy tên là chùa Tây Phương. Năm 1893, nhà sư Thích Thanh Ngọc trụ trì đã tổ chức trùng tu chùa, tạc tượng Quan Âm trăm tay, Thiện Tài, Long Nữ, Bát bộ Kim Cang, Thập bát La-hán... Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng là những tác phẩm điêu khắc xuất sắc của dân tộc ở các thế kỷ XVII, XVIII, XIX: Tượng Tuyết Sơn, tượng Quan Âm, tượng Bát bộ Kim Cang, tượng 16 vị Tổ sư v.v... Chùa được đại trùng tu vào năm 1991. Tây Phương là ngôi chùa nổi tiếng về kiến trúc và điêu khắc bậc nhất ở Việt Nam. Hàng ngày, chùa đã đón tiếp nhiều Phật tử, du khách trong nước, nước ngoài đến tham quan, chiêm bái. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA THẦY (CHÙA THIÊN PHÚC)




Hằng năm cứ đến ngày 7-3 âm lịnh là người ở thập phương lại tấp nập kéo về dự hội chùa Thầy (Nhớ ngày mồng bảy tháng ba. Trở vào hội Láng trở ra hội Thầy).

Chùa Thầy còn gọi là chùa Thiên Phúc tự nằm ở chân núi Sài thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội chừng 25Km về phía tây. Chùa được xây dựng vào thời Lý Nhân Tông (1072 - 1127), lưu dấu ấn tu hành của một vị cao tăng rất nổi tiếng thời Lý: thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chuyện kể rằng sau khi đắc đạo, thiền sư trở về giảng đạo, dạy học hái thuốc giúp dân, tổ chức những trò chơi như đá cầu, đánh vật, múa rối nước. Do đó dân chúng rất cảm phục nên mới gọi nhà sư bằng một danh xưng vừa trìu mến vừa gần gũi là "thầy". Bởi vậy chùa ngài tu là chùa Thầy, núi ngài hóa cũng là núi Thầy, làng ngài sống là làng Thầy, thậm chí đến cả tổng đó cũng được gọi là tổng Thầy.

Về kiến trúc, lúc đầu chỉ là một thảo am nhỏ mang tên Hương Hải am do thiền sư Từ Đạo Hạnh lập ra để tu lập. Sau mới xây thành qui mô lớn. Trước cửa chùa có hồ nước rộng gọi là Long Trì (ao rồng), giữa hồ có nhà thủy đình là nơi biểu diễn rối nước trong những ngày hội. Hai bên cầu có hai chiếc cầu lợp mái theo kiểu "thượng gia hạ kiều" (trên là nhà dưới là cầu). Bên trái là Nhật Tiêu Kiều thông ra tam phủ trên một đảo nhỏ giữa ao Rồng. Bên phải là Nguyệt Tiêu Kiều bắc qua ao lên núi. Toàn khu chính điện của chùa là một khuôn viên hình chữ nhật rộng khoảng 40m, dài chừng 60m, gồm ba tòa nhà to dài xây song song hình chữ tam, có hai dãy hành lang chạy kèm hai bên các đấu hối. Nhưng kỳ lạ thay cả ba ngôi bảo điện hình chữ tam đồ sộ như thế mà chỉ có 36 lỗ đục, còn gỗ được xếp chồng lên nhau nhưng lại rất vững chắc. Hai bên toà chính điện là gác chuông và gác chính nhô cao lên khỏi hai dãy hành lang. Đi tiếp là chùa Thượng, bàn giữa tượng Di Tà tôn ở trên, phía dưới là bệ đá trăm hoa (bách hoa đài) tạc từ thời Trần, trên để hòm sắc lịch triều tôn phong của thiền sư Từ Đạo Hạnh, phía dưới cùng là tượng thiên sư nhập định trên tòa sen vàng, gian bên trái thờ tượng toàn thân thiền sư bằng gỗ chiên đàn đặt trong khám. Rời chùa chính, du khách qua Nguyệt Tiêu Kiều là cổng "Bất nhị pháp môn" để lên núi. Đến lưng chừng núi ta gặp chùa cao (Hiền Thụy am) với hang thánh hóa là nơi thiền sư Từ Đạo Hạnh giải thi (trục xác). Leo lên tới đỉnh núi ta thấy một khoảng đất bằng phẳng xung quanh có nhiều mô đá châu vào. Đó là "chợ trời". Lại theo đường mòn chùa cao ta đi vòng về phía sau, qua lối rẽ là tới hang Cắc Cớ. Hang rất tối, muốn vào phải níu nhau mà đi. Tương truyền đây là nơi tuẫn tiết của tướng quân họ Lã sau trận chống giặc ngoại xâm thất bại. Từ hang Cắc Cớ lên, men theo sườn núi qua hàng đại già, ta đặt chân tới đền Thượng, nơi thờ thánh Văn Xương, nơi hội họp của Đông Kinh Nghĩa Thục xưa kia. Đi tiếp, ta sẽ xuống đến chùa Bối Am, hay còn gọi là một chùa một mái. Bên cạnh đó là hang Hút Gió, thềm đá Thái Lão, đến kỷ niệm Phan Huy Chú. Như vậy là du khách đã hoàn thành một chuyến viễn du chùa Thầy đầy thú vị rồi. 

Giữ Gìn và Bảo Vệ Di Tích Cổ Chùa Đậu, Hà Tây

Con đường nhỏ hẹp, gập ghềnh đất đá đưa chúng tôi vào sâu trong làng Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín. Nằm biệt lập ở một góc làng, giữa mênh mông ruộng nước, cánh đồng bao bọc là Chùa Đậu, ngôi chùa nổi tiếng vì kiến trúc nơi đây mang những nét đặc trưng của nền nghệ thuật dân gian hưng thịnh từ thế kỷ 17 và hiện còn lưu giữ hai nhục thân bất hoại của hai vị thiền sư trụ trì. 
Trước khi bị thực dân Pháp đốt (năm 1947), chùa còn lưu giữ nhiều đồ vật quý do Vua Lê, Chúa Trịnh ban, còn cả ngôi chính điện thờ Pháp vũ mang đậm nét văn hóa bản địa. Giờ đây, Chùa Đậu đem lại cảm giác luyến tiếc cho mọi người trước khu cảnh nền chính điện đồ sộ với những chân cột đá lớn trơ trụi còn sót lại sau năm 1947, hai dãy hành lang đặt các bức tượng La hán, bia đá cổ, hương án thờ xuống cấp nghiêm trọng, những kèo cột, mái ngói mục nát, xập xệ. Hiện nay chùa đang tu sửa nhà thờ tổ và sắp tới sẽ tiếp tục tiến hành với một trong hai dãy hành lang. Với nguồn kinh phí có hạn do Nhà nước hỗ trợ, chùa chỉ có thể đủ để chống xuống cấp một số khu vực chính.

Năm ngoái, Chùa Đậu từng có thời gian gây xôn xao dư luận vì vụ kẻ gian hung dữ đột nhập trong một đêm mưa gió tối trời. Sau sự cố này, nhà chùa vẫn luôn có bốn thầy trò sư Thích Thanh Nhung túc trực cùng một bảo vệ xã hỗ trợ, dự định sẽ tăng thêm người. Mặc dù từ đó đến nay chưa xảy ra chuyện gì nhưng với địa thế hiện tại của chùa chưa phải là thật sự kiên cố, lại ở nơi vắng vẻ đồng không mông quạnh vẫn luôn gợi cho mọi người nỗi lo kẻ gian từ nơi khác đến.

CHÙA THIÊN TRÙ HƯƠNG SƠN



Hương Sơn là một khu vực rộng lớn thuộc xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây, ven bờ phải sông Đáy. Nhiều chùa ở Hương Sơn được xây dựng với quy mô lớn vào thời Hậu Lê, nổi tiếng nhất là chùa Thiên Trù. Đến đầu thế kỷ XX, đã có hơn một trăm ngôi chùa và động ở khu vực này. Chùa Thiên Trù hay chùa Ngoài nằm gần bến Trò trên dòng suối Yến, được ngài Trần Đạo Viên Quang chân nhân dựng vào năm 1686 và được trùng tu, phát triển thành ngôi đại già lam ở các thế kỷ kế tiếp. Bom đạn chiến tranh đã phá hỏng ngôi chùa vào các năm 1947, 1948 và 1950. Di tích xưa nay chỉ còn lại tháp Thiên Thủy, tháp Viên Công - một công trình nghệ thuật đất nung thế kỷ XVII và bia đá. Năm 1985, chùa đã xây gác chuông 8 mái ở sân Thiên Trù. Từ năm 1989, Thượng tọa Thích Viên Thành cùng Ban xây dựng chùa Hương đã thực hiện công việc quy hoạch và tôn tạo toàn vùng, xây dựng chùa Thiên Trù ngày nay trên nền móng chùa cũ. Hàng năm, hội chùa Hương kéo dài từ đầu tháng giêng đến giữa tháng ba (âm lịch), là một trong những lễ hội lớn ở nước ta, thu hút hàng vạn Phật tử, du khách trong nước, nước ngoài đến tham quan, chiêm bái. Thắng cảnh chùa Hương đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia và đã đệ trình Hội đồng Di sản, Văn hóa và Thiên nhiên thế giới xét công nhận Di sản văn hóa thế giới.

CHÙA HƯƠNG

Ngày trước có một người con gái, mùa Xuân theo cha mẹ đi trẩy hội chùa Hương đã phải lòng chàng trai tài hoa phong nhã... 

Tâm tình của cô gái ấy với những lời e ấp vụng dại đã được nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ghi lại qua một thiên ký sự bằng thể thơ năm chữ nổi tiếng trên đất Việt hơn nửa thế kỷ qua. Ngày nay cảnh vật Hương Sơn có khác đi ít nhiều, nhưng hành trình đến chùa Hương vẫn là một cuộc hành trình trở về thiên nhiên và cội nguồn. Chúng ta hãy lần theo dấu chân cô gái ngày trước mà tìm đến với "Nam thiên đệ nhất động" (Ðộng đẹp nhất trời Nam). 

Chùa Hương nằm trên địa bàn xã Hương Sơn, huyện Mỹ Ðức, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội 60km. Thật ra chùa Hương không phải là một ngôi chùa mà là một hệ thống chùa chiền, đền thờ và hang động nằm trong khu vực có những ngọn núi đá vôi và rừng nhiệt đới, diện tích tất cả khoảng chừng 6km2. 

Theo truyền thuyết, vùng núi có hang động này được tìm thấy cách đây hơn hai nghìn năm và đã dược đặt tên Hương Sơn - lấy tên một ngọn núi ở phía Bắc Tuyết Sơn trong dãy Himalaya (Ấn Ðộ), nơi Ðức Phật đã ngồi tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng rã. Ðời Lê Thánh Tông (1460- 1497) đã có am thờ Phật dựng trên mảnh đất Thiên Trù. Theo sách Hương Sơn Thiên Trù thiên phú  thì chùa Hương được xây dựng từ đời Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa (1680-1705). Bia tại chùa Thiên Trù có ghi rằng việc xây dựng nền đất, bậc đá và tôn tạo Kim Dung bảo điện của chùa được thực hiện vào năm 1686; còn pho tượng chính trong chùa - tượng Bồ Tát Quan Âm - xưa kia vốn bằng đồng được đúc năm 1767. 

Hàng năm, hội chùa Hương mở từ ngày mồng sáu tháng Giêng đến rằm tháng Ba Âm lịch, trải dài trên ba tuyến chính: tuyến động Hương Tích, tuyến chùa Tuyết và tuyến chùa Long Vân. Trên thực tế, suốt trong tháng Giêng và tháng Hai cảnh chùa luôn luôn đông vui tấp nập, và khách thập phương chủ yếu vãn cảnh chùa theo tuyến động Hương Tích. 

Từ Hà Nội, đi xe vào thị xã Hà Ðông, lên thị trấn Vân Ðình, qua gần 20km nữa là tới Bến Ðục, nằm bên bờ sông Ðáy. Ðây là cửa ngõ vào khu danh lam thắng cảnh. Từ Bến Ðục, khách đi bộ gần 1km sẽ đến bến đò để lên thuyền xuôi theo một dòng suối có tên là Yến Vĩ (đuôi con chim én). 

Thuyền đi, Bến Ðục qua 
Mỗi lúc gặp người ra 
Thẹn thùng em không nói 
"Nam Mô A- Di- Ðà !"

Thuyền đưa du khách lướt bên những ngọn núi đá nên thơ như núi Voi, núi Rồng... cùng với nhịp cầu ở phía xa gợi lên khung cảnh non tiên nước Phật: 

Réo rắt suối đưa quanh 
Ven bờ, ngọn núi xanh 
Dịp cầu xa nho nhỏ 
Cảnh đẹp gần như tranh.

Ðến đền Trình, thuyền ghé vào để du khách"trình diện" với thần linh trước khi đặt chân lên cõi Phật. Ðền nằm dưới chân một quả núi được đặt tên là Quan Lớn, thờ một bộ tướng của vua Hùng. 

Rời đền Trình, du khách tiếp tục cuộc hành trình bằng đường thủy ngắm cảnh hai bên dòng suối: 

Sau núi Oản, Gà, Xôi 
Bao nhiêu là khỉ ngồi 
Tới núi con Voi phục 
Có đủ cả đầu đuôi.

Thuyền dừng ở Bến Trò cho du khách bước lên khu vực chùa Thiên Trù (Bếp Trời), tức là chùa Ngoài. Ngày xưa chùa được xây khuất trong bốn vách núi, có đến vài chục gian, nhưng đã bị tàn phá trong chiến tranh. Nam Thiên môn được xây dựng dưới triều Vua Gia long (năm 1809) cũng bị phá hủy. Một kiến trúc cổ còn lại là Viên Công bảo tháp được xây dựng từ thế kỷ XVII, nơi đặt xá lợi Thiền sư Viên Quang, người có công trùng tu chùa Hương sau nhiều năm hoang phế. Nhìn từ xa, tháp như cây bút hồng ngọn vút cao lên trời. - đây còn có Thiên Thủy tháp là một mỏm đá mọc ngược thành một cây tháp thiên tạo, nước mưa trên núi theo tháp chảy xuống. Năm 1986, chùa Thiên Trù đã phục dựng lại gác chuông và đến năm 1989 thì xây xong nhà Tam bảo hai tầng theo kiểu chữ "Ðinh". Ðầu năm 1994, chùa đã xây dựng lại Nam thiên môn (cửa trời Nam) theo nguyên mẫu xưa. 

Từ khu vực chùa Ngoài, du khách lần theo con đường dốc trên các sườn núi đá để ghé thăm chùa Tiên Sơn xây trong động giữa lòng một quả núi, có bốn pho tượng quý bằng hồng thạch. Tiếp đó là chùa giải Oan, nơi có giếng nước trong vắt gọi là "Thiên nhiên thanh trì" hay còn gọi là giếng Long Tuyền. Trước chùa có suối chín nguồn gọi là suối Giải Oan. Gần chùa là động Tuyết Kinh và am Phật Tích. Cách đó không bao xa, du khách bước chân đến núi Chấn Song để thăm đền cửa Võng. 

Ðích xa nhất mà du khách vãn cảnh chùa muốn đạt đến là Ðộng Hương Tích nằm sâu ở phía trong. Du khách bước qua một cổng lớn ở phía trên, rồi theo những bậc đá rộng đi xuống động. Cửa động trông như hàm rồng, phía trong có năm chữ Hán "Nam thiên đệ nhất động" tạc vào đá, tương truyền là bút tích của Tĩnh Ðô Vương Trịnh Sâm khắc vào năm 1770. Hai hàng cây cổ thụ tầng cao bóng cả chen cành kết lá phủ lên cửa động. Ánh nắng lọc qua lá cây tạo nên một thứ ánh sáng mờ ảo trải trên các bậc đá, cộng với khói hương từ lòng động bay lên tạo thành một không gian huyền diệu như lời ca trong bài hát " Chùa Hương" của nhạc sĩ Hoàng Quý: "Chùa Hương khói trầm ngút bay những khi nắng tàn, phút giây chìm đắm trong mơ màng". 

Vào trong động du khách chiêm ngưỡng tượng Bà Chúa Ba (Bồ Tát Quan Thế Âm) cùng nhiều tượng phật Bồ Tát... Trên vách động thạch nhũ rũ xuống muôn hình vui vẻ, màu sắc biến ảo: hình Ðụn Gạo, Ðụn Tiền, Cây Vàng, Cây Bạc, Buồng Tằm, Nong kén, Hòn Cậu, Hòn Cô... Trên trần động thạch nhũ còn nhô ra thành hình chín đầu rồng sinh động gọi là Cửu Long. Ngắm nhìn những dáng hình kỳ tú đó của thiên nhiên , cô gái trong thơ Nguyễn Nhược Pháp đã thốt lên: 

Ôi! Chùa Trong đây rồi! 
Ðộng thẳm bóng xanh ngời 
Gấm thêu trần thạch nhũ 
Ngọc nhuốm hương trầm rơi.

Còn nhà thơ Chu Mạnh Trinh ở thế kỷ trước thì cảm tác thành bài Thú Hương Sơn nổi tiếng: Bầu trời cảnh bụt 

Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay 
Kìa non non, nước nước, mây mây 
"Ðệ nhất động" hỏi rằng đây có phải! 
Nhác trong lên ai khéo họa hình 
Ðá ngũ sắc long lanh như gấm dệt 
Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt 
Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây...

Như trên đã nói, ngoài động Hương Tích, du khách còn có thể rẽ qua rừng mơ thăm chùa Hinh Bồng, theo suối Tuyết vào đền Mẫu Hạ rồi đến núi Thuyền Rồng, núi con Phụng, hòn đầu sư Tử, vách đá Kỳ Sơn Tú Thủy và sau đó đến bến Tuyết Sơn vào chùa Bảo Ðài. Leo núi Bạch Tuyết Môn, vào điện Cô, du khách tới thăm chùa Tuyết Sơn còn có tên là Ngọc Long Ðộng. Nơi đây, vào năm 1770, Trịnh Sâm có làm bài thơ Ðăng Tuyết Sơn hữu hứng. 

Ở hướng khác, một nhánh của dòng suối Yến đưa du khách qua núi Ông Sư Bà Vãi, lên thuyền vào thăm chùa Long Vân, leo núi thăm chùa Cây Khế và hang Sũng Sàm, một di chỉ khảo cổ ghi dấu tích người xưa. 

Giã từ cảnh đẹp Hương Sơn, du khách có thể mang về làm kỷ vật một cây gậy trúc đã chống trên đường hành hương, và mảnh gốc mơ già để pha nước uống, những quả mơ dày cùi nhỏ hạt và mấy mớ rau sắn nấu canh hương vị thơm ngon. Nhưng cái quý nhất mà người đi chùa Hương có được là một tâm hồn đã tẩy sạch bụi trần, lâng lâng một niềm vui thoát tục với những ấn tượng không phai mờ về một chốn Thiên Thai ngay trên trần gian như ca dao đã miêu tả: 

Một vùng non nước bao la 
Rằng đây Lạc quốc hay là Ðào nguyên 
Hương Sơn là chốn non tiên 
Bồng lai mà thấy ở miền nhân gian.

CHÙA VĂN QUÁN




Chùa tọa lạc tại đường Văn Quán, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây. Chùa được Hòa thượng Thích Tắc Nhẫn thuộc thiền phái Thiên Thai Giáo quán tông xây dựng từ năm 1953 đến năm 1955. Kế thừa trụ trì là các Tỳ kheo ni Thích nữ Đàm Kiên, Thích nữ Đàm Phú và Thích nữ Đàm Hạnh. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Đặc biệt giữa chánh điện có đắp động Phật Linh Sơn từ lúc xây dựng chùa. Chùa đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Hà Tây từ năm 1958. Chùa thường xuyên đón tiếp nhiều đoàn khách trong nước, nước ngoài và đông đảo Phật tử đến lễ bái, sinh hoạt. (Chùa được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá quốc gia

CHÙA DIỄN PHÚC



Chùa thường gọi là chùa Mễ Sở, tọa lạc ở thôn Mễ Sở, xã Mễ Sở, huyện Châu Giang, tỉnh Hải Hưng. Chùa được dựng vào thời Hậu Lê và đã được trùng tu nhiều lần. Ngôi chùa hiện nay có tôn trí pho tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn (bằng gỗ), phần tượng cao 2,80m, bệ cao 0,53m. Đại hồng chung ở chùa cao 0,95m, đúc vào năm 1822. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA ĐỒNG NGỌ



Chùa thường gọi là chùa Cập Nhất, tọa lạc ở thôn Cập Nhất, xã Tiên Tiến, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Hưng. Sách Mỹ thuật của người Việt (Hà Nội, 1989) cho biết chùa có 2 tấm bia cổ (đã mất) có hai niên đại sớm: Lý Thái Bình (Lý Thánh Tông: 1054-1072, niên hiệu Long Thụy Thái Bình) và Đại chính nguyên niên (1530) cùng bát hương năm Hoàng Định 19 (1619). Ngôi chùa hiện nay mang dấu ấn của cuối thế kỷ XVII. Tấm bia "Kiến khai Cửu phẩm Liên Hoa bi ký" (1692) đã nói đến việc Thiền sư Chân Nguyên thuộc Thiền phái Trúc Lâm đã tổ chức dựng cây Cửu phẩm Liên Hoa vào mùa xuân năm Nhâm Thân (1692) thời Vua Lê Hy Tông. Cây Cửu phẩm cao 5,30m, mặt cắt 6 cạnh đều, 9 tầng (mỗi mặt gắn 3 pho tượng Phật, tổng số tượng là 162 pho), được đặt trong tòa Cửu phẩm vuông, 2 tầng 8 mái. Thượng tọa trụ trì Thích Thanh Đạt đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa vào năm 1993-1994, bài trí chánh điện trang nghiêm. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA ĐÔNG THUẦN



Chùa tọa lạc tại số 20, đại lộ Hồ Chí Minh, phường Nguyễn Trãi, thị xã Hải Hưng, tỉnh Hải Hưng. Chùa được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Năm 1936, chùa được trùng tu, xây dựng tam quan, nhà giảng. Năm 1970, Hòa thượng Thích Tâm Minh về trụ trì chùa đã tổ chức nhiều đợt tu sửa, nhất là đợt đại trùng tu năm 1994. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa hiện đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Hải Hưng.

CHÙA KIM TRUNG



Chùa thường gọi là chùa Chuông, tọa lạc ở xóm Chùa, thôn Nhân Dục, xã Hiến Nam, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hải Hưng. Chùa được xây dựng vào thế kỷ XV và đã được trùng tu nhiều lần. Tương truyền có một năm nước lụt mênh mông, có một quả chuông ở trên bè gỗ trôi dạt về thôn. Chuông có tiếng kêu to, ngân xa nên được gọi là "chuông vàng" và chùa từ đó được gọi là chùa Chuông. Ơở các tòa bái đường, thượng điện và hậu điện có đặt 52 pho tượng cổ như: Thập bát La-hán, Hộ Pháp... cùng khánh đá (dài 1,46m cao 0,66m), chuông đồng (cao 1,28m)... Thượng tọa trụ trì Thích Thanh Tâm đang tổ chức trùng tu ngôi chùa nổi tiếng ở Phố Hiến xưa: "Phố Hiến là cửa bể, chùa Chuông là rốn bể". Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA MINH KHÁNH



Chùa thường gọi là chùa Hương Đại, tọa lạc ở xã Thanh Bình, huyện Nam Thanh, tỉnh Hải Hưng. Chùa được xây dựng vào thời Lý và được trùng tu nhiều lần. Vị sư trụ trì Đàm Thục cùng các ông Nguyễn Hai Thanh, Nguyễn Văn Lệ, Nguyễn Văn An đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa, xây tam quan từ năm 1992. Chùa còn giữ nhiều di tích cổ như tháp, bia, cột đá, giếng nước... và đặc biệt là 13 đạo phong của các triều Lê - Nguyễn là: Vĩnh Khánh, Cảnh Hưng, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân, Khải Định... đến nghị định xếp hạng di tích của Toàn quyền Đông Dương năm 1925. Chánh điện được đại trùng tu năm 1957, nhà bái đường được trùng tu năm 1987. Ơở chánh điện, chùa còn lưu giữ 9 viên ngọc xá-lợi tương truyền là của Trúc Lâm đệ nhất tổ Trần Nhân Tông và tháp lưu huyết của ngài. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA NGHIÊM QUANG



Chùa thường gọi là chùa Giám, tọa lạc ở xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Hưng. Chùa khởi dựng vào thời Hậu Lê. Trước đây, chùa ở ngoài đê sông Thái Bình. Sau năm 1971, chùa được dời vào địa điểm hiện nay. Chùa được cấu trúc theo kiểu tiền Phật hậu Thánh và kết thúc bằng tòa Cửu phẩm 3 tầng mái. Chùa còn giữ nhiều di tích của thế kỷ XVIII - XIX như tượng, đồ thờ tự, bia đá và đặc biệt là cây Cửu phẩm Liên Hoa, là một khối hộp gỗ 6 cạnh, 9 tầng, chạm cánh sen với nhiều họa tiết trang trí trên các trụ và tầng nền. Đây là nơi tưởng niệm Thiền sư Tuệ Tĩnh, một đại danh y của Việt Nam. Ông là người đứng ra hưng công xây dựng chùa, biến chùa thành cơ sở trồng dược liệu chữa bệnh cho dân. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA PHÁP VÂN



Chùa thường gọi là chùa Thái Lạc, tọa lạc ở thôn Thái Lạc, xã Lạc Hồng, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng. Chùa được khởi dựng từ đời Trần, đầu thế kỷ XIV. Ngôi chùa hiện nay được xây theo kiểu "Nội Công Ngoại Quốc", đã được trùng tu, xây dựng lại nhiều lần ở các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, XIX. Bàn thờ ở thượng điện có bốn pho tượng các nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, là các vị thần trong hệ thống Tứ Pháp, gốc ở vùng Dâu (Hà Bắc). Đặc biệt chùa còn giữ được các tấm ván bưng chạm khắc trang trí của thế kỷ XIV, là những tiêu bản duy nhất ở Việt Nam, với những đề tài như Thiên nữ dâng hoa, nhạc công biểu diễn đàn, nhị, tiêu, sáo; phù điêu chạm rồng, phượng... Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA THANH MAI



Chùa thường gọi là chùa Hương Hải, tọa lạc trên núi thuộc xã Hoàng Hoa Thám, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng. Chùa được dựng vào đời Trần. Đây từng là nơi trụ trì của Quốc sư Pháp Loa, Trúc Lâm đệ nhị Tổ. Sau khi ông mất, Vua Trần Minh Tông truy tặng thụy hiệu là "Minh Trí tôn giả". Vua đã đến viếng chùa và đề thơ: "Vãn Pháp Loa tôn giả, đề Thanh Mai Tự. Ngôi chùa mới được dựng lại trong khoảng 20 năm nay. Trước chùa có 4 tấm bia nói về việc trùng tu chùa vào thời Lê, 2 bảo tháp Phổ Quang, Tịch Quang. Đặc biệt, sau chùa có bảo tháp Viên Thông 3 tầng, thờ xá-lợi Thiền sư Pháp Loa. Điện Phật được bài trí đơn giản. Ơở gian giữa thờ Phật và thờ tượng Trúc Lâm Tam Tổ (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang). Gian bên trái thờ đức Trần Hưng Đạo. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA VIÊN GIÁC



Chùa thường gọi là chùa Hương Lãng, chùa Lạng, tọa lạc ở xã Minh Hải, huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng. Chùa được dựng vào thời Lý, khoảng năm 1115. Đây là một trong 72 ngôi đền, chùa do Lê Hậu lập nhằm giải oan cho 72 cung nữ đời Vua Lý Thánh Tông. Chùa bị sụp đổ năm 1954. Chùa còn để lại một số di vật thời Lý, thời Trần như cột đá, sấu đá và đặc biệt là tượng sư tử. Tượng là thành phần của một phiến đá rất lớn dài 2,8m, rộng 1,5m, cao 0,9m được dùng làm bệ cho một pho tượng (nay không còn). Người ta chỉ chạm, gọt 2 đầu của phiến đá, biến thành phần đầu và phần sau của con sư tử, mà người địa phương gọi là "Ông Sấm". Khu phế tích này đã được Bộ Văn hóa công nhận làDi tích lịch sử - văn hóa quốc gia.  

CHÙA TƯ PHÚC (CHÙA CÔN SƠN)



Chùa thường gọi là chùa Côn Sơn, chùa Hun, tọa lạc ở xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng. Chùa được dựng từ thời Lý. Thời Trần, các vị vua thường đến chùa lễ bái. Theo sách Tự điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), Trần Nhân Tông sau khi xuất gia cũng đến đây tham thiền nhập định. Năm 1329, Thiền sư Pháp Loa dựng am Hồ Thiên và am Chân Lạp. Sau đó, Thiền sư Huyền Quang từ chùa Vân Yên (Yên Tử) đến trụ trì. Chùa được coi là một Tổ đình của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Lúc ngài Huyền Quang mất (1334), Vua Trần Minh Tông cúng 10 lạng vàng để xây tháp thờ xá-lợi ngài ở lưng chừng núi Côn Sơn (còn gọi là núi Kỳ Lân). Điện Phật được bài trí thoáng, tôn nghiêm. Trước chùa có tấm bia khắc 3 chữ "Thanh Hư Động" là bút tích của Vua Trần Nghệ Tông (1322-1395) và tấm bia do Chiêu Dương Nguyễn Đức Minh soạn năm 1607 nói việc trùng tu chùa vào đầu thế kỷ XVII do nhà sư Thích Pháp Nhẫn thực hiện. Chùa được trùng tu vào năm 1995. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
Chùa ở chân núi Côn Sơn, phía đông huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, gần làng Chi ngại, quê hương của dòng họ nhà Văn hoá Nguyễn Trãi. 

Chùa xây từ đời Trần (1225-1400), nơi tu luyện của trạng nguyên Lý Đạo Tài, pháp danh Huyền Quang, khi ông cáo quan về ở ẩn. Nguyễn Trãi khi về hưu được vua giao chức "Đề cứ" chùa Côn Sơn cùng vợ là Trần Phu Nhân, trông coi và mở rộng thêm. Chùa thờ Phật. Trong chùa còn fu hệ thống tượng phật. Trong đó có tượng Di Đà Tam Tôn cao 1m43, tượng Trúc Lam Tam Tổ tức là Trần Nhân Tông, tượng nhà sư Huyền Quang, tượng Trần Nguyên Đán và các bà vợ. Trước đây còn có tượng Nguyễn Trãi và Trần Phu nhân, nhưng đã bị phá năm 1954.

Trong chùa hiện còn nhiều di vật có giá trị như 8 bia thời Trần và Lê.
Một bia bốn mặt niên hiệu Thiệu Phong thứ 18 (1397)
Một bia có 3 chữ "Thanh Hư động" thời Long Khanh (1373-1377) năm Hoằng Định thứ 4 (1603).
Một bia niên hiệu Hoàng Định thứ 14 (1633) - vua Lê Thế Tông
Một bia niên hiệu Thịnh Đức nguyên niên (1653) - vua Lê Thần Tông
Một bia niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 7 (1712) - vua Lê Dụ Tông.
Mộtbia niên hiệu Bảo Thái thứ 2 (1721) vua Lê Dụ Tông.
Một bia niên hiệu Vĩnh Hậu thứ 4 (1738) - vua Lê Y Tông.

Chùa Côn Sơn là một di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng

CHÙA HIẾN

Chùa Hiến nằm ở phía Tây của phố Hiến xưa thuộc thôn Mậu Dương, xã Hồng Châu, thị xã Hưng Yên, tỉnh Hải Hưng. 
Chùa Hiến được xây dựng để thờ Phật Thích Ca. Nhưng nếu nghiên cứu kỹ quá trình hình thành chùa Hiến, tên gọi, sự liên quan của chùa với nhiều di tích khác chúng ta mới thấy hết ý nghĩa lịch sử của ngôi chùa. Đó là sự hình thành và phát triển của phố Hiến về các mặt kinh tế, tôn giáo, tín ngưỡng.... 

Chùa Hiến làm theo kiểu chữ Quốc gồm 4 phần: Tiền đường, Thiên đường, Tam bảo và hành lang. 

- Tiền đường chùa Hiến gồm 5 gian 2 dĩ. Phần tiền đường kiến trúc đơn giản vì kèo theo kiểu con chồng đấu sen. 

- Tiếp phần tiền đường đến phần Thiên hương gồm 3 gian. Thiên hương được áp dụng song song với tiền đường, phần dưới thông nhau, phần mái Thiên hương được làm theo kiểu 4 mái. Trên nóc Thiên hương ghi hàng chữ "Phật lịch nhị thiên tứ bách cửu thập thất niên" (tức 2497 năm theo Phật lịch) tại Quý Tị thập lục (26 tháng 3 năm Quý Tp> 

- Qua Thiên hương đến Tam bảo, Tam bảo chùa Hiến gồm 3 gian được cấu trúc vuông góc với Thiên hương. Tam bảo được bố trí làm 3 khu vực thờ: Bên phải thờ Đức ông, bên trái thờ Mẫu, khu vực giữa thờ Phật Thích Ca, Phật Bà và Quan Bồ Tát. 

- Hai bên phải và trái cách nội tự 2 mét có 3 dãy hành lang bao xung quanh chùa: Mỗi dãy 7 gian vuông góc với nhau gọi là hành lang thập điện. 

Tại sân phía trước chùa có hai bia đá. ở bên phải chùa còn một giếng nước. Bên phải chếch về hướng Tây Nam có ngôi tháp gọi là tháp sư xây dựng bằng gạch. Phía trước cửa chùa ngay cổng ra vào hiện còn một cây nhãn tiên theo các cụ già truyền lại đây là cây nhãn được trồng từ thời kỳ phố Hiến, gọi là cây nhãn tiến-nhãn lấy qua cung tiến. Sát phía bên trái chùa Hiến là ngôi đình Hiến, nơi thờ quan Thái giám nhà Tống-Ngô. 

Bên chùa Hiến còn một số hiện vật tiêu biểu như sau: 

-1 bệ thờ sơn son thiếp vàng thời Lê.

- 2 bia đá 1 thời Lê, một thời Nguyễn.

- 3 câu đối máng.

- 1 bát hương đồng cao 0,37 mét, đường kính 0,32 mét phía trước có 3 chữ "Thiên ứng tự". Hai bên có hàng chữ Mậu Dương xã phụng sự, một bên ghi rõ niên hiệu: Bảo Đại thập lục niên nhuận lục nguyệt nhị thập ngũ nhất " (25 tháng 6 nhuận năm 1442).

- Trong chùa có 2 pho tượng Phật Thích Ca: 1 bằng đồng cao 0,20 mét đứng trên tòa sen. 1 bằng gỗ cao 0,69 mét cả bệ và pho tượng Mụ thiên 16 tay ngồi trên tòa sen cao 2 mét (cả bộ), ngoài ra còn một số các pho tượng: Bồ Tát, Tam thân, Tam thế...

- ở tòa giữa Tam bảo có 2 lọ lục bình gốm cao 0,62 mét, đường kính 0,26 mét có đắp nổi rồng uốn quanh, men rạn đá sơn lại nên khó xác định niên đại.

- Tại gian trái tiền đường chùa Hiến còn treo 1 chuông đồng cao 1,2 mét, đường kính 0,70 mét. Phía trên đề 4 chữ "Thiên ứng tự chung". Chuông được sản xuất vào năm "Hoàng Triều gia long vạn niên nhị thập tuế thứ nhị giáp tứ nguyệt nhị thập lục nhật" (1801). 

CHÙA HẢI NINH



Chùa tọa lạc ở xã Vĩnh Niệm, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng. Chùa xưa được dựng vào thời Hậu Lê trên đất kinh Bắc. Năm 1931, chùa được đưa về xây dựng tại địa điểm hiện nay, do nhân dân quyên cúng vào hội Đồng Thiện, nên chùa thường được gọi là chùa Đồng Thiện. Ơở sân chùa có hai ngọn tháp ghi 40 bức ký họa về thời kỳ mới xây dựng thành phố Hải Phòng. Ni sư trụ trì Diệu Tâm đã cho tổ chức đại trùng tu ngôi chùa, hoàn thành vào năm 1995. Chùa là một danh lam của thành phố Hải Phòng ngày nay.

CHÙA NGUYỆT QUANG



Chùa thường gọi là chùa Đông Khê, tọa lạc tại phường Đông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chùa được Thiền sư Như Hiện hiệu Nguyệt Quang, đệ tử của Thiền sư Chân Nguyên, khai sơn vào đời Vua Lê Hy Tông. Theo sách Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang, Thiền sư Như Hiện được tiếp nối y bát của truyền thống Trúc Lâm, kế thế các chùa Long Động, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang. Năm 1748, ngài được Vua Lê Hiển Tông ban chức Tăng Cang và năm 1757, được sắc phong là Tăng thống Thuần Giác Hòa thượng. Thiền sư Tính Tĩnh được ông trao quyền y bát Trúc Lâm và kế thế các chùa Long Động, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang vào năm 1765. Ngôi chùa hiện nay được Ni sư Thích nữ Đàm Thăng tổ chức xây dựng vào năm 1972 và trùng tu vào những năm 1994-1995. Chùa là một danh lam của thành phố Hải Phòng xưa nay.

