Lời tựa
Những cuốn
đầu trong loạt sách "Nước Mỹ trong các cuộc khủng
hoảng đã xuất hiện năm 1965, năm mà Lyndon Johnson lần
đầu tiên gửi lính chiến tới Việt Nam. Là người biên
tập loạt sách này, lúc ấy tôi không có dự định gì
về một cuốn sách về lịch sử của cuộc xung đột
Việt Nam. Khi cuộc chiến trở nên dữ dội trong những
năm sau đó, thật là khó để viết với sự đánh giá
không bị chi phối bởi những trúc cảm sâu sắc mà cuộc
xung đột đó đã gây ra tại Mỹ. Việc công bố Văn kiện
Lầu Năn góc năm 1971 đã làm lộ ra nhiều điều chưa
biết, lần đầu tiên các nhà sử học có thể tiếp cận
những tài liệu bí mật đó, nhưng cuộc luận chiến liên
tiếp về sự sáng suất của những cam kết của người
Mỹ đã ngăn cản những phân tích bình tĩnh và khách
quan. Khi Mỹ chấm dứt việc tham gia trực tiếp vào Việt
Na n năm 1973 cùng với chiến thắng cuối cùng của Bắc
Việt hai năm sau đó đưa cuộc chiến tới hồi kết, thì
người Mỹ đã phản ứng lại bằng cách cố xoá đi
những xung đột đáng buồn trong ký ức của họ. Tuy
nhiên, cuối thập niên 1 970, các nhà sử học đã bắt
đầu một sự đánh giá lại tuy có phần chậm chạp về
một phần tư thế kỷ của sự dính líu của người Mỹ
tại Việt Nam.
Goerge Herring đã dựa trên Văn kiện
Lầu Năm góc, một tài liệu công khai mới đây trong các
thư viện tổng thống, và rất nhiều bài báo, sách và
hồi ký về Việt Nam để đưa ra một sự đánh giá toàn
diện và Có Cân nhắc về vai trò của người Mỹ tại
Việt Nam từ năm 1950 đến năm 1975. ông đã miêu tả sinh
động sự tham gia của người Mỹ vào cuộc chiến ở
Việt Nam như là cực điểm đầy logic của chính sách
ngăn chặn - chính sách đã bắt đầu từ dưới thời
Harry Trumen vào cuối thập niên 1940.
Những chính
quyền kế tiếp chưa bao giờ đặt câu hỏi nghiêm túc về
sự thừa nhận lợi ích quốc gia của Mỹ trong việc đòi
hỏi Nam Việt Nam phải khước từ chủ nghĩa cộng sản.
Hậu quả là sự can thiệp từng bước, mà không thể
tránh được, vào một cuộc xung đột nội chiến. Đầu
tiên Mỹ theo đuổi việc duy trì sự kiểm soát của người
Pháp, rồi xây dựng và duy trì sự độc lập cho người
dân Nam Việt Nam, và cuối cùng không cho Bắc Việt chiến
thắng. Năm vị tổng thống đã phải vật lộn với thế
khó xử của Việt Nam mà không có một ai thành công, và
đối với hai người, Lyndon Johnson và Richard Nixon, những
nỗ lực đã hoá thành những thảm hoạ chính trị. Như
tác giả đã minh chứng xuyên suốt trong cuốn sách này,
không một người nào trong đó đã xem xét những tiền đề
cơ bản - tức là tầm quan trọng của Nam Việt Nam với
vị trí của Mỹ trên thế giới và khả năng đứng vững
của chính phủ Nam Việt Nam như một thực thể chính trị.
Thất bại cuối cùng tại Việt Nam, như Herring kết luận,
đã cho thấy những sai lầm cố hữu trong chính sách ngăn
chặn toàn cầu.
Robert A. Divinc
LỜI NÓI ĐẦU
Cuốn sách Cuộc chiến dài
ngày của nước Mỹ và Việt Nam đã được xuất bản
lần đầu tiên ngay sau khi cuộc xung đột Việt Nam kết
thúc. Nhiều công trình nghiên cứu quan trọng đã được
công bố kể từ đó và mặc dù tất cả các văn kiện
chính thức của Mỹ vẫn chưa được công bố rộng rãi
cho các học giả, nhưng cũng có những tài liệu mới quan
trọng được phát hành. Mục đích của lần xuất bản
thứ hai này là cập nhật cho cuốn sách những thông tin,
những giải thích và phát triển mới tại Mỹ, Đông Nam
Á, và thế giới kể từ khi chấm dứt cuộc chiến. Như
trong lần xuất bản đầu tiên, trọng tâm phân tích của
cuốn sách nằm ở phía Mỹ trong cuộc xung đột, nhưng
tôi đã cố gắng làm sâu sắc thêm những luận điểm
của mình về phim Việt Nam và đặc biệt là phía Bắc
Việt vai trò của Việt Cộng, nơi có nhiều phát hiện
mới đã xuất hiện trong những năm gần đây. Tôi cũng
mở rộng thêm phạm vi viết về phong trào phản đối
chống chiến tranh tại nước Mỹ và cố gắng giải thích
với sự chính xác hơn tác động của nó tới việc chỉ
đạo cuộc chiến, đây vốn là đề tài của rất nhiều
tác phẩm từ năm 1 975 và cũng là một chủ đề mà rất
nhiều các công trình nghiên cứu đến nay vẫn đang tiến
hành. Mặc dù "chủ nghĩa xét lại" đang nổi lên
trong những năm gần đây, nhưng luận điểm chính của
tôi không thay đổi. Tôi tin rằng, như tôi đã viết năm
1979, sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam dựa trên một
chính sách sai lầm về cơ bản ngay từ những tiền đề
và giả thuyết của nó. Tôi không cho rằng chiến tranh có
thể "thắng lợi" ở bất kỳ một khía cạnh có
ý nghĩa nào dù về giá trị vật chất hay là đạo lý mà
hầu hết người dân Mỹ dường như đã chấp nhận.
Rất
nhiều tổ chức và cá nhân đã trợ giúp tôi trong lần
sửa chữa này, và tôi Chỉ Có thể nêu ra có hạn tại
đây. Tôi biết ơn rất nhiều nhà phê bình và đồng
nghiệp, những người đã đưa ra nhiều nhận xét phê
bình có tính xây dựng cho lần xuất bản đầu tiên. Tôi
đặc biệt cảm ơn những đồng nghiệp đã đưa ra những
đề xuất chi tiết cho lần ấn bản thứ hai này, đó là
Richard H.
Immerman - Đại học Hawaii tại Manoa, Gary R.
Hess - Đại học Công lập Bowling Green và Stephen E. Pelze -
Đại học Massachusetts-Amherst. Tôi cũng gửi lời cảm ơn
trân trọng tới giáo sư Richard W. Leopold - Đại học
Nonhwesten vì những ủng hộ và khuyến khích của ông
nhiều năm qua cùng việc đọc ấn bản thứ nhất dưới
con mắt của một nhà phê bình sắc sảo.
Viện Lịch
sử Quân sự Mỹ và quỹ Lyndon Baines Johnson đã tài trợ
cho các chuyến đi tạo điều kiện thuận lợi cho những
nghiên cứu của tôi có liên quan tới mối quan tâm của
họ về Việt Nam.
Tại trại Carlisle-pensylvania,
Richard Sommers và David Keough đã có những hỗ trợ vô giá,
và tại Austin-Texas, David Humphrey đã tích cực giúp tôi
tìm được những tài liệu mới được tiết lộ tại
thư viện Johnson.
Tôi đã biết được nhiều hơn
những gì đã dạy trong những chuyên đề khác nhau
về Việt Nam mà tôi có may mắn tham gia trong mấy năm qua.
Tôi cảm ơn sự tài trợ của Trung tâm Quốc tế cho học
giả Woodrow Wilson, đại học Nam California, Trung tâm Lịch
sử quân sự, và đặc biệt là tiến sĩ Harry Wilmer và
viện nghiên cứu nhân loại tại Salado, Texas đã mời tôi
tham gia những cuộc trao đổi rất bổ ích. Tôi cũng mong
muốn gửi lời cảm ơn những sinh viên của tôi, cả
trước đây và hiện nay, vì những sự giúp đỡ của họ
và đặc biệt vì tình bạn của họ. Những ảnh hưởng
của họ hiện tại trong cuốn sách này còn nhiều hơn
những gì mà chú thích và thư mục tham khảo sẽ chỉ
ra.
Với Katie Vignery, David Follmer và Chrisopher J.
Roger, tôi xin gửi lời cảm ơn tới họ - những người
đã thúc đẩy tôi hiểu rõ nỗ lực này và một sự muộn
mằn nhưng không có nghĩa là thú nhận miền cưỡng rằng
việc sửa chữa được minh chứng và thực sự là cần
thiết.
Một lời cảm ơn rất đặc biệt dành cho
Carol Reardon, người đã đọc bản in thử và đã chuẩn
bị phần danh mục với sự khẩn trương và những giúp
đỡ vô giá trong việc sửa cuốn sách Lịch sử Ngoại
giao đã cho phép tôi hoàn thành bản sửa chữa này để
kịp thời hạn.
Goerge C. Herring Lexington, Kentucky
Tháng 9-1985.
CHƯƠNG I
MỘT NGÕ
CỤT ĐƯờNG CÙNG: MỸ, PHÁP VÀ CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG
DƯƠNG LẦN THỨ NHẤT (1950-1954)
Ngày 2-9-1945, khi tuyên bố
Việt Nam độc lập, thoát khỏi ách thống trị của thực
dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mượn lời Thomas
Jefferson để mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập "Tất
cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng.
Tạo
hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm - được;
trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự
do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Trong buổi lễ mừng
độc lập tại Hà Nội sau đó trong ngày, máy bay Mỹ lượn
chào trên bầu trời thành phố, trên kỳ đài một số sĩ
quan quân đội Mỹ đứng bên cạnh tướng Võ Nguyên Giáp
cùng nhiều vị lãnh đạo khác duyệt diễu binh và một
ban nhạc người Việt Nam chơi bài "Star-spangled Banner"
(Ngọn cờ đầy sao).
Gần kết thúc buổi lễ, tướng
Giáp đã nồng nhiệt nói về mối quan hệ đặc biệt mật
thiết" Việt - Mỹ và ông lưu ý, "đây là một
mối quan hệ thật thú vị"(l). Sau này người ta mới
thấy
----------------------------------------
(1) R.
Harris Smith. OSS: Lịch sử bí mật của Cơ quan tình báo Mỹ
đầu' tiên Delta Ed, New York, 1973, tr
354.
----------------------------------------
vai trò nổi bật của người Mỹ
vào lúc khai sinh ra nước Việt Nam hiện đại lại là một
trong những điều cay đắng nhất trong lịch sử nước
Mỹ. Cho dù đã nồng nhiệt thể hiện tình hữu nghị
ngay từ ngày 2-9-1945, nhưng Mỹ lại ngầm ủng hộ quân
đội Pháp quay trở lại Việt Nam, rồi sau đó, từ năm
1950 đến 1954. Mỹ đã chủ động hỗ trợ Pháp đàn áp
cách mạng Việt Nam. Đây là giai đoạn đầu trong cuộc
chiến đấu kéo dài một phần tư thế kỷ của người
Mỹ nhằm kiểm soát tình hình tại Việt Nam.
Cuộc
cách mạng của Việt Nam được tiến hành dưới sự lãnh
đạo sáng suốt của vị lãnh tụ giàu lòng yêu nước Hồ
Chí Minh. Sinh ra tại Nghệ An, cái nôi của các cuộc cách
mạng Việt Nam, vị lãnh tụ kiệt xuất này thừa hưởng
từ người cha - một nhà nho từ quan - lòng yêu nước
kiên trung cùng tinh thần xả thân vì nghiệp lớn. Rời
Việt Nam năm 1911, làm phụ bếp phục vụ trên một tàu
buôn nước ngoài, sau nhiều năm bôn ba, cuối cùng Người
đã dừng lại ở Pháp và năm 1919 cùng với một số
người Việt Nam yêu nước gửi đến Hội nghị Veseir bản
yêu sách đòi độc lập cho Việt Nam nhưng bị bác bỏ.
Sau đó, Người đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. Dưới
cái tên Nguyễn Ái Quốc, Người đã hoạt động cách
mạng hơn 20 năm ở Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan và Việt
Nam. Năm 1930, Người thành lập Đảng Cộng sản Đông
Dương góp phần khơi dậy phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc của Việt Nam.
Năm 1940, khi Hitler xâm chiếm
Pháp và Nhật Bản bắt đầu nam tiến hướng xuống Việt
Nam, Người đã trở lại quê hương. Với vóc người mảnh
dẻ, lịch thiệp luôn toát ra tình cảm ấm áp, Người
thực sự là một nhà tổ chức tài ba và đầy quyết tâm
cách mạng.
Trong một hang đá bên núi Các Mác và
suối Lê nin gần biên giới Trung Quốc, Người đã sáng
lập tổ chức chính trị Việt Minh và đề ra chiến lược
đánh đuổi thực dân Pháp khỏi Việt Nam. Trong lịch sử,
Việt Nam có truyền thống kiên cường chiến đấu chống
nhiều kẻ ngoại xâm, như Trung Quốc, Mông Cổ, và gần
nhất là Pháp. Hồ Chí Minh và các cán bộ Việt Minh đã
khơi dậy truyền thống yêu nước của nhân dân Việt
Nam, đưa họ đi theo con đường cách mạng và đề ra một
cương lĩnh rộng rãi, nhấn mạnh tới độc lập và những
cải cách dân chủ. Rút ra bài học về tầm quan trọng
của vùng nông thôn qua nhiều cuộc khởi nghĩa không thành
trong những năm 30, Việt Minh đã cẩn trọng xây dựng cơ
sở cách mạng vững chắc tại các tỉnh miền Bắc. Có
tính tổ chức và kỷ luật tốt hơn nhiều so với những
nhóm chủ nghĩa dân tộc đang tranh giành ảnh hưởng khác,
rất nhiều trong số đó đã phí phạm thời gian vào việc
xung đột lẫn nhau, Việt Minh đã thiết lập được hình
ảnh của mình như một đại diện tiêu biểu nhất cho
phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam
(l).
Việt Minh đã tận dụng được hoàn cảnh thuận
lợi duy nhất của Chiến tranh thế giới thứ 2 để phát
động cuộc cách mạng. Ban đầu, Nhật cho phép nhà cầm
quyền thực dân Pháp duy trì một quyền lực bù nhìn, rồi
sau đó, Nhật đảo chính pháp đã khiến cho Việt Nam rơi
vào ách "một cổ hai tròng". Những gánh nặng do
Nhật và bọn bù nhìn Pháp
----------------------------
(1)
Xem william J. Duiker. Con đường cộng sản giành quyền lực
tại Việl Nam. NXB Boulder, Colorado, 1981, tr.7-89 và Douglas
Pike, Lịch sử Chủ nghĩa Cộng sản Việt Nam, 1925-1976,
NXB Standford, Califomia. 1978, tr.15-54.
-----------------------
mang lại, cùng với nạn đói lan
tràn, đã làm bùng lên ngọn lửa căm phẫn của nhân dân
Việt Nam. Mùa xuân 1945. Hồ Chí Minh đã phát động được
phong trào quần chúng rộng rãi tại phía bắc Việt Nam,
và với sự trợ giúp của Võ Nguyên Giáp, một cựu giáo
sư lịch sử, đã xây dựng được một đội quân 5.000
người. Sau khi Nhật đảo chính Pháp tháng 3 - 1 945, Việt
Minh đã bắt đầu tiến hành đấu tranh có hệ thống.
Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh tháng 8-1945, Việt Minh đã
nhanh chóng chớp thời cơ, giành chính quyền trong cả
nước. Ngày 2-9, trong bộ đồ kaki bạc màu và đôi dép
cao su, những thứ sau này trở thành biểu tượng của
Người, Hồ Chí Minh trước đông đảo quần chúng nhân
dân đang nồng nhiệt reo mừng đã đọc lời Tuyên ngôn
độc lập cho đất nước Việt Nam (1).
Tuy nhiên,
Việt Nam đã không giành được độc lập một cách dễ
dàng, vì người Pháp đã quyết tâm trở lại kiểm soát
đất nước này một lần nữa. ý thức được vị trí
đang suy giảm của Pháp trên trường quốc tế, nhiều
chính trị gia nước này thấy rằng Pháp "chỉ có thể
là một siêu cường chừng nào quốc kỳ Pháp còn tiếp
tục tung bay trên các lãnh thổ nước ngoài"(2). Đông
Dương thuộc Pháp, bao gồm Campuchia, Lào và Bắc Kỳ,
Trung Kỳ và Nam Kỳ của
-----------------------------------
(1) Ellen Hammer: Cuộc chiếu đấu vì Đông Dương,
1940-/955, NXB Standford, Califomia, 1966, tr.11-53, tr.94-l05, và
John T. McAlister, Việt Nam: Căn nguyên của cách mạng. NXB
Ancnor, New York, 1971, toàn bộ tác phẩm.
(2) Jean-jeacques
Juglas trích trong Ronald E. Irving, Cuộc chiến Đông Dương
lần thứ nhất: Chính sách của Pháp và Mỹ, 1945-/954. Lon
don, 1975, tr.144.
--------------------------------
Việt Nam, nằm trong số những
vùng trù phú và có thanh thế nhất của Pháp. Do Việt
Minh chưa thể xác lập một cơ sở quyền lực vững mạnh
tại miền Nam Việt Nam, với sự giúp đỡ của lực lượng
quân Đồng Minh Anh, lực lượng được trao trách nhiệm
giải giáp quân Nhật từ phía Nam vĩ tuyến 17, người
Pháp đã tái lập quyền kiểm soát đối với phần phía
Nam Việt Nam.
Trong hơn một năm, Pháp và Việt Minh
đã cố gắng đàm phán một hiệp định nhưng không đạt
được kết quả vì mục đích của hai bên không thể hoà
hợp. Chính sách thuộc địa của thực dân Pháp luôn nhấn
mạnh tới sự đồng hoá, sự phụ thuộc hoàn toàn của
Việt Nam vào Pháp, chứ không chú trọng đến độc lập
hoặc địa vị tự trị, nên Pháp đã né tránh yêu cầu
trước tiên về quyền tự trị và sau cùng là đòi độc
lập của Việt Minh. Đối với Việt Minh, việc thống
nhất đất nước lại là khát vọng hàng thế kỷ của
cả dân tộc. Vì vậy các cuộc đàm phán kéo dài chẳng
đi đến đâu. Vào tháng 11 -1946, một tuần dương hạm
của Pháp đã nã pháo vào Hải Phòng giết hại 6.000
thường dân, sự việc này đã châm ngòi cho một cuộc
chiến mà ở nhiều cung bậc khác nhau, đã kéo dài tới
gần thập kỷ (1).
Trong cuộc chiến tranh thế giới
thứ hai, ban đầu Mỹ phản đối Pháp quay trở lại Đông
Dương. Thật ra đến trước năm 1941, Mỹ hầu như không
chú ý đến vùng này, nhưng rồi việc Nhật chiếm đóng
nơi đây đã khiến Mỹ nhận ra đó là nguồn cung cấp
lương thực và nguyên liệu thô quan trọng đồng thời là
một tiền đồn chiến lược bảo vệ các con
---------------------
(1) Hammerm. Cuộc đấu tranh vì
Đông Dương, tr. 148-202.
------------------------
đường thuỷ quan trọng trong khu
vực Nam Á. Một số quan chức Mỹ nhận thấy cách mạng
Việt Nam đã phát triển và lo ngại rằng những nỗ lực
của Pháp nhằm giành lại sự kiểm soát thuộc địa này
có thể làm nổ ra một cuộc chiến tranh lâu dài và đẫm
máu, dẫn tới sự bất ổn định ở một khu vực có tầm
quan trọng cả về kinh tế và chiến lược này.
Thậm
chí ngay cả khi Pháp thành công, nước này cũng sẽ tiếp
tục duy trì sự kiểm soát độc quyền khiến Mỹ không
thể với tới các nguồn nguyên liệu thô và cơ sở hải
quân trong khu vực. Tổng thống Franklin D. Roosevelt lúc đó
dường như đã nhận ra rằng, chủ nghĩa thực dân đã
tới ngày tận số và Mỹ phải liên kết với các lực
lượng theo chủ nghĩa dân tộc tại châu Á. Hơn thế,
Roosevelt hết sức không ưa Pháp cùng nhà lãnh đạo của
nước này, Charles dễ Gaulle, và coi Pháp là "kẻ thực
dân kém cỏi" đã "quản lý quá tồi" Đông
Dương và bóc lột nhân dân ở đó (1). Roosevelt vì thế
chủ trương đặt Đông Dương dưới quyền uỷ trị của
quốc tế như một bước chuẩn bị tiến tới trao trả
độc lập cho khu vực này.
Tuy nhiên đến năm 1945,
Roosevelt đã quay ngoắt lập trường kiên quyết trước đó
trong việc ủng hộ trao trả nền
---------------------------
(1) Edward R. Stettinius, Nhật ký ngày 17-3-1944. Edward
R. Stettinius, Văn kiện thư viện đại học Virginia,
Charlottesville, Va. Chi tiết về Roosevelt và Đông Dương,
xem Walter LaFeber. "Roosevelt, Churchill và Đông Dương".
1942-1945. Tạp chí Lịch sử nước Mỹ, số 80, tháng
12-1975, tr.1277-l295: Gary R. Hess, "Franklin D. Roosevelt và
Đông Dương", Tạp chí Lịch sử nước Mỹ, XLV, tháng
12- 1972, tr.353-368; và Christopher Thorne, "Đông Dương và
quan hệ Anh-Mỹ, 1942-/945". Tạp chí Lịch sử Thái
Bình Dương, số XLV, tháng 2-1976,
tr.73-96.
----------------------------
độc lập cho Đông Dương. Lo
ngại cho chính những thuộc địa của mình. nước Anh ra
sức phản đối kế hoạch uỷ trị của Mỹ và rất
nhiều cố vấn hàng đầu của Roosevelt đã đề nghị ông
ta không nên thúc giục thi hành kế hoạch này nhằm tránh
gây thù địch với một nước đồng minh quan trọng. Tại
Hội nghị Yalta tháng 2-1945, tổng thống Roosevelt đã hạ
giọng hơn trong chính sách của mình bằng cách tán thành
một đề xuất theo đó các thuộc địa có thể được
đặt dưới sự uỷ trị chỉ khi có sự chấp thuận của
mẫu quốc". Mà Pháp lại luôn bộc lộ ra ý đồ quay
trở lại thuộc địa cũ, nên kế hoạch này đã hoàn
toàn loại trừ một sự uỷ trị cho Đông Dương.
Sau
khi Roosevelt qua đời vào tháng 4-1945, Mỹ đã theo đuổi
một chính sách còn tạo thuận lợi hơn cho Pháp.
Harry
S. Truman không cùng chung mối quan tâm với người tiền
nhiệm của mình về vấn đề Đông Dương cũng như về
chủ nghĩa thực dân. Suy nghĩ của người Mỹ về một
thế giới hậu chiến cũng trải qua một sự tái định
hướng ghê gớm trong mùa xuân năm 1945. Các nhà chiến
lược quân sự và dân sự đã nhận thức rằng chiến
tranh thế giới thứ 2 đã khiến cho Liên Xô trở thành
một quốc gia hùng mạnh nhất ở châu Âu và châu Á, đồng
thời việc Liên Xô chinh phục Đông Âu đã dấy lên mối
lo ngại ngày một lớn rằng Joseph Stalin còn nung nấu
những kế hoạch to lớn hơn, có thể mang tầm cỡ toàn
cầu. Do ưu tiên hàng đầu cho việc củng cố các chính
phủ ổn định và thân thiện tại Tây Âu nhằm tạo dựng
một "con đê" chống lại sự bành trướng của
Liên Xô, chính quyền Truman đã đi đến kết luận rằng,
Mỹ "chẳng có lợi lộc gì" trong việc "đấu
tranh cho việc thực hiện kế hoạch uỷ trị quốc tế',
cái có thể làm suy yếu "các Nhà nước châu Âu,
những chính thể giúp Mỹ tạo thế cân bằng sức mạnh
với Liên Xô tại châu Âu và khiến họ xa lánh Mỹ (1).
pháp giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong kế
hoạch mới, nên Bộ Ngoại giao Mỹ nhất định muốn Mỹ
phải hàn gắn những vết rạn nứt nảy sinh dưới thời
Roosevrelt bằng cách hợp tác "toàn tâm" với Pháp
nhằm làm giảm thiểu "sự lo sợ của Pháp rằng
chúng ta đang muốn giành lãnh thổ này khỏi tay họ"
(2). Chính quyền Truman nhanh chóng loại bỏ những gì còn
lại trong kế hoạch uỷ trị của Roosevelt và đến mùa
hè năm 1945 đã cam kết chắc chắn với Charles de Gaulle
rằng Mỹ không cản trở Pháp khôi phục lại chủ quyền
tại Đồng Dương.
Mỹ quan sát sự bùng nổ của
cuộc chiến tại Đông Dương với tâm trạng đầy lo
ngại. Cùng với các cuộc cách mạng tại Mianma, Malaysia
và Indonesia, những biến động ở Việt Nam cho thấy rõ
sức mạnh và sự dễ bùng phát của chủ nghĩa dân tộc
tại khu vực Đông Nam Á. Việc Pháp ngoan cố theo đuổi
những mục tiêu thực dân lỗi thời dường như đã loại
trừ mọi giải pháp, trừ giải pháp quân sự, nhưng Vụ
Viễn Đông Bộ Ngoại giao Mỹ không tin Pháp có khả năng
dập tắt phong trào cách mạng bằng vũ lực và lo ngại
----------------------
(1) Văn phòng Vụ Chiến lược,
Những vấn đề và mục tiêu của Chính sách Mỹ",
ngày 2-4-1945, Văn kiện Harry S. Truman,Thư viện Harry S.
Truman, Độc lập, Mo., hồ sơ Rose Conway, hộp 15.
(2) Hồi
ký của James Dunn, ngày 23-4-1945. 851G.00/4-2345, lưu trữ văn
thư Bộ Ngoại giao Mỹ. Thư viện Quốc gia, Washington, D.C,
Xem George C. Herring, "Chính quyền Truman và sự khôi
phục lại chủ quyền của Pháp tại Đông Dương",
Tạp chí Lịch sử Ngoại giao, I (mùa xuân 1977),
tr.97-117.
---------------------
rằng sự thất bại của người
Pháp có thể làm mất đi ảnh hưởng của phương Tây ở
khu vực có tầm quan trọng cả về kinh tế và chiến lược
này. Các chuyên gia về châu Á thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ
đã khuyến cáo chính quyền Mỹ về những mối nguy hiểm
của việc câu kết với chủ nghĩa thực dân Pháp và thúc
ép Mỹ phải sử dụng ảnh hưởng của mình để buộc
Pháp phải dàn xếp với Việt Nam.
Tuy nhiên, những
m01 quan ngại của Mỹ tại châu Âu đã lấn át thái độ
hoài nghi của nước này đối với chính sách của Pháp
tại châu Á. Vào mùa xuân năm 1947, Mỹ đã chính thức
cam kết tiến hành ngăn chặn sự "bành trướng"
của Liên X0 tại Châu Âu. và trong suốt hai năm sau đó Mỹ
đặc biệt chú ý tới nước Pháp, nơi mà tình trạng
đình đốn về kinh tế và sự bất ổn định về chính
trị đã làm nảy sinh những mối lo ngại nghiêm trọng về
khả năng Cộng sản có thể chiếm quyền.
Được
cảnh báo bởi các chính trị gia ôn hoà của Pháp rằng
sự can thiệp bên ngoài vào các vấn đề thuộc địa có
thể làm lợi cho Đảng Cộng sản Pháp, Mỹ đã để mặc
cho Pháp tự giải quyết vấn đề Đông Dương theo cách
thức của nước này. Bộ Ngoại giao Mỹ đã kết luận:
"Lợi ích sống còn và trực tiếp" trong việc duy
trì "một chính phủ thân thiện để giúp thúc đẩy
các mục đích của chúng ta tại châu Âu phải được "ưu
tiên hơn so với các biện pháp tích cực tiến tới việc
thực hiện những mục tiêu của chúng ta tại Đông
Dương"(l).
Hơn thế, đầu năm 1947 chính quyền
Truman đã rút ra
-----------------------
(1) Bộ Ngoại
giao, "Tuyên bố chính sách về Đông Dương", ngày
27-9- 1948, trích trong: Bộ Ngoại giao, Quan hệ ngoại giao
của Mỹ, 1948 Washington D.C, 1974, VI. 48. Sau đây được dẫn
như là FR với ngày và quyển nêu trên.
----------------------
một số kết luận về phong trào
cách mạng Việt Nam và điều đó sẽ có tác dụng quyết
định tới chính sách của Mỹ tại Việt Nam trong vòng
hai thập kỷ sau đó. Trong nhiều dịp, Hồ Chí Minh đã
thể hiện thái độ thân thiện với Mỹ (1).
Các
nhà ngoại giao Mỹ tại Việt Nam khẳng định không tìm
thấy một bằng chứng nào cho thấy Liên Xô trực tiếp
quan hệ với Việt Minh, đồng thời nhấn mạnh rằng, về
mặt ý thức hệ, Hồ Chí Minh đã xây dựng hình ảnh bản
thân như một "biểu tượng của chủ nghĩa dân tộc
và của cuộc chiến đấu vì tự do trước đại đa số
nhân dân"(2). Nhưng những lý lẽ trên không thuyết
phục nổi một chính quyền đang ngày càng bị ám ảnh
bởi mối đe dọa của chủ nghĩa cộng sản tại châu Âu.
Các báo cáo tình báo nhấn mạnh rằng, trong suốt sự
nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn đặt lòng tin vào
Mátxcơva và việc chưa có mối quan hệ mật thiết với
Liên Xô đơn giản chỉ bởi vì Người được uỷ thác
thực hiện kế hoạch của Stalin mà không bị giám
sát.
Do thiếu những bằng chứng cho điều ngược
lại, nên Bộ Ngoại giao Mỹ đã cho rằng, Mỹ chỉ có
thể "kết luận rằng Hồ Chí Minh chịu sự chỉ đạo
của Mátcơva". Theo lời Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ
George C. Marshall, do không muốn thấy "các đế chế và
chính quyền thực dân được thay thế bằng các tư tưởng
và các thiết chế chính trị bắt nguồn từ điện
Kremlin", nên chính quyền Mỹ đã từ chối tiến
---------------------
(1) Robert Blum, "Hồ Chí
Minh và Mỹ, 1944-1946" trích trong: Quốc hội Mỹ, ủy
ban Quan hệ đối ngoại, Mỹ và Việt Nam: 1944-/947,
Washington, 1972, tr.13.
(2) "Chính sách và Thông cáo về
Đông Dương", tháng 7-1947, Hồ sơ Philippine và Đông
Nam Á, Phòng lưu trữ quốc gia, hộp 10.
------------------
hành bất kỳ một biện pháp nào
có thể tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa cộng
sản" giành thắng lợi tại Đông Dương (1).
Kết
quả là trong 3 năm đầu của cuộc chiến tranh Đông
Dương, Mỹ đã giữ một thái độ "trung lập"
nhưng ủng hộ Pháp rất rõ ràng. Chẳng muốn tự đặt
bản thân vào một vị thế khó xử là công khai ủng hộ
chủ nghĩa thực dân, chính quyền Truman đã bí mật trao
cho Pháp nhiều khoản viện trợ về tài chính và quân sự
(2). Hơn thế, các nguồn tài trợ thực tế khổng lồ của
Mỹ đưa ra trong Kế hoạch Marshall đã cho phép Pháp sử
dụng các nguồn lực của chính nước này để tiếp tục
theo đuổi cuộc chiến tại Đông Dương. Lo ngại trước
làn sóng phản đối của đồng minh châu Âu và sợ mang
tiếng là giúp đỡ cho Việt Minh dù là gián tiếp,
Washington không chịu thừa nhận đã nhận được lời kêu
gọi Mỹ ủng hộ của cụ Hồ và còn từ chối dùng ảnh
hưởng của mình để chấm dứt cuộc chiến hoặc đi đến
một giải pháp qua thương lượng.
Trước khả năng
Pháp thất bại, cùng lúc phe cộng sản giành thắng lợi
tại Trung Quốc, nên đầu năm 1950 Mỹ quyết định hỗ
trợ Pháp tại Đông Dương. Quyết định này đã đánh
dấu bước đầu tiên Mỹ dính líu trực tiếp vào cuộc
chiến tranh tại Việt Nam. Pháp phát động cuộc chiến
năm 1946 với niềm tin chắc chắn vào chiến thắng, nhưng
cụ Hồ đã dự đoán một cách chính xác về bản chất
và kết quả cuối
----------------------
(1) George
C. Marshall gửi Đại sứ quán Mỹ tại Paris, ngày 3-2-1947,
FR, năm 1947, VI, tr.67-68.
(2) George McT. Kahin, Quyền lực
và Sự thực: Sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. New
York, năm 1986, Chương I.
----------------------
cùng của cuộc xung đột. Người
nói: "Nếu mỗi khi con hổ (tức Việt Minh) dừng bước
thì con voi (tức Pháp) sẽ dùng đôi ngà dũng mãnh của
mình để đánh gục hổ. Nhưng con hổ sẽ không dừng
bước và con voi sẽ chết vì kiệt sức và mất máu"
(1). Việt Minh rút về vùng nông thôn tránh những cuộc
giao tranh lớn, huy động sự ủng hộ của quần chúng và
tập kích các tiền đồn của Pháp. Quân Pháp giữ các
thành phố và thị xã lớn, nhưng hàng loạt các cuộc tấn
công của Pháp vấp phải thất bại và phải trả giá
đắt, cùng nhiều vụ tấn công chớp nhoáng do du kích
Việt Minh tiến hành đã khiến Pháp ngày một hao kiệt
các nguồn nhân lực và vật lực đồng thời ngày một
tạo ra tâm trạng mệt mỏi vì chiến tranh ngay tại chính
nước Pháp. Sự sụp đổ của chính quyền Tưởng Giới
Thạch tại Trung Quốc năm 1949 và ưu tiên hướng nam của
quân đội Mao Trạch Đông đã báo hiệu khả năng cộng
tác giữa chính quyền cộng sản Trung Quốc với Việt
Minh. Từ cuối năm 1949, các quan chức Pháp đã đưa ra
nhiều nhãn gửi ngày một khẩn thiết rằng, nếu không
có sự giúp đỡ quân sự trực tiếp của Mỹ, họ sẽ
có thể bị buộc phải rút khỏi Đông Dương.
Những
khẩn cầu của Pháp được đưa ra vào một thời điểm
khi mà Washington, thực sự rơi vào tình trạng thất đảm
đang điên cuồng đánh giá lại chiến lược chiến tranh
lạnh toàn cầu của mình. Sự sụp đổ của Quốc dân
Đảng ở Trung Quốc và việc Liên Xô thử thành công vũ
khí hạt nhân đã khiến nhiều quan chức Mỹ tin rằng mối
đe dọa
---------------------
(1) Trích trong Jean
Lacouture, Hồ Chí Minh: Một tiểu sự chính trị, New York,
năm 1968, tr.171.
-----------------
của chủ nghĩa cộng sản đối
với Mỹ còn lớn hơn nhiều so với mối đe dọa của
khối Trục trước đó một thập kỷ từng gây ra. Đối
với Mỹ, mọi nghi ngờ về sự điều chỉnh chính sách
ngoại giao của Stalin đã được giải toả: Liên Xô,
"được cổ vũ bởi niềm tin cuồng tín", đã
quyết định áp đặt sự thống trị hoàn toàn lên phần
còn lại của thế giới"; những thành công gần đây
dường như đã đẩy các nhà lãnh đạo Liên Xô tới chỗ
tự tin và quyết tâm hơn, và trong con mắt của các nhà
hoạch định chính sách Mỹ, sự ảnh hưởng của chủ
nghĩa cộng sản đã thực sự đạt tới mức độ không
được phép vượt quá. Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ
báo động: Bất kỳ một sự "mở rộng thêm lãnh thổ
của điện Kremli sẽ dẫn đến khả năng không tập hợp
nổi một liên minh nào đủ mạnh để đối đầu với
Kremli" (1). Trong một thế giới được chia thành hai
khối thù địch với sự cân bằng quyền lực mong manh
cùng khả năng nổ ra chiến tranh thế giới tiếp theo,
chính quyền Truman đã bắt đầu triển khai các kế hoạch
tăng cường khả năng quân sự của Mỹ, nâng cao năng lực
quốc phòng của Tây Âu và mở rộng chính sách kiềm chế
tới tận vùng Viễn Đông.
Trong khuôn khổ những
biến chuyển chiến lược to lớn của năm 1950, việc Mỹ
ủng hộ Pháp tại Đông Dương được cho là cần thiết
đối với an ninh của Tây Âu. Những phí tổn khổng lồ
cho cuộc chiến chống Việt Minh đã làm chậm lại quá
trình hồi phục kinh tế của Pháp cũng như quá trình đạt
được mức độ ổn định chính trị cần thiết để
chống đỡ trước
---------------------
(1) NSC 68,
ngày 4-4-1950, in trong Tạp chí Naval War College, tháng 5 và
6-1975, tr.51-l08.
--------------------
mối đe dọa từ chủ nghĩa cộng
sản. Biết chắc rằng châu Âu lúc này trở nên dễ bị
tổn thất hơn bao giờ hết trước mối đe dọa từ Liên
Xô, các nhà hoạch định chính sách Mỹ trong đầu năm
1950 đã bắt đầu đề ra các kế hoạch xây dựng lực
lượng quân sự cần thiết để chống Liên Xô. Những đề
xuất sơ bộ ban đầu của họ là yêu cầu Pháp đóng góp
một số lượng quân khá lớn và bảo đảm tái vũ trang
Tây Đức, những biện pháp mà người Pháp rất có thể
phản đối. Chính quyền Truman do vậy lo sợ rằng nếu
như Mỹ không đáp ứng tích cực yêu cầu của đồng
minh xin trợ giúp tại Đông Dương, Pháp có thể không
chịu hợp tác với Mỹ thực hiện kế hoạch chiến lược
bảo vệ Tây Âu này.
Việc Mỹ sốt sắng ủng hộ
Pháp tại Đông Dương cũng phản ánh mối quan ngại đang
tăng dần của nước này về tương lai Đông Nam Á. Những
xung đột ác liệt tại Đông Dương và các cuộc nổi dậy
ở Miến Điện, Malaysia và Indonesia, tất cả đều xuất
phát từ căn nguyên bản xứ, nhưng trong một thế giới
dường như đã bị phân cực, sự tồn tại của những
cuộc cách mạng này và xu hướng tả khuynh của chúng đã
làm cho Mỹ tin rằng Đông Nam Á là "mục tiêu của
một cuộc tác chiến hiệp đồng do Kremlin chỉ đạo,,
Các nước thực dân châu Âu và những chính phủ mới độc
lập còn non trẻ và rất yếu ớt trong khu vực dường
như không đủ khả năng để chế ngự các cuộc cách
mạng, đồng thời sự hiện diện của một Trung Quốc
thù dịch ở phương Bắc càng làm mối đe dọa này trở
nên nguy hiểm gấp bội.
Sau khi Trung Hoa Dân quốc
sụp đổ, các nhà chiến lược Mỹ kết luận Đông Nam Á
có tầm quan trọng sống còn đối với an ninh của Mỹ.
Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ khuyến cáo: Nếu khu vực
này bị chủ nghĩa cộng sản kiểm soát, "chúng ta sẽ
phải gánh chịu một thất bại thảm hại về mặt chính
trị mà ảnh hưởng của nó sẽ lan tràn trên toàn thế
giới". Việc mất đi khu vực rộng lớn và đông dân
này có thể làm lệch cán cân lực lượng, đẩy Mỹ vào
thế hạ phong. Những thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản
gần đây đã thực sự dấy lên bầu không khí hoảng
loạn tại châu Âu, và do vậy một chiến thắng quan trọng
tiếp theo nữa có thể đẩy châu Âu ngả về phía Liên
Xô. Hậu quả kinh tế cũng không kém phần nghiêm trọng.
Mỹ và các đồng minh châu Âu có thể không thâm nhập
được vào những thị trường quan trọng này và châu Âu
sẽ mất đi phần lớn nguồn tài chính cần thiết nhằm
khôi phục lại nền kinh tế kiệt quệ của họ. Đông
Nam Á là nơi sản xuất cao su tự nhiên lớn nhất thế
giới và cũng có các nguồn tài nguyên quan trọng như dầu,
thiếc, vonfam, cùng rất nhiều hàng hoá chiến lược khác.
Nếu quyền kiểm soát những nguồn nguyên liệu thô cực
kỳ quan trọng đó bị đổi chủ, thì khối Xô-viết sẽ
được tăng cường sức mạnh lên rất nhiều, trong khi
phương Tây sẽ phải gánh chịu tổn thất to lớn.
Các
nhà hoạch định chính sách Mỹ cũng lo sợ rằng việc
mất đi vùng Đông Nam Á sẽ gây tổn thất không thể bù
đắp nổi đối với vị trí chiến lược của nước này
tại vùng Viễn Đông. Việc kiểm soát một loạt đảo
ngoài khơi trải dài từ Nhật Bản tới Philippines, tuyến
phòng thủ đầu tiên của Mỹ ở Thái Bình Dương, sẽ
gặp nguy hiểm. Đường hàng không và đường biển giữa
Australia và Trung Đông, Mỹ và ấn Độ có thể bị cắt
đứt, gây trở ngại nghiêm trọng cho các hoạt động
quân sự khi xảy ra chiến tranh. Nhật Bản, ấn Độ và
Australia, những quốc gia mà phương Tây văn duy trì được
ảnh hưởng vượt trội, sẽ bị tách khỏi nhau và lâm
vào tình trạng nguy hiểm.
Sự tác động tới Nhật
Bản, đồng minh Viễn Đông chủ yếu của Mỹ và cũng là
nền kinh tế thịnh vượng nhất tại khu vực này, sẽ
đặc biệt tai hại. Thậm chí trước khi Trung Hoa Dân Quốc
sụp đổ, Mỹ đã tích cực hoạt động để hoà nhập
Nhật Bản với Đông Nam Á, một vựa lúa và nguồn cung
nguyên liệu thô thiết yếu đồng thời cũng là thị
trường của Nhật. Sau khi Trung Hoa Dân Quốc hoàn toàn rơi
vào tay chủ nghĩa cộng sản, việc mất đi khu vực Đông
Nam Á sẽ khiến cho Nhật không còn lựa chọn nào khác
ngoài việc phải dung hoà với chủ nghĩa cộng sản ở
khu vực này. Mỹ do vậy đã nhanh chóng chuyển sang "bảo
vệ" một khu vực được cho là một "bộ phận
có tầm quan trọng sống còn" trong "đại vòng
cung" kiềm chế trải dài từ Nhật đến ấn Độ
(1).
Các quan chức Mỹ đã nhất trí rằng Đông
Dương, và đặc biệt là Việt Nam, là then chốt trong việc
phòng thủ ở Đông Nam Á. Việc Liên Xô công nhận Việt
Minh ngày 30-1-1950 đã xác nhận niềm tin của Chủ tịch
Hồ Chí Minh với Liên Xô và chủ nghĩa cộng sản. Đối
với Mỹ, đây là
-----------------------
(1) Hội
đồng An ninh Quốc gia 48/1, "Lập trường của Mỹ với
việc bảo vệ Châu Á", ngày 23-12-1949. Quốc hội Mỹ,
Hội đồng nghĩa vụ quân sự, Quan hệ Mỹ-Việt Nam
(1949-1967): Nghiên cứu được chuẩn bị bởi Bộ Quốc
phòng, Washington, năm 1971. Cuốn 8, tr.226-272. Sau đây được
trích là USVN. Michael Schaller "Bảo vệ Đại vầng
trăng lưỡi liềm: Nhật Bản và nguồn gốc của con đê
tại Đông Nam Á", Tạp chí Lịch sử nước Mỹ, số
69, tháng 12-1982, tr.392-413.
-----------------------------
một điềm xấu "nghiêm trọng
và đáng ngại" khi Stalin có ý định "thúc đẩy
tiến trình cách mạng" tại Đông Nam Á (1).
Quân
du kích được tổ chức tốt của Hồ Chủ tịch đã
giành được nhiều thắng lợi quan trọng trước quân đội
Pháp và với sự ủng hộ gia tăng mạnh mẽ từ Liên Xô
và Trung Quốc, Việt Nam có thể buộc Pháp phải rút quân.
Nếu vậy bức tường ngăn chặn quân sự cuối cùng giữa
Trung Quốc và phần còn lại của Đông Nam Á sẽ bị dỡ
bỏ. Bộ Ngoại giao Mỹ kết luận: Đông Dương đang nằm
trong "mối nguy hiểm sát sườn nhất", do đó "đây
là một khu vực có tầm quan trọng chiến lược nhất của
Đông Nam Á" (2).
Thực ra, Đông Dương được
xem là có tầm quan trọng vì có nguồn cung dồi dào nguyên
liệu thô, gạo, căn cứ hải quân, nhưng người ta còn
cho rằng khu vực này có tầm quan trọng lớn hơn nhiều
nếu xét dưới khía cạnh tác động của việc Đông
Dương thất thủ lên những khu vực khác.
Đầu năm
1950, các nhà hoạch định chính sách Mỹ đã đưa ra quan
niệm mà sau này mang tên "thuyết Đôminô", tức
là niềm tin rằng việc thất thủ của Đông Dương sẽ
dẫn tới sự sụp đổ kế tiếp nhanh chóng của các quốc
gia còn lại trong khu vực Đông Nam Á. Việc chấp nhận
khái niệm đó phản ánh số phận mong manh của khu vực
Đông Nam Á vào năm 1950, với kinh nghiệm rút ra từ Chiến
tranh thế
-----------------------
(1) Thông báo Bộ
Ngoại giao ngày 13-2-1950, 244; bị vong lục Charles Yort ngày
31-1-1959, FR 1950, VI, 710-711.
(2) Dean Rusk gửi James H.
Burns ngày 7-3-1950, Quốc hội Mỹ, Thượng viện, Tiểu ban
Công trình và Hạ tầng, Văn kiện Lầu năm góc (bản gửi
tới các thượng nghị sĩ) (4 quyển; Boston, 1971), I,
tr.363. Sau đây trích là Văn kiện Lầu Năm góc
(Gravel).
----------------------
giới thứ 2, khi mà chỉ trong
vòng 3 tháng Hitler đã giày xéo toàn bộ Tây Âu còn Nhật
thì chiếm được Đông Nam Á thậm chí trong thời gian
ngắn hơn. Được vận dụng lần đầu tiên để biện hộ
cho việc trợ giúp cho Hy Lạp năm 1947, ý tưởng này một
lần nữa được áp dụng với Đông Nam Á và đã nhanh
chóng trở thành một điều khoản cam kết. Mỹ tin chắc
nếu như Đông Dương thất thủ, phần còn lại của Đông
Nam Á sẽ bị đẩy vào tình trạng hiểm nghèo. Việc đánh
giá lại chiến lược của năm 1950 do đó đã chấm dứt
lập trường "trung lập" của Mỹ và vào đầu
tháng 3 đã dẫn đến một cam kết viện trợ quân sự và
kinh tế cho Pháp trong cuộc chiến tranh chống Việt Minh.
Việc làm này cũng xác lập những nguyên tắc quy định
cơ sở cho chính sách của Mỹ tại Việt Nam trong nhiều
năm tới và cuối cùng dẫn tới một sự dính líu với
quy mô lớn hơn.
Việc lập nên các chính phủ độc
lập dù chỉ trên danh nghĩa tại Đông Dương khiến cho Mỹ
hợp lý hoá hành động ủng hộ Pháp dễ dàng hơn. Không
thể đánh bại nổi Việt Minh về quân sự, Pháp mưu toan
hạn chế tác động về mặt chính trị của họ bằng
cách lập ra các chính phủ bản xứ tại Lào, Campuchia và
Việt Nam - chính phủ ở Việt Nam thì do cựu hoàng An nam
Bảo Đại đứng đầu - đồng thời cho các chính phủ
này được hưởng địa vị của những "nước tự
do" trong khối Liên hiệp Pháp. Nhiều quan chức Mỹ đã
hoài nghi về cái gọi là "giải pháp Bảo Đại",
cảnh báo rằng đó chỉ là màn hoả mù để Pháp tiếp
tục thống trị và cho rằng giải pháp này có rất ít cơ
hội thành công. Bộ Ngoại giao Mỹ thừa nhận những lập
luận trên là có trọng lượng, nhưng theo lời Bộ trưởng
Dean Acheson, dường như Bảo Đại là phương án lựa chọn
duy nhất để thoát khỏi "sự thống trị của cộng
sản tại Đông Dương" và mặc dù sự ủng hộ của
Mỹ không đảm bảo cho thành công của Bảo Đại, nhưng
nếu thiếu nó thì chắc chắn ông ta sẽ gặp thất bại
(1).
Tuy nhiên, bằng việc hậu thuẫn Bảo Đại, Mỹ
ít nhất sẽ tránh khỏi bị coi là kẻ tòng phạm của
chủ nghĩa đế quốc Pháp. Tháng 2-1950, chính quyền Truman
đã chính thức công nhận chính phủ của Bảo Đại và
các quốc gia "tự do" Lào và Campuchia, đồng thời
bắt đầu kế hoạch viện trợ kinh tế và kỹ thuật để
hỗ trợ cho chính quyền các nước này.
Nhìn lại
thì những giả thuyết làm cơ sở cho các nhà hoạch định
chính sách Mỹ trong những năm 1950 đều chứa đựng sai
lệch. Matxcơva không thúc đẩy các cuộc cách mạng của
Đông Nam Á. Liên Xô và Trung Quốc vào những thời điểm
đó đều ít có khả năng kiểm soát các cuộc cách mạng
này vì họ không đủ sức mạnh quân sự, nhất là sức
mạnh hải quân, đồng thời chủ nghĩa dân tộc địa
phương cũng có những cản trở đáng kể. Đánh giá của
Mỹ về hiện trạng của Việt Nam dường như rất sai
lầm. Là một nhà cộng sản hiến dâng cả đời mình cho
sự nghiệp cách mạng, nhưng cụ Hồ không phải là một
công cụ trong tay Liên Xô. Dù cụ Hồ sẵn sàng chấp nhận
sự giúp đỡ của các nước cộng sản lớn, nhưng cũng
không để cho nền độc lập của Việt Nam phụ thuộc
vào họ. Những lo ngại lịch sử của
----------------
(1) Dean Acheson gửi Đại sứ quán Mỹ tại Manila,
ngày 7-1-1950, FR, 1950, VI, tr.692; Garry R.Hess, "Cam kết
đầu tiên của người Mỹ tại Đông Dương: Việc chấp
nhận giải pháp Bảo Đại", Tạp chí Lịch sử Ngoại
giao, số 2, mùa thu năm 1978, tr.331-350.
------------------
Việt Nam về nước láng giềng
lớn phương bắc đã khiến cho việc quy phục Trung Quốc
chắc chắn không thể xảy ra (1).
Với việc ủng hộ
Pháp, dù dưới chiêu bài "giải pháp Bảo Đại, Mỹ
đã tự trói buộc mình với nguyên nhân thất bại.
Các
nhà hoạch định chính sách Mỹ không phải không nhận
thức được những khó khăn, nguy hiểm khi can thiệp vào
Đông Dương. Một chuyên gia về châu Á thuộc Bộ Ngoại
giao Mỹ cảnh báo: Nếu như Mỹ ủng hộ Bảo Đại và
rồi ông ta trở thành bù nhìn trong tay Pháp, "chúng ta
khi đó phải nhắm mắt đâm đầu vào một ngõ cụt không
lối thoát, phải chi tiêu các nguồn lực có giới hạn
của chúng ta... trong một trận chiến vô vọng"(2).
Một số quan chức Mỹ thậm chí còn mơ hồ nhận thấy
rằng. Mỹ có thể bị dính líu trực tiếp vào Việt
Nam.
Nhưng cam kết bước đầu có vẻ chỉ là hạn
chế và những mạo hiểm dường như là nhỏ hơn nếu
không hành động gì cả. Bị kẹt lại trong một cuộc
chiến toàn cầu như Chiến tranh thế giới thứ 2, với
việc Liên Xô thay thế vị trí của Đức ở châu Âu và
Trung Quốc thay thế vị trí của Nthật ở châu Á, các
quan chức Mỹ tin chắc rằng, nếu như Mỹ không ủng hộ
Pháp và Bảo Đại, thì có thể sẽ mất Đông Nam Á, điều
này khiến Mỹ phải đứng trước một lựa chọn đáng
sợ, nghĩa là hoặc "đầu tư lớn, vào để khắc
phục tổn thất hoặc lui về một tuyến phòng thủ "thu
hẹp hẳn" trong vòng Tây Thái Bình Dương
(3).
-------------------------------
(1) Trích từ
Lacouture, Hồ Chí Minh, tr.21, Carles Reed gửi Walton
Bulterworth. ngà, 14-4-1949, 851G.Oo/th00g 4-1949. hồ sơ lưu
goại giao. (3) Acheson gửi Truman. ngày 14-5-1950. Văn
kiện Truman, Hồ sơ mật, Robert M. Blum, Hoạch định đường
lối: Nguồn gốc chính sách ngăn chặn của Mỹ tại
Châu Á, New York, năm 1982,
tr.198-213.
------------------------------------
vào lúc mà Mỹ cam kết ủng hộ
Pháp, Việt Minh đã giành được thế chủ động về quân
sự tại Đông Dương. Lực lượng của cụ Hồ đã kiểm
soát được khoảng hai phần ba vùng nông thôn, với bộ
đội chính quy và quân du kích đã lên tới hàng trăm
nghìn người. Trung Quốc giúp họ xây dựng những căn cứ
an toàn bên kia biên giới cùng nhiều kho vũ khí lớn. Đầu
năm 1950, tự tin vào sức mạnh quân đội Việt Minh, tướng
Giáp bắt đầu phản công. Quân Pháp vẫn tiếp tục
kiểm soát các thành phố và các trung tâm sản xuất quan
trọng, nhưng cũng phải trả giá rất đắt, riêng năm
1949 có 1.000 quân thương vong mỗi tháng, tiêu tốn 167
triệu Francs vào cuộc chiến. Thậm chí ngay tại những
vùng do Pháp kiểm soát, Việt Minh đã gây kinh hoàng cho
quân Pháp. Một phóng viên mặt trận Mỹ phản ánh, tâm
lý sợ hãi đã bao trùm lên quân đội Pháp (1).
Chính
Bảo Đại đã thừa nhận một cách thảm hại rằng, giải
pháp Bảo Đại "chỉ là một giải pháp của người
Pháp" (2).
"Vị Hoàng đế tay chơi" mang
quá nhiều tai tiếng này trên thực tế là một nhân vật
đầy bi kịch. Gần như cả đời Bảo Đại chỉ là một
con rối trong tay Pháp và rồi sau đó là Nhật Bản. ông
ta phung phí thời gian vào những đam mê phù phiếm vô độ
như xe hơi đua, đàn bà và cờ bạc, thỏa thuận tháng
2-1950 khiến ông ta chẳng có gì nhiều để làm. Theo văn
kiện phức tạp dày 258 trang này thì Pháp vẫn tiếp tục
kiểm soát ngân khố, thương mại, chính sách đối ngoại
và
----------------------
(1) Tilman Durdin, "Cuộc
chiến khoogn vì đất đai mà vì con người", Thời báo
New York, ngày 28-5-1950, tr.48.
(2) Robert Shaplen, Cuộc cách
mạng bị thất bại: Mỹ tại Việt Nam, 1946 -1966. New
York, năm 1966, tr.64.
----------------------
quân sự của Việt Nam. Thậm chí
họ còn không chịu bàn giao cung điện Norodom ở Sài Gòn
làm trụ sở cho chính phủ bù nhìn Bảo Đại. Bản thân
chính quyền này chủ yếu bao gồm các điền chủ miền
Nam giàu có, nhiều người trong số họ mang tính cách của
người châu Âu hơn Việt Nam và không hề đại diện cho
nhân dân. Những người theo chủ nghĩa dân tộc có uy tín
thì từ chối ủng hộ Bảo Đại còn quần chúng nhân dân
hoặc ủng hộ kháng chiến hoặc giữ thái độ đứng
ngoài cuộc. Vị hoàng đế này có thể đã hy vọng trở
thành một nhà lãnh đạo, nhưng ông ta thiếu kinh nghiệm
và khí chất để làm được điều đó. Với cách sống
hướng nội cùng tính khí thất thường, lúc trầm cảm,
lúc biếng nhác, ông ta sống biệt lập tại một trong
những lâu đài hoặc ra nước ngoài ngao du trên chiếc du
thuyền trọng tải 600 tấn có máy điều hoà, hay trốn
tới vùng Riviera của Pháp, đồng thời cất giấu hàng
đống tiền trong những tài khoản riêng tại các ngân
hàng Thuỵ Sĩ (1).
Cuộc chiến tranh Triều Tiên nổ
ra vào mùa hè năm 1950 đã làm phức tạp thêm vấn đề
vốn đã khó khăn thực sự. Chính quyền Truman coi việc
"xâm lược" Nam Triều Tiên của Bắc Triều Tiên
như là một sự khẳng định mối nghi ngờ của nước
này rằng Liên Xô đang cố gắng xâm chiếm toàn bộ châu
Á, và ở vào thời điểm gay cấn của cuộc chiến, việc
phòng thủ Đông Dương thậm chí dường như có tầm quan
trọng lớn hơn trong con mắt của Mỹ.
---------------------------
(1) Heath gửi John Foster
Dulles, ngày 28-4-1953, FR, 1952-1954, XIII 523: Ellen Hammer, "Cuộc
thử nghiệm Bảo Đại", Tạp chí Các vân đề Thái
Bình Dương, số 23, tháng 3-1950,
tr.58.
---------------------------
Tuy nhiên, cuối năm đó, Mỹ và
Pháp đã phải chịu nhiều thất bại lớn. Việc Trung
Quốc can thiệp vào Triều Tiên đã buộc tướng Douglas
MacArthur phải vội vã rút khỏi sông Áp Lục. Cùng lúc
đó, tướng Giáp đã giáng cho Pháp một đòn chí tử,
"một thất bại trên xứ thuộc địa nặng nề nhất
kể từ khi Montcalm chết tại Quebec", bẫy toàn bộ
quân đội ở Cao Bằng tại Đông Bắc Việt Nam và gây
tổn thất cho Pháp hơn 6.000 lính và thu được trang thiết
bị đủ để cung cấp cho toàn bộ một sư đoàn của
Việt Minh (1). Sự can thiệp của Trung Quốc vào Triều
Tiên đã làm nảy sinh mối lo ngại về một cuộc điều
quân tương tự, ồ ạt, vượt qua biên giới vào Việt
Nam, do đó các nhà hoạch định chính sách Mỹ cũng ngày
một lo ngại rằng tư tưởng chủ bại đang lớn dần tại
Pháp có thể sẽ dẫn đến yêu sách đòi rút quân khỏi
Đông Dương.
Trong hoàn cảnh đang có sự thất bại
kinh hoàng ở Viễn Đông, chính quyền Truman đã rất cố
gắng xây dựng một chính sách khả thi đối với Đông
Dương. Do Mỹ đã đưa một số lượng lớn quân vào
Triều Tiên và châu Âu, nên hội đồng tham mưu trưởng
liên quân Mỹ đã thống nhất rằng thậm chí nếu Trung
Quốc có xâm lược Đông Dương, Mỹ cũng không thể đưa
lực lượng quân sự vào Đông Dương để phòng thủ.
Pháp phải chịu trách nhiệm chính trong cuộc chiến tranh
này. Do tin chắc hơn bao giờ hết rằng Đông Dương thực
sự quan trọng đối với an ninh của Mỹ, nên chính quyền
Mỹ buộc phải dùng viện trợ quân sự để củng
--------------------------------
(1) Bemard Fall, Đường
phố không chút hân hoan, New York, năm 1972, tr.33
----------------------------------
cố các hệ thống phòng thủ của
Pháp. Đến cuối năm 1950, Mỹ đã viện trợ cho quân Pháp
ở Đông Dương 133 triệu USD cùng một số lượng lớn vũ
khí và quân trang quân dụng, tàu thuyền, máy bay và xe
quân sự.
Tuy vậy, đa số người Mỹ đều tán
thành rằng chỉ riêng các trang bị quân sự là chưa đủ.
Vào đầu tháng 5, Acheson đã phàn nàn là người Pháp
dường như "bị tê liệt, trong một trạng thái không
tiến cũng chẳng lùi", và một phái đoàn tìm hiểu
thực tế đã được cử tới Đông Dương trước cả khi
thảm bại ở Cao Bằng càng củng cố hơn những mối lo
ngại của ông ta (1). Các quan sát viên Mỹ đã báo cáo
rằng trạng thái tinh thần của Pháp là "trì độn
thậm chí là nguy hiểm" và cảnh báo rằng nếu Pháp
không theo đuổi cuộc chiến với quyết tâm lớn hơn,
không tận dụng hiệu quả hơn các nguồn nhân lực bản
xứ, không hành động táo bạo và không tranh thủ lôi kéo
được người Việt Nam, thì Mỹ và ông bạn đồng minh
này có thể "rơi vào một thảm bại mà không nước
nào trong chúng ta có thể đủ sức chịu đựng"(2).
Hội
đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ đã đề nghị Mỹ
cần đặt điều kiện là sẽ viện trợ quân sự nếu
như Pháp hứa sẽ có những biện pháp quyết liệt, bao
gồm cả lời hứa cuối cùng sẽ trao trả độc lập cho
chính quyền bản xứ.
Chính quyền Mỹ đã rất thận
trọng khi giải quyết vấn đề này. Acheson đã thừa nhận
nếu như Mỹ ủng hộ "những
---------------
(1)
Vài phút gặp gỡ, Hội đồng An ninh Quốc gia, ngày 4-4-
1950, Văn kiện Truman, hồ sơ thư ký Tổng thống.
(2)
Báo cáo Phái bộ Melby, ngày 6-8-1950, VI, tr.843-844; Bị vong
lục nhân viên hoạch định chính sách, ngày 16-8-1950, sách
đã dẫn, tr.857-858
----------------------------------
quan điểm thực dân kiểu cũ của
Pháp, nước này có thể "mất tất cả". Nhưng
ông ta nhanh chóng bổ sung, sự hiện diện của người
Pháp là điều cần thiết để bảo vệ Đông Dương chống
chủ nghĩa cộng sản và Mỹ không thể ép buộc đến mức
Pháp phải thốt lên: "Được thôi, hãy tiếp quản
đất nước chết tiệt này đi. Chúng tôi hết muốn nó
rồi".
Acheson thừa nhận sự không nhất quán
trong chính sách của Mỹ và kết luận rằng, lựa chọn
duy nhất là khuyến khích Pháp tiếp tục ở lại cho tới
khi cuộc khủng hoảng dịu đi, đồng thời thuyết phục
họ "bắt tay" với phong trào chủ nghĩa dân tộc
và trao cho Bảo Đại một cơ hội thực sự để lôi kéo
những nhân vật theo chủ nghĩa dân tộc về phía ông
ta"(1). Do không chấp nhận mọi hình thức gây áp lực,
nên chính quyền Mỹ chỉ có cách cố nhẹ nhàng thuyết
phục Pháp nhượng bộ tượng trưng và xây dựng một
quân đội người Việt. Cùng lúc đó, Bộ Ngoại giao Mỹ
có thể thúc đẩy Bảo Đại thực hiện quyền lãnh đạo
hiệu quả dưới sự bảo hộ của Pháp.(2) Để tăng
cường sức mạnh cho các chính phủ Đông Dương và tranh
thủ quần chúng cho những chính phủ này, Mỹ đã đề ra
một chương trình viện trợ kinh tế và kỹ thuật trong
năm 1950 và trong 2 năm sau đó đã chi hơn 50 triệu USD cho
nhiều dự án. Các chuyên gia Mỹ cung cấp phân bón, hạt
giống để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, xây
-----------------
(1) Quốc hội Mỹ, Thượng viện,
Tình hình Thế giới: 1949-1950 Điều trần trong phiên họp
kín trước Uỷ ban Đối ngoại, Washington, D.C, năm 1974, tr
266-268, tr.292-193.
(2) Livingston Merchant gửi Dean Rusk, ngày
19-10-1950, FR, 1950, VI, tr.901-902.
-----------------
dựng bệnh xá và cấp phát thuốc
men, phát triển các chương trình kiểm soát bệnh sốt
rét, và phân phát lương thực và quần áo cho dân tị
nạn. Nhằm đảm bảo chương trình này sẽ đạt được
các mục tiêu đề ra, Mỹ yêu cầu các khoản viện trợ
phải trao trực tiếp cho chính phủ bản xứ chứ không
phải là thông qua Pháp. Và để bảo đảm tuyên truyền
đạt hiệu quả tối đa, các quan chức viện trợ "đầy
nhiệt tâm" Mỹ đã thực hiện chiến thuật dán áp
phích lên tường các chùa chiền và thả truyền đơn
xuống các làng xã nói rõ chương trình này là quà tặng
của Mỹ nhằm lấn át các hoạt động dân vận của Việt
Minh(1).
Chính sách của Truman chỉ đem lại những
kết quả hạn chế. Hy vọng về một thắng lợi vẻ vang
đã được hồi sinh bởi triển vọng của việc viện trợ
quy mô lớn từ Mỹ, Pháp trong cuối những năm 1950 đã bổ
nhiệm Jean de Lattre de Tassigny, một kẻ khoa trương, làm
chỉ huy các lực lượng vũ trang Pháp tại Đông Dương và
chỉ thị cho ông ta tiến hành mạnh mẽ cuộc chiến
tranh. Là một lính viễn chinh bẩm sinh và là người thực
hành cái mà ông ta gọi là thuyết động lực, De Lattre
huyênh hoang tuyên bố ngay khi đến
--------------------
(1) cơ quan hỗ trợ An ninh, Múi giờ Sài Gòn - Cuộc
chiến tranh thầm lặng của chúng ta tại Đông Dương,
Washington, D.C, năm 1952. Cơ quan thông tin Mỹ thậm chí còn
chuẩn bị một ấn bản tiếng Việt cuốn Sơ lược về
Lịch sử Mỹ với phần giới thiệu của tổng thống
Truman bày tỏ hy vọng rằng "gỉải thích, tường
thuật về tiến trình của người dân Mỹ hướng tới
một xã hội hạnh phúc và công bằng có thể là một sự
truyền cảm hứng cho những người dân Việt Nam những
người hôm nay biết về một vài những khó khăn tương
tự khi họ xây dựng một quốc gia mới". Roger Tubby
gửi Joseph Short, ngày 8-3-1951, Văn kiện Truman, Hồ sơ
chính thức 203-F.
--------------------
Việt Nam rằng ông ta sẽ giành
được chiến thắng chỉ trong vòng 15 tháng. Và dưới sự
lãnh đạo của ông ta, quân đội Pháp có đẩy lùi được
một trận tấn công của Việt Minh ở đồng bằng sông
Hồng đầu năm 1951. Nhưng khi De Lattre định phát huy thắng
lợi bằng cách tấn công một số cứ điểm của Việt
Minh ngay phía nam Hà Nội, quân Pháp đã phải hứng chịu
những thiệt hại tồi tệ nhất trong cuộc chiến. Đầu
năm 1952, De Lattre bị chết vì ung thư và vị thế quân sự
của Pháp-lúc này trở nên khó khăn hơn khi ông ta đến
Việt Nam.
Có rất ít những tiến triển ở những
lĩnh vực khác. Do thiếu nhân lực trầm trọng, Pháp cuối
cùng đã miễn cưỡng trang bị vũ trang cho người Việt
Nam và De Lattre đã có nhiều nỗ lực kiên quyết để
thành lập nên "Quân đội Quốc gia Việt Nam".
Nhưng khá dễ hiểu là người Việt không muốn chiến đấu
cho sự nghiệp của Pháp, nên đến cuối năm 1951, Quân
đội Quốc gia Việt Nam mới có quân số chỉ khoảng
38.000 người, thấp hơn nhiều so với mức dự kiến là
115.000 người. Đáp lại lời khẩn cầu của Mỹ, Pháp
hứa hẹn qua quýt sẽ "hoàn thiện" nền độc lập
của các nước trong khối Liên hiệp, nhưng việc Mỹ ồ
ạt đổ hàng viện trợ và chiến thắng đến sớm của
De Lattre dường như đã khiến họ không thấy cấp thiết
phải có những nhượng bộ thực sự.
Pháp không
muốn chiến đấu vì nền độc lập của Việt Nam và
không bao giờ nghiêm túc xem xét đến một nhượng bộ
duy nhất có thể thỏa mãn nguyện vọng của dân tộc
Việt Nam. Pháp chuyển giao cho các chính phủ bản xứ thêm
một số trách nhiệm, nhưng vẫn duy từ một ảnh hưởng
quyết định đối với các chính phủ vốn không có thực
quyền cũng như không có sự ủng hộ của quần chúng
này.
Đến năm 1952, Mỹ đã gánh vác tới gần một
phần ba chi phí của cuộc chiến, nhưng nước này vẫn
không hài lòng với những kết quả đạt được và cảm
thấy rằng bản thân Mỹ chẳng có chút ảnh hưởng nào
đối với chính sách quân sự của người Pháp. Ngay từ
năm 1950, một phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự
Mỹ (MAAG) đã được điều sang Việt Nam để thẩm tra
những đề nghị viện trợ của Pháp, giúp huấn luyện
binh lính người Việt và cố vấn về mặt chiến lược.
Tuy nhiên, bằng việc tới trực tiếp Washington để xin xỏ
tất cả những gì mà mình muốn, De Lattre đã khiến cho
lực lượng MAAG thực sự bị vô hiệu hoá. Với tính
cách kiêu ngạo, nhạy cảm và rất dân tộc chủ nghĩa,
ông ta phớt lờ "các nhà cố vấn" Mỹ trong việc
hoạch định chiến lược, không cho họ giữ bất kỳ một
vai trò gì trong việc huấn luyện binh lính người Việt
và thậm chí còn khước từ cung cấp thông tin cho họ về
các hoạt động hiện tại cũng như kế hoạch tương lai
của mình (1).
Hết sức nghi ngờ về sự xâm nhập
của người Mỹ vào lãnh địa của mình, Pháp công khai
bày tỏ sự thù ghét đối với chương trình viện trợ
và tìm cách ngăn cản việc thực hiện chương trình đó.
De Lattre đã cay đắng than phiền rằng, vô số người Mỹ
ở Việt Nam chi tiêu quá nhiều tiền bạc và chương trình
viện trợ của người Mỹ đang làm cho Pháp "trông
giống như một người anh em nghèo khó trong mắt người
Việt Nam", và rằng người Mỹ đang
---------------------------
(1) Ronald H. Spector, Cố
vấn và ủng hộ: Những năm đầu 1941 -1960, Washington,
D.C, tr.115-121.
---------------------
"thổi bùng lên ngọn lửa
chủ nghĩa dân tộc cực đoan".
Các quan chức
Pháp cố tình cản trở những dự án không đóng góp trực
tiếp cho cuộc chiến và khuyến khích sự ngờ vực của
người Việt Nam đối với Mỹ bằng việc cảnh báo rằng
trợ giúp của người Mỹ chứa đựng những "cạm
bẫy ngầm" phá hoại "nền độc lập" của
họ. Kết quả là với chủ trương phá rối của Pháp,
chương trình viện trợ đã chỉ tới được một số
lượng nhỏ người dân. Các quan chức Mỹ đã thừa nhận
rằng "những kết quả tâm lý có lợi phần lớn bị
phủ nhận bởi Mỹ cùng lúc đó đang theo đuổi một
chương trình viện trợ cho Pháp. Người Mỹ bị xem như
"là một kẻ ủng hộ chủ nghĩa thực dân hơn là
người bạn của một quốc gia mới"(1).
Trong
khi chống đối quyết liệt ảnh hưởng của Mỹ ở Đông
Dương, Pháp vẫn đề nghị Mỹ viện trợ quân sự lớn
hơn và mở rộng cam kết. Vốn đã vấp phải mối đe dọa
sụp đổ cả về quân sự và chính trị tại Đông Dương,
Pháp càng lo ngại khi những cố gắng đàm phán chấm dứt
cuộc chiến tại Triều Tiên của Mỹ làm tăng dần khả
năng rằng quân đội Trung Quốc có thể rảnh tay tràn
xuống phương Nam. Đầu năm 1952, Pháp liên tục thúc ép
Mỹ tăng cường viện trợ quân sự, thực hiện dàn xếp
một thỏa thuận an ninh tập thể để bảo vệ Đông Nam
Á, và thực hiện cam kết bảo đảm chuẩn bị cho các
lực lượng chiến đấu Mỹ vào khu vực này nếu như
quân đội Trung Quốc vượt biên giới vào Việt
Nam.
--------------
(1) Shaplen, Cuộc cách mạng thất
bại, tr86-89, Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn gửi tới Bộ
trưởng Ngoại giao, ngày 15-5-1951, FR, 1951, VI,
tr.419.
-----------------------
Washington cực kỳ thận trọng
đối với việc mở rộng cam kết. Đề xuất về một
thỏa thuận an ninh tập thể dường như là cái bẫy hòng
lôi kéo Mỹ lao sâu hơn vào cuộc xung đột nên chính
quyền Truman ngay lập tức đã bác bỏ đề xuất đó.
Acheson sau này kể lại, đường lối đó là "ở một
số nơi như châu âu và NATO, chúng tôi có một trách nhiệm
chung. Còn ở các nơi khác, nước này hay nước kia phải
giữ vai trò tiên phong" (1). Mỹ cũng từ chối cam kết
điều bộ binh vào Đông Dương trong bất kỳ tình huống
nào. Chính quyền Mỹ từng khởi động một chương trình
hiện đại hoá vũ khí có quy mô lớn, nhưng tiến trình
thực hiện chương trình đó đã bị chậm lại do cuộc
chiến tranh tại Triều Tiên, nên Hội đồng An ninh Quốc
gia Mỹ kết luận rằng, nước này đang phải đứng trước
"một mối đe dọa liên tục của một cuộc chiến
toàn cầu, cũng như là các vụ xâm lược cục bộ trong
một bối cảnh không đủ sức mạnh quân sự tương
xứng"(2). Sự bế tắc kéo dài và hao tống tiền của
tại Triều Tiên đã gây ra một tâm trạng vô cùng thất
vọng trong dân chúng Mỹ và làm cho những khó khăn của
việc chiến đấu trong một cuộc chiến trên bộ tại
châu Á trở nên hết sức rõ ràng. Acheson nhận xét, "thật
là vô ích và sai lầm để bảo vệ Đông Dương ngay tại
Đông Dương. Chúng ta không thể
------------------
(1)
Bộ trưởng Acheson, chuyên đề Princeton", ngày
14-3-1954, Văn kiện Bộ trưởng Acheson, Thư viện Harry S.
Truman, Độc lập, Mo, hộp 66. Xem phòng thủ Đông Nam Á",
ngày 2-1-1952, Văn kiện Truman, hồ sơ thư ký Tổng thống,
các cuộc gặp giữa Churchill-Truman, hộp 116.
(2) Nghiên
cứu của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân ngày
20-12- 1951, Văn kiện Truman, hồ sơ thư ký tổng thống,
hộp 216.
-------------
để xảy ra một Triều Tiên thứ
hai, và chúng ta không thể đưa bộ binh vào Đông Dương"
(1).
Tuy nhiên, chính quyền Mỹ chưa sẵn sàng bỏ
rơi Pháp.
Đầu năm 1952, thuyết Đôminô trở thành
một nguyên tắc quan trọng trong chính sách đối ngoại
của Mỹ Các nhà hoạch định chính sách Mỹ thống nhất
răng Đông Nam Á không thể được phép rơi vào tay của
chủ nghĩa cộng sản và rằng một sự hiện diện tiếp
tục của Pháp tại Đông Dương là cần thiết bảo vệ
khu vực trọng yếu này (2). Cho rằng mối đe dọa đối
với Đông Dương đã gia tăng kể từ năm 1950, và sợ
rằng Pháp có thể rút khỏi nếu như những yêu cầu của
họ không được đáp ứng, chính quyền Mỹ trong tháng
6-1952 đã phê chuẩn một khoản viện trợ quân sự bổ
sung trị giá 150 triệu USD cho Pháp. Tiến một bước vượt
xa so với cam kết của mình năm 1950, Hội đồng An ninh
Quốc gia nhất trí rằng, nếu như Trung Quốc can thiệp
trực tiếp vào cuộc chiến, Mỹ sẽ gửi các đơn vị
hải quân và không quân tới bảo vệ Đông Dương và sẽ
phải cân nhắc khả năng hoạt động không quân và hải
quân chống lại chính Trung Quốc(3).
Mặc dù không
hoàn toàn thỏa mãn với hoạt động của Pháp trong cuộc
chiến Đông Dương và bất bình sâu sắc
-----------------
(1) Bị vong lục Acheson, ngày 17-6-1952, Văn kiện Lần
Năm góc (Gravel), I, tr.381.
(2) Hội đồng An ninh Quốc
gia, ngày 24-6-1952, hiệp ước Thái Bình Dương", ngày
2-1-1952, Văn kiện Truman, hồ sơ thư ký Tổng thống, các
cuộc gặp Churchill-Truman, hộp 116.
(3) Hội đồng An
ninh Quốc gia, 124/2, ngày 25-6-1952, Văn kiện Lầu năm góc
(Gravel), I, tr.385-386.
----------------
trước thái độ giữ bí mật và
chủ trương phá rối của nước này, nhưng chính quyền
Truman cũng không đưa ra bất kỳ điều kiện ràng buộc
nào cho những cam kết mới của mình.
Bộ Quốc
phòng Mỹ yêu cầu chính quyền Mỹ dùng ảnh hưởng của
mình để buộc Pháp phải thực hiện một "chương
trình mạnh mẽ nhằm cải thiện tích cực tình hình quán
sự và chính trị". Tuy nhiên Bộ Ngoại giao Mỹ lại
lo ngại rằng nếu như chính quyền Mỹ "gây áp lực
quá mạnh cho người Pháp, họ sẽ rút khỏi hoặc để
mặc chúng ta giữ lấy khu vực non nớt này (1)".
Chính sách Đông Dương của Mỹ tiếp tục là con tin của
chính sách của nước này ở châu âu, một khu vực mà
Truman và Acheson giành cho ưu tiên cao nhất. Từ năm 1951,
Mỹ liên tục gây áp lực thúc ép đồng minh tán thành
một cộng đồng phòng thủ châu âu, một kế hoạch hợp
nhất quân đội Pháp và Đức thành một quân đội đa
quốc gia mà Pháp từng đề xuất để cản trở hoạt
động tái vũ trang của Đức Pháp liên tiếp thông báo
rằng họ không thể cung cấp các lực lượng bảo vệ
châu âu mà không có sự ủng hộ hào phóng của Mỹ tại
Đông Dương, một thủ đoạn mà Acheson đã mô tả chính
xác là một kiểu "làm tiền". Cộng đồng phòng
thủ châu âu cũng đã trở thành một chủ đề tranh luận
chính trị phức tạp tại Pháp, nơi mà những quan điểm
theo chủ nghĩa dân tộc phản đối mạnh mẽ việc từ bỏ
bản sắc quân đội Pháp cùng việc cộng tác với một
kẻ thù cũ.
Acheson sau đó hồi tưởng, khi vấn đề
này vẫn còn nằm
----------------
(1) Trích lừ
John M. Allison, Đại sứ từ thảo nguyên, hoặc Thế giới
kỳ diệu Allison, New York, năm 1976, tr.191, 194.
--------------
chờ Quốc hội Pháp phê chuẩn,
không có ai dám "khuyên bảo nghiêm túc" rằng việc
chấm dứt hoặc đe dọa chấm dứt viện trợ cho Đông
Dương là khôn ngoan trừ phi Mỹ thực hiện kế hoạch cải
cách quân sự và chính trị" (1). Tháng 6- 1952, chính
sách quan trọng về Đông Dương của Hội đồng An ninh
Quốc gia Mỹ chỉ dừng lại ở một tuyên bố rằng Mỹ
nên sử dụng "ảnh hưởng để thúc đẩy các chính
sách chính trị, quân sự, kinh tế và xã hội tích
cực..."(2) - Trong nửa cuối năm 1952, Acheson đã có
một nỗ lực phối hợp để phá vỡ việc giữ bí mật
của Pháp. Ngoại trưởng Mỹ thẳng thừng thông báo với
các quan chức Pháp vào tháng 7 rằng, vì Mỹ đang chi trả
khoảng một phần ba chi phí chiến tranh, nên không thể là
"bất hợp lý" nếu nước này được biết những
thông tin chi tiết về diễn biến của cuộc chiến.