CHÙA PHỔ CHIẾU



Chùa tọa lạc ở xã Dư Hàng Kênh, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng. Chùa được Sư Ngô Chân Tử kiến lập và trụ trì đầu tiên vào năm 1953. Lúc đó chùa được gọi là Tam Giáo đường, thờ Tam Giáo đồng nguyên. Đến năm 1954, Hòa thượng Thích Thanh Quang, thuộc Thiền phái Lâm Tế, từ chùa Vọng Cung về trụ trì, đổi tên là chùa Phổ Chiếu, sửa chữa thành ngôi chùa thờ Phật. Chùa hiện có giữ một số di vật bằng đất nung và đá cổ. Thượng tọa trụ trì Thích Thanh Giác đang tổ chức trùng tu, mở rộng ngôi chùa từ năm 1995. Chùa là một di tích lịch sử của thành phố Hải Phòng.

CHÙA TƯỜNG LONG



Chùa tọa lạc trên núi Ngọc Sơn, thuộc phường Vạn Sơn, thị xã Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, cách trung tâm thành phố khoảng 20 km. Tháp Tường Long được xây dựng vào năm 1058, đời Vua Lý Thánh Tông, có 9 tầng trên một nền ba cấp. Các tài liệu ngày nay cho biết vào tháng 9 năm 1058, Vua Lý Thánh Tông ngự ra cửa biển Ba Lộ, có đến thăm chỗ xây tháp. Năm sau, vua ban tên hiệu là tháp Tường Long. Tháp được tôn tạo vào đời Trần và Hậu Lê. Tháp bị đổ nát từ cuối thế kỷ XVIII. Chùa Tường Long được xây vào năm 1990 trên nền tháp ngày xưa. Chùa hiện còn giữ mấy mảnh chạm khắc trên đá, trên gạch của ngôi tháp cổ.

CHÙA PHÚC LÂM (CHÙA DƯ HÀNG)



Chùa thường gọi là chùa Dư Hàng, chùa Hàng, tọa lạc ở số 121 phố Dư Hàng, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Chùa được dựng từ thời Lý. Năm 1672, quan Đô úy Nguyễn Đình Sách từ quan xuất gia, pháp hiệu Chân Huyền đứng ra xây dựng ngôi chùa mới. Đến đời Thành Thái, vào năm 1899, Hòa thượng Thông Hạnh đã trùng tu ngôi chùa, xây gác chuông. Năm 1917, chùa được sửa chữa lại. Thượng tọa trụ trì Thích Quảng Tùng đang tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Điện Phật được bài trí trang nghiêm, chùa có nhiều pho tượng quý, nhiều câu đối chạm khắc công phu, nổi bật là bức chạm lộng ở chánh điện do các nghệ nhân Hà Nam Ninh tạc vào đầu thế kỷ XIX. Ngoài vườn chùa có 9 tháp mộ, trong đó có nhóm tháp Trúc Lâm Tam Tổ. Chùa là ngôi danh lam cổ tự bậc nhất Hải Phòng xưa nay. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Còn gọi là chùa Dư Hàng, một danh thắng đồng thời là trung tâm Phật giáo của Hải Phòng tương truyền chùa có từ rất lâu đời, lúc đầu chỉ dựng bằng tre lá. Đời Trần, các vị thánh tổ phái Trúc Lâm thường đến đây thuyết pháp. Năm 1672, sư cụ Chân Huyền đứng ra vận động nhân dân làm chùa to rộng, gồm gác chuông, nhà tổ, nhà tăng. Đời Thành Thái (1889-1907), sư tổ Phúc Nguyên lại sửa sang chùa to đẹp hơn và còn lại đến nay. Chùa xây theo kiểu chữ "đinh", hai bên là nhà tổ, đằng trước có tam quan rất đẹp, phía trong là sân rộng. Chùa có một gác chuông 5 gian 2 tầng, treo một quả chuông lớn. Tiền đường cách gác chuông một sana rộng; bên phải là 5 gian nhà tổ, nhà thọ trai và nhà ngang; bên trái là 5 gian nhà hậu. Tiền đường có 7 gian dựng theo kiểu vì kèo giá chiêng. ở sân trước tiền đường có đạt một đỉnh lớn bằng đồng hun. Năm gian thượng điện cũng dựng bằng gỗ, có những vì kèo chạm trổ tinh tế. Ngôi điện chính của chùa bài trí nhiều tượng phật. Trong chùa còn có nhiều tượng lớn và đẹp như tượng Hộ Pháp, tượng Trúc Lâm Tam tổ; nhiều đại tự, câu đối chạm khắc công phu theo phong cách nghệ thuật triều Nguyễn.

Chùa Phúc Lâm còn giữ được nhiều di vật quý như đỉnh đồng, chuông khánh đồng, bát hương lớn, tủ chạm cổ kính và đẹp. Các mảng chạm khắc, hộp hình miêu tả cảnh Đường Tăng đi lấy kinh Phật, chế tác tinh vi, sơn son thiếp vàng rực rõ tạo thêm vẻ uy nghi lộng lẫy. Ngoài vườn chùa có nhóm tháp Trúc Lâm tam tổ, tháp sư cụ Chân Huyền và nhiều vị cao tăng khác đã từng trụ trì ở chùa.

Tượng Phật Bằng Gỗ Mít

Hải Phòng- Chùa Đỏ tại Hải Phòng hiện là nơi có pho tượng Phật Thích Ca bằng gỗ lớn nhất Việt Nam. Tượng cao 5 mét 4 chưa kể bệ, do anh Đoàn Trúc tạc bằng 20 mét khối gỗ mít thành phẩm. Tin này được báo quốc nội loan như sau. Sinh ra ở làng nghề chạm khắc gỗ Nhân Hiền (xã Hiền Giang, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây) nên ngay từ năm 16 tuổi anh Đoàn Trúc đã theo học nghề các thợ giỏi ở làng.Sau hai năm làm "phó nhỏ", khi đã biết cầm vững các loại đục, chạm, anh xin vào làm ở hợp tác xã. Năm 1987, anh nhận việc về làm tại nhà, có thêm mấy anh em cùng họ hợp tác làm ăn. Cũng như hàng trăm thợ chạm khắc ở làng nghề Nhân Hiền, anh tạc các tượng Phật, tượng Quan Công, tượng các môn thần, có tượng anh tạo theo các tích trong truyện Tây Du Ký.Từ trăm ngàn mảnh gỗ, anh pha cắt thành phôi rồi tỉ mỉ tạo các loại tượng theo đủ các kích cỡ. Tượng của anh có bố cục hài hoà. Những đường nét của tượng từ ánh mắt, vẻ mặt, nếp áo được anh chạm trổ tỉ mỉ, khéo léo nên ở mỗi pho tượng - dù đặt chơi ở phòng khách hay đặt trên bệ ở các đền chùa - đều toát lên cái hồn riêng sống động.

Đầu năm 1998, sau khi tạc cho chùa Đỏ, toạ lạc ở phố Lê Lai, thành phố Hải Phòng tượng Địa Tạng và tượng Quan Âm cao 2,5m, vị sư trụ trì lại nhờ anh tạc pho tượng Thích Ca cỡ lớn. Để có phác thảo, anh dành 2 tháng đến thăm nhiều chùa tháp. Từ các tấm ảnh chụp tượng Thích Ca, anh nghiên cứu từ các chiều nghiêng, chính diện, từ vẻ mặt đến cánh tay kết ấn rồi tạc hình mẫu. Sau khi mọi chi tiết được diễn tả tỉ mỉ, việc tạc tượng được tiến hành từ tháng 3/1998 đến tháng 10/1999 thì hoàn tất. 

Để hoàn thành pho tượng cao 5,4m (không kể bệ), anh Đoàn Trúc cùng 10 thợ phụ đã lao động miệt mài trong gần 20 tháng, sử dụng 20m3 gỗ mít thành phẩm. Để có thể chuyển pho tượng từ Hà Tây về Hải Phòng, tượng được ghép từ 400 mảnh gỗ và liên kết với nhau bằng 700 cái chốt gỗ lim. Tạc một pho tượng rỗng (số gỗ chỉ chiếm một phần hai so với tượng đặc) nhưng người thợ phải vất vả hơn nhiều vì mọi sự tạo tác phải hết sức chính xác, nếu sơ suất khi tạc các đường nét, gỗ dễ bị thủng vì gỗ chỉ dày 15 - 20cm. Tháng 10/1999, pho tượng Thích Ca đã được chuyển và lắp ráp ở chùa Đỏ. Được biết, pho tượng Thích Ca ở chùa Đỏ do Đoàn Trúc chế tác là pho tượng Phật bằng gỗ lớn nhất ở Việt Nam hiện nay, được đồng bào gần xa tới chiêm ngưỡng ngày càng thêm đông đảo.
CHÙA ẤN QUANG



Chùa tọa lạc ở số 243 đường Sư Vạn Hạnh, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Vào năm 1948, Hòa thượng Thích Trí Hữu từ chùa Linh Ưứng ở Ngũ Hành Sơn (Quảng Nam - Đà Nẵng) vào lập ngôi chùa nhỏ mang tên Ưứng Quang. Đến năm 1950, Hòa thượng Thích Thiện Hòa nhận nhiệm vụ Viện chủ đã cho xây dựng ngôi chánh điện và đổi tên là chùa Ân Quang. 
Từ năm 1951, chùa được chọn làm Phật học đường Nam Việt. Hòa thượng Thiện Hòa được bầu làm Tổng Giám đốc đã đại trùng tu chùa và mở mang trường từ năm 1955 đến lúc ngài viên tịch (1978). 

Chùa là một trung tâm đào tạo nhiều tăng tài cho Phật giáo Việt Nam hiện đại, là trụ sở của Giáo hội Tăng già Nam Việt, văn phòng Viện Hóa Đạo và Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất trước đây. 

Hiện nay, chùa đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh. Chùa là nơi đón tiếp đông đảo Phật tử, du khách đến sinh hoạt, tham quan, chiêm bái thường xuyên.

CHÙA BÁT BỬU PHẬT ĐÀI



Chùa tọa lạc ở xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố khoảng 30km về phiá Tây Nam. Chùa được xây dựng trên một khu đất rộng hơn 10 hecta, trước mặt là cánh đồng thơm (dứa) mênh mông. Năm 1955, chùa Thanh Tâm được xây dựng. Trước chùa, Bát Bửu Phật đài xây dựng năm 1959, hoàn thành năm 1961. Phật đài được kiến trúc hình bát giác, cao 3m, tầng trên tôn trí tượng Phật Thích-ca cao 7m, nặng khoảng 4 tấn do điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu tạc năm 1957 và cư sĩ Ngô Chí Bình thỉnh từ chùa Xá Lợi về. 
Trải qua những năm tháng chiến tranh, bom đạn đã tàn phá xóm làng, thiêu rụi cả chùa Thanh Tâm, chỉ riêng ngôi Phật đài với Kim thân đức Phật vẫn sừng sững nơi hoang vắng, nên người dân địa phương đã gọi tòa di tích tôn nghiêm này là "Phật Cô Đơn". Năm 1988, Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh đã giao cho Thượng tọa Thích Thiện Bổn nhiệm vụ trụ trì, từng bước chỉnh trang và xây dựng khu di tích. Đến nay, Bát Bửu Phật đài đã trở thành một khu tham quan, chiêm bái hấp dẫn thu hút hàng vạn người đến hàng năm.

CHÙA BỬU QUANG




Chùa tọa lạc ở ấp Gò Dưa, xã Tam Bình, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Hòa thượng Hộ Tông xây dựng từ năm 1940. Đây là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Nam Tông người Việt. Ngài là vị Tăng Thống đầu tiên của Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, khóa I, năm 1957. Ngài đã cho xây dựng nhiều ngôi chùa, Phật học viện, đào tạo nhiều tăng tài... Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa đã qua 7 đời trụ trì và 3 lần đại trùng tu. Lần trùng tu mới nhất do Đại đức Thích Thiện Nghiêm tổ chức vào hai năm 1995-1996.

CHÙA ĐÔNG HƯNG



Chùa tọa lạc ở số 201 đường Lương Định Của, xã An Khánh, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Thích Bửu Chí khai sơn năm 1934. Ngài đã khai sơn ba chùa ở vùng này là Đông Hưng, Thiền Tịnh và Linh Sơn. Năm 1963, Hòa thượng Thích Hành Trụ, pháp hiệu Phước Bình, người Phú Yên đã về trụ trì chùa cho đến lúc viên tịch (1984). Ngài thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42, nguyên tu học tại Phật học đường chùa Tường Vân và chùa Tây Thiên (Huế) năm 1936, là một giảng sư danh tiếng của Phật giáo ở miền Trung và miền Nam, đã phiên dịch, ấn hành 15 tác phẩm Kinh luật như: Sa Di luật giải, Qui sơn cảnh sách... Chánh điện chùa được bài trí tôn nghiêm, các pho tượng và bao lam chạm gỗ được thếp vàng rực rỡ. Đại đức Thích Thông Kinh trụ trì hiện nay đã tổ chức tại chùa cơ sở điêu khắc gỗ các mặt hàng cao cấp như bao lam, tủ thờ, phù điêu...  

CHÙA DƯỢC SƯ



Chùa tọa lạc ở số 464 đường Lê Quang Định, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Sư Viết Tạo khai sơn vào năm 1929. Chùa đã qua ba đời trụ trì, được trùng tu vào năm 1950. 
Ni sư trụ trì Thích nữ Như Hòa đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa theo kiến trúc qui mô hiện đại vào năm 1994, khánh thành ngày 19-01-1995. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa là một Ni trường nổi tiếng của Phật giáo thành phố. 

Hòa thượng Thích Thiện Hoa đã đến giảng dạy ở đây từ năm 1953. Năm 1957, Hòa thượng mở những khóa huấn luyện trụ trì khắp lục tỉnh lấy tên là "Như Lai Sứ Giả" tại hai chùa Pháp Hội và Dược Sư. Chùa còn mở thường xuyên các lớp giáo lý Phật học phổ thông cho Phật tử. Chùa thường xuyên đón tiếp nhiều Phật tử, du khách đến sinh hoạt, tham quan, chiêm bái.

CHÙA GIÁC HẢI



Chùa tọa lạc ở số 345/45 đường Hùng Vương, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Năm 1887, bà Trần Thị Liễu cất ngôi chùa nhỏ có tên Giác Sơn và cúng cho Hòa thượng Hoằng Ân. Hòa thượng Hoằng Ân cử đệ tử là ngài Từ Phong về trụ trì chùa, đổi tên chùa là Giác Hải. Hòa thượng Từ Phong là một giảng sư danh tiếng của Phật giáo ở miền Nam, tổng số tự viện các nơi cúng cho ngài khoảng 20 ngôi. Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. ở khu vực chùa có nhiều cơ sở tạc tượng chư Phật, Bồ-tát nổi tiếng ở thành phố.

CHÙA GIÁC LÂM



Chùa tọa lạc ở số 118 đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa còn có tên là Sơn Can và Cẩm Đệm. Chùa được Lý Thụy Long, người Minh Hương quyên tiền xây cất vào năm 1744. Sau đó ông giao cho Thiền sư Phật Yý. Thiền sư Phật Yý giao cho đệ tử là Thiền sư Viên Quang trụ trì. Chùa đã trải qua các đời trụ trì: Thiền sư Viên Quang, Hải Tịnh, Minh Vi, Minh Khiêm, Như Lợi, Hồng Hưng, Nhựt Dần và Thượng tọa Lệ Sành đương nhiệm từ năm 1974. Chùa được  tiến hành hai lần đại trùng tu vào những năm 1799-1804 dưới thời Thiền sư Viên Quang trụ trì và các năm 1906-1910 dưới thời Thiền sư Như Lợi và Thiền sư Hồng Hưng trụ trì. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chùa có 113 pho tượng cổ, trong đó có 5 pho tượng bằng đồng, 8 câu đối, 9 bao lam, 19 hoành phi và các bàn thờ.... Tất cả đều là những tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao. Chùa là ngôi Tổ đình danh tiếng bậc nhất ở miền Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Có nhiều ngôi chùa cổ đã từng được ghi trong sử sách nhưng nay không còn lại dấu vết kiến trúc nào, như các chùa Từ Ân, Khải Tường, Mai Khâu (chùa Cây Mai), Kim Tiên, Gia Điền, Phước Hưng, Phước Hải... Bên cạnh đó, có những ngôi chùa tuy được lập khá sớm nhễng hình thể kiến trúc chủ yếu mới tạo dựng sau này, nhễ các chùa Phụng Sơn, Hội Sơn, Huê Nghiêm, Phước Tường... Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân, những ngôi chùa ở TP Hồ Chí Minh được xây dựng trước năm 1900 tuy có trùng tu nhưng vẫn giữ được khung gỗ truyền thống thì được xếp là "chùa cổ". Ngược lại, những ngôi chùa dù có kiến trúc theo khung gỗ cổ truyền nhưng dựng sau năm 1900 thì đều được xem là "chùa mới". Và ở góc độ nào đó, nếu như chùa Từ Ân là ngôi chùa cổ do tổ Phật ý (đời chúa Nguyễn Phúc Khoát) từ miền trung vào Sài Gòn lập sớm nhất, thì chùa Giác Lâm là ngôi chùa cổ có lối kiến trúc tiêu biểu nhất còn giữ được hình thể, đường nét, kết cấu cơ bản cho đến ngày nay.

Trong tác phẩm Gia Định thành thông chí, nhà văn hóa nổi tiếng Trịnh Hoài Đức cho biết chùa Giác Lâm do cư sĩ Lý Thụy Long người Minh Hương quyên tiền xây dựng vào mùa xuân năm Giáp Tý 1774, rồi xin tổ Phật ý ở chùa Từ Ân cử thầy Viên Quang về trụ trì. Nơi tọa lạc của chùa Giác Lâm xưa kia thuộc địa phận xã Phú Mỹ Thọ, huyện Bình Dương, trấn Phiên An, phủ Tân Bình. Hiện nay chùa nằm trên đường Lạc Long Quân thuộc phường 10, quận Tân Bình. Trải qua chín đời trụ trì, chùa được xem là Tổ đình của dòng Lâm Tế ở miền nam.

Các vị thiền sư trụ trì chùa đều là những bậc chân tu đáng kính, chẳng những uyên thâm Kinh Phật mà còn giỏi về nho học, y học, thiên văn, địa lý cùng nhiều ngành nghệ thuật. Thiền sư Tổ Tông - Viên Quang từng được Trịnh Hoài Đức làm thơ ca ngợi tài năng và công đức, hiện còn được khắc triện trên các bức sơn mài ở nhà thờ tổ. Bậc chân tu trụ trì chùa đầu tiên này là người có công đầu về việc trùng tu chùa Giác Lâm và biến nơi đây trở thành trung tâm Phật giáo lớn của toàn Nam Bộ. Còn thiền sư Hồng Hưng - Thanh Đạo được xem là vị tổ có công trong việc hoàn thiện quần thể kiến trúc chùa như hiện nay. Điều đó chứng tỏ sự am tường về nghệ thuật kiến trúc và óc thẩm mỹ hiếm có của bậc chân tu này.

Trong quá khứ, chùa được trùng tu quy mô lớn hai lần, vào các năm 1799-1804 và 1906-1909. Đầu năm 1999, chùa hoàn thành đợt trùng tu quy mô lần thứ ba với kinh phí do ủy ban Nhân dân TP Hồ Chí Minh đầu tư là 293 triệu đồng. Tuy bề ngoài có sửa đổi nhiều, nhưng cơ bản chùa vẫn giữ được kiểu kiến trúc ban đầu, đặc biệt là 98 cây cột cổ đứng dọc từ ngoài vào trong, chia thành ba lớp nhà bằng nhau. Tọa lạc xa trung tâm thành phố nên cảnh chùa xưa kia rất u tịch, vắng vẻ hợp với thế giới tu hành, như hai câu đối còn ghi ở chánh điện:

"Tự cổ tăng nhàn thường dẫn yên hà vi bạn lữ:

Sơn thâm thế cách chỉ bằng thảo mộc ký xuân thu"

Tạm dịch:

Chùa cổ sư nhàn cùng khói hương kết duyên bầu bạn

Non xa đời khuất chỉ cỏ hoa lưu dấu ngàn sau

Ngày 16-11-1988, chùa Giác Lâm được Bộ Văn hóa công nhận Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia. Đây là một trong những điểm văn hóa có sức thu hút mạnh mẽ du khách trong lẫn ngoài nước tới chiêm bái. Những ngày giáp Tết Kỷ Mão 1999, ngay sau khi chùa mới khánh thành đợt trùng tu quy mô lần thứ ba, đã có hàng nghìn du khách tìm đến ngôi cổ tự này để cầu phúc lộc cho năm mới. 

CHÙA GIÁC VIÊN



Chùa tọa lạc ở số 161/85/20 đường Lạc Long Quân, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa ban đầu mang tên là Quan Âm các, được ngài Hương Đăng tạo dựng vào năm 1805 từ một am nhỏ thờ Bồ-tát Quan Thế Âm. Năm 1850, Thiền sư Hải Tịnh đổi Quan Âm các thành chùa Giác Viên. Chùa được trùng tu lớn vào các năm 1899-1902 dưới thời Hòa thượng Như Nhu trụ trì và vào các năm 1908-1910 dưới thời Hòa thượng Như Phòng trụ trì. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chùa có 135 pho tượng và 57 bao lam, hầu hết được tạo tác và chạm khắc vào hai lần đại trùng tu ngôi chùa. Các bao lam ở chùa có giá trị nghệ thuật cao, có bao lam chạm cả 2 mặt, đặc biệt là bao lam "Bá Điểu", người xem như thấy cả thế giới loài chim đang sinh hoạt ở quanh mình. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

Chùa Giác Viên còn có tên là chùa Hố Đất, xưa là một am nhỏ, gọi tên là "Quan Âm Các", dựng vào năm 1798. Tương truyền, khi Hòa Thượng Hải Tịnh đại trùng tu chùa Giác Lâm, ông đã chọn ngôi đất chùa Giác Viên hiện nay làm bến xếp cây gỗ, trước khi chuyển vận bằng đường bộ đến Giác Lâm (dài 2km). Trước mặt chùa còn rạch Hố Đất (rạch Tân Hòa) đổ ra rạch Ông Bướng và kinh Lò Gốm, vốn là đường chở gỗ ngày xưa. Để tiện bề đôn đốc công việc, Hòa thượng dựng một nhà lá, trong đó thờ Phật. Phật tử lui tới ngày một đông đúc. Năm 1850 chùa được chính thức đổi tên thành Giác Viên. Chùa Giác Viên trong thời gian này được dùng làm cơ sở chánh học tập khoa ứng phú vùng Chợ Lớn. Trong chùa còn lại bức hoành phi đề "Tân Mão niên tại" nên có ý kiến cho rằng chùa đã có từ năm 1771 hoặc 1831.

Bình đồ chùa được bố cục theo kiểu chữ “trung" chiều ngang 70m, dài 58m. Phật điện được đặt giữa chùa. Hai bên có dãy nhà nối vào phần giữa bao bọc sân, trong đó trồng cây cảnh, non bộ. Ngoài ra, trong chùa còn có những dãy nhà phụ làm nhà trai và bếp, trường học. Nét đặc biệt trong kiến trúc chùa Giác Viên là bộ sườn gỗ chạm trổ tinh vi, tiêu biểu cho kiến trúc cổ truyền tại miền Nam. Qua các lần trùng tu lớn vào năm 1958, 1961, 1962, chùa được tu sửa theo kiến trúc mang màu sắc Tây phương hơn.

Trong chùa có tất cả 153 pho tượng, 57 bảo lam và 60 bức phù điêu.Trong khuôn viên chùa còn 2 công đất trước đây là nơi xây cất trường Phật học Lục Hòa Tăng, cơ sở in ấn tạp chí Lục Hòa Tăng, cơ quan ngôn luận của Giáo Hội và là nơi đào tạo bồi dưỡng tăng tài. Hiện nay chùa còn lưu lại nhiều tác phẩm điêu khắc với những đường nét chạm trồ tinh vi như những tấm thêu trên mặt gỗ. Đặc biệt chùa còn giữ được chiếc giá võng của triều đình nhà Nguyễn tặng vị Tổ sư Hải Tịnh, người sáng lập chùa Giác Viên và một gốc mai. 

CHÙA HOẰNG PHÁP



Chuyến xe buýt công cộng mang số 13, khởi hành từ Bùng Binh, chợ Bến Thành đã đưa chúng tôi tới trạm ngừng gần khoảng đường rẽ vào chùa Hoằng Pháp, Hốc Môn, trên xa lộ đi về hướng Mộc Bài, vào một buổi sáng đẹp trời của ngày đầu năm Bính Tuất.  Bước xuống xe, chúng tôi được những chiếc xe Honda ôm chờ đón khách vào chùa.  Thế là chúng tôi đã đến được chùa, đoạn cuối ngắn nhất của cuộc hành trình dài nửa vòng trái đất bằng phương tiện xe hai bánh, sau khi bay qua Thái Bình Dương bằng máy bay Boing 747 và bằng chuyến xe bốn bánh của công ty xe khách Saigon có máy lạnh và nhạc êm dịu không lời.

Chùa Hoằng Pháp không ẩn mình trong rừng sâu hay nằm trên đối núi tách biệt với thế giới náo nhiệt bên ngoài như một số ngôi chùa khác mà nằm ngay nơi thôn ấp, được bao bọc bởi nhà dân. Nghe người dân kể vào những ngày rằm, trăng sáng vằng vặc, âm vang tiếng hồng chung và tiếng niệm Phật Di Đà như thức tỉnh những ai còn hững hờ nơi cõi mê trong trần thế. Bao nhiêu người ở khắp miền đất nước sau nhiều ngày sống trong căng thẳng và buồn phiền đã trở về để tự nuôi dưỡng, xem nơi đây như là một góc trời riêng mới của mình. 

Chùa Hoằng Pháp được sáng lập bởi Hòa thượng Ngộ Chân Tử (1901-1988) vào năm 1957 với sáu mẫu đất hoang vu nay được kiến tạo khang trang bởi các đệ tử của ngài và thập phương Phật tử. Nơi đây là trung tâm hành trì pháp môn niệm Phật. Với một niệm Phật đường rộng lớn có sức chứa khoảng 1000 Phật tử và một toà nhà hai tầng lầu làm nơi lưu xá cho những người tham dự khoá tu.  Ngoài ra còn có trai đường đủ rộng cho một ngàn thực khách thọ trai cùng một lúc.  Chúng tôi đến đây nhằm đúng khoá tu Phật thất đầu năm 2006 và theo lời một vị sư trong chùa kể là đông đến 1000 người, thế nhưng lại không ồn ào náo nhiệt, cả không gian chỉ có âm vang tiếng niệm Phật Di Đà. 

Phật thất là một mô hình tổ chức tu học tương đối khá mới lạ ở Việt Nam.  Phật thất có nghĩa là một tập thể gồm nhiều người cùng tu tập niệm Phật trong thời gian bảy ngày bảy đêm tại chùa.  Đây là một mô hình tu Bát Quan Trai giới, kéo dài bảy ngày bảy đêm, thay vì một ngày một đêm.  Người cư sĩ tại gia cố gắng tu tập giống như đời sống phạm hạnh của người tu sĩ xuất gia trong một tuần.  Tuy nhiên, theo hoà thượng Thích Tịnh Không, một pháp sư hoằng truyền pháp môn Niệm Phật nổi tiếng hiện nay trên thế giới cho biết mục đích của Phật thất là trong vòng 7 ngày tu niệm Phật, hành giả phải đạt được “nhất tâm bất loạn” như được nói đến trong kinh A Di Ðà.  Ngài nói: “Công phu đến “nhất tâm bất loạn” thường được chia ra ba hạng: thượng, trung, hạ.  Công phu mức thượng gọi là “Lý nhất tâm bất loạn” có cùng một cảnh giới với mức “minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật” trong Tông Môn.  Kế đó là “sự nhất tâm bất loạn”: đoạn dứt kiến tư phiền não, công phu này tương đương với bậc Tiểu thừa A La Hán.  Mức thấp nhất gọi là “công phu thành phiến”.  Rất ít người có thể đạt được công phu mức thượng và mức trung, nhưng “công phu thành phiến” đích thật là ai cũng có thể đạt được. Trong vòng 24 giờ đồng hồ trong tâm chỉ có A Di Ðà Phật, ngoài ra không  khởi lên một vọng niệm gì khác, đây gọi là “công phu thành phiến..”. 

Được biết biết khóa tu Phật thất đầu tiên được tổ chức tại chùa Hoằng Pháp từ ngày 2-5 đến 9-5-1999 với số lượng 68 Phật tử tham dự. Tuy có nhiều khó khăn lúc ban đầu như sức ép từ thành hội không cho phép thu nhận Phật tử ngoài địa phương quận Hốc Môn và có ý quy kết việc tổ chức Phật Thất tại Hoằng Pháp mang lại nhiều bất lợi cho xã hội và do mô phỏng tổ chức của nước ngòai; Nhưng nhờ long thần hộ pháp, mọi trở ngại đều được hoá giải và cho đến nay chùa Hoằng Pháp đã tổ chức được tất cả 38 khoá tu.  Khóa tu hiện nay là khóa thứ 38 được tổ chức từ ngày 19-02-2006 đến 26-02-2006 với số lượng Phật tử tham khoảng 1000 vị. 



Do tổ chức chu đáo và kết quả với nhiều lợi lạc đem lại, nên số Phật tử từ mọi miền đất nước đến tham dự ngày càng đông.  Kể từ năm 2001 đến nay, chùa tổ chức mỗi năm 6 khoá tu Phật thất, mỗi khoá kéo dài một tuần, suốt ngày đêm niệm Phật.  Số Phật tử tham dự mỗi khoá dao động từ 500 đến 1000 người. Các Phật tử muốn tham dự thường phải ghi danh trước từ hai tuần đến một tháng.  Chùa tổ chức ăn ở và tu học miễn phí cho các Phật tử tham dự khoá tu.  Dù vậy, chùa hoan hỷ nhận tiền cúng dường của Phật tử bốn phương, dù đến tu hay không tu để trang trải chi phí tổ chức. 

Phật tử hay khách phương xa có thể đến tham quan hay tu thử trong các khoá tu.  Chúng tôi, ba người từ phương xa, không biết trước có khoá tu đang diễn tiến cũng được mời tham dự một ngày tu hoặc nếu không tham dự được cũng được nhà chùa mời dùng bữa ăn chay thanh đạm trong im lặng cùng với các khoá sinh.  Do tài tổ chức của ban tổ chức và do công năng tu tập của các hành gỉa mà giờ thọ trai với gần 1000 người diễn tiến trong im lặng.  Sau giờ thọ trai, các khoá sinh được tự do sinh hoạt cá nhân như giặt dũ quần áo hay ngủ trưa.  Riêng chúng tôi chọn một ghế đá dưới bóng mát tàng cây, ngồi nhìn sinh hoạt toàn cảnh chung quanh chùa và tự nghĩ làm sao mà thầy trụ trì và ban tổ chức có đủ tài chánh nuôi ăn ở miễn phí cho khoảng một nghìn người mỗi khoá.  Chi phí tài chánh rất lớn để tổ chức cho 38 khoá tu như vậy và cho những khoá tu kế tiếp.  Đến hỏi một sư cô trong ban thủ quỹ thì sư cô cho biết “tất cả đều do Phật tử bốn phương hoan hỷ cúng dường.  Chùa không đòi hỏi người đến tu phải trả tiền mà chỉ mong người đến tu tinh tấn tu hành, nếu sau khi tu cảm nhận được an lạc thì hãy giúp người khác đến tu để được an lạc như mình được thừa hưởng từ khoá tu…”.  Rất trân trọng cảm tạ thầy trụ trì Thích Chân Tính và ban tổ chức khoá tu.

Khoá tu thứ nhất của năm 2006 đã hoàn tất và chùa đang nhận ghi danh khoá tu thứ hai của năm tức khoá tu thứ 39 sẽ được tổ chức từ ngày 16-04-2006 đến ngày 23-04-2006. Theo thông báo, tất cả Phật tử tại gia đều có thể tham dự, nhưng phải có đủ sức khoẻ, không bị bệnh truyền nhiễm, huyết áp cao, tai biến mạch máu não và bệnh đau thắt ngực.  Ban tổ chức cũng không nhận người già yếu, đi đứng khó khăn, lẩm cẩm, tai điếc.  Mỗi khoá tu hiện nay được chia làm ba cấp: (cấp 1) Tín tâm niệm Phật:  Kinh hành 15 phút và ngồi niệm Phật 15 phút (niệm ra tiếng). (cấp 2) Chuyên tâm niệm Phật: Ngồi niệm Phật 30 phút và đi kinh hành 15 phút (niệm thầm). (3) Nhất tâm niệm Phất:  Ngồi niệm Phật (niệm thầm) từ 1 giờ đến 2 giờ.  Thời khoá công phu bắt đầu từ 3 giờ 30 phút sáng và chấm dứt lúc 9 giờ 30 tối. 

Được biết mô hình Phật thất là do sáng kiến của quý thầy người Trung Quốc nhằm tạo điều kiện cho Phật tử tại gia đến chùa tu tập trong 7 ngày đêm để tinh tấn niệm Phật đạt đến chỗ nhất tâm bất loạn. Còn ở Việt Nam, sau khi thăm tổ chức Phật Giáo Phật Quang San ở Đài Loan năm 1998 về, thày trụ trì Thích Chân Tính đã tổ chức khoá Phật thất đầu tiên vào ngày 2-5-1999 và có lẽ chùa Hoằng Pháp là nơi tổ chức mô hình Phật thất đầu tiên ở Việt Nam. Thật ra, từ trước năm 1975, tuy không có khoá tu Phật thất một tuần, nhưng lại có khoá tu niệm Phật “Bá Nhật”, tức một trăm ngày niệm Phật, được tổ chức tại chùa Nhất Nguyên ở Bình Dương mỗi năm một khoá vào dịp trước ngày vía Phật A Di Đà ba tháng.  Truyền thống tu tập này của chùa còn kéo dài cho đến ngày nay.

Theo thầy trụ trì cho biết mục đích của khoá tu là để giúp cho những Phật tử tại gia có điều kiện thuận lợi cắt bớt trần duyên, đến chùa tu tập hầu thúc liễm thân tâm, trau giồi giới đức, nhất tâm niệm Phật, chứng nghiệm sự an lạc trong giáo pháp của Phật.  Thày nói: 

“Ái bất trọng bất sinh Ta bà
Niệm bất nhất bất sinh Tịnh độ.”

Có nghĩa là, lời thầy trụ trì nói tiếp:  “nếu chúng ta không có tình cảm luyến ái thì chúng ta không sinh ở cõi Ta bà này. Vì tình cảm luyến ái đó mà chúng ta phải sinh vào cuộc đời này luẩn quẩn hết làm người,đến làm thú trong dục giới không bao giờ nhàm chán. Và nếu chúng ta niệm Phật mà không chuyên tâm, nhất tâm bất loạn thì không thể sinh về cõi Phật được. Cho nên cái tình cảm, cái luyến ái của gia đình thế gian là lối sống quen thuộc của con người. Từ đó gây nên bao nghiệp chướng nặng nề, khiến bị chìm đắm trôi lăn mãi trong biển khổ luân hồi sinh tử.

Người tu muốn chấm dứt khổ lụy tái sinh thì phải lập chí mạnh bước ra khỏi mọi trói buộc hệ lụy về năm thứ ham muốn. Phải biết tu tập xả ly, cắt đứt không luyến tiếc bất cứ cái gì, gắng công tập buông bỏ mọi lo nghĩ, mọi bám víu quá nặng về vật dục, siêng năng tháo gỡ từng hồi, từng chút mọi đeo níu vào cái tình cảm ham thích dục lạc đó.

Cho nên khóa tu Phật thất này là để tạo điều kiện cho quý vị tập cắt bớt trần duyên. Nếu quý vị chưa thể cắt được trọn vẹn, thì tập cắt 7 ngày. Như vậy khi đến đây, quý vị có còn nghĩ gì đến chuyện gia đình nữa hay không, cái đó đòi hỏi ở tâm tư của mỗi vị phải khẳng định và cố gắng buông hết, đừng có còn nghĩ gì hết…

Trong khóa tu Phật thất, pháp tu của chúng ta là niệm Phật. Trong lúc niệm Phật, thân chúng ta ngồi yên, miệng niệm Phật, ý chúng ta có chăm chú vào câu niệm Phật, nhớ tưởng đến Phật thì tâm chúng ta không vọng tưởng điên đảo hay lăng xăng nghĩ nhớ điều xấu gì khác, vì nhờ câu niệm Phật thúc liễm tâm chúng ta lại. Vì thế, chúng tôi thường xuyên nhắc nhở quý vị chú tâm vào từng động tác đi đứng, ăn uống… trong mọi sinh hoạt, thì mới có thể thúc liễm được cả thân và tâm”.

Thấy nói tiếp: “Ta trôi nổi trong nội thức suy tư và đối tượng bên ngoài suốt tháng năm, bồng bềnh theo cơn vui buồn giận ghét. Chúng ta không tự cứu mình trước bằng cách phản tỉnh làm lắng sạch tâm ý thì đâu có ai làm cho mình được. Nên chúng ta cần phải trút bỏ lại mọi lo toan trần thế, tự hứa gom mình vào định hướng tu tập.

Nếu lòng thanh thản không lo nghĩ
Ấy buổi êm đềm chốn thế gian

Chúng ta tu đến khi nào đạt được sự an vui thì mới về được cõi Cực lạc. Vì Tây phương Cực lạc được gọi là cõi Tịnh độ – Tịnh độ: độ là cõi, tịnh là thanh tịnh, Tịnh độ là cõi thanh tịnh – Chúng ta muốn về cõi Tịnh độ thì chúng ta phải thanh tịnh, còn tâm cứ bực tức, phiền não, buồn giận thì không về được Tịnh độ. Phật là thanh tịnh, cho nên ta cũng phải thanh tịnh thì việc đến với Phật không còn xa.

Nếu không quyết liệt lập chí, thì ta không về Cực lạc được. Do vậy tu Tịnh độ cũng phải lập nguyện thiết tha vô hạn như kẻ tha hương chí cốt muốn về yên nghỉ nơi cố hương. Nhưng điều cần thiết nhất là phải tin sâu chắc, nguyện tha thiết mới cảm thông với Phật, mới có thể quyết định hiện đời ra khỏi Ta Bà sinh về Cực Lạc…”

Khởi đi từ mái nhà tranh, đến nay chùa Hoằng Pháp đã tồn tại được gần nửa thế kỷ. Theo sử sách ghi lại tại chùa, khi còn tại thế hoà thượng khai sáng quanh năm ở túp lều tranh, vách đất, nhưng trong lòng luôn mang một hoài bão hoằng pháp lợi sinh. Dầu đến lúc gần lìa cõi tạm, ngài vẫn còn chưa thỏa nguyện bình sinh. Mỗi khi các đệ tử xa gần về thăm là ngài cứ nhắc nhở: “Hãy tinh tấn tu hành, chuyên cần niệm Phật đừng để vọng niệm theo trần cảnh...”.  và hôm nay gần một nghìn hành gỉa trong khoá tu 38 đang chuyên cần niệm Phật để cố gắng thanh tịnh hoá tâm ý y theo lời dạy của thầy.  

CHÙA HỘI SƠN



Chùa tọa lạc ở số 1A1, ấp Cầu Ông Táng, xã Long Bình, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, trên một ngọn đồi bên sông Đồng Nai. Tương truyền chùa do Thiền sư Khánh Long dựng vào thế kỷ XVIII. Sách Gia Định Thành Thông Chí giới thiệu về chùa: "Ơở đuôi dãy núi Châu Thới về phía Bắc, nứt ra một chi chạy đến địa phận thôn Long Tuy, rồi nổi lên gò cao bằng phẳng rộng rãi; ở trên núi có hang hổ và suối nước, dân chúng ở dọc theo đó. Trên núi có chùa Hội Sơn là chỗ Thiền sư Khánh Long sáng tạo để tu hành..." Đến năm 1927, ông Cả Nguyễn Minh Giác đã trùng kiến ngôi chùa. Năm 1938, Sư bà Thích nữ Như Thanh tổ chức trùng tu lớn. Trụ trì ngôi chùa hiện nay là Đại đức Thích Nhựt Phát đã tổ chức trùng tu nhiều đợt. Chùa có nhiều pho tượng cổ, tháp cổ. Khu đất chùa được xếp là 1 trong 26 di tích khảo cổ học (thuộc thời kỳ kim khí) ở thành phố Hồ Chí Minh. Các nhà khảo cổ học đã tìm được rìu đá, đục đá, nhiều mảnh gốm... có niên đại khoảng 4000 năm. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA HUỆ LÂM



Chùa tọa lạc tại số 154 đường Tùng Thiện Vương, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Tương truyền chùa được lập vào năm 1780. Ơở chùa có treo hai câu ghi sự tích bà Chiêm Thị Mai tạo dựng chùa hơn một trăm năm đã hư hỏng, đến tháng 4 năm Nhâm Tý (1912), bà Trần Thị, phu nhân Đỗ Hữu Phương cho trùng tu. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Tượng đức Bổn sư được tôn trí trên cao, kế đến là bộ tượng Di-đà Tam Tôn... Hai bên vách chánh điện có đặt thờ bộ tượng cổ Thập Điện Minh Vương. Chùa còn giữ bức hoành sơn son thếp vàng 5 chữ "Sắc tứ Huệ Lâm Tự" do Vua Khải Định cấp. Ni sư trụ trì Thích nữ Giác Nhẫn đã tổ chức trùng tu, kiến thiết ngôi chùa vào các năm 1970, 1988 và 1991.

CHÙA HUÊ NGHIÊM PHÚ NHUẬN



Chùa tọa lạc ở số 187/3 đường Trần Kế Xương, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Hòa thượng Thọ Dã xây dựng vào năm Giáp Ngọ (1954), là ngôi chùa Phật giáo Hoa Tông theo phái Huê Nghiêm (Trung Quốc). 
Chùa có nhiều pho tượng lớn như tượng đức Phật Di-đà, tượng đức Phật Thích-ca và tượng đức Phật Dược Sư đắp sơn mài, được thỉnh từ Hồng Kông về năm 1954. Ở sân chùa có tháp La-hán lục giác được xây vào năm 1962, hoàn thành năm 1965. Các mặt chung quanh tháp, họa sĩ Tả Bạch Đào đã khắc bộ Thập bát La-hán theo mẫu của ngài Trúc Thiền (một cao tăng tại tỉnh Tứ Xuyên vẽ, được Từ Hy Thái hậu đời nhà Thanh chọn làm bộ tranh đẹp nhất). 

Chùa đã tổ chức Đại giới đàn hai lần vào năm 1964 và năm 1969.

Chùa tọa lạc ở số 20/8 đường Đặng Văn Bi, thị trấn Thủ Đức, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Thiền sư Thiệt Thoại - Tánh Tường khai sơn vào thế kỷ XVIII. Lúc đầu, chùa xây ở vùng đất thấp, cách ngôi chùa hiện nay khoảng 100m. Về sau, bà Nguyễn Thị Hiên đã hiến đất để xây lại ngôi chùa. 

Chùa được trùng tu nhiều lần. Lần trùng kiến lớn nhất vào cuối thế kỷ XIX do Thiền sư Đạt Lý - Huệ Lưu (đời thứ 38 dòng Lâm Tế) tổ chức. Kiến trúc chùa hiện nay được thay đổi ở những lần trùng tu vào các năm 1960, 1969 và 1990 do các ngài Thiện Bửu và Trí Đức tổ chức, mang dáng dấp của một ngôi chùa hiện đại. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Bộ tượng Di-đà Tam Tôn được thờ ở vị trí cao nhất, tiếp đó là bộ tượng Tam Thế Phật, tượng Thích-ca đản sanh... Đặc biệt chùa có pho tượng cổ Di-đà, cao 1m. Chùa là nơi phát xuất nhiều vị cao tăng của Phật giáo miền Nam, như Thiền sư Tế Giác - Quảng Châu, Thiền sư Đạt Lý - Huệ Lưu, Hòa thượng Từ Vân, Hòa thượng Trí Đức, Thượng tọa Trí Quảng... 

Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng ở thành phố xưa nay, đã đón tiếp thường xuyên các Phật tử, du khách trong nước, nước ngoài đến tham quan, chiêm bái.

CHÙA HUỆ NGHIÊM



Chùa tọa lạc tại thị trấn An Lạc, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, trước Bến xe miền Tây. Chùa do Hòa thượng Thích Thiện Hòa khai sáng, xây dựng vào ngày 11-11-1962 theo bản vẽ của kiến trúc sư Võ Đình Diệp. Hòa thượng người làng Tân Nhựt (Chợ Lớn), xuất gia thọ giới với Tổ Khánh Hòa tại Phật học đường Lưỡng Xuyên (Trà Vinh) năm 1935 và theo học nhiều Phật học đường ở miền Trung, miền Bắc từ năm 1936 đến năm 1948. Ngài là một danh tăng lỗi lạc của Phật giáo Việt Nam về các lãnh vực truyền giới, kiến thiết và trước tác. Hòa thượng viên tịch vào ngày 07-02-1978. 
Chùa là nơi tu học của chư tăng từ năm 1963 đến năm 1985 với các tên: Trường trung học chuyên khoa, Phật học viện Huệ Nghiêm, Viện cao đẳng Phật học Huệ Nghiêm. Chùa đã được trùng tu vào năm 1965 và năm 1989. Trong khuôn chùa có nhiều công trình đẹp như tháp chuông, đài Quan Âm, tháp Phổ Đồng (cao 32m, xây năm 1972), đặc biệt là pho tượng đức Phật Thích-ca (cao 4,5m, ngang 4,5m) do điêu khắc gia Lê Thành Nhơn sáng tác, an vị vào năm 1979.

CHÙA KHÁNH HƯNG



Chùa tọa lạc tại số 390/8 đường Cách Mạng Tháng 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. "Chùa được lập vào khoảng thế kỷ XIX. "Khánh Hưng" là tên ghép của hai vùng Khánh Hội - Hòa Hưng. Kiến trúc ban đầu còn sơ sài. Đến năm 1947, ngài Thích Pháp Lan, người Bình Định, thuộc dòng thiền Lâm Tế chánh tông đời thứ 42 về chùa thuyết pháp và được tín đồ địa phương mời ở lại trụ trì. Cuối năm 1948, ngài Pháp Lan đã tổ chức trùng tu ngôi chùa. Năm 1950, ngài mở phòng chẩn trị thuốc Nam miễn phí, tổ chức trùng tu chùa lần thứ 2. Năm 1953, ngài mở lớp Phật học, đào tạo được nhiều tăng, ni. Năm 1993, Hòa thượng Pháp Lan đã tổ chức đại trùng tu chùa bằng vật liệu kiên cố. Ngài viên tịch vào ngày 01-03-1994. Tiếp nối trụ trì là thầy Thiện Tâm. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Chùa còn giữ nhiều pho tượng cổ như: bộ Di-đà Tam Tôn, tượng Chuẩn-đề, tượng Hộ Pháp. 

CHÙA KỲ VIÊN



Chùa tọa lạc ở 610 đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Hộ Tông và kỹ sư Nguyễn Văn Hiểu (Hội trưởng Hội cư sĩ) đứng ra xây dựng vào năm 1949. 
Ngài Hộ Tông quê tại Tân Châu (An Giang), đã đậu bằng bác sĩ và được cử làm việc ở Campuchia. Ngài đã lập chùa Sùng Phước ở PhnômPênh và được đức Phó Vua sãi Campuchia truyền giới xuất gia tại chùa này vào năm 1940. Năm 1957, trong hội nghị bầu Ban Chưởng quản Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam khóa I, ngài được suy cử chức vụ Tăng Thống. 

Các vị cao tăng như Hòa thượng Hộ Tông, Hòa thượng Thiện Luật, Hòa thượng Bửu Chơn, Hòa thượng Tối Thắng, Hòa thượng Ân Lâm, Hòa thượng Giới Nghiêm đều thường trụ tại chùa trong các nhiệm kỳ Tăng Thống. 

Chùa hiện nay do Hòa thượng Siêu Việt trụ trì, là trụ sở của hệ phái Phật giáo Nguyên thủy Việt Nam, là nơi hoằng pháp và nơi tiếp đón các phái đoàn Phật giáo quốc tế thuộc hệ Theravada (Nguyên thủy).

CHÙA LINH QUANG



Chùa tọa lạc ở số 40/60 đường Nguyễn Khoái, Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Thích Phổ Ưứng thuộc dòng Lâm Tế Chánh tông đời 42 sáng lập vào năm 1953. 

Năm 1963, ngài đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa đến năm 1969 mới hoàn thành. Hòa thượng viên tịch năm 1983. Thượng tọa Thích Từ Giang kế thế trụ trì, đã tổ chức trùng tu, xây cất, mở rộng ngôi chùa liên tục từ năm 1992 đến nay. 

Chùa có quả chuông cao 0,76m đời Minh Mạng và một pho tượng cổ bằng đá cao 0,76m (được vớt lên từ đáy sông Đồng Nai vào năm 1972) nhiều nhà nghiên cứu cho biết là tượng Phật thời Vương quốc Phù Nam. 

Đặc biệt, chùa có lập Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật từ năm 1989, có 92 em từ 6 tuổi đến 20 tuổi được 26 nhân viên chăm sóc miễn phí tại đây; và phòng khám bệnh từ thiện hoạt động các ngày thứ 2, 4, 6, chủ nhật, miễn phí hoàn toàn cho bệnh nhân nghèo

CHÙA LINH SƠN



Chùa tọa lạc ở số 149 đường Cô Giang, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa nguyên trước đây là ngôi miếu thờ Linh Sơn Thánh Mẫu. Đến cuối thế kỷ XIX, được xây dựng thành ngôi chùa. Năm 1931, Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học ra đời, đặt trụ sở ở chùa. Hội ra tạp chí Từ Bi Âm từ đâỗu năm 1932. Kiến trúc chùa hiện nay do Hòa thượng Thích Nhật Minh tổ chức đại trùng tu vào năm 1968. Ngài quê ở Tân Lợi (Minh Hải), thọ giới tại chùa Sắc tứ Quan Âm (Cà Mau) năm 1922. Năm 1953, ngài được cử làm Tăng trưởng ba tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Năm 1968, ngài được bầu làm trụ trì kiêm hội chủ Linh Sơn Phật học. Ngài là một giảng sư danh tiếng ở miền Nam, đã mở nhiều đại giới đàn. Đặc biệt năm 1971, đại lễ khánh thành chùa Linh Sơn được tổ chức cùng với đại giới đàn và lễ thỉnh ngọc Xá-lợi Phật Thích-ca do ngài Narada (Tích Lan) cúng dường thờ tại chùa. Hòa thượng viên tịch vào ngày 28-04-1993. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa thường xuyên đón tiếp nhiều Phật tử, du khách đến tham quan, chiêm bái.

CHÙA LONG HUÊ



Chùa tọa lạc ở số 131/27 đường Nguyễn Thái Sơn, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Theo tấm bảng bằng gỗ do ông Thiện Ngọc khắc ghi vào năm 1912 còn lưu giữ ở chùa thì chùa do Thiền sư Đạo Thông, người Quảng Nam, vào xã Cai Hạt lập một am nhỏ để tu hành vào năm 1798. 
Chùa đã được Vua Gia Long ban tấm biển "Sắc tứ Long Huê Tự". Dưới đời Vua Thành Thái, Hòa thượng Từ Huệ đã tổ chức trùng kiến ngôi chùa trang nghiêm. Chùa ngày trước còn có tên là Quang Long Tự, Huệ Long Tự. Chùa được đại trùng tu vào năm 1966. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Ở đây có bộ tượng cổ Di-đà Tam Tôn bằng gỗ và Đại hồng chung nặng hơn 1000kg, cao 1,70m, được đúc ở chùa vào năm 1987. 

Chùa còn giữ một con dấu bằng ngà, mặt trên có chạm hình kỳ lân, mặt dấu khắc 4 chữ triện "Phật Pháp Tăng Bảo" (1871).

CHÙA LONG NHIỄU



Chùa tọa lạc ở số 10/3 khu phố 3, thị trấn Thủ Đức, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được khai sơn vào cuối thế kỷ XIX, là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng ở thành phố. Chùa được đại trùng tu vào năm 1968. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm, chùa có nhiều pho tượng cổ. Ni sư trụ trì Thích nữ Đạt Lý đã tổ chức trùng tu, mở rộng chùa những năm gần đây.

CHÙA LONG THẠNH



Chùa tọa lạc ở xã Tân Tạo, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Thiền sư Trí Tâm khai sơn vào thế kỷ XVIII. Vào năm 1862, ngài Minh Hòa - Hoan Hỷ đã đến chùa xin xuất gia học đạo với Thiền sư Tiên Cần - Từ Nhượng. Sau đó, ngài đã xây dựng ngôi chùa trở thành trường Phật học, một trung tâm hoằng pháp danh tiếng ở Nam Kỳ lục tỉnh, thu hút được tăng sĩ khắp nơi đến tu học. Ngài viên tịch năm 1916, trao quyền thừa kế cho ngài Thiên Quang - Như Hào. Đến năm 1945, chùa bị hư hỏng hoàn toàn, sau đó được xây dựng đơn sơ. Kiến trúc chùa ngày nay đã được Hòa thượng Thích Bửu ý cho trùng tu vào các năm 1959, 1984, 1992 và 1995. Chánh điện được bài trí đơn giản, trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng cổ và tháp cổ.

CHÙA NAM THIÊN NHẤT TRỤ



Hà Nội có Chùa Một Cột được xây dựng đời nhà Lý đầu thế kỷ XI. Sài Gòn có "Nam Thiên nhất trụ" (Trời Nam một trụ) gọi nôm na là chùa Một Cột. Chùa tọa lạc ở đường Ðặng Văn Bi, quận Thủ Đức, TPHCM.

Chùa do Hòa thượng Thích Trí Dũng dựng vào năm 1958. Kiến trúc sư Nguyễn Gia Đức vẽ thiết kế. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Các pho tượng Phật, hương án, bao lam ở điện Phật do nghệ nhân Bá Nhâm thực hiện trong những năm 1970. Trước ngôi chánh điện là đài Liên Hoa (thường gọi là chùa Một Cột), dạng kiến trúc như đài Liên Hoa chùa Diên Hựu (Hà Nội), bên trong thờ tượng Bồ-tát Quan Âm. Khuôn viên chùa rộng khoảng 1 hecta. Ở đây có nhiều pho tượng lớn lộ thiên như: tượng đức Phật Di-đà, đức Phật Thích-ca, đức Phật Di-lặc, tượng Bồ-tát Quan Âm, Bồ-tát Địa Tạng... Sau ngôi chánh điện là nhà lưu niệm và bảo tháp Nam Thiên. Kinh phí xây dựng chùa do hòa thượng và bà Ðỗ Thị Vinh (pháp danh Ðức Hiển) tự lo toàn bộ công trình, không dùng tiền công quả của Phật tử. Chùa khởi công xây dựng ngày 8-4-1958, hoàn tất 1977.

Theo tinh thần văn bia hòa thượng, dựng Nam Thiên nhất trụ tuân thủ khuôn mẫu Thăng Long nhất trụ ở Hà Nội, ước mơ của vua Lý. Xây dựng chùa này cốt để các tín ngưỡng phương Nam chiêm ngưỡng lễ Phật, nhớ về cội nguồn tổ tiên, hun đúc hy vọng quốc thái dân an, quê hương hưng thịnh. 

Trụ chùa Một Cột đúc vĩnh cửu bằng xi măng cốt thép. Mái lợp ngói uốn cong như chùa Một Cột Hà Nội, nhưng thấp hơn, nhỏ hơn. Quanh chùa là hồ nước hình vuông có tên là Hồ Long Nhãn (hồ mắt rồng). Dưới hồ thả rùa, cá kiểng nhiều màu bơi lượn. Nước hồ xanh màu Hồ Gươm. Trong hồ có xuồng nhỏ làm vệ sinh môi trường mặt nước. Khuôn viên chùa rộng rãi, thoáng mát bởi vòng cây xanh cổ thụ, đường đi lối lại vệ sinh sạch sẽ càng thư giãn bởi có hoa kiểng. 
 
Nhà lưu niệm Hòa thượng Thích Trí Dũng mô phỏng chùa Một Cột. Quanh hồ sen thơm ngát. Nhà lưu niệm trưng bày bút tích hòa thượng bày tỏ nguyện vọng được tặng Nhà nước cổ vật mà hòa thượng đã giữ gìn 30 năm qua. Thư kể rằng, khi thi công đào móng chùa, nhà chùa phát hiện một tảng đá lớn. Trên mặt tảng đá có một cái đĩa kim loại khác thường (không biết kim loại gì). Ðĩa có đường kính 0,38m, dày 1m, nặng 6,200 kg. Trong đĩa có chữ "Ngũ Tử đăng Khoa" (năm con đỗ đại khoa).

Nhiều đòan thể, tổ chức, cá nhân mặc cả để có được chiếc đĩa quý giá ấy. Có lúc chiếc đĩa được trả giá tới 200 lượng vàng và 5 triệu đồng tiền mặt. Tuy nhiên, báu vật của tiền nhân đất Nam Thiên nhất trụ Sài Gòn Gia Ðịnh không hề lay chuyển trước kinh tế cám dỗ.

Nam Thiên nhất trụ - chùa Một Cột ở Sài Gòn – là nét độc đáo trong đời sống văn hóa tinh thần người Sài Gòn – Gia Định. Nam Thiên nhất trụ hiện diện vẻ đẹp bên trong của người Sài Gòn biết giữ gìn, phát triển bản sắc văn hóa dân tộc…

Tọa lạc tại đường Nguyễn Văn Bi, quận Thủ Đức, Nam Thiên Nhất Trụ là ngôi chùa Một Cột được nhiều người biết đến không những bởi kiến trúc độc đáo mà còn là nơi lui tới của nhiều chư tăng phật tử ở phương Nam. 

Cổng Nam Thiên Nhất Trụ 
Với khuôn viên rộng khoảng một héc ta, chùa Nam Thiên Nhất Trụ được Hòa thượng Thích Trí Dũng tổ chức xây dựng năm 1958. Kiến trúc sư Nguyễn Gia Đức đã vẽ thiết kế ngôi chùa này dựa theo kiến trúc chùa Diên Hựu (chùa Một Cột ở Hà Nội) được dựng lên vào đời nhà Lý. Chùa Nam Thiên Nhất Trụ là nơi để nhân dân và các chư tăng phật tử ở miền Nam có dịp đến chiêm ngưỡng lễ Phật, nhớ về cội nguồn tổ tiên, cầu cho quốc thái dân an, quê hương hưng thịnh. Từ cổng tam quan đi vào, hồ Long Nhã vuông, rộng, án ngữ giữa sân chùa. Hồ vừa có cá chép vừa có rùa sinh sống, điểm trong làn nước trong xanh và thanh tịnh ấy là những khóm sen hồng, sen trắng vươn những chiếc lá non với nhiều bông hoa khoe sắc. Trụ vững giữa hồ là ngôi chùa Một Cột với mái ngói thâm nâu, vòm mái uốn cong đầu đao trông rất uy nghi, cổ kính. Trụ chùa Một Cột được đúc vĩnh cửu bằng xi măng cốt thép. Chiếc cầu dẫn vào chùa trông rất lạ mắt, hai bên là những chậu mai vàng và những hàng sứ trắng. Bên trong chùa thờ 

Đức Bồ Tát Quan Thế Âm, hương khói nghi ngút. Vòng ra đằng sau, chánh điện được bài trí trang nghiêm, gian giữa thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, các pho tượng Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp; Sau chánh điện là nhà lưu niệm và bảo tháp Nam Thiên. Trong nhà lưu niệm có lưu bút tích của hoà thượng Thích Trí Dũng. Khuôn viên chùa có nhiều pho tượng lớn lộ thiên như tượng Phật A Di đà, Phật Di Lặc, Bồ Tát Địa Tạng...Giữa chùa là một màu xanh của cây lá. Vào trong chùa, mọi ồn ào, tất bật của cuộc sống bên ngoài không còn nữa mà thay vào đó là sự thanh tịnh đến lạ lùng. 

Giữa sự đông đúc của phố thị, Nam Thiên Nhất Trụ đứng sừng sững  trong một khoảng không gian xanh, là một điểm nhấn ấn tượng trong lòng thành phố. Nơi đây là một trong những danh lam thắng cảnh để nhân dân miền Nam chiêm ngưỡng. Cùng với nhiều ngôi chùa khác ở thành phố Hồ Chí Minh, Nam Thiên Nhất Trụ là một trong những công trình kiến trúc đẹp, mang đậm nét độc đáo trong đời sống văn hoá tinh thần người Sài Gòn. 



CHÙA NGỌC PHƯƠNG



Tịnh xá tọa lạc tại số 498/1 đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Tịnh xá do Ni trưởng Huỳnh Liên khai sơn năm 1958, nguyên là trụ sở trung ương của hệ phái Ni giới Khất sĩ Việt Nam. Ni trưởng quê làng Phú Mỹ (Mỹ Tho), được Tổ sư Minh Đăng Quang truyền thọ giới pháp y bát Khất sĩ tại chùa Linh Bửu (Mỹ Tho) vào năm 1947, là Trưởng tử ni của ngài. Suốt 40 năm hành đạo, Ni trưởng đã thành lập được nhiều ngôi tịnh xá, thu nhận hàng ngàn ni chúng, diễn dịch bằng văn vần nhiều kinh tạng chữ Hán và chữ Pali..., đặc biệt Ni trưởng hoạt động tích cực trong công tác từ thiện xã hội, giúp đỡ nhiều nhà dưỡng lão, cô nhi, bệnh viện, trại cùi... Ni trưởng là Ủy viên trong Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (từ năm 1981 đến năm 1987). Ni trưởng viên tịch vào ngày 16-4-1987. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Tịnh xá được trùng tu năm 1970. Tịnh xá đã được Bộ Văn hoá công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA PHÁP HOA



Chùa tọa lạc tại số 229/24B đường Thích Quảng Đức, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Đạo Thanh, sanh quán tại Quảng Nam, khai sáng năm Mậu Thìn (1928). Ngài đã trùng tu chùa vào năm 1932. Do hạnh nguyên trồng rau, bốc thuốc cứu dân độ thế của ngài nên được người đời tới lui đông đảo. Ngài viên tịch năm 1962. 

Thượng tọa Như Niệm kế vị trụ trì đã trùng tu lần thứ hai vào năm 1965, xây tháp Đa Bảo cao 32m vào năm 1990 và đại trùng tu ngôi chánh điện vào 2 năm 1993-1994 với qui mô hiện đại. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm, chùa có nhiều pho tượng Phật, Bồ-tát cổ. 

Từ năm 1989, chùa đã mở phòng khám từ thiện Tuệ Tĩnh đường. Hiện nay, chùa đặt văn phòng Ban điều hành hệ thống Tuệ Tĩnh đường Phật giáo thành phố và văn phòng Ban đại diện Phật giáo quận Phú Nhuận.
CHÙA PHÁP HỘI



Chùa tọa lạc ở số 702/105 đường Điện Biên Phủ, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Đạt Bình, dòng Thiên Thai Giáo quán tông, tổ chức xây dựng vào năm 1945. Chùa được trùng tu năm 1960. Thượng tọa trụ trì Thích Tắc Huệ đã tổ chức trùng tu những năm gần đây. 
Chùa nguyên là Phật học đường của Giáo hội Tăng già Việt Nam (năm 1954) và văn phòng Ban đại diện Phật giáo quận 10. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm, ở đây tôn trí nhiều pho tượng điêu khắc gỗ nổi tiếng do nghệ nhân Nguyễn Đức Thống tạo tác vào những năm 1960, có thể xem là đỉnh cao của nghệ thuật tạc tượng gỗ ở thành phố, đó là: tượng đức Phật Di-đà, tượng Phật Thích-ca đản sanh, tượng Bồ-tát Quán Thế Âm, tượng Bồ-tát Đại Thế Chí, tượng Bồ-tát Địa Tạng, tượng Hộ Pháp và tượng Già Lam.

CHÙA PHÁP QUANG



Chùa tọa lạc ở số 71 đường Liên tỉnh số 5, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Thích Đạt Hảo sáng lập vào năm 1945. Ngài thuộc Phật giáo Bắc tông, dòng Thiên Thai Giáo quán tông, là thành viên của Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Chùa được Hòa thượng tổ chức đại trùng tu vào năm 1966, xây cất bằng vật liệu kiên cố. Trước sân có đài Quan Âm. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa thờ tượng đức Phật Thích-ca, bên phải (ngoài nhìn vào) thờ tượng đức Phật Dược Sư, bên trái thờ tượng Bồ-tát Quan Thế Âm. Từ năm 1991, Hòa thượng Đạt Hảo đã giao cho đệ tử là Ni sư Thích nữ Tắc Thinh trụ trì. Ni sư đã tổ chức trùng tu nhiều đợt. Đặc biệt chùa đã tổ chức nhà dưỡng lão, nuôi nấng 20 cụ bà không có thân thích từ năm 1992 đến nay. Chùa hiện đặt văn phòng Ban đại diện Phật giáo quận 8.

CHÙA PHẬT BẢO




Chùa tọa lạc ở số 57 đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa xây dựng vào năm 1965. Vị trụ trì đầu tiên là Hòa thượng Giới Nghiêm. Hòa thượng quê quán Thừa Thiên - Huế, xuất gia tại chùa Bãng Lãng, Huế vào năm 1930. Năm 1944, ngài tu học ở Campuchia, học đạo với Hòa thượng Chuon Nath, đức Vua Sãi Campuchia, và du học ở Thái Lan, Miến Điện. Hòa thượng đã được bầu làm Tăng Thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam từ năm 1964 đến năm 1971 và năm 1979. Từ năm 1981 đến lúc viên tịch (1984), ngài là thành viên Hội đồng Chứng minh và Phó chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tháp Phật Bảo được xây dựng ở sân chùa vào năm 1985, cao 11,55m, thờ xá-lợi Phật tầng trên cao, tầng giữa thờ xá-lợi các vị cao tăng của hệ phái và tầng dưới thờ hài cốt của Phật tử. Thượng tọa Thích Chánh Niệm trụ trì đã tổ chức trùng tu ngôi chùa nhiều lần những năm gần đây.

CHÙA PHẬT ĐÀ

Người có công kế vị và đẩy mạnh sinh hoạt tu học chùa Phật Đà hưng thịnh trong những năm cuối cùng của thế kỷ thứ 20 là TT Thích Minh Hiền, ủy viên Ban Hoằng pháp (HP) Trung Ương. Thầy về đây trụ trì vào đầu tháng 12.1980, cũng là dịp ngôi Tam bảo này trùng tu lần thứ hai dưới sự cố vấn của H.T Ngộ ChânTử, Viện chủ chùa Hoằng Pháp (Hóc Môn).
Giai đoạn 1980-1991, vì quyết tâm tu học cho sáng đạo nên Thầy Minh Hiền hạn chế tiếp xúc với mọi người để có thời gian chuyên tu nhiều hơn. Vào năm 1989, được sự tín nhiệm của Ban HP Thành hội và Ban HP TU - Thầy bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp Tổ sư Thiền tại trường hạ các quận huyện và các tỉnh : Tây Ninh, Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau. Từ đó đến nay công tác của thầy vẫn đều đặn, nhất là ở huyện Củ Chi, Đạo tràng chuyên tu Tổ sư Thiền luôn phát triển với nhiều tín hiệu lạc quan.

Năm 1998, được sự quan tâm giúp đở của các cấp Giáo hội, chính quyền địa phương, cùng tinh thần hoan hỷ phát tâm của Phật tử xa gần, vì thế lần đại trùng tu ngôi Tam bảo lần thứ 3 được thành tựu viên măn với kinh phí là 750 triệu đồng, diện tích 250m2 gồm chánh điện, Thiền đường và 4 căn phòng chư Tăng.  Hiện nay lịch sinh hoạt tu học Tổ sư Thiền hàng tháng được tổ chức từ ngày 21- 27 âl. Vào mỗi tối mùng 1, Thầy trụ trì có buổi thuyết giảng giáo lý để hướng dẫn Phật tử tu học.  Tóm lại, từ khi chùa Phật Đà thành lập vào nam 1962 do cụ Lê Đình Nguyên, Phật tử địa phương chủ trương vận động mọi người ủng hộ xây dựng. Đến năm 1963, TT Thích Thông Lỉễu trụ trì (hiện đang ở Nhật). Năm 1970, được sự cúng dường của cụ Trần Văn Thoại, chùa trùng tu lần thứ 2 với vật liệu nhẹ. Vào thời điểm đó, Thầy Tâm Tịnh trụ trì. Trải qua những biến thiên của cuộc sống, ngôi Tam bảo Phật Đà giờ đây đã uy nghi hoàn chỉnh với sự hộ trì của 13 vị Tăng. 

CHÙA PHẬT BỬU



Chùa tọa lạc ở số 80A đường Cao Thắng, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Hòa thượng Thích Minh Trực khai sáng vào năm 1948. Chùa là ngôi Tổ đình của phái Thiền Tịnh đạo tràng (Phật giáo Bắc tông). Chùa được trùng tu năm 1968. Chánh điện ở lầu 1 được bài trí tôn nghiêm. Chùa có pho tượng Phật bằng đá xanh cao 0,90m, ngang gối 0,46m. Trụ trì chùa từ năm 1976 đến nay là Thượng tọa Thích Tịnh Hạnh, đã tổ chức trùng tu chùa nhiều lần, xây tháp chuông cao 20m vào 2 năm 1994-1995; tầng trên treo quả đại hồng chung nặng 1 tấn, đúc tại Huế. Chùa hiện đặt văn phòng Ban đại diện Phật giáo quận 3.

CHÙA PHỔ ĐÀ



Chùa tọa lạc tại số 26/1 đường Trần Quí Cáp, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do ngài Từ Hạnh xây dựng vào năm 1965. Đến năm 1977, ngài về trụ trì chùa Quan Thế Âm (Phú Nhuận) và bàn giao chùa cho Ni sư Thích nữ Như Ngọc. Ni sư đã tổ chức trùng tu ngôi chùa, làm nơi tu học cho khoảng 40 vị ni. Chùa là điểm trường hạ ni của Phật giáo quận Bình Thạnh liên tục từ năm 1989 đến nay. Chùa hiện đặt văn phòng Ban đại diện Phật giáo quận Bình Thạnh

CHÙA PHỔ MINH



Chùa tọa lạc ở số 02 đường Thiên Hộ Dương, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được xây dựng từ năm 1934, là nơi trụ xứ của cố Hòa thượng Thích Bửu Chơn, đã trụ trì chùa từ năm 1960 đến năm 1979 thì viên tịch. 
Hòa thượng quê ở Đồng Tháp, thuở thiếu thời tu học ở Campuchia. Ngài là một học giả, thông thạo nhiều ngoại ngữ, là vị Giáo phẩm Việt Nam tham gia nhiều hoạt động Phật sự quốc tế. Năm 1960, ngài được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Phật giáo thế giới trong kỳ Đại hội lần thứ 5 tại Thái Lan; năm 1962, ngài đắc cử Tăng thống Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam. 

Ngài đã phiên dịch và trước tác khoảng 20 tác phẩm kinh sách. Bảo tháp Xá-lợi của ngài được xây ở sân chùa năm 1981, cao 12m. Thượng tọa trụ trì Thích Thiện Tâm đã tổ chức trùng tu chùa năm 1981. Chánh điện được bài trí đơn giản, tôn nghiêm.

CHÙA PHỒ QUANG



Chùa Phổ Quang tọa lạc ở số 64/3 đường Phổ Quang, phường 2, quận Tân Bình. Nằm gần cuối con đường nhỏ, gắn liền với những thăng trầm của lịch sử, đây là địa điểm thu hút nhiều du khách đến tham quan. Cảnh quan nơi đây rất đẹp và thanh tịnh.

Giữa nhịp sống náo nhiệt thường ngày của thành phố, chùa Phổ Quang tựa như một chốn bồng lai, đượm vẻ huyền diệu, đem lại không khí tịch liêu đến nhẹ lòng cho bất cứ ai ngay khi vừa đặt chân đến. 

Chùa Phổ Quang do hòa thượng Nguyễn Viết Tạo (pháp danh Thanh Cảnh) khởi công xây dựng từ năm 1952 với kiến trúc ban đầu còn khá đơn sơ. Theo lời kể của hòa thượng Thích Như Niệm - trụ trì chùa hiện nay, vào năm 1960 chùa được xây dựng lại với nhiều nét kiến trúc mới do kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Bản thiết kế. Năm 1999, chùa Phổ Quang được giao cho Thành hội Phật giáo TPHCM quản lý dưới sự trụ trì của hòa thượng Thích Như Niệm. Trải qua nhiều thăng trầm, chùa Phổ Quang vẫn giữ nguyên nét đẹp nên thơ ban đầu. Những mái ngói chùa cong cong dưới tia nắng chiều hòa cùng gió lộng tạo nên cảnh quan êm đềm, thoát tục. Khuôn viên chùa hiện nay rộng hơn sáu ngàn mét vuông với những hàng cây rợp bóng mát trước sân chùa, chánh điện.