Acheson sau đó kể lại, Pháp không phản đối, nhưng "kết
quả chẳng có gì nhiều". Sau một phiên họp gay gắt
và kéo dài của Hội đồng các ngoại trưởng tại Paris
vào tháng 12, Pháp một lần nữa nhắc lại yêu cầu xin
viện trợ quân sự. Acheson kể lại, "lúc đó do mệt,
đói và bực mình, tôi đã không giữ được kiên nhẫn
nữa". Rồi ông ta phàn nàn rằng, Mỹ đã "hoàn
toàn không thỏa mãn" với những thông tin họ nhận
được và cảnh cáo rằng "tình hình này cần được
khắc phục. Chúng ta phải biết đích xác tình hình đang
diễn ra thế nào và cái gì chúng ta đang tiến hành mỗi
khi chúng
-----------------
(1) Bộ trưởng G.
Acheson, Món quà tạo hoá, New York, năm 1969, tr.676.
(2)
Hội đồng An ninh Quốc gia, ngày 25-6-1952, Văn kiện Lầu
Năm góc (Gravel), I, tr.387.
--------------------------
ta có bất kỳ một bước tiến
thêm" (1). Thái độ phản đối của Acheson cho thấy
Mỹ đã thất vọng sâu sắc thế nào sau hơn 2 năm hợp
tác với Pháp, nhưng đã quá muộn để đón chờ một kết
quả tích cực. Trong vòng chưa tới 1 tháng nữa, Chính
quyền Truman sẽ hết nhiệm kỳ, do vậy không còn phải
chịu thêm trách nhiệm gì nữa.
Mặc dù đầu tư
quá nhiều vào Đông Dương, Truman và Acheson đã bỏ lại
cho những người kế nhiệm một vấn đề vô vàn phức
tạp và nguy hiểm hơn so với vấn đề mà họ đã
tiếp nhận năm 1950. Thoạt đầu chỉ là một cuộc chiến
có tính chất quốc gia chống thực dân Pháp, tới nay nó
đã phát triển thành một cuộc xung đột có tầm cỡ lớn
quốc tế. Lúc này Mỹ chịu hơn 40% chi phí của cuộc
chiến và đã đặt cược vào kết quả của nó. Viện
trợ của Trung Quốc cho Việt Minh mỗi tháng đã tăng từ
400 tấn lên tới hơn 3.000 tấn đồng thời có khoảng
4000 "tình nguyện quân" Trung Quốc sang giúp đỡ
Việt Minh dưới nhiều hình thức. Cuộc chiến đã lan
sang cả Lào và Thái Lan, nơi được Trung Quốc và Việt
Minh hậu thuẫn cho các lực lượng kháng chiến chống lại
các chính phủ do Mỹ và Pháp bảo trợ.
Ngay tại
Việt Nam, sự kiểm soát của Pháp đã bị giảm
xuống còn chỉ ở những vùng quanh Hà Nội, Hải Phòng và
Sài Gòn cùng một dải đất hẹp dọc theo biên giới
Campuchia và người Pháp đang phải đối mặt với những
kiểu loại đe dọa quân sự mới rất đáng ngại. Phóng
viên kỳ cựu Theodore Whlte nhận xét, "đối phương
trước đây phải
-----------------------------
(1) Bộ
trưởng G. Acheson, Món quà tạo hoá, New York, năm 1969,
tr.676-677.
------------------------
nguỵ trang đánh bom, bắn lén,
phục kích trong đêm, nay đã trở thành một lực lượng
hiện đại, thiện chiến được trang bị pháo binh, tổ
chức thành nhiều sư đoàn" (1). Pháp hy vọng rằng
viện trợ của Mỹ có thể giúp họ không phải hi sinh
nhiều hơn, nhưng rồi họ cũng nhận ra rằng cuộc chiến
ngày càng cần thêm sức lực của chính họ. Lo sợ Pháp
ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào Mỹ và cũng thấy
rằng để chiến thắng sẽ đòi hỏi một cố gắng tổng
lực, nên cuối năm 1952 một số chính trị gia Pháp đã
lên tiếng đề nghị Pháp rút quân khỏi Đông Dương.
Trong khi đó tại Mỹ, Acheson cảnh báo cho chính quyền sắp
tiếp quản biết rằng, vấn đề "thực sự" là
"Pháp phải tiếp tục tiến hành cuộc chiến
tranh"(2).
chính quyền cộng hoà dưới quyền
Dwight D.
Eisenhower đã chấp thuận không mảy may sửa
đổi các nguyên tắc trong chính sách Đông Dương do chính
quyền Đảng Dân chủ để lại. Eisenhower và Bộ trưởng
Ngoại giao John Foster Dulles đã nhất trí rằng sự sụp đổ
của Đông Dương sẽ dẫn đến chỗ mất toàn bộ Đông
Nam Á với những hậu quả tai hại về chính trị, kinh tế
và chiến lược cho Mỹ. Trong cuộc vận động bầu cử
năm 1952, Đảng Cộng hoà công kích Đảng Dân chủ đã
không ngăn cản được bước tiến của chủ nghĩa cộng
sản, và họ thậm chí còn quyết tâm hơn những nhà tiền
nhiệm trong việc ngăn chặn nguy cơ sụp đổ của Đông
Dương. Trong khi tích cực tuyên
--------------------
(1)
Theodore H.White, "Pháp cưỡi trên lưng hổ Đông Dương",
Thời báo New York ngày 8-6-1952, tr9.
(2) Henry Cabot Lodge,
Vốn là nó, New York, năm 1976, tr36.
----------------
bố sẽ tiến hành quyết liệt
chiến tranh lạnh, Eisenhower và Dulles cũng đã hứa hẹn
cắt giảm chi phí quốc phòng và đưa ra chính sách quốc
phòng "Tầm nhìn mới" nhằm cắt giảm mạnh lực
lượng bộ binh Mỹ. Họ thậm chí còn do dự hơn cả
Truman và Acheson trong việc điều lực lượng chiến đấu
Mỹ sang Đông Nam Á và cho rằng Pháp phải tiếp tục ở
lại Đông Dương và chịu gánh nặng của cuộc xung
đột.
Những thay đổi mà Eisenhower và Dulles đưa ra
là những biến chuyển về tinh thần và sách lược hơn
là về thực chất của vấn đề. Trong suốt lịch sử
can thiệp lâu dài Mỹ vào Việt Nam, mỗi chính quyền mới
lên cầm quyền đều tin rằng việc vận dụng những biện
pháp mới hoặc áp dụng kiên trì hơn những biện pháp cũ
có thể làm xoay chuyển tình hình đang xấu đi. Đảng
Cộng hoà đã nhanh chóng đi đến kết luận rằng Mỹ và
Pháp đã mắc những sai lầm nghiêm trọng. Eisenhower cho
rằng các tướng lĩnh Pháp tại Đông Dương là một "bọn
kém cỏi" và rằng cần có sự thay đổi. Giới quân
sự Mỹ phàn nàn về chiến lược phòng ngự thận trọng
của Pháp cùng với việc họ do dự sử dụng binh lính
người Việt. Quân đội Mỹ từng giành được nhiều
thắng lợi to lớn tại chiến tranh Triều Tiên do huấn
luyện được quân đội Nam Triều Tiên và sử dụng chiến
lược tấn công tích cực chống lại quân đội Trung Quốc
và Bắc Triều Tiên. Do đó, Hội đồng tham mưu trưởng
liên quân kết luận rằng Pháp có thể giành được chiến
tháng trong cuộc chiến này chỉ trong vòng một năm nữa
nếu như nước này tăng cường sử dụng lực lượng
binh lính người Việt và thực hiện một chiến lược
tích cực nhằm tiêu diệt các đơn vị chính quy của đối
phương. phần lớn các quan chức Mỹ đều cho ràng pháp
đã không tranh thủ được sự ủng hộ của những người
theo chủ nghĩa dân tộc bằng việc có những nhượng bộ
chính trị thực chất và đúng lúc. Eisenhower và Dulles cảm
thấy rằng chính quyền Truman đã bỏ phí ảnh hưởng mà
họ có trong tay và đồng ý với tướng J. Lawton Collins
rằng là cần phải "thúc đẩy Pháp năng động lên"
(1).
Chính quyền mới đã tích cực khắc phục những
sai lầm của chính quyền nhiệm kỳ trước. Do lo sợ về
tâm trạng mệt mỏi vì chiến tranh đang tăng dần tại
Pháp, Eisenhower và Dulles cam đoan chắc chắn về việc tiếp
tục viện trợ cho Pháp và hứa hẹn rằng "sự mệt
mỏi" của nước này sẽ "tan biến trước một
chương trình tích cực và xây dựng"(2). Tuy nhiên,
việc tiếp tục viện trợ phải kèm theo một số điều
kiện như Mỹ phải được thông báo những thông tin chi
tiết và cụ thể về kế hoạch và hoạt động quân sự
của người Pháp, đồng thời Pháp phải cam kết phát
triển quân đội quốc gia Việt Nam và có một chiến lược
mới tích cực theo một lịch trình cụ thể nhằm đánh
bại quân chủ lực của Việt Minh. Bản thân Eisenhower
khuyên đại sứ Douglas Dillon tại Paris hãy làm cho Pháp
hiểu rõ tầm quan trọng của việc bổ nhiệm một "nhà
lãnh đạo mạnh mẽ và tinh thần phấn chấn, được trao
các phương tiện và quyền lực để giành chiến thắng",
và ra "một thông cáo công khai, được nhắc lại càng
thường xuyên càng tốt", rằng nền độc lập hoàn
----------------------------
(1) Cuộc họp của J.C.S,
ngày 24-4-1953, FR, 1952-1954, XIII, tr.500.
(2) Dulls gửi Đại
sứ quán Mỹ tại Paris, ngày 27-3-1953, USVN, quyển 9,
tr.20.
---------------------
toàn sẽ được trao "ngay khi
cuộc chiến chống chủ nghĩa cộng sản giành thắng lợi"
(1).
Dưới áp lực ngày một gia tăng phải hành động
tích cực hoặc rút khỏi Đông Dương, chính phủ Pháp
nhanh chóng có phản ứng. Đầu tháng 5-1953, Pháp bổ nhiệm
tướng Henrri Navarre làm chỉ huy quân Pháp tại Đông
Dương.
Hai tháng sau đó, nội các mới do Joseph
Laniel đứng đầu đã hứa hẹn "hoàn thiện" nền
độc lập của các nước thuộc khối Liên hiệp Pháp
bằng cách chuyển giao các trách nhiệm đang được Pháp
đảm nhận. Sau đó không lâu, Pháp đệ trình Mỹ thông
qua một chiến lược mới, có tên gọi Kế hoạch Navarre.
Nhằm đáp ứng rất nhiều chi tiết do các tham mưu trưởng
liên quân Mỹ đề ra, bản kế hoạch cho phép tăng cường
mạnh mẽ Quân đội Quốc gia Việt Nam và đặt ra một
chương trình huấn luyện mới, đồng thời đưa thêm vào
Đông Dương 9 tiểu đoàn quân chính quy Pháp.
Navarre
đề xuất rút những lực lượng phân tán của Pháp từ
những đồn bót biệt lập, phối hợp với những lực
lượng mới mà ông ta có và bắt đầu một cuộc tấn
công lớn để đánh bật Việt Minh ra khỏi các cứ điểm
trong vùng đồng bằng sông Hồng. Trong một báo cáo mật
gửi về Paris, Navarre đã cảnh báo rằng không thể giành
được thắng lợi hoàn toàn về mặt quân sự trong cuộc
chiến tranh này và nhiều lắm thì cũng chỉ có hy vọng
thủ hoà. Chính phủ Laniel thông qua bản kế hoạch này
như một biện pháp cuối cùng nhằm cố
---------------------
(1) Eisenhower gửi Dillon, ngày
6-5-1953, Văn kiện Dwight D. Eisenhower, thư viện Dwight D.
Eisenhower, Abilence, Kans, Hồ sơ quốc tế: Pháp, năm 1953,
hộp 10.
-----------------
vớt vát những khoản tiền đã
đổ vào cuộc chiến và củng để bảo đảm Mỹ sẽ
tiếp tục ủng hộ. Họ cũng đưa ra một cái giá khá
cao, thông báo cho Washington biết rằng nếu không có thêm
400 triệu USD viện trợ nữa thì Pháp không thể thực
hiện được kế hoạch và sẽ phải cân nhắc khả năng
rút quân khỏi Đông Dương.
Dù vẫn còn hoài nghi về
ý định và năng lực của Pháp, Washington thấy không còn
cách lựa chọn nào khác ngoài việc phải chấp nhận bản
kế hoạch này. Eisenhower phàn nàn một cách kín đáo rằng
Laniel đưa ra lời hứa trao độc lập cho các nước trong
khối Liên hiệp Pháp với giọng điệu "lập lờ,
quanh co chứ không phải là mạnh dạn, thẳng thắn và
nhất quán" (1). Các tham mưu trưởng liên quân không
tin Pháp có khả năng tích cực thực thi Kế hoạch
Navarre. Tuy nhiên vào lúc này, cả hai nước đang bị kẹt
trong mối bòng bong và phụ thuộc lẫn nhau với những cam
kết ngày càng tăng và Mỹ thấy buộc phải đi cùng với
Pháp- Các tham mưu trưởng liên quân kết luận ít nhất
"Kế hoạch Navarre" cũng đem lại một tia hi vọng
thành công. Bộ Ngoại giao Mỹ đã báo trước rằng chính
phủ Laniel là chính phủ đầu tiên của Pháp tỏ ra "sẵn
sàng làm những gì cần thiết để kết thúc cuộc chiến
tại Đông-Dương" và nếu như họ thất bại thì chắc
chắn thay vào ví trí đó sẽ là một chính phủ sẵn sàng
thực hiện một giải pháp thông qua thương lượng, như
vậy có nghĩa là "cuối cùng cái rơi vào tay chủ
nghĩa cộng sản không chỉ là Đông Dương mà còn là toàn
bộ Đông
----------------------
(1) Eisenhower gửi
Ralph Flanders, ngày 7-7-1953, Văn kiện Eisenhower, Nhật ký,
hộp 2.
--------------------
Nam Á" (1). Sau khi ép Pháp
phải quyết tâm tiếp tục theo đuổi Kế hoạch Navarre,
tháng 9-1953 chính quyền Mỹ đồng ý viện trợ quân sự
thêm cho Pháp 385 triệu USD. Và Dulles đã công khai tuyên bố
chiến lược mới của Pháp sẽ "đập tan cuộc tấn
công của chủ nghĩa cộng sản vào cuối năm
1955"(2).
Trong vòng 6 tháng sau khi Pháp và Mỹ
thống nhất "tấn công chấm dứt cuộc chiến tranh",
tình hình quân sự và chính trị ở Đông Dương đã xấu
đi nhanh chóng.
Navarre bị buộc phải bỏ dở bản
kế hoạch của mình ngay từ những giai đoạn đầu tiên.
Mùa thu năm 1953, ông ta bắt đầu huy động lực lượng
cho một cuộc tấn công dự kiến ở vùng đồng bằng.
Nhận thấy phải đánh một đòn quyết định trước khi
Mỹ tăng cường viện trợ mới phát huy được tác dụng,
tướng Giáp đã đưa quân sang vùng Trung và Nam Lào, đẩy
mạnh hoạt động du kích tại vùng đồng bằng và chuẩn
bị đánh lớn ở Bắc Lào. Phản ứng duy nhất mà Navarre
có thể tiến hành là phân tán chính các lực lượng mà
ông ta vừa tập hợp lại để đối phó với các hoạt
động quân sự của Việt minh.
Đến đầu năm 1954,
cả hai bên đều điều các lực lượng quân lớn tới
Điện Biên Phủ, một vùng xa xôi ở Tây Bắc Việt Nam.
Navarre đã thiết lập một cứ điểm ở vùng giao điểm
của nhiều con đường quan trọng gần biên giới Lào với
hi vọng đập tan các cuộc tấn công dự
------------------
(1) Báo cáo của Bộ Ngoại giao gửi tới Hội đồng
An ninh Quốc gia Mỹ, ngày 5-8-1953, USVN, quyển 9, tr.128.
(2)
Trích trong Bemard Faii, Hai Việt Nam: Một phân tích về
chính trị và quân sự, New York, năm 1967,
tr.122.
---------------
kiến và dụ các đơn vị chủ
lực Việt Minh vào một chiến trường lộ thiên. Trong một
thung lũng rộng được bao bọc bởi nhiều quả đồi có
độ cao tới 300 m, ông ta xây dựng một tập đoàn cứ
điểm quân sự có dây thép gai bao bọc và boongke liên
hoàn, rồi vội vã điều 12 tiểu đoàn quân chính quy có
máy bay và pháo hạng nặng yểm trợ.
Tướng Giáp
đã tóm lấy "con mồi". Sau khi đánh chớp nhoáng
vào Lào, tướng Giáp rút lui theo đường cũ và bao vây
tập đoàn cứ điểm này của Pháp. Lúc này Navarre mới
nhận thấy lực lượng 12.000 quân tinh nhuệ của mình đã
bị cô lập ở một vùng xa xôi của Việt Nam.
Tuy
không còn chắc có thể trụ vững trước sự tấn công
mãnh liệt của Việt Minh, nhưng vào tháng 1, Navarre vẫn
quyết định giữ tập đoàn cứ điểm này.
Trong
lúc đó, phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam bùng
lên mạnh mẽ đã có tác động xấu đến vị thế chính
trị vốn đã mỏng manh của Pháp. Khi Pháp bắt đầu các
cuộc đàm phán để "hoàn thiện" nền độc lập
của Việt Nam, các nhà dân tộc chủ nghĩa phi cộng sản,
kể cả một số người ủng hộ Bảo Đại, đã đòi hỏi
không chỉ một nền độc lập hoàn toàn mà còn là cắt
đứt mọi liên hệ với Pháp. Mỹ lâm vào một tình thế
cực kỳ khó xử. Tuy trước đó Mỹ ra sức ủng hộ trao
lại quyền độc lập cho Việt Nam, nhưng lại sợ rằng
những yêu sách của người Việt Nam sẽ khiến Pháp phải
rút quân và rồi chính phủ Bảo Đại không thể tự mình
tồn tại. Đại sứ Heath buộc tội người Việt Nam có
thái độ "trẻ con" và "vô trách nhiệm".
Dulles tức giận lên án những hoạt động "thiếu cân
nhắc" của phái dân tộc chủ nghĩa và đưa ra lời
hứa hẹn rằng Mỹ sẽ viện trợ quy mô lớn nếu họ
hợp tác (1). Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn thì gây áp
lực buộc người Việt Nam phải hạ thấp yêu sách. Một
nhà ngoại giao Mỹ hài hước nhận xét: "Chúng tôi đã
làm điều đó giống như những kẻ dân thực dân Pháp
cuối cùng tại Đông Dương"(2). Mặc dù Mỹ đã có
nhiều cố gắng để dàn xếp, nhưng Pháp và Việt Nam
không thể đi đến được một thỏa thuận về quy chế
cho một Việt Nam độc lập.
Cuộc khủng hoảng
chính trị cuối năm 1953, cùng với sự chuyển đổi rõ
rệt được trong chính sách ngoại giao của Liên Xô, đã
làm Pháp nghiêng mạnh về hướng giải quyết cuộc chiến
tranh thông qua thương lượng. Nhiều chính trị gia Pháp
kết luận, cùng lắm chỉ có thể vớt vát được ở
cuộc chiến tranh này một điểm, đó là việc người
Việt Nam chịu nằm trong khối Liên hiệp Pháp dù chỉ về
hình thức, mà nếu không được như vậy thì chẳng có
lý do gì để kéo dài nỗi thống khổ này. Sau khi Stalin
qua đời, các nhà lãnh đạo trước đây từng nắm quyền
trong điện Kremli đã đi theo đường lối hoà giải trong
nhiều vấn đề lớn của cuộc chiến tranh lạnh, trong đó
có vấn đề Đông Dương, và do vậy Pháp hy vọng ảnh
hưởng Của Liên Xô sẽ cho phép họ đạt được một
giải pháp có lợi. Dù Dulles phản đôi kịch liệt, đầu
năm 1954 Pháp đã đồng ý đưa Đông Dương vào chương
trình nghị sự của Hội nghị Đông-Tây sẽ họp tại
Geneva để xem xét các vấn đề Viễn Đông.
Eisenhower
và Dulles chỉ có thể miễn cưỡng chấp
-----------------------
(1) Heath gửi tới Bộ Ngoại
giao, ngày 18-10-1953, FR, 1952-1954, XIII, tr.836; Dulles gửi Đại
sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, ngày 21-10-1953, USVN, quyển 9,
tr.169-170.
(2) Trích từ Hammer, Đấu tranh vì Đông Dương,
tr.319.
------------------------
nhận. Dù không tin vào lời đề
nghị của Liên Xô và nghi ngờ về tính sáng suốt trong
những quyết định của Pháp, nhưng họ không muốn đặt
Mỹ vào vị thế là cường quốc duy nhất chống lại
việc giải quyết hoà bình cuộc khủng hoảng quốc tế
lớn này. Hơn nữa, mặc dù Dulles đe dọa Mỹ sẽ "đánh
giá lại" các cam kết, Pháp vẫn không chịu tán thành
cộng đồng phòng thủ châu âu và đường lối mới của
Liên- Xô càng làm triển vọng tình hình thêm phức tạp
vì các nước châu âu rất lo sợ Liên Xô sẽ tấn công.
Cũng giống như vị bộ trưởng tiền nhiệm Acheson, Dulles
không muốn ép pháp quá mạnh về vấn đề Đông Dương
và sợ rằng họ sẽ cùng nhau bác bỏ tổ chức cộng
đồng phòng thủ châu âu làm tan rã các đồng minh phương
Tây khiến tình hình có lợi cho Liên Xô.
Tháng
1-1954, lần đầu tiên Mỹ đứng trước việc lựa chọn
phải can thiệp quân sự trực tiếp vào Đông Dương.
Với
những lời lẽ hùng hồn, Eisenhower tuyên bố trước Hội
đồng An ninh Quốc gia rằng, ông ta kịch liệt phản đối
việc đưa quân Mỹ vào các vùng rừng núi Đông Dương.
Nhưng Eisenhower lại nhấn mạnh Mỹ không được quên
những lợi ích quan trọng của mình ở khu vực này. Ví
Đông Dương như một "con đê đang bị rò rỉ",
ông ta cảnh báo, trong tình huống như vậy "đôi khi
giải pháp tốt hơn lại là mó tay vào còn hơn là để cả
con đê bị cuốn trôi" (1). Các quan chức Mỹ đặc
biệt lo sợ tâm lý chán chường chiến tranh của Pháp có
thể dẫn đến kết cục đầu hàng tại Hội nghị
Geneva. Một uỷ
-----------------------
(1) Biên bản
cuộc họp Hội đồng An ninh Quốc gia, ngày 8-1-1954, FR,
các năm 1952-1954, III, tr.949 và 952.
---------------------
ban đặc biệt do tổng thống Mỹ
cử ra nhằm xem xét chính sách đối với Đông Dương vào
giữa tháng 3 đã khuyến nghị rằng, Mỹ cần tìm cách
đẩy lùi khuynh hướng chủ bại tại Pháp và cần sử
dụng ảnh hưởng của mình tại Geneva để đảm bảo sẽ
không có một thỏa thuận nào có thể đạt được.
Dù
Mỹ có nhiều nỗ lực, nhưng nếu Pháp cứ chấp nhận
một giải pháp không thỏa đáng, thì Mỹ có thể phải
dàn xếp với các nước trong khối Liên hiệp cũng như
những quốc gia có liên quan khác để tiếp tục cuộc
chiến mà không cần tới Pháp.
Trong khi Eisenhower
cùng những cố vấn của ông ta đang cân nhắc về khả
năng tầm xa Mỹ can thiệp vào Đông Dương, tướng Giáp
đã xiết chặt thòng lọng quanh Điện Biên Phủ. Ngày
13-3-1954, Việt Minh mở một cuộc tấn công tổng lực và
trong vòng 24 tiếng đã chiếm được hai quả đồi Him Lam
và Độc Lập, những tiền đồn do Pháp lập ra để bảo
vệ các pháo đài nằm ở thung lũng phía dưới. Các
chuyên gia Mỹ và Pháp dự đoán không thể kéo pháo lên
các điểm cao bao quanh cụm cứ điểm này. Nhưng Việt
Minh lại dùng các "phương tiện vận tải thô sơ
nhất", đưa những khẩu pháo đã được tháo rời,
rồi lắp ráp lại và nguỵ trang rất khéo léo, hiệu quả
dưới làn đạn đánh phá rất ác liệt của pháo binh và
máy bay Pháp. Các khẩu pháo hạng nặng của Việt Minh đã
nhanh chóng vô hiệu hoá sân bay, khiến cho đối phương
không thể tiếp tế, ngoại trừ bằng cách thả dù, khiến
cho 12.000 quân Pháp bị cô lập và chịu tổn thất.
Chiến
thắng vang dội của Việt Minh ở Điện Biên Phủ đã làm
nảy sinh khả năng Mỹ sẽ can thiệp khẩn cấp. Trong
chuyến thăm Washington cuối tháng 3, Tham mưu trưởng Pháp
tướng Paul Ely vẫn dự đoán "cơ hội thắng thua tại
Điện Biên Phủ là 50-50" và chỉ yêu cầu Mỹ chuyển
một số máy bay bổ sung cho Pháp dùng để oanh kích các
phòng tuyến của Việt Minh quanh cụm cứ điểm này. Tuy
nhiên, Ely lo sợ sâu sắc về khả năng Trung Quốc can
thiệp nên công khai hỏi Dulles Mỹ sẽ phản ứng thế nào
nếu xảy ra tình huống bất trắc này (1). Người ít lạc
quan về Điện Biên Phủ hơn cả là đô đốc Arthur
Radford, chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân.
Trong lúc Ely thăm Washington, đô đốc Radford bắt đầu
nghiêm túc cân nhắc một kế hoạch mà các sĩ quan Pháp
và Mỹ đã thiết kế ở Sài Gòn. Kế hoạch này yêu cầu
sử dụng máy bay B-29 của Mỹ và máy bay trên các hàng
không mẫu hạm ném bom ồ ạt, và có thể sử dụng vũ
khí chiến thuật hạt nhân để giải vây cho Điện Biên
Phủ. Mặc dù Radford không có một cam kết nào, nhưng ông
ta đã khiến Ely hoàn toàn tin rằng ông ta sẽ cố gắng
để bản kế hoạch được phê duyệt nếu như Pháp chính
thức yêu cầu.
Song đề xuất sử dụng máy bay tấn
công giành được rất ít sự ủng hộ tại Washington.
Eisenhower cũng chỉ nghĩ thoáng qua về ý tưởng của một
"cuộc oanh tạc đơn lẻ (do phi công Mỹ lái những
chiếc máy bay không mang quân hiệu) nếu chắc chắn phải
làm thì nó sẽ đem lại những kết
-----------------------------
(1) Biên bản cuộc đàm
thoại, Ely và Dulles, ngày 23-3-1954, 751 G.00/3-2354, hồ sơ
lưu Bộ Ngoại giao. Chi tiết hơn về những sự kiện này
xem: George C. Herring và Rcharch H. Immerman, ~Eisenhower, Dulles
và Điện Biên Phủ:"Ngày chúng ta không đi tới chiến
tranh" xem lại ", Tạp chí Lịch sử nước Mỹ, số
71, tháng 9-1984, tr.343-363.
----------------------------------
quả quyết định", rồi ông
ta vội vã nói thêm, "dĩ nhiên, nếu chúng ta làm như
vậy, chúng ta sẽ phải phủ nhận nó vĩnh viễn" (1).
Dulles thì tích cực xem xét các hoạt động của không
quân và hải quân tại Đông Dương, nhưng đó chỉ là
giải pháp cuối cùng. Ngoại trưởng Mỹ lo ngại về mối
đe dọa lâu dài đối với Đông Nam Á nhiều hơn mối đe
dọa trước mắt với Điện Biên Phủ, vì vậy ông ta
thiên về cái mà ông ta gọi là "Hành động phối
hợp" (United Action), tức là thành lập một liên minh
gồm Mỹ, Anh, Pháp, Australia, New Zealand, Philippines, Thái
Lan và các nước thuộc khối Liên hiệp Pháp để bảo
đảm an ninh cho Đông Nam Á.Sự tồn tại của một liên
minh như vậy có thể ngăn ngừa Trung Quốc can thiệp vào
cuộc chiến tranh Đông Dương cung như việc mở rộng ảnh
hưởng của nước này tại bất kỳ đâu ở châu Á.Nếu
như can thiệp quân sự trở nên cần thiết, "Hành
động phối hợp" sẽ rửa được vết nhơ của cuộc
chiến đối với chủ nghĩa thực dân của Pháp và sẽ
đảm bảo rằng toàn bộ gánh nặng tài chính sẽ không
đè lên vai Mỹ. Theo học thuyết về chính sách phòng thủ
tầm nhìn mới", các lực lượng địa phương và khu
vực có thể đảm nhiệm phần chính của cuộc chiến
tranh trên bộ còn Mỹ bảo đảm chi viện không quân và
hải quân, cung cấp tiền bạc và nhu yếu phẩm, huấn
luyện các đội quân bản xứ.
Dulles và Eisenhower
cũng không muốn can thiệp trừ khi họ buộc được Pháp
phải có những nhượng bộ quan
------------------------
(1) Biên bản cuộc đàm thoại giữa Eisenhower và
Dulles ngày 24-3- 1954, lô 64D199, hộp 222, Hồ sơ lưu Bộ
Ngoại giao; Nhật ký James Hagerty, ngày 1-4-1954, Văn kiện
James Hagerty, thư viện Dwight D.
Eisenhower, Abilene,
Kans.
--------------------
trọng. Dulles cảnh báo rằng nếu
Mỹ can thiệp, uy tín của nước này sẽ bị mắc kẹt vì
Mỹ muốn chiến thắng mà nếu bị thất bại sẽ có ảnh
hưởng không tốt trên toàn thế giới (1).
Chính
quyền Eisenhower quy thất bại của Pháp là do họ không
nắm được người Việt Nam và không chịu tiến hành
cuộc chiến một cách mạnh mẽ; những nỗ lực kiên trì
của Mỹ nhằm buộc Pháp thay đổi thái độ đã không
mang lại kết quả. Hơn thế, không lâu trước đó Ely đã
bác bỏ đề nghị mở rộng vai trò của đoàn cố vấn
quân sự Mỹ, phàn nàn gay gắt về "bản chất xâm
lược" của Mỹ và "quyết tâm kiểm soát và điều
hành mọi công việc quan trọng"(2). Dulles và Eisenhower
nhất trí rằng Mỹ không được mạo hiểm uy tín của
mình tại Đông Dương cho tới khi Pháp có những cam kết
chắc chắn duy trì quân đội của họ lại đó và thúc
đẩy bước tiến tới trao quyền độc lập thật sự,
đồng thời cho phép Mỹ đóng vai trò lớn hơn trong việc
huấn luyện các đội quân bản xứ và hoạch định các
chiến lược quân sự.
Hầu hết các cố vấn quân
sự cao cấp của Elsenhower đều kịch liệt phản đối
việc sử dụng không quân tại Điện Biên Phủ. Một số
người đặt câu hỏi liệu việc không kích có thể giải
vây mà không huỷ diệt chính cụm cứ điểm này hay
không; những người còn lại thì phân vân không biết một
khi đã can thiệp rồi thì còn có thể giữ được trong
phạm vi hạn chế hay không. Một nhà phân tích thuộc Bộ
Quốc phòng Mỹ cảnh báo: chúng ta không thể vượt thác
----------------------------
(1) Dwight D. Eisenhower,
Mệnh lệnh thay đổi, 1953-1956, New York, năm 1963,
tr.345.
(2) Radford gửi Eisenhower, ngày 29-3-1954, USVN, quyển
9, tr.283-284.
----------------------------
Niagara chỉ bằng một chiếc
thùng nhỏ" (1) Trong hội đồng tham mưu trưởng liên
quân, chỉ có tướng không quân Nathan F. Twining là tán
thành việc sử dụng không quân oanh kích ở Điện Biên
Phủ đồng thời đòi đặt ra những điều kiện trói
buộc mà Pháp chắc chắn sẽ khó chấp thuận. Các tham
mưu trưởng khác thì cảnh báo rằng việc can thiệp bằng
không lực tiềm ẩn nhiều rủi ro lớn và sẽ không có
tác động quyết định tới kết cục của cuộc chiến.
Là một người bộc trực, tham mưu trưởng lục quân
Matthew Ridway đã đáp lại đòi hỏi của Radford về một
cuộc không kích theo đề nghị chỉ với "một từ
'Không rõ ràng và trực tiếp".
Được báo động
bởi cái mà ông ta xem như là một "ý tưởng hão
huyền cũ rích... rằng chúng ta có thể làm mọi thứ theo
một cách thức dễ dàng và rẻ mạt", Ridgway sau đó
đã cảnh báo Eisenhower rằng chỉ riêng không quân thì
không thể đảm bảo được thắng lợi tại Đông Dương
và bất kỳ một lực lượng bộ binh nào được điều
động tới đây sẽ phải chiến đấu với những điều
kiện cực kỳ khó khăn về hậu cần và trong một địa
hình vô cùng bất 1ợi (2).
Mặc dù hết sức hoài
nghi về kết quả của cuộc không kích theo dự kiến tại
Điện Biên Phủ, chính quyền Mỹ cũng thấy lo lắng trước
cuộc khủng hoảng đang diễn ra ở Đông Dương và đã
tìm cách tranh thủ sự ủng hộ của quốc hội cho khả
năng Mỹ can thiệp quân sự vào khu vực này. Vào
--------------------------------
(1) văn kiện Lầu Năm
góc (Gravel), I, tr.89.
(2) Biên bản cuộc họp giữa
Ridgway và Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân ngày
2-4-1954, Văn kiện Matthew B. Ridgway, Viện Lịch sử quân sự
Mỹ, Carlisle, Barracks, Pa.; Matthew B. Ridgway, Người lính New
York, năm 1956, tr.276-277.
---------------------------------
đầu tháng 4, dường như khả
năng Điện Biên Phủ thất thủ đã trở nên chắc chán.
Eisenhower và Dulles lúc đó hy vọng nhiều vào việc "Hành
động phối hợp với những quốc gia khác nhưng lại lo
ngại rằng một thất bại tại Điện Biên Phủ có thể
khiến Pháp sụp đổ trước khi có thể thực hiện kế
hoạch "Hành động phối hợp", và khi đó chỉ
còn một lựa chọn duy nhất để cứu vãn được Đông
Dương là sử dụng các lực lượng không quân và hải
quân Mỹ. Bài học đắt giá rút ra từ số phận của
Truman trong cuộc chiến tranh Triều Tiên khiến Eisenhower
không muốn hành động mà không được quốc hội hậu
thuẫn, do vậy ông ta chỉ thị cho Dulles thăm dò ý kiến
các nhà lãnh đạo quốc hội xem trong những điều kiện
nào thì quốc hội cho phép sử dụng sức mạnh quân sự
Mỹ. Mục đích của cuộc gặp quan trọng tại Bộ Quốc
phòng ngày 3-4 không phải là để tranh thủ sự ủng hộ
cho việc tấn công bằng không quân như mọi người tương,
mà để giành quyền tự do hành động nhằm triển khai
các lực lượng không quân và hải quân Mỹ-dù có hay
không sự ủng hộ của các đồng minh - nếu việc Điên
Biên Phủ thất thủ gây nên nguy cơ mất đi toàn bộ vùng
Đông Dương.
Chính quyền Eisenhower đã vấp phải
một sự phản đối kiên quyết. Dulles và Radford nghiêm
khắc cảnh báo rằng nếu không có hành động quyết định
thì Mỹ có thể mất toàn cõi Đông Nam Á và tổng thống
phải sử dụng các lực lượng không quân và hải quân
"nếu ông ta thấy cần thiết vì lợi ích an ninh quốc
gia". Không một ai nghi ngờ ý kiến đánh giá trên đây
về mức độ nghiêm trọng của tình hình, nhưng các nghị
sĩ yêu cầu "không được để xảy ra thêm một cuộc
chiến tranh Triều Tiên nữa, khi mà Mỹ phải đảm nhiệm
tới 90% nhân lực", và còn tỏ rõ họ sẽ không phê
duyệt bất kỳ điều gì cho tới khí chính quyền Mỹ
được các quốc gia khác cam kết ủng hộ chắc chắn.
Dulles vẫn kiên trì cam đoan với các nhà lập pháp rằng
chính quyền Mỹ không có ý định điều bộ binh sang Đông
Dương và ông ta có thể dễ dàng tranh thủ được sự
ủng hộ từ các đồng minh nếu ông ta có thể đảm bảo
những gì chính quyền Mỹ sẽ làm. Nhưng các nghị sĩ
không bị lung lay trước những lập luận đó. Họ cho
rằng, "một khi đã quyết định tham chiến thì chắc
chắn bước tiếp theo là sẽ sử dụng lực lượng bộ
binh". Giống như chính quyền, họ cũng không tin tưởng
vào Pháp, nên đã đề nghị Mỹ không nên tham chiến ủng
hộ chủ nghĩa thực dân. Họ chỉ nhất trí đưa quân Mỹ
vào Đông Dương khi đã tranh thủ được "những cam
kết đầy đủ, của Anh và những đồng minh khác ủng hộ
giải pháp can thiệp quân sự, từ việc Pháp cam kết
"quốc tế hoá" cuộc chiến, đẩy nhanh việc trao
quyền độc lập. Việc quốc hội Mỹ khăng khăng đòi
phải có sự cam kết trước của đồng minh, đặc biệt
của Anh, đã loại trừ phương án Mỹ đơn phương can
thiệp và gây trở ngại lớn đối với kế hoạch "Hành
động phối hợp" (1).
Cuộc họp ngày 3-4 dường
như làm tan biến mọi khả năng dùng không quân đánh vào
Điện Biên Phủ. Mặc dù không tha thiết với triển vọng
Mỹ can thiệp dưới bất kỳ
---------------------------
(1) Bút lục Dulles, ngày 5-4-1954, "Hội đàm với
các nhà lãnh đạo quốc hội", ngày 3-4-1954", Văn
kiện John Foster Dulles, Thư viện Dwight D. Etsenhower,
Abilence, Kans.
----------------------------
hình thức nào, nhưng chính phủ
Pháp cuối cùng phải đi đến kết luận rằng, một cuộc
không kích sẽ mang lại một hy vọng duy nhất là cứu
nguy cho cụm cứ điểm đang bị bao vây, nên vào ngày 5-4
họ đã đề nghị thực hiện bản kế hoạch này. Nhưng
Eisenhower ngay lập tức bác bỏ đề nghị của Pháp và
bày tỏ tâm trạng bực mình với Radford vì ông ta đã làm
Pháp hiểu nhầm ý đồ của Mỹ, rồi tuyên bố rõ ràng
rằng đề nghị này là "bất khả thi về mặt chính
trị" (1).
Trong một cuộc họp vào ngày 6-4, hội
đồng An ninh Quốc gia Mỹ đã thống nhất rằng việc
hoạch định kế hoạch và động viên khả thi sau sự can
thiệp nên "được tiến hành ngay lập tức", đồng
thời chính quyền phải có những nỗ lực kiên quyết để
đáp ứng những tiền đề cần thiết cho hành động phối
hợp (2).
Trong khi số phận của Điện Biên Phủ vẫn
chưa được định đoạt thì Mỹ điên cuồng thúc đẩy
thực hiện kế hoạch "Hành động phối hợp".
Dulles đi London và Paris để thương thuyết với các nhà
lãnh đạo Anh và Pháp.
Eisenhower viết một bức thư
riêng rất dài cho thủ tướng Anh Winston Churchill yêu cầu
Anh ủng hộ liên minh "sẵn sàng chiến đấu ngăn cản
sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam
Á". Trong một cuộc họp báo được tuyên truyền rùm
beng vào ngày 7-4, tổng thống Eisenhower đã xác lập cơ sở
cho khả năng can thiệp của Mỹ. Bằng những lời lẽ dễ
hiểu, ông ta phác hoạ những
----------------------------------
(1) Biên bản đàm
thoại điện thoại, Eisenhower và Dulles, ngày 5-4- 1954,Văn
kiện Eisenhower, Nhật ký hộp 3.
(2) Biên bản cuộc họp
Hội đồng An ninh Quốc gia ngày 6-4-1954, FR, 1952-195. XIII,
tr.1253.----------------------------------
nguyên tắc đã hình thành nên
nền tảng cho chính sách của Mỹ trong 4 năm qua, và nhấn
mạnh rằng Đông Dương là một nguồn quan trọng cung cấp
thiếc, vonfram và cao su, và việc để Trung Quốc rơi vào
tay "chế độ độc tài cộng sản", Mỹ "không
thể chịu được tiếp những thiệt hại to lớn hơn".
Quan trọng hơn, ông cảnh báo, nếu như Đông Dương thất
thủ, các nước còn lại trong khu vực Đông Nam Á sẽ
"nhanh chóng tan rã", giống như "hiệu ứng
đôminô", và điều này sẽ gây ra những thiệt hại
to lớn hơn về nguồn cung cấp nguyên liệu thô, nguy hại
cho vị trí chiến lược của Mỹ ở Viễn Đông, và đẩy
Nhật về phía phe cộng sản.
Eisenhower kết luận:
"Hậu quả nhãn tiền mà sự mất mát này có thể đem
lại đối với thế giới tự do là không thể tính nổi"
(1).
Sự nhộn nhịp của hoạt động ngoại giao Mỹ
trong tháng 4-1954 đã bộc lộ những bất đồng sâu sắc
giữa Mỹ và các đồng minh. Chính phủ Churchill sẵn sàng
tham gia dàn xếp một hiệp ước an ninh tập thể sau hội
nghị Geneva, nhưng họ phản đối kịch liệt hành động
can thiệp ngay vào Đông Dương. Churchill và ngoại trưởng
Anh Anthony Eden không chia sẻ với Mỹ nỗi lo việc mất
tất cả hoặc một phần của Đông Dương sẽ dẫn đến
sự sụp đổ của toàn cõi Đông Nam Á.Họ tin rằng Pháp
vẫn giữ được ảnh hưởng thích đáng để vớt vát
được một giải pháp hợp lý tại hội nghị Geneva và
họ sợ rằng hành động can thiệp quân sự từ bên ngoài
sẽ phá vỡ mọi hy vọng về một giải pháp qua
----------------------------------
(1) Eisenhower, Mệnh
lệnh thay đổi, tr.346-347; DHwight D. Eisenhower, Văn kiện
công khai, 1954, Washington, D.C., năm 1955,
tr.382-384.
---------------------------
thương lượng và thậm chí có
thể khơi lên một cuộc chiến tranh với Trung Quốc. Quan
trọng hơn cả, họ không muốn Anh dính vào một cuộc
chiến tranh mà họ cảm thấy là không thể nào giành được
chiến thắng.
Những cuộc thảo luận của Dulles với
Pháp cũng không đem lại kết quả và làm bộc lộ rõ
giữa hai nước còn có những quan điểm khác nhau về cuộc
chiến tranh cũng như về việc đàm phán tại hội nghị
Geneva. Mỹ sẵn sàng muốn can thiệp vào Đông Dương,
nhưng chỉ với điều kiện là Pháp phải chống lại một
giải pháp thông qua thương lượng tại hội nghị Geneva,
đồng ý tiếp tục ở lại Đông Dương chiến đấu lâu
dài và chịu để cho đồng minh giữ vai trò lớn hơn
trong việc hoạch định chiến lược và huấn luyện các
lực lượng bản xứ, đồng thời chấp nhận những đòi
hỏi của người Việt Nam về một nền độc lập hoàn
toàn. Pháp khăng khăng cho rằng Việt Nam phải có mối
quan hệ ràng buộc với khối Liên hiệp Pháp. Họ chỉ
muốn một cuộc không kích nhằm giải vây cho Điện Biên
Phủ. Họ chống lại việc quốc tế hoá cuộc chiến
tranh, một việc không chỉ đe dọa uy tín của họ tại
Đông Dương mà còn làm cho quyền kiểm soát tuột khỏi
tay họ. Dulles hy vọng rằng nếu giúp Pháp, ông ta có thể
cứu vãn được Cộng đồng phòng thủ châu âu, nhưng
chính phủ Pháp đã nêu rõ. Cộng đồng phòng thủ châu
âu sẽ không có một cơ may được chấp thuận nếu như
Pháp phải cam kết duy trì quân đội tại Đông Dương vô
thời hạn.
Chính quyền Mỹ khó chịu sâu sắc trước
phản ứng của các đồng minh. Các quan chức Mỹ thì phàn
nàn Anh "thiếu dũng khí", còn Eisenhower trách cứ
kín đáo rằng Churchill và Eden tỏ ra "thiếu hiểu
biết một cách đáng tiếc" về những mối hiểm hoạ
của việc khoanh tay không hành động tại Đông Nam Á (1).
Dulles đã hiểu nhầm việc Eden sẵn sàng thảo luận về
những dàn xếp an ninh dài hạn như một cam kết mang tính
thăm dò đối với kế hoạch hành động phối hợp, do đó
khi được thông báo về lập trường thực sự của Anh,
ông ta vô cùng tức giận. Nhà Trắng và Bộ Quốc phòng
phát khùng vì sự ngang ngạnh của Pháp.
Eisenhower đổ
lỗi hoàn toàn cho Pháp đã đẩy Mỹ vào tình thế khốn
khó hiện tại. Trong một bức thư gửi bạn Eisenhower
viết, trước đó Pháp đã dùng "những lời nói quanh
co để hứa hẹn trao quyền độc lập và mặc dù vì lý
do này hay những yếu tố khác, họ đã phải hứng chịu
những điều trái với mong đợi không thể tha thứ".
Ông ta cự tuyệt xem xét việc can thiệp vào Đông Dương
theo điều kiện của Pháp, với lập luận rằng người
Pháp "muốn chúng ta tham gia cuộc chiến như một đối
tác thấp kém hơn và cung cấp tiền của... trong khi bản
thân họ vẫn tiếp tục nắm giữ quyền lực ở khu vực
này" và Eisenhower sẽ "không đi cùng họ... trong
bất kỳ một khía cạnh nào"(2).
sự phản đối
của Quốc hội chỉ khiến chính phủ Mỹ củng cố thêm
quyết tâm tránh đơn phương can thiệp để hỗ trợ Pháp.
Trong một bài diễn văn được cả hai phe tán thưởng,
thượng nghị sĩ đảng Dân chủ John F. Kennedy
--------------------
(1) Nhật ký Hagerty, ngày 25-4,
Văn kiện Hagerty; Nhật ký Eisenhower, ngày 27-4-1954, Văn
kiện Eisenhower, Nhật ký, hộp 3.
(2) Eisenhower gửi E.E.
Hazlett, ngày 27-4-1954, Văn kiện Eisenhower, Nhật ký, hộp
4; biên bản điện đàm, Eisenhower và Walter Bedell Smith,
ngày 24-4-1954, sách đã dẫn, hộp 3.
---------------------
bang Massachusetts đã cảnh báo
rằng không một khối lượng viện trợ quân sự nào có
thể chinh phục "được một kẻ thù của người dân
nhưng lại được sự ủng hộ và sự mến mộ của họ",
và chiến thắng đó không thể giành được chừng nào
Pháp vẫn còn hiện diện tại Đông Dương. Khi một nhân
vật cấp cao trong chính quyền Mỹ, sau đó được biết
là phó tổng thống Richard M. Nixon, nhận xét "ngoài
lề" rằng nếu như kế hoạch Hành động phối hợp
thất bại thì Mỹ có thể phải hành động một mình,
phản ứng đã bùng lên ngay lập tức và mạnh mẽ
(1).
Ngay cả khi Pháp có xuống giọng hơn chút ít,
thì việc Anh tiếp tục phản đối hành động can thiệp
quân sự đã quyết định số phận của kế hoạch Hành
động phối hợp.
Cuối tháng 4, Ngoại trưởng Pháp
Georges Bidault, người mà Dulles mô tả là "đang sắp
hết thời", đã có một thỉnh cầu tuyệt vọng cuối
cùng đề nghị Mỹ hỗ trợ, với lời cảnh báo ràng chỉ
có một cuộc không kích "ồ ạt" mới có thể
cứu nổi Điện Biên Phủ và bóng gió rằng Pháp sẵn
sàng chấp nhận quốc tế hoá cuộc chiến tranh. Với hy
vọng việc thực thi Hành động phối hợp lại bất ngờ
trỗi dậy, Dulles thông báo cho Bidault rằng nếu như thuyết
phục được Anh cùng hành động thì chính quyền Mỹ sẽ
cố gắng đề nghị quốc hội ra nghị quyết cho phép can
thiệp. Trong 3 ngày sau đó, vị ngoại trưởng này đã cố
gắng hết sức thuyết phục Eden
--------------------
(l)
Tuyên bố của Nixon đôi khi được xem như như một trái
bóng thăm dò, nhưng nó chưa được phép và không phản
ánh suy nghĩ của chính quyền vào thời điểm đó, Xem
Nhật ký Hagerty, ngày 17-4-1954, Văn kiện Hagerty, và Richard
M.Nixon, RN: Hồi ký của Richar M.Nixon, New York, năm 1978,
tr.152-153.
------------------
thay đổi lập trường, với lời
cảnh báo khẩn cấp rằng nếu không có sự ủng hộ của
đồng minh, Pháp có thể phải từ bỏ cuộc chiến. Tuy
nhiên,'Anh vẫn không đồng tình, do vậy chính quyền Mỹ
buộc phải dừng bước. Ngày 26-4, Eisenhower thông báo cho
các nhà lãnh đạo quốc hội rằng sẽ là một "sai
lầm chiến lược nếu một mình tham gia cuộc chiến như
một đối tác của Pháp" và thể hiện rõ rằng Hoà
Kỳ sẽ can thiệp chỉ với tư cách là một thành phần
trong một "tổ chức các quốc gia có liên quan".
Ba ngày sau, hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ đã chính thức
quyết định "tạm thời đình chỉ mọi hoạt động
quân sự lúc này tại Đông Dương cho tới khi chúng ta
thấy rõ diễn biến của hội nghị Geneva" (1).
Quyết
định của Mỹ đã khiến sự thất thủ của Điện Biên
Phủ là không thể tránh khỏi. Không có không lực Mỹ,
Pháp không còn cách nào để cứu vãn cụm cứ điểm
này.
Dưới hoả lực như mưa của pháo binh cùng
hàng loạt các đợt xung kích bộ binh của Việt Minh, quân
Pháp tuy đông nhưng đầy tuyệt vọng đã phải đầu hàng
vào ngày 7-5, sau 55 ngày đêm kháng cự vô ích. Các bên
tham chiến và các nước quan tâm đến tình hình Đông
Dương đã nhanh chóng chuyển sang chú ý theo dõi hội nghị
Geneva, nơi mà những ngày sau vấn đề Đông Dương sẽ
được bàn tới. Với chiến thắng sau 9 năm trường kỳ
kháng chiến, Việt Minh bước vào đàm phán với niềm tin
tưởng lớn. Do ảnh hưởng
----------------
(1)
Dulles gửi Bộ Ngoại giao ngày 22-4-1954, Văn kiện
Eisenhower, Hồ sơ Ann Withman, tóm tắt cuộc họp, ngày
26-4-1954, Văn kiện Eisenhower, hồ sơ giải mật, hộp 16,
Nhật ký Hagerty, ngày 29-4- 1954, Văn kiện
Hagerty.
-----------------
của Pháp ở Bắc Việt Nam hiện
chỉ còn giới hạn ở một số khu vực nhỏ quanh Hà Nội,
quân Pháp bắt đầu có sự chuẩn bị cho việc rút khỏi
miền Bắc và cố cứu vãn càng nhiều càng tốt ở khu
vực nam vĩ tuyến 16. Bidault than vãn, phái đoàn Pháp tới
Geneva chỉ có những quân bài không đáng giá là "hai
quân nhép và ba quân rô"(1).
Tại Geneva, Mỹ chỉ
miễn cưỡng tham dự. Việc thương lượng với bất kỳ
một quốc gia cộng sản là điều Mỹ ghét cay ghét đắng,
đặc biệt là sự hiện diện của Trung Quốc cộng sản
đã khiến cho họ thực sự khó chịu. Dulles chỉ có mặt
ở Geneva rất ngắn và theo người viết tiểu sử của
ông ta, Dulles đã hành xử như "một người khắt
khe"(2). Dulles có lần nói rằng, cách duy nhất để
ông ta và trưởng đoàn đại diện Trung Quốc Chu ân Lai
gặp gỡ là ô tô của họ đâm vào nhau, và theo tin tức
cho biết khi hai người thực sự gặp nhau trực diện, ông
Chu đưa tay ra bắt còn ngoại trưởng Dulles thì đã quay
lưng lại. Chính quyền Mỹ từ lâu lo sợ rằng hội nghị
Geneva chỉ đơn thuần tạo điều kiện cho Pháp dâng nộp
lại Đông Dương mà không bị sỉ nhục, và sự thất thủ
của Điện Biên Phủ càng làm tăng thêm mối lo ngại này.
Sau khi rời Geneva, Dulles chỉ thị cho đoàn đại biểu Mỹ
rằng cần tham gia hội nghị này chỉ với tư cách một
"quốc gia quan tâm", chứ không phải như "một
bên tham chiến hay một nhân vật chính trong các cuộc
thương lượng" và không được tán thành bất kỳ
thỏa ước nào có tác
-----------------------
(1)
Trích trong Chester Cooper, Cuộc thập tự chinh thất bại:
Mỹ tại Việt Nam, New York, năm 1970, tr.79.
(2) Townsend
Hoopers, Sự xấu xa và Jonh Foster Dullles, Boston, năm 1973,
tr.222.
hại ở khía cạnh này hay khía
cạnh khác đến sự toàn vẹn lãnh thổ của các nước
trong khối Liên hiệp (1). Trước vị thế quân sự của
Việt Minh, khi hội nghị khai mạc, Dulles tuyên bố Mỹ sẽ
không tán thành bất kỳ một thỏa thuận nào.
Thực
ra, chính quyền Mỹ hy vọng hội nghị sẽ không đạt
được một thỏa thuận nào, và trong suốt 5 tuần đầu
của hội nghị Geneva, nước này vẫn giữ quan điểm về
một triển vọng can thiệp quân sự. Khi Laniel yêu cầu Mỹ
chi viện quân sự trong trường hợp Trung Quốc ngăn cản
các đàm phán, trong lúc đó Việt Minh tiếp tục đẩy
mạnh hoạt động để giành thắng lợi trên chiến
trường, Dulles và Eisenhower đã nghiêm túc xem xét một kế
hoạch can thiệp mới. Hội đồng tham mưu trưởng liên
quân liền vạch ra các kế hoạch chi tiết cho việc triển
khai quân đội Mỹ trong trường hợp khẩn cấp, trong đó
có một chi tiết là sẽ sử dụng vũ khí hạt nhân, nếu
Mỹ muốn có lợi thế về quân sự. Các quan chức chính
quyền Mỹ đã dự thảo một nghị quyết của quốc hội
cho phép tổng thống triển khai quân đội tại Đông
Dương.
Tuy nhiên, cũng như trước đó, Mỹ và Pháp
không thể đạt được sự nhất trí về các điều khoản
đặt ra. Lúc này, chính quyền Mỹ không đặt điều kiện
chỉ can thiệp nếu được Anh ủng hộ, nhưng họ đã
xiết chặt hơn những nhượng bộ mà Pháp phải thực
hiện, nhấn mạnh rằng Pháp phải rõ ràng và nhanh chóng
cam kết quốc tế hoá cuộc chiến và đảm bảo rằng các
nước liên hiệp có thể rút khỏi khối Liên hiệp Pháp
bất kỳ lúc nào. Pháp tỏ thái độ chỉ muốn bàn về
những điều kiện của Mỹ và bổ sung một số yêu sách
mà
-----------------------------
(1) Dulles gửi Smith
ngày 12-5-1954, USVN, quyển 9, tr.457-459.
washington không thể chấp nhận,
kể cả ít nhất Mỹ cũng cam kết tượng trưng là đưa
quân vào cam kết ưu tiên triển khai không lực nếu Trung
Quốc can thiệp. Cuộc thảo luận kéo dài mà chẳng đi
đến đâu do vậy mỗi bên đều tăng dần mối cảnh giác
với nhau. Cuối cùng, chính phủ Pháp quyết định phải
tận dụng mọi khả năng giải quyết chiến tranh qua
thương lượng trước khi xem xét đến việc kéo dài cuộc
chiến. Eisenhower và Dulles phỏng đoán Pháp chủ yếu chỉ
muốn duy trì khả năng Mỹ can thiệp vào Đông Dương "như
là một lá bài tại Hội nghị Geneva", và họ không
muốn cho phép Pháp được sử dụng Mỹ như một phương
án vô hạn định. Các cuộc đàm phán đã chấm dứt vào
giữa tháng 6 (1).
Trong lúc đó, hội nghị tại
Geneva đã cố gắng để đi đến một thỏa thuận. Dưới
áp lực từ nhiều phía, Việt Minh miễn cưỡng đồng ý
với nguyên tắc chia cắt tạm thời Việt Nam để cho Pháp
tập kết quân sự sau khi ngừng bắn. Laniel trước đó đã
có những cam kết với Bảo Đại là không chấp nhận bất
kỳ một hình thức chia cắt nào, nhưng chính phủ của
Laniel đã bị hạ bệ ngày 12-6, thay vào đó là chính phủ
của Pierre Mendes. Vị tân thủ tướng này tỏ ra linh hoạt
trong vấn đề chia cắt và khi nhậm chức, ông ta hứa sẽ
từ chức nếu không đi đến một giải pháp trước ngày
21-7.
Mặc dù rất nhiều chi tiết vẫn còn phải
được bàn thảo, nhưng đã bắt đầu hình thành những
nét tổng quát của một thỏa thuận chính trị khi các
trưởng đoàn đại diện đồng ý tạm nghỉ vào ngày
19-6.
-----------------------
(1) Dulles gửi Toà lãnh
sự Mỹ tại Geneva, ngày 8-6-1954, sách đã dẫn, tr.541.
vào lúc này, chính quyền
Eisenhower có thay đổi về chính sách hướng về dài hạn.
Nhận thấy không thể kéo dài cuộc chiến mà không phải
hứng chịu những rủi ro không thể chấp nhận nổi và
Việt Minh đã giành thắng lợi tại Geneva, chính quyền Mỹ
bắt đầu đưa ra kế hoạch phòng thủ cho phần còn lại
của Đông Dương và Đông Nam Á.
Ngày 24-6, Dulles
thông báo cho các nhà lãnh đạo quốc hội Mỹ rằng bất
kỳ một thỏa thuận nào tại Geneva sẽ là "những
cái mà chúng ta phải đối phó", tuy nhiên ông ta đã
tỏ vẻ lạc quan rằng Mỹ vẫn có thể "vãn hồi
được điều gì đó" tại khu vực Đông Nam Á "không
còn dấu vết của thực dân Pháp". Mỹ sẽ đảm nhận
từ Pháp trách nhiệm bảo vệ Lào, Campuchia và phần còn
lại của Việt Nam ở phía nam đường phân chia giới
tuyến. Điều cơ bản đầu tiên là phải lập ra một
phòng tuyến mà cộng sản không thể vượt qua, rồi sau
đó "giữ vững vùng này và chiến đấu lật đổ
(các chính thể cộng sản) trong khu vực này với tất cả
sức mạnh mà chúng ta (Mỹ) có" thông qua viện trợ
kinh tế và xây dựng một lực lượng quân sự hùng mạnh.
Mỹ phải đi đầu trong việc hình thành một tập đoàn
phòng thủ khu vực đủ mạnh để "duy trì tự do tại
Đông Nam Á"(1).
Trong vài tuần sau đó, Dulles cố
gắng không mệt mỏi để đạt được một giải pháp
cho phép Mỹ "bảo vệ Đông Dương và Đông Nam Á sau
hội nghị Geneva. Ông ta tranh thủ được Anh đồng ý đặt
ra một số nguyên tắc sẽ tạo nên một giải pháp "có
thể chấp nhận được", kể cả việc bảo đảm cho
Lào, Campuchia và Nam Việt Nam được tự do
--------------------------
(1) Nhật ký Hagerty, ngày
23, 24 và 28-6-1954, Văn kiện Hagerty.
duy trì "các chế độ ổn
định và phi cộng sản" và tiếp nhận vũ khí và các
cố vấn nước ngoài. Ông ta đã gây một áp lực cực
lớn, thậm chí đe dọa là Mỹ sẽ rút hoàn toàn không
tham gia hội nghị Geneva, cho tới khi Mèndes-france chấp
nhận cái gọi là 7 điểm làm cơ sở cho lập trường
thương lượng của Pháp. Tuy có được những hứa hẹn
chắc chắn của Anh và Pháp, nhưng Dulles vẫn rất thận
trọng trong những giai đoạn cuối cùng của hội nghị
với quyết tâm duy trì quyền hoàn toàn tự do hành động.
Ông ta thông báo cho trưởng đoàn đàm phán Mỹ Walter
Bedell Smith rằng Mỹ chỉ được giữ một vai trò thụ
động trong cuộc thương lượng. Nếu thỏa thuận đáp
ứng được những nguyên tắc mà họ đề ra, chính quyền
Mỹ sẽ có bản tuyên bố tán thành đơn phương, nhưng
không đạt được các tiêu chuẩn mà họ đề ra, thì Mỹ
vẫn giữ được quyền hoàn toàn tự do để "công
khai tách ra khỏi thỏa thuận đó". Trong bất kỳ tình
huống nào, Mỹ cũng sẽ không "cùng ký với cộng
sản" và họ sẽ không ở vào vị thế phải bảo đảm
thực hiện kết quả mà hội nghị đem lại (1).
Khi
hội nghị họp trở lại, áp lực phải đi đến một
thỏa thuận càng tăng mạnh. Hạn cuối ngày 21-7 đã nhanh
chóng cận kề đối với Mèndes-france, và sự ủng hộ
của Anh-Mỹ đã tăng cường thêm vị thế thương lượng
của ông ta. Quan trọng hơn, mặc dù vị thế quân sự của
Việt Minh mang lại cho họ có quyền yêu sách mạnh mẽ về
ảnh hưởng đối với toàn Việt Nam, nhưng cả Trung Quốc
và Liên Xô đã gây một áp lực cực lớn để có một
nền hoà bình được
--------------------
(1) Văn
kiện Lầu Năm góc, I, 152.
thỏa hiệp. Liên Xô chỉ có một
lợi ích hạn chế ở Đông Nam Á và dường như đang theo
đuổi một đường lối hoà giải đối với Pháp để
khích lệ Pháp bác bỏ cộng đồng phòng thủ châu âu.
Trung Quốc lúc này đang cố gắng nâng cao uy tín quốc tế
và gia tăng ảnh hưởng của mình ở những quốc gia trung
lập ở Nam và Đông Nam Á bằng cách đóng vai trò của
một người tạo dựng hoà bình. Hơn thế, hình như Trung
Quốc đang lo ngại rằng một cuộc chiến tranh kéo dài sẽ
dẫn tới hiểm hoạ Mỹ sẽ can thiệp, do vậy có thể họ
thấy rằng một hiệp định chia cắt Việt Nam sẽ khiến
cho Việt Minh sẽ chịu bị ảnh hưởng của họ dễ dàng
hơn. Với nhiều lý do từ phía bản thân mình, cả Liên
Xô và Trung Quốc đã tiết chế bớt những yêu cầu của
Việt Minh và đóng vai trò quan trọng trong việc dàn xếp
thỏa hiệp.
Hiệp định Geneva 1954 đã phản ánh
những áp lực này.
Việt Nam bị chia cắt theo vĩ
tuyến 17 cho phép cả hai bên tập kết lực lượng quân
sự. Hiệp định nhấn mạnh sự phân chia này chỉ có giá
trị tạm thời và rằng không nên hiểu nó như "một
đường biên giới chính trị hoặc lãnh thổ". Đất
nước này sẽ được tái thống nhất bằng các cuộc
tuyển cử chịu giám sát của một uỷ ban quốc tế bao
gồm Canada, Ba Lan và Ấn Độ theo lịch trình vào mùa hè
năm 1956. Để đảm bảo cho những xung đột không được
nhen lại trong thời gian chuyển tiếp, hiệp định đã quy
định rằng các lực lượng quân sự phải rút khỏi các
vùng chia cắt tương ứng trong vòng 300 ngày, và cấm đưa
vào những lực lượng vũ trang mới cũng như cấm thiết
lập các căn cứ quân sự của nước ngoài. Không bên nào
trong hai miền của Việt Nam được tham gia bất kỳ một
liên minh quân sự. Hiệp định cũng đã thiết lập những
dàn xếp đình chiến ở Lào và Campuchia. Quyền tự vệ
của hai quốc gia này cũng được thừa nhận, nhưng để
làm giảm nỗi lo ngại của Trung Quốc khả năng Mỹ can
thiệp, hai nước này cũng không được tham gia bất kỳ
một liên minh quân sự hoặc cho phép đặt căn cứ quân
sự của nước ngoài trên đất của họ trừ trường hợp
khi an ninh của họ bị đe dọa.
Chính quyền
Eisenhower đón nhận hiệp định Geneva với những cảm
giác lẫn lộn. Đúng như họ từng lo ngại trước đây,
bản hiệp định này đã tạo ra một phản ứng dữ dội
về mặt chính trị trong nước; nhà lãnh đạo thượng
viện của Đảng Cộng hoà William Knowland coi đây là một
"thắng lợi vĩ đại nhất mà chủ nghĩa cộng sản
từng giành được trong hai mươi năm qua". Bản thân
chính quyền Mỹ cũng lo ngại về việc mất đi miền Bắc
Việt Nam-"hòn đá tảng trên đỉnh mái vòm Đông Nam
Á". Theo Smith thì Eisenhower và Dulles đã nhận thấy
"hoạt động ngoại giao hiếm khi có thể cho phép
giành được thắng lợi tại bàn đàm phán những gì
không thể giữ nổi được trên chiến trường".
Chính
quyền Mỹ đã tự bảo vệ bản thân trước những chỉ
trích ở trong nước và vẫn giữ được quyền tự do
hành động bằng cách không chịu trực tiếp tham gia hiệp
định. Trong một tuyên bố đơn phương, Mỹ chỉ đơn
giản "ghi nhận" về hiệp định Geneva và Mỹ sẽ
không "gây phiền hà cho những thỏa thuận này"
bằng việc đe dọa sử dụng hoặc sử dụng vũ lực
(1).
Tuy nhiên, không phải toàn thể chính quyền Mỹ
không
----------------------------
(1) Đã dẫn,
571-572.
hoàn toàn hài lòng với những
kết quả đạt được. Những thỏa thuận trong bản hiệp
định này còn tốt đẹp hơn là những gì Mỹ từng dự
kiến vào lúc khai mạc và chúng cho phép Mỹ có phạm vi
tự do đủ để tiếp tục theo đuổi đường lối mà
Dulles đã vạch ra. Việc chia cắt Việt Nam chẳng dễ chịu
gì, nhưng nó đã mang lại cho Mỹ cơ hội xây dựng lực
lượng phi cộng sản tại Nam Việt Nam, một thử thách mà
Eisenhower và Dulles rất sốt sắng đón nhận. Bản hiệp
định này có đặt ra những hạn chế về sự can thiệp
từ bên ngoài, nhưng chính quyền Mỹ không cho rằng đó
là những hạn chế không thể vi phạm. Và một số quy
định dường như là có lợi cho Mỹ. Thí dụ, Eisenhower
và Dulles thống nhất rằng nếu như tuyển cử được tổ
chức ngay lập tức, cụ Hồ sẽ dễ dàng giành thắng
lợi. Nhưng sự trì hoãn 2 năm cho Mỹ "cơ hội khá
tốt" để chuẩn bị và sự hiện diện của Canada
trong Uỷ ban giám sát sẽ cho phép Mỹ "thực hiện
được ý đồ của mình"(1).
Tuy chủ nghĩa thực
dân Pháp dường như đã chấm dứt ở Đông Nam Á, nhưng
Eisenhower và Dulles nhìn nhận vấn đề này với tâm trạng
bình thản, nếu không nói là hoàn toàn phấn chấn. Ngay
từ đầu, quan hệ đối tác Pháp-Mỹ ở Đông Dương đã
mang nặng sự nghi ngờ lẫn nhau sâu sắc và căng thẳng
ngấm ngầm. Từ năm 1950 đến 1954, tổng viện trợ quân
sự của Mỹ cho Pháp là 2,6 tỷ USD, nhưng Mỹ đã thất
bại trong việc gây ảnh hưởng đối với các chính sách
của Pháp dù bằng những lời lẽ thuyết phục thân thiện
hoặc
------------------------
(1) Biên bản điện
đàm, Eisenhower và Dulles, ngày 20-7-1954, Văn kiện
Eisenhower, Nhật ký, Hộp 4.
bằng cách áp đặt các điều
kiện ràng buộc, và trong thực tế, sự cam kết với Pháp
rút cục là một "ngõ cụt đường cùng".
Eisenhower
và Dulles đã quy kết những thất bại của Pháp chủ yếu
là do Pháp mưu toan duy trì vĩnh viễn chủ nghĩa thực dân
tại Đông Dương, và họ tự tin rằng không có vấn đề
mà pháp gây ra, Mỹ có thể xây dựng được một lực
lượng Phi cộng sản có khả năng thế chân Việt
Minh.
Eisenhower nhận xét: "Chúng ta phải cộng
tác với những người này, và rồi tự họ sẽ sớm nhận
ra rằng chúng ta là bạn bè của họ và họ không thể
sống thiếu chúng ta"(1). Tuy nhiên thừa nhận là hiệp
định Geneva chứa đựng "rất nhiều điều mà chúng
tôi không muốn", nhưng Dulles nhấn mạnh ràng bản
hiệp định đó có nhiều "khía cạnh có lợi",
quan trọng hơn cả, "địa vị độc lập thực sự"
cho Lào, Campuchia và Nam Việt Nam. Ông ta kết luận: "Điều
quan trọng nhất không phải khóc thương cho quá khứ mà
phải nắm lấy cơ hội tương lai nhằm ngăn chặn không
để việc mất Bắc Việt Nam để cuối cùng dẫn đến
chỗ chủ nghĩa cộng sản chiếm ưu thế trên toàn cõi
Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình
Dương"(2).
---------------------------
(1) Nhật
ký Hagerly, ngày 23-7-1954, Văn kiện Hagerty.
(2) Họp báo
của Dulles ngày 23-7-1954, Văn kiện John Foster Dulles, Thư
viện nguyên cảo Seeley G.Mudd, N.J.
Chương II
CON ĐẺ
CỦA NƯỚC MỸ: XÂY DỰNG MỘT QUỐCC GIA TẠI NAM VIỆT
NAM (1954-1961)
Năm 1956, thượng nghị
sĩ John F. Kennedy tuyên bố: "Những nguyên lý cơ bản
trong chính sách đối ngoại của Mỹ tuỳ thuộc đáng kể
vào một nước Việt Nam tự do và hùng mạnh. Việt Nam
tượng trưng cho Thế giới Tự do tại Đông Nam Á, là
tảng đá đỉnh vòm, là chân móng của con đê".
Kennedy
cảnh báo, nếu "làn thuỷ triều đỏ của chủ nghĩa
cộng sản" đổ vào Việt Nam thì phần lớn châu Á
sẽ bị đe doạ. Vị thượng nghị sĩ này còn phát biểu,
nền kinh tế Việt Nam rất quan trọng đối với nền kinh
tế của Đông Nam Á, "sự tự do chính trị" của
Việt Nam là một "nguồn động viên cho những ai đang
phấn đấu để đạt tới hoặc duy trì tự do ở khắp
khu vực châu Á - và thậm chí là trên toàn thế giới".
Mỹ có một bổn phận đặc biệt xuất phát từ lợi ích
quốc gia đối với Việt Nam và vì thế Kennedy đã nhấn
mạnh trong phần kết: "Việt Nam là con đẻ của chúng
ta, chúng ta không thể bỏ rơi nó và cũng không thể làm
ngơ trước những nhu cầu của nó"
(1).
--------------------------
(1) John F. Kennedy, "Lợi
ích của Mỹ tại Việt Nam", Tuyển tập diễn văn
quan trọng, số 22, ngày 1-8-1956, tr. 617-619.
Lúc Kennedy phát biểu trước Hội
những người bạn Mỹ của Việt Nam (American Friends of
Viet Nam), có thể ông ta đã sa đà vào lối nói cường
điệu, nhưng bài diễn văn đó đã bao quát những lý do
căn bản trong chính sách của Mỹ tại Việt Nam trong những
năm 1950, đã đề cập ít nhiều tới vai trò then chốt
của Mỹ vào lúc khai sinh ra nước Việt Nam và nêu bật
tầm quan trọng của đất nước này sau đó.
Vì cho
rằng nếu Việt Nam rơi vào taychủ nghĩa cộng sản thì
nguy cơ mất toàn bộ Đông Nam Á rất dễ xảy ra, nên sau
hội nghị Geneva, chính quyền Eisenhower đã kiên quyết
thực hiện việc tạo dựng miền Nam Việt Nam thành một
quốc gia mà sau này sẽ là thành trì chống lại sự bành
trướng của chủ nghĩa cộng sản và đóng vai trò như
một nơi thử nghiệm cho "nền dân chủ" ở châu
Á.Bắt nguồn từ tình trạng khẩn cấp của chiến tranh
lạnh, công cuộc thử nghiệm xây dựng quốc gia này đã
thu hút sự quan tâm của xã hội Mỹ và mang nhiều dáng
dấp của một cuộc thập tự chinh.
Bắt đầu như
một canh bạc đầy rủi ro, nhưng có lúc công cuộc thử
nghiệm này lại có vẻ như là một trong những câu chuyện
thành công nhất trong chính sách đối ngoại của Mỹ thời
hậu chiến. Chỉ vào cuối thập kỷ đó, khi mà phong trào
cách mạng bùng lên mạnh mẽ ở miền Nam Việt Nam thì
người Mỹ mới nhận thức đầy đủ về tầm vóc và sự
phức tạp của vấn đề mà trước đó họ đã gánh
vác.
Cảnh báo rằng hội nghị Geneva là một "thảm
họa" tạo điều kiện cho "chủ nghĩa cộng sản
có bước nhảy vọt nghiêm trọng", mùa hè năm 1954
hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ kêu gọi thực hiện một
"sáng kiến mới" để giữ vững địa vị của
Mỹ ở Đông Nam Á.Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ đề
nghị nhiều vấn đề, trong đó có việc dùng "mọi
biện pháp hiện có" để làm suy yếu chế độ Việt
Minh còn non nớt ở miền Bắc Việt Nam (1). Trong thời
gian còn lại của năm đó, một nhóm CIA nằm ở Sài Gòn
dưới sự chỉ huy của đại tá Edward Lansdale đã đề ra
nhiều biện pháp nhằm hoạt động lén lút quấy rối
chính quyền Hà Nội. Nhiều toán bán quân sự thâm nhập
qua khu vực phi quân sự thực hiện các nhiệm vụ phá
hoại, như phá huỷ các nhà máy in, đổ chất ô nhiễm
vào động cơ xe buýt làm tê liệt hệ thống giao thông
vận tải. Những toán này cũng thực hiện các hoạt động
"tâm lý chiến" nhằm gây khó khăn cho chính quyền
Việt Minh và kích động người dân di cư vào Nam. Chúng
rải truyền đơn giả loan báo những biện pháp khắc
nghiệt mà chính quyền miền Bắc sẽ áp dụng, thậm chí
còn sử dụng các nhà chiêm tinh dự đoán cái gọi là
thời kỳ khó khăn gian khổ ở miền Bắc và thời kỳ
tốt đẹp ở miền Nam (2) Trong lúc đó, Dulles vội vã tới
Manila thương lượng về một hiệp ước an ninh Đông Nam
Á mà trước đây trong cuộc khủng hoảng Điện Biên Phủ
ông ta từng xúc tiến mạnh mẽ. Tổ chức Hiệp ước
Đông Nam Á (SEATO) có quá nhiều điểm yếu. Các quốc gia
trung lập lớn của khu
---------------------------------
(1) Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, "Chính sách
của Mỹ tại Viễn Đông". tháng 8-1954, Quốc hội Mỹ,
House, Uỷ ban Quân dịch, Quan hệ Mỹ- Việt Nam 1945-1967:
Nghiên cứu của Bộ Quốc phòng, Washington, D.C, năm 1971,
quyển 10. tr.731-741.
(2) Neo Sheehan, sách đã dẫn, văn
kiện Lầu Năm góc được công bố bởi Thời báo New
York, New York, năm 1971, tr.16-18, Sau đây xin được trích là
Văn kiện Lầu Năm góc (NYT).
vực này như Mianma, ấn Độ,
Indonesia đều từ chối tham gia và vì những hạn chế do
hiệp định Geneva áp đặt nên Lào, Campuchia và Nam Việt
Nam cũng không thể chính thức tham gia. Các nước thành
viên chỉ cam kết "đối phó với những mối nguy hiểm
chung" theo "những quy trình hiến định" của
bản thân họ và có "tham khảo" ý kiến lẫn
nhau. Tuy nhiên theo quan điểm của Dulles, thì nghị định
thư SEATO vượt quá sự mong đợi. Ông ta hy vọng rằng,
chỉ riêng sự tồn tại của liên minh này cũng đủ để
răn đe cộng sản tấn công khu vực Đông Nam áp Quan trọng
hơn, một nghị đính thư tách rời đã quy định cụ thể
Lào, Campuchia và miền Nam Việt Nam là những khu vực mà
nếu bị "đe doạ" sẽ gây "nguy hiểm"
cho "hoà bình và an ninh của các nước ký Hiệp ước".
Trong cuộc khủng hoảng Điện Biên Phủ, Dulles nhận thấy
bị bó buộc do thiếu cơ sở pháp lý cho việc can thiệp
vào Đông Dương. Nghị định thư SEATO không chỉ khắc
phục khiếm khuyết này mà còn tạo cơ sở cho tình huống
cần phải có "Hành động phối hợp trong tương lai
và đem lại cho miền Nam Việt Nam một vị thế quốc tế
bề ngoài như một quốc gia "tự do" (1).
Vấn
đề then chốt để tiến tới một "sáng kiến mới"
của Mỹ là miền Nam Việt Nam. Tháng 8-1954, hội đồng An
ninh quốc gia đã khuyến nghị rằng Mỹ "cần phải
cố hết sức để duy trì một Nam Việt Nam thân thiện
phi cộng sản và ngăn cản cộng sản giành thắng lợi
qua tổng tuyển cử
-----------------------------------------------
(1). Thành
viên của SEATO bao gồm Mỹ, Anh, Pháp, Auslralia, New Zealand,
Thái Lan, Philippines, Pakistan, Về thái độ của Dulles với
liên minh này, xem phỏng vấn của Richard Bissell, Văn kiện
Dulles, Princeton, N.J.
nhưng không công khai trái với
lập trường của Mỹ đối với các hiệp định đình
chiến..."(1) Vi phạm tinh thần và đôi khi cả lời
văn của hiệp định Geneva, trong năm 1954 rồi cả sau đó,
chính quyền Eisenhower đã câu kết chặt chẽ với chính
quyền Ngô Đình Diệm đẩy Pháp ra khỏi Việt Nam và
không tiếc tay vung vãi các nguồn lực của mình vào việc
xây dựng một quốc gia phi cộng sản có khả năng đứng
vững tại Nam Việt Nam mà sau này sẽ đóng vai trò là một
"hòn đá tảng của Thế giới Tự do tại Đông Nam
á'? Giá như Mỹ nhìn rộng ra toàn thế giới thì chắc
hẳn họ không thể lựa chọn một địa điểm kém triển
vọng như vậy để thử nghiệm việc xây dựng một quốc
gia. Giải pháp chia cắt đã để 14 trong số 25 triệu dân
Việt Nam ở lại trên vĩ tuyến 17. Chế độ Bắc Viết
không phải không gặp khó khăn và họ cũng đang phải
đương đầu với những thách thức to lớn của công cuộc
tái thiết hậu chiến. Tuy vậy, miền Bắc có một lực
lượng quân đội hùng hậu được trang bị khá tốt và
một chính quyền được tổ chức chặt chẽ. Hồ Chí
Minh là nhà lãnh đạo dân tộc có uy tín nhất trên cả
nước và Việt Minh đã giành được tình cảm quý trọng
của nhân dân về việc lãnh đạo cuộc chiến chống
Pháp. Không chỉ vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh và tất cả
các dân tộc Việt Nam đều thiết tha với nguyện vọng
thống nhất đất nước...
Tại miền Nam Việt Nam,
tình hình đã trở nên rối ren.