Trước chùa là tam quan với lầu chuông mái ngói và Đại hồng chung nặng 1,2 tấn được đúc năm 1962. Bước qua cổng, du khách sẽ thấy hai dãy nhà Đông, Tây nằm yên bình tự bao đời. Lối vào chánh điện rợp xanh những hàng cây. Chánh điện được bài trí rất trang nghiêm, ở giữa là tượng Phật Di đà to lớn, uy nghi, cao gần 7m, đường kính rộng hơn năm mét do nhà điêu khắc Phúc Điền khắc họa; hai bên là bàn thờ mười bức Thập Điện bằng gỗ có từ năm 1950, mỗi bức cao 0,64m. Bao xung quanh bờ tường phía trong chánh điện còn có các bức tranh tường khổ lớn miêu tả những sự tích liên quan đến giáo lý nhà Phật. Chánh điện rộng, mát nhưng vẫn không kém phần uy nghi. Quần thể kiến trúc ở chùa Phổ Quang khá độc đáo với nét đặc trưng của các ngôi chùa cổ miền Bắc.

Một trong những đặc điểm khiến chùa Phổ Quang trở thành nơi được nhiều du khách yêu thích tìm đến chính là nét thanh bình, yên ả khó tìm thấy giữa lòng thành phố đông đúc người, xe. Cánh cổng chùa xưa cũ như đã đứng đó tự bao giờ, những mái ngói cong vênh, rợp trời cây lá xanh ngắt trong khuôn viên sân chùa. Đứng ở đây vào bất cứ thời điểm nào trong ngày cũng có thể nghe được tiếng chim kêu ríu rít, mọi âu lo phiền muộn cùng những bon chen tất bật gác bỏ lại bên ngoài. Nét đẹp ở chùa Phổ Quang hài hòa, gắn liền với cảnh vật xung quanh. Có lẽ vì thế mà hàng năm chùa Phổ Quang chào đón rất nhiều du khách tìm đến chiêm bái, vãn cảnh, thả mình vào không gian thoáng đãng. 
 
CHÙA PHỤNG SƠN



Chùa thường được gọi là chùa Gò, tọa lạc ở số 1408 đường 3 tháng 2, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Thiền sư Liễu Thông tạo lập vào đầu thế kỷ XIX. Đến năm 1904, Thiền sư Tuệ Minh cho xây cất lại. Nhiều tượng thờ ở chùa do nhóm thợ Sa Đéc tạo tác vào những năm đầu thế kỷ XX. 

Chùa được đại trùng tu vào năm 1960 và sửa chữa nhỏ những năm gần đây. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa có khoảng 40 pho tượng thờ. Có nhiều pho tượng quí như bộ Di-đà Tam Tôn, bộ Ngũ Hiền thượng kỳ thú, pho tượng Phật bằng đá, tượng Tiêu Diện... Khu đất của chùa là một di tích khảo cổ học. 

Tài liệu của Bảo tàng thành phố cho biết vào các năm 1988 và 1991, các nhà khảo cổ học đã tìm được những mặt người bằng đất nung, đồ gốm... thuộc văn hóa Ôởc Eo. Ơở đây cũng đã tìm thấy một tượng Phật bằng đồng theo phong cách Thái Lan. Chùa đã được Bộ Văn hoá công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.

CHÙA PHƯỚC HẢI



Chùa tọa lạc ở số 73 đường Mai Thị Lựu, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa có nhiều tên gọi: chùa Ngọc Hoàng, điện Ngọc Hoàng, chùa ĐaKao. Tên chùa Phước Hải được đổi vào năm 1982. Chùa do Lão sư Lưu Đạo Nguyên tạo dựng vào năm 1900. Đến nay, chùa đã trải qua 6 đời trụ trì, trụ trì hiện nay là Hòa thượng Thích Vĩnh Khương. Chánh điện thờ tượng Ngọc Hoàng ngự trên bệ cao, hầu hai bên có Nam Tào, Bắc Đẩu và các Thiên Thần. Tượng Ngọc Hoàng được làm bằng giấy bồi, bên ngoài sơn thếp vàng, kỹ thuật tinh xảo. Tiền điện và tầng lầu thờ chư Phật, Bồ-tát. Ngày lễ lớn hàng năm ở chùa là ngày vía Trời, tức vía Ngọc Hoàng Thượng Đế vào mồng 9 tháng giêng (âm lịch) và ngày vía Đất vào mồng 8 tháng giêng (âm lịch).

HÙA PHƯỚC HOÀ



Chùa tọa lạc ở số 491/14/5 đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa có từ lâu. Từ năm 1951 đến 1958, chùa là nơi đặt trụ sở của Hội Phật học Nam Việt. Nhân ngày đại hội của hội 24-2-1952, lá cờ Phật giáo đầu tiên ở miền Nam được treo tại chùa. Kiến trúc hiện nay được xây dựng vào năm 1958. Ni sư trụ trì Thích nữ Tịnh Bích đã tổ chức nhiều đợt trùng tu, xây dựng ngôi chùa khang trang, yên tĩnh ở khu đất nhỏ, đông dân cư. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm, chùa có 3 pho tượng bằng gỗ nổi tiếng: tượng đức Phật Thích-ca, nổi bật là tấm phù điêu sau tượng có dạng một lá bồ-đề lớn, cao 2,50m, mô tả cuộc đời đức Phật, cùng tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn và tượng Bồ-tát Địa Tạng, là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc của thế kỷ XX do nghệ nhân Nguyễn Đức Thống tạo tác từ năm 1960 đến năm 1962.

CHÙA PHƯỚC TƯỜNG



Chùa tọa lạc ở số 13/32 ấp Tăng Phú 1, xã Tăng Nhơn Phú, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Thiền sư Linh Quang - Phật Chiếu khai sáng vào năm 1741 ở gần chợ Tăng Nhơn Phú. Đến năm 1834, chùa được dời về địa điểm hiện nay. Hòa thượng Thích Bửu Ngọc đã trùng tu chùa nhiều lần những năm gần đây. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chùa có khoảng 40 pho tượng thờ. Tượng Hộ Pháp bằng gỗ thếp vàng được ngài Diệu Minh tạc vào giữa thế kỷ XIX. Bao lam tại điện Phật được chạm khắc tinh xảo. Tam quan chùa được xây năm 1989. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia

CHÙA QUÁN THẾ ÂM



Chùa tọa lạc ở số 90 đường Thích Quảng Đức, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Theo tư liệu của chùa cho biết, chùa do một sĩ quan Pháp cùng nhiều binh lính Pháp Việt kiến tạo vào năm 1920, từ một sự mầu nhiệm cứu nạn trên biển. Lúc bấy giờ người ta gọi chùa là chùa Bạch Lô hay Mạch Lô. 
Năm 1959, Hòa thượng Quảng Đức đến trụ trì ở chùa, ngài đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa những năm 1960-1961. Đến năm 1963, ngài đã vị pháp thiêu thân tại Saigon. Thượng tọa Thông Bửu tiếp nối trụ trì đến năm 1966, đã tổ chức đại trùng tu theo kiểu kiến trúc hiện đại bằng vật liệu kiên cố. 

Thượng tọa đang tiếp tục cho tôn tạo, mở rộng ngôi chùa từ năm 1993 đến nay. Năm 1993, khánh thành tháp "Lửa Từ Bi" cao 28m, năm 1994 an vị bảo tượng Bồ-tát Quan Thế Âm 11 mặt, bằng đá hồng hoa cương, cao 3,20m, nặng 5 tấn tại động An Lạc Sơn. Chùa đang xây cất lớn ngôi chánh điện. 

Chùa là ngôi thứ 31, nơi di tích cuối cùng của Bồ-tát Quảng Đức

CHÙA QUẢNG HƯƠNG GIÀ LAM



Tu viện tọa lạc tại số 498/11 đường Lê Quang Định, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Tu viện do Hòa thượng Thích Trí Thủ sáng lập vào năm 1960, là nơi tu học của các học tăng cấp đại học. 
Chùa ban đầu có tên là Giải Hạnh Già Lam, đến năm 1964 được đổi tên là Quảng Hương Già Lam. Quảng Hương là tên một học tăng đã vị pháp thiêu thân vào năm 1963 ở Saigon. 

Công chúng nay vẫn thường gọi là chùa Già Lam. Hòa thượng Trí Thủ sinh quán ở Quảng Trị, xuất gia thọ giáo với Thiền sư Viên Thành tại chùa Tra Am (Huế). Ngài là giảng sư danh tiếng của Phật giáo miền Trung và miền Nam và là người lãnh đạo Phật giáo Việt Nam trong nhiều năm, là người tiên phong trong việc vận động thống nhất Phật giáo cả nước. Qua đại hội thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, ngày 07-11-1981 tại Hà Nội, ngài được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương, nhiệm kỳ I. Ngài viên tịch ngày 2-4-1984. Chùa được trùng tu mở rộng liên tục. Chánh điện được trùng tu 1981, điện Phật được bài trí đơn giản, tôn nghiêm. Thượng tọa trụ trì Thích Đức Chơn hiện nay đang tiếp tục trùng tu ngôi chùa.

CHÙA QUANG MINH



Chùa tọa lạc ở số 65 đường Trần Hữu Trang, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được xây dựng vào năm 1951. Hòa thượng trụ trì Thích Tài Quan đã trùng tu nhiều lần. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng đẹp như tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn bằng gỗ (cao 3m, ngang gối 0,85m), được tạc vào năm 1976; tượng đức Phật Di-lặc cao 0,55m, được tạc vào năm 1989; đặc biệt là pho tượng cổ Bồ-tát Tứ Không Quyến bằng gỗ sơn son thếp vàng cao 0,43m.

Chùa tọa lạc ở số 65 đường Trần Hữu Trang, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được xây dựng vào năm 1951. Hòa thượng trụ trì Thích Tài Quan đã trùng tu nhiều lần. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng đẹp như tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn bằng gỗ (cao 3m, ngang gối 0,85m), được tạc vào năm 1976; tượng đức Phật Di-lặc cao 0,55m, được tạc vào năm 1989; đặc biệt là pho tượng cổ Bồ-tát Tứ Không Quyến bằng gỗ sơn son thếp vàng cao 0,43m.

CHÙA TẬP PHƯỚC



Chùa tọa lạc ở số 233 đường Phan Văn Trị, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Thiền sư Chánh Đắc, thuộc Thiền phái Lâm Tế dòng Chúc Thánh đời thứ 37 khai sơn vào đầu thế kỷ XIX và đã qua các đời trụ trì: Hòa thượng Phước Tường (đời 38), Hòa thượng Huệ Thành (đời 39), Hòa thượng Hoằng Trí (đời 40), Hòa Thượng Hoằng Giáo (đời 41) và Đại đức Thiện Duyên (đời 42) từ năm 1993 đến nay. 

Chùa đã được đại trùng tu vào các năm 1927, 1967 và 1993. Kiến trúc và bài trí ở điện Phật ngày nay là ở lần trùng tu sau cùng do ngài Hoằng Giáo tổ chức. 

Chùa được Vua Gia Long sắc tứ vào năm 1802. Chùa có nhiều pho tượng cổ có giá trị nghệ thuật cao. Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng ở đất Gia Định xưa nay.

CHÙA THẢO ĐƯỜNG



Chùa tọa lạc tại số 335/42 đường Hùng Vương, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh, trên khoảng đất rộng 900m nằm sát bờ rạch Ông Buông, mặt tiền hướng Đông, phía sau giáp với đất chùa Giác Hải. Chùa được Hoà thượng Thích Diệu Nguyên khai sơn vào năm 1958. Ngài sinh tại Trung Quốc, xuất gia từ nhỏ, thuộc Thiền phái Tào Động, là người có biệt tài về bút pháp. Ngài viên tịch năm 1977. Hòa thượng Thích Ngộ Chơn kế vị trụ trì đến năm 1988. Trụ trì hiện nay là Đại đức Thích Nhựt Tu, đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa vào năm 1991. Chùa được kiến trúc theo phong cách các chùa Trung Quốc, xây dựng bằng vật liệu nặng (bê tông cốt sắt). Chánh điện được bài trí trang nghiêm, ở giữa thờ tượng đức Thích-ca. Phía Đông là điện thờ Bồ-tát Địa Tạng, phía Tây là điện thờ Bồ-tát Quan Âm. Đặc biệt, ở trần điện Phật có những bích họa vẽ 500 vị La-hán với những tư thế khác nhau trong sinh hoạt và hành đạo, tạo thành một bức tranh hoành tráng, sinh động. Chùa thường xuyên đón tiếp nhiều Phật tử, du khách đến sinh hoạt, tham quan, chiêm bái.

CHÙA THIÊN PHƯỚC



Chùa tọa lạc ở ấp Trường Thọ, xã Phước Long, huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Thiền sư Tịnh Nhãn khai sơn vào thế kỷ XIX. Theo bài giới thiệu chùa đăng trên báo Giác Ngộ (số 52-1993) của tác giả Hiền Đức thì Thiền sư Tịnh Nhãn là đệ tử của Thiền sư Mật Hoằng ở chùa Đại Giác (Đồng Nai). Các vị trụ trì kế tục là Quảng Khai, Quảng Diễn, Trí Nghĩa, Huệ Cẩn, Thiện Chánh, Thiện Quới, Thiện Khánh, Thiện Ngọc và hiện nay là Thượng tọa Thiện Tấn. Chùa được Hòa thượng Huệ Cẩn tổ chức trùng tu vào đầu thế kỷ XX, Hòa thượng Thiện Ngọc trùng tu vào những năm 1970 và Thượng tọa Thiện Tấn trùng tu từ năm 1984 đến 1990. Chánh điện được trùng tu vào năm 1988, các tượng thờ được bài trí tôn nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng cổ

CHÙA THIÊN TÔN

Chùa tọa lạc ở số 117/9 đường An Bình, quận 5, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Hòa thượng Thích Minh Đức dựng vào năm 1954. Ngài quê ở Tiền Giang, học đạo ở chùa Long Định (Long Xuyên) và chùa Thiên Thai (Bà Rịa), là một giảng sư danh tiếng của Phật giáo Miền Nam. Năm 1956, ngài làm Thiền chủ Giáo hội Lục Hòa Tăng; năm 1969, ngài làm Viện trưởng Viện Hoằng đạo Giáo hội Phật giáo Cổ truyền, mở Phật học viện Minh Đức và tổ chức đại hội thành lập Tổng Đoàn Thanh niên Tăng Ni tại chùa. Chánh điện được bài trí tôn nghiêm, chùa có nhiều pho tượng đẹp, như tượng Bồ-tát Địa Tạng cao 1,4m, tượng Quan Âm Ngư Lam cao 1,35m... Đại đức trụ trì Thích Lệ Tập đã tổ chức trùng tu chùa những năm gần đây.

CHÙA TRUNG TÂM (TỊNH XÁ)



Tịnh xá tọa lạc ở số 7 đường Nguyễn Trung Trực, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Tịnh xá được xây dựng vào năm 1965. Thượng tọa Thích Giác Toàn và Thượng tọa Thích Giác Phúc đã tổ chức trùng tu, mở rộng vào năm 1980 trong một khuôn viên rộng 5490m Ngôi chánh điện xây Pháp tháp bát giác, bên trong tôn trí tượng đức Phật Thích-ca. Chung quanh bức tường có 8 bức phù điêu (mỗi bức cao 2,20m, dài 4,50m) giới thiệu cuộc đời đức Phật Thích-ca, do các điêu khắc gia Minh Dung và Hai Long thực hiện. Sân trước chùa có bảo tượng Bồ-tát Quan Thế Âm cao 9m, đứng trên đài sen cao 3m. 
 

Tịnh xá thuộc hệ phái Tăng già Khất sĩ do Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập. Theo sách Tiểu sử Danh tăng Việt Nam thế kỷ XX (thành phố HCM, 1996), ngài người làng Phú Hậu (Vĩnh Long), sau nhiều năm nghiên cứu kinh tạng và đường lối y bát chơn truyền của đức Phật, năm 1944, ngài đã ngộ chứng được lối đạo dung hòa kết hợp truyền thống cao đẹp của hai hệ phái Bắc tông và Nam tông để lập nên phái Khất sĩ mang riêng bản sắc Việt Nam. 

Tịnh xá nguyên là trụ sở trung ương của Giáo hội Tăng già Khất sĩ (từ năm 1966 đến năm 1980). Tịnh xá là nơi đón tiếp đông đảo chư tăng ni, Phật tử, du khách đến tham quan, chiêm bái, sinh hoạt thường xuyên.


CHÙA TỪ ÂN (QUẬN 11)



Chùa tọa lạc ở số 28-30 đường Hùng Vương, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được dựng vào năm 1957. Hòa thượng Hoằng Tu đã cho trùng tu, mở rộng ngôi chùa vào năm 1967 và đại trùng tu năm 1992. 
Chùa xây hiện đại, kiên cố, mang nét kiến trúc chùa Hoa. Điện Phật ở các tầng lầu đều được bài trí tôn nghiêm. Ở tầng trệt, có pho tượng đức Phật Di-lặc bằng ciment cao 1,30m; ở tầng ba, có bộ tượng Thập bát La-hán được đắp nổi bằng ciment vào năm 1992. 

Đây là ngôi chùa Phật giáo Hoa tông, thuộc dòng Tào Động. Chùa thường xuyên tiếp đón nhiều Phật tử, du khách đến tham quan, chiêm bái.


CHÙA TỪ ÂN (QUẬN 6)



Chùa tọa lạc ở số 23 đường Tân Hóa, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Thiền sư Phật Yý khai sơn vào năm 1752, lúc bấy giờ ở khu chợ Đũi. 

Nhiều tư liệu hiện nay cho biết trong thời gian tránh quân Tây Sơn, Nguyễn Vương đã ở lại chùa, còn Hậu phi ở chùa Khải Tường (Chính ở đây năm 1791, Hoàng tử Đởm - tức Vua Minh Mạng - ra đời. Về sau, Vua Minh Mạng cho trùng tu chùa, ban tấm biển "Quốc Ân Khải Tường Tự" và gửi cúng chùa một pho tượng Phật bằng gỗ thếp vàng. Khi chùa Khải Tường bị hỏng, pho tượng được đem về tôn trí tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh). 

Chùa Từ Ân đã được dời về đường Tân Hóa, bên rạch ông Buông vào khoảng cuối thế kỷ XIX. Chùa còn giữ nhiều di vật cổ, như hai bức hoành phi: "Sắc tứ Từ Ân Tự", "Quốc Ân Khải Tường Tự", các câu đối v.v...


CHÙA TỪ NGHIÊM



Chùa tọa lạc ở số 415-417 đường Bà Hạt , quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa trước năm 1950 còn nhỏ, do Thượng tọa Đạt Từ trụ trì. Đến năm 1955, Thượng tọa nhường ngôi chùa cho Ni giới. 
 

Năm 1956, Giáo hội Tăng già Nam Việt đã tổ chức đại hội thành lập "Ni bộ Nam Việt", đặt trụ sở tại chùa. Kiến trúc chùa hiện nay được xây vào năm 1959, khánh thành năm 1962. Chánh điện được bài trí trang nghiêm. Ở trước cửa điện Phật, năm 1963, Phật tử Nhất Chi Mai đã vị pháp thiêu thân, cầu nguyện hòa bình. Từ năm 1956, Ni bộ phát triển hoạt động do một Hội đồng quản trị lãnh đạo, đứng đầu là Ni trưởng Thích nữ Như Thanh. 

Đến năm 1963, Ni bộ mở rộng phạm vi, đổi tên là "Ni bộ Bắc tông vụ", đã mở đều đặn Đại giới đàn Kiều Đàm tại chùa vào những năm 1961, 1968, 1972, 1975, 1977 và 1981 cho ni giới toàn quốc về thọ giới. Năm 1972, chùa được chọn làm cơ sở giáo dục để đào tạo Ni tài, là một trong hai Phật học ni viện nổi tiếng ở miền Nam (chùa Từ Nghiêm và chùa Dược Sư). 

Sau năm 1975, chùa do Sư bà Thích nữ Như Hoa trụ trì, đã tổ chức nhiều lần trùng tu. Ngày nay, chùa thường xuyên đón tiếp nhiều Phật tử, du khách đến sinh hoạt, tham quan, chiêm bái.

CHÙA VẠN ĐỨC



Chùa tọa lạc ở số 446/16 đường Lê Quang Định, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Theo tư liệu ở chùa, chùa được khai sơn từ thế kỷ XVIII, là một trong những ngôi chùa cổ ở đất Gia Định, trước đây ở Gò Vấp, được dời về địa điểm hiện nay vào khoảng năm 1945. Ngôi chánh điện không lớn nhưng ở đây còn nhiều pho tượng cổ có giá trị nghệ thuật như: bộ tượng Tam Thế Phật, bộ phù điêu tượng Ngũ Hiền, bộ tượng Thập Điện Minh Vương.... 

THIỀN VIỆN VẠN HẠNH

Thiền viện tọa lạc tại số 716 đường Nguyễn Kiệm trên một diện tích rộng khoảng 1 ha, bao gồm ngôi chánh điện, nhà tổ, các dãy nhà làm trụ sở trường Cao cấp Phật học Việt Nam, văn phòng Viện nghiên cứu Phật học, văn phòng Hội đồng phiên dịch đại Tạng kinh Việt Nam, dãy nhà tăng, trai đường, ngày nay thiền viện còn đang xây dựng thêm dãy nhà cao rộng làm những phòng học cho các Tăng Ni. 

Trước năm 1975, nơi đây là Phân khoa Khoa học ứng dụng thuộc Viện đại học Vạn Hạnh do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Viện trưởng. Năm 1976, Hòa thượng đã tạp lập thiền viện này làm nơi tu trì và nghiên cứu Phật học. 

Cổng thiền viện được xây dựng vào năm 1990, theo kiến trúc cổ Phật giáo ở Huế do đại đức Tâm Ðoan và đại đức Tịnh Quang đảm trách. Ngôi chánh điện gồm hai tầng. Tầng trệt, gian giữa thờ tượng đức Phật Thích Ca màu trắng ngà ngồi trên tòa sen, vẻ mặt đầy bao dung. Nơi đây bài trí đơn sơ nhưng rất nghiêm cẩn. Hai bên là phòng đọc sách của thư viện với nhiều sách quý. Tầng lầu là phòng khách và phòng làm việc của Hòa thượng Viện chủ. 

Ngôi nhà Tổ cũng có hai tầng. Tầng lầu thờ Phật và thờ Tổ, trên bàn thờ Tổ có chân dung đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất trước đây. Tầng trệt là giảng đường, nơi thường tổ chức các buổi giảng kinh, thuyết pháp, nói chuyện chuyên đề, biểu diễn văn nghệ. Thiền viện Vạn Hạnh giữ một vị trí rất quan trọng trong việc nghiên cứu và hoằng dương Phật pháp. Ðây là nơi làm việc của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam do Hòa thượng Thích Minh Châu, Tiến sĩ Triết học và Phật học làm Viện trưởng. Cơ cấu của Viện gồm có: Ban Phật giáo Việt Nam, Ban Phật giáo quốc giáo chuyên môn, Ban in ấn và xuất bản. Ngoài ra còn đặt văn phòng. Hội đồng phiên dịch đại Tạng kinh Việt Nam do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Chủ tịch. Trong bốn năm qua, Viện đã xuất bản nhiều bộ kinh trong Tam Tạng kinh điển như: Kinh Trường Bộ (2 tập), Kinh Trung Bộ (3 tập), Kinh Tương Ưng Bộ (5 tập)... Ðược Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ nguyên bản Pali ra tiếng Việt; Kinh Trường A Hàm (2 tập), Trung A Hàm (2 tập), Tạp A Hàm (3 tập)... Ðược Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu... Dịch từ bản Hán tạng ra tiếng Việt. Ðây là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng như trong đời sống văn hóa dân tộc. 

Thiền viện Vạn Hạnh còn là trung tâm đào tạo Tăng tài cho các tỉnh phía Nam. Nơi đây đặt trường Cao Cấp Phật học Việt Nam. Trường đào tạo theo phương thức tập trung thông qua một kỳ thi tuyển, mỗi khóa học kéo dài 4 năm, với văn bằng tương đương trình độ đại học.Từ năm 1984 đến nay, trường đã mở được 3 khóa, đào tạo hơn 400 Tăng Ni Sinh. Chương trình giảng dạy gồm phần nội điển do chư tôn túc giảng sư của Giáo hội phụ trách và phần ngoại điển do các giáo sư, giảng viên các trường đại học đảm nhiệm. Thiền viện Vạn Hạnh thường xuyên được vinh dự đón tiếp các đoàn đại biểu các Giáo hộiphật giáo trên thế giới và nhiều đoàn khách quốc tế đến làm việc, thăm viếng; cùng đông đảo du khách, Phật tử đến lễ bái, sinh hoạt, nhất là vào các ngày lễ Phật đản, Vu lan... (Những ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam)

Giới thiệu vài nét về Thiền viện Vạn Hạnh 
và công đức của Hòa thượng Thích Minh Châu


Nằm giữa lòng thành phố Hồ Chí Minh, khách thập phương thường viếng thăm các danh lam thắng cảnh Phật giáo, không thể không ghé lại thăm Thiền viện Vạn Hạnh. Vậy Thiền viện Vạn Hạnh có gì đặc biệt mà du khách phải viếng thăm ? Có lẽ không cần nhắc thì Phật tử ai cũng biết, ngôi chùa này hiện có một vị Cao tăng năm nay đã 87 tuổi, suốt đời tận tụy hy sinh vì đạo pháp. Đó là Hòa thượng Thích Minh Châu, đỗ Tiến sĩ Phật học ở Ấn Độ thập niên 60, nguyên là Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục, Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, Giáo sư Đại học Văn Khoa Sài gòn từ trước 1975. Sau 1975, Hòa thượng đã về cơ sở II của Viện Đại học Vạn Hạnh lập nên Phật học viện Vạn Hạnh, tọa lạc tại số 716 đường Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh. Cơ sở II này trước đây là Phân khoa Khoa học Ứng dụng và Kiến trúc thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh, Sài gòn, do Hòa thượng làm Viện trưởng.

Năm 1976, Hòa thượng đã về ở hẳn cơ sở II và xây dựng nơi đây thành Phật học viện để tiếp tục làm nơi tu học cho Tăng Ni Phật tử. Chính nơi đây đã ghi dấu ấn sâu đậm trong cuộc đời hoằng hóa của Hòa thượng. Vừa tiếp tục phiên dịch Kinh tạng Pàli ra tiếng Việt các bộ Trường bộ kinh, Trung bộ kinh, Tăng Chi bộ kinh, Tương Ưng bộ kinh và Tiểu bộ kinh, Hòa thượng lại vừa giảng dạy mỗi buổi chiều các lớp dạy kinh bằng tiếng Pàli, Anh văn Phật pháp, kinh Trung bộ và Tăng chi …  Hòa thượng là người đầu tiên sau giải phóng đề nghị lịch giảng kinh hằng tuần vào sáng chủ nhật ở Ấn Quang, Xá Lợi, Vạn Hạnh và nay đã đi vào nề nếp. Năm 1980, Ban Vận động Thống nhất ra đời, Hòa thượng đảm trách chức vụ Tổng Thư ký cho đến khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981, Hòa thượng được Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn Quốc cử giữ chức Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự. Từ năm 1996, Hòa thượng được tôn cử chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự.

Cũng từ những năm sau đó, Hòa thượng đã đề nghị Giáo hội xin phép mở Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, là tiền thân của Học viện Phật giáo Việt Nam hiện nay, và sau đó xin thành lập Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Cả hai cơ quan đều đặt tại cơ sở Thiền viện Vạn Hạnh. Năm 1984 cho đến nay, Học viện Phật giáo Việt Nam đã đào tạo được 5 khóa với hơn 1.000 sinh viên Tăng Ni trẻ Cử nhân Phật học ra trường, trong đó khoảng 200 vị đã hoặc sắp tốt nghiệp Tiến sĩ tại các Đại học ở nước ngoài, là hạt nhân phục vụ Giáo hội trong tương lai.

Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam do Hòa thượng làm Viện trưởng và Chủ tịch Hội đồng phiên dịch Đại tạng kinh Việt Nam. Cho đến nay Viện đã in được 36 tập Đại tạng kinh bằng tiếng Việt và có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị được công bố. Ngoài ra Viện Nghiên cứu cũng đã có một Thư viện Phật học lớn nhất nước với hàng ngàn đầu sách đủ các thứ tiếng để phục vụ cho giới nghiên cứu Phật học trong và ngoài nước.

Năm 1980, Hòa thượng cho đổi tên Viện Phật học Vạn Hạnh thành Thiền viện Vạn Hạnh. Năm 1990, Ngài cho tôn tạo cổng Tam quan cho phù hợp với phong cách Thiền môn như chúng ta đang thấy hiện nay.

Ngày 30-05-2001, Hòa thượng đã có lời cáo bạch đại trùng tu ngôi Chánh điện Thiền viện. Lễ đặt đá đại trùng tu được tổ chức ngày 04.12.2001. Ngôi bảo điện được xây dựng từ năm 2002, phần cơ bản do kiến trúc sư Phan Trường Sơn thiết kế và Kỹ sư Trần Văn Lưu, Ích Phi Cương kết cấu, Công ty Hòa Bình thi công phần móng, nghệ nhân Lê Duy thực hiện phần trang trí kiến trúc trong và ngoài ngôi bảo điện theo lối chùa cổ ở Huế. Ngôi bảo điện sẽ được khánh thành ngày 24.10.2004 (nhằm ngày 11.09.Giáp Thân). 

Các pho tượng Tam thế Phật, tượng đức Bổn sư Thích Ca được tôn trí trang nghiêm bên trong Chánh điện. Nhiều câu đối và hoành phi được treo trong Chánh điện gồm :

*. Hoành Chánh điện : Ở giữa có bốn chữ “Pháp Vương Bảo Điện” do Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự kính tặng, hai bên là hai bức hoành với nội dung “Tam giới đạo sư” và “Tứ sanh từ phụ” do Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Tp.HCM và Ban Trị sự Tỉnh hội Thừa Thiên kính tặng. 

*. Hoành Tiền đường : Ở giữa “Duy tuệ thị nghiệp” do Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp.HCM kính tặng. Bên phải là “Tri khổ đoạn tập” do Tổ đình Thuyền Tôn ở Huế kính tặng; bên trái là bốn chữ “Tu đạo chứng diệt” do Tổ đình Báo Quốc ở Huế kính tặng.

*. Hoành trước Hành lang : Ở giữa là bức “Vạn Hạnh Thiền viện” do Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Huế kính tặng; bên phải là bức “Phật Quang Phổ chiếu” do chùa Linh Sơn Tp. Đà Lạt kính tặng; bên trái là bức “Pháp lực hoằng thi” do Phật đường Khuông Việt Paris, Pháp quốc kính tặng.

*. Về câu đối trong ngôi bảo điện : 

1.-  Đâu suất giáng thần, vương cung hiện thụy xuất gia tầm đạo, phi sắc phi không, thể dụng viên dung hoằng đại nguyện (Giáng trần từ Đâu suất, cung điện hiện điềm lành, xuất gia tìm đạo, chẳng sắc chẳng không, thể dụng trọn đầy khai nguyện lớn) ;
Ta bà ứng thế, Vạn Hạnh tề sung, Chánh giác chuyển luân, bất sanh bất diệt, từ bi lợi thế độ hàm linh (Ứng thế tại Ta bà, vạn hạnh thì đầy đủ, Chánh giác chuyển luân, không sanh không diệt, từ bi cứu tế độ hàm linh).

2.- Vạn đức câu viên, ly tứ cú, tuyệt bách phi, ứng hóa nãi duyên, Tường Vân tùy xứ hiện ( Vạn đức vẹn toàn, rời bốn cú , dứt trăm phi, ứng hóa theo duyên, mây lành bày khắp chốn) ;
Hạnh siêu thật tế, chứng tam minh, cụ ngũ nhãn, trí bi song vận, thoại vũ ứng thời thi (Tu hành vượt thế, chứng ba minh, đầy năm mắt, trí bi đều dụng, mưa thiện tưới mọi thời).

3.- Phật nhật trường minh, cực mục lệ thiên, quảng chiếu thập phương, thế giới cộng mộc, ân quang tịnh sơn hà vĩnh tại (Phật nhật chiếu khắp trời cao, mười phương thế giới cùng tắm gội ân quang, tồn tại với núi sông) ; Pháp vân phổ phú, bàng đà mãn địa, thanh lương vạn loại, thương sanh hành triêm, đức trạch dự xã tắc cửu tồn (Pháp vân che đầy đất rộng, vạn loại hàm linh chung thấm nhuần đức trạch, vững bền cùng đất nước).

4.- Chánh pháp thừa đương, kinh phiên bối diệp Tăng Hội Giác Hoàng nhất đoạn kế thống, thọ y truyền thánh ngữ (Đảm đương Chánh pháp, dịch kinh lá bối, theo bước Tăng hội Giác Hoàng nhận y truyền lời thánh) ; Diệu âm phổ xướng, cơ khế tuyết đình, Pháp Vân Yên Tử, kỷ độ liên đăng phú bát ấn thiền tâm (Phổ biến diệu âm, khế hợp tuyết đình, nối đèn Pháp Vân Yên Tử truyền bát ấn tâm thiền).

5.- Dung Tam tế dĩ phò dân, cửu trầm chửng nịch, vạn đại thùy quang danh bất hủ (Hợp dung tam tế để phò dân, cứu vớt khởi trầm luân, danh kia vạn kiếp luôn rực ánh từ quang) ;

Trấn vương kỳ nhi hộ quốc, điện điên an bái thiên thu lưu diệu đức vĩnh minh (Trấn giữ đất vua mà giúp nước, dựng xây thành an ổn, bia ấy ngàn thu mãi ghi vầng diệu đức).
Phía sau điện Phật là hậu Tổ với bức bức hoành phi mang dòng chữ “Vô Tận Đăng” do Môn phái Tổ đình Tường Vân Huế kính tặng và đôi câu đối : Niêm hoa lĩnh chỉ, tổ đạo cửu anh hoài, nam địa vân du Duy tuệ thị nghiệp (Nhận lãnh niêm hoa, giữ gìn tổ đạo, vân du về Nam địa, chỉ xem tuệ là nghiệp); Bát thảo tham huyền, tông phong trường định, chấn Sài thành trác tích quyết đạo nãi trân (Tham cứu huyền môn, hưng chấn tông phong, dựng gậy tại Sài thành, riêng trọng đạo đứng đầu). Trên bàn thờ Tổ được trang trí bức Khám và trong Khám được tôn trí bức Hỏa châu với 3 dòng chữ tưởng niệm : Nam mô Tây Thiên Trúc quốc du hóa khai sơn hoằng truyền Chánh pháp lịch đại Tổ sư. Nam mô Đông Độ du hóa trác tích khai sơn truyền thừa Chánh pháp lịch đại Tổ sư. Nam mô Việt Nam du hóa trác tích khai sơn truyền thừa Chánh pháp lịch đại Tổ sư;  trước bức Hỏa châu là Long vị và Di ảnh cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, nguyên Đệ nhất Tăng thống G.H.P.G.V.N.T.N.

Giảng đường phía sau được xây 2 tầng dùng để giảng pháp hằng tuần và tổ chức văn nghệ trong các kỳ lễ Vu Lan, Phật đản và Tết cổ truyền. 

Thiền viện Vạn Hạnh hiện giữ một vị trí quan trọng trong việc nghiên cứu và hoằng dương Phật pháp của Phật giáo Việt Nam. Tất cả 3 cơ quan Thiền viện Vạn Hạnh, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp.Hồ Chí Minh, đều do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Viện chủ và Viện trưởng. Hòa thượng là một vị Cao tăng Thạc đức đương nhiệm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN, Viện trưởng Viện Nghiên cứu PHVN, Viện trưởng Học viện PGVN tại Tp.HCM, Trú trì Tổ đình Tường Vân Huế và Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh thành phố Hồ Chí Minh.

Thiền viện thường xuyên đón tiếp nhiều đoàn Đại biểu Phật giáo quốc tế, nhiều nhân vật quan trọng trong và ngoài nước đến làm việc và đông đảo Phật tử và du khách đến lễ bái, sinh hoạt.

Nhân lễ Khánh thành Đại trùng tu ngôi bảo điện sắp được tổ chức ngày 24-10-2004 tại Thiền viện Vạn Hạnh, Chúng tôi xin giới thiệu vài nét sơ lược về công đức của Hòa thượng và ngôi Thiền viện Vạn Hạnh với các Phật tử xa gần như là một lời tôn vinh Hòa thượng Viện chủ và ca ngợi ngôi Thiền tự Vạn Hạnh trang nghiêm, biểu tượng của một nếp sống đạo hạnh, một cơ sở huy hoàng của Phật giáo trong lòng dân tộc.  

CHÙA VẠN PHƯỚC



Chùa Vạn Phước tọa lạc tại số 55 đường Sư Tuệ Tĩnh, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa nguyên có tên là chùa Tuệ Quang do ông bà Đoàn Văn Hưởn làm chủ, đã hiến cúng cho ngài Giác Hạnh, viện chủ chùa Vạn Phước Di-đà ở Huế vào năm 1966. 
Năm 1967, ngài Giác Hạnh cử ngài Tâm Hướng vào trụ trì chùa Tuệ Quang và năm sau, đổi tên thành chùa Vạn Đức. 

Năm 1970, ngài Tâm Hướng tổ chức đại trùng tu chùa và đổi tên thành chùa Vạn Phước (chi nhánh của Tổ đình Vạn Phước- Huế).

Đến năm 1993, Thượng tọa Phước Trí đảm nhận trụ trì đã tổ chức trùng tu, xây tam quan, lầu chuông trống, linh đường và thiền đường. Điện Phật được bài trí trang nghiêm. Chùa có nhiều pho tượng cổ bằng gỗ phủ sơn. Chùa thường xuyên tiếp đón nhiều Phật tử, du khách đến sinh hoạt, tham quan, chiêm bái. Chùa là cơ sở hoạt động xã hội và y tế nổi tiếng của Phật giáo thành phố.

VIỆT NAM QUỐC TỰ

Chùa tọa lạc ở 16B đường 3 tháng 2, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa do Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất xây dựng vào năm 1963. Ngôi chùa hiện nay do Hòa thượng Thích Từ Nhơn (Phó Trưởng ban Tăng sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam) trụ trì, đang tổ chức đại trùng tu ngôi chùa và bảo tháp. Công việc tôn tạo đang được Hòa thượng tiến hành từng bước, trước hết là tôn trí các tượng Phật, Bồ-tát ở điện Phật, ở các tầng tháp và ở sân chùa. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Hàng ngày, chùa đón tiếp đông đảo Phật tử,du khách trong nước, nước ngoài đến tham quan, chiêm bái.

CHÙA VĨNH NGHIÊM



Chùa tọa lạc ở số 339 đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được xây dựng từ năm 1964 đến năm 1971, theo bản vẽ của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. Tháp Quan Âm được xây bên trái chùa, có 7 tầng mái, cao 35m; tháp Xá Lợi cộng đồng xây phía sau, bên phải, có 4 tầng, cao 25m, dựng năm 1982. Bái điện là một tòa vũ nguy nga dài 35m, rộng 22m. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm, chính giữa thờ đức Phật Thích-ca, hai bên thờ Bồ-tát Văn-thù và Bồ-tát Phổ Hiền. Ở đây có những công trình chạm gỗ như: bao lam tứ linh, bao lam cửu long, phù điêu trên các hương án (chạm những ngôi chùa nổi tiếng trong nước và các nước Châu Á) được các nghệ nhân Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Văn Du, Bá Nhâm... thực hiện vào những năm 1960. 
Hòa thượng Thích Thanh Kiểm là vị trụ trì ngôi chùa từ khi thành lập đến nay. Chùa hiện đặt Trường cơ bản Phật học thành phố Hồ Chí Minh. Chùa là ngôi danh lam bậc nhất ở thành phố hiện nay. Hàng ngày, chùa đã đón tiếp nhiều Phật tử, du khách trong nước, nước ngoài đến tham quan, chiêm bái.

Giá trị truyền thống và phong cách thời đại ở chùa Vĩnh Nghiêm

Nghiêm. Ngôi chùa này có sức cuốn hút bởi không chỉ là nơi linh thiêng để bà con sinh hoạt tôn giáo mà còn là ngôi chùa đầu tiên ở Việt Nam có kiến trúc độc đáo dựa trên việc sử dụng các chất liệu xây dựng hiện đại. 

Ấn tượng dễ nhận thấy ngay khi đặt chân đến chùa Vĩnh Nghiêm vẫn là nét kiến trúc xưa. Hàng mái ngói đao thẳng cong hai tầng ngay ngưỡng cổng tam quan, mái chùa với những lối đi nối qua khoảng sân đưa du khách trở về gần hơn với  toà nhà chính của chùa. Màu sắc thể hiện trong thiết kế chùa theo đúng đặc điểm của kiến trúc truyền thống. Nhưng sự cách tân mang tính đột phá ở chùa Vĩnh Nghiêm chính là việc sử dụng vật liệu mới để xây dựng. Nguyễn Bá Lăng đã chọn cho mình một phương thức xây dựng chưa từng được thể nghiệm trong lịch sử kiến trúc, đó là dùng toàn bộ bê tông, cốt thép để xây dựng, thiết lập trong một kết cấu hoàn toàn mới mẻ.
 
Năm 1954, hai hoà thượng Thích Tâm Giác và Thích Thanh Kiểm từ Bắc vào Nam truyền bá Phật giáo. Nguyên mẫu của chùa Vĩnh Nghiêm được lấy từ một ngôi chùa gỗ cùng tên ở tỉnh Bắc Giang. Vào thời điểm đó, việc thiết kế các công trình kiến trúc mang bản sắc dân tộc chưa có bước đột phá. Kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng đã táo bạo đến mức liều lĩnh khi là người đầu tiên sử dụng vật liệu mới để xây dựng chùa trên quan điểm là giữ nguyên những giá trị kiến trúc truyền thống mang tính đặc trưng của ngôi chùa Việt Nam. 

Tất cả chi tiết trong kiến trúc của chùa đều hiện nên trên vẻ bề thế vững chãi của vật liệu xây dựng hiện đại. Từ cột, kèo hay đến những chi tiết nhỏ nhất đều tôn nên sự uy nghi, rộng lớn. Khách thập phương khi đến chùa sẽ không thấy một không gian được bày đặt dàn trải nhưng cũng không vì thế mà làm mất đi vẻ tôn nghiêm nơi cửa Phật. Theo như kiến trúc sư Khương Văn Mười đánh giá: " Đi tìm một bản sắc không phải là đơn giản, đây là sự cố gắng rất lớn của Nguyễn Bá Lăng..." 

Điều ngạc nhiên nữa là trong chùa Vĩnh Nghiêm chỉ thờ ba bức tượng Phật: Thích ca mâu ni, Văn Thù Bồ tát, Bồ tát Đại hạnh Phổ hiền. Những bức tượng này tương đối cao lớn, đường bệ. Đó là cách thể hiện tương hợp thống nhất của một không gian chùa cao rộng với số lượng tượng thờ ít ỏi. Cách thiết lập không gian của chùa cũng cho thấy phần nào nhu cầu tín ngưỡng và quan niệm sống của người dân nơi đây.

Kể từ khi xây dựng đến nay đã được bốn mươi năm, thời gian không nhiều nhưng đã khẳng định chất lượng của công trình. Phong cách về kiến trúc và sử dụng chất liệu mới của Nguyễn Bá Lăng qua việc xây dựng chùa Vĩnh Nghiêm đã đặt nền móng cho một quan niệm mới: giá trị truyền thống không nằm trong sự lặp lại mà cách tân đột biến đầy sáng tạo. Mặc dù được làm hoàn toàn từ đá rửa, bê tông và cốt thép, thoát khỏi nguyên tắc xây dựng  truyền thống, nhưng chùa Vĩnh Nghiêm vẫn giữ nguyên giá trị văn hoá cổ xưa. Điều đó khẳng định sự thành công của việc ứng dụng kiến trúc mới. Hiện tại,Vĩnh Nghiêm là ngôi chùa tiêu biểu về kiến trúc và nghệ thuật ở TP HCM. Chính quan niệm và giá trị thời đại mới có thể đặt dấu ấn vĩnh hằng về một công trình mang giá trị văn hoá lịch sử.

THÁP ĐÁ CHÙA VĨNH NGHIÊM 
Tháp đá cao nhất Việt Nam


Tháp Vĩnh Nghiêm nằm trong khuôn viên tổ đình Vĩnh Nghiêm trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Thành phố Hồ Chí Minh có chiều cao 14m, được coi là ngôi tháp đá cao nhất Việt Nam.

Tháp Vĩnh Nghiêm cũng là ngôi tháp xây bằng đá đầu tiên khu vực Nam Bộ được khởi công từ tháng 4/2001 và khánh thành ngày 27/12/2003 để tôn thờ nhục thân cố Đại lão Hoà thượng Thích Thanh Kiểm, vị thầy đã xây dựng nên tổ đình Vĩnh Nghiêm (viên tịch cuối năm 2000).

Toàn bộ tháp, từ lan can, nền, các câu đối và thân tháp đều được làm từ đá xanh. Tháp có tiết diện hình vuông, mỗi cạnh 5x5m; nằm giữa dãy lan can cũng bằng đá vuông mỗi chiều 9,5m; đặt trên một bệ tháp bát giác. Năm bậc cấp từ hai cột chính bằng đá bước lên tòa tháp tượng trưng cho “ngũ căn, ngũ lực” của nhà Phật. Trên thân tháp có một cặp rồng lớn, 27 cặp rồng nhỏ và những cánh phượng uốn mình rất hoành tráng.

Toàn bộ tháp còn được chạm khắc công phu, tỉ mỉ với những hoa văn đời nhà Trần và nhiều đền chùa cổ phía Bắc như những hình cánh sen, hoa sen, thủy ba (sóng nước), lá đề, dơi, câu đối, câu chú lớn trên sáu tầng tháp.

Để hoàn thành được tháp này, Đại đức Thích Thanh Phong đã cùng nhiều vị tăng khác là thầy Thích Trường Xuân (chùa Đỏ - Hải Phòng), Thích Chiếu Tạng (chùa Trung Hậu - Vĩnh Phúc), Thích Minh Hiền (chùa Hương - Hà Tây) lặn lội đến từng ngôi chùa cổ khắp miền Bắc, xem từng bản vẽ, từng mẫu hoa văn để tìm ra mẫu phù hợp nhất. 

Đặc biệt, những người thợ làm tháp hầu hết còn rất trẻ đến từ ba làng đá (Thượng, Hệ, Xuân Vũ) của xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư (Ninh Bình). Họ là hậu duệ của những người đã tham gia xây dựng nhà thờ đá Phát Diệm (Ninh Bình) cách đây hơn một thế kỷ.

CHÙA VĨNH PHƯỚC



Chùa tọa lạc ở số 28/10 Quốc lộ 22, xã Tân Thới Nhất, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được Sư bà Thích nữ Huyền Học khai sơn vào năm 1975, bấy giờ chỉ là một ngôi tịnh thất. 
Đến năm 1989, Ni sư Thích nữ Như Hòa, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời 41, đệ tử của Sư bà Vĩnh Bửu, từ chùa Dược Sư (quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh) về trụ trì đã có kế hoạch tu sửa dần. 

Năm 1994, chùa được xây dựng quy mô kiên cố với bê tông cốt sắt trên khu đất rộng 15.000m ở sát Quốc lộ. Chánh điện được bài trí đơn giản, tôn nghiêm. Lễ an vị Phật được tổ chức vào ngày 11 tháng 9 năm Ất Hợi (1995). Đây là một công trình kiến trúc lớn và mới của Ni bộ Phật giáo thành phố ở một huyện ngoại thành.

CHÙA VIÊN GIÁC

Trong Phật giáo, cái đẹp không những được bộc lộ qua chân lý sâu xa tối thượng mà nó còn là một cái gì rất thực, rất gần gũi với văn hóa của một dân tộc và đời sống tâm linh của con người. Một trong những ấn tượng cao đẹp ấy là hình ảnh ngôi chùa với chiếc mái cong cong hòa quyện vào cảnh vật thiên nhiên khi nắng chiều chợt tắt hoặc những lúc sương sớm quyện mờ. Nơi ấy đã từng làm thức tỉnh biết bao tâm hồn. Mái chùa tượng trưng cho những gì cao quý nhất trong cộng đồng dân tộc, nhưng cũng còn tùy thuộc vào nét thẩm mỹ của nó. Không gian tĩnh mịch ấy, không những ở nơi thôn dã xa xôi hay ở vùng núi rừng hẻo lánh mà ngay cả trong lòng đô thị náo nhiệt cũng đã tiềm ẩn ở những ngôi chùa như thế, điển hình như chùa Viên Giác.

Chùa Viên Giác hiện tọa lạc tại số 193 Bùi Thị Xuân – Phường 1 – Quận Tân Bình – TP. Hồ Chí Minh, do Hòa thượng Thích Hồng Tịnh khai sáng vào năm 1955. 

Trước đấy, Chùa chỉ là một cái am nhỏ vì Ngài cất lên để ẩn tu nên có tên là Ðộc Giác. Sau do nhu cầu tín ngưỡng cộng thêm tâm Bồ Ðề dõng phát, Ngài đã kiến tạo một cách quy mô hơn. Từ đấy, Chùa được đổi tên là Viên Giác, có ý nghĩa là sự giác ngộ tròn đầy (tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn). Sau khi Ngài viên tịch, vì không có người kế thế nên những người thân tín tạm lo việc hương khói và thờ cúng. Mãi đến năm 1976, Chùa mới thỉnh Thượng tọa Thích Minh Phát về điều hành Phật sự.

Hai mươi năm sau tức năm 1996, vì sức khỏe của Thượng tọa yếu kém, bệnh không thuyên giảm nên Chùa thỉnh Ðại đức Thích Lệ Trang về trụ trì. Tuy đã trải qua nhiều lần trùng tu, nhưng Chùa vẫn không tránh khỏi sự tàn tạ theo thời gian và nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng Phật tử  ngày càng cao, nên vào đầu mùa xuân năm Tân Tỵ (2001), Ðại đức Thích Lệ Trang cho khởi công trùng hưng ngôi Tam Bảo. Công trình do KTS. Huỳnh Tấn Phát thiết kế kỹ thuật; Công ty Hồng Bảo, KS. Nguyễn Văn Dũng và KS. Nguyễn Văn Tuấn giám sát thi công; ÐKG. Bàng Nghiêu Dân cố vấn mỹ thuật; Công ty Quốc Anh là đơn vị thi công và KS. Ngô Văn Lợi trực tiếp quản lý – điều hành công trình. Ròng rã mưa nắng hơn một năm, công trình đã trải qua biết bao khó khăn vất vả, ngôi Tam Bảo mới được thành tựu.

Vừa bước vào cổng tam quan, cảnh trí đầu tiên hiện ra là một ngôi chùa được xây dựng theo bố cục hình chữ  Sơn, có mái cong trung hòa vào nét  góc, cung tròn tạo thành những đường lượn mềm mại nhẹ nhàng uyển chuyển làm lộ rõ dáng kiến trúc xây dựng truyền thống. Tuy được phối hợp với những nét kiến trúc Á Ðông và kỹ thuật hiện đại, nhưng Chùa trông rất cổ kính và uy nghiêm, nào kèo cột chồng diêm, nào rui mè đỡ mái, kết cấu giống như kiểu nhà rường Việt Nam.

Sau khi bước lên những nấc thang đứa gót vào Phật điện, ta được chiêm ngưỡng Ðức Di Lặc tôn trí trước “bái đường” với nụ cười hoan hỉ, chủ ý nhằm nhắn nhủ mọi người hãy cười như nụ cười của Ðức Di Lặc và hãy bỏ đi những điều mà người thế gian không muốn bỏ. Tượng được khắc họa theo tư thế Tam Ða (Phước – Lộc – Thọ). Tiến vào trong là một lớp cửa “Thập Nhị Thời Thần” – Thần chủ của 12 con giáp cũng là 12 vị thần Ðại Dược Xoa Tướng trong pháp hội Dược Sư được chạm trổ khá công phu và tỉ mỉ. Ðiện Phật được ảnh hiện bởi Ðức Bổn Sư trong tư thế chuyển pháp luân, xung quanh thân quang có bảy vị hóa Phật với nghệ thuật hòa quang hiện đại, khiến ta cảm thấy các Ngài như chợt ẩn chợt hiện trong mây bởi những ánh đèn lung linh huyền ảo.

Nếu ở trước Ðức Phật, ta đang say sưa cung kính thổ lộ nỗi lòng của mình bởi gương mặt từ bi hiền lành, thường ban sự vô úy, dễ gần gũi và dễ cảm mến của Ngài thì chắc ta không khỏi sửng sốt giật mình khi nhìn sang những pho tượng “ Thập Bát La Hán ” ở hai bên Phật điện. Có Ngài thì tỏ ra oai phong lẫm liệt, có Ngài thì tĩnh tọa điềm nhiên ... Nhưng điều đáng chú ý nhất là nghệ thuật tạo hồn đã khiến cho các pho tượng toát ra vẻ sống động tựa như người thật. Ngoài ra, mỗi tượng đều có những dấu chỉ của cơ thể mang tính cách biểu trưng gắn liền với cuộc đời và phẩm hạnh của chủ thể như tượng tôn giả Xá Lợi Phất cầm chiếc linh tiêu biểu cho trí tuệ đệ nhất, tôn giả Phú Lâu Na cầm quyển kinh tiêu biểu cho thuyết pháp đệ nhất ... Có thể nói là tác phẩm mỹ thuật này đã được hoàn chỉnh trên hai phương diện : Cơ thể học và thấu thị học.

Phía sau Phật điện là Tiếp Dẫn điện. Ở đây, Ðức Phật A Di Ðà được tôn trí đang trong tư thế tiếp dẫn, xung quanh là những linh vị được bố trí theo thứ tự trông rất đẹp mắt. Phía dưới Phật điện là Phạm AÂm đường, nơi giảng kinh thuyết pháp; hai bên là Ðông đường (Khai Sơn đường) và Tây đường (Ngũ Quán đường); bên ngoài là hai gác vọng thờ hai vị bồ tát là Thiên Thủ Thiên Nhãn và Ðịa Tạng, tạo nên nét thẩm mỹ hài hòa và cân đối.

Trong kiến trúc Phật giáo, khi nói đến chùa, người ta thường hình dung ra  tháp. Vì chùa và tháp là hai thực thể luôn gắn liền nhau trong lối kiến trúc đặc trưng của Phật giáo. Tại đây, Ðẳng Quan tháp được xem như là một thế giới riêng, có vị trí ở góc Tây Bắc trong khuôn viên Chùa. Tháp gồm ba tầng, tám mặt, bảy mái, cao 21 mét và toàn bộ được lợp bằng ngói gạch lưu ly màu xanh vàng, vách được cẩn bằng gạch lưu ly với nét điêu khắc hình Phật và Bồ tát. Phía trước là đỉnh hương bằng đồng được chạm khắc bài minh bằng nét Lệ Thư với nội dung vô cùng cô đọng.

Thượng tầng là Từ Ý Các thờ Xá Lợi Phật, có treo một phạm chung cao 1m90 và nặng 750 kg. Trung tầng là Pháp Bằng Các, tàng kim thân Phật Thích Ca, Ða Bảo cùng kinh Ðại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa. Hạ tầng là Phước Nghiêm Các thờ chân tướng và linh cốt Cố Thựong toạ Thích Minh Phát.

Những lúc trời trong xanh  với những đám mây trắng bồng bềnh hay những lúc trăng tròn soi bóng; nhìn ngôi chùa Mái cong vươn nét nhẹ nhàng như ngư long vờn nguyệt. Chuông báu ngân vang diệu điển tợ thường chuyển pháp luân. Hoàng kim trang sức đỉnh, ngọc trắng điểm tô đài. Chư Phật, Bồ Tát và La Hán ảnh hiện trong ánh quang minh như đang diễn nói pháp âm giải thoát. Ðặc biệt, nếu đứng từ  thượng tầng của tháp nhìn xuống, ta sẽ thấy được toàn bộ quần thể kiến trúc của Chùa. Hơn nữa, ta cũng thấy trên những thảm cỏ xanh mượt, những khóm hoa được tô điểm và những ngọn cau ngả bóng lung linh trông như một bức tranh thủy mặc thật sống động.

Nhìn chung, chính sự hài hòa giữa phong thái kiến trúc và màu sắc đã làm cho tâm linh con người trở nên trầm tĩnh, có cảm giác an lạc thanh tịnh từ thế giới nội tâm cho đến ngoại cảnh. Ta còn thấy đồ án trang trí,vị trí của những pháp vật, phong cách thờ cúng ... đều toát ra vẻ hài hòa và thật sự tạo được cảm xúc về nghệ thuật thẩm mỹ, tuy tráng lệ nhưng không quá kiêu sa, tuy linh hoạt nhưng không đến nỗi phóng túng và tuy đường nét khắc họa công phu nhưng không đến nỗi cầu kỳ thái quá. Tuy được tiếp thu theo lối kiến trúc của nhiều thời đại, nhưng Chùa đã được sáng tạo theo một phong cách mỹ thuật riêng. Từ bao đời, sự thể hiện cảnh quan luôn gắn liền và đặc tả tư tưởng – nhân cách của người tăng sĩ.

Mái chùa là nét văn hóa của dân tộc, là tâm hồn của Phật giáo. Tuy nhiên, trong nét văn hóa và tâm hồn ấy phải có “ thể chất ” của nó. Thể chất ấy chính là nếp sống đạo hạnh của chư tăng, ảnh hưởng không nhỏ đối với việc giáo hóa quần chúng. Ở đây, tăng chúng tuy không đông, đa phần là những thầy trẻ tuổi của đủ mọi miền trên đất nước, có lý tưởng và tinh thần trách nhiệm cao. Có thể nói, các vị ấy là những người “ chịu ” khép mình vào qui củ của thiền gia và phong cách hành xử rất thấm đượm giáo huấn của tùng lâm. Mọi người đều sống trong tinh thần tự giác, có hệ thống sinh hoạt và tư tưởng nhất quán từ trên xuống dưới, cho dù là những người mới tập sự xuất gia. Thật như người xưa đã từng dạy: “ Văn và Chất là những thứ không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của con người ” !

Khi tôi mãi say sưa với vẻ đẹp chan hòa ấy, bỗng dưng tôi nhớ lại một nhà thơ nào đó đã từng khắc họa :

Sóng mây đuổi nắng vươn dài
Tiếng chim quần hội trăng ngoài tháp chuông
Khói chiều như lụa phơi sương
Thời kinh Viên Giác bụi đường bến hoa
Trăng rằm ngọn nước phù sa
Hỏi đây dòng đục, đâu là bến trong ?

Vừa lúc ấy, màn đêm cũng bắt đầu buông. Ðèn đã được thắp sáng ở các điện đường. Vầng trăng thượng tuần từ từ rạng chiếu trên cổ lầu, làm lộ rõ chiếc mái ngói lưu ly cong cong với những hoa văn chợt ẩn chợt hiện, trông như thật thật hư hư. Tiếng chuông thức tỉnh lại vang lên, hòa vào đó là những lời kinh, giọng điệu tán tụng thâm trầm sâu lắng, nghe như một bản nhạc đang đánh thức lòng người, hãy mau tìm lại bản tánh giác ngộ sẵn có nơi mình.

CHÙA XÁ LỢI



Chùa tọa lạc tại số 89 đường Bà Huyện Thanh Quan, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được khởi công xây dựng vào ngày 05 tháng 8 năm 1956 dưới sự quản đốc của hai kỹ sư Dư Ngọc Anh và Hà Tố Thuận thi công theo bản vẽ của hai kiến trúc sư Trần Văn Đường và Đỗ Bá Vinh. Chùa được khánh thành vào các ngày 2, 3, 4 tháng 5 năm 1958. Chánh điện ở lầu I được bài trí tôn nghiêm, tôn trí tượng đức Phật Thích-ca. Pho tượng là một tác phẩm mỹ thuật bằng đá cao 6,5m do ông Chánh Trí Mai Thọ Truyền đặt điêu khắc gia Lê Văn Mậu tạc vào các năm 1954-1955. Ở trên tường có những bức tranh về sự tích đức Phật Thích-ca do họa sĩ Nguyễn Văn Long thực hiện vào các năm 1959-1960. Đặc biệt, ở trên cao, ngay trước tượng Phật là nơi tôn thờ ngọc xá-lợi Phật đặt trong một bảo tháp nhỏ bằng bạc để trong một ô khám làm theo hình lá bồ đề. Viên ngọc này do ngài Narada ở Tích Lan dâng cúng cho Phật giáo Việt Nam. 

Chùa được Hội Phật học Nam Việt xây dựng để thờ xá-lợi Phật nên được người dân gọi quen là chùa Xá Lợi, sau đó Hòa thượng Khánh Anh đặt tên Xá Lợi cho hợp lòng người. 

Chùa nguyên đặt trụ sở Giáo hội Phật giáo Việt Nam (văn phòng II). Viện chủ chùa hiện nay là Hòa thượng Thích Thiện Hào, Trưởng ban Trị sự Phật giáo TP. Hồ Chí Minh. Chùa đã đón tiếp đông đảo Phật tử, du khách đến tham quan, chiêm bái hàng ngày và nghe giảng pháp vào các buổi sáng chủ nhật trong tuần.

CHÙA BẢO PHONG



I. Vị trí:

Chùa Bảo Phong tọa lạc tại thôn Phong Ấp, xã Ninh Bình, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Chùa cất trên một ngọn núi đá thấp, hình giống như một con rùa đang vươn mình bò về phương Nam. Trên núi có chùa nên núi mang tên núi Chùa, núi nằm cách bờ Nam sông Dinh khoảng hơn 1 km và cách ga Ninh Hòa 500m. Đứng trước cổng tam quan nhìn về phía Đông thấy con đường sắt chạy qua cách chùa độ 100 m.

II. Cảnh quan:

Núi chùa còn nhiều cổ thụ nên thanh u, tĩnh mịch, cảnh chùa trang nghiêm. Trầm mặc, ẩn trên núi đá, nên tuy ở gần phố thị xóm làng mà chùa vẫn giữ được cảnh quan thanh thoát, độc đáo.

Trước chùa là tượng Bồ Tát Quan Thế Âm lộ thiên cao khoảng 4 mét, phía sau tượng là hồ nước nhỏ thả hoa súng, trong hồ có non bộ, tiếp theo là cổng tam quan. Cổng thiết trí mộc mạc nhưng nghiêm cẩn, hài hòa, trên mỗi đầu trụ cổng đều có đính các hoa sen cách điệu trông khá xinh xắn. Tấm biển lớn trên cổng giữa cẩn bốn đại từ bằng mảnh bát xưa “Bát Nhã Môn Khai". Biển cổng bên phải đắp nổi ba chữ “Đại Từ Bi" và cổng bên trái là "Năng Hỉ Xả".

Trên hai trụ cổng chính đắp nổi đôi câu đối:

“Bảo địa kỳ viên chúng điểu diệu tâm tuyên pháp ngữ"
“Phong đầu hàng thụ duy phong xuy động tác kiêng tương"

Trụ cổng hai bên cũng đắp nổi hai câu:

“Bửu điện trang nghiêm triêu cổ mộ chung diệu pháp giới"
"Sơn môn thanh tịnh hòa phong minh nguyệt hướng thiền đình".

Qua cổng, theo hai lối đi nhỏ hình cánh cung tráng ciment dẫn vào vuông sân gạch, trong sân bài trí nhiều chậu hoa, cây cảnh tuy chẳng công phu lắm nhưng lại làm cho cảnh thêm vui.

Đứng ở sân nhìn chùa thì Bửu Phong Tự không cổ kính lắm, vì chùa đã được trùng tu nhiều lần và lần sau cùng vào năm 1953. Lần trùng tu này, các cụ trong làng đã cho thay ngói âm dương bằng ngói móc tuy đã rêu phong nhưng vẫn pha nét tân thời.

Biển chùa treo trong hành lang trên đầu cửa chính được khắc vào năm Tự Đức thứ 23. Biển sơn son, đề ba chữ lớn: “Bửu Phong Tự", dòng lạc khoảng ghi câu" Tự Đức Nhị Thập Tam Niên Tuế Thứ Canh Ngũ, Trọng Xuân San". Như vậy, biển chùa được khắc từ năm 1870. Qua nghiên cứu chùa đã có rất xưa, trong khoảng từ năm 1688 đến năm 1705 đời vua Lê Hy Tông niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705). Chùa xây theo kiểu tam quan, hai nhà đông tây thấp hơn ngôi chánh điện và được bố trí theo lối đông tăng, tây tổ. Kết cấu gỗ bên trong chánh điện gồm rường, cột, kèo, vì vẫn giữ y nguyên kiến trúc cổ theo kiểu "Cối Gia Nguyên". Vì vậy, khi bước vào chánh điện ta có ngay cảm giác uy nghi, sâu lắng; vừa sợ sệt lại vừa thảnh thơi.

Chính điện có ba gian: gian giữa là Đại Hùng Điện, bàn trên cao thờ Phật Di Đà và chư vị Bồ Tát tượng Di Đà cao khoảng 0,8m trông rất uy nghi và cổ kính. Gian bên phải thờ Tổ Tây Thiên với pho tượng Đạt Ma, gian bên trái thờ Thánh chúng với tượng Quan Thánh. Hai tượng này hơi thấp hơn tượng Phật Di Đà. Còn 3 bàn nhỏ ở hai đầu vách xông thì ở phía đông thờ Thập Diện Diêm Vương, phía tây thờ La Hán Chư Thiên.

Qua cách bố trí những bàn thờ trong chánh điện chúng ta dễ nhận ra ngay đây là cách thờ phụng trong các chùa thiền phái Lâm Tế Trung Hoa.

Như vừa nói trên, ngôi nhà phía tây chánh điện thờ Tổ Khai Sơn. Trong gian nhà này còn giữ được nhiều cổ vật, trong đó có các linh vị giúp ta tìm hiểu được lịch sử chùa và một phần nhỏ lịch sử của Phật Giáo Đàng Trong cũng như có thể hình dung được những bước chân của Tổ Tiên ta trên bước đường Nam tiến khi qua vùng đất Khánh Hòa ngày nay.

III. Những Cổ vật:

Gần đây chùa Bửu Phong đã được nhiều nhà nghiên cứu Phật Giáo quan tâm, họ đều công nhận tại đây còn lưu giữ nhiều cổ vật quý giá. Đáng tiếc do bảo quản chưa cao nên đã hư hại và thất thoát khá nhiều. Hiện những cổ vậy qui giá mang tính lịch sử và nghệ thuật cao gồm có:

1. Các pho tượng cổ:

Trong số này, đẹp nhất là pho tượng Phật Di Đà, tượng bằng gỗ cao khoảng 0,8m thoạt trông ai cũng nói tượng đồng vì tượng được dát vàng, màu vàng cũ lâu năm ngã sang màu đồng thau. Tượng toát lên vẻ uy nghi, vừa bình an vừa trí tuệ, thật không bút nào tả xiết. Theo lời một tu sĩ đã có dịp thăm thú nhiều chùa ở miền Trung thì tượng Di Đà ở chùa Bảo Phong Khánh Hòa và tượng Di Đà ở chùa Thiên Mụ Huế rất giống nhau cả về phong cách tạc tượng và các đường nét hoa văn trên đài sen.

2. Các linh vị:

Những linh vị của chư tổ và chư sư đã từng trù trì tại chùa Bảo Phong cũng như các bài vị của các bận tiền hiền có nhiều công đức với chùa còn khá đầy đủ. Trong số có hai linh vị của Tổ Khai Sơn là một bằng chứng xác tín giúp ta phỏng định được năm xây chùa.

a. Linh vị Tổ Khai Sơn chùa Phổ Bửu:
(Phổ Bửu là tiền thân của chùa Bửu Phong)

Linh vị ghi: Tự tam thập tứ thế Phổ Bửu đường thượng, húy thượng Minh hạ Lương, Nguyệt Ân hòa thượng. Bên dòng lạc khoản ghi: Tứ nguyệt, nhị thập tứ nhật hóa.

Theo các sách như: Việt Nam Phật Giáo sử lược của Thích Mật Thể và Việt Nam Phật Giáo sử luận của Nguyễn Lang tức Thiền Sư Thích Nhất Hạnh thì Hòa Thượng Minh Lượng Nguyệt Ân là người Trung Hoa (?).

Qua Đại Việt cùng thời kỳ với Thiền sư Nguyễn Thiều Siêu Bạch - vị sơ tổ của tông Lâm tế tại Trung kỳ, khai sơn chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định. Hòa Thượng Minh Lượng Nguyệt Ân là một trong những thiền sư thời thứ 34 của phái thiền Lâm Tế hoằng đạo ở miền trung, đứng sau ngài Nguyên Thiều Siêu Bạch một bậc, theo như bài kệ truyền thừa của ngài Vạn Phong:

Tổ Đạo Giới Định Tông
Phương Quảng Chứng Viên Thông
Hành Siêu, Minh Thiệt Tế
Liễu, Đạt, Ngô Chơn Không;

và tham cứu kỹ các sách đã dẫn thì Hòa Thượng Minh Lương Nguyệt Ân là đệ tử của ngài Nguyên Thiều Siêu Bạch bằng sư thúc hay sư bá qua Đại Việt vào năm 1665 tức năm ngài Siêu Bạch đến Bình Định, hoặc năm 1687 là năm Hòa Thượng Thạch Liêm mở đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ - Huế.

b. Linh vị Tổ Thiệt Địa:

Thiệt Địa Pháp Ấn là vị Hòa thượng đã di chùa Phổ Bửu từ lưng rùa ra phía trước trấn lên cổ rùa và đổi tên Phổ Bửu ra Bửu Phong (việc di chùa sẽ được nói kỹ ở phần truyền thuyết). Linh vị ghi:

Lâm Tế Phổ tam thập ngũ thế Bảo Phong đường thuợng húy Thiệt Địa, thượng Pháp hạ Ấn Hòa thược Giác Linh. Bên dòng lạc khoản ghi: Mạo tọa tam nguyệt, nhị thập tứ nhật. Hòa thượng thế danh và năm sinh đều không rõ, chỉ biết ngày mà ngài làm lễ trà tỳ (tự hóa thân theo nghi thức Phật Giáo) có ghi trên bia tháp là ngày 24 tháng 3 năm canh Tuất (1790). Ngài xuất gia ở chùa Phổ Bửu và thọ giới với ngài Minh Lượng Nguyệt Ân.

Bình sinh Hòa Thượng Thiệt Địa đã khai sơn nhiều chùa ờ Khánh Hòa. Đầu tiên là chùa Kim Sơn ở thôn Ngọc Hội Nha Trang, tiếp theo được người làng An Ấp (tức Phong Ấp) thỉnh trở lại Phổ Bửu và lập ra Bảo Phong. Sau đó Hòa Thượng có đến làng Thạnh Danh xã Ninh Diêm và lập một cảnh chùa ở đó, sau đó lại về Bửu Phong và đứng chứng minh lập chùa Kim Ấn ở thôn Phú Gia, chùa Linh Quang thôn Xuân Hòa, Riêng chùa Kim Sơn đã được chúa Nguyễn Phúc Khoát ban sắc tứ vào năm 1740. Tính đến năm 2005 Hòa Thượng Thiết Địa Pháp Ấn đã tạ thế đúng 215 năm.

3. Những cổ vật bằng gốm sứ:

Gốm sứ cổ của chùa Bửu Phong không nhiều. Có vài món qúi giá như lộc bình, lư hương, đĩa quả tử … có niên đại khoảng đầu nhà Thanh. Duy chỉ có nắp chiếc bình Phạn của Tổ Thiệt Địa là đáng trân trọng nhất vì nó là di vật của Tổ còn sót lại.

Nguyên trước năm 1951 thì bình Phạn còn đủ bộ, có cả chiếc thìa bằng trầm hương. Do sự bất cẩn của thầy chùa dùng bình Phạn đựng nước để chữa bệnh (!) nên bình rơi vỡ chỉ còn lại nắp, thìa trầm cũng lạc mất luôn. Hiện nay nắp Phạn được đậy trên chiếc tô xưa đặt trên bàn Tổ phía trước các linh vị.

Nắp bình Phạn làm bằng đất nung. Màu hồng nhạt, dáng bầu bĩnh xinh xắn. Tuy không tráng men nhưng có lẽ vì nung với hỏa lực cao nên đất sành lại, mặt ngoài đất như chảy ra sờ thấy mượt mà. Tuy tính sử dụng không còn, nhưng bà con trong làng, ai ai cũng quí cũng trọng vì nói là di vật tinh thần của Tổ.

4. Tranh vẽ:

a. Bộ tranh thiền tịnh song tu:

Tất cả năm bức, vẽ trên giấy nét vẽ linh hoạt. Bức chính giữa vẽ một vị Phật nửa giống Di Đà, nửa giống Thích Ca ngồi trên lưng thú bốn bức ở hai bên vẽ các vị Bồ Tát như: Quán Âm Thế Chí, Văn Thù và Phổ Hiền, tất cả đều ngồi kiết già trên lưng thú như thanh sư, bạch hổ … Bộ tranh được đặt trên bàn kính trong chánh điện, qua thời gian giấy hơi bị mủn ở bìa và gốc, phần nào có nét vẽ đè lên thì giấy vẫn trắng nguyên; màu mực và màu sơn vẫn tươi và sáng. Đây là phát hiện của Thạc Sĩ Võ Văn Tường, theo ông thì đây là một trong hai bộ tranh xưa còn lại ở miền Nam vẽ theo đề tài Thiền Tịnh Song Tu và cũng theo lời ông, bộ tranh ở chùa Bửu Phong đẹp hơn. Nghe khen, người viết cứ lân la ngắm mãi, mong tìm một ần ngữ trong tranh nhưng vô hiệu! Mãi gần đây mới hiểu: Nếu nhất tâm niệm Phật thì hành giả sẽ nhập vào cảnh giới tịch tỉnh và an lạc, như vậy thiền và tịnh không thể tách rời nhau.

b-Bức chân dung Hòa Thượng Thiệt Địa:

Bức tranh này nghe nói do thầy Ngộ Giao - Phổ Châu vẽ lại theo mẫu bức chân dung tự họa của Hòa Thượng Thiệt Địa đã cũ rách. Tranh này đã cũ lắm, tác người trong tranh khoảng 80 tuổi.