Nền kinh tế thuộc
địa lúc này phụ thuộc hoàn toàn vào xuất khẩu gạo
và cao su để cung cấp tài chính nhập khẩu
---------------------------
(1) Hội đồng An ninh Quốc
gia, "Chính sách của Mỹ tại Viễn Đông" tháng
8-1954, USVN, quyển 10,tr.73l-741.
hàng hoá thiết yếu. Trải qua
gần 14 năm chiến tranh, miền Nam bị tàn phá nặng nề và
chỉ có những khoản chi tiêu quân sự khổng lồ của
Pháp mới có thể giữ cho vùng đất này khỏi tan rã,
nhưng những khoản chi tiêu đó sẽ chấm dứt trong nay
mai. Pháp cuối cùng đã trao quyền độc lập cho nhà nước
Việt Nam vào tháng 6-1954, nhưng chính phủ trên danh nghĩa
do Bảo Đại đứng đầu chỉ là hư danh.
Đảm
nhiệm chức vụ Thủ tướng từ mùa hè năm 1954, Ngô Đình
Diệm-một nhân vật kiên cường chống Pháp- đã thừa kế
những thể chế cổ lỗ theo kiểu Pháp, rất không phù
hợp với nhu cầu của một quốc gia độc lập - đó là
"một nền chuyên chính phương Đông mang bản sắc
Pháp" theo cách gọi đầy miệt thị của một người
Mỹ. Chính quyền Diệm thiếu các viên chức có kinh
nghiệm, lại bị hoen ố bởi mối quan hệ lâu dài không
lấy gì làm tốt đẹp với Pháp nên chính phủ này không
có cơ sở ủng hộ ở nông thôn hoặc trong số các nhân
vật theo chủ nghĩa dân tộc phi cộng sản ở Sài Gòn.
Quân đội của chính quyền này được Pháp dựng lên
trong tâm trạng tuyệt vọng ở những giai đoạn cuối
cùng của cuộc chiến và tướng Navarre đã từng gọi một
cách chính xác là một "đám quân ô hợp"
(1).
Pháp dùng chính sách cổ điển "chia để
trị" đối với các xứ thuộc địa Đông Dương và
sau hội nghị Geneva, thực trạng cơ bản ở miền Nam Việt
Nam là sự chia rẽ về chính trị. Quân Pháp tiếp tục ở
lại và chính phủ Pháp vẫn còn níu kéo hy vọng phát huy
ảnh hưởng ở thuộc địa cũ của
mình.
-----------------------------------
(1) Robert
Mcclintock gửi Bộ Ngoại Giao, ngày 20-5-1953, và ngày 8-
5-1954, FR, 1952-1954, XIII, tr.575, tr.1519.
Việt Minh kiểm soát được nhiều
nơi, thậm chí ngay cả cửa ngõ Sài Gòn. Các phe phái, tổ
chức chính trị-tôn giáo với chính quyền và quân đội
riêng thống trị đồng bằng sông Cửu Long và ngoại Ô
Sài Gòn như những lãnh địa riêng của họ. Vì coi việc
di cư ồ ạt từ miền Bắc Việt Nam như là một biện
pháp có khả năng thực hiện làm lệch cán cân chính trị
có lợi cho miền Nam và thậm chí là giành được thắng
lợi trong cuộc tổng tuyển cử năm 1956, nên Pháp và Mỹ
đã tích cực kích động dân miền Bắc vượt giới tuyến
17. Trong vài tuần sau hiệp định Geneva, các giáo dân Công
giáo miền Bắc đã đổ vào miền Nam với nhịp độ
khoảng 7.000 người một ngày, bổ sung thêm những căng
thẳng tôn giáo và sắc tộc trong một hỗn thế vốn đã
vô cùng bất ổn.
Một số quan chức Mỹ đã đưa
ra lời cảnh báo nghiêm khắc về những cạm bẫy trong
công cuộc xây dựng quốc gia tại miền Nam Việt Nam. Bản
đánh giá của cơ quan tình báo quốc gia tháng 8-1954 đã
khuyến cáo rằng, dù Mỹ có tích cực ủng hộ thì cũng
có "rất ít" cơ hội để thiết lập một chính
phủ mạnh và ổn định (1) tại Nam Việt Nam. Khi nhận
được đề nghị xây dựng chương trình huấn luyện quân
đội Nam Việt Nam, hội đồng tham mưu trưởng liên quân
đã lưỡng lự và cho rằng, nếu xây dựng một quân đội
thiếu "sự kiểm soát của một chính phủ dân sự ổn
định và tương đối mạnh" thì điều đó sẽ trở
thành "vô vọng"(2). Do nhất trí
--------------------------------
(1) Đánh giá của
tình báo quốc gia số 63-5-54, "Viễn cảnh hậu Geneva
tại Đông Dương", ngày 3-8-1954, USVN, Quyển 10,
tr.692.
(2) Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân gửi Bộ
trưởng Quốc phòng, ngày 4, 12-8-1954, sách đã dẫn,
tr.701-702, tr.759-760.
-----------------------------
rằng,
tình hình miền Nam Việt Nam là "cực kỳ vô vọng",
bộ trưởng quốc quốc phòng Charles E. Wilson đã yêu cầu
Mỹ rút ra "một cách hoàn toàn càng sớm càng tốt".
Với những lời lẽ mang tính tiên tri trong hơn một thập
kỷ sau, Wiison cảnh báo rằng ông nhận thấy "không
có gì ngoài nỗi thống khổ đang chờ đợi chúng ta nếu
chúng ta vẫn tiếp tục bám lấy khu vực đó"
(1).
Song những lời dự báo bi quan đó không làm nản
lòng Eisenhower và Dulles. Ngoại trưởng Dulles thừa nhận
rằng, cơ hội thành công có thể không quá một phần
mười.
Nhưng mặt khác ông ta và tổng thống
Eisenhower vẫn cho rằng, nếu không hành động thì có nguy
cơ toàn bộ khu vực có tầm quan trọng sinh tử này rơi
vào tay chủ nghĩa cộng sản. Dường như cảm thấy rằng
mình xuất phát từ động cơ trong sáng và sử dụng những
phương pháp ưu việt nên Mỹ cho rằng họ có thể thành
công ở nơi mà Pháp đã thất bại trong việc xây dựng
một quân đội Nam Việt Nam mạnh và một chính phủ có
khả năng trụ vững. Thêm nữa, trong hai năm đầu cầm
quyền, chính quyền Eisenhower chỉ với những nỗ lực ở
mức độ hạn chế đã lật đổ được các chính phủ
không thân thiện ở Iran và Guatemala, do vậy Eisenhower và
Dulles có thể đã đi đến kết luận rằng họ cũng có
thể giải quyết được tình hình rối loạn ở Việt
Nam.
Tuy thừa nhận mình có sa đà vào một cuộc
tranh luận kiểu "gà đẻ ra trứng hay trứng đẻ ra
gà", nhưng Dulles đã trực tiếp thông báo cho các tham
mưu trưởng liên quân rằng,
------------------------------
(1) Biên bản họp Hội đồng An ninh Quốc gia ngày
26-10-1954, FR 1952-1954, III.
2184-2186.
----------------------------------
một quân
đội mạnh có thể làm ổn định chính phủ Nam Việt Nam
hơn bất kỳ một yếu tố nào khác (1). Lập luận của
ông ta cuối cùng đã thuyết phục được tổng thống
Eisenhower. Tại cuộc họp của hội đồng An ninh Quốc gia
ngày 22-10-1954, Eisenhower đã dùng một câu châm ngôn để
khẳng định với "lòng tin sâu sắc" rằng "kẻ
chột làm vua xứ mù", qua đó có thể ông ta muốn nói
rằng, dù có nhiều trở ngại nhưng Mỹ vẫn đủ tài lực
để chiến thắng (2). Ngay sau đó, chính quyền Mỹ đã
lao vào một chương trình viện trợ lớn cho Nam Việt Nam.
Cam kết này được chuẩn bị một cách thận trọng và
kèm với điều kiện về những cải cách cơ bản mà Diệm
phải thực hiện, nhưng ý nghĩa của bước đi này thật
rõ ràng: Cuộc thử nghiệm xây dựng quốc gia đã bắt
đầu được thực hiện.
Nhân vật mà Eisenhower trao
cho cam kết mang tính định mệnh này có những phẩm chất
hoàn hảo của một người theo chủ nghĩa dân tộc, theo
quan điểm của người Mỹ, quan trọng hơn, là một người
chống Cộng. Là một trong 9 người con của Ngô Đình Khả,
một vị quan của triều đình phong kiến Huế, Ngô Đình
Diệm theo học trường dòng Công giáo của Pháp tại Huế
và trường Hành chính công ở Hà Nội, nơi mà sau khi đỗ
thủ khoa, ông ta được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ
máy của nhà nước bảo hộ của An Nam. Là một con chiên
mộ đạo, ông ta trở thành một phần tử chống cộng
khét tiếng trước khi trở
---------------------------
(1)
Dulles gửi Charles E. Wilson, ngày 18-8- 1954, USVN, Quyển 10,
tr.728-729.
(2) Biên bản của cuộc họp Hội đồng An
ninh Quốc gia, ngày 22-l0- 1954, FR. 1952-1954, XIII, tr.
2154.
---------------------------------
thành một nhân
vật theo chủ nghĩa dân tộc. Khi đảm nhiệm chức trách
tại miền Trung Việt Nam, Diệm đã phát hiện ra một cuộc
khởi nghĩa do Cộng sản khởi xướng năm 1929 và ông ta
đã ra sức đàn áp các nhà lãnh đạo của cuộc khởi
nghĩa đó. Để thưởng công, Pháp bổ nhiệm Diệm giữ
chức vụ bộ trưởng nội vụ, chức vụ cao nhất trong
nội các.
Nhưng khi Pháp không chịu thực
hiện cải cách theo đề nghị của ông ta, Diệm đã từ
chức và không chịu giữ chức vụ đó nữa kể cả khi
bị đe dọa trục xuất. Trong phần lớn hai thập niên
tiếp theo, Diệm gần như chịu cảnh lưu đày trên chính
quê hương mình, sống một cuộc đời ẩn dật, không
nhận lời mời của Nhật, Việt Minh và Bảo Đại tham
gia một số chính phủ thành lập sau Chiến tranh thế giới
thứ 2.
Cuối cùng, Diệm rời Việt Nam, tới Rome,
rồi dừng lại ở tu viện Maryknoll tại Lakewood, bang New
Jersey. Khi ở Mỹ, ông ta đã đi diễn thuyết ở nhiều
nơi và bằng những lời kêu gọi đầy nhiệt huyết cho
một nước Việt Nam độc lập, phi cộng sản, ông ta đã
thu hút được sự chú ý của nhiều nhân vật có ảnh
hưởng lớn như Hồng y giáo chủ Spellman thuộc dòng
Francis và các thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ là John F.
Kenneđy và Mike Mansfield (1).
Đầu óc dân tộc chủ
nghĩa và kinh nghiệm quản lý hành chính của Diệm đã
khiến cho ông ta xuất hiện như một lựa chọn logic cho
chức vụ thủ tướng của một Việt Nam độc lập nhưng
ông ta thiếu nhiều phẩm chất cần thiết để đối phó
những thách thức vấp phải. Và phẩm chất đáng chú ý
------------------------------------
(1) Frances
FitzGerald, Lửa trong lòng hồ: Người Việt Nam và Người
Mỹ tại Việt Nam, Boston, năm 1972 tr.80-84,
98-99.
-------------------------------------
nhất của
ông ta dường như là một lòng quyết tâm ương ngạnh
kiên trì đương đầu với những hiểm nguy và một thiên
hướng sinh tồn rất rõ rệt. Là người rất nguyên tắc
Diệm có xu hướng cầu toàn, điều đó khiến cho ông ta
mất đi sự linh hoạt cần thiết để xử lý những vấn
đề nan giải và những xung đột sâu sắc mà ông ta vấp
phải. Tình yêu đất nước trừu tượng của Diệm thật
"sâu sắc", nhưng ông ta là một con người sống
xa lánh quần chúng, ít nhạy bén trước nhu cầu và khó
khăn của người dân Việt Nam. Không nhận thức được
thực chất của các quy trình chính trị và giá trị
truyền thống bị mai một và phá huỷ do chiến tranh, ông
ta nhìn về Việt Nam như một đế chế phong kiến không
còn tồn tại. Diệm không có một kế hoạch xây dựng
một quốc gia hiện đại hoặc động viên dân chúng. Là
một người hướng nội và trầm lặng, ông ta không gây
dựng được uy tín như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Robert
Shaplen hồi tưởng: "Diệm thấp và đậm người,
khuôn mặt tròn trịa và mái tóc đen dày, dáng đi lật
đật. Ông ta luôn mặt đồ trắng và trông như được
tạc bằng ngà". Tuy có tài ăn nói - "chỉ một
câu hỏi cũng làm bùng lên thành một bài diễn giải kéo
dài một giờ hoặc hơn"- nhưng Diệm lại ít chịu
lắng nghe và tỏ ra lãnh đạm với ngay cả phản ứng mà
ông ta gây ra cho người khác (1).
Con đường dẫn
tới chức tổng thống Nam Việt Nam của Diệm đến nay
vẫn còn chưa sáng tỏ. Nhà lãnh đạo theo Công giáo này
đã có liên hệ với chính quyền Mỹ từ năm
---------------------
(1) Robert Shaplen, Cuộc cách
mạng thất bại: Mỹ ở Việt Nam, 1946- 1966, New York, năm
1966, tr.104.
------------------
1951, ông ta phê phán
sự lãnh đạo của Bảo Đại và thể hiện một cách
khôn ngoan niềm hy vọng "có phần khát khao" rằng
Mỹ có thể đưa quân vào Việt Nam. Thái độ chống Pháp
dữ dội của Diệm có thể đã quá mức dưới con mắt
của Bộ Ngoại giao Mỹ do bộ trưởng Dean Acheson đứng
đầu lúc bấy giờ, và các nhà ngoại giao Mỹ đã đánh
giá nhà dân tộc tự lưu đầy này là quá cứng nhắc,
quá Thiên chúa giáo và quá "thầy tu" để làm một
nhà lãnh đạo hiệu quả. Tuy nhiên, Diệm cũng giành được
sự chú ý của tướng William Donovan, cục trưởng Cục
Tình báo Trung ương Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ
2, người mà lúc đó từ văn phòng của mình ở phố Wall
đang chỉ huy một mạng lưới chống cộng trên toàn cầu.
Donovan và những người Mỹ theo đạo Thiên chúa danh tiếng
như Spellman và Mansfield, dù được sự ủng hộ của CIA
hay không, có thể đã gây sức ép buộc Bảo Đại phải
chấp nhận Diệm. Hoặc vị hoàng đế này có thể đã
tìm đến Diệm như một cách thức để ông ta giành được
sự ủng hộ cần thiết của người Mỹ nhằm thoát khỏi
ách thống trị của Pháp (1).
Tuy Mỹ có thể có tác
động đến việc bổ nhiệm Diệm, nhưng rất nhiều quan
chức cấp cao của Mỹ không mấy
--------------------------------
(1) Acheson gửi Công
sứ quán tại Sài Gòn, ngày 16-1-1951 văn kiện số #3051,
Văn kiện William J. Donovan, Viện Lịch sử Quân sự Mỹ,
Carlisle Barrcks, Pa. Các hoạt động chống cộng của
Donovan được phân tích trong Anthony Cave Brown, Vị Anh hùng
cuối cùng: Wild Bill Donovan (New York, 1984), tr.820-822, 828. Về
sự vận động của giới Thiên Chúa Giáo và sự liên can
của CIA trong dẫn đến việc cầm quyền của Diệm: xem
nghiên cứu của Quốc hội Mỹ, Chính quyền Mỹ và Cuộc
chiếu tranh Việt Nam, phần I, Washington, D.C., năm 1983,
tr.261-262.
----------------------------------
phấn khích trước việc Diệm
lên cầm quyền. Thực vậy, sau này nhìn lại người ta
mới ngạc nhiên vì những dự đoán thực tế ban đầu về
tài lãnh đạo của vị tổng thống này đã gợi ra những
vấn đề lớn có thể phát triển về sau. Từ Geneva,
Walter Bedell Smith đã tỏ ý hi vọng rằng Diệm có thể là
"một Gianđa chính trị hiện đại" với "khả
năng tập hợp đất nước hậu thuẫn cho mình". Tuy
nhiên, tại Paris Đại sứ Douglas Dillon cũng đành bằng
lòng trước sự xuất hiện của "nhân vật thần bí"
này chỉ bởi vì các vị tiền nhiệm của ông ta đã đặt
ra những chuẩn mực quá thấp.
Trong vài tuần lễ
đầu khi Diệm nhậm chức, đại diện Robert McClintock tại
Sài Gòn đã gọi ông ta là "một đấng cứu thế
không có lời phán truyền", phàn nàn về "tầm
nhìn thiển cận" của Diệm rồi chua cay nhận xét
rằng "chính sách duy nhất mà Diệm có thể đưa ra
được là yêu cầu Mỹ viện trợ ngay dưới mọi hình
thức" (1).
Trong suốt thu đông 1954-1955, Diệm là
tiêu điểm của cuộc tranh cãi gay gắt và kéo dài giữa
Mỹ và Pháp. Tranh cãi chắc chắn là điều không thể
tránh khỏi do những căng thẳng kéo dài trong 4 năm hợp
tác đầy khó khăn, và cuộc tranh cãi này càng trở nên
gay gắt hơn do nhiều mối nghi ngờ lẫn nhau hết sức sâu
sắc, từ cấp hoạch định chính sách cao cấp tại Paris
và Washington xuống cấp thực hiện ở Sài Gòn. Pháp chỉ
ủng hộ cho Diệm ở mức độ vừa phải, còn
------------------------------------
(1) T.B. Millar, tái
bản, Bộ trưởng Ngoại giao Allstralia: Nhật ký của R.
G.
Cassey, 1951-1960, London, năm 1972, tr.159; Dillon gửi Bộ Ngoại
giao Mỹ, ngày 24-5-1954, FR, 1952-1954, XIII, tr.1608-1609;
McClintock gửi Bộ Ngoại giao Mỹ, ngày 4-7-1954, sách đã
dẫn, tr.1783-1784.
-------------------------------------
Mỹ
với một số lý do biện minh lại lo ngại rằng Paris chơi
trò hai mặt, vừa tìm cách duy trì địa vị của họ ở
miền Nam vừa mưu toan xây dựng cầu nối với Hà Nội.
Các quan chức Mỹ cũng sợ rằng xu hướng của chính phủ
Pháp là để cho người tài năng nhất chiến thắng trong
cuộc tuyển cử sắp tới có thể tạo điều kiện cho Hồ
Chí Minh thắng lợi. Pháp lúc nào cũng bực bội với việc
Mỹ nhảy vào Việt Nam và nghi ngờ rằng Mỹ sử dụng
Diệm để tìm cách thay chân họ. Một nhà báo Pháp hằm
hè: "Diệm có phẩm chất hiếm có và đáng quý ở
châu Á, đó chính là ông ta là một kẻ thân Mỹ"
(1). Những mối bất hoà về vấn đề Việt Nam càng thêm
gay gắt do Pháp bác bỏ cộng đồng Phòng thủ châu âu,
điều này khiến cho quan hệ Pháp-Mỹ trở nên căng thẳng
hơn và chí ít cũng tạm thời đẩy liên minh phương Tây
vào một thế lộn xộn.
Tại Việt Nam, Mỹ đã nắm
hầu hết các con bài và cuối cùng họ có thể bắt nước
Pháp cứng đầu chịu sự áp đặt chính sách của họ.
Pháp vẫn phụ thuộc vào viện trợ của Mỹ để chi viện
cho quân đội của họ ở Việt Nam và vào mùa thu năm
1954 Washington đã dùng lợi thế này để buộc Paris cam
kết ủng hộ Diệm. Chính quyền Eisenhower cũng đòi viện
trợ kinh tế và quân sự trực tiếp cho chính phủ Diệm
chứ không phải là rót qua phái đoàn Pháp ở Sài Gòn như
Paris đề nghị. Trong suốt mùa đông năm 1954- 1955, các
quan chức Pháp vẫn khăng khăng nói rằng, Diệm không có
khả năng điều hành chính phủ và đề nghị để Bảo
Đại hoặc một nhân vật dân tộc danh tiếng nào đó
----------------------------------
(1) Trích trong FR,
1952-1954, XIII, tr.2333.
------------------------------------
thay Diệm. Nhưng Dulles không chấp thuận. Vị bộ
trưởng này kết luận: nếu đúng như Pháp lập luận Bảo
Đại là người duy nhất có thể cứu được Việt Nam
thì "chúng ta chắc chắn sẽ tuyệt vọng". Ông ta
thừa nhận Diệm có một số nhược điểm, nhưng đồng
ý với lý lẽ của đại sứ Donald Heath rằng "không
ai có thể thay thế ông ta để phục vụ tốt hơn cho lợi
ích của Mỹ" (1). Hơn hết, sự ủng hộ tích cực và
hào phóng của Dulles và Mỹ chính là nhân tố giúp Diệm
tiếp tục cầm quyền bất chấp sự phản đối kịch
liệt của Pháp.
Sự hỗ trợ kịp thời của Mỹ đã
giúp Diệm đè bẹp hàng loạt âm mưu quân sự chống
chính phủ của ông ta. Đại sứ quán Mỹ đã ngăn chặn
một âm mưu đảo chính vào mùa thu năm 1954 bằng cách
tuyên bố công khai rằng, bất kỳ sự thay đổi chính phủ
nào sẽ dẫn đến Mỹ ngừng viện trợ cho Nam Việt Nam.
Edward Lansdale cũng tự tay chặn lại một cuộc đảo chính
khác vào tháng 11. Nguyên là một viên chức làm nhiệm vụ
thông tín, Lansdale đã phục vụ tại cơ quan Tình báo
chiến lược (OSS) trong Chiến tranh thế giới thứ 2 và
sau đó đã giúp tổng thống Philippines Ramon Maggsaysay trấn
áp nghĩa quân Huk. Là một nhà hoạt động khoa trương và
giàu óc tưởng tượng với nhiều mưu ma chước quỷ, ông
ta đã nhanh chóng tranh thủ được tình cảm của Diệm và
trở thành một trong những cố vấn đáng tin cậy nhất
cũng như người ủng hộ lớn tiếng nhất của vị thủ
tướng này. Khi biết một nhóm sĩ quan đang âm mưu
---------------------------------
(1) Đại Sứ quán Mỹ
tại Paris gửi Bộ Ngoại giao, ngày 19-12-1954, USVN,
quyển 10, tr.826-834; Heath gửi Walter Robertson, ngày 17-1
12-1954, sách đã dẫn,
tr.824-825.
---------------------------------
lật đổ
chính phủ Diệm, Lansdale đã dụ dỗ đưa một số người
cầm đầu ra nước ngoài bằng cách bỏ tiền cho họ đi
du lịch tại Manila và âm mưu này đã nhanh chóng thất
bại.
Mỹ cũng giúp Diệm đối phó với
một số vấn đề lớn trong năm đầu nhậm chức, mà
đáng chú ý nhất là cuộc di dân ồ ạt từ miền Bắc
vào. Hưởng ứng lời kêu gọi tha thiết của nhà thờ
Công giáo miền Nam rằng "Chúa đã vào Nam" và lời
cảnh báo rằng sinh mạng của họ sẽ bị đe dọa nếu
họ vẫn tiếp tục sống dưới chế độ cộng sản, sau
hiệp định Geneva khoảng 900.000 dân di cư, phần lớn là
các giáo dân, đã trốn chạy khỏi miền Bắc. Mỹ đã tổ
chức một lực lượng đặc nhiệm gồm khoảng 50 chiếc
thuyền theo một chương trình mang cái tên mĩ miều "Hành
trình đến Tự do" và song song với những hoạt động
từ thiện tư nhân, họ đã thành lập nhiều trung tâm đón
tiếp, cung cấp lương thực, thực phẩm, quần áo và
thuốc men khẩn cấp cho dân di cư. Vì cùng là dân Bắc kỳ
nên Diệm nhiệt tình với dân di cư và chính phủ của
ông ta đã trợ cấp xây dựng nhà ở và lo cơm ăn áo mặc
cho họ. Harold Stassen, người phụ trách hoạt động đối
ngoại, đã gọi chương trình "Hành trình đến Tự
do" này là "một trong những mốc son" của
lịch sử Viễn Đông hiện đại, và việc Diệm giải
quyết hiệu quả những vấn đề trước mắt do dân di cư
tạo ra cũng được nêu lên như bằng chứng ban đầu minh
chứng cho khả năng cai trị Nam Việt Nam của ông ta dưới
sự giám hộ của Mỹ. Tuy vậy vấn đề tái định cư và
hoà nhập về lâu dài đã tỏ ra khó khăn
---------------------------
(1) Sheehan, Văn kiện Lầu
Năm góc (NYT), tr.20.
---------------------------
hơn
nhiều, và thái độ thiên vị với dân Bắc kỳ của Diệm
lại là một trong nhiều điều quan trọng được nêu
trong bản cáo trạng chống lại ông ta sau này (l).
Dù
có sự giúp đỡ của Mỹ, Diệm cũng suýt chết trong cuộc
khủng hoảng giáo phái năm 1955. Cao Đài và Hoà Hảo đại
diện cho các lực lượng chính trị có tiềm lực nhất
trong một xã hội bị chia cắt của Việt Nam sau hội nghị
Geneva. Được tổ chức theo đường lối của nhà thờ
Thiên chúa giáo với "Giáo chủ" đứng đầu, đạo
Cao Đài có 2 triệu tín đồ, một đội quân 20.000 người
và nắm quyền kiểm soát chính trị với phần lớn vùng
đồng bằng sông Cửu Long.
Đạo Hoà Hảo có khoảng
1 triệu tín đồ và 15.000 quân, kiểm soát vùng Tây Bắc
Sài Gòn. Ngoài ra, phái Bình Xuyên, một tổ chức kiểu
mafla dưới quyền tướng cướp Bảy Viễn, có quân số
25.000 người, kiếm chác nhiều khoản tiền bẩn thỉu lớn
từ những sòng bạc và lầu xanh tại Sài Gòn và trong
thực tế còn điều hành được cả lực lượng cảnh
sát thành phố. Do không thể trị được các giáo phái
trong khi phải đánh nhau với Việt Minh, Pháp đã cho họ
quyền tự trị thực sự. Vốn đã quen với việc tự
điều hành công việc, các giáo phái trên không muốn để
quyền lực và tiền tài của mình rơi vào tay chính phủ
quốc gia mới (2).
Chiến thuật "chia để thuần
phục" của Diệm chỉ làm cho các giáo phái cố kết
chống lại ông ta. Ông ta cho Cao Đài và Hoà Hảo giữ ghế
trong nội các. Lansdale đi sâu vào
-------------------------------------
(1) Stassen gửi
Eisenhower, ngày 7-6-1955, Văn kiện Eisenhower, Hồ sơ 181-B,
Hộp 862, Gertrude Samuels, "Hành trình đến Tự do",
Địa lý Quốc gia, số 107, tháng 6-1955, tr.858-874.
(2)
FitzGerald, Lửa trong lòng hồ,
tr.56-57.
---------------------------------------
các
cánh rừng gần biên giới Campuchia và mua chuộc được
những lãnh tụ quan trọng nhất của Cao Đài ra làm việc
cho chính phủ Diệm. Đại sứ quán Mỹ lại hậu thuẫn
cho Diệm bằng cách cảnh báo rằng nếu các giáo phái lật
đổ tổng thống thì Mỹ sẽ ngừng viện trợ, phó mặc
Nam Việt Nam cho Việt Minh định đoạt. Tuy nhiên, Diệm đã
ngang ngạnh cự tuyệt đàm phán với phái Bình Xuyên và
việc nối lại quan hệ hữu hảo giữa Diệm với Cao Đài
và Hoà Hảo đã tan vỡ khi ông ta từ chối đề nghị của
họ đòi tự trị trong phạm vi lãnh thổ của hai giáo
phái này. Mùa xuân năm 1955, các giáo phái này phối hợp
với Bình Xuyên mở một cuộc tấn công tổng lực chống
lại chính phủ. Đến tháng 3, quân đội chính phủ và
các lực lượng quân sự của các giáo phái đã bắt đầu
đánh nhau công khai trên đường phố Sài Gòn.
Việc Diệm không giải quyết nổi
các giáo phái đã làm cho các quan chức cấp cao của Pháp
và Mỹ ở Sài Gòn tính chuyện phải hạ bệ ông ta. Tướng
Paul Ely, cao uỷ Pháp ở Việt Nam, góp ý với đại sứ
quán Mỹ rằng, Diệm gần như mắc chứng hoang tưởng tự
đại, không nên giữ nguyên chức vụ cho ông ta, và nếu
tiếp tục giữ Diệm lại thì tức là "chúng ta đã
giữ lại cho Việt Nam một vị lãnh đạo kém cỏi nhất
từ trước đến nay". Tướng J. Lawton Collins, người
được Eisenhower bổ nhiệm làm đại sứ tại Việt Nam
tháng 12, cũng nhất trí với điều này. Ngay từ khi đến
Việt Nam, Collins đã tỏ ra nghi ngờ Diệm, và cuộc khủng
hoảng giáo phái này càng khiến cho ông ta tin rằng sự
nghi ngờ của mình là đúng. Ngày 7-4, Collins khuyến cáo
Bộ Ngoại giao Mỹ rằng Diệm không có "khả năng xây
dựng được sự thống nhất về mục tiêu và hành động
cần thiết... để ngăn chặn nước này rơi vào vòng kiểm
soát của chủ nghĩa cộng sản" (1).
Sau đó vài
tuần, Collins về Washington để giải trình việc thay thế
Diệm. Nhưng Dulles giữ nguyên lập trường cũ với lý lẽ
những vấn đề mà Diệm mắc phải là do âm mưu của
Pháp và "các lãnh chúa" Việt Nam, và nếu để
cho quan điểm của Pháp thắng thế thì rồi "chúng ta
sẽ trả tiền, còn Pháp thì đưa ra chủ trương" (2).
Tuy nhiên Collins đã thuyết phục được tổng thống, thế
là Dulles và Bộ Ngoại giao chỉ còn cách dàn xếp một
thỏa hiệp nhằm vớt vát thể diện, qua đó Diệm vẫn
giữ được ghế tổng thống, một chức vụ chủ yếu
trên danh nghĩa, còn thực quyền trong chính phủ được
trao cho người khác.
Trong lúc Collins trên đường
sang Việt Nam để thực hiện sự thay đổi này thì đã
xảy ra một sự biến tạo cơ hội mới cho những người
Mỹ ủng hộ Diệm. Khi phái Bình Xuyên mở cuộc tấn công
bằng đạn cối vào dinh tổng thống, Diệm đã hạ lệnh
cho quân đội chính phủ vào trận, và thật ngạc nhiên,
họ đã nhanh chóng đẩy lùi quân đối lập vào Chợ Lớn,
một quận tập trung nhiều người Hoa ở Sài Gòn. Mặc dù
đã chỉ thị chỉ được giữ thái độ trung lập, nhưng
nhiều người Mỹ đã công khai đứng về phía Diệm.
Theo
Lansdale, trưởng phái đoàn quân sự Mỹ, tướng John W.
O'Daniel, "đã phóng xe có treo cờ Mỹ qua chỗ
quân
---------------------------------
(1) Collins gửi
Bộ Ngoại giao Mỹ, ngày 7-4-1955, Văn kiện Eisenhower, Hồ
sơ quốc tế, Việt Nam (2), hộp 50.
(2) Nhật ký Hagerty,
ngày 30-3, 12, 20-4-1955, Văn kiện Hagerty; USVN, quyển 10,
tr.909.
chính phủ, giơ ngón tay cái lên
ra hiệu và hét to: "Hãy đánh tan xác chúng đi"
(1). Bản thân Lansdale cũng thuyết phục được toà đại
sứ đa nghi tin rằng, cuộc phản công thắng lợi chứng
tỏ lòng trung thành của quân đội và Diệm có sức mạnh
để lãnh đạo. Hơn nữa, vào một thời điểm gay cấn
trong cuộc đấu tranh, một điệp viên CIA đã thuyết phục
được Diệm phớt lờ bức điện của Bảo Đại đòi
ông ta từ chức.
Thắng lợi của Diệm trong cuộc
đấu tranh chống lại phái Bình Xuyên đã tạo nên sự
đảo lộn có ý nghĩa to lớn về lâu dài trong chính sách
của Mỹ. Các nhà lãnh đạo thượng viện Mỹ, trong đó
có thượng nghị sĩ Mansfield và thượng nghị sĩ của
Đảng Cộng hoà đại diện cho bang Califomia William Knowland
đã tích cực vận động để giữ Diệm ở lại.
Sau
khi thua Collins ở keo đầu, với sự ủng hộ của người
em của mình là Allen Dulles, giám đốc Cục Tình báo trung
ương Mỹ (CIA), ngoại trưởng Mỹ Dulles đã khéo léo khai
thác những diễn biến ở Sài Gòn. ông ta lập luận rằng,
Diệm là lựa chọn duy nhất "để cứu Nam Việt Nam
và chống phá phong trào cách mạng", nên cần phải
"toàn tâm toàn ý" ủng hộ Diệm và không được
cho phép Diệm trở thành một Karensky nữa". Ngoại
trưởng Dulles đã thuyết phục tổng thống tiếp tục
dùng con người mà vừa hôm qua thôi sự nghiệp chính trị
còn đứng bên bờ vực thẳm (2).
Việc Mỹ ủng hộ
Diệm đã gây nên một cuộc khủng
---------------------------
(1) Edward G. Landsdale, ở
giữa cuộc chiến, New York, năm 1972, tr.288.
(2) Dulles gửi
Bộ Ngoại giao, ngày 8-5-1955, USVN, quyển 10, tr.962-963.
--------------------
hoảng cuối cùng với Pháp -
một cuộc khủng hoảng mà theo quan điểm của Mỹ không
phải là không thú vị. Trong một cuộc chạm trán dữ dội
ở Paris vào giữa tháng 5, thủ tướng Pháp Edgar Faure gay
gắt cho rằng "Diệm không chỉ bất lực mà còn điên
khùng" và "Pháp không thể tiếp tục chuốc lấy
rủi ro cùng với ông ta"; nếu Mỹ cứ khăng khăng ủng
hộ Diệm thì Pháp sẽ rút khỏi Việt Nam (l). Được hội
đồng tham mưu trưởng liên quân khuyến nghị là việc
Pháp rút quân, dù về lâu dài cũng là điều nên làm,
nhưng sẽ làm cho quốc gia mới này rất dễ bị tổn
thương, Dulles sau đó đã thuyết phục Pháp tiếp tục ở
lại và ủng hộ Diệm cho tới khi mà bản thân người
Việt Nam có thể tự giải quyết tương lai của đất
nước họ thông qua tổng tuyển cử.
ông ta cũng bộc
lộ rằng Mỹ sẽ độc lập xây dựng chính sách của
mình và không tham khảo ý kiến của Pháp trước khi hành
động. Tóm lại, đó là một màn biểu diễn xuất sắc
của Dulles. Thỏa thuận này bảo đảm cho một sự ủng
hộ trước mắt của Pháp, nhưng lại để cho Mỹ được
hoàn toàn tự do hành động. Do thất vọng với Dulles và
với Diệm, đồng thời lại đang phải đối phó với
nghĩa quân ở các thuộc địa Bắc Phi, Pháp đã phải giã
từ những gì còn lại trong giấc mộng viễn chinh của
mình và bắt đầu rút quân từng giai đoạn khỏi nơi mà
trước đây từng là viên ngọc toả sáng nhất trong khối
Liên hiệp Pháp.
Được cổ vũ bởi thắng lợi của
chính mình và sự giúp đỡ của Mỹ, Diệm nhanh chóng
củng cố quyền lực. Quân đội chính phủ đã đẩy lực
lượng Bình Xuyên vào các đầm lầy ở
-----------------
(1) Sách đã dẫn.
--------------------
phía
Đông Sài Gòn, nơi mà cuối cùng lực lượng này buộc
phải đầu hàng, và dồn quân Hoà Hảo về vùng đồng
bằng sông Cửu Long. Bị cô lập, Cao Đài không còn lựa
chọn nào khác là phải chạy về phía Diệm. Với sự
giúp đỡ của Mỹ, một cuộc trưng cầu dân ý "quốc
gia" (trên toàn miền Nam) được vội vã dàn xếp giữa
Diệm và Bảo Đại. Các cố vấn Mỹ thông báo cho Diệm
biết chỉ cần 60% số phiếu bầu là đã vượt qua đa số
cần thiết, nhưng Diệm và em của ông ta là Ngô Đình Nhu
đã cố ý gian lận nên đạt tới 98,2% số phiếu với
việc thu được 605.000 lá phiếu, trong khi chỉ có 450.000
cử tri đăng ký đi bỏ phiếu tại Sài Gòn. Như vậy, mặc
dù đã đối mặt với nguy cơ sụp đổ vào tháng 5- 1955,
nhưng với sự giúp đỡ của Mỹ, Diệm đã thiết lập
được quyền kiểm soát chính phủ Nam Việt Nam mà không
phe nào tranh chấp nổi vào cuối năm này.
Với sự hậu thuẫn vững chắc
của Mỹ, Diệm cũng ngăn cản tuyển cử theo quy định
của hiệp định Geneva. Lập trường này là khó xử đối
với Mỹ do họ vẫn có truyền thống ủng hộ tuyển cử
tự do cùng những chính sách của họ ở Đức và Triều
Tiên. Nhưng ngay cả những nhân vật ủng hộ Diệm cũng
thấy rằng danh tiếng của và lãnh tụ dân tộc Hồ Chí
Minh đã khiến cho cuộc tổng tuyển cử chỉ đem nguy cơ
rủi ro đến với Diệm. Và dù sao thì miền Bắc đông
dân hơn - lại đang tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội
- sẽ chắc chắn giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển
cử này.
Washington và Sài Gòn quy chụp cho Bắc Việt
Nam vi phạm hiệp định Geneva để biện minh cho lập
trường của họ. Họ còn viện tới những lý do pháp lý,
khăng khăng cho rằng các điều khoản của hiệp định
Geneva yêu cầu tổng tuyển cử là không có "giá trị
pháp lý" và chỉ thể hiện nguyện vọng mang tính đạo
đức giả" chẳng can hệ đến ai.
Ngoài mặt,
Mỹ và Nam Việt Nam vẫn khẳng định họ sẽ tham gia
tuyển cử tự do thực sự. Dulles lập luận, một lập
trường như vậy là "điều không ai có thể chê trách
về ý đồ", và không có gì nguy hiểm vì các nước
cộng sản không bao giờ chịu cho phép một tiến trình
chính trị tự do và công khai (1).
Việc Diệm chối
bỏ tham gia tổng tuyển cử đã chấm dứt mọi cơ hội
thống nhất đất nước, ít nhất là trong tạm thời, và
việc chia cắt đất nước ngày càng mang tính lâu
dài.
Diệm không cho phép qua lại với miền Bắc, kể
cả trao đổi thư từ. Vĩ tuyến 17 đã trở thành một
trong những đường biên giới bị hạn chế nhất trên
thế giới.
Sau khi đảm bảo cho chế độ Diêm tồn
tại được trong những năm đầu đầy sóng gió, Mỹ đã
hào phóng chi viện cho chế độ này trong suốt những năm
còn lại của thập kỷ 50. Mục tiêu cơ bản trong chính
sách của Mỹ vẫn là tiếp tục duy trì một Nam Việt Nam
độc lập làm thành trì chống lại sự thâm nhập của
cộng sản vào Đông Nam á. Trong những năm giữa thập kỷ
50, chiến trường chính của chiến tranh lạnh đã chuyển
từ châu âu sang những quốc gia mới trỗi dậy ở châu á
và châu Phi, nơi Mỹ và Liên Xô tranh
--------------------------------
(1) Trần Văn Chương,
"Bình luận về yêu cầu của Việt Minh đối với
Tổng tuyển cử tại Việt Nam", tài liệu số 4051,
Văn kiện Donovan; Hội những người bạn Mỹ của Việt
Nam, "Vấn đề tuyển cử", n.d, sao trong Văn kiện
Hans Morgenthau, thư viện Quốc hội, Washington, D.C., Họp
báo của Dulles, ngày 30-8-1955, Văn kiện Dulles, Princeton,
N.J., hộp 95.
------------------------------
giành ảnh
hưởng và tìm cách phô trương những giá trị ưu việt
trong chế độ của mình. Trong bối cảnh này, Nam Việt
Nam càng có tầm quan trọng, vì đó là một nơi thử
nghiệm sức sống của những tư tưởng và thể chế Mỹ
ở các nước chậm phát triển.
Cuộc thử nghiệm
xây dựng quốc gia do Dulles vội vã khởi xướng đã nhanh
chóng mang dáng vẻ của một cuộc thập tự chinh. Các quỹ
từ thiện tư nhân cấp phát lương thực, xà phòng, bàn
chải đánh răng và thuốc men cấp cứu cho dân di cư, và
tích cực làm việc để cải thiện cuộc sống cho họ
trong các trại ti nạn. ủy ban Cứu hộ quốc tế còn tiến
xa hơn. Ban đầu ủy ban Cứu hộ quốc tế được thành
lập để trợ giúp dân di cư từ nước Đức quốc xã,
sau đó chuyển những nỗ lực của mình sang phục vụ
chiến tranh lạnh. Tại Việt Nam, họ tuyên bố sẽ đóng
vai trò của "ngọn hải đăng khích lệ" cho những
ai có khát vọng duy trì và mở rộng "nhận thức về
một nền văn hoá dân chủ". Uỷ ban Cứu hộ quốc tế
đã lưu diễn các vở kịch chống cộng tại các làng xã
và tài trợ cho những cuộc biểu diễn cũng như các triển
lãm nghệ thuật ở thành phố xoay quanh chủ đề dân chủ.
Uỷ ban này còn tổ chức ra các trung tâm tự do ở Sài
Gòn, Huế và Đà Lạt qua nhiều hoạt động đa dạng và
có vẻ mâu thuẫn nhau để tranh thủ những trí thức và
sinh viên Việt Nam bất mãn, như nghiên cứu "văn hoá
Việt Nam thuần tuý" và các khoá học tiếng Anh (1).
Trong khi đó ở Mỹ, những người theo phái tự do và bảo
thủ phối hợp
-----------------------
(1) Báo cáo
của Robert MacAlister gửi Uỷ ban Cứu hộ quốc tế tháng
5 đến tháng 10-1955, tài liệu số 4084, Văn kiện
Donovan.
--------------------------
thành lập tổ chức
Những người bạn Mỹ của Việt Nam (AFV) do Donovan đứng
đầu nhằm làm sáng tỏ quan điểm của Mỹ về "thực
tế" tại Việt Nam và vận động chính phủ Mỹ ủng
hộ chính quyền Diệm. Tổ chức AFV trong lời tuyên bố
về mục đích của của mình đã khẳng định: "Một
nước Việt Nam tự do có nghĩa là một đảm bảo lớn
hơn cho tự do trên toàn thế giới". Còn tướng
O'Daniel, một thành viên danh dự của tổ chức này, năm
1960 đã viết: "Chỉ có một số ít trong chúng ta có
mặt ở đất nước xa xôi đó" (1).
Do đã dính sâu vào Nam Việt Nam,
nên chính quyền Eisenhower cũng chẳng cần đến sự thúc
ép của các nhóm vận động riêng lẻ. Từ năm 1955 đến
năm 1961, Mỹ đã rót trên 1 tỷ USD vào viện trợ quân sự
và kinh tế cho Nam Việt Nam, và tính đến năm 1961, chính
quyền Diệm đã đứng thứ 5 trong số các nước nhận
viện trợ nhiều nhất từ Mỹ. Vào cuối thập kỷ 50, đã
có trên 1.500 người Mỹ ở Nam Việt Nam, giúp đỡ cho
chính quyền Diệm dưới nhiều hình thức và phái bộ Mỹ
ở Sài Gòn đã có quy mô lớn nhất so với các phái bộ
của Mỹ ở các nơi khác trên thế giới.
Chương
trình viện trợ của Mỹ ưu tiên hàng đầu cho việc xây
dựng một quân đội Nam Việt Nam. Dulles ngay từ đầu đã
nhấn mạnh rằng, việc phát triển quân đội mạnh và
hiện đại là bước cần thiết đầu tiên để xây dựng
một chính phủ ổn định. Các yếu tố như quân viễn
chinh Pháp rút về nước, sự hiện diện của một quân
đội lớn và dày dạn
--------------------------------
(1)
Những người bạn Việt Nam của Mỹ, "Tuyên bố về
mục đích", n.d., sao trong Văn kiện Morgenthau; John W.
O'Daniel, Quốc gia bị chối bỏ để chết đói, New York,
năm 1960, tr.11.
-----------------------------
kinh
nghiệm trận mạc ở miền Bắc và tình trạng liên tục
bất ổn định tại miền Nam đều làm nổi bật sự cần
thiết phải gây dựng cho Nam Việt Nam một lực lượng
quân sự hùng hậu.
Từ năm 1955 đến năm 1961, viện
trợ quân sự chiếm hơn 78% tổng chương trình ngoại viện
của Mỹ tại Nam Việt Nam.
Đầu năm 1956, Mỹ thay
Pháp gánh vác toàn bộ trách nhiệm huấn luyện quân đội
Nam Việt Nam. Phái đoàn cố vấn và viện trợ quân sự
Mỹ (MAAG) ở Sài Gòn đảm nhiệm một chương trình cấp
tốc xây dựng quân đội Nam Việt Nam trở thành một lực
lượng thực sự có hiệu lực. Bị hiệp định Geneva hạn
chế số lượng của phái đoàn MAAG ở mức 342 người
nên Mỹ đã dùng nhiều thủ đoạn gian trá để nâng số
nhân viên này lên 692 người. Từ năm 1955 đến năm 1960,
phái đoàn này nằm dưới sự chỉ huy của trung tướng
Samuel Williams, một cựu binh đỏm dáng đã trải qua hai
cuộc thế chiến và gần đây là chiến tranh Triều Tiên,
vốn nổi danh như một huyền thoại trong quân đội Mỹ
về tính kỷ luật nghiêm minh và một giọng lưỡi cay
nghiệt.
Phái đoàn MAAG đã thực sự đương đầu
với những khó khăn to lớn. Mỹ tiếp quản từ Pháp một
đội quân khoảng hơn 250.000 người, được tổ chức,
huấn luyện cũng như trang bị rất tồi tệ, nhuệ khí
suy sụp, thiếu một tinh thần vì quốc gia, và các sĩ
quan và các chuyên gia đã qua đào tạo như pháo binh và
công binh thì bất tài, kém cỏi. Vấn đề hậu cần của
quân đội này lại càng tồi tệ do Pháp khi ra đi đã
mang theo hầu hết các trang thiết bị tốt nhất và những
gì bỏ lại Việt Nam chỉ là hàng tấn vũ khí, trang bị
cổ lỗ và vô dụng. Các cố vấn Mỹ cũng phải khoả
lấp những khoảng cách sâu sắc về ngôn ngữ và văn
hoá. Dù có thiện ý, nhưng các cố vấn Mỹ thường tỏ
thái độ trịch thượng với người Việt Nam và có khi
còn gọi họ là "dân bản xứ". Một sĩ quan trong
phái đoàn MAAG lúc đó đã viết: "Có lẽ một vấn
đề lớn nhất duy nhất mà MAAG vấp phải là họ luôn có
nhiệm vụ làm cho người Việt Nam yên lòng rằng Mỹ
không phải là một nước thực dân-một sự cam đoan mà
mỗi cố vấn mới đến đều phải tự mình nhắc lại"
(l). Từ nền tảng yếu kém này và trước nhiều khó khăn
nghiêm trọng trong thực tế, MAAG được giao nhiệm vụ
đầy thử thách là xây dựng một đội quân có năng lực
duy trì an ninh nội bộ và giữ vững phòng tuyến chống
xâm lược từ miền Bắc cho đến khi có thể đưa quân
đội nước ngoài vào.
Dưới sự chỉ đạo của
MAAG, Mỹ đã tổ chức lại, trang bị và huấn luyện cho
quân đội Nam Việt Nam. Mỹ đã cung cấp khoảng 85 triệu
USD mỗi năm dưới hình thức trang bị quân sự, trong đó
có quân trang, vũ khí hạng nhẹ, otô, xe tăng và máy bay
trực thăng. Mỹ trả lương cho sĩ quan và binh lính, tài
trợ xây dựng các căn cứ quân sự và đảm nhận chi phí
cho các chương trình huấn luyện.
MAAG đã giảm quân số Nam Việt
Nam xuống còn 150.000 người và tổ chức chúng thành các
sư đoàn cơ động có thể thực hiện các nhiệm vụ kép.
Họ đã thực hiện chương trình huấn luyện đầy tham
vọng, trên cơ sở mô
----------------------------
(1)
Judson J. Conner, "Những chiếc răng cho con Rồng của
Thế giới Tự do", Thông tin Quân đội, tháng 11-1960,
tr.41; Ronald H. Spector, Cố vấn và Hỗ trợ: Những năm
đầu, I941-1960, Washington, D.C., 1983,
tr.278-282.
-------------------------
hình quân đội
Mỹ, gồm có học viện chỉ huy và tổng tham mưu cho các
sĩ quan cao cấp, các trường đào tạo sĩ quan và hạ sĩ
quan chuyên nghiệp. Chỉ riêng năm 1960, đã có hơn 1.600
binh lính Việt Nam tham gia các chương trình "hải
ngoại", học tập tại Mỹ và các nước thuộc "Thế
giới Tự do". Các phát ngôn viên chính thức tuyên bố
rằng cho đến năm 1960, Mỹ đã đạt được một "kỳ
tích nhỏ", tức là đã chuyển hoá cái mà trước đây
chỉ "nhỉnh hơn một tập hợp đầy hạn chế những
người được trang bí vũ khí" thành một đội quân
hiện đại và có hiệu lực (l).
Nhưng, như vẫn
thường xảy ra ở Việt Nam, thực tế khác xa so với
những lời nói hoa mỹ khoa trương. Vào năm 1960, quân đội
Nam Việt Nam vẫn thiếu những sĩ quan có năng lực, và
sau này tướng Williams đã thú nhận rằng, nhiều sĩ quan
giữ cương vị chủ chốt vẫn còn "kém về chất
lượng". Theo một trong những trợ lý hàng đầu của
tướng Williams thì "không ai có thể đào tạo được
những chỉ huy giỏi bằng cách cử đến các căn cứ huấn
luyện ở Benning, Knox, Leavenworth hay Quantico những cậu học
trò thiếu giáo dục, được trang bị, huấn luyện yếu
kém và thiếu động cơ phấn đấu" (2). Quyết tâm
của Diệm duy trì một chế độ kiểm soát chặt chẽ với
quân đội đã làm vô hiệu hoá những nỗ lực của MAAG
nhằm xây dựng một hệ thống chỉ huy vận hành trơn
tru. Tổng thống Diệm đích thân ra lệnh cho các đơn vị
đi chiến đấu, phớt lờ Bộ Quốc
-----------------------------
(1) Conner, "Những
chiếc răng cho con Rồng của Thế giới Tự do",
tr.33.
(2) Robert H. Whitlow, "Quân đội Mỹ tại Nam
Việt Nam, 1954-1960", luận văn Thạc sĩ, Đại học
Kentucky, năm 1972, tr.87.
-----------------------------
phòng và Bộ Tổng Tham mưu. ông ta chọn những sĩ quan
tin cẩn để giao những chức vụ quan trọng chứ không
chọn các sĩ quan có năng lực, đề bạt sĩ quan theo lòng
trung thành chứ không căn cứ thành tích và thường xuyên
cải tổ bộ máy chỉ huy cấp cao. ở Sài Gòn đã có một
câu nói châm biếm rằng: "Các vị tướng và đại tá
là những lữ khách hạng nhất duy nhất ở Việt Nam"
(1).
Tuy nhiên, vấn đề cơ bản là quân đội được
huấn luyện để làm một nhiệm vụ sai lầm. Cần phải
phê phán kịch liệt MAAG đã không chuẩn bị cho quân đội
Nam Việt Nam khả năng đối phó với lối tác chiến du
kích, nhưng theo tầm nhìn của giữa những năm 50 thì
trọng tâm của phái đoàn này cũng khá hợp lý. Đứng
trước một nhiệm vụ hầu như không thể thực hiện nổi
là từ một con số không xây dựng nên một đội quân có
khả năng thực hiện hai nhiệm vụ rất khác nhau, MAAG
theo lẽ tự nhiên phải ngả về lối tác chiến chính quy
là điều quen thuộc đối với họ nhất. Hơn nữa, ít
nhất cho đến tận năm 1958, vùng nông thôn vẫn còn khá
yên tĩnh và dường như Diệm đã cố thủ vững chắc.
Williams và hầu hết các nhân viên của ông ta đã phục
vụ ở Triều Tiên, cùng nét tương đồng đáng ngạc
nhiên giữa tình hình Việt Nam và Triều Tiên đã khiến
họ ngả sang hướng tập trung vào mối đe dọa của một
cuộc xâm lược từ miền Bắc. Cũng do rút kinh nghiệm từ
thực tiễn chiến tranh ở Hy Lạp và Philippines, họ nghi
ngờ Bắc Việt Nam có thể đủ khả năng đe dọa miền
Nam. Do vậy, quân đội Nam Việt Nam được huấn luyện,
tổ chức và trang bị
-----------------------------------
(1) Jean Lacouture, Việt Nam giữa hai lần đình chiến,
New York, năm 1966, tr.117.
-----------------------------------
chủ yếu để tiến hành một cuộc chiến tranh quy mô
và chỉ sau khi Nam Việt Nam bị một cuộc chiến tranh nổi
dậy ở nông thôn bao vây thì toàn bộ những yếu kém của
đội quân này mới hộc lộ rõ.
Dân phòng là một lực lượng
bán quân sự có nhiệm vụ hỗ trợ cho quân đội duy trì
trị an, nhưng ngay từ đầu nó đã bị cản trở bởi
những mâu thuẫn trong công tác tổ chức và huấn luyện.
Các cố vấn từ trường đại học Michigan được điều
sang giúp xây dựng lực lượng dân phòng thấy chỉ cần
xây dựng một lực lượng nhỏ được huấn luyện và
trang bị một nhóm nhỏ để làm nhiệm vụ cảnh sát ở
cấp tỉnh và xã, nhưng Diệm được sự ủng hộ của
Lansdale và phái đoàn MAAG lại thiên về một lực lượng
quân sự bổ trợ có trang bị trực thăng, xe thiết giáp,
súng bazôca và có khả năng tác chiến ở quy mô nhỏ.
Washington ủng hộ nhóm cố vấn tới từ đại học
Michigan và không chịu viện trợ cho lực lượng dân phòng
cho đến khi Diệm buộc phải chấp thuận, nhưng lực
lượng này chưa bao giờ được phát triển lên thành một
lực lượng có hiệu lực. Diệm dùng lực lượng dân
phòng như một bãi rác để gom vào đó các sĩ quan kém
cỏi. Theo lời lẽ của Lansdale thì việc huấn luyện của
các chuyên gia cảnh sát tới từ đại học Michigan khiến
cho "lực lượng dân phòng không có khả năng đối
phó với những thực tế của vùng nông thôn Việt Nam.
Một tiểu đội cảnh sát lực lượng dân phòng, được
trang bị còi, dùi cui và súng ngắn cỡ 9,2 ly khó có khống
chế được một tiểu đội du kích có tiểu liên, súng
trường, lựu đạn và súng cối"
(1).
------------------------
(1) Lansdale, ở giữa
cuộc chiến, tr.353.
Mỹ cũng đổ hàng triệu USD viện
trợ cho nền kinh tế Nam Việt Nam từ năm 1955 đến năm
1960, phần lớn trong số đó thông qua chương trình nhập
khẩu thương mại. Một quan chức Mỹ đầu óc mang đầy
tính đố kỵ đã mô tả chương trình nhập khẩu thương
mại này là "một phát minh lớn nhất sau khi phát minh
ra bánh xe", nó được thiết kế để khắc phục tình
trạng thâm hụt ngoại tệ trầm trọng của Nam Việt Nam
trong khi vẫn tránh được nạn lạm phát phi mã do đổ
một khối lượng lớn hàng hoá tiêu dùng vào một nền
kinh tế quá yếu kém (1). Các nhà nhập khẩu Việt Nam
nhập từ các hãng xuất khẩu nước ngoài nhiều loại
hàng hoá từ thực phẩm cho tới ôtô, với những hoá đơn
do Washington thanh toán. Các nhà nhập khẩu thanh toán bằng
tiền Việt Nam, rồi sau đó những khoản tiền này chảy
vào một "ngân quỹ tương ứng" do ngân hàng quốc
gia Việt Nam quản lý và được chính quyền Diệm sử
dụng để trang trải chi phí hoạt động và cung cấp tài
chính cho các dự án phát triển. Từ năm 1955 đến năm
1959, chương trình nhập khẩu thương mại đã lên tới
gần 1 tỷ USD. Hơn nữa, trong thời gian này Mỹ cũng viện
trợ kinh tế trực tiếp hơn 120 triệu USD và viện trợ
kỹ thuật hơn 16 triệu USD cho chính quyền Nam Việt
Nam.
Chương trình viện trợ của Mỹ đã mang lại
những kết quả đáng kể. Chương trình nhập khẩu thương
mại giải quyết dược tình trạng thâm hụt ngoại tệ
của Nam Việt Nam và chặn đứng được nạn lạm phát do
nhập khẩu một số lượng lớn hàng
---------------------------------------
(1) ủy ban Đối
ngoại Thượng viện Mỹ, Hiện trạng tại Việt Nam, Điều
trần, năm 1959,Washington. D.C., 1959, tr.
203.
---------------------------------------
hoá tiêu
dùng. Đồng tiền và kỹ thuật của Mỹ đã giúp khắc
phục những những thiệt hại to lớn do hơn một thập kỷ
chiến tranh gây nên, xây dựng lại các xa lộ, hệ thống
đường sắt, kênh rạch và làm tăng năng suất nông
nghiệp chút đỉnh. Các chuyên gia tới từ các trường
đại học nông nghiệp Mỹ thúc đẩy phát triển các loại
hoa màu mới và tạo những điều kiện thuận lợi về
tín dụng cho các điền chủ nhỏ. Các nhà giáo dục Mỹ
giám sát việc thành lập các trường học và cung cấp
sách giáo khoa. Chuyên gia y tế cung cấp thuốc men và dụng
cụ y tế đồng thời giúp đào tạo y tá và nhân viên y
tế không chuyên. Một nhóm chuyên gia quản trị hành chính
công tới từ trường đại học Michigan huấn luyện cho
các viên chức Việt Nam những kỹ năng từ đánh máy cho
tới quản lý nhân sự, và thậm chí còn lập trường đào
tạo cảnh sát để huấn luyện cái mà người ta quảng
cáo là "những người hoàn hảo nhất của Việt Nam"
(1).
Viện trợ của Mỹ đã giúp cho Nam Việt Nam tồn
tại được trong những năm đầu tiên đầy gian khó, và
đến cuối thập kỷ 50 một quốc gia mới đã dường như
đang trên đà phát triển. Theo nhận xét của một du khách
thì "tại Sài Gòn, các cửa hiệu và chợ búa tràn
ngập hàng hoá tiêu dùng; đường phố đầy rẫy xe máy
đời mới và ô tô đắt tiền; và ở khu cư trú của
những người có thu nhập cao, nhiều toà nhà mới lộng
lẫy đang mọc lên"(2). Sau khi tiến hành điều
------------------------------
(1) Các hoạt động của
Phái bộ Mỹ, Xây dựng Sức mạnh kinh tế (Washington,
D.C., 1958), tr.75.
(2) Milton C. Taylor, "Nam Việt Nam:
Viện trợ hào phóng, những tiến bộ còn hạn chế",
Tạp chí Các vấn đề Thái Bình Dương, số 34 (năm 1961),
tr.242.
---------------------------------
tra về việc
sử dụng viện trợ kinh tế của Mỹ, thượng nghị sĩ
Đảng Dân chủ Gale McGee của bang Wyoming đã đề nghị
rằng cần biến Nam Việt Nam thành một "phòng trưng
bày" của chương trình viện trợ nước ngoài, một
nơi mà dân chúng các nước khác có thể tới xem tận mắt
"toàn bộ hiệu quả của những nỗ lực của Mỹ
giúp các dân tộc khác tự phát triển" (1).
Tuy
nhiên, một lần nữa cái vẻ bề ngoài lại lừa dối
chúng ta, bởi vì nhiều lắm thì chương trình viện trợ
của Mỹ chỉ đem lại những kết quả hỗn tạp. Chắc
chắn người nhận viện trợ biết ơn tấm lòng hào phóng
của Mỹ, nhưng họ không thể không có nghi ngờ. Một
người Mỹ nhận xét: "Sau 80 năm bị người Pháp bóc
lột tàn nhẫn, nhiều người Việt Nam lại không hiểu vì
sao bỗng nhiên mà Mỹ lại chi quá nhiều tiền ở Việt
Nam đến vậy"(2). Quan trọng hơn dù viện trợ của
Mỹ có ngăn chặn được sự suy sụp kinh tế và duy trì
được mức sống cao tại Sài Gòn, nhưng nó cũng chẳng
có tác dụng gì trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế
hoặc để cải thiện điều kiện sống ở các vùng nông
thôn, nơi có hơn 90% dân số Nam Việt Nam đang sinh sống.
Từ năm 1955 đến năm 1959, viện trợ quân sự gấp 4 lần
viện trợ kinh tế và viện trợ kỹ thuật cộng lại, và
trong số gần 1 tỷ USD trong "ngân quỹ tương ứng",
có hơn 78% dành cho mục đích quân sự. Chính vì cả các
quan chức Việt Nam lẫn Mỹ đều quá bận tâm về vấn
đề "an ninh" nên những người
----------------------------
(1) Thượng viện, Điều
trần, 1959, tr.369. (2) Thượng viện Mỹ, Uỷ ban Đối
ngoại, Báo cáo về chương trình viện trợ của Mỹ tại
Việt Nam, ngày 26-2-1960 (Washington, D.C., 1960),
tr.8.
----------------------------
quan tâm đến các
dự án khác thấy phải dùng lý do quốc phòng để biện
minh cho các dự án đó. Cả Sài Gòn và Washington đều
nhấn mạnh rằng một khi vẫn tiếp tục hiện diện những
mối đe dọa nghiêm trọng từ bên trong lẫn bên ngoài thì
họ không có lựa chọn nào khác; nhưng việc quá chú
trọng vào viện trợ quân sự đã dẫn đến số tiền
viện trợ cho phát triển kinh tế dài hạn chẳng còn bao
nhiêu. Năm 1960, một uỷ ban của thượng viện Mỹ đã
chỉ ra rằng, chương trình viện trợ quân sự "chỉ
là một bộ phận nhưng lại điều khiển được tổng
thể" (1).
Nhưng chương trình nhập khẩu thương
mại cũng hàm chứa nhiều điểm yếu. Chương trình này
là một sự lãnh phí to lớn vì các nhà nhập khẩu thường
xuyên nhập khối lượng hàng nhiều hơn mức tiêu thụ và
nó cũng tạo nên vô số cơ hội để thu lợi mau chóng.
Tuy nhiên, điểm yếu nghiêm trọng nhất của chương trình
lại nằm ở chỗ nó tài trợ cho một mức sống giả tạo
cao trong khi đóng góp quá ít ỏi cho sự phát triển. Đến
tận năm 1957, khoảng 2/3 hàng nhập khẩu vẫn là hàng
tiêu dùng và phần lớn tiền của đổ vào tiêu dùng chứ
không đổ vào công nghiệp hay nông nghiệp.
Diệm
ngoan cố chống lại ý định giảm tỷ lệ hàng tiêu dùng
của Mỹ với lý lẽ việc giảm mức sống sẽ tạo nên
bất ổn trong nước. Mỹ cũng có một số điều chỉnh,
qua việc giảm bớt những thứ hàng xa xỉ như dàn âm
thanh Hi-Fi, dụng cụ lướt ván và giảm số hàng tiêu
dùng xuống còn 1/3 tổng số
--------------------------
(1) Thượng viện Mỹ, Uỷ ban Đối ngoại, Báo cáo
về Chương trình viện trợ của Mỹ tại Việt Nam, ngày
26-2-1960, Washinglon. D.C., năm 1960,
tr.8.
--------------------------
hàng nhập, nhưng hiệu
quả thu được vẫn không đáng kể.
Năm 1963, Robert Scigliano kết luận
rằng, chương trình nhập khẩu thương mại thực ra là
"một dự án cứu tế quy mô lớn nhưng không có tác
dụng đem lại sự phát triển kinh tế đáng kể tại Việt
Nam" (1).
Dù chỉ chi tiêu một tỷ lệ nhỏ số
tiền được viện trợ vào công cuộc phát triển, nhưng
Mỹ và Nam Việt Nam vẫn thường xuyên bất hoà. Mỹ nhấn
mạnh rằng phát triển công nghiệp phải dựa vào doanh
nghiệp tư nhân, và cho đến những năm 1960, Mỹ vẫn
không chịu cấp vốn cho các ngành công nghiệp thuộc sở
hữu nhà nước. Diệm và thuộc hạ cùng chung một thái
độ miệt thị của tầng lớp quan lại đối với giới
thương nhân và cùng quan điểm với những người theo chủ
nghĩa dân tộc không tin vào tư bản nước ngoài. Họ lên
án thái độ của Mỹ là "cổ lỗ lạc hậu" rồi
khăng khăng đòi phải để cho chính phủ sở hữu các
ngành quan trọng, ít nhất là vào lúc đầu. Kết quả là
một sự bế tắc cay đắng ngăn cản mọi chương trình
phát triển công nghiệp có tính xây dựng.
Viện trợ
ồ ạt của Mỹ đã duy trì được sự sống cho nền kinh
tế Nam Việt Nam, nhưng lại nuôi dưỡng tính phụ thuộc
chứ không tạo ra cơ sở cho một quốc gia độc lập thực
sự. Sản lượng lúa gạo tăng gấp đôi trong giai đoạn
1955-1960, nhưng sự tăng trưởng chủ yếu do tiêu dùng
trong nước tăng lên, trong khi năng suất công nghiệp lại
chẳng giành được sự tăng trưởng đáng kể nào. Nam
Việt Nam dựa vào nhập khẩu ở mức độ cao để duy trì
mức sống
--------------------------
(1) Robert
Scigliano: Nam Việt Nam: Một quốc gia bị dồn nén, Boston,
năm 1964, tr.125.
---------------------------
và dựa
vào đồng USD của Mỹ để thanh toán cho những khoản
tiêu dùng này. Cả hai bên đều biết nếu Mỹ giảm hoặc
ngừng viện trợ thì sẽ dẫn đến sự suy sụp về kinh
tế và chính trị ở Nam Việt Nam. Năm 1961, Milton Taylor đã
viết: Nền kinh tế Việt Nam là "một mô hình mà thu
nhập quốc dân phụ thuộc vào các lực lượng bên ngoài
chẳng khác khi còn là thuộc địa của Pháp... Viện trợ
của Mỹ chỉ xây dựng được một lâu đài trên cát"
(1).
Tuy nhiên, chính trị chính là vấn đề cơ bản
trong xây dựng quốc gia, đó là việc giúp Việt Nam xây
dựng một nền dân chủ kiểu Mỹ. Các cố vấn Mỹ đã
giúp thảo ra một bản Hiến pháp, trong đó có nhiều dấu
hiệu của các nền dân chủ phương Tây như tổng thống
và cơ quan lập pháp do dân bầu và những đảm bảo về
các quyền chính trị cơ bản.
Trong thực tế, Mỹ
rất ít chú ý đến các vấn đề chính trị và mặc dù
những khoản viện trợ của họ là to lớn nhưng ảnh
hưởng mà nó mang lại không lớn. Một số người Mỹ
ngây thơ cho rằng, Diệm cùng chung những chuẩn mực chính
trị của họ; một số khác lại quá bận tâm với vấn
đề an ninh mà lúc đó dường như là cấp bách nhất. Đa
số người Mỹ chung quan điểm với ngoại trưởng Dulles
cho rằng, đối với Diệm "chỉ cần có hiệu lực,
chống cộng và mạnh mẽ" là đủ, và tuy chính phủ
theo chính thể đại nghị là một mục tiêu mong muốn dài
hạn nhưng không thể thực hiện nó một sớm một chiều
(2). Dù vì lý do gì chăng nữa, chính phủ Mỹ
------------------------------
(1) Taylor, "Nam Việt
Nam", tr.256.
(2) Họp báo của Dulles, ngày 7-5-1955,
Văn kiện Dulles, Princeton, N.J., Hộp 99, Frederick Reinhardt
phỏng vấn, đã dẫn.
----------------------------
và
phái bộ của nước này ở Sài Gòn cũng đã làm được
rất ít để thúc đẩy dân chủ, hoặc cải tổ chính trị
cho đến khi phong trào cách mạng bùng lên trên toàn miền
Nam Việt Nam.
Dù sao đi nữa, Diệm cũng chính
là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Đối với Diệm,
nền dân chủ là thứ xa lạ với tính cách của ông ta
cũng như những gì Diệm đã trải qua. Do ông ta có một
triết lý chính trị riêng, đó là một khái niệm mơ hồ
về "chủ nghĩa cá nhân", một thứ pha trộn tư
tưởng Đông-tây mà Diệm và Nhu sử dụng để hợp lý
hoá cho thứ quyền lực tuyệt đối của nhà nước, cho
việc không tin vào chế độ cai trị của quần chúng và
cho niềm tin rằng một nhóm nhỏ giới tinh hoa có trách
nhiệm định đoạt phúc lợi chung của xã hội. Thần
tượng của Diệm là vua Minh Mạng, một nhà cải cách thế
kỷ XIX đã tạo nên một tập hợp quan lại để ủng hộ
các chỉ dụ của ông. Triết lý cai trị của Diệm được
thể hiện súc tích qua một dòng mà chính ông ta bổ sung
vào hiến pháp: "Tổng thống được trao quyền lãnh
đạo quốc gia". Diệm cho những những nguyên tắc của
mình là một điều thiện cho tất cả và tin chắc rằng
dân chúng phải được dìu dắt dưới bàn tay che chở của
những người biết cái gì là tốt nhất cho họ. Như
Bemard Fall đã viết, Diệm là một người rất đa nghi,
nên ông ta tin rằng "không có chỗ cho sự thỏa hiệp
và nhất thiết mọi sự chống đối đều mang tính lật
đổ và phải trấn áp nó mới mọi sức lực mà chế độ
có thể có" (1).
---------------------------
(1)
Bemard Fall, Hai nước Việt Nam: Một phân tích về chính
trị và quân sự (New York, 1967), tr.237.
Để làm vừa lòng các cố vấn
Mỹ, thỉnh thoảng Diệm cũng nói đến dân chủ, nhưng
trong thực tế, ông ta nắm quyền lực tuyệt đối. Đích
thân Diệm khống chế ngành hành pháp trong chính phủ,
giành cho cá nhân mình và các anh em ruột mọi quyền quyết
định, 3 trong số này được bổ nhiệm vào một nội các
chỉ có 6 người. Không thể hoặc không muốn giao quyền,
Diệm đã giám sát hoạt động của toàn bộ chính phủ
tới những chi tiết nhỏ nhất. Các thành viên nội các
hoặc các viên chức cấp cao nào tỏ ý phản đối sẽ
nhanh chóng bị đẩy đi làm đại sứ ở nước ngoài,
hoặc chịu những hình phạt tồi tệ hơn. Ngành hành pháp
át chế hoàn toàn ngành lập pháp, tuy cơ quan này được
xây dựng qua những tiến trình bầu cử được vận hành
thận trọng.
Trong những năm đầu tiên, quốc hội
chẳng tự đưa ra được điều gì quan trọng và chỉ
biết ngoan ngoãn thông qua mọi thứ do tổng thống đệ
trình lên.
Chính phủ Diệm có lẽ vẫn tồn tại
nếu như đã theo đuổi những chính sách đúng đắn,
nhưng việc chính phủ này không quan tâm đến nhu cầu của
dân chúng, đàn áp tàn bạo những người bất đồng ý
kiến đã khơi dậy một tâm trạng bất mãn mà cuối cùng
dẫn đến sự sụp đổ của chính phủ này. Chính sách
của Diệm đối với các làng xã - xưa nay vẫn là xương
sống của xã hội Việt Nam - thể hiện sự thiếu quan
tâm và gần như là vô trách nhiệm đến nhẫn tâm.
Lansdale thuyết phục Tổng thống Diệm thực hiện chương
trình Công dân vụ (Civil Action Program) để tăng cường
giúp đỡ các làng xã, nhưng Diệm hầu như không quan tâm
đến chương trình này, và, như sau này Lansdale tường
trình, "nó đã thất bại" (1). Do Mỹ tiếp tục
đề nghị, chính quyền Diệm đã thực hiện một chương
trình cải cách điền địa, nhưng rồi cũng chỉ được
thực hiện một cách miễn cưỡng và không làm được gì
nhiều để đáp ứng được lòng khát khao ruộng đất
đang dâng cao của nông dân Nam Việt Nam.
"Cải
cách" quan trọng duy nhất mà chính quyền Diệm thực
hiện trong những năm 50 đã làm bùng lên sự căm phẫn
trong các làng xã. Hành động sai lầm là Diệm đã huỷ
bỏ các cuộc bầu cử địa phương truyền thống và bắt
đầu bổ nhiệm quan chức ở cấp tỉnh và xã, nhằm tập
trung hoá quyền lực và làm giảm ảnh hưởng của Việt
Minh ở nông thôn. Dân làng từ nhiều thế kỷ nay được
hưởng quyền tự quản và nay phải tiếp đón những kẻ
ngoại quốc, theo Frances FitzGerald, "cứ như là họ
phải đón tiếp các thống đốc từ nước đi chinh phục"
(2). Nỗi lo sợ vì sự có mặt của những kẻ ngoại lai
thường bị tăng lên do những hành động của bọn chúng.
Nhiều quan chức được Diệm chọn vì lòng trung thành cá
nhân và phần lớn trong số đó ít được đào tạo về
nghiệp vụ. Một số sử dụng địa vị của mình để
làm giầu cá nhân; một số tỉnh trưởng còn bắt bớ
những người có chút của cải với những tội lỗi bịa
đặt và buộc họ phải hối lộ để được thả
về.
Cuộc khủng bố tàn khốc của Diệm chống lại
các đối thủ chính trị đã gây ra ngày càng nhiều bất
mãn ở thành phố cũng như ở nông thôn. Các báo chí phê
phán chính
-------------------------
(1) Lansdale, ở
giữa các cuộc chiến, tr.212.
(2) FitzGerald, Lửa trong
lòng hồ, tr.154.
-----------------------
phủ lập
tức bị đóng cửa. Sở nghiên cứu chính trị dưới sự
chỉ đạo của Nhu đã khủng bố dã man những người bị
tình nghi có hành vi lật đổ. Sử dụng quyền hạn được
tổng thống giao phó qua nhiều sắc lệnh, chính phủ Nam
Việt Nam đã dồn hàng ngàn người Việt Nam - cả cộng
sản lẫn phi cộng sản - vào các "Trung tâm Cải
huấn". Họ bị buộc tội vô cớ là đe dọa trật tự
công cộng. Chương trình cải huấn lúc đầu nhằm vào
lực lượng Việt Minh "nằm vùng" nhưng đã mở
rộng tới tất cả những người dám lên tiếng chống
đối chính quyền Diệm. Chế độ Diệm đã thừa nhận
đến năm 1956 đã bỏ tù 20.000 người và chiến dịch này
sau đó càng được đẩy mạnh. Năm 1960, một báo cáo
tình báo Mỹ đã kết luận rằng, chính quyền Diệm "có
xu hướng nghi ngờ và cưỡng ép dân chúng để rồi phải
chuốc lấy thái độ ghẻ lạnh và oán hận của họ"
(1).
ở Mỹ, Diệm vẫn là một hình ảnh được
sủng ái chỉ cho đến khi Nam Việt Nam bị nhấn chìm
trong phong trào cách mạng vào đầu những năm 1960. Cho đến
tận cuối thập kỷ đó, ngay cả những người Mỹ thân
cận với chính quyền Diệm cũng không biết mức độ mà
Diệm đã làm cho dân chúng xa lánh. Hơn nữa, dưới con
mắt của người Mỹ, lập trường chống cộng mạnh mẽ
của Diệm đã bù đắp những nhược điểm của ông ta.
Những nhà biện hộ như Wesley Fishel, giáo sư đại học
Michigan, thừa nhận: "Diệm đã dùng các biện pháp
chuyên chế", nhưng lại lý giải rằng: "Do Việt
Nam thiếu kinh nghiệm về dân chủ
------------------------
(1) "Báo cáo đặc biệt về tình hình an ninh Sài
Gòn", ngày 7-3-1960, USVN, Quyển 10,
tr.1267-1280.
----------------------
cùng với mối đe
dọa từ nội bộ do chủ nghĩa cộng sản gây ra, nên ông
ta không còn lựa chọn nào khác". Giới truyền thông
Mỹ thì tập trung nói về tình hình ổn định ở Việt
Nam nhờ sự lãnh đạo của "một con người bé nhỏ,
cứng rắn và phi thường". Khi Diệm đi thăm Mỹ năm
1957, ông ta được tiếp đón và hoan nghênh đặc biệt ở
nhiều nơi.
Hình ảnh này vẫn còn lưu lại,
thậm chí sau cả khi cuộc nổi dậy đã lan rộng khắp
Nam Việt Nam. Năm 1959, phóng viên báo Newsweek Emest Lindley
phải thốt lên rằng: "Với bảng thành tích của
mình, Diệm phải được xếp vào một trong lãnh tụ tài
ba nhất của châu á tự do. Chúng ta (tức người Mỹ) có
thể tự hào về sự chi viện của mình" (1).
Đúng
vào lúc người Mỹ tán dương những điều "thần kỳ"
do Diệm tạo nên thì phong trào cách mạng, mà cuối cùng
cuốn ông ta khỏi chiếc ghế quyền lực và buộc Mỹ
phải can thiệp ồ ạt, đang bám rễ sâu hơn. Sau này
chính phủ Mỹ đã dùng nhiều lập luận để chứng minh
rằng cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai là kết
quả của "hành động xâm lược miền Bắc", rằng
quyết tâm của Bắc Việt Nam muốn áp đặt chủ nghĩa
cộng sản lên "nước láng giềng" phía Nam. Nhưng
nhiều nhà phê bình chính sách Mỹ lại quả quyết rằng,
cuộc cách mạng đó đã bắt nguồn từ bên trong, chủ
yếu là để đối phó với hành động đàn áp của Diệm
rồi sau đó đã phát triển lên mà không có sự hỗ trợ
quan trọng của miền Bắc. Tuy còn nhiều điều chưa rõ
về nguồn gốc của cuộc chiến, nhưng bản đánh giá có
sức
--------------------
(1) Emest K. Lindley, "Một
đồng minh đáng giá", Newsweek (ngày 29-6-1959),
tr.31.
--------------------
thuyết phục nhất của
William Duiker kết luận rằng, phong trào đồng khởi này
là một "cuộc khởi nghĩa chân chính ở miền Nam
nhưng được tổ chức và chỉ đạo từ miền Bắc"
(1).
Trong những năm sau hiệp định Geneva, Bắc Việt
Nam rất thận trọng trong vấn đề thống nhất đất
nước. Cả Liên Xô và Trung Quốc đều dường như không
ủng hộ một phương sách gây hấn. Dù sao chăng nữa, Hồ
Chí Minh và các cộng sự của ông cũng vấp phải nhiều
khó khăn to lớn trong công cuộc tái thiết và xây dựng
quốc gia sau chiến tranh. Cải cách ruộng đất đã được
Hà Nội tiến hành, song những báo cáo về "cuộc tắm
máu", trong đó khoảng 500.000 người bị hành hình khi
thực hiện chương trình này, là thực sự cường điệu
(2)...
Theo các nhà nghiên cứu lịch sử đảng cộng
sản thì hậu quả là "một thời kỳ đen tối nhất"
đối với cách mạng miền Nam. Các cuộc tuyển cử không
được tổ chức và cũng không có sự khoan hồng như đã
hứa hẹn trong hiệp định Geneva. Quan trọng hơn, Diệm
rốt cuộc trở thành mối đe dọa lớn hơn dự kiến của
các đối thủ. Các chiến dịch chống cộng của ông ta
cực kỳ tàn bạo, đến năm 1957, số lượng đảng viên
cộng sản ở Nam Việt Nam đã giảm sút đáng kể.
Trước
nguy cơ tan vỡ, cán bộ lãnh đạo ở các địa phương
bắt đầu tự vệ nhằm bảo tồn lực lượng.
Từ
năm 1957 đến năm 1959, Hà Nội chỉ đạo và tham gia tích
cực hơn phong trào cách mạng đang phát triển ở
-----------------------------
(1) William J. Duiker, Con
đường nắm quyền của chủ nghĩa cộng sản tại Việt
Nam, Boulder, Colo., năm 1981, tr.198. (2) Edwin E. Moise, Cải
cách Ruộng đất tại Trung Quốc và Bắc Việt Nam, Chaper
Hill, N.C., năm 1983, tr.178-268.