Phần 2:

5.Cổ tháp:

a-Tháp của Hòa Thượng Minh Lượng - Nguyệt Ân

Trước năm 1992 dáng tháp bị nghiêng một bên, chung quanh tháp có xây lan can, tạo thành một sân vuông, bốn gốc có bốn trụ, cửa vào sân tháp hình như quay về hướng Đông Nam. Thân tháp và thành tháp rêu phong mọc đầy. Ốc Sên bám lên ăn rêu, chúng bào mòn luôn lớp vôi hồ ô - dước làm cho tháp loang lổ trông hoang phế lắm! Tuy vậy, tháp vẫn còn giữ được những cạnh, góc và đường nét giống với tháp của Hòa Thượng Thiệt Địa. Vào khoảng thập niên 60 của thế kỷ thứ 20 bỗng rộ lên "phong trào" tìm vàng Hời, người tìm vàng tưởng tháp này là tháp Hời, họ đào bên dưới tháp làm cho tháp nghiêng về phía Tây.  Tôi có hỏi một người …, họ bảo: "tro không hà!".

Sau 1992, tháp được sửa lại - Đến năm 2000 ni cô Chơn Tâm cho làm một bia đá xanh, trên bia ghi: Tự Lâm Tế Chánh Tông tam thập tứ thế, khai sơn Bảo Phong tự". Dòng thứ hai ghi: "Huy Thành Đẳng thượng Minh hạ Lượng hiệu Nguyệt Ân Hòa Thượng". 

Dòng lạc khoản bên phải ghi: " Sinh Bính Dần niên, tứ ngoạt thập lục nhật, ngọ thời - 1686" Dòng lạc khoản bên trái ghi: "Tịch kỷ Sửu niên, tứ ngoạt, nhị thập tứ nhất – 1769". Ni cô căn cứ vào quyển sách các ngôi chùa Việt Nam (đã quên tác giả) để khắc bia như trên, trong khi linh vị của Hòa Thượng thờ trong chùa chỉ ghi:" Tự tam thập tứ thế Phổ Bửu đường thượng, húy thượng Minh hạ Lượng Nguyệt Ân Hòa Thượng - Tứ nguyệt, nhị thập tứ nhất hóa”. Tôi có đọc cuốn sách vừa nêu trên, tôi nhớ hình như ngày tịch ghi trong sách và ngày hóa khắc trên linh vị của Thiền sư là không giống nhau. Một điều nữa, xin ghi ra luôn: Trong hai quyển Sử Phật Giáo Việt Nam là Việt Nam Phật Giáo sử luận và Việt Nam Phật Giáo sử lược cũng không thống nhất với nhau, khi thì ghi: Minh Lương (không có dấu nặng) Nguyệt Ân, khi thì ghi: Minh Lượng - Nguyệt An (chữ A) …, cũng không thấy ghi rõ Minh Lượng là người Trung Hoa hay người Việt Nam … chúng ta có dễ dàng với nhau trên nhiều vấn đề, nhưng đối với lịch sử thì không thể vô bằng cớ.

Một ý nữa, nhằm giải quyết thắc mắc ngôi tháp đang đề cập đây là tháp Hời (Chiêm Thành) hay tháp của chùa Việt, thú thật tôi cũng có sự nghi ngờ nên tìm hỏi một cụ lão người làng Thạch Thành xã Ninh Quang là một đạo hữu rất gắn bó với chùa Bửu Phong, ông lớn hơn tôi gần 40 tuổi. Ông kể: "Tôi từ Bình Định bỏ quê lên Lâm Đồng rồi xuống đây, lúc đó tôi mới hai mưới mấy tuổi. Tôi quy y ở chùa này vì ở quê tôi cũng có chùa Bảo Phong"… Ông tiếp:’ Tháp này (tức tháp Minh Lượng) không phải tháp Hời đâu! Lúc trước tôi có theo thầy Hải Tràng (chùa Sắc Tứ Thiên Bửu) và các thầy khác đến xem tháp này, lúc ấy bia tháp còn sót vài chữ Nho. Nếu tháp người Chàm sao ghi chữ Nho," Trong ký ức mù mờ của vài cụ già làng Phong Ấp thì: "Hình như tôi có nghe tháp đó là tháp của ông thầy chùa sau!".

Trong hồ sơ xin xếp hạng di tích cho chùa tôi có ghi Hòa Thượng Minh Lượng Nguyệt Ân là người Trung Hoa và tháp đang nêu là tháp Minh Lượng, đến giờ tôi vẫn không phủ nhận điều đó vì tôi chỉ kể lại chứ không sáng tác. Vấn đề vừa nêu vẫn đang tồn nghi, rất mong được gặp tài liệu xác thực!

b-Tháp của Hòa Thượng Thiệt Địa:

Ngôi tháp xinh xắn có 3 tầng, cao hơn 4 m, hình bát giác, đỉnh tháp trổ hình búp sen chớm nở. Tầng tháp dưới cùng cao lớn hơn hết hình lăng trụ thẳng, tám góc tháp đắp nổi tám chân hình giống như chân rùa. Tất cả khối kiến trúc đặt trên bệ vuông cao, khoảng 0,6m xây bằng gạch, Nhìn toàn bộ kiến trúc của tháp khiến chúng ta liên tưởng đến toàn bộ tư tưởng Phật Giáo được xây dựng trên nền móng vững chắc là Tứ Diệu Đế và bát chánh đạo ! Bia là một trong tám mặt của tháp xoay về phía Đông Nam. Trên bia khắc dòng chữ Hán theo chiều thẳng đứng, chữ khắc ép cho lùn lại cho vừa với than bia: " Tự lâm tế chánh tông, tam thập ngũ thế, húy Thiệt Địa hiệu Pháp Ấn Hòa thượng bảo pháp. Bên dòng lạc khoản ghi: Canh tuất niên, tam nguyệt nhị thập tứ nhật tạ hóa. Các mặt khác chung quanh tháp có khắc ba bài thi thập ngôn tứ tuyệt, khắc theo lối nhứt cách nhứt chiếu, nghĩa là một mặt tháp khắc thi thì một mặt để trống. Ba bài thi này nhà văn Hải Thiêu có đăng trên báo Giác Ngộ (xin xem phần nguyên văn chữ Nho ở sau).

Về vị trí, tháp ở trước chùa và nằm dưới chân núi, cách chùa khoảng 30m cạnh dốc đá, đi lên chùa. Bên cạnh tháp ở phía tây có nhiều cổ thụ che ánh nắng chiều. Hiện nay còn gốc thị già tương truyền do chính Tổ trồng. Với lòng tôn kính và mến mộ vị thiền sư có nhiều công đức với làng, cho nên từ xưa tới giờ, bà con nhân dân cứ cách năm lại quét vôi cho tháp và cách năm bảy năm lại gia cố một lần, vì vậy cách đây đã 215 năm kể từ ngày xây tháp mà cổ tháp vẫn giữ y dáng cũ.

c-Tháp của đại sư Từ Mẫn:

Tháp ở gần chùa nằm về phía Tây, đại sư họ Phùng người thôn Phong Ấp. Trước 1975 tháp sạt lở, người họ Phùng và bà con góp công xây lại, tháp ba tầng, ngang ngang sở thẳng nên không có gì đặc biệt lắm, Đại sư viên tịch đến nay đã quá 100 năm.

IV.Theo dòng lịch sử đất nước và sử Phật Giáo để phỏng định thời gian xây dựng chùa

Đi tìm năm xây dựng chùa Phổ Bửu (chùa núi sau) cũng như năm dời chùa ra núi trước và đổi tên thành Bửu Phong, cùng hoạt động hoằng pháp của các vị thiền sư thời trước là một việc làm rất khó. Ở đây chúng tôi chỉ căn cứ vào các linh vị, bia tháp, cộng với sự tham quan thực tế của nhiều người đem so sánh, đối chiếu với các sử liệu mà các học giả, nhà văn, nhà sư đã đúc kết từ nhiều sử sách cũ để khẳng định hoặc phỏng đoán các sự kiện đã diễn ra ở Bửu Phong.

Các sách tham khảo:
 Việt Nam Phật Giáo sử luận của Nguyễn Lang
 Việt Nam Phật Giáo sử lược của Thích Mật Thể
 Xứ trầm hương của Quách Tấn
 Đặc san Giác Ngộ số 100 ra ngày 15-2-1995

Các sử liệu liên quan đến chùa Bửu Phong vốn không nhiều lại rải rác mỗi chỗ một ít. Trong khi tập hợp còn có chỗ nghi ngờ vì không liên kết được, chúng tôi có tham cứu thêm những lời truyền miệng trong làng giữa các bô lão với nhau hoặc bô lão với người hậu sinh. Dù sao sự việc này cũng là bước khởi đầu. Xin được tóm lược như sau để tiện theo dõi:
Phật giáo dưới thời Hậu Lê trở lại hưng thịnh, bởi trong sự việc tranh bá đồ vương của hai họ Trịnh, Nguyễn các chúa đều xem Phật Giáo như chỗ dựa tinh thần và linh thiêng. Riêng trong cuộc Nam tiến của các chúa Nguyễn thì việc xây chùa, đúc chuông cũng là một phần trong kế sách định quốc, an dân, tiếng chuông dễ dàng an ủy lòng người xa xứ vốn đã mang sẳn một phần tâm linh Phật giáo làm hành trang.

Các mốc lịch sử:

 Năm 1653, Hùng Lộc hầu ổn định việc cai trị di dân, lấp ấp ở xứ Kanthara (Khánh Hòa)
 Năm 1665, Thiền Sư Nguyên Thiều Siêu Bạch từ Trung Hoa đến Bình Định Đại Việt. Có thể thiền sư Minh Lượng Nguyệt Ân cùng đi theo.
 Năm 1683, Thiền Sư Nguyên Thiều Siêu Bạch hoàn tất việc xây chùa Thập Tháp Di Đà ở Bình Định.
 Năm 1687, Hòa Thượng Thạch Liêm mời các cao tăng ở Trung Hoa sang Đại Việt cùng chủ trì Đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ - Huế theo yêu cầu của chúa Nguyễn Phúc Tần. Có Thể Hòa Thượng Minh Lượng Nguyệt Ân qua Đại việt trong đợt này.

Sau đại giới đàng mãn, chư sư một số về lại Tàu, một số tỏa ra vấn du và lập chùa hành đạo dưới sự bảo trợ của chúa Nguyễn. Như vậy, chùa Phổ Bửu (tiền thân của chùa Bửu Phong) do vị thiền sư hàng chữ Minh khai sơn, có lẽ được xây dựng sớm nhất là vào năm 1688 tức sau đại giới đàn một năm.

Có hai khả năng xảy ra:

1. Có thể xây xong Phổ Bửu vài ba năm thì Minh Lượng trở lại Hội An xây chùa Vạn Đức và ngài vẫn đi lại giữa hai chùa này chứ chưa giao hẳn cho đệ tử nào. Điều này cũng phù hợp truyền thuyết trong làng rằng:
"Xưa, vị thầy ở chùa sau tài năng lắm! ông đi không ai hay biết, lúc về cung chẳng ai hay!"

2. Có thể sau đại giới đàn, thiền sư Minh Lượng đến Hội An (Quảng Nam) là nơi dân cư đông đúc, buôn bán sầm uất thời bấy giờ để lập chùa hành đạo và khoảng năm mười năm sau chúa Nguyễn với thỉnh cầu ngài vào dinh Thái Khang để lập chùa an dân.

Dù khả năng nào thì chùa Bảo Phong cũng là một trong vài chùa được xây dựng sớm nhất ở Khánh Hòa ngày nay.

Theo quyển sách Khánh Hòa, Nha Trang một tiềm năng một hiện thực, tác Vũ Ngọc Phương phán một câu thế này:

"Chùa Bửu Phong (Ninh Hòa) do, thiền sư Minh Lượng Nguyệt Ân, Trung Quốc đời 34 tạo dựng năm 1683” (trang 110 dòng cuối, trang 117 dòng đầu). Như vậy thì chùa Bửu Phong và chùa Thập Tháp Di Đà xây cùng một năm rồi. Xin trưng bằng chứng?! Hèn chi thầy Đạt Bổn nói với tôi:" chiếc trống sấm của chùa Thập Tháp, chùa Bửu Phong và chùa làng Phụng Cang làm cùng một thân cây; chùa Thập Tháp phần gốc, chùa Bửu Phong đoạn giữa, và trống ở chùa Phụng Cang là khúc ngọn!

Còn việc thầy Minh Lượng viên tịch ờ chùa nào xin gát lại, sợ dài dòng.
Vấn đề tiếp theo là chùa được dời từ núi sau ra núi trước năm nào?

Tương truyền sau đời Hòa Thượng Minh Lượng thì chùa trở nên khó ở, làng thỉnh thầy đến ở vài tháng thì mất, vị khác thì đau bệnh phải bỏ đi, không ai trụ quá một năm, sự việc lập đi lập lại nhiều lần, kể cả các vị bô lão trong làng. Vì vậy, làng phải vào Ngọc Hội chùa Kim Sơn thỉnh thầy Thiệt Địa trở lại chùa (theo lời kể các cụ thì thầy Thiệt Địa giỏi khoa phong thủy, thầy giỏi mà thầy nói ra nên ngày nay chùa phải chịu nhiều chuyện dỡ) Chính thầy chủ trương dời chùa từ lưng rùa ra trước trấn lên cổ rùa. Ngài đặt tên chùa là Bửu Phong với hàm ý dặn dò đời sau rằng núi chùa là ngọn núi báu.

Công việc này diễn ra năm nào, cần phải tham cứu sách Trầm Hương của Quách Tấn để đối chiếu!

 Theo tác giả xứ Trầm Hương thì chùa Kim Sơn là chùa xưa nhất Tỉnh, ông phỏng định năm xây dựng chùa này là năm 1735.
Năm 1740 chúa Nguyễn Phúc Khoát cải tên Kim Sơn ra Qui Tôn và ban sắc tứ. Chùa Kim Sơn do Thiền sư Thiệt Địa Pháp Ấn khai sơn.
 Năm 1790 Hòa Thượng Thiệt Địa Pháp Ấn hóa thân tại chùa Bửu Phong, giả định lúc đó ngài 80 tuổi (xem chân dung tự họa)

Ta thử làm phép tính:

Năm 1790 ngài 80 tuổi, tự hóa
Năm 1740 ngài 30 tuổi, đang trù trì ở chùa Kim Sơn và được chúa Nguyễn sắc tứ. Có thể năm mười năm sau đó ngài lại được thỉnh về lại Phổ Bửu và ngài ở đây lâu dài hơn vì thời gian sau đó ngài còn lập ra ba cảnh chùa nữa.
 
Phần 3:

Mặt khác chúng ta không thể bảo việc dời chùa diễn ra sau năm 1770 được. Bởi lẽ từ năm 1771 đến năm 1802 tại vùng đất mà nay là Khánh Hòa có sự khốc liệt và đẫm máu giữa hai họ Nguyễn Gia Miêu và Nguyễn Tây Sơn.

Tóm tắt:

1. Chùa Phổ Bửu được xây cất trong khoảng từ 1688 đến 1705 đời vua Lê Hy Tôn niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705)
2. Việc dời chùa và đổi tên thành Bửu Phong diễn ra trong khoảng từ năm 1745 – 1770 và ổn định đến bây giờ.

V. Những truyền thuyết dân gian về chùa Bửu Phong và các vị Tổ khai sơn:

Việc kể lại những giai thoại và truyền thuyết liên quan đến chùa và các vị Hòa Thượng đầu tiên trù trì ở đây, chúng tôi không nhằm mục đích tô vẽ thêm để chùa mang tính linh thiêng, huyền bí mà chỉ hoàn toàn "thuật nhi bất tác" để làm sáng thêm một vài sự kiện nho nhỏ, đồng thời thấy được sinh hoạt của dân cư khoảng giữa thế kỷ 18 về các mặt chính trị tôn giáo và nông nghiệp.

1. Đối với chùa Phổ Bửu và ngài Minh Lượng truyền thuyết không nhiều lời bởi lẽ đã quá xưa nên ít người nhớ được. Mặt khác nếu quả thật Thiền sư Minh Lượng là người Trung Hoa thì ắt có một sự trở ngại do ngôn ngữ vì thế mà tình cảm cũng thiếu mặn nồng. Thỉnh thoảng vào ngày giỗ Tổ còn có bà con vui miệng nhắc lại câu nói: " Hồi xưa, nghe nói các vị thầy ở chùa sau tài giỏi lắm …như đã thuật ở trên, đại để ăn cổ thì nhắc lại cái ý thán phục người được cúng, thực tế họ cũng chẳng biết vị thầy xưa là ông nào!"

Về lý do dời chùa cũng đã có nói ở trên, việc chùa khó ở, người thời ấy nghi rằng chùa có quỉ, người khác lại nói rùa thiêng không chịu đội chùa nên quay đầu cắn phá vì thế mà chùa bị động, sự việc quá xưa, nhắc vậy đủ nhiều. Theo sự phỏng đoán, chùa cũ cất xong chưa được lâu lắm thì đã dời đi. Hiện hai nền chùa cũ và mới cách nhau khoảng 50m.

2.Còn những truyền thuyết về Hòa Thượng Thiệt Địa, nội dung hàm chứa những tình cảm đậm đà, người ta thi nhau kể nhưng chưa từng được kể:

a. Truyền rằng Hòa Thượng Thiệt Địa là vị Thiền sư đắc đạo cho nên, trên từ chúa Nguyễn đến các quan và nhân dân đều vô cùng kính mộ. Thời ấy, các quan tri phủ, tri huyện khi đến lỵ sở Tân Định trấn nhậm đều tìm đến chùa ra mắt ngài. Duy chỉ có một vị tri phủ nghi ngờ việc ngài đắc pháp nên tìm cách thử: Ông quan này nhân việc mở đàn chẩn tế trong phủ, ông mời Hòa Thượng Thiệt Địa đến chứng minh. Khi tiếp đón ngài, vị quan phủ đã ngầm viết chữ Phật (chữ Hán) đặt trên bộ ván rồi trải chiếu phủ lên và thỉnh Hòa Thượng lên ngồi. Nhưng Hòa Thượng chỉ đứng chấp tay hướng về bộ ván, tuyệt chẳng chịu ngồi. Thấy vậy vị quan nọ mời thúc, Hòa Thượng liền bảo " Trên ván Phật đã chứng rồi."

b. Một giai thoại khách kể rằng: Hòa Thượng Thiệt Địa tác người vạm vỡ, tướng mạo phương phi vì chùa trên núi không có giếng nên ngài thích đi tắm ở mương; phía trước và phía sau chùa đều có mương nước, một mương dẫn nước về làng Phong Phú, một mương dẫn nước về làng Thanh Châu. Trưa hè nóng bức, Hòa Thượng hay ra tắm một trong hai mương này. Một hôm, nông dân làng Thanh Châu thấy mương đứt nước nên ngờ rằng người làng Phong Ấp đắp trộm nước bèn rũ nhau cả làng kéo lên hòng chống cự. Lên đến nơi, vỡ lẽ, họ dở cười dở mếu vì thấy Hòa Thượng nằm ngang mương phía trên nước dâng cao chẳng chảy, còn Hòa Thượng cười bảo: “Chi dữ vậy, đợi ta tắm một chốc rồi nước chảy về!”. 

Chuyện vui nhỏ tưởng thừa, nhưng qua đó chúng ta thấy được vào giữa thế kỷ 18, hệ thống kênh mương giữa hai đập nước bảy xã và mười xã đã được thiết lập ổn định và hệ thống kênh mương khoa học ấy hiện vẫn còn đắc dụng.

c. Cuối cùng, con người rồi ai cũng phải chết dẫu làm Hòa Thượng cũng không tránh khỏi qui luật vô thường. Khác hơn nhiều bật sư sãi khác, ngài tỵ thế bằng phép tự hóa thân.

Để chuẩn bị cho ngày tạ hóa, ngài tự họa nhiều bức chân dung rồi gọi những trẻ em là các mục đồng ngày ấy vào chùa ăn chuối xem tranh. Ngài hỏi: " Các con thấy bức hình nào giống ông?" Hễ bức nào được xem giống thì ngài giữ lại để gởi đi các chùa ngài đã khai sơ. Bức mà mục đồng khen đẹp nhất ngài treo tại chùa.

Trước ngày hóa thân, ngài dặn dò bà con nhân dân chỗ sẽ xây tháp, đoạn chỉ cây me và cây thị mới trồng cạnh bên gốc gạo, ngài nói:" Thầy trồng mấy cây này để mai này ra trái, trẻ nhỏ đến hái ăn cho vui”.

Cây me quá già, gốc bọng to, phần trên phải gánh chịu sức nặng của dây thanh long và cây da bá nên đã bị đổ cách đây chỉ quá mười năm. Ngay đúng gốc cũ lại mọc lên cây me khác nay đã sum xuê. Cây gạo gốc hai người ôm do bị bật rễ lúc mở đường nên trong trận bão 1992 đã vào thiên cổ. Cây thị vẫn còn gốc bọng, ngọn gãy nhưng trong phần thân xương xẩu đâm ra một cành nhỏ che là là bên bắc tháp, cành lá xanh tươi như thách thức với thời gian.

Nghĩ cũng thiệt hay! một vị sư già lo chuyện trăm năm, nghĩ rằng mai sau nơi mình ghi dấu, gởi tro sẽ là nơi tụ tập vui chơi của bọn mục đồng, của lũ học trò nên đã lo trước nào trái ngọt, trái ngon làm quà, để chúng trèo lên mộ mình với tay hái trái cười vui, la hét cho vang vọng núi đồi.

Tổ ơi! chính con cũng đã bị trận đòn đau của nghiêm phụ vì dám trèo lên tháp của Tổ hái trái thị non xuống đập ăn làm bẩn tháp.

Chiều qua lên chùa mong tìm ký ức, thấy cảnh đổi thay; sáng nay ngồi viết mấy dòng này mà trào lệ cảm ở lòng con cứ dâng lên, chảy mãi, chảy mãi! Người ta hay nói dòng nước mắt chảy xuôi, con mong sao gốc thị già bên tháp cổ sống mãi, sống mãi thật nhiều năm, ra hoa, kết trái để lũ trẻ con quanh đây cũng sẽ đến đây hái trái, thừa hưởng được chút tế bào, chút năng lượng của Tổ luân lưu trong cơ thể chúng để chúng ngoan hơn chăm học hơn và thông minh hơn để khi lớn lên chúng giúp ích cho làng xóm, đất nước! Tổ có biết con nghĩ vậy không!

Thế rồi, ngày 24 – 3 năm Canh Tuất đến, theo lời kể lại, hôm ấy tất cả đệ tử của Ngài cùng chư tăng ni các nơi tề tựu đông đủ. Bà con quanh vùng cũng lũ lựợt đến để vĩnh biệt vị thầy kính yêu.

Sau khi làm lễ trong chùa, Ngài thảnh thơi bước ra trước đàn ân cần dặn dò mọi người lần cuối:" phải tinh tấn và dũng mãnh trong việc tu thân, lấy lòng thương yêu và tha thứ để đối nhân xử thế cho làng xóm được yên vui”, đoạn Ngài nói tiếp:" Thầy sẽ để lại ngón tay trỏ và chiếc dùi đánh mõ này dùng làm tín vật để các con vững tin vào đạo pháp." Và Ngài ung dung bước lên đàn, tự tay châm lửa, ngọn lửa vàng rực từ từ bốc cao đến khi phủ cả thân Ngài bà con vẫn thấy Ngài ngồi tự tại, an nhiên, tiếng mõ, tiếng kinh vẫn vang lên nhẹ nhàng, êm dịu.

Khi lửa tàn, các đệ tử lo việc thu gom tro cốt, trước sự chứng kiến của đám đông là một sự kiện huyền diệu! Chiếc dùi đánh mõ bằng gỗ và lóng ngón tay trỏ vẫn còn y nguyên!

Trước sự mầu nhiệm, phật tử và nhân dân ba thôn Ngọc Hội, Thạnh Danh và Phong ấp đều có ý tranh nhau hai báu vật này (lóng ngón tay và chiếc dùi gõ mõ) việc cớ là khi sanh tiền Hòa thượng tu ở chùa làng họ là chính; Hòa Thượng là người của làng họ. Sự việc không cùng nhau giải quyết được, nên phải đưa lên phủ đường phân giải Quan tri phủ thời ấy xử rằng:" Hòa Thượng hóa thân tại chùa nào thì lóng ngón tay và chiếc dùi mõ nhập tháp tại chùa đó. Số tro cốt chia đều để nhập vào tháp tại các chùa ngài đã khai sơn".

Tương truyền từ thời vua Khải Định trở về trước thì ngày giỗ tổ Thiệt Địa là ngày hội lớn trong vùng, toàn thể chư tăng ni trù trì ở khắp các chùa trong tỉnh đều tự động về Tổ đình Bửu Phong từ trước ngày 23 để lo việc cúng Tổ mà không cần ai nhắc nhở thông báo. Giỗ diễn ra hai ngày, ngày 23 khai hội cúng tiên thường, tối đến bà con và nhất là trẻ em được dịp xem các vị sư sãi chạy kinh đàn. Sáng ngày 24 chính giỗ, thường tổ chức trai đàn. Đây là dịp đề nhân dân quanh vùng đến chùa lễ phật và xem hội vui vẻ.

Xét ra thời gian độc sáng của chùa Bửu Phong, kéo dài từ Minh Lượng Nguyệt Ân, Thiệt Địa Pháp Ấn đến Từ Mẫn Đại Sư. Về sau, chùa chiền các nơi đã sản sinh nhiều vị danh tăng. Chùa Bửu Phong tuy vẫn được tôn trọng là Tổ đình vì đó là nơi giòng Thiền Lâm Tế được truyền lan ra xa khắp tỉnh, nhưng thật chất hoạt động ở chùa chỉ là vang bóng.

VI. Những điều còn tồn nghi:

Trước đây tôi có đưa bản thảo cho một số thân hữu xem và góp ý, trong đó anh Trần Đặng, Ban hộ pháp chùa Trường Thọ là góp chân tình nhất.

1.Theo anh đệ tử không đổi tên chùa mà thầy mình đã sáng lập. Vậy chùa Phổ Bửu toạ lạc nơi đâu?

2.Việc ni sư Chơn Tâm căn cứ vào sách những ngôi chùa Việt Nam để ghi ngày tháng năm sinh của Hòa Thượng Minh Lượng là Bính Dần 1686 là hình như chưa xác thực vì khi ấy Hòa Thượng chưa sinh để theo Nguyên Thiều sang Bình Định, cũng chưa đủ tuổi để Hòa Thượng Thạch Liêm mời đến chùa Thiên Mụ - Huế để cùng chứng minh Đại giới đàn, chưa đủ tuổi để xây chùa. Sách nói vậy tôi nghĩ có hai Thiền Sư Minh Lượng Nguyệt Ân!? Tin sách không bằng không có sách! …và điều tồn nghi đã nói ở trên. Và cũng để có tài liệu tham khảo xin quý vị liên hệ với chùa Trường Thọ để xem bản chánh pháp nhãn tạng của thầy Ngộ Chiến để biết thêm một nhành truyền pháp của các thầy Minh Lương và Thiệt Địa.

VII.Chùa Bửu Phong hiện nay:

Sau khi thầy Nguyên Độ rời chùa, làng thỉnh Ni Sư Chơn Tâm đến ở, rồi cô Chơn Hiển đến thay, nhờ nữ tính nên các cô, các bà trong làng đến chùa tụ tập khá đông, đây là thành thích của các Sư Cô; đặc biệt trong thời kỳ này ở chùa đã đào được giếng nước, có dịp chúng tôi sẽ giới thiệu. Hiện Sư Cô Chơn Hiển đã xây thành bao quanh chùa nhưng còn dang dở, chùa xưa tỏ ra ngày càng nhỏ hẹp cho sự tu tập của bổn đạo! Ý định của cô còn nhiều và khá thích nghi cho sự phát triển nhưng còn phải đợi túc duyên.

CHÙA BẢO LONG

Tọa lạc tại thôn Thuận Mỹ, xã Ninh Quang, huyện Ninh Hòa. 
Tổ khai sơn là ngài Thiệt Quang.
Năm khai sơn: Theo Sư cô Diệu Hạnh là năm 1696, nhưng theo Quách Tấn chùa tạo lập thời Thành Thái - Ðồng Khánh (1886-1907).
Chùa Bảo Long có 11 pho tượng Phật đồng đen rất cổ. Riêng pho tượng Phật Thích Ca ngồi cao bằng hình người đường nét tinh xảo. Tương truyền rằng xưa kia giữa 2 làng Thuận Mỹ và Phụng Cang có 1 cái bàu tên là Bàu Sấu thường có hiện tượng kỳ dị vào những đêm khuya thanh vắng hay những lúc chạng vạng tối thỉnh thoảng nổi lên giữa bàu một chiếc chiếu, trên chiếc chiếu có 4 ông già đầu bạc ngồi nói chuyện rầm rì giống như tiếng tụng kinh. Thấy Bàu Sấu linh thiêng dân làng Thuận Mỹ mới mang lễ vật đến cúng và cầu xin Trời Phật phù hộ ban phước cho. Quả nhiên lời cầu xin được linh ứng, họ vớt được một pho tượng Phật Tổ từ đáy bàu có đường nét tinh xảo như đã nói. Họ mừng rỡ cho đó là điềm tốt lành mới làm lễ tạ và thỉnh về thờ tại chùa. Từ đó dân làng thêm tin tưởng vào sự linh thiêng của Bàu Sấu và rất quý tượng Phật Tổ mà họ tin là của Trời Phật ban cho. Thời Pháp thuộc, tòa Bác Cổ Viễn Ðông có đến chùa hỏi mua các tượng Phật cổ với một giá rất đắc nhưng dân làng nhất định không bán. 

Năm trùng tu: 1958, 1989.

Truyền thừa: 
- Ngài Thiệt Quang (Tổ khai sơn)
- Ngài Như Châu
- Ngài Ðồng Chí: 1942-1954
- Ngài Nhơn Hóa-Trừng Thọ
- Ngài Thiện Trà: 1959-1969
- Sư cô Diệu Hạnh: từ 1971 đến nay. 
Số điện thoại: 058. 847102

Tổ khai sơn là Ngài Thiệt Quang, vì mang chữ Thiệt, nên có thể phỏng đoán ngài thuộc đời 35 Lâm Tế Chánh Tông thuộc dòng kệ Vạn Phong: 

“... Hành Siêu Minh Thiệt Tế
Liễu Ðạt Ngộ Chơn Không...”

Hòa Thượng Siêu Trường - Ðại Xa quê Quảng Ðông (Tàu) năm 1683 qua VN hoằng hóa tại Diên Khánh, sau ra Phú Xuân dựng chùa Ấn Tông, năm 1703 chúa Nguyễn Phúc Chu ban tấm biển: “Sắc Tứ Ấn Tông Tự”. Ngài có đệ tử là Thiệt Diệu - Liễu Quán (sư phụ của Tế Hiển - Bửu Dương khai sơn chùa Thiên Bửu) và Thiệt Vinh - Bửu Hạnh tu ở Diên Khánh (sư phụ của Tế Cảm - Linh Phù chùa Vạn Thiện). Như vậy, phải chăng Ngài Thiệt Quang cũng là đệ tử của Hòa Thượng Siêu Trường - Ðại Xa. Nêu ra điều này để thấy thời điểm khai sơn chùa Bảo Long đề năm 1696 có cơ sở có thể tin tưởng được. 
Nếu đúng như thế thì chùa Bảo Long là một ngôi chùa rất cổ ở Ninh Hòa được khai sơn thời Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725). 

Sư Cô Diệu Hạnh quê Quảng Trị xuất gia năm 14 tuổi quy y Sư bà Diệu Ánh, tu học ở Phan Rang đến năm 1991 được mời về trụ trì chùa Bảo Long. 
Hiện có một đại hồng chung do ngài Như Châu chú tạo năm Mậu Thìn (1808).
Một cổ tháp bằng vôi đã được trùng tu. 
Trung Tâm Quản lý Di tích Danh lam Thắng cảnh Khánh Hòa năm 2001 công nhận chùa Bảo Long là một trong 5 ngôi chùa di tích lịch sử ở Ninh Hòa. (5 ngôi chùa là: Thiên Bửu thượng, Bảo Long, Kim Long (thôn Phú Hòa), Bửu Phong (thôn Phong Ấp) và Thiền Sơn).

CHÙA DIỆU QUANG



Ni viện tọa lạc ở số 38B, đường Lê Hồng Phong, phường Phước Hải, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đây là Phật học ni viện đầu tiên tại Khánh Hòa. Phật học ni viện Nha Trang được thành lập vào năm 1962 dưới sự chỉ đạo của Hòa thượng Thích Trí Thủ, giám viện Phật học Trung phần tại Nha Trang. Qua năm sau Ni viện lấy tên của Ni cô Diệu Quang, người đã vị pháp thiêu thân tại Khánh Hòa năm 1963. Sư bà Viên Minh và Ni sư Huệ Như đã tổ chức đại trùng tu Ni viện thành ngôi chùa rộng lớn, kiên cố từ năm 1993 đến năm 1995. Ni viện là cơ sở II của trường cơ bản Phật học tỉnh Khánh Hòa.

CHÙA GIÁC HẢI



Chùa tọa lạc trên núi Ông Sư, thôn Xuân Tự, xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa. Từ Nha Trang theo quốc lộ I ra khoảng 54km, đến cổng làng Xuân Tự là đường vào chùa. Chùa được Hòa thượng Thích Viên Giác (người huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế) khai kiến và khánh thành năm 1956. Ngôi chánh điện do Thượng tọa Thích Tịnh Diệu cho trùng tu từ năm 1987 đến năm 1990. Chùa là một danh lam thắng cảnh ngày nay ở huyện Vạn Ninh đã đón tiếp hàng vạn du khách đến tham quan, chiêm bái hàng năm: Vạn Ninh có núi Phổ Đà, Có chùa Giác Hải, có tòa Quan Âm.

CHÙA HẢI ĐỨC



Chùa tọa lạc trên núi Trại Thủy số 51 đường Hải Đức, phường Phương Sơn, phía Tây thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Chùa được Thiền sư Viên Giác dựng năm 1883, ban đầu chỉ là một thảo am, có tên là Duyên Sanh Tự. Đến năm 1891, chùa được mở rộng thành một tu viện trang nghiêm và đổi tên là Hải Đức Tự. Chùa được trùng tu dưới thời Hòa thượng Phước Huệ trụ trì và được gọi là "chùa Hội" để diễn tả cảnh tăng ni và Phật tử thường đến tụ họp đông đảo ở chùa để bàn việc Phật sự. Năm 1938, Hòa thượng giao nhiệm vụ trụ trì cho Bích Không đại sư. Ngài Bích Không đã dời chùa lên núi Trại Thủy từ năm 1943 đến năm 1945, cất chùa theo kiểu thức Aá Đông. Năm 1956, chùa trở thành Viện Phật học Trung Phần do Hòa thượng Thích Giác Nhiên làm Viện chủ, Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Giám viện.

CHÙA HỘI PHƯỚC




Tọa lạc ở số 153/2 đường Hoàng Văn Thụ, phường Phương Sài, thành phố Nha Trang. Chùa do ngài Phật Âấn-Quảng Hiển khai sơn, ban sơ là chùa Phước Am bằng tranh tại hòn Hoa Sơn tức hòn Một, Nha Trang. Ngài tịch năm 1786. Đến đời ngài Đại Thông-Chánh Niệm đã dời chùa xuống đất bằng, cách Hoa Sơn 300m, trên một bãi cát mênh mông nên người dân thường gọi là chùa Cát: Chùa do ngài Tánh Minh-Trí Quang trùng tu vào nửa đầu thế kỷ XIX và ngài Phước Tường trùng tu vào năm 1917. Thượng tọa trụ trì hiện nay là Thích Quảng Thiện đang tổ chức đại trùng tu với qui mô lớn từ đầu năm 1994, dự kiến hoàn thành vào năm 1997. Chùa có nhiều tượng cổ và chuông cổ từ đời Hậu Lê, đời Minh Mạng.

CHÙA KIM SƠN

Chùa tọa lạc ở xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, cách trung tâm thành phố khoảng 4km về hướng Tây Bắc. Chùa do Thiền sư Pháp Âấn khai sơn vào thời Hậu Lê trên một ngọn đồi đá đột khởi giữa bình nguyên, thường gọi là núi Gành, sau đổi là Kim Sơn do tích khi cất chùa thấy có một số vàng chôn ở đấy. Năm Canh Thân (1740), Chúa Nguyễn Phúc Khoát đổi tên chùa là Quy Tôn Tự và ban tấm biển sơn son thiếp vàng khắc 3 chữ đại tự "Quy Tôn Tự" cùng 8 chữ lạc khoản "Quốc Chủ Từ Tế Đạo Nhân ngự đề". Đến năm 1845, Vua Thiệu Trị sắc hạ chùa theo danh hiệu cũ. Dưới triều Khải Định (1916-1924), chùa còn được gọi là chùa Bà Nghè do bà vợ một vị quan đã xuất gia và trùng tu ngôi chùa. Chùa bị hỏng hoàn toàn do chiến tranh vào năm 1946. Ngôi chùa ngày nay mới được xây dựng trong những thập niên gần đây.
CHÙA KỲ VIÊN TRUNG NGHĨA

Sinh Trung là tên của một ngọn núi nằm trong lòng thành phố biển Nha Trang, bên cạnh Quốc lộ 1. Trên ngọn núi này, từ xưa đã có một ngôi miếu thờ thần tọa lạc, được thiết lập vào năm Ất Mão (1795), sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại vùng đất Nha Trang và thành Diên Khánh. Ngôi miếu được dựng lên để thờ những vị công thần và chiến sĩ trận vong đã có công với nhà Nguyễn. Năm Tự Đức thứ V (1852), triều Nguyễn cho trùng tu lại và đặt tên là Trung Nghĩa miếu. Từ năm 1948 đến năm 1950, Đoan Huy hoàng thái hậu, thứ phi của vua Khải Định, sinh mẫu của vua Bảo Đại, thường được gọi là Đức Từ Cung, đích thân nhiều lần đến viếng miếu, tổ chức những buổi tế lễ lớn và sau đó đã cùng với một số hào lão của làng Vạn Thạnh vận động hiến cúng ngôi Trung Nghĩa miếu cho Giáo hội Phật giáo tỉnh Khánh Hòa. Hòa thượng Thích Thiện Minh về làm trụ trì đầu tiên đã đổi tên miếu thành khuôn hội Kỳ Viên. Cho đến năm 1990, trụ trì đời thứ 5 là Thượng tọa Thích Trí Viên đã cùng với đông đảo Phật tử đại trùng tu khuôn hội Kỳ Viên, đến tháng 2 năm 1992 thì hoàn thành, chính thức lấy tên Kỳ Viên Trung Nghĩa tự, dân địa phương thường gọi là chùa Núi.

Du khách vãn cảnh chùa, bước lên những bậc tam cấp rộng và dài, hai bên có bờ thành được trang trí thêm những bức tranh bằng đá mài, xen kẽ với những bệ trụ có chóp hình búp sen thật trang nhã... Du khách có thể dừng chân đọc và nghiền ngẫm những câu kinh Pháp Cú tuyệt diệu mà thật gần gũi được khắc trên những tấm đá mài... Ngôi chánh điện mái cong trên thềm cao hiện ra trước mắt với mái ngói rêu phong, các con rồng uốn lượn trên nóc chầu pháp luân và hai tháp nhỏ thấp thoáng nhô lên hai bên nóc điểm xuyết thêm cho vẻ cổ kính thiêng liêng, khoảng giữa là tên chùa được viết bằng chữ Hán nổi bật trên nền vôi màu ngà trước chánh điện. Trước thềm chánh điện là tượng của hai con sư tử xanh thật lớn án ngữ hai góc tả hữu. Trong góc sân phía bên phải cổng tam quan, một tượng Di Lặc Tôn Phật thật lớn được sơn thếp vàng trên hòn non bộ bằng đá núi, leo trèo đu bám trên thân Ngài là sáu đồng tử ngộ nghĩnh tượng trưng cho "Lục tặc" (tức lục căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) đã được giáo hóa giác ngộ. Đối xứng với tượng Phật Di Lặc, phía góc trái là tượng Văn Thù Sư Lợi Bồ tát cũng thật cao lớn cưỡi trên lưng thanh sư, đang trong giai đoạn tô đắp sắp hoàn chỉnh. Tường thành bao quanh cổ miếu xưa kia, nay chỉ thấy còn một đoạn lộ ra bên cạnh cây đa cổ thụ có trên vài trăm tuổi nằm bên trái chánh điện.

Vòng ra phía sau lưng chánh điện, bước qua cây cầu nhỏ bằng xi-măng bắc qua một hồ cá tai tượng có bố trí các hòn non bộ xinh xắn, sẽ thấy gác nhà chuông sáu trụ nằm giữa những chậu cây cảnh được bài trí hài hòa chen lẫn với những cây bồ đề xanh rì lá, phượng vĩ đỏ lòe hoa... Tiếp tục dạo bước vào sâu phía sau chùa, được chiêm bái tượng Bạch Y Quan Âm lộ thiên với dáng vẻ thanh thoát dịu hiền đứng trên một đài cao hướng nhìn về biển Đông... Tận cùng sân sau của chùa, trên triền dốc xổ bằng những bậc tầng cấp, chợt hiện lên một khu Ô Linh Cốt được thiết kế như những dãy nhà chung cư thu nhỏ, có mái che lớp ngói hồng, bao bọc chung quanh một điện nhỏ thờ tượng Địa Tạng Vương Bồ tát, tạo nên một không khí trang nghiêm và ấm áp. Bên trong chánh điện, các tượng Phật và Bồ tát đều vàng rực lên giữa những tràng phan, bảo cái, phướn lọng, đèn hoa... Đặc biệt ở phía sau nhà hậu Tổ, nằm bên một góc im ắng là một bàn thờ đầy linh vị và di ảnh của chư hương linh ký thác, trên đó có di ảnh của Đức Từ Cung và con trai của bà là vua Bảo Đại cùng nằm ở vị trí trung tâm. Bên cạnh bàn thờ này, trên tường bên trái có treo hai khung kính lớn lồng bên trong là các thư tịch văn bản cổ giấy đã ố vàng, nhưng Hán tự vẫn còn rõ từng nét: "Đại Nam quốc - Trung hưng công thần linh vị". Đó chính là bài vị liệt kê danh tánh của 350 vị công thần có công với triều đại nhà Nguyễn.

Từng bước chậm vãn cảnh Kỳ Viên Trung Nghĩa tự, ngắm từng vết tích xưa cũ, trông từng cảnh sắc tân kỳ, mới thấy được rằng ngôi chùa này đúng là một "khu vườn kỳ lạ khác thường", xứng đáng khi đã được Nhà nước công nhận di tích lịch sử - văn hóa của xứ Trầm hương.

CHÙA LINH SƠN



Tổ Ðình Linh Sơn Vạn Giã  nằm tại Thôn Hiền Lương, Xã Vạn Lương, Huyện Vạn Ninh, Tỉnh Khánh Hòa. Thủy Tổ khai cơ Hòa Thượng Ðại Bửu (1740-1765), Pháp hiệu là Kim Cang Ðại Lão Tổ Sư. Ngài quán Quảng Nam băng ngàn vào Hiền Lương hoằng pháp. Năm Cảnh Hưng thứ 22, tức năm 1761 Dương Lịch mới lập Chùa đúc chuông, gây cơ sở vững chắc. 

Ban sơ chùa gọi là Sa Long Tự. Triều Tự Ðức, năm thứ 21 (1867) Chùa bị thất hỏa. Sau khi xây cất lại, cải tên là Linh Sơn Tự. Từ ấy đến nay, chùa đã được trùng tu nhiều lần. Kiểu thức cổ pháp, và hoàn toàn Việt Nam. Mái ngói tường gạch. Chánh điện ba gian, phía đông phía tây có tăng phòng, tịnh thất. Cách thờ phụng đơn giản nhưng trang nghiêm, đại khái cũng như các Chùa cổ ở Trung Việt. Vườn Chùa rộng rãi và có nhiều cây cối tươi mát. Phía trước có tường vôi và cửa Tam quan cổ kính. Trước mặt Chùa là đồng lúa bát ngát, có hồ sen sâu rộng, có sông Hiền Lương quanh co. Và xa xa núi cao chập chờn. Phong cảnh đăng quang nhưng thanh tịnh. 

Trong vườn Chùa có hai cây cổ thụ: Một cây xoài. Một cây kén. Cây xoài ở trước Chùa, cạnh ngỏ bước vô. Thuộc giống xoài mủ, sống trên trăm năm. Thân cây cao vút và nhánh mọc tua tủa như những cánh tay gân guốc giơ lên trời. Sắc lá xanh láng, màu da cây lại trăng trắng mong mốc. Ðứng xa trông như một cây long trượng nửa chừng. Vừa kỳ vừa cổ! 

Cây kén đứng phía sau chùa. Thân cây cao vút và tuồi chắc là 300 trở lên. Chính Ngài Ðại Bửu ngồi tu nơi gốc cây kén này, trước khi Chùa thành lập. Vùng Hiền Lương trước kia là một cánh rừng rậm, có nhiều dã thú. Lúc Ngài Ðại Bửu đến tu thì cây kén đã là một đại thọ. Khi phá rừng dựng Chùa các đệ tử giữ cây kén lại làm kỹ niệm. Truyền rằng khi Hòa Thượng ngồi tu dướI gốc cây, thì có một con hổ đến sanh nở bên cạnh tu một cách tự nhiên. Hòa Thượng ngồi tu một cách tự nhiên. Không có gì là lạ. 

Bác sĩ Yersin, khi đì tìm Ðà Lạt, gặp một con rắn hổ mang cất cổ toan làm dữ, Bác sĩ đứng yên. Hồi lâu rắn bỏ chạy. Người ta ngỡ rằng Bác Sĩ có thuật thôi miên. Nhưng Bác sĩ cho biết: Thú dữ cắn người, trước hết là để tự vệ. Nhưng chúng đều có tánh linh và rất nhạy cảm. Một khi chúng đã thông cảm rằng mình không có ác tâm, không cố ý làm hại chúng, thì chúng có cần làm hại mình làm chi. 

Trong trường hợp của Ngài Ðại Bửu cũng thế. Từ thiện căn lực của Ngài tỏa ra khi thiền định, khiến con hổ yên tâm lo nhiệm vụ của mình. Các vị chân tu sống bình yên trên núi cao đếu nhờ sức mạnh của đức từ bi, chớ không phải nhờ phép thần thông chế ngự thú dữ. Nhưng người đời không rõ, tưởng Ngài Ðại Bửu có phép lạ, nên đến xin quy y mỗi ngày một đông. 

Quả hồng chung trong chùa cũng là một vật duy trì đức tin của bổn đạo. Nguyên thời nhà Nguyễn gia Miêu cùng nhà Tây Sơn tranh hùng, các chuông Chùa đều bị tịch thu để đúc súng đạn. Ðem chuông ra đúc súng đạn thật chẳng khác bắt các vị tu hành tòng chinh. Ðể cho chuông khỏi 'phạm giới sát sanh', nhiều Chùa ở Khánh Hòa đem giấu nơi vực sâu hố thẳm. Nhưng đến khi yên giặc giã, thì phần nhiều không tìm lại được, bởi lớp bị kẻ gian lấy trộm, lớp bị nước lụt trôi. Quả hồng chung chùa Linh Sơn tìm lại được cho do một sự tình cờ đượm vẽ huyền bí:

-Một bà lão đi mò ốc phát kiến tại cửa sông Hiền Lương. Sợ quá tri hô lên. 

Cửa sông Hiền Lương vốn nằm giữa sông Hiền Lương và Tân Ðức. Biết hồng chung là vật xưa quý giá, làng Hiền Lương và làng Tân Ðức tranh nhau chiếm hữu, việc phải đưa cửa quan. Quan xử: 

-Làng nào có chùa, chuông về làng ấy. 

Hiền Lương có Chùa Linh Sơn, Tân Ðức không có Chùa, nên Hiền Lương được kiện. Làng khiên chuông về đem đến cúng chùa Linh Sơn. Việc giấu chuông của Chùa Linh Sơn, nhiều vị phụ lão thường nghe nói đến. Lại thêm nơi thành hồng chung có ghi rõ năm tháng chú tạo: 'Cảnh Hưng Nhị Thập Nhị Niên, Tân Tỵ, Bát Nguyệt' đúng vào năm Tổ Ðại Bửu khai sơn. Nên ai nấy đều mừng 'Châu về hợp phố'. Quả chuông tìm lại được đó là quả chuông thuộc hạng 'Tiểu hồng chung'. Chùa còn một đại hồng chung không biết còn vùi lấp nơi đâu hay đã hóa kiếp. Những đêm trời trong gió lặng người quanh vùng thỉnh thoảng nghe tiếng chuông ngân nơi hồ sen trước Chùa. Nhiều người tin chắc rằng quả đại hồng chung còn ẩn náu trong hồ, và sẽ trở về Chùa một ngày nào đó. 

Chùa Linh Sơn có tiếng linh thiêng. Việc quả hồng chung trở về Chùa làm cho các tín đồ thêm vững lòng tin mộ đạo. Lại một sự kiện nữa xảy ra thời Tiền Chiến, khiến người kém đức tin cũng phải tin rằng Chùa linh thiêng thật sự. Lúc bấy giờ Nhật đóng quân khắp lãnh thổ Việt Nam. Tàu bay Mỹ ngày nào cũng đến oanh tạc. Khánh Hòa cũng không thoát khỏi nạn bom rơi. Năm 1944, một quả bom hạng nặng rơi ngay trên nóc Chùa. Nhưng không nổ và cũng không lăn xuống đất. Ai cũng thấy làm lạ. Vì quả bom này nếu nổ thì Chùa bị tan tành, không nổ thì sức nặng cũng đủ chọc thủng nóc Chùa hoặc lăn theo mái Chùa để xuống đất bằng cho hợp lý. Cớ chi lại nằm chình ình trên nóc, mà tứ bề không có vật gì cản ngăn? Người Nhật nghe tin bom nằm trên nóc Chùa thì đến mang đi, chớ không một lời giải thích. Các ông già bà cả bảo rằng: Các vị thần giữ Chùa làm cho quả bom tắt ngòi. Rồi để cho người đời tin sự linh thiêng, các Ngài đem bom đặt trên nóc Chùa và giữ không cho rơi xuống đất. Người đã tin thêm tin, người không tin không biết sao mà cải. 

Chùa Linh Sơn là Tổ đình của hầu hết các chùa quận Vạn Ninh

CHÙA LINH PHONG

Hãy thong dong bước lên từng bậc cấp bằng đá, rồi đứng lại lưng chừng núi, khách nhàn du sẽ được đón tiếp bởi nụ cười Hỷ Lạc của một tượng Phật Di Đà Lạc rất ấn tượng...
Năm 1972, Thượng tọa Trừng Dũng, pháp hiệu Thích Chí Viên về trụ trì Linh Phong Cổ Tự. Với đạo hạnh trang nghiêm, đức tính cần cù, chịu khó, hành sự kỹ lưỡng, tài hoa uyên bác, sư trụ trì mới của chùa đã từng bước chậm rãi mà chắc chắn tu sửa, tái tạo lại ngôi chùa cổ đã mái dột cột xiêu qua bao trận lũ lụt tàn phá. Đến nay, ngôi chùa cổ Linh Phong đã mang một dáng dấp hoàn toàn mới mẻ, vững chắc, độc đáo và khang trang hơn xưa rất nhiều với "Ngũ cảnh Thiền môn".

- Cảnh thứ nhất: Cổng Tam Quan có tượng Di Lặc Tôn Phật ngồi trên tòa sen với tư thế tự tại, nở nụ cười Hỷ Xả. Ở bốn góc phía trên có tượng của Tứ Đại Thiên Vương cưỡi mây xanh cùng nghinh hầu vị Phật của tương lai.

- Cảnh thứ hai: Vườn Lộc Uyển với cảnh sắc hòa nhập vào thiên nhiên trông thật sinh động. Một phiến đá rong rêu như đâm lên từ lòng đất giữa cỏ xanh, trên có khắc hai chữ bằng tiếng Hán: "Lộc uyển". Nơi khoảng đất trống gần đó hiện lên 6 pho tượng đều trắng toát: tượng Phật có kích cỡ lớn hơn ngồi giữa, gần một phiến đá mặt hướng về phía Tây Nam; phía bên phải của Ngài là ba tượng, bên trái là hai tượng, đều có kích thước bằng người thật, cùng đang ở tư thế quỳ gối trên đá, chắp tay cung kính.

- Cảnh thứ ba: Chánh điện được xây mới gấp đôi chùa cũ nằm trên một nền cao, chiều ngang 24m, chiều sâu 17 m (chùa cũ là 10 x 9m), mái lợp ngói Phú Phong theo khuôn mẫu đặt riêng của chùa. Riêng ngói lợp mặt trước do chính tay sư trụ trì tạo khuôn mẫu, rồi tự đúc lấy để tạo nét độc đáo cho chùa. Trên nóc có rồng đội pháp luân ở giữa, rồng uyển chuyển trên góc mái rất sống động. Các trụ lớn phía trước thềm hiên đều được chạm nổi rồng quyện cùng mây. Đặc biệt là, tất cả trụ cột kèo bên trong đều nối với nhau bằng con mộng, không sử dụng một cây đinh nào. Trên tất cả các vật liệu gỗ, từ cột kèo đến cánh cửa, đều được chạm đục rất tỉ mỉ, trau chuốt công phu với những họa tiết hoa văn, linh vật rất độc đáo. Những tượng Phật, Bồ tát trên điện thờ hoàn toàn đều bằng gỗ, sơn màu gỗ nâu đậm và bóng, ngaọi trừ bức tượng Thích Ca nhỏ quét nhũ đồng là tượng của ngôi chùa cũ lưu lại, được đặt trên một bục cao hơn. Giữa chánh điện là tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm, hai bên góc cửa vào chánh điện có hai tượng "Khánh Thiện - Trừng ác" to lớn gấp hai người thường, trấn giữ chốn trang nghiêm, trông thật uy phong lẫm liệt.

- Cảnh thứ tư: Quan Âm Các nằm bên trái chánh điện trên một khu đất mát mẻ. Tượng Quan Âm màu nâu nhạt được đặt trong điện hình lục giác mái cong, hai bên phái trước thềm có hai con sư tử nằm chầu. Bên ngoài điện là một cặp rồng xanh nằm đối xứng nhau trên một bức tường đá rất dài và cao, mỗi con rồng có chiều dài hơn 10 m, như đang cùng bay lượn vờn gió đạp mây, tạo nên cảnh "Song Long Triều Phật".

- Cảnh thứ năm: Điện Quan Thánh nằm phía sau lưng chánh điện thờ Phật, cách một khoảng sân rộng, lối kiến trúc tương tự như Chánh điện thờ Phật, cách một khoảng sân rộng, lối kiến trúc tương tự như chánh điện. Trên nóc mái phía trước có ba tượng nhỏ: Châu Xương và Quan Bình đứng hầu Quan Đế Quân; phía bên trong điện cũng có bộ tượng này nhưng tầm vóc lớn hơn, và là bộ tượng cũ của ngôi cổ tự đã đổ nát. Đặc biệt, đứng một bên bàn thờ Quan Đế Quân là tượng ngựa Xích Thố cao lớn như ngựa thật, được sơn màu huyết dụ, cũng là pho tượng cổ.

Qua gần 35 năm gắn bó với chùa, thượng tọa trụ trì Thích Chí Viên dốc hết của cải vốn liếng của mình, của bà con họ tộc ngoài Huế, thêm sự đóng góp của đông đảo Phật tử gần xa, đã âm thầm tu bổ, lặng lẽ thiết kế xây dựng từng công đoạn, thực hiện xong một cuộc đại trùng tu, thực hiện xong một cuộc đại trùng tu, mang lại một diện mạo hoàn toàn mới mẻ cho Linh Phong Cổ Tự.

Cùng tọa lạc trên núi Trại Thủy (ngọn núi có hình dạng một con dơi) giữa lòng thành phố xô bồ náo nhiệt, ba ngôi chùa nổi tiếng của Nha Trang là: Long Sơn, Hải Đức, và Linh Phong Cổ Tự đã lập nên một thế tam giác vững chãi, tạo thành một cảnh quan thiên nhiên thật đặc sắc đầy vẻ tôn nghiêm và thanh tịnh, thu hút khách thập phương quanh năm ghé đến để chiêm bái thưởng ngoạn, góp phần rất lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo, cũng như phát triển du lịch của tỉnh Khánh Hòa./.

CHÙA LINH PHONG

Tọa lạc tại thôn Tiên Du, xã Ninh Phú, huyện Ninh Hòa do Thượng tọa Trừng Giác khai sơn năm 1974.

Chùa đang xây dựng đại quy mô trên một diện tích 1ha (hecta) bên này dòng suối, khuôn viên chùa trải dài qua tận bên kia dòng suối: một vườn đào với diện tích 2ha và một ngọn đồi mang tên Hòn Chệnh tiếp giáp với dãy núi Hòn Hèo. Con suối khi qua khỏi địa phận chùa còn luyến lưu chảy vòng lại ôm lấy vườn đào rồi mới đổ ra vịnh Nha Phu, làm cho phong cảnh càng đẹp hơn. Đúng là một bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ mà trời đã ban cho Linh Phong tự. Càng liêu trai hoang dã hơn khi nhìn ngắm những gốc rễ cây cổ thụ to lớn dị kỳ không biết lấy từ đâu kéo về phơi bày có cả 20 tác phẩm đặt bên cạnh những tảng đá đủ kiểu cở hình dạng sắp hàng trong hoa viên chạy dọc theo bờ suối với những chiếc ghế đá đặt rải rác bên các lối đi. Có một bộ gốc rễ khổng lồ uốn lượn kỳ hình trông như một con rồng, có người ở Nha Trang ra trả giá 20 triệu đồng VN nhưng Thầy Trụ trì không bán muốn giữ lại để làm cảnh.

Một công trình kiến trúc quy mô đang được xây dựng gồm chánh điện, tu viện, hoa viên hai bên suối, mở rộng suối thành hồ, đúc tượng Quán Thế Âm, đặt thuyền bát nhã trên hồ. Theo Thầy Trụ trì, tu viện trong tương lai sẽ mở các khóa học để đào tạo tăng taì, hiện nay chùa không còn kinh phí để tiếp tục công trình, phải dừng lại để chờ. Sau 6 năm với 2 tỉ VN đã đổ ra nhưng mới thực hiện được 2/3 công trình, cho thấy sau khi hoàn tất công trình, chùa Linh Phong sẽ nguy nga tráng lệ biết là nhường nào, xứng đáng là một danh lam thắng cảnh đứng vào hàng bậc nhất tại Xứ Ninh. Trước mắt, Thầy trụ trì mong mỏi thực hiện lót gạch nền Chánh điện, lên tượng Quán Thế Âm bằng đá Non Nước để phục vụ tín hữu trong việc lễ bái, nhưng vẫn chưa làm được. Hầu hết kinh phí như đã nói là do các Phật tử hải ngoại phát tâm Bồ Đề cúng dường vì thấy đại nguyện của vị Thiền sư trụ trì rất chánh đáng và cần thiết trong đời sống văn hóa tinh thần hiện nay là muốn kiến tạo tại vùng non nước xinh đẹp Tiên Du một Thiền viện có tầm cở để chấn hưng Phật pháp đồng thời cũng là một danh thắng nơi du lịch lý tưởng tại xứ Ninh. Người viết xin tỏ lòng kính phục hạnh nguyện của Thiền sư Trụ trì và tấm lòng quảng đại của các Mạnh Thường Quân đã giúp chùa trong 6 năm qua. Xin cầu mong cho chùa có đủ kinh phí để tiếp tục công trình hiện còn đang dang dở.

Chùa Tiên Du nằm trên một vùng thiên nhiên lý tưởng "trời ban" rộng mênh mông và đẹp như một bức tranh sơn thủy.

Thượng tọa Trừng Giác hiệu Từ Phong sinh năm Giáp Thân, 1944, quê làng Tiên Du xuất gia năm 17 tuổi quy y Ngài Thanh Tú hiệu Minh Tân chùa Lổ Ngổ, làng Đại Điền Đông, Diên Khánh. Trước 1975 ngài có học 2 năm tại viện Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn, năm 1972 khai sơn chùa Bình Hà tại tỉnh Bình Tuy có diện tích tới 14 mẫu, năm 1974 Ngài về Tiên Du khai sơn chùa Linh Phong. Trước đây ngài có trụ trì chùa Thiên Lộc thôn Mỹ Trạch mấy tháng, hiện đệ tử của Ngài là Đại đức Tâm Nguyên-Như Hoằng trụ trì đang có tâm nguyện tái tạo ngôi tháp Tổ trên đỉnh hòn Núi Đất. Trưởng tử Ngài là Đại đức Tâm Toàn-Như Trí trụ trì chùa Khánh Long làng Phước Đa.

Ngài có tâm nguyện tái tạo lại ngôi chùa Thạch Sơn tức Chùa Hang nổi tiếng tại Ninh Hòa thời kháng Pháp với vị trụ trì đại bi dũng là Thiền sư Nhơn Hoằng. Chùa Hang là một cái hang đá hình chữ nhật có diện tích khoảng 50m2 nằm ở lưng chừng triền núi Hòn Hèo cách chùa Linh Phong độ 1km, hiện có một con đường mới khai phá dẫn xe mô tô lên tận chùa Hang.

Chùa Linh Phong nằm sát chân núi Hòn Hèo gần Trung tâm du lịch Suối Hoa Lan, Đầm Nha Phu, khí hậu mát mẻ và con suối chảy ngang qua chùa có nước quanh năm, dù chùa xây cất chưa hoàn thành nhưng số lượng du khách đến thăm chùa hiện nay rất đáng kể.

Chùa Linh Phong đang kỳ vọng là một ngôi danh lam thắng cảnh đứng vào hàng bậc nhất tại Xứ Ninh, tác phẩm độc đáo của vị Thiền sư có thân hình mảnh mai nhưng đầu óc lại to lớn nhìn xa thấy rộng có tâm hồn thi sĩ thiền vị suốt đời mê mãi đi tìm cái đẹp của thiên nhiên kỳ vĩ.

Năm 2003, Thiền sư có làm một bài thơ xin mạn phép chép ra đây:

HẠNH NGUYỆN

Thân nhất đời tôi mõ với chuông
Nắng mưa lặn lội khắp nẻo đường
Năm qua tháng lại ngu với ngốc*
Ngốc ngu ngu ngốc phước không lường
Nhờ ngu vô sự người thương quý
Ngốc nghếch dại khờ chẳng phô trương
Từ khổ tới không nhờ hai vị*
Đạo tràng xây dựng khách dâng hương
CHÙA LONG SƠN



Chùa tọa lạc dưới chân núi Trại Thủy, số 22 đường 23 tháng 10, phường Phương Sơn, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Chùa do Hòa thượng Thích Ngộ Chí dựng trên núi Trại Thủy vào năm 1886, có tên là chùa Đăng Long. Năm 1900, do bị bão, chùa được dời xuống địa điểm hiện nay. Năm 1936, chùa đặt trụ sở Hội Phật học tỉnh Khánh Hòa, chùa được trùng tu vào năm 1940 và các năm 1971-1975. Bên hông trái của chùa có đường lên núi Trại Thủy. Nơi đây có tôn trí pho tượng đức Phật Thích-ca do Thượng tọa Thích Đức Minh và điêu khắc gia Kim Điền thực hiện vào 2 năm 1964-1965. Tượng có chiều cao từ mặt bằng lên 24m, phần tượng cao 14m, tư thế tọa thiền, uy nghi giữa nền trời. Chùa hiện đặt văn phòng Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Khánh Hòa, trường cơ bản Phật học tỉnh Khánh Hòa. Chùa là ngôi danh lam cổ tự bậc nhất của Khánh Hòa.

Chùa Long Sơn uy nghiêm với trầm hương hoa đèn ngào ngạt, phảng phất không khí linh thiêng thanh tịnh. Trên đỉnh đồi Trại Thủy, Kim thân Phật Tổ với dáng ngồi thư thái, nụ cười thanh thoát từ bi uy nghiêm giữa trời xanh mây trắng lững lờ. Khách không khỏi bâng khuâng cảm thấy mình bỗng bé nhỏ giữa cảnh quan của chốn Già Lam nổi tiếng nhất tỉnh Khánh Hòa. 

Sau khi lễ Phật trong chánh điện nguy nga, leo lên hàng trăm bậc cấp để chụp ảnh lưu niệm dưới tượng đài Đức Thích Ca Mâu Ni, khách hạ sơn với lòng thanh thản. Hãy khoan vội về mà nên dừng chân ghé lại vườn hoa độc đáo của chùa. Đó là hoa viên Long Sơn Đại Tự bên phải con đường vào chùa. Nơi này đã có nhiều người thốt lên lời tấm tắc khen ngợi là "tiên cảnh giữa phàm trần".

Hơn 10 năm trước, hoa viên Long Sơn là một bãi đất hoang án phía trước vẻ đẹp thanh tịnh của ngôi chùa. Ngày hôm nay, như một đóa sen vươn lên từ vũng lầy, hoa viên chùa Long Sơn đã trở thành một thắng cảnh quen thuộc với nhiều người.

Hoa viên chùa Long Sơn có lối bài trí ảnh hưởng Thiền Tông. Vườn hoa như một trận đồ bát quái, mê hồn trận. Không hàng không lối, cứ như cây cỏ đá hoa tự nhiên mọc lên, nhô lên vậy! Đang ngắm cây này, mắt lại thấy thấp thoáng hoa nọ ở đầu kia. Đang chiêm ngưỡng chậu hoa trước mắt, lại trông thấy đầu kia cành sen vươn lên như vẫy gọi. Càng xem ngắm, khách càng bị lôi cuốn, cứ muốn khám phá thêm mà không hề vơi đi hứng thú, cũng không 

hề nhàm chán, không biết mệt mỏi. ở đây có những cây sung, thiên tuế và đặc biệt là cây Sa La ấn Độ loại cây sinh sống, tỏa bóng râm trong khu vườn mà Đức Thích Ca Mâu Ni nhập Niết Bàn, trong kinh có ghi là Sa La Song Thọ.

Nằm giữa những hoa lạ cây quý, đầu kia là một hồ cá hình bầu dục, đầu này là một hồ cá khác hình trái xoài, cả hai đều có hòn non bộ trông nhễ núi thật, cảnh thật. Một hồ sen rộng, rất thoáng mát nằm bọc phía sau vườn hoa. Tại nhà trưng bày, một nhà phát hành kinh sách tranh tượng, một nhà sàn bày biện những rễ cây độc đáo, một nhà sàn nghỉ ngơi... tất cả đều rất hòa hợp với cảnh sắc yên lành, thâm trầm của vườn hoa. Đặc biệt là vẻ đẹp của tượng 

Thích Ca Mâu Ni mầu nâu sậm, cao hai thước, tĩnh tọa ngay dưới cội bồ đề cao lớn, là rủ cành buông. Trên một nền cỏ xanh rì, có đá có hoa, có ao nước cá lội trước mặt, một tượng Quan Thế Âm Bồ Tát nổi bật lên trong tễ thế ngồi thanh thản, tay cầm Cam Lồ Thủy, tay bắt ấn, gương mặt từ bi, nhìn Thiện Tài Đồng Tử đang đứng giữa dòng nước chắp tay cung kính, cáo bạch sự tình. Trước mắt khách có khác nào tiên cảnh bồng lai? Càng bước đi trong vườn hoa, khách càng ngẩn ngơ xao xuyến, có thể quên baüng đi những lo toan phiền muộn trong cuộc sống đời thường. ở vễờn hoa này dường như cái gì cũng hiền từ, cũng thâm trầm lặng lẽ để tạo nên một không khí an vui tĩnh lặng. Ngay trên vách đá của nền nhà, bên con mễơng hoa súng rực hồng, một hàng chữ được chạm nổi rõ to: "Phàm làm việc gì cũng phải nghĩ đến kết quả của nó". Đó là câu kinh Phật dạy.

Vãn cảnh chùa Long Sơn, không ai bỏ qua cơ hội quá bộ vào vườn hoa để tìm những giây phút sảng khoái, thễ thả để rồi trở về với lòng xao xuyến bâng khuâng và tâm hồn bỗng an lành. Cuộc đời thật đẹp sao!

CHÙA NGỌC TÒNG



Tịnh xá là tên chung của một quần thể kiến trúc bao gồm Tổ đình Nam Trung, Tịnh xá Ngọc Tòõng và Tịnh độ Ni giới, tọa lạc ở xã Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, dọc theo quốc lộ I, cách trung tâm thành phố 9km. Tịnh xá do ngài Giác An, trưởng giáo đoàn III hệ phái Phật giáo Khất Sĩ Việt Nam sáng lập vào năm 1965 trên một khu đất rộng 50m, dài 200m. Chính giữa là Tổ đình Nam Trung thờ Tổ sư Minh Đăng Quang. Phía Bắc là Tịnh xá Ngọc Tòõng, kiến trúc theo mô hình bát giác truyền thống của hệ phái. Phía Nam là Tịnh độ Ni giới, kiến trúc như một niệm Phật đường, dành cho ni chúng tu học. Tịnh xá đã được Trưởng lão Giác Phải, Đại đức Giác Phùng tổ chức trùng tu vào những năm 1992-1994 . Tịnh xá là nơi đặt văn phòng của Giáo đoàn III Phật giáo Khất sĩ Việt Nam.

CHÙA NGỌC TRANG



Tịnh xá tọa lạc tại phường Ngọc Hiệp, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Tịnh xá do ngài Giác Tịnh khai sơn vào năm 1957, được xây dựng bằng vật liệu bán kiên cố (tôle, gỗ...). Ngài Giác Định trụ trì đầu tiên, sau đó những chư tăng trong giáo đoàn II của hệ phái Phật giáo Khất sĩ Việt Nam kế tiếp trụ trì. Đến năm 1975, ngài Giác Định trở lại trụ trì cho đến lúc viên tịch (năm 1995). Tịnh xá được Thượng tọa trụ trì Giác Dũng tổ chức trùng tu từ năm 1991 đến năm 1993, dưới sự chứng minh của Trưởng lão Giác Định (quyền Trưởng giáo đoàn II). Lần này Tịnh xá được xây bằng vật liệu kiên cố, chánh điện, đài Quan Âm... đều được bài trí tôn nghiêm.

CHÙA PHẬT QUANG

Chùa Phật Quang* tọa lạc tại thôn Bình Tây, xã Ninh Hải, Hòn Khói, Ninh Hòa. 
Tổ khai sơn: Thượng Tọa Thích Hạnh Hải

Năm khai sơn: 1964
Năm trùng tu: 1970

Truyền thừa: 

1. Thượng tọa Hạnh Hải: 1964-1970
2. Nguyên Ðộ: 1970-1971
3. Nguyên Chơn: 1971 - ?
4. Thích Nữ Tịnh Thường: Trụ trì hiện nay. 

Số điện thoại: 058. 849896

Thượng tọa Hạnh Hải, húy Tâm Phước , tự Thông Như sinh năm 1915, thế danh Phan Cẩm Long, quê làng Quang Ðông, sinh tại quê ngoại làng Phú Nghĩa, cùng xã Ninh Ðông, huyện Ninh Hòa. 

Nhà nghèo, thân phụ làm rẫy tại suối Nhơn cách chùa Thiền Sơn 3km. Năm 16 tuổi thân phụ mất, năm sau thân mẫu cho cả 3 anh em xuất gia quy y ngài Nhơn Sơn-Trừng Nghệ trụ trì chùa Thiền Sơn được truyền thừa chữ Tâm đời 43 LTCT dòng kệ Liễu Quán. Thượng tọa Hạnh Hải là người con thư sáu, người em kế là Hạnh Ðịnh, húy Tâm Tại, tự Thông Tánh, người em út là Tâm Ðường quy y mới 6 tuổi. 

Năm 20 tuổi Thượng tọa theo học ngài Ðại Trí trụ trì chùa Linh Quang, thôn Phước Sơn.

Năm 22 tuổi học ngài Quảng Ðức, trụ trì chùa Thiên Ân, thôn Phước Thuận được thế độ tự là Thông Như.

Năm 25 tuổi vô chùa Thiên Quang ở Nha Trang nghe kinh với ngài Nhơn Duệ-Trừng Thông, năm sau chùa tổ chức khánh thành, và mở Giới Ðàn truyền giới, chứng minh là Hòa thượng Huệ Ðăng, trụ trì chùa sắc tứ Tây Thiên, Ninh Thuận và đông đủ chư tăng Khánh Hòa, Thượng tọa Hạnh Hải thọ cụ túc giới. 

Năm 27 tuổi trụ trì chùa Hải Tràng, thôn Phú Thứ.

Năm 28 tuổi, HT Hưng Từ khai Giới Ðàn chùa Kim Long, Thượng tọa giữ đệ nhất dẫn thỉnh. 