-----------------------------
miền Nam. Mặc dù vậy trong thời gian này, Hà Nội vẫn
tiếp tục ưu tiên củng cố cách mạng ở miền Bắc,
nhưng cho phép phong trào cách mạng ở miền Nam sử dụng
vũ lực để bảo tồn lực lượng. Tháng 3-1957, Hà Nội
thông qua kế hoạch hiện đại hoá quân đội. Năm 1959 là
năm có nhiều quyết định quan trọng. Nhận thấy lực
lượng cách mạng ở miền Nam Việt Nam đang ở tình trạng
gay go và sự đàn áp của Diệm đã tạo nên một bầu
không khí thuận lợi cho cuộc cách mạng, vào mùa xuân
năm 1959, Hà Nội đã cho phép tiếp tục đấu tranh vũ
trang và thực hiện những biện pháp tích cực để chi
viện cho cách mạng miền Nam. Với khẩu hiệu "bí mật
tuyệt đối, an toàn tuyệt đối", một lực lượng
đặc biệt mang tên Đoàn 559 đã được thành lập, có
nhiệm vụ xây dựng tuyến đường đưa người và hàng
tiếp tế vào miền Nam Việt Nam qua Lào, và bắt đầu đưa
lực lượng đã tập kết ra miền Bắc sau hiệp định
Geneva trở về miền Nam giành lại thế chủ động. Tháng
9-1960, đại hội đảng lần thứ III đã chính thức phê
chuẩn việc chuyển sang đấu tranh vũ trang, ưu tiên cho
công cuộc giải phóng miền Nam ngang bằng với nhiệm vụ
củng cố, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội.
Tháng 12-1960, lực lượng cách mạng miền Nam đã thành
lập Mặt trận Dân tộc giải phóng Miền Nam, một tổ
chức có cơ sở quần chúng rộng rãi dưới sự lãnh đạo
của Đảng nhằm tập hợp đông đảo lực lượng yêu
nước chống Mỹ. Trong những bước đi này, dường như
Bắc Việt Nam muốn che giấu sự tham gia của mình với hi
vọng rằng có thể lật đổ Diệm bằng một cuộc cách
mạng mang dáng dấp nội bộ mà không khiêu khích Mỹ can
thiệp.
Kết quả là phong trào cách mạng
miền Nam đã phát triển mạnh mẽ. Năm 1958, ước tính có
700 quan chức trong chính quyền Diệm bị ám sát; năm 1960,
con số này lên đến 2.500 người. Năm 1959, những trận
đánh có quy mô lớn đã thay thế cho các trận đánh chớp
nhoáng diễn ra ở các vùng nông thôn do chính quyền Diệm
kiểm soát và đặt các đơn vị quân đội Nam Việt Nam
vào thế bị nguy hiểm. Các mạng lưới tình báo và tuyên
truyền sau hiệp định Geneva phải tạm nằm im thì nay
tiếp tục hoạt động trở lại và nhiều cuộc vận động
chính trị mạnh mẽ đã được phát động ở các làng
mạc. Do những chính sách sai lầm của Diệm, mà cuộc
đồng khởi này đã dễ dàng thu hút được quần chúng
nhân dân - người nông dân lúc này giống như "một
cây rơm sẵn sàng bốc cháy" (1). Vào lúc mà Mặt trận
Dân tộc giải phóng Miền Nam được chính thức thành
lập, Việt cộng (một ngôn từ mà chế độ Diệm dùng
để ám chỉ những người cộng sản Việt Nam, với hàm
ý miệt thị) đã thu hút được hàng ngàn nông dân và đã
hiện diện ở khắp các vùng nông thôn Nam Việt Nam.
Sự
đàn áp của chính quyền Diệm đối với phong trào cách
mạng càng thổi bùng ngọn lửa căm thù của dân chúng
với chính thể này. Diệm đẩy mạnh các chiến dịch
chống cộng ở các vùng nông thôn và xiết chặt kiểm
soát ở các thành phố, bắt bớ rất nhiều người mà họ
gán cho cái mác bất mãn với chế độ. Năm 1959, Diệm
thực hiện một chương trình có cái tên hẩm hiu là "Dinh
điền" (agroville)
----------------------------
(1)
Quốc hội Mỹ, Thượng viện, Văn kiện Lầo Năm góc (bản
dành cho các Thượng nghị sĩ) (4 quyển), Boston, năm 1971,
I, 329. Sau đây xin được dẫn là Văn kiện Lầu Năm góc
(Gravel).
--------------------------
để đối phó với
phong trào cách mạng đang dâng lên ở nông thôn, qua đó
một lần nữa minh chứng rằng nông thôn miền Nam Việt
Nam không nằm trong sự kiểm soát của ông ta. Mục đích
của chương trình này là đưa dân vào định cư ở những
vùng do quân đội quốc gia kiểm soát, tránh các hoạt
động quân sự và tuyên truyền của Việt cộng và chính
quyền Diệm đã tìm cách làm cho chương trình này trở
nên hấp dẫn bằng cách xây dựng ở những khu tập trung
mới này nhiều trường học, trạm xá và cả điện sinh
hoạt. Nhưng người nông dân rất căm phẫn khi bị cưỡng
ép rời bỏ nhà cửa ruộng vườn, mồ mả tổ tiên đến
ở những nơi mà họ không muốn. Mỗi gia đình chỉ được
nhận 5,5 USD, không đủ tiền mua mảnh đất cần thiết
và bị buộc phải làm việc cho những công trình công
cộng mà không được trả công.
Chương trình "Dinh
điền" cuối cùng đã phải huỷ bỏ sau khi gây ra bao
nỗi thống khổ cho người dân và càng làm tăng thêm lòng
căm hờn của người dân với chính quyền Diệm.
Trong
suốt năm 1960, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy
sự yếu kém của chính quyền Diệm.
Phong trào cách
mạng phát triển không thể kìm hãm nổi ở nông thôn, và
các hoạt động vũ trang tăng mạnh.
Tháng 1-1960, tại Trảng Súp, một
xã ở phía Đông Bắc Sài Gòn, 4 đại đội quân Việt
Cộng đã tiêu diệt một sở chỉ huy quân đội Việt Nam
Cộng hoà và thu nhiều vũ khí khiến cho binh lính của
Diệm và các cố vấn Mỹ rơi vào tâm trạng kinh hoàng.
Vào tháng 4, sự mất lòng dân của chế độ nguỵ quyền
Sài Gòn đã bộc lộ rõ rệt khi một nhóm chính trị gia
phi cộng sản, trong đó có rất nhiều người đã từng
phục vụ trong nội các của Diệm, tụ họp tại khách
sạn Caravelle thông qua tuyên ngôn phản đối gay gắt hành
động đàn áp của chính quyền Diệm, kêu gọi những cải
cách sâu rộng. Đến tháng 11, Diệm chỉ chút nữa đã bị
hạ bệ bởi một âm mưu đảo chính của 3 tiểu đoàn
lính dù, những đơn vị vốn được xem như các lực
lượng trung thành nhất của ông ta. Các báo cáo tình báo
của Mỹ đã cảnh báo rằng, nếu xu hướng này còn tiếp
tục thì gần như chắc chắn chế độ Diệm sẽ sụp
đổ.
Do chậm nhận ra sức mạnh của phong trào cách
mạng miền Nam và sự bất lực của chính quyền cũng như
quân đội Nam Việt Nam, đến năm 1960 Mỹ mới chuyển
trọng tâm các chương trình quân sự từ tác chiến đặc
biệt sang chống nổi dậy. Các quan chức quân sự Mỹ ở
Washington và Sài Gòn bắt đầu xây dựng một kế hoạch
toàn diện để phát triển và tổ chức lại quân đội
và lực lượng dân phòng, trang bị cũng như huấn luyện
chúng về tác chiến chống quân du kích. Trong khi kế hoạch
này đang hình thành, phái bộ Mỹ ở Sài Gòn đã thực
hiện những bước đi nhỏ giúp chính quyền Nam Việt
Nam.
Những chương trình huấn luyện hiện hành đều
được định hướng lại. Các toán lực lượng đặc
biệt của Mỹ được điều đến huấn luyện các tiểu
đoàn biệt động, còn cố vấn quân sự Mỹ được bố
trí ở cấp trung đoàn để góp ý ngay tại chỗ cũng đánh
giá khả năng và nhu cầu của từng đơn vị. Tuy việc
chuyển sang chống nổi dậy đã ngầm thừa nhận rằng
chương trình cố vấn ban đầu đã thất bại, nhưng sự
chuyển hướng này cũng không tạo ra được những thay
đổi đáng kể. Nó chỉ làm cho viện trợ quân sự tăng
lên và nảy sinh thêm nhiều đề nghị cho việc tổ chức
lại bộ máy chính quyền (1).
Lúc này, nhiều quan
chức dân sự đã tế nhị thuyết phục Diệm thay đổi
phương sách nhưng họ đã không thành công. Nhiều quan
chức Mỹ, trong đó có đại sứ Elbridge Durbrow, lo ngại
rằng nếu Diệm không cải tổ nội các và tranh thủ sự
ủng hộ của quần chúng thì lực lượng nổi dậy sẽ
đè bẹp chính quyền Nam Việt Nam. Tháng 10, Durbrow được
Washington cho phép nói thẳng vấn đề này với Diệm.
Ông
ta khéo léo yêu cầu tổng thống Diệm mở rộng chính
quyền bằng cách bổ nhiệm một nội các mới, nới lỏng
chế độ kiểm soát đối với báo chí và quyền tự do
của nhân dân, đồng thời cố gắng tranh thủ dân ở
vùng nông thôn bằng cách phục hồi các cuộc bầu cử
hương xã và tạo điều kiện thuận lợi để nông dân
nghèo dễ vay tiền hơn. Diệm trả lời nước đôi rằng,
những đề nghị này cũng phù hợp với quan điểm của
ông ta, nhưng cái "khó nhất" là thực hiện chúng
trong lúc chính quyền đang vấp phải sự chống đối từ
bên trong (2). Vài tuần sau, Diệm xiết chặt chế độ
kiểm soát bằng việc đặt quân đội vào tình trạng
khẩn cấp và bắt giữ các nhà chính trị đã ra tuyên bố
Caravelle.
Cuối năm đó, những người Mỹ ở Sài
Gòn vô cùng kinh hoàng trước cuộc khủng hoảng và rất
lúng túng trong việc khắc phục. Durbrow báo nguy cho
Washington rằng, chính quyền Sài Gòn đang "lâm nguy
trầm trọng" và cần có hành động "nhanh, thậm
chí mạnh mẽ" để cứu nó. Về vấn đề
--------------------------
(1) Spector, Cố vấn và
Viện trợ, tr.372.
(2) Hồi ký của Durbrow, ngày
15-10-1960, USVN, quyển 10, tr.1318.
-----------------------
viện trợ quân sự bổ sung, ông ta khuyên chính quyền
Mỹ cần buộc Diệm phải thực hiện những cải cách sâu
rộng (1).
Phái bộ Mỹ tại Sài Gòn kiên quyết
chống lại đề nghị của Durbrow. Mối quan tâm chính của
MAAG là phát triển một lực lượng quân sự để đối
phó hiệu quả với lực lượng nổi dậy, và nếu quá
nhấn mạnh vào cải cách "dân chủ" sẽ làm suy
giảm sự quan tâm chú ý đến cuộc chiến tranh và sẽ
làm suy yếu Diệm. Trong năm 1960, cuộc tranh cãi này càng
gay gắt hơn, nhưng theo lời một nhân vật tham dự thì
các cuộc họp tại toà đại sứ lúc ấy "thực ra
rất lịch sự" (2).
Mặc dù cuộc thử nghiệm
xây dựng quốc gia đang bị đe dọa vào cuối năm 1960,
nhưng chính quyền Eisenhower không giải quyết các tranh cãi
ở Sài Gòn mà cũng chẳng có biện pháp đáng kể nào để
cứu vãn khoản đầu tư khổng lồ của họ. Trong phần
lớn thời gian của năm 1960, Mỹ tập trung chú ý vào nơi
khác. Một đốm lửa loé lên ở Berlin làm tăng thêm những
căng thẳng của cuộc Chiến tranh lạnh ở châu Âu và sự
cố máy bay U-2 cũng như cuộc họp cấp cao không thành ở
Paris đã dẫn đến những căng thẳng to lớn trong quan hệ
Xô-Mỹ. Sự xuất hiện một chính quyền cách mạng ở
Cuba dưới sự lãnh đạo của Fidel Castro và quan hệ mật
thiết giữa Cuba và Liên Xô đã làm nảy sinh nỗi lo sợ
rằng cộng sản sẽ thâm nhập vào Tây bán cầu. Sự suy
yếu của chính quyền Nam Việt Nam diễn ra dần dần và
người ta chưa ý thức được một cuộc khủng hoảng
đang tới dần cho đến cuối năm đó,
---------------------------------------------------
(1)
Durbrow gửi Bộ Ngoại giao (Mỹ), ngày 5-12-1960, sách đã
dẫn, tr.1334-1336.
(2) William Colby, Những quý ông tôn
kính, New York, năm 1978, tr.160.
trước khi Eisenhower đã có kế
hoạch bàn giao quyền lực cho chính quyền của Đảng Dân
chủ mới đắc cử của John F. Kennedy.
Mặc dù thế,
lúc này Lào lại được xem là vấn đề quan trọng nhất
ở Đông Dương chứ không phải là Nam Việt Nam. Một
chính phủ đôi chút thân phương Tây đã lên cầm quyền
ở Lào sau hiệp định Geneva và đã nhận được sự ủng
hộ hào phóng của Mỹ, nhưng khi họ định đi đến hoà
giải với Pathet Lào, lực lượng cách mạng chiến đấu
sát cánh bên Việt Minh, thì Mỹ đã giật dây thực hiện
một cuộc đảo chính của phái hữu. Chính phủ mới do
Mỹ đỡ đầu đã mở một chiến dịch quân sự đầy
tham vọng nhằm đánh bại Pathet Lào nhưng không mấy thành
công, và đến năm 1960 chính phủ này đã bị lật đổ
bởi cái gọi là phái trung lập. Không chấp nhận một
giải pháp chính trị thỏa hiệp, chính quyền Eisenhower
kiên quyết ủng hộ cho chính phủ do mình bảo trợ và
đẩy phái trung lập phải liên minh một cách đầy khó
khăn với Pathet Lào. Vào cuối năm đó, Bắc Việt Nam và
Liên Xô bắt đầu viện trợ với quy mô lớn cho các lực
lượng chống Mỹ, và cuộc chiến tranh đã trở nên khốc
liệt hơn.
Vào đầu năm 1961, Eisenhower đã nghiêm
túc cân nhắc khả năng Mỹ can thiệp quân sự vào Lào.
Ngay từ tháng 5-1959, ông ta đã nghiêm khắc cảnh báo
rằng, Lào có thể "phát triển lên thành một cuộc
chiến tranh Triều Tiên mới"(1). Ngày 19-1-1961, trong
một buổi chỉ dẫn cho
------------------------------------------
(1) Hồi ký
của Gordon Gray, ngày 14-9-1959, Văn kiện Eisenhower, hồ sơ
giải mật, hộp 5.
-----------------------------------
tổng thống mới đắc cử Kennedy, Eisenhower đã góp ý
rằng, việc Lào thất thủ sẽ đe dọa Thái Lan, Campuchia
và Nam Việt Nam, và nếu Mỹ không có những biện pháp
kiên quyết ở Lào thì họ có thể phải "từ bỏ"
toàn bộ phần còn lại ở Đông Nam á. Eisenhower còn nhận
xét, hành động can thiệp phải mang tính đa phương, nhưng
việc bảo vệ Lào quan trọng đến mức nếu như Mỹ
không thể thuyết phục được các đồng minh SEATO tham
gia thì họ có thể tự mình can thiệp. So với Lào, Nam
Việt Nam dường như chỉ là vấn đề "thứ yếu",
và thậm chí không được đề cập tới trong buổi chỉ
dẫn tháng 1 về tình hình Đông Nam á (1).
Từ năm
1954 đến năm 1961, Mỹ đã quay trở về điểm xuất phát
ban đầu ở Việt Nam. Đứng trước khả năng sụp đổ
của Pháp, chính quyền Eisenhower đã nhanh chóng xem xét đến
việc can thiệp quân sự để cứu Đông Dương khỏi ảnh
hưởng của chủ nghĩa Cộng sản. Tin rằng, do không mang
theo tư tưởng của chủ nghĩa thực dân, Mỹ có thể
thành công ở nơi mà Pháp từng thất bại, Eisenhower và
Dulles đã chấp nhận để Pháp thất bại về quân sự và
gánh vác công cuộc "xây dựng quốc gia". Lẽ ra
Việt Nam phải giống như Hy Lạp và Triều Tiên, nơi mà
Mỹ đã vực dậy được các đồng minh đang bị tấn
công, nhưng do thiếu hiểu biết về lịch sử và văn hoá
Việt Nam, người Mỹ đã đánh giá quá thấp những khó
khăn trong công cuộc "xây dựng quốc gia" ở khu
vực này. Những chương trình đầy tham vọng trong những
năm 50 chỉ che đậy chứ không giải quyết
---------------
(1) Hồi ký của Clark Clifford về buổi toạ đàm,
ngày 19-1-1961, Văn kiện Lầu Năm góc (Gravel), II,
tr.635-637.
---------------
được những vấn đề
của Nam Việt Nam. Hơn nữa, để xây dựng được một
quốc gia có thể trụ vững ở Nam Việt Nam, có lẽ phải
cần có những "lãnh tụ" người Việt với quyết
tâm, giàu óc tư duy và sáng suốt, những tố chất mà Mỹ
không thể cung cấp. Ngô Đình Diệm có thể là "gương
mặt sáng giá nhất" vào lúc đó, theo như Dulles miêu
tả, và Mỹ đã hoàn toàn đặt hy vọng vào ông ta cũng
như đã giúp ông ta tồn tại trong những năm 1954-1955 đầy
sóng gió (1).
Nhưng Diệm thiếu năng lực cần thiết
để đối phó với những thách thức to lớn trong công
cuộc xây dựng quốc gia và vào năm 1960, ông ta, giống
như người Pháp trước đó, dường như không thể kiểm
soát nổi tình hình. Do sự tình cờ của năm bầu cử,
nên Eisenhower không được chứng kiến thất bại cuối
cùng của những chính sách mà ông ta đã đề xướng ở
Việt Nam. Chỉ một thời gian ngắn sau khi nhậm chức,
John F. Kennedy sẽ phải lựa chọn hoặc là bỏ rơi cái mà
trước đó ông ta gọi là "con đẻ của chúng ta"
hoặc tăng cường cam kết ở mức độ lớn
hơn.
------------------
(1) Họp báo của Dulles, ngày
1-3-1955, Văn kiện Dulles, Princeton, N.J., hộp 99.
Chương III
SỰ
CộNG TÁC CÓ GIỚI HẠN GIỮA KENEDY Và DIỆM (l961-1963)
Tháng 1-1961, John F. Kennedy đã
báo nguy cho nước Mỹ rằng: "Các vấn đề của chúng
ra thật gay cấn. Xu hướng có chiều bất lợi. Tình hình
sẽ tồi tệ hơn rồi mới khá lên" (1). Đây cũng là
giọng điệu của Kennedy trong suốt chiến dịch vận động
tranh cử năm 1960 và nó đã định hướng cho chính quyền
của ông ta. Lúc này thế giới dường như đang bước vào
một giai đoạn nguy hiểm nhất trong lịch sử. Cuộc đấu
tranh để thoát ra khỏi quá khứ thuộc địa và xây dựng
các thể chế hiện đại của hàng trăm quốc gia mới đã
sinh ra rối loạn ở nhiều nơi trên thế giới. Lời nói
và hành động của nhà lãnh đạo Liên Xô Nikita
Khruschchev cho thấy cộng sản có một thái độ táo bạo
và thậm chí là liều lĩnh mới và một quyết tâm tận
dụng tình trạng bất ổn đang lan tràn. Vào cuối những
năm 50, đối đầu Xô-Mỹ đã mở rộng và sâu sắc hơn,
rồi
------------------------
(1) John F. Kennedy, Diễn
văn ngày 30-1-1961, John F. Kelmedy, Văn kiện công khai, 1961,
Washington, D.C, năm 1962, tr.27.
----------------------
việc phát triển những loại vũ khí mới càng làm cho
tình hình trở nên đặc biệt lo ngại. Nhìn về lâu dài,
chủ nghĩa dân tộc cho thấy đây là một lực lượng
mạnh hơn chủ nghĩa cộng sản hoặc chủ nghĩa tư bản
dân chủ và chỉ trong vòng 2 năm, sự đổ vỡ trong quan
hệ Trung-Xô đã bộc lộ rõ những bí ẩn trong "khối
cộng sản". Vào năm 1961, tình hình thế giới trở
nên căng thẳng. ở nước Mỹ, Kennedy lên cầm quyền với
niềm tin chắc chắn rằng sự sống còn của nước Mỹ
phụ thuộc vào khả năng họ có bảo vệ được các thể
chế "tự do" hay không. ông ta cho rằng, nếu Mỹ
lung lay thì "toàn thế giới tất yếu sẽ bắt đầu
rẽ sang phía chủ nghĩa cộng sản" (1).
Kêu gọi
đồng bào của mình hãy trở thành "những người
lính gác trên thành trì của tự do" và hứa hẹn về
một sự lãnh đạo kiên quyết và mạnh mẽ, Kennedy đã
đưa chính quyền Mỹ bước vào một cuộc đấu tranh với
những hiểm hoạ của thời đạt mới. ông ta tập trung
quanh mình một đội ngũ cố vấn trẻ tuổi, nhiệt tình
và trí tuệ được bố trí ở những cương vị hàng đầu
của các học viện và ngành công nghiệp.
Họ là
những người tự tin, tích cực cùng chung quyết tâm với
tổng thống "đưa nước Mỹ hoạt động trở lại".
Những người tham gia chương trình Biên giới mới đã
chấp nhận không chút vương vấn những giả định của
chính sách ngăn chặn, nhưng họ cũng tin rằng họ phải
"tiến lên để chiến đấu với chủ nghĩa cộng sản
chứ không đợi chủ nghĩa cộng sản tấn công rồi mới
phản ứng" như những lời Kennedy
------------------
(1) Trích trong Seyom Brow, Thể diện của các cường
quốc, New York, (năm 1969), tr.217.
--------------------------
nói (1). Trưởng thành về chính trị trong chiến tranh
thế giới thứ 2, họ rất lo sợ trước nguy cơ nổ ra
một thảm hoạ toàn cầu mới. Nhưng những người này
cũng phấn chấn trước triển vọng có thể dẫn dắt đất
nước qua những thời kỳ khó khăn và giành thắng lợi
cuối cùng, họ cùng chung quan điểm kiểu Wilson rằng vận
mệnh đã chọn đất nước họ làm người bảo vệ và
phổ biến lý tưởng dân chủ (2).
Kennedy và các cố
vấn cũng nhận thấy tình hình chính trị trong nước đòi
hỏi phải có một chính sách đối ngoại cứng rắn và
thành công. Với những lời lẽ khoa trương trong cuộc vận
động bầu cử năm 1960, ngài thượng nghị sĩ bang
Massachusetts này đã lên án Eisenhower thiếu kiên quyết
trong việc hứa lấy lại thế chủ động trong chiến
tranh lạnh. Sau khi thắng cử với tỷ số sát nút nhất
từ xưa đến nay, vị tân tổng thống cũng biết rất rõ
những chỗ yếu của mình. Đặc biệt trong hai năm đầu
nhậm chức, Kennedy luôn cảnh giác theo dõi tình hình trong
nước khi có những quyết định về chính sách đối
ngoại và ông ta vô cùng nhạy cảm trước những lời
buộc tội của phe cộng hoà về những điểm yếu hoặc
thái độ nhân nhượng của mình.
Chính quyền mới
của Mỹ ngay lập tức bắt đầu đối phó với những
thách thức của cuộc chiến tranh lạnh. Tổng thống
Kennedy ra lệnh ồ ạt xây dựng lực lượng hạt nhân và
tên lửa tầm xa để tạo nên một khả năng răn đe thực
sự
----------------------------
(1) Trích trong Henry
Fairline, Lời hứa của Kennedy, New York, năm 1973. tr.72.
(2)
Thomas G. Parerson, "Nảy sinh gánh nặng: Mội cái nhìn
phê phán về chính sách đối ngoại của John F. Kennedy",
Tạp chí Virginia hàng quý, 54, mùa xuân năm 1978, tr.197.
đối với sức mạnh hạt nhân
của Liên Xô. Do Eisenhower dựa quá nhiều vào vũ khí hạt
nhân khiến Mỹ đã phải chịu bó tay và bị coi là "vai
u thịt bắp" trong nhiều tình huống ngoại giao nên
Kennedy chú trọng phát triển và hiện đại hoá các lực
lượng quân sự Mỹ để có thể "phản ứng linh
hoạt" trước nhiều loại hình và mức độ bị tấn
công. Biết chắc rằng các quốc gia non trẻ sẽ là "chiến
địa chính trong đó các lực lượng tự do và lực lượng
cộng sản sẽ đọ sức", chính quyền Mỹ đã chú ý
nhiều đến việc phát triển khả năng phản ứng có hiệu
quả với chiến tranh du kích - "một căn bệnh quốc
tế" mà Mỹ phải tìm cách "tiêu diệt" (1).
Tuy nhiên Kennedy cũng thấy rằng, Mỹ phải xoá bỏ nguồn
gốc của "căn bệnh" và nhấn mạnh vào việc đưa
ra những chương trình viện trợ kinh tế và kỹ thuật
nhằm xoá bỏ điều kiện để chủ nghĩa cộng sản phát
triển và lái các lực lượng cách mạng đi theo con đường
dân chủ.
Việt Nam là một di sản bi thảm nhất của
chiến lược toàn cầu trong kỷ nguyên Kennedy. Trước đó
Kennedy đã rất quan tâm đến Việt Nam, nơi mà có lần vị
tổng thống này gọi là "viên đá tảng của thế
giới tự do ở Đông Nam á". Hơn nữa trong con mắt
ông ta và nhiều cố vấn, Nam Việt Nam sẽ trở thành một
nơi thử nghiệm quyết tâm trong việc giữ vững cam kết
của Mỹ ở thế giới đầy hiểm hoạ, đồng thời thử
nghiệm khả năng của Mỹ đối phó với những thách thức
mới của cuộc chiến tranh du kích tại các nước đang
trỗi dậy. Kennedy từng tham gia các cuộc công
kích
------------------------
(1) John McCloy và Walt W.
Rostow trích trong Fairlie. Lời hứa của Kennedy, tr.132,
264.
--------------------
Truman vì đã "đánh
mất" Trung Quốc và ông ta cực kỳ nhạy cảm với
những tổn thất chính trị do việc sẽ để mất thêm
một vùng đất khác ở châu á. Vì vậy, so với Truman và
Eisenhower, ông ta lại càng ít muốn để Việt Nam rơi vào
tay chủ nghĩa cộng sản hơn.
Kế thừa từ
Eisenhower sự nguy hiểm gia tăng nếu vẫn giữ những cam
kết có giới hạn, Kennedy lao sâu hơn vào bãi lầy. Như
một số nhà phê bình đã nêu, Kennedy không tích cực đón
lấy gánh nặng ở Việt Nam và hành động của ông ta
tương phản rõ nét với lời nói của chính quyền Mỹ
(1).
Khi giải quyết các vấn đề chính sách lớn,
ông ta thận trọng chứ không táo bạo, do dự chứ không
quyết đoán và tuỳ hứng chứ không tính toán cẩn thận.
Kennedy lần lữa không có cam kết kiên quyết trong gần
một năm và rồi hành động chỉ khi chính phủ rệu rã
của Diệm đã đến sát bờ vực sụp đổ. Lo ngại về
những hậu quả trong nước và quốc tế của một giải
pháp thương lượng nhưng không muốn mạo hiểm về một
sự dính líu hoàn toàn, nên ông ta chọn con đường dung
hoà, vừa mở rộng vai trò của Mỹ đồng thời lại duy
trì vai trò này ở mức hạn chế. Trước mắt, một đường
hướng như vậy tạo ra nhiều thuận lợi, nhưng về lâu
dài thì nó mang tính ảo tưởng và mạo hiểm. Nó khuyến
khích Diệm tiếp tục con đường tự huỷ diệt, trong khi
vẫn làm cho người Mỹ tin rằng họ có thể đạt được
một kết quả thuận lợi mà không phải trả giá cao.
Đường hướng này thu hẹp hẳn những sự lựa chọn,
làm cho khó thoát ra hơn và
---------------------------
(1)
Thí dụ xem Bruce Miroff, Những ảo ảnh của chủ nghĩa
thực dụng, New York, năm 1976, chi tiết tại
tr.142-166.
-------------------------
tạo nên một lập
luận tự nó có lý để đi đến một sự cam kết lớn
hơn và nguy hiểm hơn.
Trong các chiến dịch vận động
tranh cử tổng thống, Kennedy đã nhấn mạnh những mối
nguy hiểm mà nước Mỹ đã phải đương đầu, vậy mà
lúc này chính vị tân tổng thống lại chưa sẵn sàng
trước những vấn đề mà ông ta được thừa hưởng. Sự
đe dọa của Khrushchev về việc giải quyết vị thế của
thành phố Berlin bị chia cắt theo cách của ông ta đã đẻ
ra khả năng đối đầu trực tiếp giữa các siêu cường.
Tháng 1-1961, Khruschchev đã có một diễn văn quan trọng
thừa nhận Liên Xô có chi viện cho các cuộc chiến tranh
giải phóng dân tộc. Có thể bài diễn văn này đã được
soạn thảo để cho Trung Quốc và Mỹ cùng nghe, nhưng
chính quyền Kennedy hiểu nó như một lời tuyên chiến
thực sự. Việc Liên Xô tăng cường viện trợ cho Cuba,
Congo và Lào dường như khẳng định tính chất nghiêm
trọng của mối đe dọa này. Chính trạng thái tâm lý bị
o bế này đã ám ảnh nhà Trắng vào đầu năm 1961, đến
mức có lúc Kennedy phải chào đón các cố vấn của mình
bằng một câu hỏi nghiêm trọng: "Hôm nay có sự kiện
gì chống lại chúng ta không?" (1).
Trong 100 ngày
đầu của chính quyền Kennedy, Việt Nam không được coi
là điểm rắc rối lớn. Trong các buổi thông báo của
mình, Eisenhower thậm chí còn không nhắc đến Việt Nam.
Chỉ cho đến tháng 1, sau khi đọc một báo cáo bi đát
của Lansdale, Kennedy mới biết về sự phát triển
------------------------------
(1) Trích trong Walt
Whitman Rostow. Sự phổ quát quền lực: Một tiểu luận về
lịch sử hiện đại, New York, năm 1972,
tr.170.
------------------------
của phong trào đồng
khởi miền Nam và nhiều vấn đề mà Diệm phải đối
phó. Lansdale đã dự đoán một cuộc tấn công quy mô lớn
của Việt Cộng trước khi kết thúc năm đó, nhưng ông
ta lại lạc quan kết luận rằng, "một nỗ lực lớn
của Mỹ" có thể vô hiệu hoá được cuộc chạy đua
giành quyền kiểm soát của cộng sản. Giống như hai bậc
tiền nhiệm là Truman và Eisenhower, Kennedy cũng tin rằng,
Việt Nam có tầm quan trọng sống còn đối với lợi ích
toàn cầu của Mỹ, và rồi ông ta đã phê chuẩn thêm 42
triệu USD viện trợ để phát triển quân đội Nam Việt
Nam (1).
Vào cuối tháng tư, các trợ lý của Kennedy
một lần nữa lại theo dõi sát sao Việt Nam. Theo lời
khuyên của đại sứ Durbrow, tổng thống Kennedy đã ra
điều kiện là khoản viện trợ trong tháng 1 là để đổi
lấy việc Diệm thực hiện những cải cách quân sự và
chính trị. Nhưng Diệm ngần ngại và ba tháng sau chương
trình viện trợ vẫn dậm chân tại chỗ và rồi cuộc
chiến tranh chống Việt Cộng suy giảm dần.
Vào
thời điểm này, những thất bại to lớn về chính sách
ngoại giao tại Cuba và Lào dường như đã làm tăng tầm
quan trọng của Việt Nam. Các hoạt động lén lút chống
Fidel Castro kết thúc thảm bại tại Vịnh Con Lợn khiến
Kennedy vô cùng choáng váng và chính quyền của ông ta cực
kỳ lúng túng. Sau vụ Vịnh Con Lợn, Kennedy không
---------------------------
(1) McGeorge Bundy gửi
Rostow, ngày 30-1-1961, Văn kiện Kennedy, Hồ sơ An ninh quốc
gia, Hộp 192. Những phân tích chi tiết về chính sách của
Kennedy trong năm đầu nhậm chức, xem Stephen Pelz, "Quyết
định về cuộc chiến Việt Nam của John F. Kennedy",
Tạp chí Nghiên cứu chiến lược, số 4, tháng 12-1981,
tr.356-385.
----------------------
còn tin tưởng vào
hội đồng Tham mưu trưởng liên quân và Cục Tình báo
Trung ương, do đó đã bác bỏ nhiều đề nghị đưa quân
vào Lào để ngăn chặn thất bại sắp xảy đến đối
với chính phủ do Mỹ bảo trợ. Giới quân sự cảnh báo
rằng, việc bảo vệ quân Mỹ được gửi đến Lào chiến
đấu chống lại những hoạt động của Trung Quốc và
Bắc Việt Nam sẽ đòi hỏi những biện pháp cực đoan,
thậm chí đòi hỏi sử dụng đến vũ khí hạt nhân. Đất
nước này nằm sâu trong đất liền, nếu xét về khía
cạnh hậu cần thì việc can thiệp vào Lào quả là một
lựa chọn tồi. Nhiều cố vấn của Kennedy cũng như đại
sứ John Kenneth Galbraith cho rằng, là một "đồng minh
quân sự, toàn bộ nước Lào rõ ràng là thua kém một
tiểu đoàn những người từ chối nhập ngũ từ thời
Chiến tranh thế giới thứ 2" (1). Hơn nữa, chính Tổng
thống Kennedy nhiều lần chỉ rõ sẽ khó giải thích cho
công chúng Mỹ lý do tại sao đưa quân sang nước Lào xa
xôi mà lại không đưa quân sang Cuba ở ngay cạnh sườn.
Cuối tháng 4, tổng thống Kennedy kết luận rằng, một
giải pháp qua thương lượng là giải pháp phù hợp nhất
mà ông ta có thể có ở Lào, và Mỹ đồng ý tham gia một
hội nghị hoà bình tại Geneva.
Trước hết, quyết
định thương lượng ở Lào đã khiến chính quyền Mỹ
phải xem xét cẩn thận chính sách của họ ở Việt Nam.
Cùng với việc từ chối đưa quân đến Vịnh Con Lợn,
việc không muốn can thiệp quân sự vào Lào dường như
làm tăng tầm quan trọng của việc giữ lập trường kiên
-------------
(1) Galbraith gửi Kennedy, ngày
10-5-1961, Văn kiện Kennedy, hồ sơ công tác, hộp
20.
------------------
quyết ở những nơi khác.
Chính quyền trước đó đã thu hút sự chú ý của toàn
quốc vì họ tỏ ra hăng hái hành động, nhưng trong những
tháng đầu họ chẳng mấy thành công.
McGeorge Bundy thú nhận là "vào
lúc này, chúng tôi giống như những lữ khách xứ Harlem,
đi lên trước, vòng ra sau, sang hai bên rồi đi từ dưới
lên. Nhưng chẳng có ai thu lượm được gì hết" (1).
Kennedy thông báo cho nhà báo Arthur Krock người làm việc
cho tờ Thời báo New York rằng, ông ta phải bảo đảm
"Khruschev không được hiểu lầm sự việc ở Cuba,
Lào... để nói lên rằng Mỹ có thể nhân nhượng trong
các vấn đề như Berlin" (2). Hơn nữa, do chưa biết
chắc về kết quả của các cuộc đàm phán ở Lào và
dường như cấp thiết phải chuẩn bị cho một vị trí
dự phòng ở Đông Nam á, nên đa số các quan chức chính
quyền Mỹ nhất trí rằng trái với Lào, Việt Nam sẽ là
nơi thích hợp nhất để Mỹ đứng chân.
Mùa xuân
năm 1961, mặc dù ngày càng lo ngại về Việt Nam, nhưng
chính quyền Mỹ đã không thực hiện những thay đổi lớn
về chính sách hoặc mở rộng hẳn những cam kết của
mình. Tổng thống Kennedy cho phép tăng thêm 100 cố vấn
cho phái bộ MAAG và điều sang Việt Nam 400 tính thuộc lực
lượng đặc biệt để huấn luyện chống nổi dậy. Từ
các cuộc đàm phán ở Lào, Kennedy tin rằng phải đối xử
với Diệm đặc biệt cẩn thận, do vậy ông ta đã triệu
hồi đại sứ Durbrow- người đi đầu trong chủ trương
thực
---------------------
(1) Fairle, Lời hứa của
Kellnedy, tr.180.
(2) Hồi ký của Krock về cuộc đàm luận
với Kennedy, ngày 5-5-1961, Văn kiện Arthur Krock, Thư viện
nguyên cảo Seeley G. Mudd, Princelon, N.J., hộp
59.
----------------------
hiện chiến thuật mặc cả
cứng rắn và cử đích thân phó tổng thống Lyndon B.
Johnson sang Sài Gòn nói rằng Mỹ sẽ ủng hộ chính quyền
Diệm. Để hỗ trợ cho chính sách ngoại giao của mình mà
không gây ra dư luận phản đối ở trong nước và quốc
tế, chính quyền Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh bí
mật ở Đông Dương. Mỹ đã cử các toán biệt kích lén
lút vượt vĩ luyến 17 để đánh vào các đường tiếp
tế, phá hoại các mục tiêu quân sự, dân sự và chống
phá chế độ miền Bắc. Đồng thời, CIA cũng bắt đầu
"cuộc chiến tranh bí mật" tại Lào, vũ trang cho
khoảng 9.000 người Mèo hoạt động phá hoại đường mòn
Hồ Chí Minh với một chiến dịch bán quân sự lớn
nhất.
Tuy nhiên sự đánh giá lại tình hình mùa
xuân năm 1961 quan trọng ở các vấn đề nêu ra hơn là
các giải pháp đề xuất. Theo lời cố vấn nhà Trắng
Walt W. Rostow thì những quyết sách của chính quyền phản
ánh một chính sách có tính toán "nhằm kéo dài thời
gian bằng cách đưa thêm có mức độ các nguồn lực của
Mỹ vào" (1). Nhưng nhiều quan chức sợ rằng làm như
vậy chưa đủ và một tổ đặc nhiệm do Kennedy chỉ định
nhằm xem xét lại những lựa chọn của Mỹ ở Việt Nam
đã bắt đầu đưa ra những biện pháp mạnh mẽ hơn nếu
các cuộc đàm phán ở Lào đổ vỡ hoặc nếu quân cộng
sản tấn công lớn ở miền Nam Việt Nam. Đây là lần
đầu tiên kể từ năm 1954, tổ đặc nhiệm này công khai
nêu khả năng đưa lính chiến của Mỹ vào Việt Nam và
bàn đến các hoạt động không quân và hải quân chống
Bắc Việt Nam.
----------------------------
Rostow, Sự
phổ quát quyền lực, tr.27
---------------------------------
Trong khi chính quyền Mỹ đang
nghiên cứu nhiều sự lựa chọn khác nhau thì áp lực đòi
Mỹ mở rộng sự dính líu vào Việt Nam đã tăng lên. Sau
một chuyến thăm Viễn Đông chớp nhoáng với một chặng
dừng chân quan trọng ở Sài Gòn, phó tổng thống Mỹ
Johnson báo cáo là quyết định thương lượng ở Lào đã
làm cho Diệm suy giảm lòng tin vào Mỹ, do đó nếu muốn
ngăn chặn sự sa sút về tinh thần của Diệm thì đối
với Mỹ, "lời nói phải đi đôi với việc làm"
(1). Sau chuyến đi của Johnson, Diệm đã yêu cầu tăng
cường viện trợ. Ông ta tỏ ra không quan tâm đến việc
đưa quân Mỹ vào Việt Nam khi phó tổng thống Johnson tế
nhị nhắc tới vấn đề này. Vốn có tính độc lập
mạnh mẽ và hiểu rõ tình trạng chống đối đang gia
tăng đối với chế độ của mình, Diệm sợ rằng nếu
đưa một số lượng lớn quân Mỹ vào Việt Nam thì điều
đó chẳng những tạo cho Việt Cộng cơ hội tốt để
kêu gọi tập hợp lực lượng mà còn làm cho phe đối
lập phi cộng sản có được lợi thế đáng kể. Tuy vậy,
ngay sau khi Johnson rời Sài Gòn, Diệm đã báo nguy cho
Kennedy rằng, tình hình Việt Nam đã trở nên "nghiêm
trọng hơn nhiều" và đề nghị Mỹ tăng cường viện
trợ cũng như đưa thêm cố vấn vào đủ để tăng quy mô
của quân đội Nam Việt Nam khoảng 100.000 người
(2).
Vvào mùa hè năm 1961, cuộc chiến tranh lạnh đã
đi vào
-----------------------
(1) Johnson gửi Kennedy,
ngày 23-5-1961, Văn kiện Kennedy, hồ sơ công tác, hộp
30.
(2) Quốc hội Mỹ, Thượng viện, tiểu ban công
trình công cộng, Văn kiện Lầu Năm góc, (Bản gửi cho
các Thượng nghị sĩ) (4 quyển): Boston, năm 1971, quyển
II, năm 60. Sau đây được dẫn là Văn kiện Lầu Năm góc
(Glavel).
----------------------------
chiều sâu, và một
số cố vấn của Kennedy bắt đầu yêu cầu thực hiện
một sự cố gắng toàn lực ở Việt Nam. Trong cuộc họp
thượng đỉnh gay gắt ở Vienna vào tháng 6, Khruschev một
lần nữa khẳng định cam kết của Liên Xô với các cuộc
chiến tranh giải phóng dân tộc, điều này đã làm cho
chính quyền Mỹ thêm lo ngại. Rostow vốn từ lâu đã chủ
trương sử dụng "những phương tiện chống du kích"
ở Việt Nam như máy bay trực thăng và lực lượng quân
mũ nồi xanh mới thành lập. ông ta khuyên Kennedy: "Dù
sao thì cũng là sai lầm khi phát triển những khả năng
này mà không dùng chúng vào một chiến trường quan trọng.
Theo phương ngôn từ thời Knute Rockne thì chúng ta không để
dành cho chúng cuộc đi vũ hội". Nhà kinh tế học và
cựu giáo sư học viện MIT này đã so sánh mùa hè năm
1961 với năm 1942 khi quân Đồng minh bị thất bại khắp
nơi trên thế giới, và ông ta cảnh báo Kennedy rằng, "để
xoay ngược tình thế", Mỹ phải "thắng" ở
Việt Nam. ông ta cho rằng, nếu giữ được Việt Nam, thì
có thể cứu được Thái Lan, Lào, Campuchia và khẳng định
"chúng ta có thể đối phó với chiến thuật chiến
tranh du kích của cộng sản" (1).
Quá bận tâm
với các vấn đề cấp bách như Berlin, Kennedy đã né
tránh những cố vấn có thái độ hiếu chiến và chỉ
cho phép tăng cường những khoản viện trợ khiêm tốn.
Chỉ khi tình hình xấu hẳn đi vào mùa thu năm 1961, ông
ta mới buộc phải hành động. Số quân thâm nhập vào
----------------------
(1) Rostow gửi Kennedy, ngày
29-3-1961, Văn kiện Kennedy, hồ sơ An ninh quốc gia, hộp
192, và ngày 17-6-1961, Văn kiện Kennedy, hồ sơ công tác,
hộp 65.
--------------------
Nam Việt Nam đã tăng gấp
đôi lên tới con số 4.000 người.
Việt Cộng đẩy
mạnh hoạt động vào tháng 9 và chỉ trong một thời gian
ngắn đã chiếm được một tỉnh lỵ chỉ cách Sài Gòn
khoảng 90 km. Các chuyên gia phân tích tình báo cho biết số
quân chính quy Việt Cộng đã tăng lên rất nhiều.
Nhà báo Theodore H.White lưu ý về
"một sự suy sụp chính trị ở mức độ đáng kể"
tại Nam Việt Nam (1). Và vào tháng 9, Diệm khẩn thiết đề
nghị tăng cường viện trợ kinh tế.
Đến đầu
tháng 10, cả hội đồng Tham mưu trưởng liên quân và hội
đồng An ninh quốc gia đều xem xét lại việc đưa quân
chiến đấu Mỹ vào Nam Việt Nam trên quy mô lớn.
Kennedy
lúc này vẫn thận trọng. ông ta bộc lộ với Krock về
tâm trạng không muốn đưa quân Mỹ vào lục địa châu
á. Kennedy không tin là Mỹ cần can thiệp vào "những
rối loạn nội bộ do du kích gây ra" và còn nói thêm
rằng "khó chứng minh tình hình Việt Nam phổ biến là
như vậy" (2). Lo ngại trước tình hình quân sự và
chính trị ngày càng xấu đi ở Nam Việt Nam, và lo ngại
trước việc phải mở rộng cam kết của Mỹ, Kennedy phái
Rostow và cố vấn quân sự riêng của mình là tướng
Maxwell D.Taylor sang Việt Nam để đánh giá tình hình tại
chỗ và cân nhắc xem có cần đưa quân Mỹ vào cuộc hay
không.
Taylor và Rostow công nhận tính xác thực của
những bản báo cáo bi quan từ Sài Gòn gửi về vào tháng
trước.
------------------------------
(1) Trích trong Văn
kiện Lầu Năm góc (Gravel), II, 70.
(2) Hồi ký của Krock
về cuộc đàm luận với Kennedy, ngày 11-10-1961, Văn kiện
Krock, hộp 20.
-----------------------
Quân đội Việt
Nam Cộng hoà đang chịu nhiều thất bại do cái mà như
Taylor gọi là "quan điểm phòng ngự". Chính quyền
Diệm thì rệu rã, bất lực và ngày càng mất lòng
dân.
Xuất phát từ những sự kiện xảy ra ở Lào,
sự đẩy mạnh hoạt động của Việt Cộng cùng với nạn
lụt đang tàn phá đồng bằng sông Cửu Long, hai người
này nhận xét, vấn đề cơ bản hiện nay chính là "cuộc
khủng hoảng lòng tin sâu sắc và sự suy sụp nghiêm trọng
về tinh thần lan tràn trên khắp Nam Việt Nam". Sau này
Taylor hồi tưởng: "Không ai cảm thấy tình hình là
vô vọng, nhưng mọi người đều cho rằng tình hình thật
nghiêm trọng và yêu cầu có những biện pháp khẩn cấp"
(1).
Taylor và Rostow khuyến nghị tăng mạnh viện trợ
của Mỹ nhằm chặn đứng tình hình đang xấu đi ở Nam
Việt Nam. Họ nhấn mạnh: Người Việt phải tự giành
chiến thắng; Mỹ không thể làm hộ họ điều đó. Nhưng
họ cũng kết luận rằng, nếu Mỹ cung cấp trang bị và
các cố vấn lành nghề để cộng tác chặt chẽ với các
cấp chính quyền Diệm thì có thể làm cho "bộ máy
dân sự và quân sự Việt Nam Cộng hoà hoạt động tốt
hơn, tích cực hơn và tự tin hơn nhiềư" (2). các Cố
vấn được huấn luyện tốt, bố trí ở các vị trí
chiến lược trong toàn bộ máy của chính quyền Nam Việt
Nam có thể giúp phát hiện và khắc phục những vấn đề
lớn về chính trị, kinh tế và quân sự. Huấn luyện tốt
hơn cho lực lượng phòng vệ dân sự và các đoàn tự vệ
thôn xã sẽ tạo cho
------------------------------
(1)
Maxwell D. Taylor, Thanh gươm và lưỡi cày, New York, năm
1972, tr. 241.
(2) Rostow, Sự phổ quát của quyền lực,
tr.275.
-----------------------
quân chính quy rảnh tay
đối phó với các cuộc tấn công, và các trang bị như
trực thăng sẽ tạo cho quân đội Việt Nam Cộng hoà sức
cơ động cần thiết để tác chiến hiệu quả.
Điều gây tranh cãi nhiều nhất
trong đề nghị của Taylor và Rostow là điều động "lực
lượng đặc nhiệm hậu cần" 8.000 quân, trong đó có
công binh, quân y và cả bộ binh để hỗ trợ. Mục tiêu
bề ngoài của lực lượng này là giúp khắc phục thiệt
hại do lụt lớn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, nhưng
thật ra Taylor còn có những động cơ khác quan trọng hơn.
Trong khi Diệm tiếp tục phản đối việc việc đưa quân
Mỹ vào thì nhiều quan chức chính quyền và nhiều người
Mỹ ở Sài Gòn cho rằng rất cần có quân đội Mỹ.
Chính Taylor cũng cảm thấy "vô cùng cần thiết phải
làm gì đó để lấy lại tinh thần cho Nam Việt Nam và
củng cố lòng tin ở Mỹ". Taylor khuyên Kennedy rằng,
lực lượng đặc nhiệm sẽ có tác dụng như một "biểu
tượng hiển nhiên chứng tỏ Mỹ có ý định nghiêm túc
và sẽ là một lực lượng quân sự dự bị vô giá nếu
tình hình Nam Việt Nam đột nhiên xấu đi" (1). Theo
Taylor và Rostow thì mục đích nhân đạo là lý do thuận
lợi để đưa lực lượng này vào Việt Nam và khi công
việc hoàn thành Mỹ có thể rút về một cách dễ dàng;
đồng thời họ còn nhấn mạnh rằng, đề nghị của họ
chỉ là những biện pháp tối thiểu và nếu chúng chưa
đủ để cứu Nam Việt Nam thì Mỹ có thể phải thực
hiện những bước đi mạnh mẽ hơn như đưa quân vào
hoặc phát động các đợt hành quân tấn công chống lại
Bắc Việt Nam.
Trong lúc báo cáo của Taylor và Rostow
lưu hành tại
-----------------------------
(1) Taylor,
Thanh gươm và Lưỡi cày, tr.239.
------------------------
washington thì thứ trưởng ngoại giao Mỹ Chester Bowles
và nhà ngoại giao kỳ cựu W. Averell Harriman, trưởng đoàn
đàm phán của Mỹ về vấn đề Lào, lại đưa ra một
đường hướng rất khác. Harriman tỏ ra rất nghi ngờ khả
năng tồn tại của "chế độ đàn áp, độc tài và
mất lòng dân" của Diệm trong bất kỳ tình hình nào,
và khuyến cáo Mỹ không nên "liều lĩnh đặt cược
uy tín của mình ở Việt Nam". Bowles nghiêm khắc phê
phán rằng, Mỹ được "dẫn dắt quá nhanh vào một
ngõ cụt". Hai nhân vật này đề nghị Kennedy hoãn
thực hiện cam kết lớn với Diệm, và đề xuất: Nếu
các cuộc thương lượng ở Lào tiến triển tốt đẹp
thì lúc đó Mỹ có thể mở rộng nội dung hội nghị để
đưa vấn đề Việt Nam vào và tìm một giải pháp chung
trên cơ sở hiệp định Geneva 1954 (1). Báo cáo của
Taylor, đề nghị của Bowles và Harriman lần đầu tiên đặt
ra sự lựa chọn dứt khoát ở Việt Nam.
Kennedy
thẳng thừng bác bỏ một giải pháp qua thương lượng.
Chính quyền Mỹ đã hứa đẩy mạnh chiến tranh lạnh,
nhưng trong những tháng đầu tiên, họ đã phải chịu
nhiều thất bại rõ rệt ở Cuba, Lào và vào tháng 8, Liên
Xô đã xây dựng một bức tường bê tông cốt thép ngăn
Đông và Tây Berlin mà không hề báo trước. Trong suốt
năm đó, phái Cộng hoà và các đảng viên Đảng Dân chủ
cánh hữu đã buộc tội chính quyền Kennedy là yếu kém,
và Kennedy hình như sợ một quyết định thương lượng ở
Việt Nam sẽ
----------------------------
(1) Harriman gửi
Kennedy, ngày 11-11-1961, Văn kiện Kennedy, Hồ sơ An ninh Quốc
gia, Hộp 195; Chester Bowles, Những hứa hẹn sẽ giữ (New
York, 1971), tr.409; Pelz, "Quyết định của Kennedy",
tr.378.
----------------------
làm bùng lên những trận
đả kích chính trị nội bộ nhắm vào ông ta giống như
những trận đả kích đầy hiềm thù và tác hại đã xảy
ra sau khi Trung Hoa Dân quốc sụp đổ năm 1949.
Tuy vậy, tổng thống Kennedy cũng
quan tâm đến ảnh hưởng của vấn đề này trên trường
quốc tế. Các chiến lược gia của chính quyền Mỹ thấy,
trong một thế giới đối đầu đầy nguy hiểm này rất
cần xây dựng lòng tin vào những cam kết của Mỹ. Nếu
nước Mỹ tỏ ra yếu kém thì đồng minh sẽ mất lòng
tin và kẻ thù của Mỹ sẽ được khích lệ để đẩy
mạnh tấn công và nếu như quá trình đó không bị chặn
lại thì đến lúc nào đó có thể đặt Mỹ vào một sự
lựa chọn nguy hiểm: hoặc để hoàn toàn mất chỗ đứng
trên trường quốc tế, hoặc thực hiện chiến tranh hạt
nhân. Vào cuối năm 1961, Kennedy và nhiều cố vấn của
ông ta tin rằng họ phải chứng minh cho Khruschev thấy sự
kiên quyết của họ. Trong cuộc "khủng hoảng Berlin",
tổng thống Kennedy đã phải thốt lên: "Thằng cha
chết tiệt ấy không thèm để ý đến nhưng gì hắn nói.
Phải cho hắn thấy các ngài hành động ra sao"
(1).
Ngày 14-11, Kennedy nói với các trợ lý, "vấn
đề cơ bản không phải là Diệm có là một nhà lãnh đạo
giỏi hay không mà là Mỹ có thể chấp nhận mà không
trừng phạt hành động "xâm lược" của cộng
sản ở Nam Việt Nam hay không".
Những hành động
lúc này của Mỹ thực hiện sẽ "được cả hai phía
của bức màn sắt xem xét... như một biểu hiện của ý
đồ và quyết tâm của chính quyền Mỹ" và nếu
chính quyền quyết định thương lượng thì "trong
thực tế họ có thể bị xem
-----------------------
(1)
Trích trong Paterson, "Nảy sinh gánh nặng",
tr.206.
----------------------------------------
là yếu thế
hơn ở Lào". Tuy thừa nhận những mối nguy hiểm của
một cam kết mở rộng ở Việt Nam, Kennedy vẫn kết luận
rằng, ở nơi nào Mỹ đã thể hiện "sức mạnh và
quyết tâm" thì họ đều thành công mà ít tốn kém"
(1).
Nhưng tổng thống Mỹ lại từ chối chủ trương
của Taylor.
Các cố vấn của Kennedy sợ rằng việc
đưa quân Mỹ vào Việt Nam có thể đe dọa các cuộc đàm
phán ở Lào và dẫn đến leo thang trong cuộc chiến tranh
Việt Nam. Họ chất vấn liệu lực lượng mà Taylor đề
nghị có đủ mạnh hay không, hoặc liệu nó có thể lấy
lại tinh thần cho chính quyền Nam Việt Nam hay không, vì
mục đích đã tuyên bố của nó là cứu trợ nạn lụt.
Lực lượng này có thể bị tấn công và lúc đó Mỹ sẽ
vấp phải một sự lựa chọn còn khó khăn hơn: Hoặc đưa
quân vào để hỗ trợ cho nó, hoặc rút toàn bộ về
nước. Một thành viên của hội đồng An ninh quốc gia đã
khuyến cáo: "Nếu chúng ta đưa 6 đến 8 ngàn quân vào
rồi rút ra khi khó khăn, thì chúng ta sẽ không còn chỗ
đứng ở Việt Nam và có thể ở toàn cõi Đông Nam á"
(2).
Kennedy thì nghi ngờ khả năng của lực lượng
đó và sợ rằng rồi sẽ có những yêu cầu xin thêm
quân. ông ta nói với Arthur Schelesinger rằng: "Đoàn
quân sẽ tiến vào; nhạc sẽ được tấu lên; đám đông
sẽ hoan hô và trong 4 ngày mọi người sẽ quên sạch.
Giống như ta uống rượu, khi men rượu tan thì ta lại
phải uống thêm một ly nữa" (3).
-----------------------
(1) Hồi ký của Kennedy, ngày 14-11-1961, Văn kiện
Kennedy, hồ sơ công tác, hộp 128.
(2) Robert Johnson gửi
Bundy, ngày 31-10-1961, Văn kiện Kennedy, hồ sơ an ninh quốc
gia, hộp 194.
(3) Trích trong Arthur M. Schelesinger, Jr., Một
ngàn ngày, (Boston, l965), tr.547.
---------------------
Đứng trước một sự lựa chọn
khó khăn, hoặc đàm phán hoặc đưa quân chiến đấu vào,
Kennedy đã chọn biện pháp nửa vời. ông ta phê duyệt
những khuyến nghị của Talor về tăng hẳn khối lượng
viện trợ và số cố vấn Mỹ với hy vọng rằng việc
làm này sẽ đủ để ngăn chặn sự suy sụp chính trị
và quân sự ở Nam Việt Nam. Khi thực hiện những biện
pháp này, chính quyền Mỹ biết rất rõ rằng họ đã vi
phạm hiệp định Geneva năm 1954. Ngày 15-12, họ cho ra cuốn
Sách trắng nêu chi tiết những hành động vi phạm hiệp
định của Bắc Việt Nam và cho rằng việc Hà Nội tiếp
tục tấn công Nam Việt Nam đã dẫn đến những phản ứng
của Mỹ (1).
Trong khi thực hiện cái mà Taylor gọi
là "sự hợp tác có mức độ" với Nam Việt Nam,
lúc đầu chính quyền Kennedy theo đuổi một đường lối
cứng rắn. Các quan chức Mỹ từ lâu nhất trí rằng,
chính phủ bất lực và chỉ biết đàn áp của Diệm là
trở ngại lớn cho việc đánh bại lực lượng cách mạng.
Như lời của bộ trưởng Dean Rusk, do không muốn đặt
cược quân lực, tiền của và uy tín của Mỹ vào "một
con ngựa thua", chính quyền Mỹ đã chỉ thị cho sứ
quán ở Sài Gòn thông báo cho Diệm biết là việc chuẩn
y chương trình viện trợ mới sẽ phụ thuộc vào những
lời hứa cụ thể của chính quyền Nam Việt Nam như tổ
chức lại và cải tổ bộ máy chính phủ, cho phép Mỹ
tham gia quá trình hoạch định chính sách
(2).
-----------------------
(1) Bộ Ngoại giao (Mỹ), Mối
đe dọa với hoà bình: Những hỗ lực của Bắc Việt Nam
tấn công Nam Việt Nam, Washington, D.C., năm 1961.
(2) Rust
gửi Bộ Ngoại giao, ngày 1-11-1961, Văn kiện Kennedy, hồ
sơ an ninh quốc gia, hộp 194: Văn kiện Lầu Năm góc
(Gravel), quyển II, tr.120.
------------------------
Tuy
nhiên, yêu sách của Mỹ lập tức gây ra một cuộc tranh
cãi ở Sài Gòn và chính quyền Mỹ phải nhanh chóng rút
lui ý kiến. Diệm tức giận phản đối tính chất hạn
chế trong những cam kết của Mỹ, đả kích dữ dội
những đề nghị về mối quan hệ mới, rồi thông báo
cho đại sứ Frederick Nolting rằng, Nam Việt Nam "không
muốn trở thành một nước bị bảo hộ" (1). Lúc đầu
chính quyền Mỹ phản ứng quyết liệt, ngừng các chuyến
tàu chở trang bị quân sự và ngầm tìm kiếm một nhân
vật có thể thay Diệm.
Nhưng Nolting chất vấn chính
sách mới này với lời khuyên rằng "cách xử sự
bình tĩnh và không nóng vội là cơ hội thành công lớn
nhất" (2). Song Bộ Ngoại giao Mỹ không thể tìm được
một chính trị gia Nam Việt Nam nào có thể thay thế Diệm.
Theo như Kennedy, do bị thuyết phục rằng "Diệm vẫn
là Diệm và đó là người khá nhất mà chúng ta có"
nên chính quyền Mỹ đã lùi bước (3). Hai bên xác định
lại mối quan hệ mới, nêu rõ rằng không bên nào được
hành động mà không tham khảo bên kia. Hai chính phủ thỏa
thuận về việc công bố nguyên tắc khẳng định những
điểm này, do đó cuộc khủng hoảng đã qua đi.
Như
vậy, quyết định của Kennedy năm 1961 đã đánh dấu một
bước ngoặt nữa trong quá trình dính líu của Mỹ vào
Việt Nam. Bác bỏ cả hai cực thương lượng hoặc điều
-------------------
(1) Nolting gửi Bộ Ngoại giao, ngày
18-11-1961, Văn kiện Kennedy, hồ sơ an ninh quốc gia, hộp
165.
(2) Nolting gửi Bộ Ngoại giao, ngày 29-ll-1961, Văn
kiện Kennedy, hồ sơ an ninh quốc gia, hộp 195.
(3) Trích
trong Benjamin Bradell, Đàm luận với Kelmedy (New York, 1976),
tr.59.
---------------
quân, Kennedy chọn một sự cam
kết có mức độ về viện trợ và cố vấn. Song, ngay từ
đầu ông ta đã nhận biết rằng làm như vậy có thể
còn chưa đủ để cứu Nam Việt Nam và nhiều sự kiện
cho thấy một khi đã có cam kết thì không dễ gì giữ nó
ở mức độ hạn chế. Hơn nữa, qua việc nhượng bộ
Diệm, chính quyền Mỹ đã làm tổn thương nghiêm trọng
đến chính những tiêu chuẩn họ đề ra cho một chương
trình chống nổi dậy thành công. Nếu vào thời điểm đó
Mỹ giữ thái độ kiên quyết thì có thể cũng không ép
được Diệm thay đổi phương thức của mình, nhưng ít
nhất cũng gây được áp lực trước khi Mỹ can thiệp
sâu hơn vào Việt Nam.
Nhưng qua việc nhượng bộ Diệm,
Mỹ đã khích lệ tính ngang ngược của ông ta và mở
đường tới những va chạm sẽ làm cho ngôn từ "hợp
tác" trở thành trò hề và sẽ gây hậu quả bi đát
cho tất cả các bên hữu quan (1).
Dù sao, bất đồng
cũng được giải quyết và vào đầu năm 1962, Mỹ và Nam
Việt Nam thực hiện "Kế hoạch hai gọng kìm" để
kiềm chế sự nổi dậy của Việt Cộng. Với sự hỗ
trợ của một số lượng trang bị và cố vấn Mỹ lớn
hơn nhiều, quân đội Nam Việt Nam đã tiến hành tấn
công Việt Cộng.
Đồng thời chính quyền Diệm cũng
thực hiện cái gọi là "chương trình ấp chiến lược"
do chuyên gia chống nổi dậy người Anh Robert Thompson phát
triển lên từ những kinh nghiệm ở Malaysia và Philippines
nhằm cô lập quân Việt cộng với người dân Nam Việt
Nam - nguồn hỗ trợ chính
---------------------------
(1)
Kennedy tìm cách củng cố đường hướng nửa vời ở Nam
Việt Nam và ở các khu vực khác qua một sự kiện gọi
là "Cuộc thanh trừng vào lễ tạ ơn", trong đó
Bowles "bồ câu" bị cách chức thứ trưởng ngoại
giao và Rostow "diều hâu" được điều về Bộ
Ngoại giao.
--------------------------
của họ. Theo kế
hoạch của Thompson, nông dân từ nhiều làng phân tán sẽ
được đưa vào các ấp có hào và rào tre bao quanh, có
lực lượng quân sự canh giữ. Những ấp này được xem
không chỉ như phương tiện chống Việt cộng, mà còn là
công cụ của một cuộc cách mạng kinh tế-xã hội ràng
buộc người nông dân với chính quyền. Việc nối lại
những cuộc bầu cử ở làng xã, đề ra chương trình cải
cách điền địa, xây dựng trường học và trạm xá sẽ
thuyết phục dân chúng rằng cuộc sống dưới sự cai trị
của chính quyền Việt Nam Cộng hoà đem lại nhiều thứ
hơn là sống với Việt cộng. Theo như một cố vấn của
Kennedy, ông Roger Hilsman, thì mục tiêu cuối cùng là biến
Việt cộng thành "những băng đảng đói rách ngoài
vòng pháp luật, phải dồn sức để duy trì cuộc sống"
và buộc họ phải ra khỏi nơi ẩn náu, phải chiến đấu
theo một cách thức của quân đội Việt Nam Cộng hoà áp
đặt (1).
Để hỗ trợ "Chương trình chống nổi
dậy", Mỹ đã mở rộng vai trò của họ ở Việt Nam
với cái gọi là "Kế hoạch tăng cường sức mạnh".
Phái đoàn MAAG được thay bằng Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ
tại miền Nam (gọi tắt là MACV) lớn hơn và đã được
tổ chức lại, có trụ sở ở Sài Gòn do tướng Paul
Harkin đứng đầu. Chỉ trong vòng hai năm 1961 đến 1962,
viện trợ quân sự Mỹ đã tăng hơn gấp đôi và có cả
những trang bị quan trọng như xe thiết giáp và hơn 300
máy bay quân sự. Kennedy cho phép dùng hoá chất làm trụi
lá cây nhằm triệt phá nơi trú quân của Việt cộng,
---------------------------
(1) Roger Hilsman, Chuyển hóa
một dân tộc, New York, năm 1967, tr.432.
---------------------
chiếm giữ những con đường lớn, cho phép sử dụng
hạn chế chất diệt cỏ để phá huỷ các nguồn tiếp
tế lương thực của Việt cộng. Tính đến tháng
12-1961, số lượng "cố vấn" Mỹ ở Nam Việt Nam
là 3.205, và đến cuối năm 1962, con số này đã tăng lên
hơn 9.000. Các cố vấn Mỹ là những người chuyên nghiệp
được đào tạo công phu, nhiều người trọng số này là
cựu chiến binh trong chiến tranh thế giới thứ 2 và
chiến tranh Triều Tiên, có thể coi đó là mẫu mực
cho "tinh thần cam kết" toàn cầu và "tinh thần
có thể làm được tất thảy" của kỷ nguyên
Kennedy. Họ ăn mặc xuềnh xoàng với mũ kê-pi sáng màu,
vai đeo bao súng và băng đạn, điều đó nói lên nhiệm
vụ khác thường của họ. Họ phải chịu đựng thời
tiết khắc nghiệt và bệnh tật; họ không chỉ chống
Việt cộng, mà còn chuẩn bị đối phó với các cuộc
chiến tranh trong tương lai. Một phi công trực thăng nói
với nhà báo Mỹ: "Rèn luyện như một người Việt
Nam là điều kiện quan trọng với chúng tôi" (1). Các
cố vấn thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau và luôn mở
rộng đặc vụ. Các lực lượng đặc biệt tiến hành
Chương trình Công dân vụ cùng với người Thượng Tây
Nguyên. Phi công trực thăng không quân và hải quân thả
các phân đội lính Việt Nam Cộng hoà vào các bãi chiến
trường sâu trong đầm lầy rồi lại nhặt tử sĩ và
thương binh về khi kết thúc trận đánh. Người Mỹ cùng
bay với các học viên Việt Nam trong các phi vụ ném bom
oanh tạc và khi quân đội Việt Nam Cộng hoà thiếu
------------------------------
(1) Richard Tregaskis, Nhật
ký Việt Nam, New York, năm 1963, tr.149.
-----------------------
phi công, những phi công Mỹ này đã tự lái máy bay
chiến đấu thực hiện nhiệm vụ. Sĩ quan và binh sĩ Mỹ
thực hiện các chương trình huấn luyện mở rộng cho
quân đội Việt Nam Cộng hoà và lực lượng phòng vệ
dân sự, còn các cố vấn được bố trí xuống tận cấp
tiểu đoàn cùng tham gia với các quân đội Việt Nam Cộng
hoà trong các nhiệm vụ tác chiến.
Việc Mỹ ồ ạt đưa cố vấn
và vũ khí vào đã tức khắc vực dậy tinh thần cho chính
quyền Nam Việt Nam. Máy bay trực thăng tỏ ra là một thứ
vũ khí lợi hại và dường như chúng đã xoay chuyển được
cục diện trận chiến: Sau này Hilsman kể lại, chúng tạo
cho quân đội Việt Nam Cộng hoà "một sức cơ động
tuyệt vời". Trong vài tháng đầu, Việt cộng chỉ có
chạy, bị dồn khỏi hầm trú ẩn, họ chạy giữa trời
và trở thành những mục tiêu dễ hạ (1). Được khích
lệ nhờ vũ khí mới và tinh thần tiến công mới, quân
đội Việt Nam Cộng hoà tiến hành nhiều trận tấn công
mãnh liệt vào các cứ điểm của Việt cộng trong mùa
xuân-hè 1962, và lần đầu tiên tưởng như đã giành được
thế chủ động trên chiến trường.
Nhưng lợi thế
này chẳng giữ được bao lâu. Dù có máy bay và thiết bị
điện tử tinh vi nhưng quân đội Việt Nam Cộng hoà vẫn
gần như không thể xác định được vị trí các căn cứ
của Việt cộng ở các vùng rừng rậm và đầm lầy ở
Nam Việt Nam. Chính tính chất của các cuộc hành quân
"Không-bộ" - kiểu oanh tạc rồi sau đó đổ bộ
binh xuống - đã báo động cho đối phương biết sắp có
một trận đánh, do
------------------------
(1) Hilsman,
Chuyển hóa một dân tộc, tr.444.
-----------------
đó
đủ thời gian cho phép họ rút quân an toàn. Một cố vấn
Mỹ nản chí phàn nàn: "Các anh phải đổ quân xuống
đầu họ, nếu không họ sẽ biến mất"; một sĩ
quan cao cấp Mỹ còn khinh miệt gọi các cuộc hành quân
có trực thăng là "khua chiêng gõ mõ một cách lố
bịch báo động khắp vùng nông thôn" (1). Quân đội
việt Nam Cộng hoà thường ném bom tàn phá những khu vực
rộng rồi đổ quân với quy mô lớn mà chẳng mấy kết
quả, để rồi khi họ rút đi, Việt cộng lại tái chiếm.
Hơn nữa, lực lượng quân giải phóng đã thích nghi mau
chóng với trực thăng. Đôi khi họ đứng thẳng lên mà
bắn, họ biết cách dùng vũ khí hạng nhẹ để bắn hạ
lũ máy bay chậm chạp, vụng về. Trong nhiều tình huống
khác, họ nằm im trong hầm cho đến khi lũ trực thăng bay
đi rồi phục kích quân đổ bộ.
Vào cuối năm
1962, Việt cộng đã giành lại thế chủ động. Trong khi
quân đội Việt Nam Cộng hoà và cố vấn Mỹ đuổi theo
quân chủ lực của Việt cộng thì mặt trận lại được
mở tập trung ở các làng xã. Nhờ khéo léo kết hợp
công tác tổ chức với công tác tuyên truyền vận động,
song song với sử dụng lực lượng có chọn lọc đạt
hiệu quả cao, Việt cộng đã thành công trong việc huy
động quần chúng. Vào cuối năm 1962, họ đã thu hút được
khoảng 300.000 quân và khoảng hơn 1 triệu dân đi theo. Ở
một số nơi, thậm chí Việt cộng còn thực hiện các
chương trình cải cách ruộng đất. Về mặt quân sự,
các đơn vị quân giải phóng ngày càng táo bạo và bắt
đầu gây tổn thất lớn cho các lực lượng Việt Nam
----------------------
(1) Tregaskis, Hồi ký Việt Nam,
tr.155; Malcolm W.Browne, Diện mạo mới của cuộc chiến
(Indianapolis, 1968), tr.76.
-----------------------
cộng
hoà. Khi việc tác chiến trở nên dễ bị thất bại hơn,
các chỉ huy quân đội Việt Nam Cộng hoà, có lẽ là theo
lệnh Diệm, đã trở lại với kiểu tác chiến thận
trọng ngày xưa, ngày càng dựa dẫm vào không lực và
không chịu liều ném quân vào trận đánh. Sự chuyển đổi
ưu thế trong cuộc chiến đã bộc lộ rõ rệt từ tháng
1-1963, khi một lực lượng Việt Nam Cộng hoà chiếm ưu
thế về số lượng và hoả lực rơi vào ổ phục kích
của quân giải phóng ở ấp Bắc, chịu thiệt hại 5 trực
thăng và thương vong nặng.
Tác động chính trị của những
thủ đoạn được vận dụng trong tác chiến ngày càng
làm phiền lòng một số người Mỹ trên chiến trường
Nam Việt Nam và các quan chức dân sự tại Washington. Thật
khó phân biệt Việt cộng với người dân vô tội và
lính Việt Nam Cộng hoà với tinh thần kém cỏi cũng chẳng
cần phân biệt cẩn thận trước khi bắn giết.
Thế
là dân thường, thậm chí là phụ nữ và trẻ em cũng bị
hạ sát khiến cho Việt cộng có thêm vũ khí tuyên truyền
đầy sức nặng. Những làng xóm bị nghi là chứa chấp
Việt cộng bị ném bom tàn phá, bị bom napan cùng với hoá
chất làm trụi cây cỏ đã tăng lòng căm thù của nhân
dân với chính quyền Nam Việt Nam. Các nhà phê bình cho
rằng những hoạt động nói trên gây hại nhiều hơn là
lợi. Dù vậy, các quan chức quân sự Mỹ và Việt Nam vẫn
khăng khăng cho rằng rất cần có không quân yểm trợ cho
tác chiến trên bộ, rồi Diệm và tướng Harkins mạnh mẽ
thúc đẩy việc dùng bom napan. Harkins nói: "Nó thực
sự làm cho Việt cộng kinh sợ và đó chính là yếu tố
mang lại hiệu quả" (1).
-----------------------------
(1) Trích trong Hilsman, Chuyển hoá một dân tộc,
tr.442.
-----------------------
"Chương trình ấp
chiến lược" được quảng cáo rùm beng cũng chỉ đem
lại kết quả không đáng kể. Frances Fitz Gerald nhận xét:
"Chương trình này là một nghiên cứu về phép loại
suy không đúng chỗ" (1). Một kế hoạch tương tự đã
được thực hiện thắng lợi tại Malaysia, nơi mà những
làng mạc Malaysia được củng cố để chống lại các
cuộc nổi dậy, nhưng các ấp chiến lược ở Việt Nam
bị dựng lên để chống lại chính người dân, những
người đã sống ở các làng mạc với nhiều thế hệ.
Ngoài ra và việc cấp trên 7 triệu thẻ căn cước đã tỏ
ra là một biện pháp bảo vệ chưa đủ thích đáng để
chống thâm nhập. Về mặt lý thuyết, chương trình này
nhằm tránh việc di dân ồ ạt khỏi những nơi quê cha
đất tổ thiêng liêng, một điểm yếu của chương trình
"Dinh điền" bạc phận trước đây. Nhưng ở vùng
đồng bằng, nơi dân cư sống rải rác, thì không thể
lập ấp mà không gây nên cảnh di dân. Hành động "nhổ
rễ" nông dân quy mô lớn như vậy đã càng làm tăng
thêm làn sóng phản đối vốn đã tràn lan trong nông thôn
từ khi Diệm lên cầm quyền.
Hơn nữa, chính chương
trình này còn được thực hiện một cách tồi tệ. Cuối
năm 1962, chính quyền Diệm đã lập được 3.500 ấp,
ngoài ra còn trên 2.000 ấp nữa đang xây dựng. Tuy nhiên,
trong nhiều trường hợp, Diệm và Nhu đã đi quá nhanh vì
lập ấp ở những vùng chưa được bảo đảm an ninh và
dễ dàng bị Việt cộng chiếm hoặc thâm nhập những khu
dân cư đó. Rất nhiều ấp không có phòng bị thích đáng.
Trong chuyến thăm Việt Nam năm 1963,
------------------------
(1) Frances Fitzgerald. Lửa trong lòng hồ: Người Việt
Nam và người Mỹ ở Việt Nam, Boston, năm 1972,
tr.123.
------------------
Hilsman phát hiện thấy nhiều ấp
trải ra trên những vùng rộng lớn đến mức phải cần
tới một sư đoàn để phòng thủ.
Ông ta nhớ lại:
"Những lực lượng phòng thủ chỉ là một số người
già cả, với trang bị như kiếm, súng kíp và khoảng nửa
tá súng cabin Mỹ" (1).
Hơn nữa, dưới ách cai
trị của Diệm và Nhu, chương trình này không ràng buộc
được dân với chính quyền. Cải cách điền địa không
được đưa vào kế hoạch này và nhiều nông dân không
có một mảnh đất cắm dùi. Mỹ đã chi rất nhiều tiền
để tổ chức các dịch vụ tại các ấp chiến lược,
nhưng do bất lực hoặc tham nhũng, phần lớn số tiền
này không đến đúng địa chỉ. Chính quyền Việt Nam
Cộng Hoà thiếu những người có năng lực để làm việc
theo chương trình và nhiều quan chức bất tài và tham
nhũng lại đại diện cho chương trình ở cấp xã. Trong
mọi tình huống, Diệm và Nhu coi chương trình này chủ
yếu là biện pháp để mở rộng kiểm soát đối với
vùng nông thôn và không chỉ có vậy, những thủ đoạn
xấu xa của bọn cấp dưới của anh em nhà Diệm chỉ
càng làm cho người dân trở nên xa lánh.
"Chương
trình ấp chiến lược" không hoàn thành mục tiêu
giành chiến thắng trong cuộc chiến ngay tại vùng nông
thôn. Là biện pháp "bảo vệ" người dân khỏi
bị Việt Cộng trực tiếp tấn công, chương trình này
mới chỉ đạt mục tiêu trước mắt, nhưng đối với
người Thượng ở Tây Nguyên, nơi mà Mỹ đóng vai trò
chủ yếu trong công tác bình định, kết quả của chương
trình tại đây có khả quan hơn. Tuy vậy, vào đầu năm
1963, ngay cả đối với những người ủng
-----------------------
(1) Hilsman, Chuyển hoá một dân
lộc, tr.456.
------------------------
hộ nhiệt tình
nhất cho chương trình này cũng thấy rõ nó có những
khiếm khuyết cơ bản mà nếu không sửa chữa ngay thì sẽ
gây nên nhiều vấn đề nghiêm trọng. Ngoài ra, Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam đã thực hiện một chiến
dịch có hệ thống, có hiệu quả, đánh vào một số ấp
chiến lược then chốt, và xây dựng những đơn vị đặc
công để tiêu diệt các ấp đó bằng cách tấn công trực
diện hoặc thâm nhập (1).
Một số cố vấn của
Kennedy nhấn mạnh, một chương trình "chống nổi dậy"
hữu hiệu đòi hỏi phải có nhiều cải cách chính trị
sâu rộng, nhưng Diệm kiên quyết chống lại lời khuyên
đó. Để xoa dịu "đối tác" Mỹ, Diệm thực
hiện một vài cải cách tượng trưng, như thành lập hội
đồng cố vấn kinh tế. Thay vì mở rộng chính phủ như
thúc giục của Mỹ, Diệm ngày càng co mình vào thế biệt
lập, gần như dựa hoàn toàn vào Nhu, một kẻ nham hiểm,
đa nghi, hoang tưởng và tự đại. Diệm và Nhu thân chinh
chỉ đạo các trận đánh trên chiến trường và chỉ huy
"chương trình ấp chiến lược", và họ không cho
phép cố vấn Mỹ can thiệp. Vợ Nhu, một phụ nữ xinh
đẹp, có tham vọng, ăn nói chua ngoa, được gọi là "Long
nữ chủ nhân" (một nhân vật hoạt hình quen thuộc)
từ năm 1962 ngày càng đóng vai trò người phát ngôn cho
chế độ gia đình trị này.
---------------------------------
(1) William J. Duiker, Con đường Cộng sản giành quyền
lực tại Việt Nam, Boulder, Colo., năm 1981, tr.214. "Đánh
giá không chính thức lần 2 về hiện trạng của chương
trình ấp chiến lược", ngày 1-9-1963. Văn kiện
Kennedy, hồ sơ An ninh quốc gia, hộp 2-2. Về những tranh
cãi xung quanh chương trình này, xem Douglas S. Blaufarb, Kỷ
nguyên chống nổi dậy: Học thuyết và hành động của
Mỹ, New York, năm 1977,
tr.89-127.
----------------------------------------
Anh em nhà họ Ngô đa nghi và cô
lập đã thắt chặt chứ không nới lỏng quyền kiểm
soát. Quốc hội ngoan ngoãn thông qua các luật cấm dân
chúng tụ tập dưới mọi hình thức như đám cưới, đám
tang, nếu chưa được phép của chính quyền. Diệm áp đặt
chế độ kiểm duyệt gắt gao các loại ấn phẩm đối
với người Việt Nam cũng như người Mỹ.
Ông ta
tức giận cắt hợp đồng với phái đoàn cố vấn trường
đại học Michigan khi một số thành viên của phái đoàn
này sau khi phục vụ ở Việt Nam trở về đã viết những
bài báo mà ông ta quy cho là "không đúng, không công
bằng và có dụng ý xấu" (1). Nhà báo kỳ cựu
Francois Sully của tờ New sweek cũng đã bị trục xuất
khỏi Sài Gòn vì những nhận xét mang tính phê phán đối
với bà Nhu.
Trong suốt cả năm 1962, vấn đề trở
ngại của Việt Nam là về mặt thực thi chứ không phải
mặt chính sách. Do quá bận bịu với nhiều vấn đề bức
xúc hơn như sự tăng cường thực lực quân sự của Liên
Xô tại Cuba nên các quan chức cao cấp Mỹ ít chú ý hơn
đến Việt Nam. Với những khó khăn khi quyết định chính
sách năm 1961, họ bằng lòng trao việc thực thi chính sách
cho những người trên chiến trường và không quan tâm tới
bất kỳ một thay đổi quan trọng nào trong cách xử lý
vấn đề. Kennedy bác bỏ đề nghị của Rostow về việc
gây áp lực với Liên Xô buộc Bắc Việt Nam ngừng đưa
quân và hàng tiếp viện vào miền Nam.
ông ta cũng
phớt lờ những lời cảnh báo của Galbrainth rằng Mỹ
đang sa vào "một cuộc dính líu lâu dài không có
---------------------------------
(1) Wesley Fishel gửi
John Hannah, ngày 17-2-1962, Văn kiện Kennedy, hồ sơ An ninh
Quốc gia, hộp 196.
---------------------------------------
kết quả" và có thể sẽ "kiệt sức như
người Pháp", đồng thời bỏ qua đề nghị của
Bowles "đánh giá lại nghiêm khắc" chính sách Việt
Nam của Mỹ (1).
Đến cuối năm 1962, đại sứ quán
và Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn tỏ ra quá lạc
quan về bước tiến bộ của "chương trình chống nổi
dậy". Nhưng niềm tin của họ rõ ràng đã đặt nhầm
chỗ, và cùng với thời gian, họ trở thành một lũ xuẩn
ngốc và giả dối. Những khiếm khuyết của chương trình
này ngày càng lộ rõ. Vì là những kẻ xa lạ ở Việt
Nam, những người Mỹ chỉ biết dựa vào chính quyền Nam
Việt Nam để nắm bắt thông tin, mà chính phủ này lại
rất thành thạo trong việc tạo ra những số liệu thống
kê đầy ấn tượng về một chương trình tiến triển
tốt. Nolting và Harkins rất sai lầm khi chỉ thuần tuý
nhìn vào giá trị bề ngoài của những con số, tuy nhiên
nếu căn cứ vào những cuộc xung đột thì cũng chẳng
phải là những điều dễ phân tích, họ cũng như nhiều
nhà quan sát khác rất ấn tượng trước sự thay đổi
tình hình từ năm 1961, khi mà chính quyền Diệm bên bờ
vực sụp đổ. Những người này cho rằng chính sách của
Mỹ đang phát huy hiệu lực và nếu có thời gian và lòng
kiên trì có thể giành thắng lợi.
Cuối năm 1962,
đội ngũ nhà báo Mỹ tại Sài Gòn bắt đầu thách thức
tâm trạng lạc quan của các giới chức. Các nhà báo như
David Halberstam của tờ Thời báo New York và Neil
Sheehan của tờ United Press International tuy không thắc mắc
về tầm quan trọng của việc kiềm chế chủ
------------------------------
(1) Galbraith gửi Kennedy,
ngày 4-4-1962, Văn kiện Kennedy, hồ sơ An ninh quốc gia, hộp
196.
------------------------------
nghĩa cộng sản tại
Việt Nam, nhưng đã nêu lên những lý lẽ gay gắt cho rằng
cuộc chiến tranh đang thất bại. Họ lên án chính quyền
Diệm là tham nhũng, hà khắc và mất lòng dân và chương
trình ấp chiến lược là một trò lừa bịp. Các nhà báo
chất vấn những báo cáo chính thức nói về tiến bộ
quân sự, chứng minh các con số do chính quyền Diệm cung
cấp đã được thổi phồng và quân đội Việt Nam Cộng
hoà tiến hành "tác chiến theo giờ hành chính",
tức là tác chiến qua loa vào ban ngày rồi đến tối lại
quay về căn cứ. Trút lên đầu Diệm hầu hết các sai
lầm, họ cho rằng không thể giành được thắng lợi
trong cuộc chiến tranh này chừng nào mà Mỹ còn cố theo
đuổi chính sách "chết chìm hay bơi cùng Ngô Đình
Diệm". Phản ứng giận dữ và thế thủ của toà đại
sứ và Bộ chỉ huy quân sự Mỹ tại Sài Gòn ("Bọn
này ăn ý đấy?" một quan chức quân sự cấp cao quát
nạt một nhà báo bất đồng quan điểm) chỉ làm cho các
nhà báo nổi khùng và đưa ra những lời buộc tội chính
phủ cố tình lừa nhân dân Mỹ (1).
Nhiều nhà quan
sát khác thậm chí còn đưa ra những vấn đề gai góc
hơn. Tháng 12-1962, Mike Mansfield, là bạn cũ và trước đây
cùng trong Thượng viện Mỹ với Kennedy, đã sang Việt Nam
theo đề nghị của tổng thống Mỹ và trở về cùng với
ý kiến đánh giá vô cùng bi quan.
Trong một tuyên bố
chính thức, Mansfield nhận xét tình hình không mấy tiến
bộ so với lần ông ta thăm Việt Nam
------------------------------
(1) Thái độ của các nhà
báo bất đồng quan điểm và trải nghiệm của họ được
trình bày chi tiết trong cuốn sách David Halberstam, Sự tạo
dựng một bãi lầy, New York, năm
1964.
--------------------------------
năm 1955, và trong một báo cáo
gửi riêng lên tổng thống Kennedy, ông còn dùng lời lẽ
mạnh hơn, trong đó so sánh vai trò của Mỹ với vai trò
của Pháp trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ
nhất. Mansfield cảnh báo rằng, Mỹ có thể bị cuốn vào
một cuộc xung đột quy mô lớn và vô nghĩa. Sau này
Mansfield nhớ lại là đã mô tả cho tổng thống một bức
tranh chẳng thú vị chút nào (1).
Những ý kiến phê
phán về chính sách của Mỹ ở Việt Nam đã làm nảy
sinh mối lo ngại sâu sắc ở Washington.
Trước đó,
chính quyền Mỹ cố tình che đậy sự dính líu của mình
vào Việt Nam, nhưng số binh lính Mỹ tử trận tăng lên
và những phê phán của giới báo chí đã đặt ra nhiều
vấn đề phiền phức. Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao
Mỹ bỏ nhiều thời giờ nghiên cứu tin tức của các nhà
báo và trả lời những cáo buộc của họ, và đích thân
Kennedy đã tìm cách buộc Thời báo Nên York triệu hồi
nhà báo Halbersatm nhưng sự việc này đã bất thành. Rất
nhạy cảm trước các ý kiến phê phán, tổng thống
Kennedy vô cùng tức giận khi đọc báo cáo của Mansfield.
Tuy vậy, ông ta cũng không thể bỏ qua lời báo nguy của
một người bạn cũ còn rất cao giá. Vì vậy, ngay lập
tức Kennedy cử Hilsman và Michael Forrestal, một quan chức
của nhà Trắng, sang Việt Nam tìm hiểu thực tế.
Được
đệ trình lên tổng thống đầu năm 1963, báo cáo của
Hilsman và Forrestal thể hiện thái độ trung dung, không phê
phán gay gắt như các nhà báo, cũng không lạc quan tô hồng
như đại sứ quán. Hai vị này tỏ ra rất phân vân
--------------------------
(1) Phỏng vấn Mike Mansfield,
Văn kiện Kennedy.
-----------------------------
về hiệu
quả của hoạt động quân sự của quân đội Việt Nam
Cộng hoà, đồng thời cũng thấy được những khiếm
khuyết trong việc thực hiện "chương trình ấp chiến
lược" và cho biết Diệm ngày càng bị cô lập trước
dân chúng. Họ kết luận rằng Mỹ và Nam Việt Nam "có
thể thắng" nhưng cuộc chiến tranh sẽ phải "kéo
dài hơn và tốn kém hơn về sinh mạng và tiền của hơn
so với dự kiến" (1). Dù đánh giá tình hình nhìn
chung là bi quan, nhưng Hilsman và Forrestal cũng đưa ra những
kết luận lạc quan và thấy chính sách của Mỹ là đúng
về mặt nhận thức và chỉ khuyến nghị một số thay
đổi sách lược để bảo đảm việc thực hiện có hiệu
quả hơn. Báo cáo của họ cũng làm tăng thêm sự nghi ngờ
những dự đoán chính thức về bước tiến của cuộc
chiến, nhưng nó vẫn làm cho người ta hy vọng rằng Mỹ
có thể đạt được những gì họ định làm ở Việt
Nam.
Suốt mùa xuân năm 1963, lạc quan và lo lắng là
hai tâm trạng cùng tồn tại cả ở Sài Gòn và Washington.
Toà đại sứ Mỹ và Bộ chỉ huy quân sự Mỹ thì giữ
thái độ lạc quan, thậm chí tướng Harkins còn thông báo
trước một cuộc họp các quan chức cấp cao ở Honolulu
vào tháng 4 rằng chiến tranh sẽ kết thúc trước lễ
Giáng sinh tới. Nhưng các bản phân tích tình báo thì thận
trọng hơn nhiều, trong đó có kèm theo lời cảnh báo tình
hình quân sự vẫn mong manh và không lường trước được.
Tại nhà Trắng, trong các cấp hành chính thấp hơn trong
bộ máy chính quyền Mỹ và trong số những người Mỹ ở
Việt Nam, có một tâm trạng lo
----------------------------------
(1) Trích trong Hilsman,
Chuyển hóa một dân tộc, tr.464.
-----------------------
lắng không biết cuộc chiến tranh thực sự tiến
triển ra sao và nỗi phân vân là Mỹ sẽ đi theo hướng
nào nếu cuộc chiến tranh không tiến triển tốt.
Tâm
trạng lo lắng càng tăng thêm khi có nhiều bằng chứng
cho thấy sự căng thẳng đang leo thang trong quan hệ Mỹ -
Nam Việt Nam. Sự căng thẳng này diễn ra ở mọi cấp, do
Mỹ tăng cường lực lượng quân sự ở Việt Nam và do
những quan điểm khác nhau giữa hai dân tộc. Với bản
chất nôn nóng và thiếu kiên trì, người Mỹ hăm hở xúc
tiến công việc và thất vọng trước sức ỳ tràn lan
trong chính quyền và quân đội Nam Việt Nam. Như cố vấn
Mỹ thừa nhận, sự tự ái của quan chức và sĩ quan Việt
Nam Cộng hoà thường thể hiện qua thái độ: "Tránh
ra đừng cản trở tôi, để tôi tự làm thì tốt hơn"
(1). Người Việt Nam thực sự giận dữ trước thái độ
tự phụ của người Mỹ lúc này đang tìm cách dạy bảo
họ cách điều hành đất nước.
Vào mùa xuân 1963,
quan hệ tại các cấp chóp bu trong chính quyền Mỹ và
Diệm trở nên vô cùng căng thẳng.
Người Mỹ đòi Diệm có những
cải cách dân chủ để tranh thủ sự ủng hộ của dân
chúng, nhưng Diệm sợ những cải cách như vậy sẽ phá
hoại chứ không củng cố địa vị của ông ta. Kẹt
trong thế bế tắc, Diệm nhận thấy rằng tuy sự hiện
diện của Mỹ giúp chính quyền ông ta chống Việt Cộng,
nhưng cũng đem lại một nhân tố mới vào tình hình chính
trị vốn đã bất ổn của Nam Việt Nam - một nhân tố
trung tâm, và Diệm ngày càng nhạy cảm trước những ý
----------------------------------
(1) Trích trong Chester
Cooper, Cuộc viễn chinh thát bại: Người Mỹ ở Việt
Nam, New York, năm 1970, tr.207.
-----------------------
kiến
phê phán của người Mỹ. Tháng 5-1963, tâm trạng bất ổn
ngày càng tăng của Nhu đã bộc lộ rõ khi ông ta công
khai chất vấn liệu Mỹ có biết những gì họ đang làm
ở Việt Nam hay không và đồng thời chống đối lại
việc tăng cường thêm cố vấn Mỹ. Đầu mùa hè năm
1963, Diệm và Nhu bắt đầu thăm dò khả năng tiến tới
một giải pháp với Hà Nội, và nếu vậy điều đó sẽ
buộc Mỹ phải rút khỏi Việt Nam (1).
Kennedy dường
như cũng có những suy nghĩ như thế.
Từ năm 1962,
hội đồng tham mưu trưởng liên quân đã bắt đầu vạch
kế hoạch tầm xa về việc xây dựng quân đội để đảm
bảo sự cân đối giữa cam kết của Mỹ ở Việt Nam và
những yêu cầu toàn cầu khác, và năm 1963 đưa ra kế
hoạch đề nghị Mỹ rút cố vấn theo từng giai đoạn
với thời hạn chót vào năm 1965. Kế hoạch này là sự
thể hiện niềm lạc quan của Lầu Năm góc về những
bước tiến trong việc kiềm chế các phong trào nổi dậy.
Nhưng một số cộng sự của Kennedy lại cho rằng, việc
tổng thống phê chuẩn kế hoạch này cho thấy ông ta
quyết tâm tránh một cam kết "vô thời hạn".
Thực vậy, Hilsman và quan chức nhà Trắng Keneth O' Donnell
thừa nhận vào mùa hè năm 1963, Kennedy đã nhận ra rằng
sự dính líu của Mỹ ở Nam Việt Nam là vô nghĩa và sẽ
chuẩn bị chấm dứt sự dính líu đó ngay khi ông ta tái
đắc cử. Theo như đã đưa tin, Kennedy giải thích với
Mansfield: "Nếu như rút khỏi Việt Nam ngay lúc này
chúng ta sẽ có một cuộc náo động đỏ kiểu Joe McCathy
-----------------------
(1) Về những tiếp xúc Nam-Bắc
Việt Nam trong năm 1963, xem King C. Chen, "Ba quyết định
của Hà Nội và sự leo thang của chiến tranh Việt Nam",
tạp chí hàng quý Khoa học chính trị, số hè năm 1975,
tr.
254-255.
---------------------
khác" (1). Mức
độ Kennedy đã cam kết về vấn đề này đến đâu còn
chưa rõ, những kế hoạch rút quân theo từng giai đoạn
này đã phản ánh mối lo ngại ngày càng tăng của ông ta
đề vấn đề Việt Nam và mối quan hệ ngày càng căng
thẳng với Diệm.
Vào lúc mà Kennedy và Diệm suy
tính lại về mối quan hệ hợp tác có tính định mệnh
giữa họ thì xảy ra một sự kiện động trời trong giới
phật tử ở các thành phố lớn của Nam Việt Nam. Sự
kiện này tạo ra một mối đe dọa mới đầy kịch tính
đối với chế độ Diệm, cũng như tạo ra những yếu tố
phức tạp mới cho một chính sách vốn đã lao đao của
Mỹ. Sự việc bắt đầu ngày 8-5 khi quân Việt Nam Cộng
hoà nổ súng vào những đám đông tụ tập ở Huế phản
đối lệnh cấm treo cờ Phật nhân lễ Phật đản. Sự
kiện ngày 8-5 đã khơi dậy một phong trào phản đối mới
mãnh liệt. Các phật tử buộc tội chính quyền Nam Việt
Nam đàn áp tôn giáo và đòi tự do tôn giáo. Không thể
hoặc không muốn hoà giải với đối thủ mới. Diệm
giận dữ phủ nhận việc đàn áp tôn giáo và đổ cho
Việt Cộng gây nên vụ rối loạn. Phản ứng của Diệm
lại gây nên một cuộc phản kháng mới. Các hoà thượng
đã tổ chức rất nhiều cuộc tuyệt thực, nhiều cuộc
tụ tập ở Huế và Sài Gòn đã thu hút rất đông
người.
Phong trào phản đối đạt tới đỉnh điểm
vào ngày 11-6, khi một nhà sư tự thiêu trước đám đông
đang sục sôi ý chí phản kháng tại một ngã tư lớn
ngay trung tâm Sài Gòn. Sự
---------------------------
(1)
Trích trong Keneth P.O' Donnell và David F.PowTer, "Johnny,
chúng tôi khó hiểu lòng anh: Những kỷ niệm về John
Fitzgerald Kennedy, New York, năm 1973,
tr.16.
-----------------------------
kiện trên đã thu hút
sự chú ý của giới báo chí quốc tế, và thế là bức
ảnh chụp một nhà sư chìm trong lửa đã xuất hiện trên
báo chí và màn ảnh nhỏ toàn thế giới.
Sau đó, cuộc phản kháng của
giới phật tử đã phát triển thành một phong trào chính
trị mạnh mẽ đe dọa sự tồn vong của chính quyền
Diệm. Thầm lặng qua nhiều giai đoạn ổn định, giới
phật tử qua suốt chiều dài lịch sử Việt Nam đã giành
lấy vai trò lãnh đạo chính trị và tinh thần trong cuộc
khủng hoảng này. Frances EitzGerald đã viết, "một hoà
thượng tự thiêu là lời hiệu triệu vùng lên, kéo theo
sự hưởng ứng của dân chúng các thành phố Nam Việt
Nam." (1). Sinh viên đại học và học sinh trung học,
trong đó có cả các giáo dân Thiên chúa giáo cũng tham gia
biểu tình, rồi tâm trạng bất mãn lan sang cả quân đội.
Phản ứng của chính quyền Diệm chỉ làm cho phong trào
phản kháng bùng lên thêm mạnh mẽ. Trong khi Diệm không
có ý kiến gì thì bà Nhu lại công khai miệt thị, gọi
cuộc tự thiêu này như một trò "nướng thịt"
và đề nghị cung cấp xăng và diêm để cho tiếp tục tự
thiêu. Vào giữa mùa hè năm 1963, chính quyền Diệm dường
như sắp tan rã.
Cuộc khủng hoảng này đã đem lại
sự lo ngại tột đỉnh cho Washington vốn dĩ đã bất an
về chính sách Việt Nam của mình. Chính quyền Mỹ hoàn
toàn bất ngờ về cuộc đấu tranh, kinh ngạc trước
những phản ứng bùng lên và choáng váng trước vụ tự
thiêu của phật tử. Sợ rằng những phát triển mới của
tình hình đáng ngại này có thể làm tổn thương tới sự
ủng hộ của Mỹ cho cuộc chiến tranh và gây
---------------------------
(1) FitzGerald, Lửa trong lòng
hồ, tr.134.
--------------------
nguy hiểm thêm cho
chương trình chống nổi dậy vốn đã bị ngờ là thất
bại, chính quyền Mỹ tích cực hoà giải hai bên bằng
cách cử nhiều phái viên đến gặp các nhà lãnh đạo
Phật giáo và ép Diệm có những biện pháp hoà giải.
Thực ra thì Diệm cũng chỉ có những nhượng bộ tượng
trưng. Các cuộc biểu tình và tự thiêu vẫn liếp tục
diễn ra; cả thảy đã có 7 nhà sư chết vì tự thiêu.
Trong lúc báo chí Sài Gòn do bà Nhu và chính quyền kiểm
duyệt cho xuất bản nhiều bài báo chỉ trích gay gắt các
phật tử và Mỹ thì cảnh sát của Nhu lại bắt hàng
trăm người phản đối vào các nhà tù vốn đã chật
cứng người.
Vào cuối mùa hè năm đó, chính quyền
Kennedy ngày càng gặp nhiều khó khăn và bị chia rẽ sâu
sắc. Một cố vấn của Kennedy sau này thừa nhận, việc
các phật tử nghĩ gì vẫn là điều chưa biết, nhưng
phần lớn người Mỹ đều cho rằng phản ứng của Diệm
quả là khiêu khích (1). Lúc ấy, người ta sợ rằng không
tìm được con bài thay thế Diệm và một sự thay đổi
chính quyền có thể làm cho Nam Việt Nam rối loạn hơn.
Một số quan chức chính quyền Mỹ vẫn tin vào Diệm và
đổ hết tội lỗi lên đầu vợ chồng Nhu, rồi nêu rõ
nếu hai nhân vật này ra đi thì vẫn có thể cứu vãn
được tình hình. Nhưng một số người khác bắt đầu
coi cuộc khủng hoảng Phật giáo này đã cho thấy những
điểm yếu tiêu biểu, cơ bản và không thể khắc phục
được của chế độ này, và kết luận rằng Mỹ phải
đón nhận khả năng thay người.
Sự cố vào cuối
tháng 8 lại đem lại một cơ hội cho một
------------------------------
(1) Cooper, Cuộc viễn
chinh thất bại, tr.210.
---------------------
số nhân
vật chống Diệm ở Washington. Nhiệm kỳ đại sứ của
Nolling chấm dứt vào mùa hè năm 1963, và khi viên đại sứ
Mỹ đến chào từ biệt, Diệm đã cam đoan với Nolting
rằng, sẽ không có thêm bất kỳ một hành động đàn áp
nào đối với các Phật tử nữa. Nhưng đến này 21-8,
lực lượng đặc biệt của Nhu do Mỹ đào tạo đã lại
thực hiện những trận đàn áp ồ ạt ở Huế, Sài Gòn
và các thành phố lớn khác, lục soát chùa chiền, bắt
trên 1.400 Phật tử. Diệm có phê chuẩn cho các cuộc đàn
áp này hay không cho đến nay vẫn chưa rõ ràng nhưng theo
nhiều người Mỹ thì việc sau đó Diệm phủ nhận mọi
hành động của Nhu khiến cho ông ta phải gánh toàn bộ
trách nhiệm. Phái chống Diệm coi hành động đàn áp mới
nhất này chỉ xảy ra vài ngày sau khi Diệm hứa hẹn với
Nolting là một sự "lăng mạ có chủ ý" và cần
phải kiên quyết trả đũa. Sau này, Roger Hilsman nhớ lại:
"Chúng tôi không thể ngồi yên và làm bù nhìn cho
chính sách chống Phật giáo của Diệm" (1).
Chỉ
vài ngày sau trận đàn áp nhắm vào chùa chiền, một nhóm
tướng lĩnh Nam Việt Nam bí mật liên lạc với Mỹ.
Họ
báo động rằng sự cố mới đây nhất cho thấy rõ Nhu
sẽ không từ thủ đoạn nào. Báo cáo về những bằng
chứng này cho thấy ông ta không chỉ đang chuẩn bị thực
hiện mà còn đang đàm phán với Hà Nội về một giải
pháp bán rẻ nền độc lập của Nam Việt Nam, các tướng
lĩnh Mỹ đã thẩm tra nguồn tin này. Nhóm chống Diệm ở
Washington kinh
---------------------------
(1) Hilsman,
Chuyển hóa một dân tộc", tr.482; phỏng vấn Hilsman.
Văn kiện Kennedy, Geoffrey Warner. " Mỹ và sự sụp đổ
của Diệm", Phần I: "Hành động phi thường chưa
từng xảy ra", Autralian Oullook, số 28, tháng 12-1974,
tr.245-258.
--------------------
hoàng khi nghe tin Nhu đang
có những cuộc thương lượng với Hà Nội, và do vậy họ
càng thêm tin rằng phải có hành động gì đó. Nhưng có
lẽ điều quan trọng hơn từ những yêu cầu của các
tướng lĩnh người ta thấy rằng cuối cùng đã có thể
tìm được người thay Diệm.
Đề nghị của các tướng lĩnh
nói trên đã đến Washington vào ngày thứ bảy khi mà
nhiều quan chức cấp cao đã rời khỏi thành phố, và
Hilsman, Forrester và Harriman đã chớp lấy cơ hội để làm
cái mà sau này Taylor mô tả là "bước ngoại lệ cuối
cùng" (1). Họ chuẩn bị một bức điện lời lẽ
cứng rắn, tuy có phần mập mờ, chỉ thị cho đại sứ
mới bổ nhiệm Henry Cabot Lodge tạo cho Diệm một cơ hội
phế bỏ Nhu, nhưng cũng nói thêm rằng nếu Diệm từ
chối, Mỹ phải "đón lấy khả năng là không thể
giữ được ngay cả Diệm nữa". Họ cũng chỉ thị
cho Lodge phải nêu rõ với các tướng lĩnh rằng. Mỹ sẽ
không tiếp tục ủng hộ Diệm nếu Diệm không hợp tác
và Mỹ sẽ bảo đảm "chi hiện trực tiếp cho họ
trong giai đoạn tạm thời khi chính quyền trung ương tan
rã" (2).
Những lời lẽ cuối cùng này cố ý để
mập mờ những gì Mỹ có thể làm và làm trong những
tình huống nào, những tín hiệu nhắn gửi thật rõ ràng:
Nếu Diệm cứ ngoan cố thì Mỹ sẵn sàng vứt bỏ hắn.
Bức điện được gửi đến Kennedy thông qua vì lúc đó
ông ta đang đi nghỉ ở Cape Cod, và sự phê chuẩn của
tổng thống đã
----------------------------------
(1)
Taylor, Thanh gươm và lưỡi cày, tr.292.
(2) Điện tín,
ngày 24-8-1963, Quốc hội Mỹ, Thượng viện, ủy ban Quân
dịch, Quan hệ Mỹ-Việt, 1945-1967: Một nghiên cứu của
Bộ Quốc phòng, Washinglon, D.C., năm 1971, quyển 12,
tr.536-537.
--------------------------
được dùng để
tranh thủ sự đồng tình của các quan chức có trách
nhiệm trong Bộ Quốc phòng.
Lodge không bỏ phí thời
gian trong việc thực thi các chỉ thị này. Vị đại sứ
này cùng chia sẻ nỗi căm phẫn của Hilsman đối với sự
cố 21-8. Sau này, ông ta kể lại, lúc ấy ông ta nghĩ là
cuộc bố ráp chùa chiền chắc chắn "đánh dấu bước
đâu đi đến kết thúc chế độ Diệm" (1). Sau cuộc
gặp gỡ Diệm lần đầu, niềm tin của ông ta càng được
củng cố. Khi Lodge khuyến cáo rằng, cách chính quyền
giải quyết vấn đề phật giáo đã đặt sự ủng hộ
của Mỹ cho Nam Việt Nam vào thế nguy hiểm, thì Diệm đáp
lại bằng bài diễn thuyết dài dòng về những khó khăn
trong việc cai trị một đất nước "thiếu những
người có giáo dục" (2). Sau đó, đại sứ quán Mỹ
lại tiếp xúc với các tướng lĩnh qua một nhân viên
CIA-để khỏi lộ bàn tay Mỹ chính thức nhúng vào-cam
đoan với họ là Mỹ sẽ ủng hộ nếu họ lật đổ
chính quyền Diệm thành công nhưng cũng nói trước rằng
Mỹ sẽ không giúp họ làm đảo chính hoặc "bảo
lãnh cho họ" nếu như họ gặp trục trặc (3).
Vào
lúc mà Kennedy họp với các cố vấn của ông ta vào thứ
hai ngày 26-8, Mỹ đã ngả hẳn về hướng đảo
chính.
Cuộc họp căng thẳng và có những ý kiến
trao đổi gay gắt.
-----------------------------------
(1)
Phỏng vấn Lodge, Văn kiện Kennedy.
(2) Forrestal gửi
Kennedy, ngày 26-8-1963, Văn kiện Kennedy, hồ sơ Công tác,
hộp 128.
(3) Neil Sheehan đã dẫn, Văn kiện Lầu Năm góc
được công bố trên Thời báo New York, New York, năm 1971,
tr.195-196. Được trích dẫn sau đây là Văn kiện Lầu Năm
góc (NYT). Xem hồi ký, "Tiếp xúc với các tướng lĩnh
Việt Nam Cộng hoà", ngày 23-10-1963, Văn kiện Lyndon B.
Johnson, thư viện Lyndon B. Johnson, DSDUF, hộp
2.
--------------------------
Taylor và bộ trưởng quốc
phòng Robert Mc.Namara phản đối việc gửi bức điện chỉ
thị thay đổi cơ bản về chính sách của Mỹ được gửi
cho Lodge sau lưng họ, còn tổng thống Kennedy cũng tỏ ra
không vui, và theo lời của một cố vấn của Kennedy sau
này kể lại, tổng thống Kennedy cảm thấy "như đã
bị dồn vào chân tường và lẽ ra ông muốn trả lời
cho các tướng lĩnh với lời lẽ nước đôi hơn nữa"
(1). Nhưng điều quan trọng là Kennedy không rút khỏi đường
lối đã đề ra trước đó. Trong những bức điện tiếp
theo, ông ta khuyên Lodge tiến hành công việc một cách
thận trọng, nhưng cũng khẳng định lại những chỉ thị
ngày 24-8 và cho ông đại sứ được quyền tự do hành
động rộng rãi một cách khác thường khi thực thi các
chỉ thị đó. Lodge được phép nhắc lại với nhóm tướng
lĩnh những lời cam đoan rằng Mỹ sẽ không hỗ trợ cuộc
đảo chính nhưng sẽ ủng hộ một chính phủ mới có
triển vọng thành công. Hơn nữa, ông tự cho phép mình
thông báo công khai về việc Mỹ giảm viện trợ cho Diệm,
một tín hiệu mà các tướng lĩnh yêu cầu để chứng tỏ
sự ủng hộ của Mỹ.
Trong khi các quan chức Mỹ ở
Washington và Sài Gòn hồi hộp chờ đợi câu trả lời
của các tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hòa thì các kế hoạch
đảo chính đã dần dần lộ rõ.
Những người cầm
đầu âm mưu đảo chính không tranh thủ được sự ủng
hộ của các đơn vị quân đội chủ chốt ở khu vực
Sài Gòn, mặc dù có sự cam đoan của nhân vật CIA trung
gian nhưng họ vẫn không dám chắc về sự ủng hộ của
Mỹ.
Ngày 31-8, họ báo cho Harkins rằng cuộc đảo
chính đã bị
---------------------------
(1) Cooper, Cuộc
viễn chinh thất bại, tr.212.
----------------------
huỷ
bỏ. Lodge thất vọng điện cho Washington rằng "các
tướng lĩnh Việt Nam Cộng hoà không có ý chí và cũng
chẳng có tổ chức để làm bất kỳ điều gì" (1).
Tuy âm mưu đảo chính tháng 8-1963 chẳng đi đến đâu,
nhưng nó đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong
chính sách của Mỹ ở Việt Nam. Nhiều quan chức rất
phân vân không biết có nên đảo chính, có thể đảo
chính hay không và những hậu quả của nó có thể xảy
ra sẽ ra sao, nhưng phái chống Diệm có thể lái chính
quyền Mỹ theo quan điểm của họ.
Bằng việc làm
như vậy, chính quyền đã khuyến khích phái đối lập và
làm cho khó dễ, nếu không nói là không thể, trong việc
hoà giải thực sự với Diệm. Theo lời Lodge thì Mỹ "đã
bị dồn vào thế không thể lùi lại mà không bị mất
uy tín".
Bốn tuần sau đó, chính quyền Kennedy
bàn cãi gay gắt về những lựa chọn mở ra cho họ. Nhu
điều vợ ra nước ngoài, có thể vừa vì sự an toàn cá
nhân, vừa để làm hài lòng Mỹ, nhưng ông ta kiên quyết
không từ chức và chính quyền không thực sự tìm cách
hoà giải mới Phật tử.
Hilsman và một số người
khác tranh luận rằng, không thể ổn định Nam Việt Nam
khi Nhu vẫn còn giữ chức, và báo trước rằng Nhu có thể
đã lao vào một thỏa thuận với Hà Nội mà sau này sẽ
đẩy Mỹ ra khỏi Nam Việt Nam. Họ đi đến kết luận,
chính quyền Mỹ phải gây sức ép mạnh mẽ với Diệm,
kể cả cắt viện trợ buộc Diệm phải phế bỏ Nhu và
thực hiện thay đổi những chính sách cần thiết để
đánh
--------------------------
(1) Trích trong Văn kiện
Lầu Năm góc (Gravel), II, tr.240.
(2) Lodge gửi cho Rusk,
ngày 29-8-1963, đã dẫn, tr.738.
----------------------
bại
Việt Cộng. Những người khác như Nolting thì đề nghị
cố gắng hoà giải lần cuối cùng. Họ lý luận rằng,
thất bại của âm mưu đảo chính tháng 8 cho thất rõ là
không có nhân vật nào có thể thực sự thay Diệm. Tổng
thống Diệm không có ý định phế bỏ Nhu dù cho Mỹ gây
sức ép gay gắt nhất là việc cắt viện trợ chỉ làm
hại đến cuộc chiến chống Việt Cộng, đẩy dân Nam
Việt Nam vào thế đối kháng và càng làm cho chế độ
này mất ổn định. Họ kết luận rằng vẫn còn có cơ
hội thắng trong cuộc chiến tranh nếu Mỹ cải thiện
quan hệ với chính quyền Diệm.
Việc đưa phái đoàn tìm hiểu
thực tế sang Nam Việt Nam chỉ làm tăng thêm tình trạng
bất ổn. Tướng Victor Krulak thuộc bộ Quốc phòng xem nhẹ
khả năng đảo chính và khuyên rằng nếu Mỹ kiên quyết
ủng hộ Diệm thì có thể thắng trong cuộc chiến tranh.
Trái lại, Joseph Mendenhall thuộc Bộ Ngoại giao lại báo
cáo rằng "có sự tan vỡ trong chính quyền Sài Gòn"
và báo động có thể xảy ra chiến tranh tôn giáo giữa
Thiên chúa giáo và Phật giáo, đồng thời kết luận
rằng, không có khả năng đánh bại Việt Cộng trừ phi
"Nhu phải rút hoặc bị gạt ra khỏi chính phủ".
Nhận được những ý kiến như vậy, Kennedy rất bực tức
đặt ra câu hỏi: "Cả hai người đều đã tới cùng
một nước đấy chứ?" (1).
Lúc này chính quyền
Mỹ bất đồng về vấn đề Việt Nam hơn bất kỳ một
vấn đề nào khác. Tình trạng rối ren này đến mức Bộ
trưởng Tư pháp Robert Kennedy phải nêu lên câu hỏi tối
hậu, nêu rõ sự phân vân liệu không biết có chính phủ
Nam Việt Nam nào có thể giành thắng lợi trong
------------------------
(1) Hilsman, Chuyển hóa một dân
tộc, tr.502.
----------------
cuộc chiến tranh này hay không,
và tại sao Mỹ không rút ra khỏi mớ bòng bong đó.
Câu
hỏi của Bộ trưởng Tư pháp xuất hiện vừa đúng lúc
vừa thích hợp. Sự rối loạn ở Nam Việt Nam đã đạt
đến một điểm mà cả hai phái trong chính quyền Mỹ đều
thống nhất, tức là không thể ổn định đất nước
này dù có Diễm hay không có Diễm. Hơn nữa, những diễn
biến mới quan trọng lần đầu tiên đã làm loé lên hy
vọng về một giải pháp qua thương lượng. Sau cuộc
khủng hoảng tên lửa Cuba tháng 10-1962, mối hiềm khích
âm ỉ từ lâu giữa Liên Xô và Trung Quốc bùng lên công
khai, còn Mỹ và Liên Xô đã có những bước đầu tiên
làm giảm căng thẳng của chiến tranh lạnh. Môi trường
quốc tế mới và phức tạp của năm 1963 đã tạo ra cơ
hội thực sự cuối cùng cho giải pháp thương lượng tại
Việt Nam. Đến nay còn rất nhiều điều chưa biết về
cuộc thương lượng Nam- Bắc năm 1963. Tổng thống Pháp
Charles de Gaulle đã chủ động đề nghị Mỹ rút quân,
trung lập hoá Nam Việt Nam và trao đổi kinh tế và văn
hoá giữa hai miền Nam- Bắc trước khi có một giải pháp
chính trị. Khi Diễm và Nhu tỏ vẻ chấp nhận, De Gaulle
đã thông qua một nhà ngoại giao Balan để thăm dò Hà Nội
về triển vọng này.
Mỹ văn chưa biết liệu sáng
kiến của De Gaulle có tạo ra khả năng đi đến giải
pháp hay không. Song do những thù địch giữa Diễm và Hà
Nội trước đây, và những mong muốn trái ngược nhau của
mỗi bên, nên giải pháp này khó thực hiện. Tuy nhiên,
mỗi bên đều có lý do xác đáng để tránh một cuộc
chiến tranh quy mô lớn mà lúc đó rất có khả năng xảy
ra. Kế hoạch của De Gaulle với sự ủng hộ của
các cường quốc lẽ ra đã đưa đến một giải pháp tạm
thời, tạo cho Mỹ một lối thoát đàng hoàng khỏi tình
hình đang nhanh chóng trở nên xấu đi. Một cố vấn của
Kennedy cũng nghĩ đến những phương sách tương tự khi đề
nghị "một cuộc chơi ngoại giao tay ba" đầy sáng
tạo nhưng cũng rất phức tạp, qua đó Mỹ sẽ rút khỏi
Nam Việt Nam để đổi lấy việc Liên Xô rút quân khỏi
Cuba và khuyến khích Pháp phấn đấu cho một nước Việt
Nam không còn chịu ảnh hưởng của nước ngoài, nhờ đó
Mỹ và Nga có thể chấm dứt những cuộc phiêu lưu đầy
nguy hiểm mà vẫn không mất thể diện, và một Liên Xô
hoà giải hơn có thể lâm vào tình trạng nguy khốn trước
một Trung Quốc đang hiếu chiến, và De Galle sẽ "có
được vinh quang về một giải pháp tại Việt Nam giữa
những cái đầu nóng" (1).
Sau này nhìn lại thì
thấy cách giải quết đó là rất hợp lý, nhưng chính
quyền Mỹ đã chẳng suy xét đến nó.
Kennedy ngày
càng thất vọng trước tình hình đang chuyển biến đến
mức không thể kiểm soát nổi, nhưng ông ta chưa sẵn
sàng từ bỏ một chính sách đã được đề ra từ hơn
một thập kỷ nay. Tổng thống và các cố vấn của mình
quá bận tâm với các công việc sự vụ hàng ngày nên
khó nghĩ ra một giải pháp tầm xa. Có lẽ những lời nói
đã cầm tù chính họ, do vậy họ không thể nghiêm túc
tính đến một giải pháp Mỹ rút quân. Một số chuyên
gia Mỹ nghiên cứu Việt Nam cho rằng, rất ít khả năng
hoà giải Nam-Bắc Việt Nam, đơn
---------------------------------
(1). "Quan sát về
Việt Nam và Cuba", Văn kiện Kennedy, hồ sơ công tác,
hộp 128.
---------------------------------
giản là
vì Nhu chỉ gợi lên "bóng ma" đó để tạo điều
kiện cho mình dễ hoạt động hơn trước sức ép của
Mỹ" (1). Một số người đã nghiêm túc xem xét khả
năng này là thấy đó là lý do tốt để thanh toán Nhu và
Diễm. Không hiểu vì sao câu hỏi của Robert Kennedy không
được nêu lên lần nữa. Chính quyền Mỹ đã để mặc
cho tình hình diễn ra, nội bộ mâu thuẫn và không có một
ý tưởng rõ ràng là đang đi về đâu.
Sau hơn một
tháng tranh cãi, vào đầu tháng 10 Kennedy đã chọn một
chính sách ngắn hạn mang tính dung hoà giữa hai cực đoan
mà các cố vấn của ông ta đề xuất. Nhưng do chưa nắm
chắc tình hình đang diễn ra ở Nam Việt Nam nên ông ta cử
Taylor và McNamara đến Sài Gòn để có "sự đánh giá
tại chỗ tốt nhất" tình hình quân sự và chính trị
(2). Có thể trên cơ sở đã bàn bạc với Lodge, hai nhân
vật này đã nhanh chóng gạt bỏ ý tưởng hoà giải với
Diệm và lập luận rằng điều đó chỉ làm cho Diễm có
thể bắt Mỹ làm theo ý kiến của mình. Để đánh giá
các khả năng đảo chính, một cuộc đấu tennis giữa
Taylor và tướng Dương Văn Minh, một trong những lãnh tụ
của âm mưu đảo chính tháng 8 trước đó, đã được bố
trí tại câu lạc bộ sĩ quan Sài Gòn. Sau này Taylor kể
lại "hình như buổi chiều hôm đó Minh chỉ quan tâm
đến tennis" và người Mỹ phỏng đoán rằng các
tướng lĩnh "ít có gan" để cố gắng lần thứ
hai làm đảo chính (3). Vì vậy, Talor và McNamara kết
-------------------------------------------------
(1) Chester
Cooper gửi Giám đốc CIA, ngày 19-9-1963, Văn kiện Kennedy,
hồ sơ An ninh quốc gia, hộp 200.
(2) Kennedy gửi
McNamara, 19-9-1963, Hồ sơ An ninh Quốc gia, hộp 200.
(3)
Taylor, Thanh gươm và lưỡi cày,
tr.297.
-------------------------------------------------
luận rằng, đường hướng thực tế nhất là dùng
"sức ép có lựa chọn" kể cả cắt viện trợ
đối với chế độ này. Cách làm như vậy có thể không
buộc Diễm phải gạt bỏ Nhu nhưng ít nhất có thể
thuyết phục Diễm chấm dứt đàn áp các nhân vật bất
đồng quan điểm chính trị. Nhìn chung là Mỹ lạc quan về
bước tiến của "chương trình chống nổi dậy".
Taylor và McNamara kết luận, nếu
điều khiển được Diệm thì đến năm 1965, lực lượng
nổi dậy có thể bị thu hẹp xuống "ở mức độ
không hơn một băng đảng có tổ chức" (1).
Mặc
dù đánh giá sai tình hình thực tế ở miền Nam Việt
Nam, nhưng báo cáo Taylor-Mc.Namara đã tạo nền tảng cho
chính sách của Mỹ đối với Việt Nam sau đó. Tình hình
tương đối ổn định ở nông thôn Nam Việt Nam cuối năm
1963 có thể là do Hà Nội và lực lượng giải phóng cố
ý làm vậy để khuyến khích thương lượng chứ không
phải là do "chương trình chống nổi dậy"' có
hiệu lực. Taylor và Mc.Namara đã đánh giá thấp triển
vọng của một cuộc đảo chính, đánh giá cao hiệu lực
của việc gây sức ép với Diễm.
Hình như thấy
không có lối thoát nào khác, Kennedy đã phê chuẩn kiến
nghị của họ vào ngày 5-10 và trong vài tuần sau, chính
quyền Mỹ dần thực hiện chính sách "gây sức ép có
lựa chọn". Lodge vẫn tránh xa dinh tổng thống của
Diễm vì cho rằng Diệm phải đến gặp ông ta. Trong lúc
đó chính quyền Mỹ triệu hồi trưởng phân cục CIA tại
Sài Gòn John Richardson, một nhân vật mà nhiều người
Việt Nam và Mỹ cho là bạn thân của Nhu, cắt kinh phí
cho lực
---------------------------
(1) Báo cáo
Taylor-Mc.Namara, ngày 2-10-1963, Văn kiện Lầu Năm góc
(Gravel), quyển II, tr.751-766.
-----------------------------------
lượng đặc biệt của Nhu và đình chỉ các chuyến
tàu chở thuốc lá, gạo, sữa theo chương trình nhập khẩu
hàng hoá.
Sau này rất nhiều cố vấn của Kennedy
phủ nhận về việc những biện pháp này được thực
hiện là nhằm khuyến khích đảo chính, và về nghĩa đen,
họ đã đúng. Báo cáo Mc.Namara-Taylor đã dứt khoát bác
bỏ việc khuyến khích đảo chính, và việc cắt viện
trợ được thực hiện là nhằm gây áp lực với Diễm.
Nhưng chính quyền Mỹ không ngây thơ.
Hilsmam sau này
thừa nhận rằng: "Một số việc chúng tôi làm đã
khuyến khích đảo chính, còn một số việc chúng tôi làm
là để gây sức ép với Diễm dù biết là điều đó sẽ
khuyến khích đảo chính" (1). Kennedy và các cố vấn
của ông ta quả là ngây ngô nếu như họ không nhận ra
rằng việc triệu hồi Richarson, người mà các tướng
lĩnh Việt Nam Cộng hoà trước đó sợ là sẽ để lộ
về cuộc đảo chính tháng 8, và việc cắt lên trợ, một
tín hiệu chứng tỏ sự ủng hộ mà các tướng lĩnh Việt
Nam Cộng hoà đã đề nghị, sẽ ảnh hưởng đến các
đối thủ của Diễm. Bài toán thời gian quả là quan
trọng.
Việc cắt viện trợ được thực hiện sau
khi các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hoà một lần nữa hỏi
xem Mỹ sẽ phản ứng ra sao nếu có một cuộc đảo
chính. Dù có ý đồ gì chăng nữa, những biện pháp thực
hiện trong tháng 10 có thể đã khích lệ các tướng lĩnh
đẩy mạnh việc vạch kế hoạch và tìm kiếm thêm những
lời cam đoan của Mỹ.
Khi biết các tướng lĩnh
Việt Nam Cộng hoà một lần nữa vạch ra kế hoạch đảo
chính, Mỹ cũng không làm gì để can ngăn họ. Lời giải
đáp mập mờ đó đủ để xoa dịu nhưng
------------------------------
(1) Phỏng vấn Hilsman, Văn
kiện Kennedy.
-----------------------------------------------------
người thích đảo chính, nhưng lại không muốn nhận
trách nhiệm trực tiếp và cũng đủ để thỏa mãn nỗi
phân vân của những người vẫn cảnh giác với việc vứt
bỏ Diễm. Nhưng các chỉ thị này đã mang lại những cam
đoan mà các tướng lĩnh cần. Lodge được phép thông báo
cho các vị chủ mưu rằng, tuy Mỹ không khuyến khích đảo
chính" nhưng họ sẽ không ngăn cản việc thay đổi
chính phủ hoặc từ chối viện trợ kinh tế và quân sự
cho một chế độ mới nếu chế độ đó tỏ ra có khả
năng làm tăng hiệu lực của hoạt động quân sự bảo
đảm sự ủng hộ của dân để giành thắng lợi trong
cuộc chiến đồng thời cải thiện mối quan hệ hợp tác
với Mỹ (1).
Chính quyền Mỹ bất đồng sâu sắc
về cách giải quyết vấn đề Việt Nam. Kennedy vẫn giữ
vững chính sách thỏa hiệp của mình. Harriman, Hilsman và
nhiều người khác cảm thấy rằng Diệm cần phải ra đi.
Phó tổng thống Johnson, các quan chức cấp cao CIA và Lầu
Năm góc, và Harkins vẫn khăng khăng cho rằng không có ai
thực sự thay được Diễm và việc phế bỏ Diễm sẽ
làm cho Nam Việt Nam rối loạn. Theo lời Harkins, họ cũng
cảm thấy rằng sau 10 năm ủng hộ Diễm, quả là "không
thích hợp nếu hạ bệ và thanh toán ông ta" (2). Bản
thân Kennedy cũng do dự, thực hiện một chính sách không
công khai ủng hộ nhưng cũng không ngăn cản đảo chính.
Nhưng trong trường hợp
------------------------------
(1)
CIA gửi Lodge, ngày 6-10-1963, Văn kiện Lầu Năm góc
(Gravel), quyển II, tr.769. Xem Geoffrey Warner, "Mỹ và sự
sụp đổ của Diễm", Phần II: "Cái chết của
Diễm". Autraliall Outlook, số 29, tháng 3-1975,
tr.3-17.
(2) Trích trong Văn kiện Lầu Năm góc (Gravel),
quyển II,
tr.785.
------------------------------------------------------
này, không quyết định chính có nghĩa là đã quyết
định, và bằng việc trao mọi việc cho Lodge, một con
người ai cũng biết có quan điểm ra sao, tổng thống Mỹ
thực ra đã biết kết quả rồi sẽ thế nào. Những ngày
cuối tháng 10 năm đó thực sự là những ngày tràn ngập
lo âu đối với Kennedy và các cố vấn của ông ta bởi
họ thực sự lo ngại nếu như cuộc đảo chính này thất
bại, nó sẽ khiến cho Mỹ lâm vào tình thế khó xử và
không thể biện bạch được. Vậy mà vào lúc đó, tổng
thống Mỹ vẫn bằng lòng để Lodge tự phán xét lần
cuối cùng về khả năng thành công và tự quyết định
xem nên huỷ bỏ hay trì hoãn cuộc đảo chính.
Trong tuần cuối cùng của tháng
10, Sài Gòn căng thẳng đến nghẹt thở với những lời
đồn đại khi những diễn viên chính đang trình diễn màn
kịch đầy rối rắm và bi thảm của họ. Quyết tâm
tránh những sai lầm của năm 1960 và của tháng 8-1963, các
tướng lĩnh Việt Nam Cộng hoà bố trí lực lượng cẩn
trọng tới từng chi tiết nhỏ. Trong khi đó, Nhu đã vạch
ra kế hoạch chi tiết để giữ chiếc ghế quyền lực
cho cả hai anh em bằng cách tiến hành đảo chính giả và
dùng nó làm cớ để thanh toán những đối thủ tình
nghi. Tình hình càng thêm phức tạp vào những giờ chót
trước đảo chính vì Diễm bỗng nhiên tỏ thái độ hoà
giải với Mỹ và trong cuộc gặp gỡ cuối cùng với
Lodge ông ta đã hỏi Mỹ muốn gì ở ông ta. Liệu ông ta
chỉ đơn thuần tìm cách kéo dài thời gian, hay đã đi
đến kết luận rằng phải đặt số phận mình vào tay
Mỹ là điều cho đến nay vẫn chưa sáng tỏ. Dù thế
nào, sự nhượng bộ bề ngoài đó của Diễm vẫn tới
quá muộn.
Trong khi Diễm trao đổi với Lodge vào đầu
giờ chiều ngày 1-11, các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hoà
đã chiếm được các vị trí quân sự và các hệ thống
thông tin ở Sài Gòn, thu phục được lực lượng đặc
biệt của Nhu, đòi Diễm và Nhu từ chức. Ngoan cố chống
đỡ đến cùng, anh em Diễm Nhu yêu cầu các tướng lĩnh
đến dinh tổng thống để thương thuyết, một thủ đoạn
đã diễn ra thành công vào năm 1960. Diễm còn gọi điện
thoại cho Lodge để xác định thái độ chính thức của
Mỹ đối với cuộc đảo chính. Chẳng tìm được sự
ủng hộ nào, họ thoát ra nhà thờ ở một quận Hoa kiều
bằng đường hầm bí mật, nơi họ đã thường tới để
xưng tội và được rửa tội. Sau đó anh em đã bị bắt
và bất chấp lời hứa bảo đảm an toàn cho họ, anh em
Diễm đã bị lực lượng đảo chính hạ sát tàn bạo
trên ghế sau của một chiếc xe bọc thép.
Trong suốt
cuộc đảo chính, Mỹ đã thực hiện lời hứa của mình
chính xác đến từng chữ một là "không cản trở
việc thay đổi chính quyền". Các quan chức Mỹ sau
này ngoan cố nói rằng họ chẳng biết gì về thời gian
hoặc kế hoạch đảo chính cụ thể. Thực ra, đặc vụ
CIA Lucien Conien đã duy trì quan hệ chặt chẽ với các
tướng Việt Nam Cộng hoà trong giai đoạn vạch kế hoạch
qua các cuộc họp bí mật tại một phòng khám nha khoa và
đã giữ liên lạc bằng điện thoại với họ khi cuộc
đảo chính diễn ra.
Mỹ thậm chí còn từ chối can
thiệp để bảo đảm an toàn cho Diễm và Nhu. Nhưng
Kennedy quả có cử một người bạn cũ đi thuyết phục
Diễm loại trừ Nhu và xin tìm nơi ẩn náu ở đại sứ
quán Mỹ nhưng Diễm đã từ chối do vậy chính quyền Mỹ
gần như đã bỏ rơi ông ta. Lodge tỏ ra thiếu trung thực
trong cuộc điện đàm với Diễm khi vờ không biết thái
độ của Washington. Trong lần điện đàm thống thiết lần
cuối cùng với Diễm, Lodge nhận giúp đỡ, nhưng sau đó
ông ta đi ngủ, mặc cho các lực lượng đảo chính giải
quyết công việc. Có thể ông ta đã chấp nhận lời hứa
ngoài miệng của các tướng lĩnh Việt Nam Cộng hoà xin
tha mạng cho Diễm, Nhu hoặc sợ rằng mọi hành động
thay mặt cho anh em họ Ngô sẽ được hiểu là vi phạm
cam kết trước đây là Mỹ sẽ không can dự.
Tin về
cuộc đảo chính là cái chết của anh em họ Ngô gây phản
ứng rất khác biệt. ở Sài Gòn, những đám đông hoan hỉ
đập vỡ bức tượng Diễm và nhảy múa trên đường
phố. Theo một thành ngữ cổ của người Việt Nam thì
khổ nạn trời giáng đã qua. Tại Washington, một số cố
vấn của Kennedy chấp nhận tin này như điều dĩ nhiên
phải đến. Roger Hilsman nói với một phóng viên: "Dân
chúng đã phải chịu nhiều đau khổ" (1). Nolting,
Richardson và một số người khác tổ chức cái mà một
nhân vật tham dự mô lả là "cuộc canh xác duy nhất
cho anh em họ Ngô". Mọi tin tức cho thấy bản thân
Kennedy vô cùng phiền lòng. Sau này Taylor kể lại, khi
Kennedy biết tin Diễm và Nhu bị sát hại, "ông đứng
bật dậy, lao ra khỏi phòng với vẻ mặt kinh hoàng mà
tôi chưa bao giờ thấy" (2). Một số người khác nhận
xét từ sau vụ Vịnh Con Lợn đây là giai đoạn tổng
thống chán nản hơn bất kỳ lúc nào và họ đoán Kennedy
đã nhận ra rằng Việt Nam là thất bại lớn nhất của
ông ta trong chính sách đối ngoại
(3).
------------------------------
(l) Trích trong
Marguerite Higgin, Cơn ác mộng Việt Nam của chúng ta, New
York, năm 1965, tr.225.
(2) Talor, Thanh gươm và lưỡi cày,
tr.301.
(3) Schelesinger, Một ngàn ngày,
tr.997-998.
-------------------------------------------
Chỉ
ba tuần sau, Kennedy bị ám sát ở Dalas. Những người bảo
vệ Kennedy, nhiều người trong số đó sẽ trở thành
những người lớn tiếng phản đối chiến tranh, sau này
lập luận rằng, trước lúc qua đời, Kennedy đang hoạch
định việc đưa Mỹ ra khỏi cái mà ông ta cho là một
vũng lầy.
Nhưng nhiều tài liệu đã nói lên điều
ngược lại. Trong bài diễn văn lẽ ra được đọc vào
ngày bị ám sát, Kennedy thừa nhận rằng những cam kết
với các nước thế giới thứ ba có thể "đau đớn,
rủi ro và tốn kém", nhưng cũng báo trước "chúng
ta không được mệt mỏi vì cuộc thử nghiệm này"
(1).
Trong bất kỳ tình huống nào, điều mà Kennedy
đáng ra có thể làm không bao giờ có thể biết và chính
quyền của ông ta phải được phán xét về những việc
đã làm trong thời gian ngắn ngủi đó. Kennedy và phần
lớn các cố vấn của ông đã chấp nhận mà không hề
phân tích cẩn trọng về một nước Việt Nam phi cộng
sản có tầm quan trọng sinh tử đối với lợi ích toàn
cầu của Mỹ, và lý lẽ của họ trong thực tế đã củng
cố thêm nhận định đó. Việc bản thân tổng thống
Kennedy không bao giờ chú trọng đầy đủ đến Việt Nam,
như những người bảo vệ ông đã nói, dường như đã
rõ.
Kennedy phản ứng với các cuộc khủng hoảng và
ứng biến cách đối phó kiểu hàng ngày, ít khi xem đến
ảnh hưởng của việc mình làm. Tuy vậy, đường hướng
trung dung thận trọng của ông đã được mở rộng đáng
kể vai trò và sự cam kết của Mỹ vào Việt Nam và với
cuộc đảo chính này. Mỹ phải gánh vác trách nhiệm trực
tiếp đối với chính quyền
------------------------------
(1), Trích trong Herbert S.Parmet, JKF: Nhiệm kỳ Tổng
thống của John F.Kenedy (New York, 1984),
tr.336.
----------------------------
Nam Việt Nam. Tuy những
mối nghi ngờ ngày càng tăng làm Kennedy phiền lòng, nhưng
đã không chịu đối mặt với những vấn đề gai góc,
ngay cả sau khi những khó khăn với Diễm đã đạt tới
sự khủng hoảng. Có lẽ khi giấu nước Mỹ về những
mối nguy hiểm của sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam
ngày càng tăng, Kennedy đã tự lừa dối mình. Dù những
mối lo ngại và ý đồ cuối cùng của ông ta là gì,
Kennedy cũng đã để lại cho người kế nhiệm một công
việc thực sự nguy hiểm hơn so với cái mà ông ta thừa
kế từ Eisenhower.
Chương IV
ĐỦ
NHƯNG KHÔNG QUÁ NHIỀU: NHỮNG QUYẾT ĐỊNH CỦA JOHNSON ĐỐI
VỚI CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1963-1965)
Từ tháng 11-1963 đến tháng
7-1965, Lyndon Baines Johnson đã chuyển từ cam kết giúp đỡ
hạn chế sang cam kết không hạn chế để duy trì một
chính quyền Nam Việt Nam phi cộng sản và độc lập.
Johnson tiếp nhận từ Kennedy một Nam Việt Nam với tình
hình đang xấu đi thanh chóng. Lo ngại rằng một sự dính
líu quy mô lớn của Mỹ có thể ảnh hưởng tiêu cực
đến cơ hội thắng cử của ông ta năm 1964 và đe dọa
chương trình Đại Xã hội (Great Society) trong nước,
Johnson đã thực hiện các biện pháp tạm thời trong hơn
một năm, bằng cách tiếp tục tăng cường viện trợ Mỹ
và tăng số lượng cố vấn với hy vọng một chính sách
gần giống như của vị tiền nhiệm nhưng được tập
trung hơn có thể đẩy lùi được tai hoạ. Nhưng vào đầu
năm 1965, sự sống còn của Nam Việt Nam trở nên bấp
bênh hơn bao giờ hết, và trong 6 tháng sau đó, Johnson đã
có những quyết định mang đầy tính định mệnh: Thực
hiện Chiến dịch oanh tạc liên tục đối với miền Bắc
Việt Nam và điều các lực lượng bộ binh Mỹ sang để
dập tắt phong trào cách mạng đang dâng lên mạnh mẽ ở
Nam Việt Nam. Đến tháng 7-1965, Mỹ đã trực tiếp dính
vào cuộc chiến tranh quy mô lớn ở lục địa châu
á.
Cuối năm 1963, chiến sự tại Nam Việt Nam đã
leo thang đáng kể. Sự kiện Diễm bị lật đổ đã đem
lại một điều may mắn hỗn tạp cho Hà Nội. Nó loại
trừ một nhà lãnh đạo chống cộng đầy nguy hiểm. Tại
kỳ họp thứ 9 của Trung ương Đảng vào tháng 12-1963,
các nhà lãnh đạo Đảng cộng sản đã chỉ thị cho quân
giải phóng đẩy mạnh hoạt động chính trị và quân sự
tại miền Nam Việt Nam. Hà Nội tăng cường thâm nhập
miền Nam và thậm chí cử quân chính quy tham chiến. Bắc
Việt lúc này dường như chưa chắc chắn về sự hỗ trợ
của Liên Xô và họ nhận thấy khả năng sẽ có một
cuộc chiến với Mỹ. Nhưng hình như Bắc Việt cho rằng
sự mở rộng nhanh chóng cuộc chiến có thể làm tan rã
Nam Việt Nam, buộc Mỹ không còn lựa chọn nào khác ngoài
việc phải rút khỏi khu vực này.
Đối Tới Johnson
và Mỹ, con đường dẫn tới chiến tranh thật dài và
gian truân. Ngày 24-11-1963 sau khi nghe bản đánh giá bi quan
về triển vọng của chính phủ Nam Việt Nam sau đảo
chính, Johnson tuyên bố có cảm tưởng "như một chú
cá trê vừa đớp phải con mồi lớn có mắc lưỡi câu
sắc". Tuy nhiên, bị tân tổng thống này bày tỏ
quyết tâm chấp nhận sự thách thức của cộng sản và
không để Việt Nam đi theo con đường của Trung Quốc.
Ông ta chỉ chị cho Lodge "trở lại và báo cho các
tướng lĩnh Sài Gòn biết rằng, Lyndon Johnson có ý định
giữ lời...". Hai ngày sau, Bị vong lục Hành động
(NSAM) số 273 của hội đồng An ninh Quốc gia đã ghi nhận
lời hứa của Johnson vào chính sách của Mỹ và khẳng
định rằng, mục tiêu trung tâm của Mỹ là giúp "nhân
dân và chính quyền" Nam Việt Nam giành "chiến
thắng trong cuộc thử nghiệm chống cộng sản"
Trong ba tháng đầu cầm quyền của Johnson, tình hình ở
Nam Việt Nam ngày một xấu đi. Trước đó, một số người
Mỹ cho rằng việc lật đổ Diễm, Nhu sẽ lấy lại sự
hoà hợp trong nước và thúc đẩy đoàn kết chính trị,
nhưng tác động của sự kiện này là hoàn toàn trái
ngược. Diễm đã tiêu diệt một cách có hệ thống phe
phái đối lập và cái chết của Diễm đã để lại một
khoảng trống quyền lực. Phật tử và giáo dân thiên
chúa giáo đã hình thành nên những nhóm đoàn kết trong
thành phố, nhưng không nhóm nào đại diện cho một lực
lượng chính trị đủ mạnh. Giới Phật tử bị tan tác
thành nhiều phe phái hỗn hợp, còn phía Thiên chúa giáo
tuy có kỷ luật chặt chẽ hơn nhưng lại không có cương
lĩnh chính trị hoặc không có sức thu hút quần chúng.
Cuộc đảo chính làm bung ra các lực lượng từ lâu bị
dồn nén và trong những tháng sau đó nhiều tổ chức mới
đã xuất hiện lan tràn. ở nông thôn, tình trạng mọt
ruỗng trở nên phổ biến. Việc thủ tiêu sự kiểm soát
thông tin theo kiểu Diễm đã làm lộ ra những con số
thống kê do chính quyền Nam
---------------------------------
(1) Bill Moyer, "Hồi tưởng", Newsweek (ngày
l0-2-1975), tr.76, Quốc hội Mỹ, Thượng viện, Tiểu ban
công trình công cộng: Văn kiện Lầu Năm góc (Bản gửi
tới cho Thượng nghị sĩ), (4 quyển), Boston: năm 1971,
quyển III, tr.17-20. Sau đây trích là Văn kiện Lầu Năm
góc (Gravel).
---------------------------------
Việt Nam
cung cấp là hoàn toàn dối trá. Các quan chức Mỹ sợ hãi
khi phát hiện rằng lực lượng cách mạng đã kiểm soát
các vùng lãnh thổ và số dân nhiều hơn dự đoán.
"Chương
trình ấp chiến lược" đang hỗn loạn, nhiều ấp
chiến lược chủ chốt ở vùng đồng bằng sông Cửu
Long bị Việt cộng hoặc chính những người dân trong ấp
phá tan.
Cuối tháng 12, McNamara báo cho Johnson biết
rằng, nếu không xoay ngược được tình thế thì chỉ
trong vài tháng, Nam Việt Nam có thể thất thủ (1).
Nhóm
tướng lĩnh lên cầm quyền ở Nam Việt Nam sau vụ đảo
chính cũng chẳng làm được gì nhiều để chặn đứng
sự suy sụp này. 12 sĩ quan trong Hội đồng quân sự cách
mệnh đều từng tu nghiệp ở Pháp và đã phục vụ cho
Pháp trong phần lớn cuộc đời binh nghiệp của mình. Họ
thiếu kinh nghiệm, không xây dựng được cương lĩnh và
không giành được sự ủng hộ của các tổ chức chống
Diễm trước đây. Nghi kỵ lẫn nhau và nghi kỵ giữa các
nhóm ganh đua khác trong quân đội, cùng việc chưa biết
nên đi theo hướng nào, nên họ giam mình trong tổng hành
dinh gần sân bay Tân Sơn Nhất của Sài Gòn. Những việc
làm được của họ rất ít ỏi và chỉ làm tăng thêm sự
rối loạn. Việc phế bỏ các tỉnh trưởng trong hệ
thống chính quyền Diễm trước đây khiến cho chính quyền
địa phương tê liệt, còn Harkins thì lo ngại những cố
gắng của nhóm tướng lĩnh trên sẽ hạn chế vai trò của
cố vấn Mỹ.
Ngày 29-1-1964, một nhóm sĩ quan trẻ
do tướng
----------------------------
(1) McNamara gửi
Johnson, ngày 21-12-1963, hệ thống các văn kiện được
giải mật (R)88E, sau đây trích là
DDRS.
---------------------------
Nguyễn Khánh cầm đầu
đã lật đổ nhóm tướng lĩnh đảo chính cầm quyền
đang chia rẽ và bất lực. Hình như Khánh có lý do xác
đáng để nghi ngờ khả năng lãnh đạo của nhóm tướng
lĩnh đảo chính và biện bạch rằng, cuộc đảo chính
được thực hiện vì một số uỷ viên hội đồng quân
sự cách mệnh đã bí mật tán thành các đề nghị của
De Gaulle về một miền Nam Việt Nam trung lập. Nhưng rõ
ràng là võ tướng này ôm hận vì bị nhóm tướng lĩnh
đảo chính gạt ra ngoài cuộc và ông ta hành động vì
tham vọng cá nhân. Vai trò của Mỹ trong cuộc đảo chính
này vẫn còn chưa rõ.
Harkins và các cố vấn của ông
ta thấy khó chịu trước việc nhóm tướng lĩnh đảo
chính không tích cực hoạt động và tư tưởng độc lập,
nên có thể họ đã khuyến khích và thậm chí giúp Khánh
thực hiện âm mưu. Chí ít Mỹ cũng biết âm mưu đảo
chính và đã không làm gì để ngăn chặn nó (1).
Cuộc
đảo chính đã làm tăng mối nghi ngờ của Washington về
đất nước này. Nguyễn Khánh nổi tiếng là một nhân
vật chống cộng hung hăng và là một chỉ huy quân sự có
năng lực. Nhưng trong cuộc đời binh nghiệp thăng trầm
của mình, ông ta đã từng ủng hộ Việt Minh và Pháp,
rồi đã cộng tác với Diễm, sau lại chống Diễm, do đó
lẽ ra không thể đánh giá ông ta là người đáng tin cậy.
Đặt ứng cử viên sáng giá nhất vào một tình huống
khó khăn, Lodge dự tính rằng chế độ cai trị độc tài
có thể tốt hơn là một nhóm tướng lĩnh chia rẽ, và
việc Khánh cam kết hành
------------------------------
(1)
George Mc.T Kahin, "Phân cực chính trị tại Nam Việt
Nam: Chính sách của Mỹ trong giai đoạn hậu Diễm",
Tạp chí Các rạp đề Thái Bình Dương, số 52, mùa đông
năm 1979-1980, tr.647-673, Phỏng vấn Paul Harkins, Viện Lịch
sử quân sự Mỹ, Carlisle Barracks,
Pa.
-----------------------------
động táo bạo và
quyết đoán đã khích lệ ý tưởng này của ông ta. Thế
là vì đại sứ này báo cho Khánh là chẳng có gì làm cho
Mỹ hài lòng hơn là "nhìn thấy một quốc trưởng
phương Đông muốn đi nhanh và không ngần ngại đá đít
những người khác" - Khánh phản hồi là "muốn
lựa chọn để đá đít những kẻ đáng đá". Tuy
vậy, câu trả lời này chẳng làm cho Mỹ yên tâm lắm và
Lodge thừa nhận rằng còn quá sớm để đoán là chính
phủ mới này sẽ tồn tại được lâu (1).
Mỹ
nhanh chóng công nhận Khánh, nhưng với thái độ chẳng
mấy nhiệt tình và thậm chí kém tin tưởng.
Chính
quyền của Khánh vấp phải những vấn đề thực sự
đáng ngại. Các hoạt động quân sự và chương trình ấp
chiến lược đã hoàn toàn bế tắc. Quyền lực của
chính quyền không tồn tại ở khắp vùng nông thôn, và
tình trạng gần như vô chính phủ lan tràn ở các thành
phố lớn. Tướng William Westmoreland sau này kể lại, tại
Sài Gòn "bầu không khí nặng mùi bất mãn, với các
cuộc bãi công của công nhân, biểu tình của sinh viên,
báo chí địa phương thì thực hiện một chiến dịch dai
dẳng phê phán chính phủ mới" (2). Khi các sự cố do
Việt Cộng gây ra tăng về số lượng và mức độ táo
bạo, thì Sài Gòn trông giống như một doanh trại vũ
trang. Các toà nhà chính phủ, cửa hiệu, thậm chí cả
các tiệm giải khát đều có dây thép gai bao quanh, bên
cạnh đó là binh lính đứng gác trong các bốt gác bê
tông có bao cát chất quanh. Bản thân Khánh phải ẩn náu
-----------------------------------
(1) Lodge gửi Bộ
trưởng Ngoại giao, ngày 5-2-1964, DDRS (75)215A.
(2) William
Westmoreland, Thành tích quân nhân, Garden City, N.Y., năm 1976,
tr.63.
------------------------
tại một ngôi nhà bên
sông Sài Gòn để có thể dùng thuyền tháo chạy khi cần
thiết. Giới tình báo Mỹ báo động rằng, nếu chính phủ
Mỹ không nhanh chóng đảm nhận và giải quyết những khó
khăn một cách có hiệu quả. Nam Việt Nam "cùng lắm
chỉ có khả năng chống trả mối đe dọa của quân cách
mạng trong vòng vài tuần hoặc vài tháng tới"
(1).
Đối với Johnson và thuộc hạ của ông ta, cuộc
khủng hoảng đầu năm 1964 là điều không có gì khó chịu
hơn. Vị tân tổng thống nhậm chức vào giờ phút quốc
gia phải gánh chịu tấn thảm kịch khủng khiếp đã đề
ra nhiệm vụ hàng đầu của ông ta là thực hiện bước
đi quá độ có trật tự và khôi phục lại sự ổn định.
ông ta coi việc thông qua chương trình lập pháp của
Kennedy, một chương trình từ lâu bị bế tắc tại quốc
hội, là việc cực kỳ quan trọng, bởi lẽ ông ta muốn
tưởng nhớ tới nhà lãnh đạo xấu số này và muốn lấy
việc đó làm bàn đạp để có thể mở chiến dịch vận
động bầu cử cho riêng mình. Nếu xét trên góc độ này
thì chỉ có thể xem sự xuất hiện của cuộc khủng
hoảng ở Việt Nam là một trở ngại.
Nhưng trở
ngại đó phải được giải quyết hiệu quả.
Johnson
coi Cam kết của Mỹ với Nam Việt Nam như một phần của
cương lĩnh Kennedy mà ông ta thể tiếp bước.
Hơn
nữa, từ lúc lên cầm quyền, nhiều người đã đặt câu
hỏi vào khả năng của Johnson giải quyết các vấn đề
phức tạp trong chính sách ngoại giao và ông ta nhận thấy
Việt Nam có thể là một cuộc thử nghiệm đối với bản
thân trong năm bầu cử. Biết mình chưa có kinh nghiệm
trong chính sách
----------------------------
(1) Trích
trong Văn kiện Lần Năm góc (Grarel), quyển III,
tr.42.
----------------------
đối ngoại, Johnson giữ
lại các cố vấn hàng đầu của Kennedy và dựa hẳn vào
họ. Ngoại trưởng Rusk, bộ trưởng quốc phòng McNamara
và Cố vấn An ninh quốc gia McGeorge Bundy đều từng đóng
vai trò hàng đầu trong việc tạo dựng chính sách Việt
Nam của Kennedy và họ có sự quan tâm cá nhân rất sâu
sắc để giữ vững chính sách đó.
Thậm chí họ
cho là việc mở rộng các cam kết của Mỹ từ năm 1961
bản thân nó đã gia tăng tầm quan trọng của việc giữ
vững đường lối của Mỹ tại đó.
Đến năm
1964, các nhà hoạch định chính sách của Mỹ thấy mức
độ thay đổi trong tình hình chính trị thế giới nên đã
thay đổi những nhận định cũ. Người Mỹ đánh giá
khác nhau về cuộc xung đột Xô-Trung. Một số người lập
luận rằng, cuộc xung đột chỉ là bề ngoài và có tính
sách lược, và nếu có xảy ra xung đột với phương Tây
theo kiểu gì đi nữa thì hai đối thủ này rồi sẽ sát
cánh lại. Đến năm 1964, nhiều người lại cho rằng sự
chia rẽ này là không thể hàn gắn được và đến lúc
nào đó có thể xảy ra chiến tranh giữa hai nước cộng
sản khổng lồ này. Các cố vấn của Johnson cũng nhận
thấy xung đột Xô-Trung có ảnh hưởng to lớn đến cuộc
chiến ở việt Nam. Họ nhận định, Hà Nội cùng phe với
Bắc Kinh, và ảnh hưởng của Liên Xô tại Việt Nam là
không đáng kể. Một số nhà hoạch định chính sách Mỹ
còn đi xa hơn khi tính toán rằng, tuy Trung Quốc viện trợ
cho Bắc Việt Nam nhưng viện trợ của họ chưa mang tính
quyết định và nếu xét từ góc độ Việt Nam vốn xưa
nay vẫn sợ ách độ hộ của Trung Quốc thì Hà Nội chỉ
muốn duy trì ở mức độ như vậy. Những diễn tiến
quan trọng này do vậy làm suy yếu dần quan điểm trước
đây cho rằng ở Việt Nam hay bất kỳ nơi nào khác, Mỹ
đều phải đối chọi vụn một khối chủ nghĩa cộng
sản đoàn kết trong cuộc chiến giành quyền bá chủ hoàn
cầu.
Tuy nhiên theo nhãn quan của các
chuyên gia về chính sách ngoại giao thì cuộc xung đột
Việt Nam vẫn có ý nghĩa quốc tế sinh tử. Liên Xô dường
như dang bước vào giai đoạn hoà giải, và một số người
Mỹ ấp ủ những niềm hy vọng về sự bớt căng thẳng
lâu dài. Tuy vậy, không ai có thể hoàn toàn chắc rằng
Liên Xô đã từ bỏ những mục tiêu trước đây của họ
và như McNamara cảnh báo thì luôn có khả năng là chính
cuộc ganh đua "dữ dội" với Trung Quốc có thể
làm tăng tính hiếu chiến của Liên Xô (1. Đại sứ Mỹ
tại Liên hợp quốc Adlai E.Stevrenson và nhiều người Mỹ
nhất trí rằng một nước Trung Quốc "kiêu ngạo,
hiếu chiến, có nguồn lực và kiên quyết" có thể
nắm vai trò lãnh đạo của cuộc cách mạng thế giới
(2).
Đông Nam Á dường như là một mang lại nhiều
cơ hội thuận lợi cho hoạt động gây rối của Trung
Quốc. Trong khi Việt Nam đang chới với bên bờ vực thảm
hoạ, thì hiệp định Lào năm 1962 bị cả hai bên phá bỏ
và hoàng tử Sihanouk của Campuchia không thiết gì viện
trợ của Mỹ đang kêu gọi tổ chức một hội nghị quốc
tế để đảm bảo sự trung lập cho đất nước của
mình. Trong lúc đó, một Sukarno khoa trương và đồng bóng
của Indonesia đã bắt đầu e vãn mãnh liệt Trung Quốc và
tiến hành cuộc chiến
----------------------------------
(l) Tuyên bố của McNamara trước Tiểu ban đặc trách,
ngày 6-2-1963, DDRS(75)150D.
(2) Stevenson gửi Johnson, ngày
11-8-1964, DDRS(75)212B.
------------------------
công khai
chống lại chính phủ thân phương Tây của Malaysia. Các
nhà hoạch định chính sách của Mỹ nhận ra rằng những
xung đột quốc gia và sắc tộc lịch sử cũng như chủ
nghĩa cộng sản là những nguyên nhân chính của tình
trạng bất ổn định tại khu vực Đông Nam Á.Nhưng họ
lo sợ rằng bất kỳ một thay đổi đột ngột nào làm
đảo lộn hiện trạng có thể có những ảnh hưởng sâu
rộng tới khu vực đầy bất an này. Những nhà hoạch
định chính sách Mỹ cho rằng, Trung Quốc chịu sự thiếu
hụt lương thực kinh niên có thể liều lĩnh tuyệt vọng
tràn xuống Đông Nam Á để giành lấy lương thực. Tối
thiểu, Trung Quốc có thể hy vọng lợi dụng sự rối
loạn chính trị ở những nước ngoại vi của họ
(1).
Tình trạng bùng lên hiện tượng "đa trung
tâm" trên phạm vi toàn thế giới càng dấy lên nỗi
lo lắng tại Washington. Nước Pháp của De Gaulle đang trực
tiếp thách thức địa vị lãnh đạo của Mỹ ở Đông
Nam Á cũng như ở châu Âu. Bạo loạn ở Panama làm nổi
bật sự bùng nổ của phong trào chống Mỹ ở Tây bán
cầu, tạo nên những cơ hội mà Fidel Castro ở Cuba có thể
khai thác. Những dự đoán tình báo tầm xa cảnh báo rằng
"cách mạng" và "rối loạn" đã lan tràn
khắp các quốc gia đang trỗi dậy, đe dọa trật tự thế
giới "ổn định" do Mỹ và các nước phương Tây
đặt ra. Các thế lực cộng sản, dù hành động đoàn
kết hoặc riêng rẽ, có thể "mưu toan" lợi dụng
tình trạng bất ổn đang tăng lên ở các nước kém phát
triển, hoặc có thể bị cuốn
--------------------------
(1) Tuyên bố của McNamara gửi Uỷ ban Quân dịch Thượng
viện, ngày 8-2-1964, DDRS(75)151B.
--------------------------
vào các cuộc xung đột địa phương. Cục Tình báo
Trung ương Mỹ cảnh báo, "sự rối loạn lan tràn trên
toàn thế giới" đã tạo ra trở ngại to lớn cho bất
kỳ một sự giảm dần căng thẳng thật sự nào giữa
Liên Xô và Mỹ đồng thời gia tăng hiểm hoạ của sự
va chạm có thể dẫn đến chiến tranh hạt nhân
(1).
Johnson và các cố vấn của ông ta thấy có
những lý do thuyết phục để giữ vững đường lối tại
Việt Nam. Mục tiêu trước mắt theo tổng thống Mỹ là
răn đe hành động của Mỹ ở Đông Nam Á và "kịp
thời đem lại cho nhân dân châu Á niềm tin và sự giúp
đỡ mà họ cần để tập hợp các nguồn lực của họ
một cách có tổ chức nhằm sống trong hoà bình, ổn định
bên cạnh các nước láng giềng hùng mạnh". Tuy nhiên
Johnson và các trợ lý của ông ta cảm thấy rất rõ là
cách họ đối phó với cộng sản ở Việt Nam sẽ có
"hậu quả sâu rộng ở mọi nơi". Họ bác bỏ
quan điểm của nhiều người châu Âu và một số người
Mỹ cho rằng, châu Á là một khu vực có tầm quan trọng
thứ yếu. Khi một nhà ngoại giao Pháp nhận xét rằng:
"Những lợi ích ở châu Âu rất lớn", còn nếu
Nam Việt Nam thất thủ "chúng ta sẽ chẳng mất gì
nhiều", thì ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk đã nóng nảy
phản bác lại rằng: Nếu Mỹ không bảo vệ Nam Việt Nam
thì "những bảo đảm của chúng tôi đối với Berlin
sẽ thiếu độ tin cậy".
Đó là "một bộ
phận của cùng một cuộc đấu tranh". Một lập
trường kiên quyết của Mỹ ở Việt Nam sẽ làm nhụt
chí mọi ý tưởng phiêu lưu của Liên Xô và khích lệ xu
thế hoà
---------------------------------
(1) CIA, "Những
xu hướng trong hiện trạnh thế giới", ngày 9-6-1964,
DDRS(75)251A.
--------------------------------
hoãn. Hơn
nữa, nó sẽ đảm bảo trật tự và ổn định trong một
thế giới đã bị chiến tranh tàn phá bằng cách minh
chứng rằng những thách thức bạo lực nhằm thay đổi
hiện trạng sẽ vấp phải sự phản kháng. Johnson khẳng
định: "Sức mạnh của chúng ta đặt lên vai chúng ta
nghĩa vụ bảo đảm rằng loại hình xâm lược này không
thành công" (1). Do vậy, tổng thống Mỹ và các cố
vấn của ông ta gạt bỏ mọi ý kiến về một cuộc rút
lui của Mỹ khỏi Việt Nam mà chẳng có một cân nhắc
nghiêm túc nào về kế hoạch trung lập hoá Nam Việt Nam
do De Gaulle đề nghị với sự ủng hộ của thượng nghị
sĩ Mike Mansfield và nhà báo Walter Lippmann.
Dù có quan
tâm tới Việt Nam, nhưng tổng thống Mỹ chưa sẵn sàng
dùng sức mạnh quân sự Mỹ với quy mô lớn vào đầu
năm 1964. Giống như Kennedy và Eisenhower trước đó, Johnson
không hào hứng với việc đưa quân đội Mỹ với quy mô
lớn vào lục địa châu Á.Hơn nữa. ông ta và các cố
vấn của mình sợ rằng việc Mỹ hoá cuộc chiến tranh
sẽ làm giảm tinh thần tự lực của chính quyền Việt
Nam Cộng hoà. Việc đưa lực lượng Mỹ với quy mô lớn
vào Việt Nam sẽ tạo ra những làn sóng thù địch Mỹ
trên phạm vi toàn thế giới. Nó có thể gây rối loạn
lớn trong nước, đe dọa chương trình lập pháp của
Johnson cùng chiến dịch tranh cử tổng thống của ông ta.
Do vậy, Johnson bác bỏ đề nghị của hội đồng tham mưu
trưởng liên quân về việc tiến hành các hoạt động
tác chiến trên không và trên bộ chống Bắc Việt
Nam.
------------------------------
(1) Johnson gửi Charles
Bohlen, ngày 28-2-1964, DDRS(75)97C; Bút lục đàm luận, Rusk
và đại sứ Pháp, ngày 1-7-1964,
DDRS(75)l05A.
-----------------------------
Sau một cuộc
xem xét lại chính sách cơ bản vào giữa tháng 3, tổng
thống Johnson kết luận rằng "phương án thực tiễn
duy nhất" là "cứ làm như trước nhưng với cường
độ mạnh hơn và với hiệu quả lớn hơn" (1). Vì
thế NSAM 288 được phê chuẩn ngày 17-3 đã nói lên những
mục tiêu của Mỹ với lời lẽ khoáng đạt hơn trước,
nhấn mạnh rằng mục tiêu quan trọng của Mỹ là duy trì
một miền Nam Việt Nam phi cộng sản và độc lập. Nhưng
chính quyền Mỹ vẫn hy vọng rằng, chương trình viện
trợ quân sự và kinh tế của họ sẽ phát huy hiệu lực,
và vào lúc này họ chỉ muốn cung cấp phương tiện để
làm cho chương trình có hiệu lực hơn.
Nhận thức rõ vấn đề cấp
bách nhất bấy giờ là sự yếu kém của chính quyền Nam
Việt Nam, Washington công khai ủng hộ Khánh và thông báo
riêng cho phái bộ Mỹ làm mọi việc có thể làm để
tránh những cuộc đảo chính tiếp theo.
NSAM 288 cũng
kêu gọi thực hiện kế hoạch động viên toàn Nam Việt
Nam để tạo cơ sở cho Việt Nam Cộng hoà bước chân vào
cuộc chiến và kêu gọi tăng cường đáng kể về quy mô
lực lượng vũ trang của Nam Việt Nam. Tổng thống Mỹ đã
chỉ định tướng William Westmoreland, một sĩ quan dù có
hạng và là cựu binh trong chiến tranh thế giới thứ 2 và
chiến tranh Triều Tiên, sang thay thế một Harkins bất tài
và mắc bệnh lạc quan mãn tính. Trong vòng 9 tháng sau đó,
Mỹ đã tăng số "cố vấn" từ 16.300 lên 23.000
người và tăng cường viện trợ kinh tế thêm 50 triệu
USD. Vào tháng 4, Johnson báo cho Lodge: "Ông phải
...
---------------------------------
(1) Doris Kearns, Lyndon
Johnson và Giấc mộng của Mỹ, New York, năm 1976,
tr.196.
----------------------------------
chuẩn bị mọi thứ cần thiết
để giúp Nam Việt Nam tiến hành công việc và về phần
tôi, tôi cam đoan sẽ hành động ngay tức khắc để xoá
bỏ những trở ngại hoặc hạn chế dù chúng xuất hiện
ở đâu"(1).
Trong mùa xuân 1964, mặc dù chính
quyền Mỹ chẳng làm được gì nhiều hơn ngoài việc
hoạch định chính sách, nhưng các nhà hoạch định chính
sách của Washington đã ngày càng chuyển hướng sự chú ý
sang Bắc Việt Nam. Sự thay đổi này phản ánh mối lo
ngại ngày một tăng của Mỹ trước việc người và hàng
hoá từ miền Bắc thâm nhập vào miền Nam mà chẳng chịu
thiệt hại gì. Một số quan chức Mỹ kết luận rằng,
dù sao thì hành động chống miền Bắc cũng có thể phần
nào bù đắp lại cho tình trạng trì trệ ở miền Nam.
Một số người khác muốn bắn tin cho Hà Nội rằng, họ
phải trả giá đắt nếu tiếp tục can thiệp vào Nam Việt
Nam. Tuy những hành động lén lút tại Bắc Việt Nam không
thành công, nhưng vào đầu năm 1964, các chuyến bay thu
thập tin tức tình báo, thả truyền đơn và các cuộc tập
kích bằng lực lược biệt kích theo kế hoạch OPLAN 34A
dọc bờ biển Bắc Việt Nam tăng lên. Chính quyền Mỹ
cũng đẩy mạnh việc lập kế hoạch chuẩn bị cho các
lực lượng thực hiện các hoạt động tác chiến "kiểm
soát biên giới" có thể xảy ra tại Lào và Campuchia
cũng như chuẩn bị cho các trận oanh tạc trả đũa kiểu
"ăn miếng trả miếng" đối với Bắc Việt Nam,
và hàng loạt các "áp lực công khai tăng dần"
chống Bắc Việt Nam, kể cả các trận ném bom vào nhiều
mục tiêu quân sự và công nghiệp. Những lời cảnh cáo
cứng rắn đã được chuyển
----------------------------
(1) Johnson gửi Lodge, ngày 4-4-1964, Văn kiện Johnson, Hồ
sơ An ninh Quốc gia, Hồ sơ Quốc gia: Việt Nam, hộp
3.
----------------------------
tới Hà Nội thông
qua một số nhân vật trung gian người Canada rằng việc
tiếp tục chi viện cho lực lượng giải phóng miền Nam
Việt Nam sẽ khiến cho chính miền Bắc Việt Nam bị tàn
phá nặng nề. Tại cuộc họp của hội đồng An ninh quốc
gia ngày 17-3, các quan chức chóp bu của chính quyền Mỹ
bày tỏ lòng tin rằng việc tăng cường viện trợ quân
sự và kinh tế đủ để dập tắt phong trào cách mạng ở
miền Nam Việt Nam. Song họ cũng nhất trí rằng, sự thất
bại của chương trình nêu trong NSAM 288 có thể đẩy họ
đến chỗ không có sự lựa chọn nào khác là đưa chiến
tranh lan ra miền Bắc Việt Nam (1).
Cũng như nhiều
chương trình trước đó, chương trình mùa xuân năm 1964
chỉ đạt được những kết quả nghèo nàn. Dưới sự
giám sát của Mỹ, Khánh đã triển khai nhiều kế hoạch
đầy tham vọng để đưa chính quyền xuống cấp xã,
nhưng giữa kế hoạch và thực hiện vẫn còn khoảng cách
rất lớn. Theo ước tính của Mỹ, Việt cộng kiểm soát
hơn 40% lãnh thổ và hơn 50% dân số của Nam Việt Nam, và
ở nhiều vùng, Việt cộng đã giành được chỗ đứng
vững chắc đến nỗi không thể đánh bật họ nếu không
huy động lực lượng lớn. ở những nơi chính quyền có
thể hoạt động dễ dàng thì lại vấp phải nhiều trở
ngại như thiếu những người lãnh đạo lành nghề và
cái mà theo mô tả của một người Mỹ là "những
quan điểm, chỉ thị, thói quen lỗi thời và nạn quan
liêu và thiếu nguồn lực tại chỗ" (2). Do tỷ lệ
đào ngũ tăng, nên quân số của quân đội Việt Nam Cộng
hoà chỉ
----------------------------------
(1) Tài liệu
tổng hợp về cuộc họp của hội đồng An ninh quốc
gia, ngày 17-3-1964. Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc
gia, hộp 1.
(2) Hồi ký của William Colby, ngày 11-5-1964,
Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ quốc
gia: Việt Nam, hộp 3.
----------------------------------
còn
dưới mức cho phép trước khi có sự gia tăng theo kế
hoạch. Quân đội Việt Nam Cộng hoà có giành thắng lợi
trong một vài trận giao chiến nhỏ vào đầu mùa hè,
nhưng chưa bao giờ họ có thể giành được thế chủ
động. Các quan chức Mỹ công khai hào phóng ca ngợi "sự
lãnh đạo có năng lực và xông xáo" của Khánh, còn
Khánh thì làm theo những gợi ý của Mỹ để tranh thủ
sự ủng hộ của dân chúng, như đích thân xuống thăm
nhiều làng xã và thành phố, thậm chí còn có nhiều buổi
"trò chuyện bên bếp lửa".
Nhưng nghịch lý ở chỗ trong khi
một lời nói từ Mỹ có thể làm lật đổ các chính phủ
tại Nam Việt Nam thì nó lại chẳng thể đem lại sự ổn
định, và những lời nói suông đó không đủ để đoàn
kết các lực lượng chính trị ô hợp của Nam Việt Nam.
Giáo dân và phật tử huy động lực lượng chống lại
lẫn nhau và chống lại một chính quyền mà chẳng bên
nào tin cậy. Sau một thời gian im ắng, phong trào sinh viên
lại hoạt động trở lại. Bản thân chính quyền bị
chia rẽ vì những bất hoà nội bộ và một âm mưu đảo
chính vào tháng 7 đã thất bại chỉ vì Mỹ tỏ thái độ
phản đối. Maxwell Taylor, người mới thay Lodge giữ chức
đại sứ vào giữa mùa hè, đã báo cho Washington vào giữa
tháng 8 rằng: Điều hay nhất có thể nói về chính quyền
của Khánh là nó đã tồn tại được 6 tháng và khả
năng tồn tại tiếp cho đến hết năm chỉ là 50/50"
(1).
Vào thời gian này, Hà Nội rất hiên ngang trước
những đe dọa của Mỹ. Không có lý do gì cho thấy các
nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam muốn tiến hành chiến tranh
với Mỹ.
---------------------------
(1) Trích trong Văn
kiện Lầu Năm góc (Gravel), quyển III,
tr.82.
---------------------------
Trái lại, họ vẫn
hy vọng rằng việc tăng cường chi viện cho lực lượng
giải phóng sẽ làm cho chính quyền Nam Việt Nam sụp đổ
và Mỹ chỉ còn cách từ bỏ đồng minh. Có thể họ coi
những "tín hiệu của Mỹ chỉ là trò dọa dẫm. Dù
sao đi nữa. họ không sẵn sàng từ bỏ mục tiêu của
mình kể cả khi bị Mỹ đe doạ. Vào xuân hè 1964, Bắc
Việt Nam động viên lực lượng cho một cuộc chiến, đẩy
mạnh nâng cấp đường mòn Hồ Chí Minh thành một mạng
lưới hậu cần hiện đại có thể phục vụ xe tải cỡ
lớn và bắt đầu xây dựng các đơn vị chính quy để
tiến vào Nam. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thông báo
cho Blair Seabom, người Canada, vào tháng 6 rằng những rủi
ro lớn không chỉ dành cho Bắc Việt Nam mà còn cho cả Mỹ
nữa, và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam cùng những người ủng hộ của tổ chức này đã sẵn
sàng chịu đựng với bất kỳ cái giá phải trả nào.
ông kết luận với một tuyên bố hùng hồn: "Nếu Mỹ
gây chiến tranh với miền Bắc Việt Nam thì chúng tôi sẽ
giành chiến thắng" (1).
Trong tình thế này, Mỹ
đã hướng vào miền Bắc để tìm kiếm một giải pháp
mà họ không thể tìm được ở miền Nam Việt Nam. Lo
lắng vì tình hình miền Nam không có tiến triển, tức
tối vì phản ứng đanh thép của Hà Nội và sợ rằng
Bắc Việt Nam có thể tìm cách khai thác cái mà họ cho là
chính quyền Mỹ sẽ không hành động gì trong năm bầu
cử, một số cố vấn của Johnson vào giữa mùa hè năm
-----------------------------
(1) George C.Herring, đã dẫn,
"Ngoại giao bí mật trong cuộc chiến tranh Việt Nam:
Loạt văn kiện Lần Năm góc về thương lượng (Austin,
Tex, 1983), tr.8.
-----------------------------
1964 đã
triển khai một "kịch bản" đầy đủ gồm những
áp lực công khai từng bước chống miền Bắc, theo đó
tổng thống Mỹ sẽ cho phép ném bom một số mục tiêu có
chọn lựa ở Bắc Việt Nam sau khi được quốc hội Mỹ
chuẩn y.
Các bộ trưởng Rusk và McNamara
cuối cùng đã bác bỏ kế hoạch này và sợ rằng nó sẽ
"đẻ ra hàng loạt vấn đề không thể nhất trí
nổi", có thể gây những tác hại xấu cho việc thông
qua dự luật về nhân quyền của chính quyền, nhưng các
đề nghị này rõ ràng nói lên sự thụ động của Mỹ
vào thời gian này (1).
Chính quyền Mỹ thực hiện
phần lớn "kịch bản" đã đề nghị để phản
ứng trước một loạt sự cố ở Vịnh Bắc Bộ vào đầu
tháng 8. Trong khi tiến hành do thám bằng thiết bị điện
tử ngoài khơi thuộc vùng biển của miền Bắc Việt Nam
vào sáng 1-8, khu trục hạm Maddox đã đụng phải một tốp
tàu phóng ngư lôi của Bắc Việt Nam. Các tàu chiến Nam
Việt Nam tham gia tác chiến trong kế hoạch OPLAN 34A đã
pháo kích đảo Hòn Mã ở gần đó vào buổi tối hôm
trước, và Bắc Việt Nam cho rằng tàu Maddox đang chi viện
cho các trận đánh bí mật nên đã áp sát nó.
Trong
một trận đấu hết sức chớp nhoáng, tàu Maddox đã khai
hoả, các tàu tuần tiễu phóng ngư lôi và máy bay từ tàu
hàng không mẫu hạm USS Ticonderoga cũng nhập trận.
Kết
quả là các tàu phóng ngư lôi bị đẩy lùi và một chiếc
trong đó đã bị hỏng nặng.
Tin tức cho biết,
Johnson đã nổi giận khi biết có vụ
--------------------------
(1) Bút lục Mc.Namara-Rusk,
ngày 11-6-1964, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc gia, Hồ
sơ quốc gia: Việt Nam, Hộp 4.
-------------------------
đụng độ, nhưng ông ta không ra lệnh trả đũa. Ngoại
trưởng Dean Rusk nhận xét: "Phía bên kia bị ăn đòn
trong vụ này.
Nếu họ lặp lại điều đó, họ sẽ
bị ăn đòn tiếp" (1). Để tránh thể hiện là yếu
kém và khẳng định những tuyên bố truyền thống về sự
tự do trên biển, hải quân Mỹ ra lệnh cho tầu Maddox
tiếp tục hoạt động ở Vịnh Bắc Bộ và điều khu
trục hạm C. Turner Joy đi hộ tống. Chính quyền Mỹ cho
hai khu trục hạm này hoạt động sát bờ biển Việt Nam
ở những nơi mà chúng dễ bị tấn công nhất. Do sốt
sắng cho "đợt mở màn" cuộc chiến tranh phá
hoại miền Bắc Việt Nam, nhiều quan chức quân sự hữu
trách trong khu vực lúc này đang chọn các mục tiêu cho
các trận oanh tạc.
Đêm ngày 8-4, trong khi đang hoạt
động trên vùng biển cách bờ biển Bắc Việt Nam khoảng
100 km, hai tàu Maddox và Tumer Joy đột nhiên báo cáo là bị
tấn công. Tin tức ban đầu dựa trên liên lạc bằng
thiết bị đo sóng âm (xôna) và ra-đa là những thiết bị
được thừa nhận là không đáng tin cậy khi thời tiết
xấu cũng như dựa vào sự phát hiện ngư lôi và đèn
quét của đối phương bằng mắt thường mà một thuỷ
thủ đã mô tả là "tối hơn đêm 30". Thuyền
trưởng tàu Maddox sau này thừa nhận rằng bằng chứng về
một cuộc tấn công chưa đủ chính xác. Có lẽ các chiến
hạm của Bắc Việt Nam đang hoạt động ở vùng đó
nhưng chưa bao giờ người ta đưa ra được bằng chứng
là họ có hành động tấn công.
Lần này, Washington
sẵn sàng đánh trả. Sáng sớm ngày 4-8, tin về một trận
tấn công đang rình rập đã bung ra và hội
--------------------------
(1) Trích trong John Galloway,
Giải pháp Vịnh Bắc Bộ, Rutherford. N.J., năm 1970, tr.52.
Ngoài ra xem: "Trận chiến ảo" dẫn tới chiến
tranh", Tin tức Mỹ và Thế giới ngày 23-7-1964,
tr.56-67.
--------------------------
đồng tham mưu trưởng liên quân lập tức đề nghị
Mỹ phải "đánh bại hoàn toàn" cuộc tấn công.
Suốt buổi sáng hôm đó, trong lúc có tin các khu trục hạm
đang bị tấn công liên tục thì các tham mưu trưởng liên
quân vạch ra một loạt các phương án trả đũa từ những
cuộc oanh tạc hạn chế đánh vào các cơ sở hải quân
Bắc Việt Nam, tới việc thả thuỷ lôi ở một số vùng
ven biển.
Khi tổng thống họp với các cố vấn vào
đầu giờ chiều thì không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc
đụng độ đã xảy ra. CIA giải thích rất hợp lý rằng,
Hà Nội đang cố làm cho Mỹ trở thành "con hổ giấy".
Theo lời McNamara, Johnson và các
cố vấn của ông ta đều
nhất trí rằng, chúng ta không thể ngồi yên để cho họ
đánh chúng ta trên biển. Mỹ nhanh chóng quyết định thực
hiện "một trận ném bom trả đũa chớp nhoáng nhưng
kiên quyết" nhằm vào các căn cứ của các tàu phóng
ngư lôi của Bắc Việt Nam (1).
Tuy sau đó có nhiều
câu hỏi gay gắt được nêu lên chất vấn thực chất
của những cuộc tấn công ngộ nhận, nhưng chính quyền
Mỹ vẫn giữ nguyên quyết định. Những bức điện
"khẩn" gửi từ tàu Maddox đến Washington vào đầu
giờ chiều chỉ rõ "những khác thường của thời
tiết" tác động lên ra-đa và thiết bị đo sóng âm
xô-na cũng như những nhân viên vận hành quá tuổi có thể
là nguyên nhân khiến cho có tin về các
--------------------------------
(1) "Biên niên sự
kiện, ngày 4 và 5-8-1964, Vụ đụng độ Vịnh Bắc Bộ",
Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ quốc
gia: Việt Nam, hộp 18: tổng kết của cuộc họp thứ 538
của Hội đồng an ninh quốc gia. ngày 4-8-1964, Văn kiện
Johnson, Hồ sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ các cuộc họp của
Hội đồng an ninh quốc gia, hộp 1: Rusk gửi Taylor, ngày
8-8-1964. DDRS(75)845-H.
-----------------------------------
cuộc
tấn công của tàu phóng ngư lôi và về sự tiếp cận
của đối phương. Trái với những bức điện trước, vị
chỉ huy tầu Maddox cũng cho biết "không ai nhìn thấy
gì" và "cần phải đánh giá lại hoàn toàn"
các chứng cứ trước khi ra lệnh trả đũa. McNamara tạm
thời đình chỉ việc thực hiện các trận oanh tạc để
"kiểm tra cho chắc là có xảy ra các cuộc tấn công
hay không". Nhưng cuối buổi chiều hôm đó, ông ta đã
bị thuyết phục trên cơ sở những chứng cứ đáng ngờ.
Phớt lờ thái độ không dám chắc đã có phần muộn
màng của những nhân vật tại nơi xảy ra sự việc, bộ
trưởng quốc phòng đã chấp nhận sự đánh giá nông cạn
của tư lệnh hạm đội Thái Bình Dương, đô đốc Grant
Sharp đóng ở Honolulu, còn ông đô đốc này thì lại
khẳng định sự việc theo tin tức đầu tiên từ tàu
Maddox và những thông tin nghe trộm qua những bức điện
của Bắc Việt Nam thông báo về hai tàu tuần tiễu đã
"hy sinh". Không phải McNamara và các cố vấn quân
sự của ông ta biết mà vẫn nói dối về các trận lấn
công ngộ nhận, nhưng rõ ràng họ buộc phải trả đũa
và dường như họ sàng lọc từ những chứng cứ có
trong tay để có những gì có thể khẳng định.
Chấp
nhận kết luận của McNamara mà không thắc mắc gì, cuối
buổi chiều hôm đó, Johnson cho phép oanh tạc trả đũa
vào các căn cứ tàu ngư lôi và các kho dầu gần đó của
Bắc Việt Nam. Những trận oanh tạc này được hội đồng
tham mưu trưởng liên quân mô tả là "một nỗ lực
khá tốt" và đã tiêu diệt được 25 tàu tuần tiễu
và 90% các kho dầu tại Vinh
(1).
-----------------------------
(1) "Biên niên sự
kiện, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ
quốc gia: Việt Nam, hộp 18: "Lời thoại của các cuộc
điện đàm, ngày 4, 5-8", Văn kiện Johnson, Hồ sơ an
ninh quốc gia, Hồ sơ quốc gia: Việt Nam, hộp
228.
-----------------------------
Tổng thống Johnson cũng
chớp thời cơ để tranh thủ quốc hội thông qua một
nghị quyết cho phép ông ta "dùng mọi biện pháp cần
thiết để đẩy lùi mọi cuộc tấn công vũ trang vào các
lực lượng Mỹ và ngăn chặn ở mức độ cao hơn đối
với hành động xâm lược. Johnson không xem nghị quyết
này như một sự bảo đảm có toàn quyền hành động
phục vụ việc sau này mở rộng cuộc chiến tranh mà ông
ta đã cam kết. Vào thời điểm này, ông ta vẫn hy vọng
có thể đạt được các mục tiêu của Mỹ ở Việt Nam
bằng những biện pháp hạn chế. Mục đích chính của
ông ta là để chỉ rõ cho Bắc Việt Nam thấy rằng, nước
Mỹ thống nhất với quyết tâm đứng vững tại Việt
Nam. Nghị quyết này cũng phục vụ những nhu cầu chính
trị trước mắt trong nước.
Việc phô trương sức mạnh và sức thu hút sự ủng hộ
của cả nước cho phép ông ta hạ đối thủ của Đảng
Cộng hoà - thượng nghị sĩ Barry Goldwater, người mà
trước đó đã lớn tiếng đòi leo thang chiến tranh, và
cho phép ông ta thể hiện quyết tâm bảo vệ lợi ích của
Mỹ mà không liều lĩnh mở rộng chiến tranh. Nhưng khi
trình bày lý lẽ của mình, chính quyền Mỹ đã cố ý
lừa dối quốc hội và nhân dân Mỹ. Họ không nói gì về
những hoạt động phá hoại ngầm. Các báo cáo chính thức
nêu rõ tàu Maddox đang đi tuần tiễu bình thường trên
vùng biển quốc tế. Các sự kiện được trình bày như
là "những cuộc tấn công có chủ ý" và "hành
động gây hấn công khai trên vùng biển khơi".
Quốc
hội phản ứng nhanh và mềm dẻo. Thượng nghị sĩ Wayne
Morse thuộc bang Oregon đã nêu lên một số câu hỏi khó
chịu về các hoạt động phá hoại ngầm và nhiệm vụ
của các khu trục hạm Mỹ. Thượng nghị sĩ Ernest
Gruening của bang Alaska thì đả kích nghị quyết này như
"một lời tuyên chiến có đề ngày sẵn" và
thượng nghị sĩ Gaylord Nelson của bang Wisconsin muốn hạn
chế việc giao quyền lực cho ngành hành pháp. Tuy nhiên,
trong lúc lợi ích quốc gia của Mỹ liên tục bị đe dọa,
thì việc quyết định đó được thông qua cũng dễ hiểu
khi mà quốc hội đã quá quen với việc thông qua những
đề xuất của ngành hành pháp mà không chất vấn nhiều,
đồng thời bầu không khí khủng hoảng đã khiến quốc
hội chẳng còn thời gian để tranh cãi.
Hạ nghị
sĩ Ross Adair của bang Indiana thốt lên: "Thế là họ
thiêu cháy quốc kỳ Mỹ rồi. Chúng ta sẽ không và không
thể tha thứ cho việc làm đó" (1).
Thượng
nghị viện bàn về nghị quyết này trong chưa đầy
10 giờ, phần lớn thời gian đó trong phòng họp chỉ có
chưa đầy 1/3 số thượng nghị sĩ. Thượng nghị sĩ J.
William Fullbright cũng chấp nhận vấn đề nhưng nặng nề
về việc giải toả thách thức của Goldwater chứ không
phải vì muốn trao cho Johnson toàn quyền hành động sau
này, và vì thế ông đã cẩn thận chèo lái nghị quyết,
gạt được ý kiến tranh cãi và những đề nghị sửa
đổi. Số phiếu của thượng nghị viện ở mức áp đảo
88/2, chỉ có Morse và Gruening phản đối. Còn ở nhà Trắng
thì vấn đề được xem xét qua loa hơn, chỉ mất có 40
phút để thông qua với số phiếu nhất trí hoàn toàn.
Từ góc độ chính trị nội bộ, cách Johnson xử
lý sự kiện Vịnh Bắc Bộ quả là khéo léo. "Phản
ứng kiên quyết, nhưng hạn chế" của ông ta trước
những cuộc "tấn công" của
Bắc
---------------------------
(1) Trích trong Anthony
Austin, Cuộc chiến của Tổng thống, Philadelphia, năm 1971,
tr.98.
-----------------------------------------------
Việt
Nam được nhiều người ủng hộ, tỷ lệ phiếu ủng hộ
ông ta trong cuộc thăm dò bỏ phiếu Louis Harris đã nhanh
chóng tăng vọt từ 42% lên 72%. ông ta đã vô hiệu hoá
được Goldwater trong vấn đề Việt Nam, một thực tế
góp phần vào thắng lợi áp đảo của ông ta trong cuộc
bầu cử tháng 11. Hơn nữa, cuộc tranh luận chính thức
đầu tiên của quốc hội về Việt Nam đã dẫn đến sự
tán thành gần như hoàn toàn đối với các chính sách của
tổng thống và tạo cho ông một cơ sở vững chắc để
từ đó xây dựng chính sách cho tương lai.
Rồi có
lúc Johnson phải trả giá đắt cho thắng lợi dễ dàng
của mình. Lúc này Mỹ đã đặt cược uy tín của mình
một cách công khai và mãnh liệt hơn không chỉ vào việc
bảo vệ Nam Việt Nam mà còn vào cả việc đối phó với
Bắc Việt Nam. Khi đánh vào các mục tiêu ở miền Bắc,
tổng thống tạm thời bịt được miệng của nhiều nhà
phê bình theo phái diều hâu ở trong và ngoài chính phủ,
nhưng làm như vậy ông ta cũng đồng thời phá đi chiếc
barie vốn có từ lâu ngăn chặn việc đưa chiến tranh ra
miền Bắc Việt Nam. Sau khi thực hiện được bước đi
đầu tiên này, thì những bước tiếp theo sẽ dễ dàng
hơn. Thắng lợi của Johnson ở quốc hội đã khuyến
khích ông ta đẩy các nhà lập pháp nhẹ nhàng vào việc
đề ra nhưng quyết định, chính sách tương lai đối với
Việt Nam. Sau này, khi lập luận của chính quyền Mỹ biện
bạch cho những đòn trả đũa lộ ra là sai sự thật, thì
nhiều nghị sĩ quốc hội kết luận rất đúng là họ đã
bị lừa dối.
Thắng lợi vang dội của tổng thống
trong sự kiện Vịnh Bắc Bộ đã cuốn theo những chi phí
khổng lồ chưa thể lường hết được.
Chính quyền
Johnson không tiếp tục đánh phá miền Bắc sau những đòn
trả đũa vì sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Tổng thống không
muốn leo thang để rồi làm hại đến vận may chính trị
của mình. Sau khi tỏ rõ quyết tâm bảo vệ lợi ích của
Mỹ bằng vật lực nếu cần thiết, trong những tháng
cuối cùng của cuộc vận động bầu cử, ông ta nhấn
mạnh ước muốn của mình là càng hạn chế sự dính líu
của Mỹ càng tốt. Trong nhiều bài diễn văn ông ta đều
nói: "Chúng ta không muốn có một chiến tranh lớn
hơn".
Trong lúc đó, rối loạn chính trị ở Nam
Việt Nam khiến cho Mỹ càng cần phải thận trọng. Mưu
toan lợi dụng sự kiện Vịnh Bắc Bộ để cứu vãn thể
diện chính trị của mình, nên từ ngày 6-8. Khánh đã nắm
quyền hành gần như độc tài và hạn chế gắt gao quyền
tự do dân sự, Hàng ngàn người dân Sài Gòn ngay tức
khắc xuống đường phản đối và khi quần chúng giận
dữ buộc Khánh đứng trên nóc xe tăng và hô to "đả
đảo chế độ độc tài" thì viên tướng bị nhục
mạ này đã từ chức. Trong nhiều ngày sau đó, một tình
trạng gần như vô chính phủ bao trùm Sài Gòn, nhiều đám
đông biểu tình trên đường phố, phật tử và giáo dân
công khai đánh nhau, nhiều băng nhóm côn đồ đánh lộn
và cướp bóc. Còn ở hậu trường, các chính trị gia và
tướng lĩnh, kể cả Khánh đang đua tranh, giành giật
quyền lực.
Trong tình hình đó, chính quyền Mỹ kết
luận: Nếu leo thang chiến tranh thì quả là ngu xuẩn. Vào
đầu tháng 9, không quân và hải quân lục chiến thúc ép
kéo dài các trận không kích vào Bắc Việt Nam. Đại sứ
Taylor và một số người khác thú nhận: Những bước đi
như vậy sẽ phải được thực hiện đúng lúc, nhưng họ
lập luận nếu làm cho chính
phủ Nam Việt Nam hiện đang suy
yếu trở nên quá kiệt quệ bằng một hành động mạnh
mẽ trong tương lai trước mắt" thì quả là mạo
hiểm. Johnson đồng tình và nêu rằng, ông không muốn
"đưa người bệnh vào một trận đấu kéo dài 10
hiệp trong khi anh ta không có sức để trụ được một
hiệp. Chúng ta phải làm cho anh ta có sức chịu ít nhất
là 3,4 hiệp". Tuy vẫn để dành những phương án
khác, chính quyền Mỹ đã quyết định chỉ tiếp tục
các hoạt động lén lút chống phá Bắc Việt Nam và sẵn
sàng trả đũa hành động khiêu khích của họ theo kiểu
"ăn miếng trả miếng" (1).
Johnson vẫn rất
quan tâm đến tình hình nội bộ ở Nam Việt Nam đến mức
ông ta quyết định không trả đũa khi Việt cộng đánh
vào căn cứ quân sự của Mỹ tại sân bay Biên Hoà tiêu
diệt 4 lĩnh Mỹ và phá huỷ 5 máy bay. Tuy nhiên, đến
cuối tháng 11 đã có sự nhất trí của Mỹ phải nhanh
chóng thực hiện cái mà Talor gọi là "một cuộc ném
bom được phối hợp cẩn thận" chống miền Bắc
Việt Nam (2). Tuy các quan chức Mỹ còn bất đồng ý kiến
về lý do ném bom, một số người cho rằng đó là cách
làm tăng tinh thần ở Nam Việt Nam, một số người khác
lại coi nó như một vũ khí để buộc Hà Nội ngừng chi
viện cho quân giải phóng miền Nam. Họ cũng chưa nhất
trí về việc phải thực hiện một chiến dịch ném bom
kiểu gì. Các tham mưu trưởng liên quân đề nghị một
chiến dịch "chớp nhoáng và vắt kiệt", tức là
đánh ồ ạt vào các mục tiêu công nghiệp
và
-------------------------------------------
(1) Bút lục
của McGoerge Bundy, ngày 14-9-1964, Văn kiện Johnson, Hồ sơ
an ninh quốc gia, Hồ sơ quốc gia: Việt Nam, hộp 6.
(2)
Taylor gửi Bộ Ngoại giao, ngày 18-8-1964, Văn kiện Lầu
Năm góc (Gravel), quyển III,
tr.547.
---------------------------------
quân sự lớn.
Các viên chức ở Lầu Năm góc và Bộ Ngoại giao thì chủ
trương "vắt kiệt dần", tức là một loạt các
trận ném bom tăng dần và mục tiêu mở đầu là các con
đường thâm nhập Lào, sau đó từ từ mở rộng ra các
mục tiêu ở Bắc Việt Nam. Dù có những ý kiến cảnh
báo từ các cơ quan tình báo rằng, chiến dịch ném bom có
thể sẽ không gây tác động quyết định đến cuộc
chiến tranh ở miền Nam, nhưng đa số cố vấn của
Johnson ván tán thành việc dùng không lực dưới hình thức
đó.
Chỉ có thứ trưởng ngoại giao
George Ball kịch liệt phản đối. Là một nhà ngoại giao
đầy kinh nghiệm đã từng chứng kiến thất bại của
Pháp ở Đông Dương khi ông làm cố vấn cho sứ quán
Pháp, Ball lập luận mạnh mẽ và sinh động rằng, cuộc
tấn công bằng đường không sẽ không giải quyết được
sự bế tắc của Mỹ ở Việt Nam. ông cho rằng chưa có
gì để chứng minh việc ném bom miền Bắc sẽ làm tăng
tinh thần ở Nam Việt Nam. Hơn nữa, có lý do xác đáng để
phân vân không biết liệu không lực có buộc được Hà
Nội ngừng chi viện cho quân giải phóng miền Nam hay không
và nếu họ ngừng chi viện thì liệu Nam Việt Nam có thể
đánh bại được Việt cộng hay không. Theo Ball, những
rủi ro của hành động leo thang còn lớn làm những gì có
thể giành được. Hà Nội có thể trả đũa bằng cách
đổ nguồn
---------------------------------
(sách thiếu
1 đoạn)
---------------------------------
chưa biết chắc
có kiểm soát nổi các sự kiện sau khi đã bắt đầu quá
trình leo thang hay không. Ball kết luận: "Một khi đã
cưỡi lên lưng hổ rồi thì chúng ta không dám chắc đến
đâu thì tụt xuống được"(1).
Lập luận của
Ball chẳng có mấy tác động ở Washington. Các cố vấn
của Johnson công nhận là chiến dịch ném bom có thể
không đạt được mục tiêu của nó, nhưng họ sẵn
sàng thử vận may. Họ cho rằng tối thiểu thì chiến
dịch này cũng tạo cho chính quyền Nam Việt Nam "thời
gian để lấy lại sức và cơ hội cải thiện tình hình".
Hơn nữa, họ tin rằng họ có thể kiểm soát được
những rủi ro của hành động leo thang. Vai trò của
Matxcơva tại Việt Nam "dường như là tương đối
nhỏ". Một chiến dịch ném bom hạn chế đã không đe
dọa sự sống còn của Bắc Việt Nam sẽ không đem lại
cho Trung Quốc cơ hội can thiệp, và lo ngại về sự đô
hộ của Trung Quốc sẽ khiến cho Hà Nội không muốn
Trung Quốc dính líu vào Việt Nam quy mô lớn hơn. Hơn thế,
hậu quả của khả năng thất bại tại Việt Nam sẽ tạo
nên sự mạo hiểm nhất định. Trung Quốc vừa cho thử
nghiệm vũ khí hạt nhân, gia tăng uy thế và tiềm năng
gây mất ổn định tại Viễn Đông, và vậy là các quan
chức Mỹ kết luận rằng việc cấp thiết hơn là phải
giữ vững đường lối tại Việt Nam. Michael Forrestal nhận
định: "Chúng ta cần cản trở việc Trung Quốc muốn
nuốt chửng Đông Nam á chừng nào mà Trung Quốc (1) có
thái độ
hoà
---------------------------------------------------
(1)
George W. Ball, "Tối mật: Lời tiên tri về vị tổng
thống bị miễn nhiệm", Alantic, 230, tháng 7-1972,
tr.35-49, Xem George W.Ball, Qúa khứ đã có một mô hình
khác, New York, năm 1982,
tr.380-385.
-----------------------------------
dịu hơn và
(2) thấy rằng cái mà nước này định nuốt là không thể
tiêu hoá nổi" (1). Tin rằng phải làm một cái gì đó
để tránh cho Nam Việt Nam sụp đổ hoàn toàn và nhận
thấy chiến dịch ném bom đỡ rủi ro hơn là đưa bộ
binh vào, chính quyền Mỹ quay sang lấy không lực làm giải
pháp duy nhất chấp nhận được để giải quyết vấn đề
cấp bách này.
Cuối tháng 11, các cố vấn cao
cấp của Johnson đã đưa ra những đề xuất cụ thể cho
việc sử dụng không lực Mỹ ở Việt Nam. Bác bỏ một
kế hoạch cực đoan hơn của hội đồng tham mưu trương
liên quân họ chủ trương một kế hoạch hai giai đoạn
để dần tăng cường đánh phá bằng không quân. Giai đoạn
thứ nhất, trong khoảng một tháng, sẽ bao gồm những
trận ném bom vào các con đường thâm nhập ở Lào song
song với các trận ném bom trả đũa vào các mục tiêu ở
miền Bắc. Trong thời gian đó, Taylor sẽ dùng lời hứa
ném bom trực tiếp vào các mục tiêu ở miền Bắc để
thuyết phục giới lãnh đạo Việt Nam Cộng hoà về việc
lập lại trật tự ở khu vực này. Khi chính quyền Sài
Gòn đạt tới một mức độ ổn định chấp nhận được
thì Mỹ sẽ bước vào giai đoạn hai, tức là mở cuộc
tấn công bằng không quân quy mô lớn kéo dài từ hai đến
sáu tháng, nếu cần thì sau đó sẽ dùng hải quân phong
toả Bắc Việt Nam.
Tình trạng bất ổn kéo dài ở
Sài Gòn đã làm việc thực hiện chương trình này chậm
hơn hai tháng. Ngày 1/2, Johnson mới phê chuẩn việc triển
khai ngay lập tức kế hoạch ném bom giai đoạn một ở
Lào, nhưng ông ta
không
----------------------------------------
(1) Forrestal
gửi William Bundy, ngày 23-11-1964, Văn kiện Lầu Năm góc
(Gravel), quyển III,
tr.644.
---------------------------------------
đi xa hơn.
ông ta nói đi nói lại rằng: "Nhảy vào hoặc rút ra
đều là điều dễ dàng, nhưng giữ kiên trì mới là điều
khó khăn". Johnson ra lệnh cho Taylor làm những điều
cần thiết để đoàn kết người Nam Việt Nam lại. ông
ta sẽ không điều binh sĩ Mỹ "đi đến chỗ chết"
trong khi người Nam Việt Nam "đang hành động như hiện
tại". Hơn nữa, nếu Mỹ cho Bắc Việt Nam "ăn
đòn" thì Nam Việt Nam và Mỹ phải chuẩn bị để
"nhận đòn trả đũa". Tổng thống và các cố
vấn nhất trí là phải thực hiện các đòn trả đũa,
nhưng họ chưa quyết định về thời điểm và hình thức
trả đũa (1).
Sau này, tổng thống Johnson biện bạch
cho việc mình không hành động vào lúc đó với lý lẽ
rằng, đòn trả đũa có thể khiêu khích Việt cộng tiếp
tục tấn công vào lúc "nền tảng chính trị ở miền
Nam quá lung lay không chống được một trận đánh lớn
của Việt cộng"(2).
Nhưng đến cuối tháng
1-1965, lý lẽ chính chống leo thang lại trở thành lý lẽ
thúc ép nhất ủng hộ việc leo thang chiến tranh. Sau khi
Khánh từ chức, một chính quyền dân sự được thành
lập ở Nam Việt Nam, nhưng nó chưa bao giờ có thể củng
cố được chỗ đứng. Sau khi trở lại Sài Gòn, Taylor
triệu tập các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự chóp
bu của Việt Nam Cộng hoà lại và thông báo cho họ biết
rằng Mỹ sẽ xem xét đến việc leo thang chiến tranh nếu
họ có thể đoàn kết với nhau và ổn định chính quyền.
Chỉ vài hôm sau, câu hỏi đó được trả lời khi một
nhóm sĩ quan trẻ
----------------------------------------------
(1)
Cuộc họp về Việt Nam, ngày 1-12-1964, Văn kiện Johnson,
Hồ sơ về cuộc họp, hộp 1.
(2) Lyndon B. Johnson, Lợi
điểm (New York. 1971),
tr.121.
----------------------------------------------
do thiếu tướng không quân Nguyễn
Cao Kỳ và tướng Nguyễn Chánh Thi cầm đầu tiến hành
một cuộc "thanh trừng" tương tự một cuộc đảo
chính. Taylor điên tiết cho gọi các sĩ quan đó lại lên
lớp cho họ như cách một huấn luyện viên nói với một
nhóm tân binh. Có lẽ tiếng Pháp của ông ta có vấn đề,
ông ta đặt câu hỏi này với vẻ châm chọc, bởi vì các
sĩ quan rõ ràng không hiểu mệnh lệnh của ông ta về
việc ổn định tình hình. ông ta tức giận nói thêm:
"Bây giờ các ông đã làm cho tình hình thực sự rối
loạn. Chúng tôi không thể cưu mang các ông mãi nếu các
ông cứ làm ăn như thế này" (1).
Về sau Taylor
nhớ lại, những lời quở trách nghiêm khắc này đã làm
cho một số người cười "xấu hổ" nhưng rồi
cũng chẳng có kết quả gì hết (2). Cuối cùng, cánh quân
sự cũng đồng ý hợp tác với các chính trị gia dân sự
để thành lập một chính phủ mới, nhưng các lãnh tụ
Phật giáo không tham gia, mà họ lại mở các đợt biểu
tình, tuyệt thực và tự thiêu ngày càng mang tính chất
chống Mỹ. Những người phản đối đã công khai đòi
Taylor từ chức và vào cuối tháng 1, 5.000 học sinh, sinh
viên đã lục soát thư viện của cơ quan thông tin Mỹ tại
Huế. Tin đồn về các âm mưu đảo chính ầm ĩ suốt cả
tháng đó, còn các quan chức Mỹ lo ngại rằng, từ tình
hình rối loạn này sẽ xuất hiện một chính phủ mới
muốn thương lượng với Việt Cộng và Bắc Việt Nam một
khi Mỹ rút ra. Trong lúc đó, Việt Cộng đã đánh
tan
---------------------------------
(1) Trích trong Neil
Sheehan, đã dẫn. Văn kiện Lầu Năm góc được Thời báo
New York công bố, New York, năm 1971, tr.371-381.
(2) Maxwell
D.Taylor, Thanh gươm và Lưỡi cày, New York, năm 1972,
tr.330.
----------------------------------
hai đơn vị tinh nhuệ của Nam Việt Nam trong những trận
đánh lớn. Cùng với những báo cáo cho biết các đơn vị
chính quy Bắc Việt Nam đang tiến vào Nam, những thất bại
này càng khiến cho người ta thêm sợ rằng đối phương
đã quyết định mở một cuộc tấn công tổng lực mà
quân đội Việt Nam Cộng hoà không thể chống đỡ.
Taylor lo sợ cảnh báo: "Không hành động tích cực
bây giờ tức là chấp nhận thất bại trong tương lai
không xa" (1).
Vào cuối tháng 1, đa số cố vấn
của Johnson cho rằng tình trạng bất ổn kéo dài ở miền
Nam đòi hỏi Mỹ phải ném bom miền Bắc. William Bundy cho
rằng, cuộc ném bom có thể không có tác động quyết
định đối với cuộc chiến tranh, nhưng "ít nhất nó
cũng đem lại một hy vọng mong manh là sẽ thực sự cải
thiện được tình hình Nam Việt Nam". Quan trọng hơn,
sự sụp đổ trông thấy ở Nam Việt Nam làm sáng tỏ
rằng, nếu cứ tiếp tục chính sách hiện tại thì chỉ
có thể dẫn đến "thất bại thảm hại mà thôi".
Trợ lý bộ trưởng quốc phòng John McNaughton chỉ rõ, dù
cho Mỹ không thể giữ miền Nam Việt Nam nhưng nếu họ
"tích cực đến cùng" chứ không đơn thuần chấp
nhận thất bại thì họ sẽ chứng tỏ là mạnh hơn trong
con mắt đồng minh cũng như kẻ thù. Chưa có một quyết
sách chính thức nào nhưng vào Cuối tháng 1, phần lớn
các quan chức trong chính quyền Mỹ đều thống nhất
rằng, Mỹ phải chớp lấy cơ hội đầu tiên để thực
hiện những trận ném bom và sau đó "thăm dò"
trước một chiến dịch ném bom
----------------------------------------
(1) Johnson, Lợi
điểm, tr.122.
-----------------------------------------
kéo
dài chống Bắc Việt Nam (1).
Thời cơ đó chẳng bao lâu đã
tới. Ngày 6-2, các đơn vị Việt cộng đã tấn công một
doanh trại lính Mỹ ở Pleiku và một căn cứ không quân
gần đó, tiêu diệt 9 lính Mỹ và phá huỷ 5 máy bay. Tối
hôm đó, sau khi một cuộc họp bàn kéo dài chưa đến 2
giờ đồng hồ, chính quyền Mỹ đã quyết định trả
đũa. Chỉ có thượng nghị sĩ Mansfield là phản đối vì
cho rằng, Mỹ có thể khiêu khích can thiệp, nhưng tổng
thống Johnson đã thô bạo bác bỏ lập luận của
Mansfield. Với vẻ mất bình tĩnh, ông ta thốt lên: "Chúng
ta giấu súng trong áo choàng và cất bom trong kho đã quá
lâu. Tôi không thể đề nghị binh lính Mỹ đi sang đó
tiếp tục chiến đấu mà một tay quặt ra sau lưng"
(2). Tổng thống Mỹ ra lệnh thực hiện ngay kế hoạch
"Hoả tiễn", một kế hoạch trả đũa mà hội
đồng tham mưu trưởng liên quân đã vạch ra. Cuối ngày
hôm đó và ngày hôm sau, máy bay Mỹ đánh vào các vị trí
quân sự của Bắc Việt Nam ở ngay bên kia vĩ tuyến
17.
Ngày 10-2 khi quân Việt Cộng tấn công một khu
cư xá của lính Mỹ tại Quy Nhơn thì tổng thống Mỹ lại
ra lệnh thực hiện một loạt các trận không kích dữ
dội hơn.
Trong chưa đầy 48 tiếng đồng hồ, chính
quyền Mỹ đã đi từ những trận đánh trả đũa sang một
chương trình ném bom liên tục, tăng dần vào Bắc Việt
Nam. McGeorge Bundy từ Việt Nam trở về sau các trận đánh
ở Pleiku nói: "Nếu Mỹ không hành động gì thì không
tránh khỏi thất
----------------------------------------
(1)
Bundy gửi Rusk, ngày 6-1-1965, Văn kiện Lầu Năm góc
(Gravel), quyển III, tr.685.
(2) Johnson, Lợi điểm,
tr.125.
-----------------------------------------
bại, không
phải là trong vài tuần, vài tháng mà trong vòng một năm
hay khoảng như vậy". ông ta và McNaughton, người đã
cùng Bundy sang Việt Nam, đòi thực hiện ngay chính sách
"trả đũa kéo dài" chống miền Bắc.
McNaughton thừa nhận rủi ro nhưng
lý luận rằng, "nếu so đo tính toán về cái giá phải
trả khi thất bại" thì chương trình ném bom sẽ "rẻ
mạt hơn" và thậm chí nếu nó không xoay chuyển được
cục diện thì "giá trị của nỗ lực này" cũng
còn lớn hơn "cái giá phải trả" (1). Ngày hôm
sau, chính quyền Mỹ không tranh cãi gì thêm và bắt đầu
"Chiến dịch Sấm rền", một chiến dịch từng
bước tăng cường các trận không kích theo như đề nghị
của Bundy và McNaughton.
Chính quyền Mỹ không chân
thật khi giải thích cho công chúng Mỹ lý do và ý nghĩa
của quyết định ném bom Bắc Việt Nam. Các phát ngôn
viên từ tổng thống trở xuống đều biện bạch rằng,
các trận không kích là để "trả đũa" các trận
tấn công ở Pleiku và phủ nhận không hề có thay đổi
cơ bản gì trong chính sách của Mỹ về Việt Nam. Nhưng
rất rõ ràng là Pleiku chỉ là cái cớ chứ không phải là
nguyên nhân của quyết định tháng 2. Khả năng Nam Việt
Nam sụp đổ dường như rất thiết yếu để thực hiện
một chính sách mà các quan chức Mỹ đề nghị đã hơn
hai tháng qua. Do vậy vấn đề chỉ là tìm thời cơ thích
hợp để biện minh cho các biện pháp mà chính quyền Mỹ
đã thực hiện. Sự kiện Pleiku đã mang lại thời cơ đó,
dù Mỹ dễ dàng có thể kiếm bất kỳ một sự việc nào
khác nữa để tạo cớ. Sau
này,
-------------------------------------------
(1) Đã dẫn,
tr.127-128.
--------------------------------------------------------------------------
McGeorge Bundy nhận xét: "Sự
kiện như Pleiku thì đầy rẫy ở miền Nam" (1). Mặc
dù nhiều người trong chính quyền Mỹ phủ nhận, song
những quyết định hồi tháng 2 đã đánh dấu một bước
ngoặt quan trọng trong cuộc chiến tranh. Việc bắt đầu
những trận ném bom thường xuyên đã vượt xa những trận
đánh "trả đũa" hạn chế kiểu "ăn miếng
trả miếng" sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ và tạo nên
một lập luận định sẵn để tiếp tục leo thang nếu
cần thiết.
Thực vậy, ngay khi "Chiến dịch Sấm
rền" bắt đầu thì đã có nhiều sức ép đòi mở
rộng nó. Những trận ném bom đầu tiên đạt ít kết quả
khiến Taylor kêu ca rằng, "sấm rền" chẳng qua
chỉ là "một vài tiếng sấm lẻ tẻ" và đề
nghị "tăng cường độ" các cuộc không kích đánh
phá Bắc Việt Nam (2).
Thông tin tình báo cho thấy
tình hình quân sự ở Nam Việt Nam đang xấu hẳn đi và
với nhịp độ này thì chỉ trong 6 tháng chính quyền Sài
Gòn sẽ chỉ còn lại những ốc đảo nhỏ nằm tại các
tỉnh lỵ. Ngay từ đầu, Johnson đã khẳng định sẽ duy
trì sự kiểm soát của cá nhân ông ta đối với cuộc
chiến tranh bằng không quân; ông ta từng khoe khoang: "Thậm
chí họ không thể ném bom ngay cả một nhà vệ sinh nếu
không được tôi phê duyệt"(3). Nhưng trước những
lời báo động khẩn cấp này, tổng thống Mỹ đã cho
phép leo thang từng bước chiến dịch ném bom và nới lỏng
các hạn chế đối với việc thực hiện chiến dịch
này. Ông ta cho phép dùng bom napan để đảm bảo sức huỷ
diệt lớn
---------------------------------------------
(1)
Trích trong Anthony Lake, tái bản, Di sản Việt Nam, New York,
năm 1976, tr.183.
(2) Văn kiện Lầu Năm góc (Gravel), quyển
III, tr.335.
(3) Westmoreland, Báo cáo của người lính,
tr.119.
----------------------------------------------
hơn và phi công được quyền
đánh các mục tiêu dự phòng trong trường hợp không tấn
công được các mục tiêu lúc đầu mà không cần phải
xin phép. Vào tháng 4, các phi công Mỹ và Nam Việt Nam đã
thực hiện 3.600 phi vụ đánh vào các mục tiêu của Bắc
Việt Nam. Cuộc chiến tranh không quân đã nhanh chóng phát
triển từ một nỗ lực rời rạc, ngập ngừng sang một
chương trình đều đặn và quyết tâm.
Cuộc chiến
tranh bằng không quân mở rộng cũng tạo cớ để đưa
các đơn vị bộ binh đầu tiên của Mỹ vào Việt Nam. Dự
đoán Việt cộng sẽ tấn công vào các căn cứ không quân
Mỹ để trả đũa "Chiến dịch Sấm rền", vào
cuối tháng 2 Westmoreland đã khẩn thiết đề nghị đưa 2
tiểu đoàn hải quân lục chiến vào bảo vệ căn cứ
không quân Đà Nẵng.
Tuy công nhận tầm quan trọng
của việc bảo vệ căn cứ không quân này, nhưng Taylor tỏ
ý rất lo ngại về tác động lâu dài mà đề nghị của
Westmoreland có thể gây ra. Ông ta chất vấn liệu các lực
lượng lính chiến Mỹ có được huấn luyện đầy đủ
để đối phó với chiến tranh du kích ở vùng rừng rậm
châu Á hay không, và cảnh báo rằng việc đưa vào những
lực lượng như vậy sẽ chỉ khuyến khích quân đội
Việt Nam Cộng hoà ỷ lại và đẩy trách nhiệm quân sự
sang cho quân Mỹ. Quan trọng hơn, việc đưa vào một số
quân chiến đấu dù nhỏ nhưng có nhiệm vụ cụ thể,
hạn chế sẽ vi phạm luật lệ chiến đấu trên bộ mà
Mỹ đã tuân thủ nghiêm túc từ khi cuộc chiến tranh Đông
Dương bắt đầu, và một khi đã thực hiện nhiệm vụ
bước đầu thì "rất khó khăn để giữ kiên định
đường lối ban đầu"
(1).
------------------------------------------
(1) Văn kiện
Lầu Năm góc (Gravel), quyển III,
tr.418.
------------------------------------------
Những ý kiến phản đối của
Taylor về nhiều mặt có tính chất tiên tri, nhưng chúng
chẳng được ai chú ý. Nhu cầu dường như rất thúc ép
và cấp bách, còn sự cam kết lại quá nhỏ bé, đến mức
quyết định được đề ra thường xuyên và chẳng bàn
bạc gì nhiều về hậu quả của nó. Sau chưa đầy một
tuần tranh cãi qua quýt, tổng thống Johnson đã chuẩn y đề
nghị của Westmoreland và ngày 8-3, hai tiểu đoàn hải quân
lục chiến với trang bị đầy đủ kèm theo xe tăng và
lựu pháo 203 li đã ầm ĩ đổ quân xuống bờ biển gần
Đà Nẵng với sự đón tiếp nồng nhiệt của các quan
chức Nam Việt Nam. Đó là sự khởi đầu vui vẻ đầy
mỉa mai cho cái mà sau này trở thành một trải nghiệm
đớn đau của cả Mỹ và Nam Việt Nam.
Như Taylor đã
tiên đoán, một khi đã tiến bước đầu thì rất khó để
giữ vững đường lối đã định ra trước đây. Được
báo động về việc quân đội Việt Nam Cộng hoà quá
chậm chạp trong việc xây dựng lực lượng và nỗi sợ
hãi về một cuộc tấn công lớn ở Tây Nguyên của Việt
Cộng, giữa tháng 3 Westmoreland kết luận rằng, nếu như
Mỹ muốn tránh thảm hoạ ở Việt Nam thì "không có
giải pháp nào khác ngoài việc phải nhúng tay thực sự
vào" (1). Do đó Westmoreland đề nghị đưa ngay vào
Việt Nam 2 sư đoàn lục quân Mỹ, một vào Tây Nguyên và
một vào khu vực Sài Gòn. Hội đồng tham mưu trưởng
liên quân đã tán thành mạnh mẽ đề nghị của
Westmoreland. Vốn từ lâu đã mất bình tĩnh trước thái
độ thận trọng của chính quyền Mỹ và sốt sắng muốn
gánh toàn bộ trách nhiệm đối với
cuộc
---------------------------------------------
(1)
Westmoreland, Báo cáo của người lính,
tr.126.
----------------------------------------------
chiến tranh Việt Nam, họ thậm
chí còn vượt cả Westmoreland vì đã thúc ép triển khai
tới 3 sư đoàn để sử dụng trong các trận tấn công
chống quân Việt cộng.
Lúc này, chính quyền Mỹ
nhận thấy họ đã rơi vào thế "tiến thoái, dừng
lại đều khó khăn" như McNaughton dự đoán. Trước
đây, họ đã kiên quyết gạt bỏ các phương án rút ra,
hoặc tiến hành chiến tranh bằng không quân với quy mô
lớn đánh phá Bắc Việt Nam. Dường như đến giữa tháng
3, chính quyền Mỹ nhận thấy chiến dịch ném bom hạn
chế thực hiện vào tháng 2 không đem lại kết quả tức
thì và những lời báo động khẩn thiết của Westmoreland
làm nảy sinh nỗi lo là nếu không tiếp tục hành động
thì có thể khiến Nam Việt Nam sụp đổ. Do đó nhiều
quan chức trong chính quyền Mỹ đã miễn cưỡng kết luận
rằng, chẳng có cách nào khác là đưa bộ binh Mỹ vào
Nam Việt Nam.
Mặt khác, họ đánh giá đầy đủ
những hậu quả chính trị trong nước có thể có nếu
thực hiện một cam kết như Westmoreland đề nghị. Mặc
dù lúc này Taylor đã cảnh báo rằng nếu đưa bộ phận
lớn quân Mỹ vào vùng cao nguyên sẽ dẫn đến những tổn
thất nặng nề, thậm chí có thể dẫn tới một "Điện
Biên Phủ" của Mỹ.
Chính quyền Mỹ đã giải
quyết thế "tam nan" này bằng một sự thỏa hiệp:
Bác bỏ đề nghị của Westmoreland và các tham mưu trưởng
liên quân, nhưng vẫn đồng ý đưa vào nhiều lực lượng
bộ binh và mở rộng nhiệm vụ của chúng.
Tại một
hội nghị được tổ chức tại Honolulu vào cuối tháng
4, McNamara, Taylor và các tham mưu trưởng liên quân đã gác
lại những bất đồng và thống nhất về một chiến
lược ứng biến nhanh với mục tiêu "bẻ gãy ý chí
của Việt Nam Dân chủ cộng hoà và Việt cộng bằng cách
tước đi thắng lợi mà họ đang cố giành". Chiến
dịch ném bom sẽ được duy trì ở "nhịp độ hiện
tại" trong 6 tháng đến 1 năm. Nhưng các đại biểu
dự hội nghị này đều nhất trí, theo lời của McNamara,
là chỉ riêng ném bom "sẽ không được việc"
(1).
Do đó, họ quyết định điều tới Việt Nam
thêm 40.000 lính bộ binh Mỹ nữa. Lực lượng này sẽ
không được sử dụng tại cao nguyên hoặc sẽ giao cho
chúng một nhiệm vụ không hạn chế như chủ trương của
Westmoreland và các tham mưu trưởng liên quân, mà sẽ được
sử dụng trong "chiến dịch căn cứ lõm" đầy
thận trọng do Taylor đề xuất. Triển khai ở các các
vùng lõm quanh các căn cứ lớn của Mỹ, dựa lưng vào
biển, các lực lượng này được phép hoạt động tác
chiến trong bán kính 80km từ các khu căn cứ của
chúng.
Chính quyền Mỹ hy vọng việc đưa lực lượng
quân Mỹ hạn chế như vậy vào Việt Nam sẽ đủ để
ngăn đối phương đánh một đòn đo ván và như vậy cho
phép có đủ thời gian để Việt Nam Cộng hoà xây dựng
lực lượng và để chiến dịch ném bom gây tổn thất
lớn cho Hà Nội. Mặc dù những quyết định tháng 4 còn
dưới mức lực lượng mà giới quân sự đề nghị,
nhưng chúng đã vượt xa mục tiêu ban đầu là bảo vệ
căn cứ và đánh dấu một bước quan trọng tiến tới
việc Mỹ dính líu quy mô lớn vào cuộc chiến tranh trên
bộ.
Chiến lược mới đã chuyển trọng tâm từ
cuộc chiến tranh bằng không quân chống Bắc Việt Nam
sang cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, vàt bằng việc
thông qua chiến
----------------------------------------
(1)
McNamara gửi Johnson, ngày 21-4-1965, Văn kiện Johnson, Hồ sơ
An ninh Quốc gia, Hồ sơ đất nước: Việt Nam, hộp
13.
----------------------------------------
lược này, ít nhất chính quyền
Mỹ cũng đã ngầm cam kết sẽ tăng cường lực lượng
khi tình hình chiến sự đòi hỏi.
Lúc này, Johnson
đã thừa nhận rằng để đạt được các mục tiêu của
Mỹ ở Việt Nam, chính quyền Mỹ cần phải có các cam
kết kéo dài và tốn kém, nhưng ông ta không chịu đưa
những chính sách của mình ra cho công chúng hoặc quốc
hội Mỹ bàn luận. Nhiều quan chức chính quyền Mỹ cùng
chung một quan điểm mà nhiều người đã chấp nhận vào
lúc đỉnh điểm của chiến tranh lạnh là các vấn đề
chính sách đối ngoại quá phức tạp và quá quan trọng
không thể để cho những người dân ngu dốt, thờ ơ và
một quốc hội chia rẽ, cồng kềnh giải quyết. Johnson
dường như lo ngại rằng, nếu tuyên chiến sẽ gây phản
ứng của Trung Quốc hoặc Liên Xô, hoặc làm tăng sức ép
trong nước đòi thực hiện một cuộc chiến tranh không
hạn chế ở Việt Nam. Sau này Johnson hồi tưởng, lúc đó
ông ta sợ rằng một cuộc tranh luận của quốc hội về
cuộc chiến tranh đáng ghét đó sẽ huỷ hoại "chương
trình Đại xã hội tâm huyết của tôi" (l). Sự hiểu
biết vô song của vị tổng thống Mỹ này về quốc hội
và lòng tin vào tài thuyết phục nổi tiếng của mình đã
khích lệ ông ta tin rằng mình có thể mở rộng chiến
tranh mà không gây phản ứng quyết liệt, và một quốc
hội luôn phục tùng ý kiến của ngành hành pháp càng làm
cho vị tổng thống này không còn lý do nào để dự kiến
một thách thức lớn.
Như vậy, Johnson đã đưa nước
Mỹ vào một cuộc chiến tranh bằng cách quanh co và che
dấu sự thật. Chiến dịch
------------------------------------------------
(1) Trích
trong Kearms, Johnson,
tr.251.
------------------------------------------------
ném bom được công khai biện
bạch là để "trả đũa" trận đánh ở Pleiku và
hành động "xâm lược" mở rộng của Bắc Việt
Nam chứ không phải là ý đồ tuyệt vọng muốn chặn
đứng tình hình chính trị và quân sự đang xấu đi
nghiêm trọng ở miền Nam. Chính quyền Mỹ chưa bao giờ
công khai thừa nhận việc chuyển từ trả đũa sang "gây
sức ép kéo dài". Việc điều động bộ binh Mỹ thì
được giải thích là vì cần bảo vệ căn cứ quân sự
Mỹ, và mãi đến tháng 6 khi ngẫu nhiên sự thật lộ ra
trong một bài báo thì các phát ngôn viên của chính quyền
Mỹ thừa nhận rằng, quân Mỹ được phép tiến hành các
cuộc tấn công.
Tuy chính quyền Mỹ đã che giấu
được phương hướng trong chính sách của mình, nhưng
việc mở rộng chiến tranh, nhất là chiến dịch ném bom,
rõ ràng đã thu hút ngày càng nhiều ý kiến chỉ trích.
Nhiều thư từ gửi về nhà Trắng phê phán kịch liệt
chiến dịch ném bom. Một vài tờ báo cùng với tờ Thời
báo New York cảnh báo về cái giá phải trả "bằng
sinh mạng, máu và tiền của phung phí" để tiến hành
cuộc chiến tranh trên mặt trận rừng núi "cách bờ
biển Califomia tới hơn 11.000 km". Một số thượng
nghị sĩ danh tiếng thuộc Đảng Dân chủ như Frank Church,
Mike Mansfield và George McGovrem đã kêu gọi tổng thống Mỹ
tìm kiếm một giải pháp qua thương lượng. Các giáo sư
của các trường đại học Michigan, Harvard và Syracuse đã
tiến hành nhiều cuộc hội thảo thâu đêm, sinh viên từ
nhiều trường đại học đã tổ chức các cuộc mítting
phản đối và đề xuất kiến nghị chống ném bom. Vào
tháng 4, 12.000 sinh viên đã tập trung ở Washington để
tuần hành phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam.
Hành
động leo thang chiến tranh đã gây ra nhiều ý kiến
chỉ trích ở ngoài nước Mỹ và khiến nhiều nước,
trong đó có cả một số đồng minh trung thành nhất của
Mỹ cũng kêu gọi Mỹ cần kiềm chế, tổng thư ký Liên
hiệp quốc UThant, người Mianma, đã bỏ ra nhiều tháng
dàn xếp những cuộc đàm phán riêng giữa Mỹ và Bắc
Việt Nam, và khi chính quyền Mỹ lạnh nhạt đáp lại
những cố gắng của ông và bắt đầu chiến dịch ném
bom, ông đã công khai lên án Washington không cho nhân dân
Mỹ biết sự thật. Vào đầu tháng 4, 17 quốc gia trong
khối Không liên kết đã ra "Lời kêu gọi khẩn cấp"
kêu gọi đàm phán vô điều kiện. Nước Anh với tư cách
chủ tịch hội nghị Geneva thì kêu gọi các bên xung đột
hãy nói rõ điều kiện của họ về một giải pháp. Một
việc khiến Johnson đặc biệt phiền lòng là thủ tướng
Canada Lester Pearson, khi phát biểu trên đất Mỹ, đã kêu
gọi Washington ngừng ném bom và phấn đấu cho một giải
pháp hoà bình.
Chính quyền Mỹ nhanh chóng có hành
động đối phó với những lời chỉ trích. Các trợ lý
của nhà Trắng đã tổ chức chiến dịch mang tên "Mục
tiêu: các trường đại học", bằng cách điều động
"các cán bộ trẻ giỏi giang nhất" đi diễn
thuyết tại các trường đại học và mời các giáo sư
và sinh viên đến Washington để dự các buổi "hội
nghị chuyên đề" (1). Tổng thống Mỹ mời các nghị
sĩ, chủ bút các báo và đại diện các chính phủ nước
ngoài đến dự các phiên họp mà đôi khi kéo dài 3 giờ
đồng hồ với mục đích là để tích cực bảo vệ các
chính sách của mình và nhắc các vị khách nhớ lại
những ân sủng Mỹ đã ban phát trước đây. Các phát
--------------------------------
(1) Jack Valentin gửi Mc
George Bundy, ngày 23-4-1965, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh
quốc gia, Hồ sơ đất nước: Việt Nam: hộp
13.
--------------------------------
ngôn viên của chính quyền Mỹ
công khai trả lời các nhà phê bình với lời lẽ mà ngay
từ đầu đã bộc lộ sự xúc phạm và kiêu ngạo, nới
rộng thêm khoảng cách giữa Washington và những người
phản đối chiến tranh. Khi phát biểu trước hội Luật
gia quốc tế, ngoại trưởng Mỹ Dean Rusk còn diễn đạt
một sự nghi ngờ: "Những người tưởng là sẽ giúp
thanh niên chúng ta biết cách suy nghĩ, lại ương bướng
không chịu xem xét đến những sự thực đã quá rõ ràng
... (1)".
Chính quyền cũng cố gắng làm tiêu tan
sự nghi ngờ của các nhà phê bình bằng nhiều sáng kiến
hoà bình giật gân. Trong bài nói chuyện tại trường đại
học Johns Hopkins ngày 7-4. Johnson khẳng định Mỹ sẵn
sàng bước vào đàm phán "vô điều kiện" và
thậm chí còn phô trương một chương trình phát triển
kinh tế trị giá 1 tỷ USD cho vùng đồng bằng sông Cửu
Long, một chương trình "có quy mô lớn hơn chương
trình đồng bằng Tenessy của chúng ta" (2). Vào đầu
tháng 5, Johnson miễn cưỡng chuẩn y ngừng ném bom 5 ngày
đi kèm với những tín hiệu riêng cho Hà Nội nêu rõ, nếu
Bắc Việt Nam và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam giảm hoạt động quân sự thì Mỹ sẽ giảm ném
bom.
Rõ ràng Tổng thống Mỹ có "có ý muốn hoà
bình", song những sáng kiến mùa xuân năm 1965 chủ yếu
nhằm bịt miệng các nhà phê bình trong nước và quốc tế
chứ không phải là thực sự bắt đầu những cố gắng
kiên quyết
-------------------------------------
(1) Trích
trong Thời báo Time ngày 30-4-1965, tr.29.
(2) Văn kiện
công khai của tổng thống Mỹ, Lyndon B.Johnson, 1965,
Washington, D.C., năm 1966, quyển I,
tr.394-399.
------------------------------------------
tìm một giải pháp hoà bình. Mặc
dù Johnson đề nghị tham gia "đàm phán vô điều
kiện", nhưng thực sự không muốn bắt đầu những
cuộc thương lượng nghiêm túc vào thời điểm mà thế
mặc cả của họ quá yếu. Thực ra, trong nội bộ họ
cũng chưa bàn bạc để đề ra một chương trình thương
lượng. Hơn nữa, tổng thống Mỹ đã nêu rõ trong bài
diễn văn tại trường đại học Johns Hopkins rằng, Mỹ
sẽ không hy sinh mục tiêu cơ bản của họ là một Nam
Việt Nam độc lập có nghĩa là một miền Nam Việt Nam
phi cộng sản.
Các quan chức chính quyền Mỹ biết
chắc rằng Bắc Việt Nam sẽ không đàm phán trên cơ sở
này.
Như dự kiến, những "sáng kiến hoà bình"
này không đưa hai nước nhích gần hơn đến bàn thương
lượng. Không hề sợ hãi trước việc Mỹ gây áp lực
đòi nhượng bộ, Hà Nội kịch liệt lên án Mỹ đưa ra
con bài tạm ngưng ném bom chỉ là "một thủ đoạn
lừa dối và đe dọa cũ rích". Không biết lúc đó Hà
Nội có thiện chí muốn thương lượng ở mức độ nào,
nhưng dù sao Mỹ cũng chẳng tỏ ý khuyến khích thương
lượng nhiều lắm. Ngày 8-4, thủ tướng Phạm Văn Đồng
có đưa ra một kế hoạch thương lượng gồm 4 điểm.
Chí ít về lý thuyết, phần lớn kế hoạch này không mâu
thuẫn với các mục tiêu cơ bản của Mỹ. Một số quan
chức Mỹ đòi tiếp xúc thêm để thăm dò kỹ hơn về
lập trường của Hà Nội, nhưng tổng thống Johnson và
các cố vấn hàng đầu của ông ta cho rằng, câu "một
giải pháp phải phù hợp với cương lĩnh của Mặt trận
Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam" chẳng qua chỉ
là những lời che đậy thô sơ cho kế hoạch của cộng
sản ở Nam Việt Nam và thấy không có lý do gì để bàn
thêm về chuyện đó.
Nhưng những "sáng
kiến hoà bình" đó cũng tạm thời giúp giải toả
những ý kiến phê phán ở trong và ngoài nước, và chính
quyền Mỹ dùng thời gian ngừng ném bom này để củng cố
sự ủng hộ của quốc hội. Ngày 4-5, Johnson đệ trình
lên quốc hội Mỹ đề nghị duyệt 700 triệu USD chi viện
cho các hoạt động quân sự ở Việt Nam và nêu rõ rằng,
ông ta sẽ coi việc bỏ phiếu chấp thuận khoản ngân
sách kia là sự tán thành của các chính sách của ông ta.
Dĩ nhiên, những quyết định cơ bản đã được sắp đặt
và tổng thống Johnson chẳng cần làm gì để làm sáng tỏ
chính sách ông ta đang thực sự theo đuổi. Các nhà lập
pháp rất khó bỏ phiếu chống việc cấp ngân sách cho
các binh sĩ ngoài mặt trận, nên quốc hội Mỹ đã nhanh
chóng thông qua đề nghị này mà chẳng có một ý kiến
phản đối. Johnson sau này lấy sự phê chuẩn này cùng
với việc phê chuẩn nghị quyết Vịnh Bắc Bộ để bác
lại những nhà phê bình nói rằng ông ta đã không cho
quốc hội có cơ hội thông qua chính sách của ông ta tại
Việt Nam.
Trong 3 tháng sau đợt ngừng ném bom tháng
5, chính quyền Johnson tiến dần từng bước tới quyết
định tiến hành chiến tranh ở Việt Nam. Dù Mỹ thực
hiện chiến dịch ném bom, tiếp tục tăng viện trợ và
đưa quân vào miền Nam Việt Nam, nhưng tình hình quân sự
vẫn xấu hẳn đi. Đúng vào giai đoạn gay cấn nhất này
của cuộc chiến tranh thì quân đội Việt Nam Cộng hoà
đang trên bờ vực tan rã. Tỷ lệ đào ngũ trong lính quân
dịch tại các trung tâm huấn luyện đã lên tới hơn 50%.
Thất vọng trước việc chiến dịch ném bom không xoay
chuyển được cuộc chiến tranh và thể hiện một xu
hướng ngày càng tăng là "mặc kệ cho quân Mỹ chiến
đấu", đội ngũ sĩ quan Việt Nam Cộng hoà trở nên
cẩn trọng hơn. Bộ chỉ huy cấp cao "gần như vô
chính phủ do đấu đá nội bộ (1). Được sự hỗ trợ
của 4 trung đoàn quân chính quy Bắc Việt Nam, quân giải
phóng miền Nam đã mở đợt tấn công vào tháng 5 và
trong các trận đánh lớn ở cao nguyên và ngay ở phía Bắc
Sài Gòn, họ đánh tan tác và gây thương vong lớn
cho quân đội Việt Nam Cộng hoà.
Những thất bại
to lớn này làm tăng những nghi ngờ về khả năng của
quân đội Việt Nam Cộng hoà mà Westmoreland đã nói, và
những tổn thất lớn đã hoàn toàn làm đảo lộn kế
hoạch xây dựng một quân đội Nam Việt Nam của ông
ta.
Vào cuối tháng 5, ông ta đi đến kết luận sẽ
cần đưa thêm nhiều quân Mỹ vào để ngăn chặn thất
bại ở Nam Việt Nam.
Tình hình chính trị tại Nam
Việt Nam không có dấu hiệu cải thiện. Sau khi từ chức
vào tháng 8-1964, Nguyễn Khánh vẫn đóng vai trò chính trị
công khai bằng việc tiếp tục giữ chức thủ tướng một
thời gian rồi lại thống lĩnh các lực lượng vũ trang.
Sau hơn một năm ở, hoặc ở gần vị trí quyền lực
trung tâm, trong thời gian này ông ta làm tăng thêm sự chia
rẽ ở Nam Việt Nam lên gấp bội, Nguyễn Khánh cuối cùng
rút khỏi chính trường ,vào tháng 2-1965, và người Mỹ
đã thở phào nhẹ nhõm khi ông ta nhận chức "đại
sứ lưu động". Sau hàng loạt vụ đảo chính và phản
đảo chính rối loạn không thể tránh được, một chính
quyền dân sự
-----------------------------------
(1) Bút
lục về tài liệu Wilham Depuy ngày 9-3-1965 và Bút lục gửi
tới Westmoreland ngày 13-4-1965, Văn kiện William Depuy, Viện
Lịch sử quân sự Mỹ, trại Carlisle, Pa., hộp tài liệu
D(65).
-----------------------------------
do Phan Huy Quát đứng đầu đã
được thành lập và tình hình tương đối yên tĩnh trong
một thời gian. Nhưng khi Quát tìm cách thay đổi lại nội
các vào tháng 5, một cuộc khủng hoảng đã nổ ra và cái
gọi là các tướng lĩnh trẻ - gồm có thiếu tướng
không quân Nguyễn Cao Kỳ và tướng Nguyễn Văn Thiệu -
đã xuất hiện, giải tán chính phủ Quát rồi chiếm
quyền. Chính quyền mới, cũng là chính quyền thứ 5 sau
cái chết của Diệm, tồn tại lâu hơn hẳn bất kỳ một
chính quyền Việt Nam Cộng hoà nào trước đó, nhưng ngay
lúc đầu, tương lai của nó dường như cũng bấp bênh.
Thiệu giữ chức tư lệnh các lực lượng vũ trang và
được Mỹ trọng vọng như một nhà lãnh đạo quân sự
có năng lực và Taylor coi ông ta như một con người đầy
"tự tin và sáng suốt"(1). Thủ tướng Kỳ lại
hoàn toàn khác, luôn mặc bồ độ bay loè loẹt, cổ quàng
khăn màu huyết dụ nhạt, khẩu súng lục báng chạm ngà
voi phô trương trên hông, vị thiếu tướng không quân
thích phô trương này nổi tiếng là "hay nhậu nhẹt,
cờ bạc và đuổi theo phụ nữ", nói năng bừa bãi
và dùng không quân vào mưu đồ chính trị cá nhân
(2).
Người Mỹ thấy khó trông cậy vào Kỳ và thấy
ít lý do để lạc quan trước việc ông ta lên cầm quyền.
Sau này William Bundy nhớ lại, nhóm lãnh đạo Thiệu-Kỳ
"đối với chúng tôi dường như đã là tồi tệ nhất
rồi" (3).
Trong tình hình như vậy, các cố vấn
của Johnson bắt đầu đòi hành động mạnh mẽ để ngăn
chặn cái mà dường như một thất bại chắc chắn. Vốn
từ lâu đã chán chường với
------------------------------
(1) Taylor, Thanh gươm và Lưỡi cày, tr.345.
(2) Bút
lục của CIA, ngày 19-8-1964, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an
ninh quốc gia, Hồ sơ đất nước: Việt Nam, hộp 7.
(3)
phỏng vấn William Bundy, Văn kiện
Johnson.
------------------------------
những quy định hạn chế việc
ném bom, Westmoreland, các tham mưu trưởng liên quân và
Rostow thuộc Bộ Ngoại giao đều đòi tăng cường cuộc
chiến tranh bằng không quân. Họ lý luận, mức độ chiến
tranh hiện tại chỉ làm cho Hà Nội sống không được dễ
chịu và những hạn chế về ném bom đã khiến cho Bắc
Việt Nam tự do củng cố khả năng phòng thủ lẫn tấn
công. Cụ thể, Rostow còn nói thẳng rằng, thắng lợi
quân sự nằm trong tầm tay nếu Mỹ đánh thẳng vào cơ
sở công nghiệp của Bắc Việt Nam.
Đồng thời
Westmoreland và các tham mưu trưởng liên quân chủ trương
tăng cường ở mức độ lớn các lực lượng bộ binh
của Mỹ và thực hiện chiến lược tấn công ở miền
Nam. Biết rõ hơn bao giờ hết là Nam Việt Nam không đủ
nhân lực để đứng vững, Westmoreland được các tham mưu
trưởng liên quân hậu thuẫn đã xin điều thêm 150.000
quân Mỹ sang Việt Nam vào đầu tháng 6. Vốn mang tư duy
truyền thống trong việc sử dụng lực lượng quân sự,
Westmoreland và các tham mưu trưởng liên quân ngay từ đầu
đã phản đối chiến lược căn cứ lõm và lúc này họ
lại nhấn mạnh cần bỏ chiến lược đó đi để thực
hiện một chiến lược tấn công tích cực. Chủ tịch
hội đồng tham mưu trưởng liên quân, tướng Earle
Wheeler, khẳng định "không ai có thể chiến thắng
nếu như chỉ ngồi một chỗ" (1). Thực tế vào mùa
hè năm 1965, ngay đại sứ Taylor, sau này kể lại, cũng
thừa nhận rằng; "Sức mạnh tấn công của đối
phương đã hoàn toàn làm cho tôi không còn do dự về việc
dùng bộ
----------------------------------------
(1)
Graff, Nội các ngày thứ ba,
tr.138.
----------------------------------------
binh Mỹ vào cuộc chiến đấu
toàn diện nữa" (1).
Chỉ có George Ball và luật
sư Clark Clifford, một cố vấn riêng thường xuyên của
Johnson là kịch liệt phản đối việc triển khai lực
lượng bộ binh Mỹ với quy mô lớn vào miền Nam Việt
Nam. Ball tỏ ý nghi ngờ sâu sắc là Mỹ có thể đánh bại
Việt Cộng "hoặc thậm chí buộc họ phải ngồi vào
bàn đàm phán theo điều kiện của chúng ta, dù cho chúng
ta có đưa thêm hàng trăm ngàn quân ngoại quốc, da trắng
(Mỹ)". ông ta tỏ ý vô cùng lo ngại việc phê chuẩn
những đề nghị của Westmoreland sẽ dẫn đến "một
cuộc chiến tranh kéo dài khiến Mỹ phải đưa lực lượng
vào vô tận, làm số thương vong Mỹ tăng lên, không bảo
đảm một giải pháp thỏa đáng và có nguy cơ cuối cùng
buộc phải leo thang". ông báo trước, một khi đã đưa
quân Mỹ vào thì không thể lùi được, và nói "sự
dính líu của chúng ta sẽ lớn đến mức chúng ta không
thể dừng lại nếu không đạt được những mục tiêu
cuối cùng mà không cảm thấy xỉ nhục đối với đất
nước". Clifford cũng nhất trí và đã yêu cầu tổng
thống Johnson giữ quân số Mỹ ở mức tối thiểu và
thăm dò "mọi con đường nghiêm túc dẫn đến một
giải pháp có thể có", rồi kết luận, "đó
không phải là điều mà chúng ta muốn, nhưng chúng ta có
thể tìm cách chung sống với nó" (2).
Sau một
chuyến đi chớp nhoáng nữa sang Sài Gòn vào đầu tháng
7, bộ trưởng quốc phòng McNamara đã đưa ra
---------------------------------------
(1) Taylor, Thanh
gươm và Lưỡi cày, tr.347.
(2) Ball gửi Johnson ngày
1-7-1965, Văn kiện Lầu Năm góc (NYT), tr.449-454; Clifford gửi
Johnson ngày 17-5-1965, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc
gia, Hồ sơ đất nước: Việt Nam, Hộp
16.
-------------------------------------
một lập luận rất quan trọng.
ông nhấn mạnh những báo cáo bi quan của Westmoreland và
Taylor, rồi cảnh báo rằng, nếu tiếp tục chiến tranh và
phấn đấu dành cơ hội may mắn, thì sẽ chỉ "làm
chậm sự lựa chọn giữa leo thang chiến tranh và rút ra,
có thể sẽ đến lúc quá muộn chẳng còn làm được
điều gì nữa". McNamara thừa nhận việc mở rộng sự
dính líu của Mỹ sẽ làm cho quyết định rút lui sau này
"trở nên khó khăn và tốn kém hơn bây giờ". Mặc
khác ông ta đề nghị chỉ dần từng bước triển khai
thêm 100.000 quân chiến đấu Mỹ tại Việt Nam (1).
Cuối
tháng 7, Johnson đã đưa ra những quyết định mang tính
định mệnh, đưa nước Mỹ vào một đường hướng mà
nó không thể đi chệch trong suốt gần 3 năm và mở đường
cho 7 năm chiến tranh đẫm máu tại Việt Nam. Tổng thống
Mỹ không phê chuẩn chiến dịch ném bom tổng lực do
Westmoreland và các tham mưu trưởng liên quân đề nghị.
ông ta và các cố vấn dân sự vẫn sợ rằng, nếu đánh
trực tiếp với quy mô lớn vào Bắc Việt Nam có thể
khiêu khích Trung Quốc can thiệp. Họ cũng cảm thấy rằng,
cơ sở công nghiệp xung quanh Hà Nội là một con chủ bài
trong tay Mỹ và mối đe dọa huỷ diệt nó còn có giá trị
hơn là việc thực sự huỷ diệt nó. Chính quyền Mỹ đã
thông qua đề nghị của Westmoreland dùng máy bay B.52 ném
bom rải thảm ở Nam Việt Nam và cho phép tăng cường từng
bước cường độ ném bom Bắc Việt Nam. Số phi vụ ném
bom tăng đã từ 3.600 vào tháng 4 lên 4.800 vào tháng 6, và
sau đó còn tăng lên nữa. Johnson kiểm soát chặt chẽ
chiến dịch ném
-----------------------------------
(1)
Johnson, Lợi điểm,
tr.145-146.
------------------------------------
bom, đích thân phê duyệt trước
mục tiêu cho mỗi trận oanh tạc và hạn chế ném bom chỉ
trong khu vực nam vĩ tuyến.
Đồng thời, tổng thống
Mỹ còn phê duyệt việc đưa thêm một lực lượng bộ
binh lớn vào Nam Việt Nam và thực hiện chiến lược mới
để chỉ đạo việc triển khai lực lượng này.
Quyết
tâm đứng vững ở Việt Nam và ngày càng lo sợ trước
những báo cáo về tình trạng suy sụp về chính trị và
quân sự ở Nam Việt Nam, vào tháng 7, Johnson đã phê chuẩn
đề nghị đưa ngay lập tức 50.000 quân nữa vào trước
khi kết thúc năm đó và như vậy, ít nhất cũng ngầm cam
kết cung cấp thêm bất kỳ lực lượng nào nữa cần đến
sau này.
Johnson cũng cho phép Westmoreland "đưa lực
lượng Mỹ chiến đấu độc lập hoặc phối hợp với
quân Việt Nam Cộng hoà trong bất kỳ tình huống nào khi
cần sử dụng chúng để củng cố địa vị so sánh của
các lực lượng Nam Việt Nam" (1). Hơn nữa, qua việc
cho Westmoreland tự do hành động, Johnson đã mở đường
để Mỹ gánh vác phần lớn gánh nặng cuộc chiến đấu
ở Nam Việt Nam.
Một số cố vấn của Johnson khuyến
nghị quyết liệt rằng tổng thống nên nói thẳng với
cả nước về những quyết định hồi tháng 7. Các tham
mưu trưởng liên quân gây áp lực đòi động viên lực
lượng dự bị và huy động lực lượng cảnh vệ quốc
gia để tỏ rõ là Mỹ không dính líu vào "một hành
động phiêu lưu quân sự không đáng làm" (2). McNamara
rất lo ngại về tác động chính trị nội bộ của những
quyết định
----------------------------------
(1)
Sheehan, Văn kiện Lần Năm góc (NYT), tr.412.
(2) Phỏng
vấn Earle Wheller, Văn kiện
Johnson.
-----------------------------------
nói trên đã thúc giục Johnson
tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia và yêu cầu quốc
hội tăng thuế. Nói tóm lại, ông ta muốn không cần
tuyên chiến mà vẫn đặt đất nước vào tình trạng
chiến tranh. Bản thân tổng thống Johnson như đang đùa
giỡn với ý tưởng tranh thủ một nghị quyết nữa của
quốc hội công khai ủng hộ các chính sách của mình.
Sau
khi suy tính mọi nhẽ, Johnson quyết định phản bác tất
cả các biện pháp nói trên. ông ta vẫn sợ rằng bất kỳ
việc làm nào giống như một sự tuyên chiến đều có
thể khiêu khích Liên Xô và Trung Quốc. Chưởng lý của
chính quyền Mỹ cam đoan rằng tổng thống có quyền điều
động những lực lượng lớn mà không phải trình lên
quốc hội (1).
Có lẽ điều quan trọng nhất là lúc
đó các đạo luật nhân quyền và y tế đang trong quá
trình đưa ra xem xét tại quốc hội và việc phê chuẩn
của quốc hội còn phụ thuộc vào nhiều đề nghị khác
của chính quyền. Johnson quyết tâm tạo cho mình một chỗ
đứng trong lịch sử bằng cách thực hiện những cải
cách sâu rộng trong nước và sợ rằng nếu xin quốc hội
cho tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam thì giấc mơ
tạo dựng một xã hội vĩ đại trong nước sẽ tan vỡ.
Do đó, ông ta bác bỏ lời khuyên của các tham mưu trưởng
liên quân và McNamara, rồi báo cho văn phòng nhà Trắng
biết, ông ta muốn các quyết định nói trên được thực
hiện theo cách thức không ồn ào để (a) tránh gây thách
thức đột ngột đối với khối Cộng sản và (b) tránh
nỗi lo ngại và kích động không đúng lúc trước quốc
hội và dư
--------------------------------
(1) Nicholas
Katzenbach gửi Johnson, ngày 10-6-1965, Văn kiện Johnson, Hồ
sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ đất nước: Việt Nam, hộp
17.
---------------------------------
luận quần chúng trong nước"
(1).
Để tránh "gây kích động không đúng lúc",
tổng thống Mỹ tiếp tục lừa dối quốc hội và dân
chúng về tầm quan trọng của những biện pháp mà ông ta
đang thực hiện. Để làm cho những quyết định của
mình dễ được chấp nhận đối với những nhân vật có
thể sẽ dao động, Johnson và các trợ lý đã đưa ra
những lời cảnh báo đáng sợ rằng, nếu không hành động
một cách dứt khoát sẽ chỉ có lợi cho những kẻ muốn
có những biện pháp mãnh liệt, "nhóm nghị sĩ
Goldwater", là "lực lượng có số lượng đông
hơn, mạnh hơn và nguy hiểm hơn các vị giáo sư hay chỉ
trích" (2). Để xoa dịu những nhân vật đa nghi như
lãnh tụ phái đa số thượng viện Mike Mansfield, Johnson
bóng gió sẽ giành ưu tiên tương tự cho việc tìm kiếm
một giải pháp ngoại giao cho cuộc xung đột, nhưng không
hề để lộ ra là ông ta biết chắc những nỗ lực đó
sẽ thất bại. Trong cuộc gặp các nhà lãnh đạo quốc
hội và trong buổi truyền hình trực tiếp bài diễn văn
ngày 28-7, ông ta cho biết hiện đang điều động 50.000
quân sang Việt Nam, và sau này còn sẽ cần nhiều quân hơn
nữa. ông ta hoàn toàn phủ nhận việc cho phép bất kỳ
một thay đổi nào trong chính sách và cũng không hé mở
rõ ràng những gì đang chờ đợi phía trước, thậm chí
còn không nói đến cả cảm nhận của ông ta lúc đó.
Thủ đoạn của Johnson cho thấy, ông ta vẫn quyết tâm
đạt tới những mục tiêu ở Việt Nam, không phải hy
sinh chương trình xã
--------------------------
(1) Bút
lục Benjamin Read ngày 23-7-1965, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an
ninh quốc gia, Hồ sơ đất nước: Việt Nam, hộp 16.
(2)
McGeorge Bundy gửi Johnson ngày 14-7-1965, Văn kiện Johnson, Hồ
sơ lưu Nhật ký, hộp 19.
---------------------------
hội vĩ đại và tin chắc có thể
hoàn thành cả hai việc cùng một lúc.
Những quyết
định hồi tháng 7 - điều sát nhất với một quyết định
tiến hành chiến tranh tại Việt Nam là đỉnh cao của một
năm rưỡi Mỹ vật lộn với chính sách Việt Nam và về
cơ bản nó phát sinh từ chỗ chính quyền Mỹ không chịu
chấp nhận hậu quả của việc rút lui. Johnson và Rusk
từng nếm trải những biến động chính trị sau vụ
Trung Hoa Dân quốc sụp đổi năm 1949, và họ tin rằng,
nếu để mất Việt Nam thì sẽ nảy sinh một cuộc tranh
cãi ầm ĩ hơn, như có lần Johnson đã nhận định, "đó
là một cuộc tranh cãi nhỏ nhen và tai hoạ có thể làm
mất đi chức tổng thống của tôi, bóp chết chính quyền
của tôi và làm tổn hại đến nền dân chủ của chúng
ta" (1). Họ cũng rất sợ những hậu quả quốc tế
nếu rút khỏi Việt Nam. Những nhân vật đề ra quyết
định năm 1965 cảm thấy rằng, họ đang cố gắng giữ
vững các chính sách mà Mỹ theo đuổi từ cuối những
năm 1940, những chính sách vẫn còn giá trí mặc dù đã
có nhiều thay đổi to lớn trên thế giới. Họ luôn luôn
mơ hồ không biết họ đang kiềm chế cái gì, đôi khi họ
nhấn mạnh đến Trung Quốc, lúc thì chú trọng đến chủ
nghĩa cộng sản và đến cả các cuộc chiến tranh giải
phóng dân tộc nói chung. Trong mọi tình huống, họ vẫn
tin rằng nếu rút khỏi Việt Nam thì sẽ khuyến khích rối
loạn trên toàn thế giới và làm suy yếu ảnh hưởng của
Mỹ. Là những con người của hành động và đứng đầu
một quốc gia chỉ biết chiến thắng, họ không muốn đối
mặt với triển vọng thất bại. Có lần Johnson đã
---------------------------
(1) Kearns, Johnson,
tr.252.
------------------------------------------
cảnh báo, nếu Mỹ rút khỏi
Việt Nam, nước này "có thể sẽ phải đầu hàng ở
mọi nơi khác, như rút khỏi Berlin, Nhật Bản, Nam Mỹ"
(1).
Khi đưa ra những cam kết hồi tháng 7, chính
quyền Mỹ thấy mình thận trọng di chuyển giữa hai cực
đoan, hoặc là rút quân khỏi Việt Nam hoặc là phải tiến
hành chiến tranh tổng lực. Theo lời lẽ của Johnson thì
chính quyền Mỹ đã tìm cách làm "những gì sẽ là
đủ nhưng không quá nhiều". Tổng thống Johnson và
các cố vấn của ông ta không tìm cách đánh bại Bắc
Việt Nam. Theo nhà sử học Henry Graff thì họ không "nói
về việc chinh phục trên chiến trường ... như những con
người từ ngàn xưa đã nói về chiến thắng". Trái
lại, mục tiêu của họ là gây tổn thất cho Bắc Việt
Nam và Việt cộng đủ để buộc họ phải thương lượng
theo điều kiện có thể chấp nhận được đối với Mỹ
- nói theo kiểu ẩn dụ ở bang Texas, quê hương Johnson,
thì gây sức mạnh cho đến khi đối phương "tỉnh ra
và hạ vũ khí" (2).
Bộc lộ kỹ năng chính trị
khôn khéo tột bực vốn là nét đặc trưng của mình,
trong tuần cuối tháng 7, Johnson tìm cách lạo nên sự nhất
trí ủng hộ trong chính quyền cho chính sách Việt Nam của
ông. Dường như ngay từ đầu, ông ta đã bị lôi kéo vào
một chính sách khiến cho Mỹ "được bảo vệ tối
đa với chi phí tối thiểư" (3). Tuy nhiên, từ ngày
21 đến ngày 28-7, tổng thống Mỹ đã cho các tham
--------------------------
(1) John D.Pomfreit, Bút lục về
cuộc đàm luận với Johnson, ngày 24-6- 1965, Văn kiện
Krock, hộp 59.
(2) Graff, Nội các ngày thứ 3, tr.54,
59.
(3) Tóm lược về cuộc họp của Hội đồng An ninh
quốc gia ngày 11-6- 1965, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh
quốc gia, Các cuộc họp của Hội đồng An ninh quốc gia,
Hộp 1.
----------------------------
mưu trưởng liên quân và George
Ball nhiều ngày trình bày ý kiến, cẩn thận lắng nghe
những lập luận của họ và nêu nhiều câu hỏi thăm dò
trước khi bác bỏ đề nghị leo thang với quy mô lớn và
rút quân của họ (1). Trong các cuộc họp với giới lãnh
đạo quốc hội, Johnson đã nhấn mạnh với các nhân vật
bảo thủ về quyết tâm đứng vững ở Việt Nam, đồng
thời bảo đảm với phái tự do rằng, ông ta không cho
phép cuộc chiến tranh tuột khỏi tầm kiểm soát của
Mỹ.
Johnson nói với thượng nghị sĩ George McGovem:
"Tôi sẽ theo sát bước chân cụ Hồ Chí Minh mọi
lúc" (2). Đường hướng trung dung của Johnson có thể
đã phản ánh tâm nguyện của công chúng cũng như quốc
hội Mỹ và vị tổng thống này đã lao vào cuộc chiến
tranh với một sự ủng hộ có vẻ vững chắc.
Đối
với Johnson, việc nhảy vào cuộc chiến hoá ra lại dễ
hơn là rút ra rất nhiều. Những quyết định của chính
quyền Johnson tháng 7-1965 đã chứng tỏ là có dựa trên
hai tính toán sai lầm cốt yếu. Trong khi tìm cách để
tiến hành hoạt động "đủ nhưng không quá nhiều",
tổng thống Mỹ và các cố vấn của ông ta chưa bao giờ
thăm dò một cách thực sự xem hành động như thế nào
là đủ. Mặc dù không ảo tưởng là có thể giành được
thắng lợi mà không trải qua khó khăn, đau đớn, nhưng
họ đã đánh giá quá thấp quyết tâm kháng chiến của
nhân dân Việt Nam và họ cũng không tiên liệu được cái
giá mà Mỹ phải trả cho cuộc chiến tranh. Khi Ball khuyến
cáo là có thể phải cần tới cả nửa triệu quân,
McNamara đã gọi lập luận này có ý đồ bẩn thỉu và
cho con số này là "thái quá" (3). Là những người
đứng đầu của một quốc gia hùng mạnh nhất trong lịch
sử thế giới, các quan chức Mỹ không thể tin rằng, một
nước nhỏ bé và lạc hậu lại có thể dám đứng lên
chống lại họ. Johnson thật quá mạo hiểm khi tính toán
rằng, cuộc chiến sẽ như một trận đánh "đầu
tiên là sự kháng cự với quy mô lớn sau đó giảm dần,
rồi Chủ tích Hồ Chí Minh sẽ vội vã tìm cách kết thúc
cuộc chiến" (4).
----------------------------------
(1)
Larry Berman, Hoạch định Chiến lược: Mỹ hoá cuộc chiến
tranh tại Việt Nam (New York, 1982).
(2) George McGovem, Dân
chúng, (New York, 1977), tr.104-105.
(3) Phỏng vấn Benjamin
Read, Văn kiện Johnson.
(4) Kearns, Johnson,
tr.266.
-----------------------------------
Do tính toán sai lầm cái giá phải
trả tại Việt Nam mà chính quyền Mỹ không tránh được
việc đánh giá cao sự sẵn sàng trả giá của nước Mỹ.
Ngày 27-7-1965, thượng nghị sĩ Mike Mansfield đã viết một
bản báo cáo dài, đầy tính hùng biện và tiên tri cảnh
báo ông bạn cũ của mình là Johnson và khuyên ông ta rằng
quốc hội và đất nước ủng hộ Johnson và ông ta là
tổng thống, chứ không phải họ hiểu hoặc cam kết sâu
vào chính sách của ông ở Việt Nam và ngấm ngầm bên
trong xã hội Mỹ là một tâm trạng rối loạn và bất an
mà đến lúc nào đó sẽ bùng lên thành một sự chống
đối kịch liệt (1). Mansfield đã nhận thức đúng đắn
tính nông cạn của sự ủng hộ đối với Johnson lúc đó.
Chừng nào có thể đạt được những mục tiêu của Mỹ
với cái giá tối thiểu thì người Mỹ sẵn sàng ở lại
Việt Nam. Nhưng khi cuộc chiến tranh bộc lộ là sẽ kéo
dài hơn nhiều và cái giá phải trả sẽ đắt hơn nhiều
so với dự kiến thì sự ủng hộ dành cho tổng thống Mỹ
sẽ giảm dần, và những người chủ trương leo thang hoặc
rút lui mà vào tháng 7-1965 tổng thống đã khéo léo né
tránh đến lúc đó sẽ càng khó xử lý.
Johnson
không để ý đến lời khuyên can của Mansfield. Sau nhiều
tháng phân vân, cuối cùng ông ta đã định được hướng
đi của mình, và vào tháng 7-1965, thầm lặng và không một
lời phô trường ầm ĩ, Johnson đã đưa nước Mỹ vào
một cuộc chiến tranh mà sau này sẽ trở thành một cuộc
chiến tranh dài ngày nhất, thất vọng nhất và gây chia
rẽ nhất trong lịch sử nước
Mỹ.
------------------------------------
(1) Mansfield gửi
Johnson, ngày 27-7-1965, Văn kiện Johnson, hồ sơ an ninh quốc
gia, Lịch sử Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ: Triển khai
quân đội Mỹ quy mô lớn tại Việt Nam, tháng 7-1965, hộp
40.
------------------------------------
Chương V
CƯỠI
TRÊN LƯNG HỔ: NƯỚC MỸ TRONG CUỘC CHIẾN
(1965-l967)
Trong khi di thăm hàng không mẫu
hạm Rannger ngoài khơi Việt Nam năm 1965, Robert Shaplen đã
nghe được lời nhận xét của một ông bạn nhà báo:
"Chúng ta cần phải phô diễn hạm tàu này cho Việt
cộng thấy, như vậy sẽ khiến họ phải đầu hàng"
(1). Năm 1965 cả nước Mỹ, từ tổng thông Johnson ở nhà
Trắng cho tới binh sĩ Mỹ ở chiến trường, đã bước
vào cuộc chiến tranh Việt Nam với cách suy nghĩ như vậy.
Tổng thống Mỹ đã đặt cược mọi thứ vào cách suy
nghĩ rất bình thường rằng, nếu dùng sức mạnh quân sự
của Mỹ thì có thể nhanh chóng dồn đối phương vào
chân tường. Lực lượng lính chiến Mỹ đầu tiên bước
chân tới Việt Nam cũng có quan điểm tương tự. Đại uý
hải quân lục chiến Philli Caputo sau này viết: "Khi
chúng tôi hành quân qua các đồng lúa vào buổi chiều
tháng ba chết
---------------------------------------
(1)
Robert Shaplen. Cuộc cách mạng bị thất bại: Nước Mỹ
tại Việt Nam, 1946-1966, New York, năm 1966,
tr.l86.
---------------------------------------
tiệt đó
cùng với ba lô và súng trên lưng, chúng tôi mang theo cả
niềm tin thầm kín là chẳng bao lâu Việt cộng sẽ bị
đánh bại" (1). Tuy chắc chắn chẳng phải là một
cái gì đó đặc biệt trong chiến tranh Việt Nam, nhưng
chủ nghĩa lạc quan cũng rất có giá trị để giải thích
hình thức Mỹ lựa chọn để can thiệp vào cuộc chiến
tranh đó. Mỹ chưa bao giờ phát triển một chiến lược
thích hợp cho cuộc chiến tranh họ đang thực hiện, bởi
phần nào họ cho rằng, chỉ cần dùng sức mạnh
quân sự to lớn của họ là đủ. Khi mức độ này thất
bại thì Mỹ nhanh chóng dùng mức độ tiếp theo và rồi
tiếp theo nữa cho đến khi cuộc chiến tranh đi đến chỗ
mà năm 1965 không ai dám nghĩ đến. Quan trọng hơn cả,
chủ nghĩa lạc quan mà đất nước này mang theo vào cuộc
chiến tranh chính là điều giải thích rõ tại sao sau này
cả trong và ngoài chính quyền Mỹ lại có tâm trạng vô
cùng thất vọng đến vậy. Thất vọng không bao giờ đến
một cách dễ dàng, trái lại nó tới đặc biệt khó
khăn, chỉ vì trước đó người ta đã dự kiến sẽ
giành được chiến thắng với một cái giá không đáng
kể.
Trong hai năm, chủ nghĩa lạc quan của năm 1965
đã nhường chỗ cho nỗi thất vọng sâu sắc và đớn
đau. Tính đến năm 1967, Mỹ đã đưa gần nửa triệu
lính chiến vào Nam Việt Nam. Họ đã ném nhiều bom hơn
tổng số bom thả xuống tất cả các chiến trường trong
chiến tranh thế giới thứ II và đã chi cho cuộc chiến
tranh hơn 2 tỷ USD mỗi tháng. Một số quan chức Mỹ tự
huyễn hoặc mình là đã đạt được nhiều tiến triển,
nhưng một thực tế không thể
phủ
-------------------------------------
(1) Phillip
Caputo, Lời đồn về cuộc chiến, New York, năm 1977,
tr..xii.
---------------------------------------
nhận
được là cuộc chiến tranh vẫn tiếp diễn. Do vậy,
Johnson đã vấp phải thế tiến thoái lưỡng nan. Không
thể kết thúc cuộc chiến tranh bằng biện pháp quân sự
và không muốn có những nhượng bộ cần thiết để đi
đến một giải pháp qua thương lượng, tổng thống Mỹ
đã chợt hiểu là đã quá muộn màng về điều mà George
Ban đã cảnh báo từ năm 1964: "Khi đã cưỡi lên lưng
hổ thì chúng ta không biết chắc đến đâu thì xuống
được".
Chiến lược của Mỹ ở Việt Nam được
ứng biến tuỳ hoàn cảnh chứ không được thiết kế
cẩn thận và chứa đựng rất nhiều điểm thiếu nhất
quán. Mỹ nhảy vào cuộc chiến tranh năm 1965 để ngăn
chặn sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hoà, nhưng chưa
bao giờ Mỹ có thể huy động được sức mạnh quân sự
to lớn để thực hiện nhiệm vụ cơ bản là thiết lập
một chính phủ có sức sống ở Sài Gòn. Chính quyền Mỹ
nhấn mạnh rằng, phải giữ cuộc chiến tranh ở mức độ
hạn chế - không được khiêu khích Liên Xô và Trung Quốc
can thiệp - nhưng tổng thống Johnson lại trông cậy vào
một thắng lợi nhanh chóng và ít tổn thất để tránh
bất ổn trong nước. Johnson và các cố vấn dân sự của
ông ta hình như chưa bao giờ biết rằng những mục tiêu
này có thể mâu thuẫn với nhau. Mỹ đã huy động sức
mạnh quân sự của mình vào cuộc chiến để làm tê liệt
Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và
thuyết phục Bắc Việt Nam chấm dứt "xâm lược".
Tuy nhiên, chính quyền Mỹ lại đánh giá rất thấp khả
năng của Bắc Việt Nam và đã không giải quyết một vấn
đề quan trọng là sẽ cần những gì để đạt mục tiêu
của mình, mãi cho đến khi họ sa lầy vào một thế bế
tắc đẫm máu.
Trong khi tổng thống Mỹ và các cố
vấn dân sự của ông ta đặt giới hạn cho việc tiến
hành chiến tranh, thì họ lại không có những phương châm
chiến lược vững chắc đối với việc sử dụng sức
mạnh của Mỹ. Giới quân sự được tự do hoạch định
chiến lược và đã tiến hành cuộc chiến tranh quy ước
mà họ chuẩn bị đối phó, mà không nghiên cứu những
điều kiện đặc biệt ở Việt Nam. Westmoreland và
các tham mưu trưởng liên quân bực dọc vì những kiềm
chế do giới quan chức dân sự áp đặt. Nhưng lo ngại
trước số phận của MacAthur tại Nam Triều Tiên, họ
không trực tiếp chất vấn tổng thống hoặc công khai
trình bày lý luận của họ. Mặt khác, họ từ chối phát
triển một chiến lược dung hoà với những hạn chế cho
đến khi đạt được điều kiện mong muốn. Kết quả là
vô cùng mập mờ về mục đích và phương pháp, mối quan
hệ ngày càng căng thẳng giữa dân sự và quân sự với
những bước leo thang đã đem lại lổn thất ngày càng
tăng, còn sự thành công lại rất không chắc chắn.
Mỹ
chủ yếu dựa vào sức mạnh không quân. Học thuyết quân
sự dạy rằng, ném bom có thể huỷ diệt khả năng chiến
tranh của đối phương, do vậy buộc đối phương phải
thương lượng. Thành công hạn chế của sức mạnh không
quân khi sử dụng với quy mô lớn trong chiến tranh thế
giới thứ 2 và với quy mô hạn chế trong chiến tranh
Triều Tiên đã đặt ra nhiều câu hỏi nghiêm túc về giá
trị của nhận định trên và những điều kiện đặc
thù của một đất nước lạc hậu ít có mục tiêu đáng
giá như Việt Nam lẽ ra đã có thể gợi lên nhiều ý
tưởng khác. Nhưng không quân và hải quân Mỹ có nhiều
kỳ vọng thiếu thực tế về những gì mà không quân có
thể hoàn thành và việc ngoan cố bám lấy ý tưởng này
sau những trải nghiệm thực tế đã minh chứng họ
không thể biện minh về hành động của mình. Các quan
chức dân sự chấp nhận lý lẽ của giới quân sự ở
một điểm là ném bom đỡ tốn kém về sinh mạng hơn và
do đó dễ được chấp nhận ở trong nước hơn, và vì
thế nó có thể mang lại một giải pháp nhanh và tương
đối dễ dàng cho một vấn đề phức tạp (1). Được
tiến hành bắt đầu vào năm 1965 cũng là do thiếu các
phương án khác cũng như vì bất kỳ lý do nào khác, chiến
dịch ném bom Bắc Việt Nam được mở rộng trong hai năm
sau đó với hy vọng mỏng manh rằng, ném bom sẽ chặn
được các lực lượng Bắc Việt Nam thâm nhập vào miền
Nam và buộc họ phải ngồi vào bàn hội nghị.
Cuộc
chiến tranh bằng không quân dần phát triển tới một quy
mô lớn. Tổng thống Johnson kiên quyết phản đối đề
nghị của các tham mưu trưởng liên quân đánh một đòn
hạ gục đối phương, nhưng mỗi giai đoạn ném bom không
đem lại kết quả, thì ông lại mở rộng danh sách mục
tiêu và số lần oanh tạc. Số phi vụ đánh phá Bắc Việt
Nam đã tăng lừ 25.000 năm 1965 lên 79.000 năm 1966 và
108.000 năm 1967; số bom ném xuống đã tăng từ 63.000 tấn
lên 136.000 rồi 226.000 tấn. Trong suốt năm 1965, "Chiến
dịch Sấm rền" tập trung vào các căn cứ quân sự,
kho tiếp tế và các con đường thâm nhập ở phần phía
nam Việt Nam. Từ đầu năm 1966 trở đi, các trận ném bom
ngày càng nhằm vào các hệ thống công nghiệp và vận
tải của Bắc Việt Nam, rồi chuyển dịch theo hướng
Bắc. Trong mùa hè năm 1966, Johnson cho
-------------------------------------------------------
(1)
Robert L.Gallucci, Chẳng có hoà bình lẫn niềm vinh dự:
Khía cạnh chính trị của Chính sách quân sự của Mỹ
tại Việt Nam (Baltimore, 1975), tr.74-80.
----------------------------------------------------------
phép
mở các trận ném bom ồ ạt vào các kho xăng dầu và mạng
lưới giao thông vận tải. Một năm sau, ông ta cho phép
đánh vào các nhà máy thép, nhà máy điện và các mục
tiêu được phê duyệt xưng quanh Hà Nội và Hải Phòng,
cũng như ở một số khu vực cấm dọc biên giới Trung
Quốc.
Chiến dịch ném bom gây thiệt
hại tới khoảng 600.000 triệu USD cho một quốc gia vẫn
đang phấn đấu để phát triển một nền kinh tế có sức
sống và hiện đại. Các trận không kích làm tê liệt
sản xuất công nghiệp của Bắc Việt Nam và phá hoại
nền nông nghiệp của họ. Một số thành phố thực sự
bị san bằng, một số thành phố khác bị tổn thất
nặng- Những chiếc B.52 khổng lồ có sức chở tới
58.000 pound (29 tấn) bom đã không ngừng thả bom một cách
tàn bạo xuống các khu vực dẫn tới dường mòn Hồ Chí
Minh khiến cho nhiều vùng nông thôn trở nên đổ nát với
dày đặc những hố bom khổng lồ. Chiến dịch ném bom
không nhằm đánh vào dân thường nhưng chính quyền Mỹ
tuyên truyền rằng số dân thương vong chỉ ở mức tối
thiểu. Nhưng theo ước lính của CIA thì năm 1967 tổng số
thương vong đã lên tới 2.800 người mỗi tháng, trong đó
có rất nhiều dân thường; còn McNamara thì thừa nhận
rằng riêng số dân thường bị thương vong hàng tháng lên
tới 1.000 người trong những thời gian ném bom ác liệt.
Một nhà ngoại giao Anh sau này kể lại, vào mùa thu năm
1967, nhân dân các thành phố lớn có dấu hiệu suy dinh
dưỡng phổ biến
(1).
----------------------------------------
(1) Raphael
Littauer và Norman Uphoff, tái bản, Cuộc chiến tranh bằng
không quân tại Đông Dương, Boston, 1972, tr.29-43. Về tác
động của việc ném bom, xem John Colvin, "Hà Nội trong
đời tôi", Washington hàng quý, mùa xuân năm 1981,
tr.138-154.
-------------------------------------------
Tuy
nhiên cách sử dụng không lực ở Việt Nam thực sự
không đạt được những mục tiêu dự kiến. Theo lập
luận của các tham mưu trưởng liên quân thì một cuộc
chiến tranh trên không ồ ạt, không hạn chế có thể
phát huy hiệu quả hay không vẫn còn là điều rất đáng
ngờ. Trong thực tế, vào năm 1967, Mỹ đã huỷ diệt
nhiều mục tiêu quan trọng nhưng điều đó cũng chẳng có
tác động rõ rệt đến cuộc chiến tranh. Song cách đánh
phá dần từng bước của Mỹ đã tạo cho Hà Nội thời
gian để xây dựng một hệ thống phòng không, bảo vệ
những nguồn lực sinh tử của họ và phát triển các
phương thức vận tải dự phòng. Chắc chắn là chiến
lược leo thang dần từng bước đã khuyến khích Bắc
Việt Nam kiên trì chống trả cho dù họ phải chịu nhiều
tổn thất.
Bắc Việt Nam đã thể hiện sự cực kỳ
tài trí và nhẫn nại trong việc đối phó với các trận
ném bom. Dân thường được sơ tán khỏi các thành phố
và phân tán về khắp vùng nông thôn; các ngành công
nghiệp và các kho tàng được bố trí rải rác và trong
nhiều trường hợp được giấu trong các hang động hoặc
hầm ngầm. Trên 48.000 km địa đạo được đào đắp và
ở những vùng bị ném bom dữ dội, dân chúng sống chủ
yếu dưới địa đạo. Khoảng 90.000 người Bắc Việt
Nam đã làm việc suốt ngày đêm để duy trì cho các con
đường vận tải thông suốt, và dọc những con đường
quan trọng có nhiều đống đá chuẩn bị sẵn để giúp
các đội thanh niên xung phong lấp hố bom chỉ vài giờ
sau trận ném bom.
Nhiều cầu bê tông cốt thép được
thay thế bằng phà hoặc cầu treo làm bằng tre, ban ngày
được nhấn chìm xuống nước để khỏi bị phát hiện.
Lái xe tải dùng lá để nguỵ trang xe và cho xe chạy đêm,
không bật đèn trước, chỉ dựa vào các cọc tiêu
màu trắng dọc đường. Những chiếc B.52 đánh phá có
tính huỷ diệt các con đường hẹp chạy qua đèo Mụ Giạ
dẫn đến đường mòn Hồ Chí Minh, nhưng người Mỹ rất
sửng sốt vì những đoàn xe lại chạy trở lại qua đèo
trong vài ngày. Một người Mỹ nhận xét với vẻ thất
vọng pha lẫn khâm phục: "Bọn da trắng không thể
thực sự hình dung nổi kiểu lao động như bầy kiến này
có thể làm được những gì" (1).
Số viện trợ
gia tăng của Liên Xô và Trung Quốc cho Bắc Việt Nam cũng
không bù lại những tổn thất về trang bị quân sự và
nguyên liệu, xe cộ. Cho đến năm 1965, Liên Xô vẫn tách
mình ra khỏi cuộc xung đột, nhưng giới lãnh đạo mới
kế nhiệm Khrushchev vào tháng 10-1964 đã quan tâm nhiều
hơn đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam và hành động leo
thang của Mỹ đã tạo nên nhiều cơ hội và cả những
thách thức mà họ không thể bỏ qua. Chiến dịch ném bom
của Mỹ đã tạo ra nhu cầu về trang thiết bị vũ khí
quân sự tinh vi mà chỉ có Liên Xô mới có khả năng cung
cấp, điều này đã mang lại cơ hội cho Liên Xô kéo Việt
Nam ra xa dần Trung Quốc. Kế đó khi Trung Quốc phê phán
mạnh mẽ sự lãnh đạm của Liên Xô với số phận của
các cuộc cách mạng trên toàn thế giới, mối đe dọa
trực tiếp đối với một nhà nước cộng sản bởi các
cuộc không kích đã đòi hỏi Liên Xô phải chứng tỏ họ
có đáng được tin cậy hay không.
Sự leo thang chiến
tranh của Mỹ đã không buộc hai đối thủ
---------------------------------------------
(1) Trích
trong Townsend Hoopes, Những hạn chế của cuộc can thiệp,
New York, năm 1970, tr.79, Về đối phó của Bắc Việt Nam
với cuộc chiến bằng không quân của Mỹ, xem Jonh M. Van
Dyke, Chiến lược sinh tồn của Bắc Việt Nam, Palo Alto,
Calif., năm 1972.
--------------------------------------------
cộng
sản này quay lại với nhau như George Ball dự đoán.
Lo
sợ trước sự xâm nhập của Liên Xô vào Việt Nam, Trung
Quốc đã giận dữ bác bỏ lời kêu gọi "hành động
phối hợp" của Matxcơva (một từ vay mượn, có thể
là có chủ ý, từ Dulles) và thâm chí còn cản trở hoạt
động viện trợ của Liên Xô dành cho Bắc Việt Nam.
Nhưng chính sự ganh đua quyết liệt đang nóng dần lên
giữa Trung Quốc-Liên Xô lại cho phép Hà Nội kích các
bên gia tăng thêm viện trợ và ngăn không để cho bên nào
giành ảnh hưởng vượt trội. Trung Quốc tiếp tục cung
cấp cho Việt Nam một khối lượng lớn gạo, vũ khí hạng
nhẹ, đạn dược và xe cộ. Viện trợ của Liên Xô tăng
mạnh sau năm 1965, bao gồm cả vũ khí hiện đại như máy
bay chiến đấu, tên lửa đất đối không và xe tăng.
Theo ước tính thì tổng số viện trợ từ Liên Xô và
Trung Quốc cho Bắc Việt Nam trong những năm 1965- 1968 đã
vượt quá 2 tỷ USD.
Nhiều nhân tố khác đã làm
giảm hiệu lực của chiến dịch đánh phá bằng không
quân. Những trận mưa lớn và sương mù dày đặc đã
buộc Mỹ phải cắt giảm các phi vụ ném bom trong mùa mưa
kéo dài từ tháng 9 đến tháng 5.
Các phi công Mỹ
huyênh hoang tuyên bố có thể ném bom với độ chính xác
tuyệt đối nhưng với thời tiết và trình độ kỹ thuật
chẳng có gì tiến bộ hơn chiến tranh thế giới thứ 2
đã tạo nên tình trạng vô cùng thiếu chính xác và nhiều
mục tiêu đã bị ném bom nhiều lần mới có thể phá huỷ
nổi. Hơn nữa, khi bay gần đến Hà Nội và Hải Phòng
thì các máy bay Mỹ đã vấp phải hệ thống phòng không
rất có hiệu lực.
Tên lửa bắn máy bay và các máy
bay chiến đấu MIG do Liên Xô cung cấp tuy không đạt tỷ
lệ tiêu diệt địch cao song đã làm đảo lộn
các phương thức ném bom và buộc phi công Mỹ phải hạ
độ cao, do đó máy bay Mỹ dễ bị ăn đạn của hoả lực
dày đặc từ pháo phòng không và cả vũ khí hạng
nhẹ.
Mặc dù tàn phá trên diện rộng ở Bắc Việt
Nam nhưng chiến dịch ném bom vẫn không đạt được mục
tiêu đặt ra.
Nó đã huy động nhiều nguồn nhân
lực và vật lực lẽ ra có thể chuyển sang dùng vào các
mục đích quân sự khác.
Chiến dịch này cản trở
việc đưa người và hàng vào Nam Việt Nam và những người
chủ trương ném bom thì lý luận rằng nếu không có ném
bom thì mức độ thâm nhập của Bắc Việt Nam có thể đã
lớn hơn nhiều. Tuy nhiên, theo ước đoán chính thức của
Mỹ thì mức độ thâm nhập này đã tăng từ 35.000 người
trong năm 1965 lên tới 90.000 người trong năm 1967, ngay cả
khi hoạt động ném bom dữ dội hơn và mang tính huỷ diệt
hơn. Không thể tính toán chính xác tác động tâm lý của
chiến dịch ném bom đối với Bắc Việt Nam, nhưng nó
không làm lung lay quyết tâm giành chiến thắng của Hà
Nội và thậm chí còn giúp giới lãnh đạo Bắc Việt Nam
động viên nhân dân chi viện một cách có hiệu quả hơn
cho miền Nam.
Đến năm 1967, Mỹ đã trả giá rất
đắt mà chỉ đạt được hiệu quả rất hạn chế. Chi
phí cho một phi vụ sử dụng máy bay B.52 lên tới 30.000
USD cho mỗi lần xuất kích ném bom. Cái giá trực tiếp
phải trả cho cuộc chiến tranh bằng không quân, trong đó
chi phí vận hành máy bay, bom đạn thay thế máy bay bị
tiêu diệt, có thể lên tới 1,7 tỷ USD trong hai năm 1965
và 1966, trong giai đoạn này số máy bay bị bắn rơi vượt
quá 500 chiếc. Tổng cộng, trong 3 năm từ 1965 đến
1968, Mỹ đã mất tại Việt Nam 950 máy bay, trị giá hơn
6 tỷ USD. Theo con số ước tính, nếu Mỹ gây thiệt hại
cho Bắc Việt Nam được 1 USD thì họ phải bỏ ra tới
9,6 USD. Nhưng không thể tính toán tổn thất chỉ bằng
tiền bạc. Các phi công Mỹ bị bắt mang lại cho Hà Nội
một thứ con tin ngày càng quan trọng trong cuộc chiến
tranh.
Việc một nước giàu nhất và tiên tiến nhất
thế giới cứ liên tục đánh bom một nước nhỏ bé và
lạc hậu đã mang lại cho Việt Nam một lợi thế tuyên
truyền và Bắc Việt Nam đã khai thác lợi thế này khá
hữu hiệu. Phong trào phản chiến trong nước Mỹ ngày
càng dâng cao tập trung vào chiến dịch ném bom, một chiến
dịch mà theo nhiều nhà phê bình thì không có hiệu quả
nếu không nói là vô đạo đức.
Các hoạt động
tác chiến trên bộ của Mỹ ở Nam Việt Nam cũng leo thang
mạnh từ năm 1965 đến năm 1967.
Thậm chí trước
khi có trong tay một số lớn quân chiến đấu, Westmoreland
đã định hình một chiến lược sau đó ông ta còn sử
dụng cho tới đầu năm 1968. Đó là chiến lược tiêu hao
sinh lực địch, có mục tiêu quan trọng là xác định
trí nhằm tiêu diệt các đơn vị chính quy Bắc Việt Nam
và Việt Cộng. Westmoreland đã kịch liệt phủ nhận rằng,
ông ta không hề bị kích động bởi bất kỳ "niềm
hứng thú kiểu Napoleon để điều động các đơn vị và
cũng chẳng hứng thú khi nghe tiếng súng ca-nông",
nhưng cái mà sau này được gọi là "tìm và diệt"
lại nói lên học thuyết chiến tranh truyền thống của
quân đội Mỹ. Theo quan điểm của Westmoreland, quyết định
của Bắc Việt Nam điều các đơn vị quân đội với quy
mô lớn tham gia cuộc chiến tranh khiến cho ông ta không
còn sự lựa chọn nào khác là phải đi theo đường
hướng này. ông ta không có đủ lực lượng để giám
sát toàn bộ đất nước này và thậm chí nếu chỉ để
kiềm chế quân chủ lực của đối phương thì cũng không
đủ sức.
ông ta nói: "Phải dùng pháo và bom để
giã vào họ, rồi cuối cùng đẩy họ vào một trận đánh
trên bộ nếu như muốn họ không còn là mối đe dọa mãi
mãi". Rồi ông ta lý sự rằng, một khi tiêu diệt
được quân chủ lực của đối phương thì chính phủ
Nam Việt Nam sẽ có thể ổn định vị thế của mình và
bình định vùng nông thôn, đồng thời buộc Hà Nội
không còn lựa chọn nào khác là phải thương lượng theo
những điều kiện mà Mỹ đưa ra (1).
Chiến lược
hung hăng của Westmoreland đòi hỏi tăng số quân Mỹ tham
chiến tại Nam Việt Nam. Thậm chí trước khi hoàn thành
việc tăng cường số quân vào năm 1965, vị tướng này
đã yêu cầu tăng cường thêm quân đủ để đưa tổng
quân số lên tới 450.000 người trước cuối năm
1966.
Trái ngược với cuộc chiến tranh bằng không
quân chịu sự kiểm soát chặt chẽ, chính quyền Mỹ đã
cho Westmorcland được tự do hành động trong việc phát
triển và xây dựng một chiến lược trên bộ và chính
quyền Mỹ thấy không có cách nào khác là cung cấp cho
ông ta hầu hết số quân mà ông ta yêu cầu. Tháng 6-1966,
tổng thống Johnson phê chuẩn mức quân phải có là
431.000 vào giữa năm 1967.
Trong khi chính quyền Mỹ
đang phê chuẩn những đợt triển khai này thì Westmoreland
đã trong quá trình thực hiện đề nghị tăng quân số
lên 542.000 vào cuối năm
1967.
--------------------------------
(1) William C.
Westmoreland, Báo cáo của người lính, Tp. Garden, N.Y., năm
1976, tr.149-150.
-----------------------------------
Được cung cấp hàng ngàn lính
Mỹ sung sức cùng một khối lượng lớn vũ khí hiện
đại, Westmoreland đã đẩy cuộc chiến đến sát tận
lãnh địa của đối phương. ông ta đã hoàn thành cái mà
nếu gọi là "chuyện thần kỳ về hậu cần" thì
quả là thích hợp, tức là ông ta cho xây dựng chớp
nhoáng các cơ sở vật chất để phục vụ một số lượng
lớn quân Mỹ cùng trang thiết bị với quy mô lớn. Lính
Mỹ được điều đến Nam Việt Nam là những người được
trang bị tốt nhất.
Trong cuộc chiến tranh mà
Westmoreland mô tả là "tinh vi nhất trong lịch sử",
Mỹ tìm cách khai thác ưu thế công nghệ của họ để
đối phó với một cuộc chiến tranh du kích.
Để
xác định đúng vị trí đối phương biến hoá tài tình,
quân đội Mỹ sử dụng các máy ra đa xách tay, nhỏ và
các "máy ngửi" có thể phát hiện được cả mùi
nước tiểu. Người ta dùng máy tính 1430 của hãng IBM
được lập trình để dự đoán thời gian và địa điểm
mà đối phương tấn công. Thuốc diệt cỏ được dùng
trên quy mô lớn và gây nhiều hậu quả môi sinh nhằm làn
phá sự che chở của thiên nhiên đối với Việt cộng.
Phi hành đoàn "RANCHHAND" trên máy bay C-123, với
khẩu hiệu rất mỉa mai "chỉ có các anh là chặn
được các khu rừng", đã rải khoảng 50.000 tấn hoá
chất mang tên Tác nhân da cam lên hàng triệu héc ta rừng,
huỷ diệt một nửa các rừng cây lấy gỗ của Nam Việt
Nam và để lại những tổn thất to lớn về con người
mà nhiều thập kỷ sau vẫn chưa xác định được. Máy
bay vận tải C-24 được chuyển đổi thành máy bay vũ
trang, có thể bắn tới 18.000 viên đạn một phút.
Mỹ
dựa nhiều vào pháo binh và không quân để đánh bật đối
phương với cái giá rẻ nhất và đã tiến hành một
cuộc chiến tranh điên cuồng đánh vào các căn cứ của
Việt cộng và Bắc Việt Nam. Tướng William Depuy, một
trong những kiến trúc sư chính của chiến lược "tìm
và diệt", đã nhận xét: "Giải pháp ở Việt Nam
là thêm bom, thêm đạn pháo, thêm napan... cho đến khi phía
bên kia sụp đổ và đầu hàng" (1). Từ năm 1965 đến
năm 1967, các phi công Nam Việt Nam và Mỹ đã ném hơn 1
triệu tấn bom xuống Nam Việt Nam, gấp hai lần số bom
ném xuống miền Bắc, và còn dùng kiểu ném bom trả đũa
đánh vào các làng xóm tình nghi có Việt cộng. Không quân
được sử dụng để chi viện cho các lực lượng chiến
đấu theo quan điểm "đánh chồng chất", theo đó
quân Mỹ bao vây các đơn vị quân giải phóng sau đó gọi
máy bay đến ném bom. Một sĩ quan mô tả quan điểm này
là: "đánh tơi tả rồi quét sạch" (2 ). Một tỷ
lệ lớn hơn hẳn các trận ném bom tạo nên cái mà người
ta gọi là đánh chặn- tức là những trận oanh tạc ồ
ạt, bừa bãi chủ yếu bằng B- 52 đánh vào các khu căn
cứ và các mạng lướt hậu cần.
Nhiều khu vực ở
Nam Việt Nam được gọi là các "khu bắn phá tự do",
nghĩa là có thể tàn phá mà không cần để mắt tới dân
sống tại đó.
Bắc Việt Nam đã chống chọi với
sự leo thang chiến tranh của Mỹ và sẵn sàng đương đầu
với thử thách này.
Cuối năm 1965, các nhà lãnh đạo
Bắc Việt Nam đã tổng động viên toàn quốc nhằm đánh
bại đế quốc Mỹ
xâm
----------------------------------------------
(1)
Trích trong Daniel Ellsberg, Tư liệu về cuộc chiến tranh,
New York, năm 1972, tr.234.
(2) Littauer và Uphoff, Không
chiến,
tr.52.
-----------------------------------------------
lược".
Nhận thấy chính quyền và quân đội Nam Việt Nam cùng dư
luận tiến bộ Mỹ là những điểm yếu nhất của đối
thủ nên Bắc Việt Nam đã tìm cách dùng lối tác chiến
du kích kết hợp với tác chiến chủ lực nhằm gây sức
ép quân sự tối đa cho chính quyền Việt Nam Cộng hoà và
gây thương vong cho quân đội Mỹ ở mức độ cao nhất
với hy vọng nhờ đó có thể khiến Mỹ chán chường và
kiệt sức bởi cuộc chiến tranh. Giữa những năm 1960,
Bắc Việt Nam có năng lực vận chuyển tới 400 tấn hàng
một tuần và 5.000 quân trong vòng một đến ba tháng qua
đường mòn Hồ Chí Minh trong chuyến đi dài gần 1.000 km
vào Nam Việt Nam.
Trong suốt năm 1965-1966, quân chính
quy Bắc Việt Nam và Việt Cộng đã không cho quân Mỹ giữ
thế cân bằng, bằng cách đập tan các hoạt động tác
chiến "tìm và diệt" của quân đội Mỹ. Năm
1967, họ đã kéo quân đội Mỹ vào các trận đánh lớn
xung quanh các khu phi quân sự nhằm đẩy quân Mỹ khỏi
những vùng đông dân và bỏ lại vùng nông thôn cho Việt
cộng. Về mặt chiến thuật, Bắc Việt Nam dựa vào các
cuộc mai phục và các hoạt động tác chiến chớp nhoáng
và tìm cách "nắm lấy thắt lưng" quân Mỹ trong
những trận chiến giáp lá cà nhằm tối thiểu hoá tác
động của hoả lực vượt trội của Mỹ.
Giống
như Việt cộng, quân chính quy Bắc Việt Nam cũng rất
thiện chiến. Một cố vấn Mỹ đã bực dọc thán phục
những người lính này sau một trận chiến ở cao nguyên
trung phần vào cuối năm l965: "Mẹ kiếp, hãy cho tôi
200 lính có kỷ luật tuyệt vời như vậy, tôi sẽ
giành được toàn bộ đất nước này" (1).
Trong
suốt năm 1966 và 1967, chiến sự ác liệt đã diễn ra
trên phần lớn Nam Việt Nam. Dọc các khu phi quân sự, hải
quân lục chiến Mỹ và quân chính quy Bắc Việt Nam cố
thủ vững chắc như các lực lượng chiến đấu trong
Chiến tranh thế giới thứ 1, dùng pháo binh nã vào nhau
không thương tiếc. ở các vùng rừng núi, các đơn vị
quy mô nhỏ của Mỹ dò dẫm tìm lực lượng đối phương
ẩn náu theo kiểu chiến dịch "tìm và diệt" đánh
vào các khu căn cứ của Việt cộng. Hành quân CEDAR FALLS,
một chiến dịch lớn vào đầu năm 1967, đã điều khoảng
30.000 quân Mỹ đánh vào Tam giác sắt, cứ điểm của
Việt Cộng ngay ở Bắc Sài Gòn.
Sau khi máy bay B-52
rải thảm vùng này, quân Mỹ bao vây và trực thăng đổ
quân chiến đấu được huấn luyện đặc biệt xuống
các làng xã. Sau khi di dân ra khỏi khu vực, những chiếc
máy xúc Rome khổng lồ có răng to ở phía trước san bằng
khu vực đó, huỷ diệt những cây cối còn lại nhằm làm
cho quân giải phóng không còn chỗ án náu. Sau đó toàn
vùng bị đốt cháy và ném bom một lần nữa để phá huỷ
nhiều km địa đạo do quân giải phóng đào đắp.
Kết
quả của các trận đánh trên bộ của Mỹ từ năm l965
đến năm 1967 cho đến nay vẫn còn rất khó đánh giá.
Quân Mỹ đã chiến đấu cừ, bất chấp những điều
kiện gian khổ
mà
------------------------------------------------------
(1)
Thời báo New York ngày 28-10-1965, William J. Duiker, Con đường
giành quền lực của Cộng sản tại Việt Nam, Boulder,
Colo., năm 1981, tr.240-256, có những đánh giá khá thuyết
phục về chiến lược của Bắc Việt Nam. Câu chuyện về
Đường mòn Hồ Chí Minh cũng được kể chi tiết trong
Douglas Pike, "Con đường dẫn tới chiến thắng",
Chiến và Hòa bình, 5, số 60, năm 1984,
tr.1196-1199.
-------------------------------------------------------
họ
phải chịu đựng như rừng rậm, đầm lầy, kiến lửa,
đỉa, hầm chông, phục kích và một đối phương biến
hoá khôn lường và tác chiến ngoan cường. Trong những
tình huống có những đơn vị chủ lực thực sự tham
chiến thì quân Mỹ thường giành thắng lợi và không có
nơi nào ở Nam Việt Nam mà đối phương không bị hoả
lực Mỹ đe doạ. Năm 1967 đã chứng tỏ rằng việc đưa
quân Mỹ vào đã ngăn chặn được thất bại chắc chắn
vào năm 1965.
Trong một cuộc chiến tranh không chiến
tuyến, không có mục tiêu lãnh thổ, với mục tiêu chính
là "tiêu hao địch", thì "việc đếm xác"
trở thành chỉ số xác định sự tiến triển.
Phần
lớn các giới quan chức Mỹ đều nhất trí rằng các con
số công bố là không dáng tin. Chỉ riêng sự huỷ diệt
của trận chiến cũng gây khó khăn cho việc đếm chính
xác quân số bị chết trong chiến đấu. Không thể phân
biệt đâu là Việt cộng, đâu là dân thường, và trong
khói lửa của trận đánh, "các nhà thống kê" Mỹ
chẳng nỗ lực gì nhiều.
Phillipo Caputo hồi tưởng,
"nếu có xác chết là người Việt Nam thì đó là
Việt cộng, đây là việc làm theo kinh nghiệm" (1).
Trong hệ thống chỉ huy đã có lệnh đòi đưa ra những
con số có lợi và hiện tượng thêm thắt vào các con số
đều xảy ra ở mỗi cấp cho đến khi báo về Washington
thì những con số này không còn tính trung thực. Dù con số
đếm xác có bị thổi phồng lên và ước tính sự điều
chỉnh thêm thắt đến 30% thì rõ ràng Mỹ cũng đã gây
tổn thất cho đối phương. Theo những con số chính thức
thì số bị tiêu diệt là 220.000 người đến cuối năm
1967. Chủ yếu
------------------------------------------------
(1)
Caputo, Những đồn đại về cuộc chiến,
tr.xviii.
------------------------------------------------
dựa
vào những con số đó, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ nhấn
mạnh Mỹ đang "thắng" trong cuộc chiến tranh
này.
Cũng giống như cuộc chiến tranh bằng không
quân, chiến lược tiêu hao cũng chứa đựng nhiều sai lầm
nghiêm trọng. Chiến lược này cho rằng Mỹ có thể gây
những tổn thất khủng khiếp cho đối phương nhưng vẫn
hạn chế được tổn thất của mình trong phạm vi chấp
nhận được, một nhận định trái với kinh nghiệm thu
được trong các cuộc chiến tranh trên bộ ở châu á và
thực tế ở Việt Nam. Hàng năm, ước tính có khoảng
200.000 người Bắc Việt Nam đến tuổi nhập ngũ và Hà
Nội Có thể bù đắp số quân hao hụt theo sát từng bước
leo thang chiến tranh của Mỹ. Hơn nữa, những điều kiện
theo đó cuộc chiến tranh được tiến hành lại cho phép
Hà Nội hạn chế được thiệt hại của họ. Quân chính
quy Bắc Việt Nam và Việt cộng có tài ẩn hiện phi
thường, họ có thể tránh giao chiến khi thích hợp. Họ
chủ động lựa chọn thời gian và địa điểm tấn công
trên địa hình thuận lợi với họ. Nếu thiệt hại lên
đến mức không thể chấp nhận được thì họ chỉ việc
toả vào rừng hoặc rút về các căn cứ địa ở Bắc
Việt Nam, Lào và Campuchia.
Do vậy, Mỹ đã lâm vào
thế bế tắc. Bắc Việt Nam và Việt cộng trong một vài
trường hợp cũng bị tổn thất, nhưng quân chủ lực của
họ chưa bao giờ bị tiêu diệt. Họ vẫn giữ được thế
chủ động trên chiến lược, có thể đánh mạnh và đánh
nhanh bất kỳ ở đâu và khi nào tuỳ theo sự lựa chọn
của họ. Westmoreland không có đủ quân để tiến hành
chiến tranh và kiểm soát vùng nông thôn. Vì thế, cơ cấu
chính trị của Việt cộng chủ yếu vẫn chưa bị động
chạm đến và thậm chí ở những vùng như Tam giác sắt,
khi quân Mỹ tiếp tục triển khai chiến đấu ở nơi
khác, Việt cộng lại lãng lẽ luồn trở lại. Năm 1967,
Robert Shaplen nhận xét, tất cả các yếu tố trên dồn
lại tạo nên một "tình trạng không có nổi một
giải pháp nào cả" (1).
Ngày càng nhiều người
hoài nghi chất vấn rằng liệu những tiến bộ đã đạt
được có bù đắp nổi những thiệt hại của các hoạt
động tác chiến quân sự quy mô lớn của quân đội Mỹ
hay không. Chỉ riêng năm 1966, những quả bom và đạn chưa
nổ của Mỹ đã cung cấp cho Việt Cộng đủ thuốc nổ
để tiêu diệt hàng ngàn người. Chiến dịch ném bom ồ
ạt và hoả lực phá hoại nền nông nghiệp vốn là chỗ
dựa của nền kinh tế Nam Việt Nam, gây thương vong cho
dân thường và đẩy hàng triệu người dân vào các trại
tị nạn được xây dựng vội vã hoặc vào các thành phố
quá đông đúc. Các hoạt động quân sự Mỹ càng phá
hoại thêm cơ cấu xã hội của một "quốc gia"
vốn đã yếu kém và đẩy nhân dân càng xa rời chính
quyền Sài Gòn vốn trước đó chưa từng có cơ sở ủng
hộ vững chắc của người dân. Một quan chức Mỹ sau
này nhận xét: "Việc làm này như thể xây một căn
nhà mà lại dùng xe ủi và cần cẩư" (2).
việc
Mỹ hoá cuộc chiến tranh cũng có tác động làm suy yếu
quân đội Nam Việt Nam. Westmoreland đã xin điều quân Mỹ
vì ông ta không tin vào sức chiến đấu của quân đội
Việt Nam Cộng hoà, và khi có được quân Mỹ, ông ta đã
dựa chủ yếu lực lượng này. Trong thời kỳ
Mỹ
----------------------------------
(1) Robert Shaplen,
Con đường từ chiến tranh: Việt Nam, 19ó5-1970, New York,
năm 1970, tr.167.
(2) Stephen Young, trích trong W.Scott
Thompson và Donaldson D. Frizzell, Những bài học Việt Nam,
New York, năm 1977, tr.225.
---------------------------------
chiếm
ưu thế về quân sự, quân đội Việt Nam Cộng hoà bị
gạt sang một bên, được giao cho thi hành những hoạt
động ít quan trọng hoặc làm nhiệm vụ kiểm soát dân
và những công việc vặt mà đám sĩ quan coi là hạ mình
vrà thực hiện với thái độ rất miễn cưỡng. Cảm
nhận về địa vị thấp kém do tình hình trên tạo ra
không thể giải quyết được nhiều vấn đề nhất là
về tinh thần chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng
hoà. Nhiều thời gian và liền bạc đã được đổ vào
huấn luyện và trang bị cho quân đội Việt Nam Cộng hoà
từ năm 1965 đến 1967, nhưng tất cả đều dập theo khuôn
mẫu của Mỹ, chuẩn bị cho quân đội Việt Nam Cộng hoà
chiến đấu trong cuộc chiến tranh mà Mỹ đang tiến hành.
Quân đội Việt Nam Cộng hoà vì thế trở nên phụ thuộc
vào Mỹ hơn bao giờ hết và không được chuẩn bị tốt
để gánh vác nhiệm vụ chiến đấu vào thời gian chưa
được ấn định cụ thể.
Mỹ đã phải trả giá đắt để
có được những thành công hạn chế. Trong nhiều cuộc
hành quân, họ đã phung phí rất nhiều hoả lực và đôi
khi chỉ thu lượm được kết quả không đáng kể. Tham
mưu trưởng Harold Johnson sau này nhớ lại một số cuộc
điều tra cho thấy có tới 85% số bom đạn sử dụng bừa
bãi, "ở một quy mô cao tới mức choáng váng"
(1). Tuy Mỹ diệt được 700 quân Việt Cộng trong cuộc
hành quân CEDAR FALLS, nhưng lực lượng chủ lực của đối
phương đã thoát được. Nhưng đến cuối năm 1967, số
lính Mỹ bị chết trong chiến đấu đã lên tới 13.500
người
-------------------------------------
(1) Phỏng
vấn Harold Johnson, Viện Lịch sử quân sự Mỹ, Trại
Carlisle. Pa.
-------------------------------------
cùng
số thương vong tăng vọt và mức động viên quân dịch
tăng lên đã khiến cho sự phản đối chiến tranh tăng
lên ngay trong lòng nước Mỹ.
Dù có những con số
đếm xác rất gây ấn tượng, nhưng vào giữa năm 1967,
nhiều nhà quan sát thấy rõ là niềm hy vọng về một
thắng lợi quân sự nhanh chóng và tương đối ít chi phí
quả là đã đặt nhầm chỗ. Nhà báo Malcolm Browne nhận
xét, "mỗi cú đánh của Mỹ giống như một nhát búa
tạ đánh vào chiếc nút li-e nổi. Nhưng chiếc nút này
không chịu chìm xuống" (1). Vào lúc này Mỹ đã có
gần 450.000 quân tại Việt Nam. Westmoreland thừa nhận rằng
nếu như yêu cầu tăng thêm 200.000 quân nữa của ông ta
được thông qua, cuộc chiến có lẽ chỉ kéo dài thêm
nhiều nhất là 2 năm nữa. Nếu không, ông ta cảnh báo,
nó có thể kéo dài ít nhất là 5 năm thậm chí còn lâu
hơn nữa.
Trong khi tích cực mở rộng hoạt động
quân sự tại Việt Nam, Mỹ cũng phải vật lộn với cái
mà nhiều người vẫn luôn coi là một vấn đề trung tâm,
tức là xây dựng một quốc gia Nam Việt Nam có sức sống.
Cao Kỳ đã làm cho những nhân vật đa nghi kinh ngạc vì
đã tồn tại được hơn 6 tháng trên cương vị của
mình. Tin rằng họ đã tìm được một cơ sở vững chắc
để từ đó phát triển lên, vào đầu năm 1966, chính
quyền Mỹ đã quyết định nêu rõ những cam kết của
mình và ép Kỳ cải cách chính phủ. Tại cuộc họp
"thượng đỉnh" được dàn xếp vội vã tại
Honolulu, Johnson đã công khai ôm hôn Kỳ, thể hiện một
cam kết mới và tìm cách để
Kỳ
------------------------------------------------------
(1)
Malcolm W.Brownc, Diện mạo mới của cuộc chiến tranh, NXB
lndianpolis, năm 1968,
tr.xi.
------------------------------------------------------
nhất
trí thực hiện một chương trình cải cách sâu rộng.
Tổng
thống Johnson không hề tỏ ý nghi ngờ tầm quan trọng mà
ông ta dành cho chương trình đó. ông ta tuyên bố, thông
cáo Honolulu là một loại "kinh thánh". Nhưng ông
ta cũng không thỏa mãn với những lời hứa hoặc "những
từ ngữ nghe rất kêu" mà phải "có những kết
quả cụ thể" (1).
Ngay khi về Sài Gòn, Kỳ đã
vấp phải một thách thức nội bộ rất quyết liệt. Sau
khi im lặng gần một năm, thấy cuộc gặp gỡ Honolulu là
một dấu hiệu rõ ràng chứng tỏ Kỳ được sự giúp đỡ
của Mỹ sẽ giữ quyền lực tuyệt đối, giới Phật
giáo một lần nữa xuống đường. Cũng giống như những
gì đã diễn ra vào năm 1963, biểu tình bắt đầu nổ ra
ở Huế và dưới sự lãnh đạo của các hoà thượng,
những cuộc biểu tình này lan nhanh đến Sài Gòn và hội
tụ được nhiều nhóm người phản đối chế độ như
học sinh, sinh viên, công đoàn lao động, giáo dân và thậm
chí cả các phe phái trong quân đội. Những cuộc biểu
tình này mang màu sắc chống Mỹ ngày một cao. ở Huế và
Đà Nẵng xuất hiện các khẩu hiệu "Đả đảo ách
thống trị nước ngoài trên đất nước chúng ta".
Một đám đông giận dữ đã đốt lãnh sự quán Mỹ ở
Huế và lính cứu hoả thì không chịu dập tắt lửa.
Cuộc
khủng hoảng Phật giáo bộc lộ rõ những yếu kém của
chính quyền Sài Gòn và thế yếu của Mỹ ở Việt
Nam.
Sự tồn tại của một cuộc nội chiến thực
sự trong lòng một cuộc chiến tranh đã dập tắt những
mối hy vọng vừa mới
---------------------------------------
(1)
Chỉ thị của Johnson. ngày 8-2-1966, Văn kiện Johnson, Hồ
sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ các cuộc gặp quốc tế:
Honolulu, Hộp 2.
---------------------------------------
nhen
nhóm lên về chính quyền của Kỳ. Những người phản
đối thì chủ trương tổ chức bầu cử và khôi phục
lại chính quyền dân sự, những vấn đề mà Mỹ khó có
thể từ chối. Bộ Ngoại giao Mỹ lại sợ rằng nếu
nhân nhượng cho phật tử thì sẽ "đẩy chúng ta
nhanh đến một con đường đầy chông gai và cạm bẫy
hơn dự kiến của chúng ta rất nhiều", và Rusk đã
chỉ thị cho sứ quán thuyết phục các lãnh tụ Phật
giáo ôn hoà rút những "yêu sách thiếu thực tê"
vì làm như vậy chỉ tạo nên "mối nguy hiểm nghiêm
trọng là chuyển giao đất nước cho Việt cộng" (1).
Khi hoạt động "hoà giải" của Mỹ thất bại và
cuộc khủng hoảng trở nên xấu đi thì một số quan chức
trong chính quyền Mỹ đề nghị bỏ rơi Kỳ để cứu Nam
Việt Nam, và một số người khác còn bắt đầu xây dựng
kế hoạch để Mỹ rút lui trong danh dự. Nguyễn Cao Kỳ
bị ăn đòn tứ phía đã hành động mà không xin phép Mỹ
trước để rồi cuối cùng giải toả được thế bế
tắc của Mỹ và cũng tự cứu mình bằng cách điều
1.000 lính hải quân lục chiến Việt Nam Cộng hoà tới Đà
Nẵng trấn áp lực lượng "phiến loạn". Phật
tử phải lùi bước trước lực lượng áp đảo hơn, rồi
phải rút lui tuy có phản đối yếu ớt. Tuy rất bực về
cách làm việc "vượt mặt" của Kỳ, nhưng chính
quyền Mỹ rất thỏa mãn với kết quả đạt được.
William Bundy nhớ lại: "Tổng thống Johnson dứt khoát
gạt bỏ phương án rút lui và tất cả chúng tôi đều
thấy nhẹ
người"(2).
----------------------------------------------
(1)
Rusk gửi Đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn, ngày 16-3-1966,
Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ các
nước:Việt Nam, hộp 28; Rusk gửi Đại sứ quán Mỹ tại
Sài Gòn. ngày 5-4-1966, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc
gia, Hồ sơ các nước:Việt Nam, hộp 29.
(2) Phỏng vấn
William Bundy, Văn kiện
Johnson.
------------------------------------------------
Sau
cuộc khủng hoảng Phật giáo, Mỹ và chính quyền Nam Việt
Nam phấn đấu giữ vững những lời cam kết tại
Honolulu. Theo quan điểm của Washington, việc bình định là
vấn đề ưu tiên hàng đầu. Cải thiện mức sống cho
dân chúng Nam Việt Nam được coi là một lĩnh vực của
cuộc chiến tranh. Johnson tin rằng cần tranh thủ sự ủng
hộ của dân chúng để tạo cho cuộc chiến tranh đi tới
một mục đích cao cả hơn. ông ta trau chuốt bài hùng
biện bằng những thứ như chương trình tiêm chủng, cải
cách giáo dục và dùng các chuyên gia của Mỹ để giúp
người dân Nam Việt Nam nuôi giống lợn thịt to hơn hoặc
trồng được nhiều khoai lang hơn. Có lần ông ta thốt
lên: "Mẹ kiếp! Chúng ta cần thể hiện niềm say mê
hơn cho những người dân Việt Nam chân chất này... Chúng
ta phải được thấy chính quyền Nam Việt Nam giành chiến
thắng... tranh thủ trái tim và lòng yêu mến của người
dân"(1). Dưới sự thúc đẩy của Washington, những
người Mỹ và chính quyền Nam Việt Nam đã thiết kế một
chương trình phát triển nông thôn có tên gọi khá kêu là
Chương trình Phát triển cách mạng (RD), một chương trình
bắt chước cách làm của Việt cộng, theo đó các tổ
với quy mô 59 người được huấn luyện về công tác
tuyên truyền và dịch vụ xã hội đi xuống các làng xã
sống cùng với dân vàthực hiện các nhiệm vụ để
tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng đối với chính
quyền nhằm làm suy yếu Việt
cộng.
---------------------------------------
(1) Jack
Valenti, Một Tổng thống thật "nhân đạo", New
York, năm 1973, tr.133, Loay Bua Johnson, Nhật ký Nhà Trắng,
New York, năm 1970,
tr.370-371.
-----------------------------------------
công
cuộc phát triển nông thôn cũng vấp phải nhiều vấn đề
giống như trước đây đã làm vô hiệu hoá "chương
trình bình định". Bộ máy quan liêu của Sài Gòn và
sự hợp tác tồi tệ giữa các quan chức Mỹ và Nam Việt
Nam đã cản trở công tác quản lý kế hoạch này. Không
thể tuyển được người có đủ năng lực ở một nước
thiếu nguồn nhân lực và thực sự chỉ có chưa đầy
một nửa số người cần thiết để tham dự huấn luyện.
Các ứng viên được huấn luyện
đại trà trong 3 tháng và phần lớn chưa được chuẩn bị
tốt cho nhiệm vụ nặng nề đang chờ đợi họ. Khi đi
vào thực tế, các toán phát triển nông thôn cảm thấy
thất vọng ngay vì các quan chức địa phương coi họ như
một mối đe doạ. Kinh phí hứa hẹn cho nhiều dự án
không bao giờ đến đúng địa chỉ. Còn người dân từng
chứng kiến nhiều chương trình khác đến rồi lại đi,
nên họ đón chào các công vụ viên, những người đi
thực hiện chương trình này, với sự thận trọng và
lãnh đạm. Do tình trạng thiếu nhân lực kinh niên, rất
nhiều công cụ viên thường được điều chuyển tới
các vùng mới trước khi hoàn thành công việc ở nơi cũ
và cho dù những thành quả đạt được là gì thì chúng
cũng mau chóng tan biến. Có khi những việc làm tốt của
các toán phát triển nông thôn lại bị các đơn vị quân
đội Việt Nam Cộng hoà phá hỏng vì họ thường bóp nặn
dân làng nộp thuế, phí và ăn cắp cả lợn gà. Khi được
hỏi cái gì là yếu tốt cốt lõi để thực hiện thành
công công tác bình định ở khu vực của mình, một cố
vấn Mỹ đã thẳng thừng nói rõ: "Hãy điều sư đoàn
22 của Việt Nam Cộng hoà cút khỏi tỉnh đó"
(1).
-----------------------------------------
(1) Giác thư
của Daniel Ellsberg, ngày 30-3-1966, Văn kiện John P.Vang, Viện
Lịch sử quân sự Mỹ, trại Carlisle,
Pa.
-----------------------------------------
vấn đề
cơ bản là thiếu an ninh. Lực lượng quân sự Mỹ bị
cuốn hút vào cuộc chiến đấu và ít có thời gian chú ý
đến cái mà sau này được gọi là "một cuộc chiến
tranh khác" (bản thân cụm từ này nói lên sự thiếu
hiệp đồng giữa chương trình bình định và các hoạt
động quân sự). Trong hầu hết các trường hợp, quân
đội Việt Nam Cộng hoà không thể bảo đảm an ninh và ở
một số vùng thì an ninh lại là vấn đề chính yếu. Đôi
khi các toán phát triển nông thôn đạt được những
thành tích nhất định, nhưng thành tích đó lại trở
thành con số không khi máy bay Mỹ ném bom các làng xóm mà
họ vừa xây dựng. Các Công vụ viên thường được cử
đến những vùng mất an ninh, nơi có Việt cộng quấy
rối. Nhiều người đã bỏ chạy, những người ở lại
và làm việc hiệu quả thường bị trừng trị. Trong
tháng 7- 1963, 3.015 công vụ viên tham gia chương trình phát
triển nông thôn đã bị giết hoặc bắt cóc (1).
Trong
tình hình đó, "chương trình bình định" hầu như
không đạt kết quả. Tuy đường xá được sửa sang,
trường học được xây dựng, các cuộc bầu cử hương
xã được tổ chức, nhưng với những phương pháp định
lượng rất không chính xác, nên trong thực tế số xã
"được bình định" chỉ tăng 5% trong năm đầu
tiên. Cố gắng làm hồi sinh chương trình này, vào mùa
xuân năm 1967, tổng thống Johnson đã trao cho Bộ tư lệnh
quân sự Mỹ trực tiếp phụ trách chương trình này và
Westmoreland đã thuyết phục quân đội Việt Nam Cộng hoà
vốn đang lừng khừng phải triển khai
một
-------------------------------------------------
(1)
Douglas A. Blaufarb, Kỷ nguên chống nổi dậy: Các học
thuyết và việc thực hiện của Mỹ, New York, năm 1977,
tr.205-242.
----------------------------------------------
lực
lượng lớn để bảo đảm an ninh ở các vùng nông
thôn.
Những thay đổi này cuối cùng đã đem lại
kết quả tốt hơn, nhưng vào lúc mà cố gắng quân sự
to lớn của Mỹ không thu được kết quả gì hơn một
thế bế tắc thì thất bại của "chương trình bình
định" đã thực sự khiến nhiều người phải nản
lòng.
ít nhất có một lĩnh vực mà hai quốc gia đã
đạt được mục tiêu của thông cáo Honolulu là soạn
thảo được Hiến pháp mới và tổ chức được tuyển
cử. Người Mỹ không cho rằng việc xuất khẩu dân chủ
sẽ giải quyết được các vấn đề của Nam Việt Nam.
Ngược lại, nhiều người nhất trí với Lodge (lúc này
trở lại nhiệm kỳ đại sứ lần thứ hai) rằng, việc
tạo dựng một nền dân chủ thực sự ở một nơi vốn
không có truyền thống dân chủ phương Tây "quả là
một việc không thể làm được". Một số người lo
sợ rằng, một quá trình chính trị mở cửa thực sự sẽ
dẫn đến rối loạn. Tuy vậy người Mỹ cũng cảm thấy
một Hiến pháp mới và các cuộc tuyển cử sẽ tạo cho
Nam Việt Nam một hình ảnh đẹp hơn, theo lời của Lodge,
thì "có thể làm cho các cuộc đảo chính triền miên
không còn thế hợp pháp nữa"(1).
Chế độ
Nguyễn Cao Kỳ đã ngoan ngoãn nghe theo lời khuyên của Mỹ
nhưng theo cách thức vẫn bảo đảm cho mình đứng vững.
Các cuộc tuyển cử để bầu ra quốc hội hợp hiến bị
kiểm soát chặt chẽ đến mức bị giới Phật giáo tẩy
chay. Quốc hội Việt Nam Cộng hoà đã họp vào đầu năm
1967 và ban hành ra Bản Tuyên ngôn nhân quyền,
với
-------------------------------------------
(1) Henry
Cabot Lodge, Jr, Quá nhiều mắt bão, New York, năm 1973,
tr.215.
---------------------------------------------
nội
dung dựa trên các mô hình của Mỹ và Pháp, chứa đựng
những lời lẽ bóng bẩy. Tuy nhiên, chính phủ vẫn có
được quyền hành pháp mạnh mẽ và có những quy định
cho phép tổng thống Việt Nam Cộng hoà nắm quyền lực
gần như là độc tài trong những trường hợp khẩn cấp,
những trường hợp có thể được tuyên bố tuỳ ý của
tổng thống. Những ai bị gán là cộng sản, hoặc "những
người thuộc phái trung lập có cảm tình với cộng sản"
đều bị gạt ra khỏi chính quyền.
Tổng thống
được bầu trên cơ sở đa số phiếu, đảm bảo rằng
các ứng cử viên đối lập không thể liên kết lại để
giành thắng lợi.
Trong quá trình vận động trước
bầu cử, Mỹ lặng lẽ nhưng kiên quyết ủng hộ những
nỗ lực của chính quyền Việt Nam Cộng hoà giữ vững
quyền lực. Bộ Ngoại giao Mỹ tỏ ý lo ngại về việc
gạt bỏ toàn bộ các ứng cử viên đối lập nhưng Lodge
đã thắng thế với lập luận rằng "đừng làm chính
quyền Nam Việt Nam nản chí không thực hiện những biện
pháp ôn hoà để ngăn cản Việt cộng lợi dụng các cuộc
bầu cử làm phương tiện tiếm quyền" (1). Thách thức
nghiêm trọng nhất đối với chính quyền Nam Việt Nam nảy
sinh từ cuộc đấu đá nội bộ gay gắt mà chỉ giải
quyết được nhờ sức ép quyết liệt của Mỹ, và sau
một cuộc họp kéo dài đầy vẻ đạo đức giả trong
cuộc họp này, Nguyễn Cao Kỳ "buồn bã" nhân
nhượng và đồng ý ra tranh cử chức phó tổng thống
trong một danh sách do Thiệu đứng
đầu.
----------------------------------
(1) Thượng
viện Quốc hội Mỹ, Tiểu ban Xây dựng công trình công
cộng, Văn kiện Lầu Năm góc (Bản gửi tới các Thượng
nghị sĩ) (4 quyến), Boston, năm 1971, quyển II,
tr.384.
----------------------------------
cuộc tuyển
cử tháng 9-1967 không xấu xa như lời buộc tội của các
nhà phê bình, và cũng không trong sạch như tuyên bố của
Johnson. Chế độ này đã tiến hành tuyển cử theo những
điều kiện khó dẫn họ đến sự thất bại và cũng có
những chứng cứ về sự gian lận ở mức độ lớn vào
phút chót. Những kết quả bầu cử và việc tổ chức
tuyển cử trong không khí chiến tranh được Mỹ nêu lên
như chứng cứ của sự trưởng thành ngày càng tăng về
chính trị của chính quyền Sài Gòn. Nhìn lại thì thấy
thắng lợi của chính quyền Sài Gòn cũng chỉ ở mức độ
hẹp. Liên minh Thiệu-Kỳ được 35% số phiếu, Trương
Đình Du (một luật sư vô danh, người đã tranh cử với
một cương lĩnh thương lượng với Việt cộng) được
17% số phiếu. Cuộc tuyển cử có thể làm cho chế độ
này được tôn trọng ở mức độ nào đó, nhưng đồng
thời cũng nói lên rằng nó vẫn còn yếu kém. Trong một
quốc gia mà quyền lực chính trị do ý trời định đoạt
và sự ủng hộ của quần chúng chỉ dừng ở mức thực
hiện nghĩa vụ, thì mức độ nhỏ bé của thắng lợi là
điều lố bịch. Nhiều người Việt Nam mỉa mai gọi toàn
bộ quá trình này là "một màn kịch do Mỹ đạo diễn
với dàn diễn viên Nam Việt (l).
Trong khi Mỹ và Nam
Việt Nam phấn đấu giải quyết những vấn đề cũ thì
quá trình Mỹ hoá cuộc chiến tranh đã sản sinh ra nhiều
vấn đề phức tạp, trong đó gay cấn nhất là bi đát
nhất là vấn đề dân tị nạn. Các hoạt động quân sự
của Mỹ và của đối phương phát triển lên đã đẩy
khoảng 4 triệu dân Nam Việt Nam, khoảng 25% số dân, khỏi
quê hương
------------------------------------------------------
(1)
Shaplen, Con đưowfng từ chiến tranh,
tr.151.
--------------------------------------------------------
của
họ. Một số dạt về các thành phố vốn đã đông đúc;
một số khác bị dồn vào các trại tị nạn tồi tàn.
Mỹ đã cấp cho chính quyền Nam Việt Nam khoảng 30 triệu
USD/năm để lo cho dân tị nạn, nhưng phần lớn số tiền
này không đến tay người dân. Các chương trình tái định
cư thỉnh thoảng cũng được khởi động nhưng vấn đề
diễn ra phức tạp đến mức những quan chức giàu tưởng
tượng nhất cũng không còn giữ nổi tính trung thực.
Không gì có thể bù đắp lại những thiệt hại cho dân
tị nạn khi họ bị mất nhà cửa, ruộng vườn. Một bộ
phận lớn dân Nam Việt Nam lâm vào tình trạng vô gia cư
và trở nên có thái độ thù địch với chính quyền Việt
Nam Cộng hoà, còn các trại tị nạn lại trở thành mảnh
đất màu mỡ để Việt Cộng hoạt động.
Việc
đột ngột đưa vào nửa triệu quân Mỹ, hàng trăm cố
vấn dân sự, nhiều tỉ USD đã phá hoại sâu sắc một
quốc gia vốn đã yếu kém và chia rẽ. Mức độ tăng
cường lực lượng quá nhanh và quá lớn đến nỗi nó đe
dọa đè bẹp Nam Việt Nam. Các cảng của Sài Gòn chật
cứng tàu bè, hàng hoá, và các tàu chờ dỡ hàng đậu
thành dãy dài ra tận biển. Shaplen nhận xét: Thành phố
này đã trở thành "một thành phố phát triển nhanh
toàn diện", phố phường tràn ngập xe cộ, các nhà
hàng "nhung nhúc binh lính dữ dằn", các quán rượu
"đông đặc như các chuyến xe điện ngầm ở New York
vào giờ cao điểm" (1). Dấu hiệu về sự hiện diện
của Mỹ tràn ngập khắp nơi. Nhiều quán rượu và nhà
chứa nhanh chóng mọc lên quanh các khu căn cứ. Tại một
làng xa xôi gần Đà Nẵng, Caputo trông thấy nhiều căn
nhà làm bằng lon
bia
---------------------------------------------
(1) Sách
đã dẫn, tr.20-21.
--------------------------------------
bỏ
đi: "Lon bia Budweiser màu đỏ trắng, lon bia Miller màu
vàng, lon bia Schlitz màu kem và nâu, lon bia Hamm màu xanh lơ
và vàng" (1).
Sự tiêu xài của lính Mỹ có tác
động phá hoại nền kinh tế yếu kém của Nam Việt Nam.
Giá cả tăng đến 170% chỉ trong 2 năm đầu Mỹ tăng
cường lực lượng. Cuối cùng, Mỹ phải kiểm soát tỷ
lệ lạm phát bằng cách trả lương lính Mỹ bằng séc và
đổ vào Nam Việt Nam một lượng hàng hoá tiêu dùng lớn,
nhưng chính những biện pháp khắc phục này cũng có nhiều
tác dụng phụ tai hại. Thay vì dùng tiền viện trợ Mỹ
để thúc đẩy phát triển kinh tế, các nhà nhập khẩu
Nam Việt Nam đã mua đồng hồ, đài bán dẫn, xe Hon da để
bán cho những người làm thuê cho Mỹ. Việc đổ ào ạt
hàng hoá Mỹ vào đã phá huỷ một số ít ỏi các ngành
công nghiệp địa phương và làm cho nền kinh tế của Nam
Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào viện trợ triền miên
của nước ngoài. Đến năm 1967, phần lớn dân thành phố
đã được thuê để cung cấp dịch vụ cho Mỹ.
Trong
bầu không khí phồn vinh đó, tội phạm và tham nhũng nở
rộ. Tham nhũng không phải là mới mẻ đối với Nam Việt
Nam hoặc là một hiện tượng khác thường ở một số
nước có chiến tranh, nhưng vào năm 1966, nó đã hoành
hành ở mức độ không thể tin nổi. Các quan chức chính
quyền Sài Gòn cho Mỹ thuê đất với giá rất cao, đòi
hối lộ để cấp giấy phép lái xe, hộ chiếu, thị thực
và giấy phép lao động, thu tiền "lại quả" của
những người nhận hợp đồng xây dựng và phục vụ các
khu cư xá và căn cứ, tham
gia
-----------------------------------------------
(1)
Caputo, Lời đồn về cuộc chiến,
tr.107.
-----------------------------------------------
nhập
thuốc phiện. Chợ đen buôn bán séc, USD và hàng Mỹ ăn
cắp được đã trở thành những hoạt động kinh doanh
phát đạt Tại các khu căng-tin của lính Mỹ ở Sài Gòn,
có một chợ trời trải dài tới hai dãy nhà lớn và bao
gồm trên 100 sạp hàng, khách hàng có thể mua mọi thứ
từ lựu đạn đến rượu whisky Scotch với giá đắt hơn
tới 300%.
Người Mỹ và Nam Việt Nam thu
được lợi nhuận béo bở qua trao đổi tiền tệ bất
hợp pháp. Những tên lừa đảo quốc tế và bọn buôn
lậu tiền nhanh chóng nhảy vào làm ăn và hoạt động
buôn lậu tiền đã phát triển thành "một mạng lưới
tài chính quốc tế to lớn" trải ra từ Sài Gòn tới
tận phố Wall với nhiều mối quan hệ với các ngân hàng
Thụy Sĩ và tập đoàn Arập. Nạn tham nhũng lan tràn đã
phá hoại chương trình viện trợ Mỹ và cản trở những
cố gắng của Mỹ nhằm ổn định nền kinh tế Nam Việt
Nam (1).
Các quan chức Mỹ nhận thức được vấn đề
nhưng họ không thể tìm ra giải pháp. Nguyễn Cao Kỳ phải
thừa nhận rằng, "đa số các tướng lĩnh đều tham
nhũng. Một số quan chức cao cấp ở các tỉnh đều tham
nhũng". Sau đó ông ta còn bình tĩnh bổ sung: "Tham
nhũng có ở mọi nơi và dân chúng có thể chung sống với
một mức độ tham nhũng nào đó như các ngài vẫn cùng
tồn tại với nó ở Chicago và New York vậy" (2). Đại
Sứ quán Mỹ ép chính quyền Sài Gòn
loại
-------------------------------------------------------
(1)
Thời báo New York, ngày 16-11-1966: Abraham Ribicoff gửi Robert
McLellan, ngày 15-11-1969, và bút lục, ngày 15-1-1979, Văn
kiện Abraham Ribicoff, Thư viện Quốc hội, Washington D.C.,
hộp 432.
2) Harry McPherson gửi Johnson, ngày 13-6-1967, Văn
kiện Johnson, Hồ sơ McPherson, hộp
29.
-------------------------------------------------------
bỏ
các quan chức tham nhũng nhưng cũng chẳng mấy kết quả.
Một người Mỹ với tâm trạng chán nản đã giải thích
cho David Halberstam: "Anh đấu tranh vật lộn để buộc
sa thải một số người và phần lớn là anh thất bại
và anh càng làm cho nạn tham nhũng tệ hại hơn. Có những
lúc anh đạt được mục đích thì họ lại bổ nhiệm
cho anh một số người cũng tệ hại không kém" (1).
Mỹ thất vọng khi thấy cam kết của họ càng tăng thì
ảnh hưởng của họ càng giảm. Nỗi lo lắng về nạn
tham nhũng và sự bất lực luôn luôn bị dồn nén lại vì
lo ngại rằng một hành động nặng tay có thể làm cho
chính quyền Nam Việt Nam xa lánh và dẫn đến chỗ sụp
đổ. Lodge và Westmoreland có chiều hướng chấp nhận tình
hình và quay sang giải quyết những vấn đề khác.
Khi
quân Mỹ càng tăng lên thì quan hệ giữa người Mỹ à
Nam Việt Nam càng trở nên căng thẳng. Do những yếu kém
về an ninh nên Mỹ không để người Nam Việt Nam tới gần
các căn cứ lớn của họ và do việc Việt Cộng leo sâu
vào hàng ngũ cấp cao của quân đội Việt Nam Cộng hoà
nên các sĩ quan Mỹ buộc phải giữ bí mật với các đồng
nghiệp Nam Việt Nam về chi tiết của các hoạt động
quân sự lớn.
Người Mỹ công khai nghi ngờ đồng
minh của mình. Một sĩ quan Mỹ nhận xét với ý mỉa mai
rằng: "Tôi chỉ ước sao các thành viên của bộ tộc
phía Nam này thể hiện được phẩm chất chiến đấu
giống như những người anh em miền Bắc của họ"(2).
Quân đội việt Nam Cộng hoà thực sự
trở
----------------------------------------------------------
(1)
David Halberstam, Trở lại Việt Nam, Harpers 235, tháng
12-1967, tr.52.
(2) Tướng A.S. Collins gửi Edward F.Smith,
ngày 15-11-1966, Văn kiện A.S. Collins, Viện Lịch sử quân
sự Mỹ, Trại Carlisle,
Pa.
-------------------------------------------------------
thành
mục tiêu để diễu cợt. Theo một chuyện tiếu lâm tiêu
biểu của quân Mỹ thì cách đánh của quân Việt Nam Cộng
hoà được thể hiện tốt nhất qua bức tượng người
lính ngồi trong nghĩa trang quân sự toàn quốc. Việc quân
đội Việt Nam Cộng hoà chậm tiếp thu các phương pháp
của Mỹ khiến cho các cố vấn Mỹ rất bực bội. Một
người Mỹ chua chát nói: "Tôi tin chắc rằng, nếu để
cho Sài Gòn tự bảo vệ mình thì nơi này 20 năm sau sẽ
lại trở thành những cánh đồng lúa"(1). Vẻ thờ ơ
của nhiều người Việt Nam, trong khi người Mỹ đang bỏ
xác trên chiến trường, đã khơi dậy lòng căm phẫn và
hận thù. Khả năng của nông dân giỏi tránh mìn và hố
chông cạm bẫy mà họ làm ra từng giết hại và làm tàn
tật lính Mỹ đã dẫn đến những lời buộc tội họ
đồng loã với kẻ thù.
Thái độ của người Nam
Việt Nam đối với người Mỹ vẫn rất mập mờ. Nhìn
chung, chính quyền Việt Nam Cộng hoà đánh giá cao lòng
quảng đại của Mỹ, nhưng họ không ưa cách làm việc
của người Mỹ. Họ phàn nàn lính Mỹ "khinh thường"
nhân dân, phá hoại đường xá và đe dọa sinh mạng của
dân thường qua việc điều khiển xe cộ và hoả lực một
cách bừa bãi. Một thiếu tá quân đội Việt Nam Cộng
hoà phản đối việc Mỹ chỉ tin cậy những người Việt
Nam ngoan ngoãn chấp nhận cách hành động của họ, và Mỹ
phân phát viện trợ nhỏ giọt "theo cách bố thí cho
kẻ ăn mày"(2). Chính quyền Việt Nam Cộng hoà thừa
nhận
họ
--------------------------------------------------------
(1)
Nhật ký Curtis Herrick. ngày 13-1-1965, Văn kiện Curtis
Herrick, Viện Lịch sử quân sự Mỹ, Trại Carlisle, Pa.
(2)
Báo cáo tác chiến Psyops hàng tuần, ngày 2-12-1967, Văn
kiện Vann.
----------------------------------
cần Mỹ
giúp đỡ và một số người bằng lòng để Mỹ gánh vác
trách nhiệm hoàn toàn đối với chiến tranh. Mặt khác,
nhiều người trong số họ căm ghét thái độ hống hách
của người Mỹ và coi "ách chiếm đóng" của Mỹ
như là một "tai hoạ làm suy sụp tinh thần". Theo
nhận xét của Shaplen, những người Việt Nam có đầu óc
sâu sắc thừa nhận Mỹ không phải là "lũ thực dân"
nhưng "ở đây đã nảy nở một không khí thực dân
mà đôi khi có thể còn tệ hơn là chính quyền chủ nghĩa
thực dân" (1).
Do vậy, bước tiến trong lĩnh
vực kiến thiết quốc gia quan trọng này thậm chí còn
hạn chế hơn bước tiến trên chiến trường. Nhưng chắc
chắn chính quyền Sài Gòn đã tồn tại được và sau
thời kỳ bất ổn triền miên dưới sự lãnh đạo của
Nguyễn Khánh, đã có biểu hiện tiến bộ. Nhưng thực ra
họ tồn tại được chủ yếu là do sự hiện diện quân
sự mạnh mẽ của Mỹ, chứ không phải là nhờ sự ủng
hộ tăng lên của nhân dân hoặc sức mạnh nội tại. Trở
lại Nam Việt Nam sau nhiều năm vắng mặt, Halberstam cứ
bị ám ảnh bởi một cảm giác quen thuộc. Đúng là có
những bộ mặt mới, những chương trình mới, vô số
nguồn lực và người Mỹ vẫn tiếp tục ăn nói đầy
lạc quan. Nhưng các vấn đề cũ vẫn còn là những giải
pháp "mới" dường như chẳng có gì hơn. Ông ta
kết luận, "điều cuối cùng làm tôi kinh ngạc là ở
đây sự thay đổi thực sự mới nhỏ bé làm sao"
(2).
Tình trạng dần mở rộng chiến tranh đã khơi
dậy những sức ép mạnh mẽ trong nước và quốc tế đòi
thương lượng,
------------------------------------------------
(1)
Shaplen, Con đường từ cuộc chiến, tr.154.
(2)
Halberstam, "Trở lại Việt Nam",
tr.50.
-------------------------------------------
nhưng
những bế tắc về quân sự cũng lại tạo nên một thế
bế tắc ngoại giao nặng nề không kém. Các quan chức Mỹ
về sau đã tổng kết lại là từ năm 1965 đến năm 1967,
đã có tới hơn 2.000 nỗ lực nhằm bắt đầu các cuộc
đàm phán hoà bình. Không có bên nào tỏ ra thờ ơ với
những nỗ lực như vậy nhưng cũng chẳng có bên nào muốn
có những nhượng bộ cần thiết để các cuộc đàm phán
trở thành hiện thực. Mỹ sợ rằng Bắc Việt Nam lợi
dụng các sáng kiến hoà bình để giành lợi thế tuyên
truyền, và tranh thủ sự mệt mỏi về cuộc chiến tranh
này của dân chúng Mỹ. Hà Nội thì kiên quyết từ chối
thương lượng nếu như Mỹ không có những nhượng bộ
lớn. Johnson và các cố vấn của ông ta không thể làm
ngơ trước nhiều đề nghị thương lượng, nhưng họ
không tin là sẽ đạt được kết quả từ các cuộc
thương lượng đó, và họ có lý do để nghi ngờ rằng,
Hà Nội tỏ ra quan tâm đến thương lượng chỉ vì muốn
Mỹ ngừng ném bom. Dù hoàn toàn chưa có bằng cớ gì về
kết quả sẽ đến, nhưng tổng thống Johnson, ít ra cho
đến năm 1967, vẫn tự tin rằng, cuối cùng thì Bắc Việt
Nam sẽ bị khuất phục trước áp lực quân sự của Mỹ.
Do vậy, ông ta lo ngại rằng nếu như tỏ ra quá hoà giải
thì sẽ có hại cho chiến lược của mình. Để tháo ngòi
nổ cho các chỉ trích từ trong nước và quốc tế,
Johnson nhiều lần khẳng định rằng ông ta sẵn sàng đàm
phán nhưng lại từ chối những nhượng bộ mà Bắc Việt
Nam đòi hỏi. Khi mỗi bên đều dồn sức nhiều hơn vào
cuộc chiến thì khả năng thương lượng nghiêm túc cứ
giảm dần (1).
----------------------------------------------
(1)
Allan E.Goodman, Hoà bình bị đánh mất: Sự mưu cầu giải
pháp đàm phán của Mỹ về vấn đề Việt Nam,
Stanford, Calif, năm 1978,
tr.23-60.
-------------------------------------------------
Lập
trường của cả hai bên không có chỗ cho sự thỏa hiệp.
Bắc Việt Nam lên án Mỹ dính líu vào Việt Nam là vi phạm
trắng trợn hiệp định Geneva, và nhấn mạnh điều kiện
tiên quyết để đi đến thương lượng là Mỹ phải rút
quân, triệt thoái các căn cứ quân sự, ngừng mọi hoạt
động chiến tranh chống đất nước họ. Hà Nội nhấn
mạnh rằng, vấn đề của Nam Việt Nam phải do chính
người Nam Việt Nam giải quyết theo cương lĩnh của Mặt
trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Rõ ràng, Bắc
Việt Nam linh hoạt trong vấn đề đặt thời gian và cơ
chế cho một sự thay đổi chính trị ở miền Nam, nhưng
họ lại rất kiên quyết đối với các vấn đề cơ bản,
rằng phải thay chế độ "bù nhìn" Sài Gòn bằng
một chính quyền đại diện cho "nhân dân", trong
đó Mặt trận Dân tộc- giải phóng miền Nam Việt Nam sẽ
đóng vai trò chủ đạo. Hơn thế, Hà Nội tuyên bố rõ
ràng "thống nhất đất nước cũng là một vấn đề
phải thương lượng chẳng khác gì vấn đề độc lập
của chúng tôi" (1).
Mỹ chính thức nêu rõ lập
trường của mình vào đầu năm 1966. Được thuyết phục
rằng chẳng bao lâu nữa sẽ phải mở rộng ném bom và
tăng số quân đưa vào miền Nam, nên Johnson thỏa thuận,
nhưng có phần lưỡng lự, là sẽ bắt đầu một đợt
ngừng ném bom vào ngày lễ giáng sinh. Theo lời McNamara,
đợt ngừng ném bom này phần nào được dàn dựng để
"đặt nền tảng trong tư duy dân chúng Mỹ và dư luận
thế giới... về một giai đoạn chiến tranh mở
rộng"(2).
-------------------------------------------
(1)
Trích trong Gareth Porter, Một nền hoà bình bị chối từ:
Mỹ, Việt Nam và Hiệp định Paris (Bloomington, Ind, 1975),
tr.29.
(2) Văn kiện Lầu Năm góc (Gravel), IV,
33.
-----------------------------------------------------
Do vậy, tổng thống quyết định
kết hợp đợt ngừng ném bom này với một "chiến
dịch hoà bình" được tuyên truyền ầm ĩ. Với cách
thức hết sức phô trương, Johnson đã cử những nhân vật
xuất sắc như Averell Harriman và phó tổng thống Hubert
Humphrey vượt dại dương truyền đạt một thông điệp
cho thấy Mỹ sẵn sàng thương lượng để đi đến một
giải pháp.
Cùng lúc đó, Bộ Ngoại giao Mỹ "tiết
lộ" những điều kiện của Mỹ cho một giải pháp.
Sau này, Rusk tuyên bố, "chúng tôi đặt mọi thứ vào
cuộc thương lượng, chỉ trừ sự đầu hàng của Nam
Việt Nam", nhưng trong thực tế kế hoạch Mười bốn
điểm của chính quyền Mỹ đưa ra chứa đựng rất ít
điểm nhân nhượng (1). Mỹ nêu rõ họ sẵn sàng ngừng
ném bom nhưng chỉ sau khi Hà Nội có những bước xuống
thang tương tự. Họ sẽ rút quân khỏi miền Nam nhưng chỉ
sau khi đã đạt được một giải pháp chính trị thỏa
đáng. Chính quyền Mỹ chấp nhận nguyên tắc: tương lai
của Nam Việt Nam sẽ phải do người Nam Việt Nam tạo
dựng. Đồng thời, chính quyền Nam Việt Nam cũng nêu rõ
họ sẽ không chấp nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng
miền Nam Việt Nam tham gia chính quyền. Một hành động mà
theo tuyên bố công khai của Humphrey sẽ giống như "nhốt
cáo vào chuồng gà"(2). Kế hoạch mười bốn điểm
chỉ thừa nhận rằng quan điểm của Mặt trận Dân tộc
giải phóng miền Nam Việt Nam "sẽ chẳng khó khăn gì
để được trình
-----------------------------------------
(1)
Chester Cooper, Cuộc thập tự chinh thất bại: Nước Mỹ
tại Việt Nam (New York, 1970), tr.294.
(2) Henry Graff, Nội
các ngày thứ ba (Englewood Cliffs. N.J., 1970),
tr.67.
------------------------------------------
bày",
nhưng chỉ sau khi Hà Nội "ngừng xâm lược". Đằng
sau những lời lẽ mập mờ này là cả một quyết tâm to
lớn muốn duy trì một Nam Việt Nam độc lập, phi cộng
sản.
Số phận của "chiến dịch hoà bình"
của Johnson càng đào sâu hố ngăn cách to lớn giữa hai
quốc gia. Câu trả lời chính thức của Chủ tịch Hồ
Chí Minh là không thỏa hiệp.
Bắc Việt Nam chỉ ra
sự khác nhau giữa việc Mỹ can thiệp vào một nước
khác, sự dính líu của họ vào các vấn đề liên quan
đến người Việt Nam và họ kiên quyết từ chối có
hành động đáp lại để đổi lấy việc ngừng ném bom.
Sau khi lên án đợt ngừng ném bom là "trò lừa bịp
hoà bình", Hồ Chí Minh đòi "Mỹ chấm dứt ném
bom và các hoạt động đánh phá khác chống Việt Nam một
cách vô điều kiện và mãi mãi" (1). Một số quan
chức chính quyền Mỹ yêu cầu tổng thống Johnson kéo dài
đợt ngừng ném bom, nhưng ông ta đã tức giận từ chối.
Sau khi ngừng ném bom 37 ngày, Johnson lại tiếp tục và mở
rộng chiến dịch ném bom. Ông ta chưa bao giờ hào hứng
với việc ngừng ném bom, và từ lúc này trở đi, ông ta
có thái độ cứng rắn trong việc đưa ra những biện
pháp hoà giải. Theo Bundy, "đó là một hiệp đấu gay
cấn hơn"(2).
Để bịt miệng các nhà phê bình
trong nước và quốc tế, vào cuối năm 1966 chính quyền
Mỹ điều chỉnh lập trường của họ đôi chút. Trong
suốt mùa hè và mùa thu, phía trung gian cố tìm một cơ sở
chung để tiến tới thương lượng, và sau nhiều chuyến
đi lại không mệt mỏi giữa Hà Nội và
Sài
-------------------------------------------------
(1)
Cooper, Cuộc Thập tự chinh thất bại, tr.294.
(2) Phỏng
vấn William Bundy, Văn kiện
Johnson.
-------------------------------------------------------------
Gòn,
nhà ngoại giao Ba Lan Januscz Lewandowski đã thảo ra một kế
hoạch 10 điểm để giải quyết cuộc xung đột.
Johnson
và các cố vấn của ông ta rất nghi ngờ cuộc vận động
hoà bình mà ông ta khinh miệt gọi là "cơn sốt giải
thưởng Nobel". Họ cảm thấy bản dự thảo của
Lewandowki rất mập mờ về nhiều điểm quan trọng và
khiến Mỹ thua thiệt quá nhiều. Nhưng chính quyền Mỹ
không dám tỏ ra không nhượng bộ và cuối cùng họ chấp
nhận đề nghị của Lewandowki làm cơ sở cho thương
lượng, nhưng dè dặt đối với bản kế hoạch này khi
cho rằng "một số điểm cụ thể còn tuỳ thuộc ở
mức độ quan trọng vào những cách hiểu khác nhau".
Đáp lại lời đề nghị tha thiết của Lewandowki, Mỹ
cũng đưa ra một đề nghị hai hướng nhằm tạo một lối
thoát danh dự lách qua được lập trường của Hà Nội
phản đối việc hai bên cùng xuống thang. Mỹ sẽ ngừng
ném bom để đổi lấy lời cam kết có thể tin cậy được
của Hà Nội về việc Bắc Việt Nam sẽ ngừng thâm nhập
vào các khu vực then chốt của Nam Việt Nam trong một thời
gian hợp lý.
Một khi Hà Nội chấp nhận thì Mỹ sẽ
giữ các lực lượng chiến đấu ở mức độ hiện tại
và các cuộc hoà đàm có thể bắt đầu (1).
Sáng
kiến mang mật danh Cúc vạn thọ (MARIGOLD) của Ba Lan đã
kết thúc trong sự thất bại. Sau này, các phát ngôn viên
của Hà Nội tuyên bố rằng, một phái đoàn Việt Nam lúc
ấy đã trên đường tới Vác-sa-va, nơi các cuộc
đàm
----------------------------------------------------
(1)
George C.Hening , Ngoại giao bí mật của chiến tranh Việt
Nam: Phần về đàm phán trong các Tài liệu của Lầu Năm
góc, Austin, Texas, năm 1983,
tr.211-370.
---------------------------------------------------
phán
đã được ấn định bắt đầu vào tháng 12, nhưng cho
đến nay Mỹ vẫn chưa rõ Bắc Việt Nam lúc đã nhất trí
với bản kế hoạch 10 điểm đó đến mức độ nào và
sẵn sàng thỏa hiệp những vấn đề cơ bản đến đâu.
Dù sao chăng nữa, thì rõ ràng là sáng kiến này đã chết
yểu. Vài ngày trước khi khai mạc các cuộc đàm phán
theo lịch trình, máy bay Mỹ đã đánh các ga xe lửa chỉ
cách trung tâm Hà Nội 8km, gây thiệt hại lớn cho dân cư
và cướp di sinh mạng của nhiều dân thường. Dù vẫn
được giải thích cuộc ném bom này là một sản phẩm
của sự hiệp đồng tồi trong chính quyền Mỹ, tức là
tay phải không biết tay trái đang làm gì, nhưng thật ra
cuộc ném bom này là kết quả của một quyết định có
tính toán. Lodge, McNamara và thứ trưởng Ngoại giao
Nicholas Katzenbach đều yêu cầu tổng thống Mỹ kiềm chế
đừng ném bom gần Hà Nội trong giai đoạn vô cùng tế
nhị khi Lewandowki đang thực hiện cuộc vận động ngoại
giao của mình, nhưng Johnson đã bỏ ngoài tai. Cũng giống
như các quan chức Mỹ khác, ông ta nghi ngờ toàn bộ sự
dàn xếp này là một "trò hề" và nhấn mạnh
rằng, cuộc ngừng ném bom trước đây đã không được
coi như điều kiện tiên quyết cho các cuộc đàm phán
Vácsava (1). Có thể những ý kiến đánh giá của Johnson
về ý đồ của Hà Nội là đúng, nhưng chắc hẳn trong
con mắt của Hà Nội thì các trận ném bom tháng 12 diễn
ra sau một đợt ngừng dài do thời tiết xấu là một
bước leo thang của cuộc chiến tranh được tính toán cho
trùng khớp với cuộc vận động hoà bình Bắc
Việt
-------------------------------------------
(1) Phỏng
vấn William Bundy và Nicholas Katzenbach, Văn kiện
Johnson.
------------------------------------------
Nam
luôn nhấn mạnh rằng, họ sẽ không thương lượng trong
tình trạng bị gây sức ép và họ đã nhanh chóng chấm
dứt tiếp xúc. Kế hoạch Cúc vạn thọ đã "tàn
lụi".
Một sáng kiến do thủ tướng Anh Harold
Wilson khởi xướng cũng chịu chung số phận vào đầu năm
1967.
Wilson đã thuyết phục thủ tướng Liên Xô
Alexei Kosygin, lúc đó đang ở thăm London, cố gắng đưa
Bắc Việt Nam tới các cuộc thương lượng hoà bình chính
thức trên cơ sở đề nghị hai hướng đã được tiết
lộ trong cuộc vận động cho kế hoạch Cúc vạn thọ.
Nhưng vào lúc Kosygin đồng ý với kế hoạch của Wilson
thì lập trường của Mỹ lại cứng rắn lên.
Với
tâm trạng điên khùng, Johnson quay lại lập trường cũ là
Hà Nội phải ngừng thâm nhập trước khi ông ta ngừng
ném bom. Wilson không được thông báo về sự thay đổi
này. Khi biết được lập trường thực sự của Johnson,
ông vô cùng tức giận với một cảm nghĩ chính đáng
rằng, ông đang bị đẩy vào "một tình huống chết
tiệt". Nhưng vị thủ tướng kiên trì này đã nhanh
chóng tìm được một biện pháp thỏa hiệp mà Kosygin
đồng ý chuyển cho Hà Nội, nhưng Washington chỉ cho ông
15 giờ để hoàn thành công việc trước khi lệnh ném bom
được liếp tục. Cái mà sau này Wilson miêu tả là một
"cơ hội lịch sử" đã qua đi do "thời gian
biểu rất phi thực tế này"
(1).
---------------------------------------------
(1)
Harold Wilson, Chính phủ Lao động, 1964-/970: Bản lưu riêng,
London, năm 1971, tr.359-3365. Benjamin Read, thư ký thường
trực gửi Dean Rusk, sau này xác nhận rằng sự hiểu lầm
có nguyên nhân bởi cách nói tuỳ tiện trong bức điện
gửi London. Bức điện này giải thích về lập trường
của Mỹ, theo Read, đã sẵn sàng "thắp đèn dầu nửa
đêm mà chẳng cần sự hiện diện của luật sư",
phỏng vấn Read, Văn kiện
Johnson.
-----------------------------------------------
Wilson thật ra đã thổi
phồng về khả năng của các cuộc thương lượng. Sự
sẵn lòng của Kosygin trong vai trò trung gian đã cho thấy
sự chuyển hướng quan trọng trong chính sách của Liên
Xô. Chừng nào mà cuộc chiến làm chệch hướng tập
trung và nguồn lực của Mỹ khỏi những khu vực khác và
cho phép chúng hạ bớt ảnh hưởng của Trung Quốc với
Hà Nội, thì Liên Xô sẵn sàng tiếp tục hướng đi.
Nhưng sự leo thang tiếp tục của Mỹ, sự nổi lên của
Cách mạng văn hoá ở Trung Quốc, cùng lối nói gay gắt
gia tăng của Trung Quốc có thể đã làm khơi dậy nỗi lo
ngại của Liên Xô rằng tình hình ở Đông Nam á sắp
không thể kiểm soát nổi. Liên Xô dường như cũng bị
báo động bởi những tiếp xúc công khai Trung-Mỹ tại
Vácsava, qua việc giận dữ buộc tội hai nước này đang
âm mưu hiệp lực để áp đặt điều kiện cho Bắc Việt
Nam. Kosygin có thể đã rút ra kết luận vào đầu năm
1967 rằng Liên Xô mong muốn chấm dứt chiến tranh, và một
giải pháp thông qua thương lượng sẽ cô lập Trung Quốc
và củng cố vị thế của Liên Xô với Bắc Việt Nam và
Mỹ. Tuy nhiên, khả năng đi tới một giải pháp của Liên
Xô cũng rất hạn chế. Kosygin không thể gây sức ép với
Hà Nội quá gay gắt để cho Hà Nội rơi vào tay Trung
Quốc, nước đang buộc tội Liên Xô "phá đám và
phản bội" khi câu kết với Mỹ gây tổn thất cho Hà
Nội.
Nhưng Kosygin có thể đồng ý không gì khác là
một giải pháp có thể đáp ứng được những mục tiêu
cơ bản của Hà Nội.
Để đối phó với sức ép
quốc tế, và trong trường hợp của Mỹ là có cả sức
ép trong nước, vào năm 1967, mỗi bên đều thận trọng
nhích từng bước khỏi lập trường cứng nhắc của họ
trong 2 năm về trước. Bắc Việt Nam không còn đòi hỏi
Mỹ phải chấp nhận 4 điểm của họ, trong đó có việc
Mỹ rút quân hoàn toàn khỏi Việt Nam như điều kiện
tiên quyết đi đến thương lượng, tuy nhiên, Mỹ vẫn
phải ngừng ném bom vô điều kiện. Hà Nội cũng nới
lỏng các điều kiện cho một giải pháp, và trong nhiều
điều nêu ra có một ý cho rằng, việc thống nhất đất
nước có thể diễn ra trong một thời gian dài.
Mỹ
rút khỏi lập trường ban đầu là Bắc Việt Nam phải
rút quân khỏi miền Nam để đổi lấy việc Mỹ ngừng
ném bom, mà chỉ yêu cầu không được tiếp tục thâm
nhập vào miền Nam nữa. Dù cho có nhượng bộ như vậy,
lập trường của cả hai bên vẫn còn cách nhau rất xa về
vấn đề làm cách nào để bắt đầu các cuộc thương
lượng. Dù lập trường thương lượng của họ đã thay
đổi chút ít, nhưng họ vẫn chưa từ bỏ các mục tiêu
cơ bản. Mỗi bên đều đã nếm mùi thất bại và đã
chịu tổn thất nặng trên chiến trường nhưng đều giữ
hy vọng có thể buộc bên kia chấp nhận điều kiện của
mình. Do vậy, hai bên vẫn chưa muốn nhượng bộ về một
vấn đề trọng tâm-tương lai của Nam Việt Nam- tới mức
mà các mục tiêu của họ có thể sẽ bị nguy hại. Chính
quyền Johnson đã xử lý tồi sáng kiến Wilson-kosygin,
nhưng ít có lý do để cho rằng, một đường lối đối
ngoại dù tài giỏi nhất và kiên trì nhất chưa chắc đã
đạt được một bước đột phá trong hoàn cảnh không
nước nào sẵn sàng chịu nhượng bộ. Một học giả đã
kết luận: Câu chuyện về các sáng kiến hoà bình trong
những năm 1965-1967 đã đánh dấu "một trong những
chương thất bại nhất trong hoạt động ngoại giao của
Mỹ" (1).
---------------------------------------------
(1)
Goodman, Nền hoà binh bị đánh mất,
tr.24.
-----------------------------------------------
Giữa
năm 1967, Johnson đã bị sập vào chiếc bẫy mà ông ta đã
vô tình dăng ra cho chính mình. Niềm hy vọng của ông ta
về một thắng lợi nhanh và ít đau đớn đã tan vỡ. Lúc
này, Johnson tha thiết muốn kết thúc chiến tranh, nhưng
lại không thể làm điều đó bằng sức mạnh, và vào
lúc không có một lợi thế quân sự rõ ràng hoặc một
vị thế chính trị mạnh hơn ở Nam Việt Nam, ông ta cũng
không thể làm được điều đó thông qua thương lượng.
Hơn nữa, khi cái giá phải trả cho cuộc xung đột tăng
lên, ông ta thấy mình bị kẹt trong một cuộc tranh cãi
ngày càng dữ dội và chia rẽ ở trong nước, cuộc tranh
cãi mà vào năm 1967 dường như có thể đe dọa chức vị
tổng thống của ông ta và làm tơi tả nước Mỹ.
Một
đầu cực đoan là phái "diều hâu", phần lớn
bao gồm các đảng viên cánh hữu của Đảng Cộng hoà và
các đảng viên bảo thủ của Đảng Dân chủ, nhìn nhận
cuộc xung đột ở Việt Nam như là một bộ phận cần
thiết trong chiến lược toàn cầu chống chủ nghĩa cộng
sản. Họ lập luận nếu Mỹ không đứng vững ở Việt
Nam thì cộng sản sẽ được khuyến khích bành trướng,
các đồng minh và các nước trung lập sẽ khuất phục
trước áp lực của cộng sản và Mỹ chỉ còn lại một
mình đơn độc đối phó với một kẻ thù mạnh. Vốn là
những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc, biết chắc về sức
mạnh vô địch của Mỹ và rất thất vọng trước thế
bế tắc ở Việt Nam, phái "diều hâu" kiên quyết
phản đối những quy định kiềm chế đối với giới
quân sự và đòi chính quyền làm tất cả những gì cần
thiết để giành thắng lợi. Hạ nghị sĩ Mendel River đã
khuyên tổng thống Johnson vào đầu năm 1966: "Chiến
thắng hoặc cút
ra"(1).
---------------------------------------------
(1)
Biên bản cuộc họp với các nhà lãnh đạo Quốc hội,
ngày 25-1-1966, Văn kiện Johnson, Biên bản các cuộc họp,
hộp 1.
---------------------------------------------
Còn
ở đầu cực đoan kia là phái "bồ câu", một
nhóm có quy mô lớn với nhiều thành phần, có thái độ
chống chiến tranh ngày càng gay gắt và mãnh liệt. Phong
trào chống chiến tranh tăng lên tỷ lệ thuận với mức
độ leo thang chiến tranh. Nhóm này gồm nhiều cá nhân rất
khác nhau như bác sĩ nhi khoa Benjamin Spock, nhà vô địch
quyền Anh hạng nặng Mohammad Ali, nữ diễn viên Jane Fonda
và nhà văn Norman Mailer, những nhân vật theo đường lối
hoà bình kiểu cũ như A.J. Muste và những người cấp tiến
như Tom Hayden, nhà hoạt động nhân quyền người da đen
tiến sĩ Luther King và thượng nghị sĩ bang Arkansas William
Fulbright. Phái "bồ câu" chỉ bao gồm một tỷ lệ
nhỏ dân số nhưng đó là một nhóm duy nhất có tài diễn
thuyết là rất sôi nổi. Họ đả kích đường lối đối
ngoại của Mỹ một cách mạnh mẽ và không thương tiếc.
Có lúc phong trào của họ gắn chặt với cuộc cách mạng
văn hoá đang tràn ngập nước Mỹ vào cuối thập niên
1960 và thách thức những thể chế và chuẩn mực cơ bản
nhất của nước Mỹ.
Mặc dù không tuân theo một
cách phân loại chính xác nào, nhưng phong trào chống chiến
tranh có xu hướng tập hợp theo 3 đường lối cơ bản
(1). Đối với những nhân vật theo chủ nghĩa hoà bình
như Muste, những người chống mọi cuộc chiến tranh vì
coi nó là vô đạo đức, thì Việt Nam chỉ là một giai
đoạn tiếp theo trong một cuộc thập tự chinh suốt đời.
Đối với phong trào cấp tiến non trẻ của thập niên
1960, thì việc chống chiến tranh vượt ra ngoài ranh
giới
-----------------------------------------
(1) Charles
DeBenedetti, Cải cách hoà bình trong lịch sử nước Mỹ,
Bloomington, năm 1984,
tr.171-178.
-----------------------------------------
của
những vấn đề đạo đức. Bắt nguồn từ phong trào đòi
dân quyền, "phái tả mới" chủ yếu thu hút thanh
niên thuộc giai cấp trung lưu lớp trên từ các trường
đại học và nó đã hoà nhập với các tổ chức tả
khuynh lâu đời hơn trong cách nhìn nhận cuộc chiến tranh
như một thí dụ cổ điển về cách giai cấp thống trị
Mỹ bóc lột người dân để duy trì một hệ thống tư
bản chủ nghĩa mọt ruỗng (1). Những người theo phái tự
do chống chiến tranh có số lượng nhiều hơn hẳn số
người theo chủ nghĩa hoà bình và cấp tiến. Nói chung
tuy không chất vấn "chế độ", nhưng họ đặt
dấu hỏi nhiều về cuộc chiến tranh ở cả hai mặt đạo
đức và thực tế. Nhiều người theo chủ nghĩa quốc tế
tự do đã từng ủng hộ chiến tranh thế giới thứ 2,
chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh lạnh lại thấy
cuộc chiến tranh Việt Nam thật đáng chê trách về mặt
đạo đức. Những người này lý luận, qua việc nâng đỡ
cho một chính quyền thối nát và chuyên chế, nước Mỹ
đã phản bội những nguyên tắc của chính mình. Trong
tình hình không có mối đe dọa trực tiếp với nền an
ninh - Mỹ thì không thể nào biện bạch cho sự tàn phá
trút lên hai miền Nam, Bắc Việt Nam. Nhiều nhân vật khác
theo phái tự do chất vấn về cuộc chiến tranh trên những
vấn đề thực tiễn. Họ cho rằng thực chất đó là một
cuộc đấu tranh nội bộ, nếu có liên quan đến chiến
tranh lạnh thì cũng chỉ là liên quan gián tiếp. Phái tự
do còn chất vấn giá trị của thuyết Đô-mi-nô, đặc
biệt sau khi quân đội Indonesia lật đổ Sukamo và đàn áp
Đảng Cộng sản của nước này. Họ nhất trí rằng,
Việt Nam cũng chỉ có ý nghĩa hạn chế
đối
-----------------------------------------
(1) lrwin
Unger, Phong trào, New York, năm 1974,
tr.35-93.
-----------------------------------------------------
với
nền an ninh của Mỹ. Họ nhấn mạnh rằng, số tiền to
lớn đầu tư vào đó đã làm phân tán sự quan tâm của
Mỹ đối với các vấn đề cấp bách hơn ở trong nước
và quốc tế, gây thiệt hại cho quan hệ giữa Mỹ và
đồng minh và cản trở việc phát triển mối quan hệ có
tính xây dựng hơn với Liên Xô. Sự phê bình của phái
tự do nhanh chóng phát triển thành việc lên án "chủ
nghĩa toàn cầu" của Mỹ. Fulbright nói, Mỹ đã
trở thành nạn nhân của thói "kiêu ngạo về quyền
lực" và "những dấu hiệu của sự kiêu ngạo
chết người đó - việc dàn trải quá mức sức mạnh và
nhiệm vụ của mình - chính là những yếu tố trước đây
từng huỷ hoại thành phố Athens cổ đại, nước Pháp
của Napoleon và nước Đức trong tay chế độ quốc xã"
(1).
Các nhóm khác nhau hình thành nên "phong trào"
đó lại bất đồng với nhau và trong nội bộ từng nhóm
về mục tiêu và phương pháp. Đối với các nhân vật
theo phái tự do và chủ nghĩa hoà bình thì việc kết thúc
chiến tranh chính là cái đích, nhưng đối với phái cấp
tiến thì nó chỉ là một phương tiện để đi đến cái
đích cuối cùng là lật đổ chủ nghĩa tư bản Mỹ.
Nhiều nhân vật cấp tiến thuộc "phái tả mới"
sợ rằng, nếu kết thúc chiến tranh sớm có thể làm hao
mòn tinh thần cách mạng và cản trở việc đạt tới mục
tiêu chính. Phần lớn các nhân vật theo phái tự do không
đi quá đà tới chỗ chủ trương rút khỏi Việt Nam, lại
càng không muốn làm cách mạng trong nước mà chỉ đòi
hỏi chấm dứt ném bom, xuống thang từng bước và đi đến
thương lượng.
----------------------------------------
(1)
Thomas Powers, Việt Nam: Cuộc chiến từ trong nước, Boston,
năm 1984, tr.118.
-----------------------------------------
Sự
bất đồng về phương pháp còn gay gắt hơn. Phái tự do
nói chung thiên về cách phản đối phi bạo lực và hoạt
động chính trị trong khuôn khổ có trật tự và tìm cách
gạt những người cộng sản ra khỏi cuộc biểu tình.
Các nhân vật cấp tiến và một số người theo chủ
nghĩa hoà bình ngày càng thúc ép phải chuyển từ chỗ
phản đối sang chống đối, và một số người còn công
khai chủ trương dùng bạo lực để lật đổ một chế
độ vốn mang tính bạo lực.
Hoạt động chống
chiến tranh mang rất nhiều hình thức khác nhau. Fulbright
đã thực hiện một loạt các cuộc điều trần được
truyền hình toàn quốc, trình bày công khai vấn đề trước
toàn thể các nhà phê bình về chính sách của chính quyền
Mỹ. Hàng trăm hành động thách thức cá nhân diễn ra. Nữ
ca sĩ Joan Baez không chịu nộp phần thuế thu nhập vì cho
rằng khoản tiền đó rồi sẽ bị rót vào ngân sách quốc
phòng. Muhammad Ali tuyên bố từ chối nhập ngũ vì lương
tâm thấy điều đó không đúng nên không nhận lệnh gọi
quân dịch. Ba lính nghĩa vụ lục quân-được mệnh danh
là bộ ba của căn cứ Fort Hood - chất vấn lính hợp hiến
của cuộc xung đột bằng cách từ chối tham gia cuộc
chiến tranh mà theo họ là "phi nghĩa, vô đạo đức
và bất hợp pháp". Đại uý Howard Levy dùng lý luận
về trách nhiệm cá nhân nêu trong các phiên toà xét xử
tội phạm chiến tranh tại Nuremberg để biện minh cho việc
ông từ chối huấn luyện cho các toán lính chiến sau đó
sẽ được ném vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Hàng ngàn
thanh niên Mỹ khai thác những kẽ hở pháp lý, thậm chí
một số người còn tự làm mình tàn tật, để trốn
quân dịch; một số người khác trốn sang Canada hoặc thà
ngồi tù chứ không chịu sang Việt Nam chiến đấu. Một
số ít người sử dụng cách thức phản đối của sư
sãi Nam Việt Nam và đã công khai tự thiêu. Năm 1966-1967,
những cuộc mít-linh và biểu tình chống chiến tranh đã
thu hút được nhiều người hơn. Hàng ngày, những người
phản đối diễu hành quanh nhà Trắng hô lớn: "Này
Johnson, hôm nay ông giết chết bao nhiêu đứa trẻ?"
và "Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh. Mặt trận Dân tộc giải
phóng miền Nam Việt Nam sẽ thắng". Các lực lượng
phản chiến tìm cách "biểu tình nằm" trước các
căn cứ huấn luyện của quân đội, hiến máu cho Việt
cộng và cản trở công việc của các Uỷ ban tuyển quân,
quan chức tuyển quân và công ty hoá chất Dow, một trong
những công ty sản xuất bom napan được sử dụng ở Việt
Nam. Ngày 21-10-1967 đã diễn ra một hành động phản đối
gây tiếng vang nhất khi có khoảng 100.000 người chống
chiến tranh tập trung ở Washington và khoảng 35.000 người
biểu tình ở Lầu Năm góc - "cơ quan đầu não của
chủ nghĩa quân phiệt Mỹ".
Tác động của hoạt
động phản đối chiến tranh vẫn là một trong những vấn
đề gây tranh cãi nhất. Những biểu hiện bất mãn rõ
ràng ở Mỹ đã khích lệ Hà Nội tiếp tục chiến đấu
cho đến khi giành thắng lợi. Phong trào phản đối chiến
tranh không làm cho dân chúng Mỹ chống chiến tranh như lý
luận của một số nhà phê bình. Hiệu quả của phong
trào này cũng có mức độ bởi chính trong hàng ngũ của
nó cũng có sự chia rẽ. Các cuộc bỏ phiếu thăm đò dư
luận công chúng cho thấy, đa số phần tử cực đoan và
"hippie" còn đáng ghét hơn là chính cuộc chiến
tranh.
Thậm chí do được tiến hành theo một cách
thức sai lầm nên phong trào phản đối có thể còn củng
cố thêm sự ủng hộ cho một cuộc chiến tranh vốn tự
nó không được lòng dân. Tác động của phong trào lại
càng hạn chế và không rõ ràng. Nó làm cho công chúng Mỹ
nhận thức được vấn đề Việt Nam, nó không thừa nhận
lý do của cuộc chiến tranh và của những chính sách đối
ngoại thời chiến tranh lạnh.
Phong trào phản đối đã hạn
chế những lựa chọn quân sự của Johnson và có thể
ngăn cản mọi xu hướng leo thang chiến tranh mạnh mẽ
hơn. Có lẽ quan trọng nhất là các vụ phá rối và chia
rẽ do phong trào chống chiến tranh gây nên đã tạo sự
mệt mỏi và lo lắng trong các nhà hoạch định chính sách
và trong công chúng, do đó cuối cùng đã khuyến khích
những nỗ lực nhằm tìm lối thoát cho cuộc chiến tranh
(1).
Đa số dân chúng Mỹ bác bỏ cả lập trường
"diều hâu" lẫn "bồ câu", nhưng khi cuộc
chiến tranh kéo dài và cuộc tranh cãi ngày càng phân tán
thì nỗi lo của công chúng tăng hẳn lên. Sau khi mở rộng
chiến tranh năm l965, sự ủng hộ của công chúng tăng
lên, đó là hiện tượng tập hợp dưới cột cờ vẫn
thường diễn ra.
Nhưng rồi sự thất bại của việc
leo thang chiến tranh không tạo được kết quả rõ rệt
và có nhiều dấu hiệu cho thấy phải cần thêm quân và
tăng thuế cao hơn để duy trì một cuộc chiến tranh kéo
dài và có thể không có kết thúc thì những yếu tố này
đã tạo nên tâm trạng tuyệt
...
----------------------------------------------
(1)
DeBenedetii, Cải cách hoà bình, tr.l74-182; Melvin Small, "Tác
động của phong trào chống chiến tranh đối với Lyndon
Johnson, 1965- 1968: Một báo cáo sơ bộ", Hoà bình rà
Biến động, quyển X, mùa xuân năm 1984,
tr.1-17.
-----------------------------------------------
… vọng và mất bình tĩnh ngày
càng tăng (1). Nhà phân tích dư luận xã hội Samuel Lubell
nhận xét: Nếu có một loài chim tiêu biểu cho sự bất
mãn ngày càng tăng của công chúng Mỹ đối với chiến
tranh Việt Nam thì đó là loài hải âu lớn, khi nhiều
người Mỹ cùng chung "ý muốn sôi sục muốn rũ bỏ
một gánh nặng không mong đợi", ý kiến sau đây của
một bà nội trợ có lẽ phản ánh hay nhất thái độ của
công chúng Mỹ: "Tôi muốn rút ra nhưng tôi không muốn
nhân nhượng"(2).
Trong năm 1967, sự ủng hộ cho
cuộc chiến đã giảm hẳn. Cho đến mùa hè năm đó, số
lượng động viên quân dịch vượt quá 30.000 mỗi tháng
và đã có trên 13.000 lính Mỹ chết ở Việt Nam. Đầu
tháng 8, tổng thống Johnson đề nghị tăng thuế thêm 10%
để trang trải cho những chi phí đang tăng dần của cuộc
chiến tranh. Những cuộc bỏ phiếu thăm dò dư luận ngay
sau đó cho thấy lần đầu tiên đa số người Mỹ cảm
thấy nước mỹ đã sai lầm khi can thiệp vào Việt Nam,
và đại đa số cho rằng, dù có cố đổ thêm nhiều
nguồn lực vào cuộc chiến thì nước Mỹ cũng "chẳng
làm nên chuyện gì khá hơn". Tỷ lệ công chúng tán
thành cách Johnson xử lý cuộc chiến giảm chỉ còn 28%
vào tháng
10.
-----------------------------------------------------------
(1)
Sidney Verba, đã dẫn, "Dư luận xã hội và cuộc chiến
tranh tại Việt Nam", Tạp chí Khoa học chính trị Mỹ
số 61, tháng 6-1967, John E. Mueller, "Những xu hướng
trong sự ủng hộ của dân chúng đối với cuộc chiến
tranh tại Triều Tiên và Việt Nam", sánh đã dẫn, số
65, tháng 6-1967, tr.358-375; và Peter W. Sperlich và William
L.Lunch, "Dư luận xã hội Mỹ và cuộc chiến tranh tại
Việt Nam", Tạp chí Chính trị học Phương Tây hàng
qúi, số 32, tháng 3-1979, tr.21-44. (2) Samuel Mueller,
Cuộc khủng hoảng bị che dấu trong lòng nước Mỹ, New
Yrork, năm 1971,
tr.254-260.
----------------------------------------------------------
Sự
giảm sút niềm tin trong dân chúng Mỹ cũng được thể
hiện trên báo chí và trong quốc hội. Một số tờ nhật
báo lớn ở thủ đô đã chuyển từ ủng hộ sang chống
cuộc chiến tranh vào năm 1967 và những ấn phẩm đầy
ảnh hưởng của tạp chí Cuộc sống lúc đầu cực kỳ
"diều hâu" nhưng bây giờ lại bắt đầu đặt
ra nhiều câu hỏi gay gắt đối với các chính sách của
chính quyền. Các nghị sĩ quốc hội thấy không thể bỏ
phiếu chống lại việc cấp ngân sách cho các lực lượng
Mỹ trên chiến trường và do dự không muốn thách thức
trực tiếp tổng thống, song cũng nhiều người lúc đầu
kiên quyết ủng hộ thì nay lại công khai chống lại
Johnson. Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hoà Thruston B. Morton
thuộc bang Kentucky thừa nhận là đã có lúc ông theo phái
"diều hâu cực đoan", nhưng rồi lại phàn nàn
rằng, Mỹ "đã bị dồn vào chân tường ở đó",
và nhấn mạnh, "cần phải có sự thay đổi" (1).
Các phụ tá của nhà Trắng lo lắng cảnh báo về những
sự đổi hướng sâu hơn trong quốc hội và sự thất bại
của cuộc bầu cử quan trọng trong năm 1968 nếu thiếu
những biến đổi quan trọng trong cục diện cuộc chiến
(2).
Đến cuối năm 1967, với nhiều nhà quan sát,
cuộc chiến tranh đã trở thành một biểu lượng rõ nét
nhất của một tình trạng bất ổn gây khổ sở cho toàn
bộ xã hội Mỹ.
Không
-----------------------------------------------------
(1)
Về bước chuyển của năm 1967, xem Don Oberdorfer, Tết?!
(Tp. Gadern, N.Y., 1971), tr.83-92, và Louis Harris, Nỗi thống
khổ của sự biến động, New York, năm 1973, tr.60-61.
(2)
Rostow gửi Johnson, ngày 1-8-1967, Văn kiện Johnson, Tài liệu
giải mật từ hồ sơ chưa được xử lý (DSDUF), Harry
McPherson gửi Johnson, ngày 25-8-1967, Hồ sơ Harry Mcpherson,
Thư viện Lyndon Baines Johnson, Austin, Tex, hộp
32.
----------------------------------------------------
phải
tất cả đều đồng ý với ý kiến khẳng định của
Fulbright rằng chương trình "xã hội vĩ đại" là
một "xã hội đau ốm", nhưng nhiều người cảm
thấy rằng, Mỹ đang nếm trải một kiểu căn bệnh suy
nhược thần kỳ trên quy mô toàn quốc.
"Khoảng
cách lòng tin", tức là sự khác nhau giữa lời nói và
việc làm của chính quyền, đã gây nên tâm trạng bất
tín nhiệm của nhiều người đối với chính quyền Mỹ.
Hành động gây rối ở các thành phố, tỷ lệ tội
phạm gia tăng đến chóng mặt và những cuộc biểu tình
ồn ào trên đường phố đã cho thấy bạo lực ở nước
ngoài đã gây ra bạo lực ở trong nước. Ngày càng bị
chia rẽ chống lại chính mình, nước Mỹ dường như đứng
trên bờ vực của một cuộc khủng hoảng nội bộ gay
gắt không kém gì cuộc Đại suy thoái trong những năm
1930. Nỗi lo về cuộc chiến tranh không biến thành sự
nhất trí cao ủng hộ leo thang hoặc rút lui, trái lại
thái độ của quần chúng-mệt mỏi, giận dữ và thất
vọng- đã tạo nên mối đe dọa nghiêm trọng đối với
chính quyền Mỹ hơn cả phong trào chống chiến
tranh.
Cùng với cuộc tranh cãi của công chúng về
cuộc chiến tranh ở Việt Nam là sự chia rẽ ngày một
sâu sắc trong chính quyền Mỹ. Bác bỏ những dự đoán
tình báo làm giảm tác động của hoạt động quân sự
của Mỹ đối với đối phương, Westmoreland nhấn mạnh
rằng quân Mỹ hiện đang đạt được một số tiến bộ
và có thể thắng trong cuộc chiến tranh nếu Mỹ sử dụng
sức mạnh quân sự của mình có hiệu quả hơn. Dù đã
bỏ rất nhiều quy định hạn chế đối với chiến dịch
ném bom vào năm 1967, nhưng các tham mưu trưởng liên quân
vẫn vô cùng khó chịu với cách tiến hành cuộc không
chiến và rất tức giận khi tổng thống tiếp tục từ
chối động viên lực lượng dự bị. Westmoreland đã được
phép khá tự do trong việc thực hiện các hoạt động tác
chiến trên bộ, nhưng ông ta lại rất căm ghét cái mà
sau này ông ta gọi là lời khuyên khờ khạo và vu vơ"
mà westmoreland thường xuyên nhận được từ "các vị
đô đốc dã chiến tự phong" ngồi tại Ngoại giao và
bộ Quốc phòng. Ông ta vô cùng thất vọng trước những
hạn chế đã ngăn cản không cho ông truy kích kẻ địch
tới tận những vùng đất thánh của họ" (1).
Vào
mùa xuân năm 1967, Westmoreland và các tham mưu trưởng liên
quân đã hợp lực để giành được lời cam kết thực
hiện chiến tranh tổng lực. Do vẫn tin là chiến lược
"tìm và diệt" có thể thành công nên Westmoreland
đề nghị tăng thêm 200.000 quân đẩy mạnh tác chiến
trên bộ để chống lại đối phương. Các tham mưu trưởng
liên quân tích cực ủng hộ ông ta và đòi phải động
viên có mức độ lực lượng dự bị để đảm bảo cho
các đợt tăng quân mới. Nhằm không cho đối phương sử
dụng các vùng đất thánh của họ, giới quân sự đòi
thực hiện các hoạt động tác chiến trên bộ và trên
không với cường độ cao ở Campuchia và Lào, cũng như
"dùng quân đổ bộ đường biển vượt khu phi quân
sự vào Bắc Việt Nam".
Tuy thừa nhận rằng
chiến dịch ném bom Bắc Việt Nam đã đạt đến mức
"bão hoà về mục tiêu", nhưng các tham mưu trưởng
liên quân vẫn chủ trương tăng cường ném bom khu vực Hà
Nội, Hải Phòng và thả thuỷ lôi phong toả các cảng
biển của Bắc Việt Nam. Với sự thống
nhất
--------------------------------
(1) Westmoreland,
Báo cáo của người lính,
tr.161.
------------------------------------
cao độ,
giới quân sự đòi tiếp tục leo thang và mở rộng chiến
tranh nhằm đánh bại Bắc Việt Nam (1).
Vào lúc mà
giới quân sự trình bày các đề nghị của mình, một số
cố vấn dân sự của Johnson công khai chủ trương từ bỏ
các chính sách mà họ đánh giá là đã phá sản.
Trong
suốt năm 1966, trong chính quyền Mỹ vẫn tiếp tục có sự
phản đối leo thang chiến tranh. Một số nhà phê bình
trong nội bộ chính quyền, trong đó có Bill Moyers thuộc
Văn phòng Nhà Trắng và George Ball, đã lặng lẽ từ chức,
mang theo một cảm giác mà sau này James Thomson miêu tả,
"hoàn toàn tẩy chay chính sách lúc đó nhưng bất lực
vì không thay đổi được nó"(2). Sự chống đối vẫn
tiếp tục tăng và ngày càng tập trung vào một số người
ở Bộ Quốc phòng. Thật mỉa mai, vào mùa xuân năm 1967,
nhân vật chính chủ trương thay đổi lại chính là bộ
trưởng Bộ Quốc phòng, một người đã từng gắn bó
với việc leo thang chiến tranh đến mức có thời người
ta gọi đó là "cuộc chiến tranh của McNamara".
Đầu mùa hè năm 1967, McNamara bắt đầu lo ngại rằng,
việc mở rộng chiến tranh quá mức sẽ gây nguy hiểm cho
cục diện an ninh toàn cầu mà từ ngày lên nắm quyền
vào năm 1961, ông ta đã dày công xây dựng.
Ông ta
thấy phiền lòng vì tính huỷ diệt của cuộc chiến
tranh, đặc biệt về số thường dân bị thương vong, và
sự
-------------------------------------------------------
(1)
Westmoreland gửi các tham mưu trưởng liên quân, ngày
28-3-1967, trong Neil Sheehan, sách đã dẫn, Văn kiện Lầu
Năm góc được công bố bởi Thời báo New York, New York,
năm 1971, tr.560-565: Các tham mưu trưởng gửi McNamara, ngày
20-4-1967, sách đã dẫn, tr.565~567.
(2) James C.Thomson, "Rút
lui và nói thẳng", Tạp chí Chính sách Ngoại giao, số
13, mùa đông 1973-1974,
tr.57.
--------------------------------------------------------
chống
đối trong nước ngày một tăng, những điều mà ông ta
ngày càng thấy rõ trong những lần xuất hiện trước
công chúng. Trước đây, McNamara từng lừng danh là một
nhà kinh doanh và một viên chức có khả năng đạt được
kết quả tối đa với một chi phí tối thiểu. Nhưng vào
năm 1967, ông ta buộc phải thừa nhận rằng, leo thang
chiến tranh không đem lại kết quả quan trọng cuối cùng
là "bẻ gãy tinh thần và hiệu lực chính trị của
đối phương". Chính quyền Nam Việt Nam dường như
cũng chẳng ổn định hơn trước; bình định thì "không
tiến, thậm chí còn thụt lùi". Cuộc chiến tranh bằng
không quân rất tốn kém mà lại chẳng đem lại kết quả.
McNamara phải thú nhận với các nhân viên của mình: "Hồ
Chí Minh là một cụ già cứng rắn và không chịu lùi
bước cho dù chúng ta có ném bom đến mức độ
nào"(1).
Hơn nữa, bộ trưởng quốc phòng thừa
nhận rằng, chiến dịch ném bom đã khiến Mỹ phải trả
giá đắt về dư luận trong nước và thế giới. Đầu
năm 1967, McNamara khuyên tổng thống Johnson: "Hình ảnh
một siêu cường hạng nhất thế giới giết hại hoặc
làm bị thương nặng 1.000 dân mỗi tuần trong lúc tìm
cách gây áp lực bắt một nước nhỏ, lạc hậu phải
chấp nhận một điều mà giá trị của nó mọi người
còn đang tranh cãi gay gắt là một hình ảnh không đẹp
chút nào"(2). McNamara và các cố vấn của ông ta cũng
mất ảo tưởng về cuộc chiến tranh trên bộ ở Nam Việt
Nam.
Những đợt tăng quân của Mỹ không làm tăng
thiệt hại
của
----------------------------------------------------------
(1)
Henry Trewhitt, McNamra, New York, năm 1971, tr.235.
(2) McNamara
gửi Johnson, ngày 18-5-1967, trong Sheehan: Văn kiện Lầu Năm
góc (NYT),
tr.580.
----------------------------------------------------------
... đối phương ở mức độ lớn
tương ứng và không có gì chứng tỏ rằng việc tiếp
tục mở rộng chiến tranh sẽ thực sự làm cạn kiệt
nguồn nhân lực của Bắc Việt Nam.
Trong suốt năm
1967, McNamara đã thầm lặng và có phần do dự khi thúc ép
phải có những thay đổi cơ bản trong chính sách. Với
lập luận rằng những mục tiêu quân sự lớn ở Bắc
Việt Nam đã bị huỷ diệt, ông ta đề nghị hoặc ngừng
ném bom vô điều kiện, hoặc ném bom ở khu vực phía nam
vĩ tuyến 20. McNamara nói thêm, bước đi như vậy sẽ giúp
làm hài lòng các nhà phê bình trong nước và có thể dẫn
tới những cuộc thương lượng nghiêm túc. Vị bộ trưởng
quốc phòng này còn chủ trương giới hạn mức trần của
số quân Mỹ và chuyển từ chiến lược "tìm và
diệt" sang một chiến lược hạn chế hơn trong tác
chiến mặt đất trên cơ sở bảo đảm an ninh cho dân
chúng Nam Việt Nam. Với những lời lẽ có phần mập mờ,
ông ta còn tiếp tục đề nghị hạ thấp các mục tiêu
chính trị của Mỹ. Ông ta lý luận rằng, nếu như Mỹ
tiến hành chiến tranh để kiềm chế Trung Quốc thì họ
đã thắng: chủ nghĩa cộng sản đã thất bại ở
Indonesia, rối loạn chính trị lan tràn ở Trung Quốc đã
cho thấy xu thế ở châu á lúc này có hại cho Trung Quốc
và có lợi cho Mỹ. Do vậy, chính quyền Mỹ có thể theo
đuổi một lập trường mặc cả linh hoạt hơn. Họ vẫn
có thể hy vọng có một Việt Nam độc lập, phi cộng sản
nhưng không có nghĩa vụ "phải bảo đảm vai khẳng
định những điều kiện này". Ít nhất, McNamara cũng
bóng gió đề nghị Mỹ điều chỉnh chiến lược quân sự
để tìm ra một giải pháp rút khỏi bế tắc ở Việt
Nam trong danh dự (1).
----------------------------------
(1)
Sách đã dẫn,
tr.584-585.
-------------------------------------------
Đến
mùa hè năm 1967, Johnson trở nên vô cùng phiền muộn, mệt
mỏi cả về thể xác và tinh thần, thất vọng vì không
thành công, bị giằng xé giữa các cố vấn không biết
nên đi theo hướng nào. Dường như ông ta cũng chia sẻ
nhiều nỗi niềm phân vân như McNamara và bác bỏ thẳng
thừng quan điểm lấy mở rộng cuộc chiến tranh làm giải
pháp của giới quân sự. Các tham mưu trưởng liên quân
Johnson vỡ mộng. Nhiều lần ông ta phàn nàn: "Các
ngài chỉ biết có ném bom, ném bom và ném bom"(1).
Johnson rất lo ngại trước việc thực thi chiến lược
trên bộ của Westmoreland và vào tháng 4 khi ông này đề
nghị xin thêm quân, Johnson đã mỉa mai hỏi vị tướng
này: "Khi chúng ta tăng thêm các sư đoàn, chẳng lẽ
đối phương không thể tăng thêm các sư đoàn hay sao? Nếu
như thế thì rồi sẽ đi đến đâu?"(2). Johnson vẫn
kịch liệt chống động viên lực lượng dự bị và mở
rộng chiến tranh. Những biện pháp như vậy sẽ làm tăng
thêm sự chống đối trong nước.
Chúng sẽ không
làm vừa lòng giới quân sự mà sẽ chỉ dẫn đến những
áp lực đòi leo thang hơn nữa, thậm chí đòi sử dụng
vũ khí hạt nhân. Ông ta vẫn sợ đụng đầu với Liên
Xô và Trung Quốc nên luôn nói: "Tôi sẽ không kiêu
khích Trung Quốc" (3).
Tuy nhiên, Johnson không thể
chấp nhận đề xuất
của
-----------------------------------------------
(1)
Lawrence J. Korb, Tham mưu trưởng liên quân: 25 năm đầu,
Bloomington, năm 1976, tr.181.
(2) Trích dẫn từ đàm luận
của Johnson-Westmoreland, ngày 20-4-19ó7, trong Sheehan, Văn
kiện Lầu Năm góc (NYT), tr.567.
(3) C. L. Sulzberger, Bảy
lục địa và bốn mươi năm, New York, năm 1977,
tr.435.
-------------------------------------------------
McNamara.
Ông ta đã dần mất lòng tín đối với vị bộ trưởng
quốc phòng này. Theo Johnson sở dĩ McNamara có quan điểm
"bồ câu" chính là do ảnh hưởng xấu của Robert
Kennedy, đối thủ chính của Johnson. Vào cuối năm 1967,
mối quan hệ giữa Johnson và McNamara xấu đi đến mức bộ
trưởng quốc phòng vui mừng chấp nhận quyết định bổ
nhiệm ông ta trở thành chủ tịch ngân hàng thế giới.
Thêm nữa, Westmorelan tiếp tục báo cáo là cuộc chiến có
những tiến bộ vững chắc do đó tổng thống chưa sẵn
sàng chịu thất bại. ông ta cũng không quay lại chiến
lược "căn cứ lõm".
Ông ta đặt câu hỏi:
"Chúng ta không thể cứ chúi xuống như giống con lừa
trong cơn dông bão", hoặc đặt giới hạn về mức
quân đưa vào cuộc chiến (1). Dù ông ta nhất trí là cuộc
ném bom chẳng đạt kết quả gì, nhưng ông ta vẫn chưa
sẵn sàng ngừng -hoặc thậm chí giới hạn nó. Lên án đề
nghị của McNamara là một "trận Điện Biên Phủ trên
không", các tham mưu trưởng liên quân đe dọa từ
chức hàng loạt nếu Johnson phê duyệt các đề nghị đó,
thậm chí thượng nghị sĩ chủ chiến John Stennis của
bang Mississippi còn có kế hoạch điều tra việc tiến hành
chiến tranh trên không (2). Tổng thống chưa chuẩn bị để
mạo hiểm đón một cuộc đụng đầu lớn với phái
"diều hâu" hoặc một cuộc tranh luận của công
chúng về cuộc ném bom mà triển vọng sẽ gây một tranh
cãi lớn. Hơn nữa, nhiều người mà Johnson tìm đến xin
lời khuyên đều gay gắt chống lại những đề nghị của
McNamara. Dean Rusk, Walt
Rostow,
--------------------------------
(1) Sách đã dẫn,
tr.436.
(2) Korb, Tham muuw trưởng liên quân,
tr.166.
----------------------------------------
Maxwell
Taylor, Clark Clifford và McGeorge Bundy đều nhất trí rằng,
việc ngừng ném bom cũng sẽ không làm vừa lòng các nhà
phê bình trong nước, Bundy lớn tiếng cảnh báo: "Không
bao giờ có thể thỏa mãn khẩu vị của phái"bồ
câu" cũng như "diều hâu", nếu ta nhượng bộ
họ thì họ sẽ còn đòi thêm nữa... Hơn nữa, sự nhượng
bộ đó trong con mắi Hà Nội sẽ là một dấu hiệu của
sự yếu đuối" (1).
Do vậy, Johnson tiếp tục
thực hiện chính sách trung dung giữa hai cực đoan mà các
cố vấn của ông ta đưa ra.
Ông ta bác bỏ đề
nghị của giới quân sự đòi mở rộng chiến tranh và
chỉ cho phép tăng thêm 55.000 quân, trong khi đề nghị của
Weslmoreland đòi tăng thêm 200.000 quân.
Nhưng người
ta đã không đặt ra một giới hạn trần nào cả.
cũng
không đánh giá lại chiến lược "tìm và diệt".
Johmson cũng bác bỏ đề nghị của McNamara hạn chế hoặc
ngừng ném bom. Thực ra để chiều ý các nhân vật "diều
hâu" trong quốc hội cùng các tham mưu trưởng liên
quân, Johnson đã phải mở rộng danh sách mục tiêu cho
phép đánh vào cầu, đường, xe lửa và doanh trại trong
phạm vi Hà Nội, Hải Phòng và những khu vực cấm trước
đây dọc biên giới Trung Quốc.
Những quyết định
của Johnson năm 1967 có tính ứng biến hơn cả những
quyết định năm 1965, bất chấp logic quân sự và không
đối phó nổi, lại càng không giải quyết được những
mâu thuẫn trong chiến lược của Mỹ. Cuộc ném bom được
duy trì không phải vì có người nghĩ rằng
nó
-------------------------------------------------------------
(1)
Bundy gửi Johnson, ngày 4-5-1967, trong Sheehan: Văn kiện Lầu
Năm góc (NYT),
tr.569-572.
-----------------------------------------------------------------
có
hiệu lực mà vì Johnson cho rằng nó cần thiết để làm
yên lòng một số phe phái trong nước và vì ngừng ném
bom có thể được coi là một biểu hiện của sự yếu
kém. Tổng thống từ chối cung cấp cho tư lệnh chiến
trường số quân mà ông ta cho là cần thiết để chiến
lược của mình có hiệu quả nhưng lại không chịu đối
đầu với những mâu thuẫn trong chiến lược đó.
Vào cuối năm 1967, chính quyền Mỹ một lần nữa điều
chỉnh lập trường thương lượng của mình. Cái gọi là
công thức San Antonio, đầu tiên được nhà khoa học chính
trị trường đại học Harvard Henry Kissinger bí mật chuyển
cho Bắc Việt Nam thông qua các nhân vật trung gian Pháp và
sau đó được công bố vào tháng 9, có hạ thấp đôi
chút so với một thỏa thuận trước đây là hai bên cùng
xuống thang.
Mỹ sẽ ngừng ném bom "với sự
ngầm hiểu" rằng việc làm này sẽ nhanh chóng dẫn
tới những cuộc thảo luận có hiệu quả họ có thể
tin rằng Bắc Việt Nam không lợi dụng thời gian ngưng
ném bom. Như lời giải thích sau này, điều đó có nghĩa
là Hà Nội sẽ không tăng ở mức độ lớn việc đưa
người và hàng tiếp tế qua vĩ tuyến 17 (1). Chính quyền
Mỹ cũng nêu ra ý muốn chấp nhận cho Mặt trận Dân tộc
giải phóng miền Nam Việt Nam tham gia các hoạt động
chính trị ở Nam Việt Nam, một bước tiến quan trọng so
với lập trường trước đây. Tuy nhiên, việc Mỹ làm
mềm bớt lập trường mặc cả của họ không nói lên
rằng nước này có sự thay đổi mục tiêu mà McNamara đã
khuyến nghị. Sự cam kết ủng hộ chế độ Thiệu vẫn
kiên quyết và thái độ sẵn
sàng
------------------------------------------------------
(1)
Herring, Ngoại giao bí mật,
tr.538-544.
------------------------------------------------------
muốn
thương lượng với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền
Nam Việt Nam dường như dựa vào niềm hy vọng có thể
hợp tác với Việt cộng hoặc đánh bại Việt cộng bằng
các biện pháp chính trị.
Hơn thế đến cuối năm
1967, Johnson thấy cần thực hiện một số bước nữa để
tránh thảm bại. Sau nhiều tháng còn phân vân bất ổn,
vào cuối mùa hè, chính quyền Mỹ đã kết luận rằng,
thực ra họ đang đạt được bước tiến bộ chậm nhưng
chắc ở Việt Nam. Các quan chức tại Sài Gòn lạc quan
đưa tin rằng các trận đánh của Mỹ hiện làm cho đối
phương mất thăng bằng và gây tổn thất to lớn. Tỷ lệ
đào ngũ của quân đội Việt Nam Cộng hoà đã giảm hẳn
và hiệu quả chiến đấu của một số đơn vị đã
tăng. Sau nhiều tháng chao đảo, "chương trình bình
định" cuối cùng dường như đã khởi sắc. Ngay cả
McNamara tuy có thái độ bi quan nhưng đến tháng 7 cũng
chuyển sang nhận xét rằng "không có bế tắc quân
sự" (1).
Nhưng vào lúc này, tình hình trong nước
của Mỹ rõ ràng đang suy sụp. Sự nhất trí mà Johnson đã
cẩn trọng xây dựng năm 1964 đang bị đổ vỡ. Kể từ
cuộc nội chiến trong lịch sử của mình, lúc này nước
Mỹ bị chia rẽ hơn bao giờ hết. Sự chống đối trong
quốc hội, cũng như sự thiếu quan tâm chú ý và quản lý
kém, phần nào do việc chính quyền Mỹ quá bận tâm tới
chiến tranh Việt Nam, đã đẩy các chương trình xã hội
vĩ đại mà Johnson từng ấp ủ đến chỗ bế tắc. Bản
thân Johnson là con người đang bị bao
vây
-------------------------------------------
(1) Ghi
chép trong cuộc họp ngày 12-7-1967, Văn kiện Johson, Ghi
chép của Tom Johnson về các cuộc họp, hộp
1.
--------------------------------------------------------
... ngay trong nhà Trắng, dân chúng
ngày càng giảm lòng tin vào tổng thống và ông ta trở
thành mục tiêu cho nhiều ý kiến chỉ trích gay gắt.
Người ta đã phải lén lút đưa các cố vấn cấp cao của
Johnson để diễn thuyết nhằm xoa dịu quần chúng.
Johnson
kinh sợ khi ông ta bị dồn vào một vị thế khó khăn, bị
các ngay trong nhà Trắng, dân chúng ngày càng giảm lòng
tin vào tổng thống và ông ta trở thành mục tiêu cho
nhiều ý kiến chỉ trích gay gắt. Người ta đã phải lén
lút đưa các cố vấn cấp cao của Johnson để diễn
thuyết nhằm xoa dịu quần chúng.
Johnson kinh sợ khi
ông ta bị dồn vào một vị thế khó khăn, bị các nhà
phê bình đả kích, tình cảm bị tổn thương sâu sắc
khi các trợ lý thân tín như McNamara đều từ bỏ mình.
Ông ta tức giận gọi những lời phê phán mình là thiếu
công bằng và nhấn mạnh rằng, các nhà phê bình cũng
chẳng đưa ra được giải pháp gì. Johnson ngoan cố cho
rằng ông ta đã hoàn thành được nhiều việc lớn ở
trong nước và còn nói thêm là các nhà báo chẳng thể
làm được gì hơn là gào lên "Việt Nam, Việt Nam,
Việt Nam" giống như một đứa bé đang kêu khóc (1).
ý kiến phê bình càng gay gắt thì Johnson càng coi khinh và
không tin vào nguồn gốc của ý kiến đó: Fulbright chỉ
như một "mụ già vô dụng" bởi vì ông ta chưa
bao giờ được bổ nhiệm giữ chức bộ trưởng quốc
phòng; sự bất đồng quan điểm của lớp trẻ xuất phát
từ sự ngu dốt, họ không trải qua chiến tranh thế giới
thứ 2, họ sẽ không bao giờ biết được về "người
cộng sản nếu như chưa từng phải đương đầu với
chúng". Với tâm trạng đầy thỏa mãn, tổng thống
Johnson dẫn ra từ một báo cáo của FBI, một số lớn
những kẻ đốt thẻ quân nhân đều đã từng ở các
trại tâm thần (2)...
---------------------------------------
(1) Sulzberger, Bảy
lục địa, tr.443.
(2) Doris Kearns, Lyndon Johnson và Giấc
Mông của Mỹ, New York, năm 1976, tr.312-313: Graff, Nội các
ngày thứ ba, tr.99-100: ghi chép về cuộc họp với các nhà
lãnh đạo Quốc hội, ngày 31-10-1967, Văn kiện Johnson, Sao
lưu nhật ký.
---------------------------------------
Tuy
vậy, Johnson thừa nhận rằng ông ta không thể làm ngơ
trước sự chống đối. Ngay từ đầu cuộc chiến, ông
ta đã nhận thức rõ: "Điểm yếu nhất của chúng ta
là dư luận công chúng". Trong những năm đầu, dường
như ông ta chỉ phản ứng với phái "diều hâu"
hơn là phái "bồ câu", nhưng vào cuối năm 1967,
quan điểm của ông ta đã thay đổi. Tháng 9-1967, Johnson
nói với các cố vấn của mình, "mối đe dọa to lớn
của chúng ta đến từ phái "bồ câu" (1). Ngày
càng lo sợ là cuộc chiến tranh có thể bị thua ngay trên
đất Mỹ, tổng thống Johnson đã mở cuộc phản công
gọng kìm nhằm bịt miệng những đối thủ lớn tiếng
nhất và giành sự ủng hộ của công chúng cho các chính
sách của mình.
Do sai lầm tin rằng phong trào hoà
bình đang xoay chuyển công chúng sang chống chiến tranh,
Johnson bắt đầu tiêu diệt phong trào này. Ông ta chỉ thị
cho CIA thực hiện một chương trình giám sát các nhà lãnh
đạo của phong trào chống chiến tranh để chứng minh cho
nỗi nghi ngờ rằng họ hành động theo lệnh của các
chính phủ ngoại quốc. Chương trình này sau đó được
thể chế hoá thành chiến dịch CHAOS, vi phạm cương lĩnh
hoạt động của CIA. Cuối cùng, chiến dịch này đã dẫn
đến việc tập hợp hồ sơ của trên 7.000 người Mỹ.
Johnson nhiều lần bộc lộ rằng ông ta không muốn sa đà
vào các biện pháp chống cộng điên cuồng McCarthyite,
nhưng khi CIA không thể chứng minh những mối liên hệ mà
tổng thống nghi ngờ, thì Johnson lại tiết lộ cho các
nghị sĩ phái hữu rằng ông ta
có
-----------------------------------------------
(1) Ghi
chép của Jim Jones