Năm 1946, trụ trì chùa Phước Long, thôn Phước Lý. 

Năm 1949 trụ trì chùa Thiên Bửu hạ. Vận động lập Giáo Hội Tăng Già Khánh Hòa, làm Trị sự Sơn Môn Tăng Già Ninh Hòa. Ðại trùng tu Tổ đình Thiên Bửu hạ.

Tháng Ba/1951 tổ chức Lễ Khánh Thành và mở Giới Ðàn do HT Phước Huệ chứng minh, HT Trí Thắng truyền giới, tấn phong các vị Hòa thượng, và truyền giới sa di, tỳ kheo. 

Năm 1951-1963: phục vụ Giáo Hội Tăng Già Khánh Hòa, giữ chức Phó Trị sự. 

Năm 1961, tổ chức Giới Ðàn tại Thiên Bửu hạ, HT Trí Thủ chứng minh, HT Hưng Từ truyền giới. 

Năm 1964-1982: Giữ chức Phó Ban Ð?i Diện Tỉnh kiêm Ðặc Ủy Tăng Sự Tỉnh Giáo Hội Khánh Hòa , kiêm Ðại Diện Huyện Giáo Hội Ninh Hòa. 

Năm 1972 dự Ð?i Giới Ðàn Linh Sơn ở Sài Gòn (Hội Từ Bi Âm) được cử Chánh Niệm.

Năm 1982: Giữ chức Cố vấn Ban Ð?i Diện Giáo Hội Ninh Hòa, chứng minh các đại lễ. 

Thượng tọa còn khai sơn các chùa: 

1. Phước Lễ, thôn Chấp Lễ, Ninh Thân
2. Phật Ấn, thôn Ðông Hải 
3. Linh Ứng, thôn Tân Thủy 
4. Thạnh Ðức, thôn Phong Thạnh
5. Bửu Lâm, thôn Phước Lâm
6. Hoa Nghiêm, đồi Ổ Gà

Ngài tân tạo 3 ngôi bảo tháp của Tổ Huệ Giáo, Tổ Nhơn Sơn, và 1 vị Tổ khác. 

Tổ đình Thiên Bửu thượng sau khi trùng tu, ngày 20 tháng Hai ÂL năm 1990 tổ chức ngày giỗ Tổ Bửu Dương rất trọng thể, Thượng tọa Hạnh Hải về dự và chứng minh, đó là lần đầu tiên tôi được gặp ngài. Thượng tọa trông phương phi, có khuôn mặt phúc hậu, ăn nói hoạt bát ôn tồn với tất cả mọi người. Khi ngài đến cả chùa như phấn khởi hẳn lên, ai ai cũng tỏ ra trọng vọng ngài, những lúc đó tôi thấy uy tín ngài rất lớn. 

Năm 1992, nhạân được Thông Tri của Thượng tọa Thích Thiện Bình, Trưởng Ban Trị Sự Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Khánh Hòa ký ngày 15-3-1992 kêu gọi mỗi chùa/ tịnh xá/ tịnh thất trong tỉnh "sưu tầm hệ thống hóa tiểu sử” của chùa/ tịnh xá/ tịnh thất mình, Ðại đức Thích Nguyên Hoa trụ trì Thiên Bửu thượng họp Ban Hộ Tự và các cụ trong làng Ðiềm Tịnh lập ra một tổ gồm 12 vị gọi là "Tổ Sử Chùa Thiên Bửu" (trong đó có tôi và Ðiềm Ca) chia nhau đi tới một số chùa tại Tu Bông, Vạn Giã, Ninh Hòa, Nha Trang để sưu tầm tài liệu thực hiện quyển "Lược sử Chùa Thiên Bửu". Tôi và Ðiềm Ca nhiều lần đến Thiên Bửu hạ yết kiến ngài Hạnh Hải được ngài hoan hỉ giúp đỡ tận tình. Dù tuổi hạc đã gần 80 nhưng ngài vẫn còn minh mẫn kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện về thầy về chùa về đời về đạo về những năm tháng lịch sử gay go... mà ngài và Tỉnh, Huyện Giáo Hội đã trải qua... Dù hoàn cảnh nào ngài cũng giữ hai chữ Minh Tâm, tức là "cái tâm trong sáng thẳng ngay như đóa bạch liên giữa chốn bùn nhơ”. Ngài kể vanh vách hàng 2, 3 tiếng đồng hồ, lâu lâu quay lại hỏi tôi có ghi kịp không? 

Có một buổi sáng chúng tôi đến, thì các Thầy trong Huyện Giáo Hội đang họp gần 30 vị mà Ngài là Cố vấn, Chánh Ðại diện là Ðại đức Thích Ngộ Tánh và các Ðại Ðức Trừng Giác, Ðại Ðức Thiện Hạnh, Ðại Ðức Ngộ Tịnh... Chúng tôi ngồi chờ ngoài sân hoa. Sau bế mạc các thầy về hết thì đã gần 11 giờ, nhưng ngài vẫn tiếp chúng tôi. Chúng tôi thưa với ngài là quyển Lược sử Chùa Thiên Bửu sau 5 tháng khởi công nay đã hoàn tất chỉ còn thiếu Lời Tựa, bản chụp bức Giới Ðao Ðộ Ðiệp để làm sử liệu và bản Tiểu sử của ngài, kính nhờ ngài hoan hỉ giúp cho. Ngài đồng ý ngay. Ngài bảo độ điệp thì muốn chụp lúc nào cũng được, còn tiểu sử thì lấy giấy bút ra ngài đọc cho mà ghi. Tôi mừng trong bụng và thưa rằng chiều mai chúng tôi sẽ đưa ông Trầm Lệ Ý đến đây chụp hình và gởi cho ngài bản thảo quyển Lược Sử. Ngài gật đầu. Dù đã trưa nhưng ngài vẫn dành cho chúng tôi thời gian, bước ra hàng hiên nằm trên chiếc võng đu đưa... và bắt đầu kể về cuộc đời tu hành của mình... 

Nhờ thế mà hôm nay chúng ta có đôi nét tiểu sử về cuộc đ?i tu hành rất phong phú của ngài, một vị danh tăng tài đức của Ninh Hòa đã xuất gia từ lúc 17 tuổi trì chí tu học qua nhiều vị cao tăng, từng khai sơn ra nhiều chùa từng hóa độ cho nhiều người, là một trong các hàng giáo phẩm sáng lập và lãnh đạo của Tỉnh, Huyện Giáo Hội Phật giáo suốt đời xả thân vì Ðạo pháp.

Công đức của ngài thật là to lớn. 

Nay nghe tin ngài đã về cõi Phật cách đây 4 năm, kẻ hậu sinh xin ghi lại đôi dòng tiểu sử của Ngài và của ngôi Chùa Phật Quang do ngài sáng lập... để thay nén hương thắp trước Long Vị Ngài thờ tại Tổ đình Thiên Bửu hạ và những ngôi chùa do ngài tạo ra. 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

CHÙA SẮC TỨ THIÊN TỨ



Chùa Thiên Tứ nằm dưới chân Hòn Núi Đất, giữa màu xanh cây cỏ ruộng đồng của làng dệt chiếu cói Mỹ Trạch, Ninh Hòa.

Chùa được khởi công xây dựng năm 1744 và người khai sáng là tổ Đạo Minh.Theo lời của các vị bô lão trong làng chùa Thiên Tứ đã từng được vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức ban cho nhiều sắc phong nhưng đã bị mất mát, thất lạc do chiến tranh.

Theo tư liệu của chùa, Hòn Núi Đất có hai ngôi chùa, chùa Thiên Lộc và chùa Thiên Tứ. Cách đây 300 năm, có một nhà sư Hiệu Đạo Minh trên đường tìm nơi tu hành đã  chọn đỉnh Núi Đất để dựng một ngôi chùa nhỏ. Khi chứng quả ngài đã viên tịch trong sân chùa với tư thế kiết già. Nhục thân của ngài đã yên vị giữa đất trời không biết bao lâu; cho đến khi được nhìn thấy và được che chắn chung quanh bằng đất đá bởi người dân trong vùng. Sau đó một bảo tháp được xây lên và hiện nay vẫn còn dù trông thật cô quạnh, hư hao.

Năm 1935 Hòa Thượng Thích Quảng Đức đến làng Mỹ Trạch. Cảm  phục vị chân tu đã viên tịch, bồi hồi cảm động vì dấu tích của chùa xưa, Hòa Thượng đã lập một ngôi chùa trên Hòn Núi Đất tên Thiên Lộc Tự

Lúc bấy giờ dưới chân núi còn có chùa Thiên Tứ. Tu hành ở chùa Thiên Lộc  nhưng chùa Thiên Tứ là nơi Hòa Thượng Thích Quảng Đức giảng đạo cho chúng tăng.

Năm 1946 chùa Thiên Lộc bị tàn phá bởi chiến tranh, cư dân trong vùng đã chuyển tất cả những đồ pháp khí thánh tượng từ chùa Thiên Lộc về chùa Thiên Tứ để bảo quản và trong số những di vật còn lưu lại đến nay chúng ta còn nhìn thấy được tấm bảng Thiên Lộc Tự cùng chuông gia trì, di vật của Hòa Thượng Thích Quảng Đức.

Trụ trì tại chùa Thiên Tứ từ năm 1936-1940, Hòa thượng Thích Quảng Đức cùng với nhiều vị cao tăng đã mở nhiều khóa hạ và phật học. Đã có hơn 70 vị tăng tài từ miền trung cho đến miền nam học đạo tại ngôi chùa này trong thời gian ấy. 

Hiện nay trụ trì chùa Thiên Tứ là Đại Đức Thích Như Hoằng. Đại Đức cùng Phật tử đang cố gắng xây dựng chùa Thiên Tứ theo hạnh nguyện của tổ Đạo Minh. Đại Đức cùng một số phật tử  đang ngày ngày làm việc cật lực để khai phá một con đường quang đãng dẫn lên  đỉnh núi. Nhờ con đường này mọi người có thể thăm ngôi bảo tháp cũng như có thể nhìn xuống toàn cảnh ngôi làng Mỹ Trạch xinh đẹp.  

CHÙA THIÊN BỬU

Chùa tọa lạc ở thôn Điềm Tịnh, xã Ninh Phụng, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, cạnh dòng sông Lốt, dưới cầu Bến Gành. Chùa do Thiền sư Tế Hiển, hiệu Bửu Dương, đời 36 dòng Lâm Tế chánh tông khai sơn vào giữa thế kỷ XVIII, là tổ đạo đầu tiên của chi phái Thiền Liễu Quán tại huyện Ninh Hòa. Chùa được kiến trúc theo kiểu chữ "Môn" gồm chánh điện, Đông lang, Tây lang, chánh điện có 3 gian, bài trí tôn nghiêm. Ơở phía Tây ngôi chùa có 6 ngôi bảo tháp, đặc biệt là tháp Tổ Bửu Dương 7 tầng có long chầu, lân phục. Tháp hình bát giác, cao 4m, chung quanh có thành cao 0,80m, 56 mặt trên tầng tháp là 56 bức chạm trổ có giá trị cao về mỹ thuật.

I. VỊ TRÍ, ÐỊA ÐIỂM:

Chùa Thiên Bửu còn có tên là Tổ Ðình Thiên Bửu, dân gian quen gọi Chùa Kỳ, gồm Thiên Bửu Thượng tọa lạc tại làng Ðiềm Tịnh, xã Ninh Phụng, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa và Thiên Bửu Hạ tọa lạc tại Thị Trấn Ninh Hòa, Khánh Hòa. Hai chùa như 2 anh em, có cùng 1 tên và cùng một vị Thiền sư khai sơn sáng lập trong khoảng thời gian từ năm 1653-1687, thời Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, (1648 -1687), cách nay trên 300 năm, thuộc vào hàng những ngôi chùa cổ nhất từ Ðèo Cả đến Mủi Cà Mau.

* THIÊN BỬU THƯỢNG (TBT): nằm trên bờ hửu ngạn sông Lốt tại đầu làng Ðiềm Tịnh, cảnh trí thơ mộng, yên tĩnh. Từ con đường đất liên xã Ninh Phụng - Ninh Trung người ta nhìn thấy cây me đại thụ cao sừng sững đứng trước sân chùa, gốc xù xì to bằng 5 người ôm không xuể, tuổi thọ ước tính khoảng trên 300 năm. Bước vào Cổng Tam Quan những ngày đầu Xuân, du khách nghe lòng lâng lâng thoát tục. Mùi trầm hương, mùi hoa lan, hoa sứ...hòa quyện cùng với tiếng chuông tiếng mõ và câu kinh tiếng kệ tạo thành một thế giới huyền ảo khiến tâm hồn lắng đọng dễ dàng quên đi bao cái tầm thường ô trọc của cuộc đời vô thường bể khổ dù chỉ trong giây lát. Cây sứ đứng bên lối gạch phủ đầy hoa trắng có dáng nghiêng trước gió trông thật tao nhã, đuợc trồng từ thời Tổ Phước Tường về trụ trì chùa cách nay cũng đã trên 100 năm. 

Chùa nằm trên khu đất rộng thoáng chừng 2 hecta trải dài từ bờ sông Lốt đến đường liên xã, đó là chưa tính gần nửa hecta tư điền do một nữ Phật tử thời trước dâng cúng cho chùa mà ngôi bảo tháp của bà vẫn còn đó, nhưng hiện nay tất cả những tư điền tư thổ của chùa không còn nữa.

Cách chùa hơn 100 mét, bên kia đường, là nơi an nghỉ của Tổ khai sơn và các vị trụ trì, quy tụ cả chục ngôi bảo tháp rêu phong trầm mặc đứng bên cây gạo Ðình làng ước chừng 200 tuổi thọ có tàn lá sum sê như chiếc lộng, hằng năm cứ đến cuối Ðông tán lá rụng hết, cây đứng trơ cành, nhưng sang Xuân lại đâm chồi nẩy lộc mặc chiếc áo mới màu nhũ đồng được điểm tô bằng những bông hoa đỏ rực như lửa.

* THIÊN BỬU HẠ (TBH): rộng rãi khang trang tọa lạc bên bờ hửu ngạn sông Dinh, cạnh Cầu Sắt, thuộc Thị Trấn Ninh Hòa, hiện do Thượng Tọa Thích Hạnh Hải trụ trì.

Cả 2 chùa thờ phượng giống nhau. Gian giữa Ngôi Chánh Ðiện đặt pho tượng Phật Thích Ca ngồi cao lớn sơn son thếp vàng, cùng nhiều tượng Phật khác như Phật A Di Ðà, Phật Di Lặc v.v... Gian bên trái thờ Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát, gian bên phải thờ Ông, tức Quan Công. Nhà Tây thờ Vị Sơ Tổ Thiền Tông Bồ Ðề Ðạt Ma, cùng bài vị của Tổ Bửu Dương và các vị Trụ Trì. 

II. LỊCH SỬ THÀNH LẬP:

Chùa Thiên Bửu (TB) cũng giống như bao chùa cổ khác tại Khánh Hòa không lưu lại tiểu sử, nhưng căn cứ vào: Bài Vị của Tổ khai sơn và các Tổ kế thừa hiện thờ tại chùa TB, cũng như tại một số chùa khác trong huyện, (như chùa làng Nhĩ Sự, chùa làng Thạch Thành, chùa làng Bình Thành, chùa làng Phước Thuận, chùa làng Phụng Cang…), Ðại Hồng Chung cổ đúc thời Chúa Nguyễn khắc tên chùa Thiên Bửu và tên làng Ðiềm Tịnh còn lưu tại chùa làng Nhĩ Sự, xã Ninh Thân, Ngôi Cổ Tháp Bửu Dương tại Thiên Bửu Thượng và Bức Giới Ðao Ðộ Ðiệp của Ðại đức Huệ Thân, vị trụ trì đời thứ ba của chùa còn lưu tại TB Hạ, chúng ta có thể biết được lịch sử thành lập chùa, sau khi đối chiếu qua một số sử liệu. 

Năm 1653, Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần chiếm vùng đất của Chiêm Thành từ Ðèo Cả đến sông Phan Lang, đặt dinh Thái Khang tức Khánh Hòa ngày nay, gồm 2 phủ Thái Khang (Ninh Hòa) và Diên Ninh (Diên Khánh), cử quan cai cơ Hùng Lộc làm thái thú và đưa dân vào định cư theo chính sách di dân. Chính sách này đã có từ thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng khi chiếm Phú Yên năm 1611, đã được thực hiện liên tục, bền bỉ qua 8 đời Chúa, đến năm 1759 thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (vị Chúa thứ tám) thì hoàn tất cuộc Nam Tiến: mở mang, di dân và đặt nền cai trị lên cả một dải đất mới bao la trù phú chạy dài từ đèo Cù Mông tới mủi Cà Mau.

Thời Chúa Nguyễn ở xứ Ðàng Trong, Phật giáo rất hưng thịnh, chùa chiền mọc lên như nấm. Ngay các Chúa cũng rất sùng đạo (như Chúa Tiên, Chúa Sãi... đặc biệt Chúa Nguyễn Phúc Chu đã quy y, thọ Bồ Tát giới tại gia với thiền sư Thạch Liêm, Chúa có pháp danh Hưng Long, đạo hiệu Thiên Túng Ðạo Nhân, là tác giả của 1 bài minh được khắc trên bia đá năm 1714 tại chùa Thiên Mụ).

Theo chính sách di dân, những người nghèo khổ không có ruộng đất, được chia thành toán, mỗi toán 50 người được cấp lương thực, dụng cụ đến định cư khai hoang tại các vùng đất mới để lập làng. Ruộng đất khẩn được họ được quyền canh tác làm ăn miễn thuế trong 3 năm đầu. Tuy nhiên người lưu dân trong thời gian đầu rất đau khổ vì nỗi buồn nhớ quê hương cộng với bao lo âu nhọc nhằn phải đối diện hằng ngày với thú dữ, thiên tai, dịch bệnh... nơi vùng đất lạ, nên họ cần hơn ai hết sự giúp đỡ, an ủi, bảo vệ, nhất là ở lãnh vực tâm linh, tinh thần. Ðó là lý do và cũng là động lực thúc đẩy các vị Thiền Tăng nhanh chóng lên đường dấn thân vào các vùng đất mới theo chính sách của Chúa Nguyễn để kịp thời đáp ứng nhu cầu Ðức tin Tôn giáo của lưu dân. Nhờ thế mà đời sống của lưu dân được mau chóng ổn định cả về 2 mặt vật chất và tinh thần, góp phần làm cho công cuộc Nam Tiến của các Chúa Nguyễn thành tựu rực rỡ như một phép lạ.

Trước bối cảnh đó, vào năm 1653 khi Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần lập ra dinh Thái Khang đưa dân vào định cư, thì Thiền sư Tế Hiển Bửu Dương có lẽ cũng sớm rời chùa Thiên Mụ ở Thuận Hóa (Huế) lên đường vào đất Thái Khang (Ninh Hòa) chèo ghe ngược dòng sông Dinh, sông Lốt, thấy cây cỏ tốt tươi, cư dân sống cần cù rải rác ven sông, ngài lập ra một ngôi chùa nằm dưới bóng me bên bờ hửu ngạn sông Lốt đặt tên là Thiên Bửu Tự (TB Thượng). Và sau đó vì tình hình lưu dân đòi hỏi ngài lại lập tiếp bên bờ hữu ngạn sông Dinh một ngôi chùa thứ hai cũng lấy tên là Thiên Bửu Tự (TB Hạ). Nhìn cách thức đặt tên cũng đủ thấy tình cảm của Ngài gắn bó sâu nặng với ngôi chùa cũ Thiên Mụ biết bao! 

Từ những luận cứ trên chúng ta có thể kết luận rằng chùa Thiên Bửu đã được Tổ Bửu Dương tạo dựng trong thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), sớm nhất là năm 1653 và trễ nhất là năm 1687, cách nay trên 300 năm. 

Tổ Tế Hiển Bửu Dương là một trong 5 vị đệ tử mang chữ Tế của Thiền sư Thiệt Diệu Liễu Quán là vị Tổ khai sáng Chi phái Thiền Liễu Quán VN theo bài kệ:
“Thiệt Tế Ðại Ðạo, Tánh Hải Thanh Trừng...”

Tổ Liễu Quán người Phú Yên xuất gia từ nhỏ, trụ trì Chùa Thiên Mụ, có nhiều đệ tử tài đức tham gia Phong trào Nam Tiến. Ơû một ngôi chùa tại Phú Yên, báo Giác Ngộ, Sài Gòn có đăng tài liệu ghi chép danh tánh 5 vị đệ tử của Tổ Liễu Quán trong đó có Tế Hiển Bửu Dương, Tế Dưỡng Tổ Huấn....
Ðại hồng chung cổ còn lưu tại chùa Nhĩ Sự, cho biết Tổ Bửu Dương đã có sự liên hệ mật thiết với ngôi chùa này. 

Tất cả các bài vị của Tổ Bửu Dương hiện thờ tại nhiều chùa khác nhau đều ghi giống nhau: “Ðại Lão Hòa Thượng Tế Hiển, hiệu Bửu Dương” do đó, tuổi thọ của ngài tối thiểu cũng phải 80. 

Qua 2 ngôi chùa cổ kính và có tầm vóc do Ngài tạo lập, qua ngôi bảo tháp 7 tầng của Ngài được kiến trúc kỳ công, chúng ta có thể biết được Ngài là một vị Thiền sư đạo cao đức trọng danh tiếng một thời được lưu dân mến mộ. Ngài là người đầu tiên truyền bá Chi phái Thiền Liễu Quán tại Ninh Hòa, vì thế chùa TB được gọi là Tổ Ðình TB. Những công đức mà ngài đã xả thân vì Ðạo vì Ðời, vì Lưu Dân, vì Phong Trào Nam Tiến thật là lớn lao.
 
 III. TRUYỀN THỪA
Chỉ xin ghi lại 1 số vị tiêu biểu:

Ðại lão Hòa thượng Tế Hiển Bửu Dương: Khai sơn và trụ trì, có bài vị và bảo tháp 7 tầng, giỗ ngày 20/2 ÂL. 
Ðại lão Hòa thượng Ðại Trì Phước Khánh: Trụ trì, có bài vị, không có bảo tháp. 
Ðại đức Liễu Bửu Huệ Thân: Trụ trì, có bài vị và bảo tháp 3 tầng, hiện còn lưu 1 Giới Ðao Ðộ Ðiệp do triều đình cấp, sau khi Ðại đức Huệ Thân trúng tuyển Cuộc Thi Khảo hoạch tại Ðại Giới Ðàn và Lễ Cầu Siêu Chiến Sĩ Trận Vong tổ chức ở Huế năm 1835, có đóng dấu triện của vua Minh Mạng. 
Hòa thượng Thanh Chánh Phước Tường: Trụ trì, trong thời Pháp thuộc, gốc người Phú Yên, đạo cao đức trọng đã mang lại sự thạnh mậu cho chùa. Năm 1932, ngài tổ chức Ðại Giới Ðàn tại Thiên Bửu Thượng. Chùa có một Ban Múa Lục Cúng nổi tiếng đi trình diễn khắp các chùa trong tỉnh. Ngài có trên 30 vị đệ tử tài đức đi hoằng pháp lập chùa nhiều nơi (như Hòa thượng Nhơn Duệ, Nhơn Hoằng ở Nha Trang, Hòa thượng Nhơn Hưng ở Cam Ranh, Hòa thượng Nhơn Thứ ở Ðà Lạt, Hòa thượng Nhơn Tri ở Sài Gòn tức là Hòa thượng Thích Quãng Ðức tự thiêu năm 1963...). Ngài tịch ngày 28/7 ÂL. có bài vị và bảo tháp 5 tầng. 
Ðại đức Nguyên Hoa hiệu Minh Tâm, người làng Quang Ðông, xuất gia từ nhỏ, hiện trụ trì chùa, có công đức trong việc trùng tu chùa năm 1989 và xây cất lại chùa hoàn toàn mới nguy nga đẹp đẽ theo kiểu mái cong năm1996. 

IV. TÀI LIỆU, DI TÍCH 

1.* Cổ Tháp BỬU DƯƠNG:

Tọa lạc tại khu Mã Tháp đầu làng Ðiềm Tịnh. Không có tài liệu ghi chép năm xây dựng ngôi cổ tháp, nhưng căn cứ ở phần: Tổ Bửu Dương thành lập Chùa Thiên Bửu vào thời Chúa Nguyễn Phúc Tần như đã trình bày ở trên, chúng ta đưa ra 2 thời điểm để làm mốc cho quãng thời gian Tổ viên tịch và Tháp được xây dựng:

- Thời điểm sớm nhất chùa được tạo lập: tức năm 1653, giả dụ khi đó Tổ BD đã 80 tuổi và sống thọ tới 100 tuổi, thì năm viên tịch của ngài là: 1653+20= 1673, năm này thuộc thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687).
- Thời điểm trễ nhất chùa được tạo lập: tức năm 1687, giả dụ khi đó Tổ BD mới 25 tuổi và sống thọ tới 100 tuổi, thì năm viên tịch của ngài được tính là: 1687+75 = 1762, năm này thuộc thời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765). 

Từ cơ sở đó, dựa trên các đặc tính về vật liệu, kỷ thuật, hình thức kiến trúc của ngôi Cổ Tháp, chúng ta có thể mạnh dạn kết luận rằng: Tháp Bửu Dương được xây dựng trong quãng thời gian từ thời Chúa Nguyễn Phúc Tần đến cuối thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, cách nay trên 238 năm, là một di tích cổ kính nhất của tiền nhân còn lưu tại Ninh Hòa.

Tháp được kiến trúc bằng vật liệu thô sơ: vôi, cát... Chung quanh Tháp xây một bức thành hình vuông, tại cửa đặt 2 tượng kỳ lân nằm phủ phục và trên 2 trụ đứng 2 bên có khắc 2 câu đối chữ Nho nhưng chỉ còn đọc được 4 chữ: “Văn Pháp Văn Kinh” nghĩa là Nghe Pháp Nghe Kinh. Trên thân tháp hình bát giác cao 7 tầng gồm có 56 mặt là 56 bức phù điêu được chạm trỗ rất sinh động, tuyệt vời hình mai lan cúc trúc long lân quy phụng, đàn, sáo, chữ Phạn. Tháp bị thời gian tàn phá nặng nề có nguy cơ sẽ bị sụp đổ.

2. Tháp HUỆ THÂN: 3 tầng kiến trúc đơn giản, chỉ còn đọc được 2 chữ Huệ Thân trước cửa Tháp, không ghi năm xây cất nhưng chúng ta có thể ước đoán Tháp được xây dựng trong thời đại Nhà Nguyễn từ năm 1935 trở về sau. 
3. Tháp PHƯỚC TƯỜNG: 5 tầng kiến trúc quy mô thời Vua Bảo Ðại có xây thành khang trang đẹp mắt. 
4. Ðại Hồng Chung cổ: còn lưu tại chùa làng Nhĩ Sự, Ninh Thân. 
5. Giới Ðao Ðộ Ðiệp: của Ðại đức Huệ Thân còn lưu tại TBH. 
6. Những Bài Vị: của Tổ Bửu Dương và các vị Trụ Trì.
7. Cây me đại thụ: tại TBT.
 
V. THƠ VĂN VIẾT VỀ CHÙA và THÁP

Thanh thủy đoạn phiền não
Cô thôn hiện già lam
( Tạm dịch:Nước trong dứt phiền não
Thôn vắng hiện già lam)
Phạm Ðài (Ông Cửu Ba)
 
THIỀN ÐẠO
Thiền đạo vấn mai hoa
Thái hòa thuyết Phật gia
Hương trà yên chính noản
Trần lự bán tiêu ma.
(Tạm dịch:Thiền đạo hỏi mai hoa
Hòa bình thuyết Phật gia
Hương trà vừa bốc khói
Niềm tục nửa tiêu ma)
Phạm Ðài (Ông Cửu Ba)
Ðiềm lãng phất khai kim thế giới
Tịnh trần lộ xuất ngọc lâu đà
(Tạm dịch: Ðiềm lành khai mở kim thế giới
Tịnh tâm lộ hiện ngọc lầu đài)
Phạm Ðài (Ông Cửu Ba)

VỊNH CHÙA THIÊN BỬU
Lưng trời xanh tán lá me ra
Tháp trổ rêu hoa nét tự già
Sứ trắng nghiêng mình bên cổng phụ
Ðào hồng tỏa bóng góc sân qua
Aâm vang tiếng mõ rung miền tục
Ngân vọng hồi chuông động giấc gà
Thiên Bửu xiển dương nguồn đạo pháp 
Lòng thanh tịnh vút chạm trời xa.
Ðiềm Ca

THÁP BỬU DƯƠNG
Nắng tắt nhìn lên tháp Bửu Dương
Xa xa ngọn núi lẫn mù sương
Cành me nhẹ nhẹ đưa theo gió
Bông gọa hăng hăng rụng cách đường
Lân phục ngoài thành đeo đạc ngửng
Rồng chầu trước cửa hóa mây nương
Ðâu đây từng tiếng chuông chùa vọng
Xao động trăng đồng quyện khói hương.
Ðiềm Ca

CHÙA THIÊN BỬU
Ba trăm năm trầm mặc phương Ðông
Tháp cổ, me già ôm mái cong
Lối gạch trăm hương nhòa xứ đạo
Chày kình một tiếng động tầng không
Dòng sông trong trẻo mây in bóng
Tán gạo tơ non ráng tụ đồng
Khách đã đi rồi chùa tĩnh lặng
Me vàng lả tả rớt bên song
Vinh Hồ

BÊN THÁP BỬU DƯƠNG
Chiều xuống ngồi bên tháp Bửu Dương
Bâng khuâng hoa điệp nở ven đường
Long chầu lân phục văn kinh pháp
Hạc nội mai vàng lẩn khói sương
Cây gạo bao năm rồi trút lá
Dòng sông một thoáng hiện vô thường
Về đâu trong vạn trùng sinh tử?
Cát vữa âm thầm đêm nhả hương.
Vinh Hồ

VI. KẾT LUẬN: 
Nhắc Huế, du khách nhớ sông Hương, núi Ngự, Lăng Tự Ðức, cửa Ngọ Môn, chùa Thiên Mụ, Tháp Phước Duyên v.v... Nhắc Ninh Hòa người ta cũng không quên sông Dinh, núi Vọng Phu, Lăng Bà Vú, Hòn Khói, Chùa Thiên Bửu, Tháp Bửu Dương v.v... 

Tháp Bửu Dương là một di tích cổ kính quý hiếm có giá trị về lịch sử và kiến trúc tuyệt vời được xây dựng từ thời Trịnh - Nguyễn, cách nay khoảng trên 238 năm.

Chùa Thiên Bửu trên 300 năm lịch sử đã trải qua những năm tháng u trầm. 

Năm1989 dân làng Ðiềm Tịnh đã đồng tâm hiệp lực kẻ của người công quyết chí trùng tu lại Ngôi Cổ Tự đã bị dột nát hư hại nặng nề, và sau đó cũng mạnh dạn tổ chức một ngày Giỗ Tổ Bửu Dương trọng thể sau mấy mươi năm trầm lặng. Dân làng áo khăn chỉnh tề lũ lượt về chùa từ sáng sớm, ai nấy đều lộ vẻ hân hoan trên nét mặt. Các Tăng Ni Phật tử từ khắp nơi trong huyện, tỉnh kể cả Ðà Lạt, Sài Gòn cũng về dự có tới năm, sáu trăm người. Hàng trăm xe gắn máy, hàng chục xe khách lớn nhỏ đậu chật cả khuôn viên chùa, tràn lên tới khu Mã Tháp làm cho các cụ già phải rơi lệ vì cảm động. Cảm động nhất là Lễ Viếng Tháp Bửu Dương! Ðoàn hành hương gồm cả chục vị Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức đi đầu mặc áo cà sa vàng, có hương hoa cờ lộng chiêng trống trang nghiêm, theo sau có hàng trăm nam nữ Phật tử xếp thành 2 hàng nối đuôi nhau hướng về Cổ Tháp. Khi đến Tháp, từng người chấp tay cung kính, khấn vái, dâng hương và đặt hoa lên bệ Tháp, rồi đi 1 vòng quanh Tháp... Tất cả đồng niệm: Nam Mô A Di Ðà Phật... râm ran vang động cả một vùng u tịch khói hương nghi ngút...

Dù cuộc đời có đổi thay, tình đời có vọng động, nhưng Chùa xưa, Tháp cũ vẫn còn đó, ấp ủ mối tình quê tình nước, là cội nguồn thâm sâu, là y uyên tịch tịnh trong tâm tưởng của những kẻ tha hương phiêu bạt muốn quay về:
 
Chùa xưa ấp ủ tình dân tộc
Tháp cũ u hoài cuộc bể dâu
Ly khách dừng chân trên bến vắng
Về đâu? Tóc bạc trắng giang đầu! 

TU VIỆN BÁT NHÃ

Viện Bát Nhã (Bảo Lộc, Lâm Đồng) là một công trình kiến trúc độc đáo, kết hợp với không gian thiên nhiên đẹp. Đây cũng là điểm tham quan mới của du lịch Đà Lạt. Ở Đà Lạt, ngoài Thiền viện Trúc Lâm, còn có một tu viện đẹp không kém đó là Tu viện Bát Nhã, ở thôn 10, xã Damb'ri, thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng

Tu viện Bát Nhã tọa lạc trên ngọn đồi có diện tích hơn 18 ha, cách thác Damb'ri khoảng 2km. Tử thị xã Bảo Lộc đi vào Tu viện là 16km . Tu viện xây dựng năm 1992 do thượng tọa Thích Đức Nghi khai sơn, đến năm 1998 hoàn thành.
Cảnh cổng tu viện
Nằm giữa không gian mênh mông, bạt ngàn đồi chè xanh thẳm, Tu viện Bát Nhã thoát hiện với gam mầu đỏ tươi, mái ngói cong vút nổi bật trên nền trời cao nguyên lộng gió. Ngắm nhìn tu viện từ xa, du khách có thể cảm nhận có một chút gì đó rất nhẹ nhàng, thanh bình đang len nhẹ vào tâm hồn. Sự nhẹ nhàng ấy được mang lại từ những chi tiết rất nhỏ của kiến trúc tu viện. Điểm đầu tiên là hàng rào bao quanh mặt trước tu viện. Hàng rào không xây bằng gạch mà được xếp bằng những tảng đá bôxít có gam mầu đỏ giống như mầu của đất đỏ bazan. Trên hàng rào cỏ mọc xanh như lụa, làm dịu đi sự thô cứng của đá. Bước vào cổng Tam Quan, du khách phải đi qua hơn một trăm bậc thang để vào sân tu viện.
Trước sân tu viện là bốn trụ cột xây cao vút giữa mênh mông mây trắng. Bên trái sân tu viện là một hồ nước rộng có hòn giả sơn rất đẹp. Chính giữa hồ nước là tượng Quan Thế Âm, cao 3,5m, nặng 2.500kg được đúc bằng xi-măng. Bên hông trái sân tu viện là vườn Lâm Tỳ Ni (nơi Đức Phật Đản sinh). Khu vườn được trang trí, phối cảnh rất công phu tỉ mỉ, kết hợp hài hòa giữa cảnh sắc thiên nhiên và nghệ thuật kiến trúc. Chánh điện tu viện dài 70m, rộng 45m, bên trong tôn trí tượng Phật Thích Ca cao 2,8m, nặng 1.200kg. Toàn bộ bàn thờ và cửa ra vào chánh điện làm bằng gỗ hương, được chạm khắc rất tinh vi.

Tu viện Bát Nhã là một công trình kiến trúc độc đáo mang mầu sắc Á Đông, có cảnh quan thiên nhiên rất đẹp. Đó thực sự là nơi du lịch tín ngưỡng của du khách từ nhiều nơi đến tham quan.

Đây là cảnh phía sau chùa, nơi có tới 3 cái thác nhỏ nhưng rất đẹp. Đặc biệt ở đây còn giữ được vẻ hoang sơ của núi rừng Tây Nguyên nên khá giống bạn đi lạc vào trong rừng vậy. Ngâm chân ở những con suối nước trong lành sẽ mang lại cho bạn cảm giác thoải mái, gần gũi với thiên nhiên.


Đây là cảnh rừng thông.
Còn một vài nơi trong tu viện mình chưa đi được hết nhưng nghe nói là rất đẹp. Hơn nữa, đến đây bạn có thể được nghe các sư giảng về lối sống, lối suy nghĩ để mang lại thanh thản cho tâm hồn. Hè 2008 tu viện bát nhã sẽ tổ chức 1 khóa tu (gọi là tu nhưng gần như là giảng về lối sống) thời gian chưa rõ. Bạn nào hứng thú có thể search để biết thêm chi tiết về tu viện này (Tu viện này được nhiều người phong cho  là chùa đẹp nhất miền Nam nhờ quang cảnh và kiến trúc tuyệt vời ở đây đấy)



Sưu tầm.

Không có nhận xét nào: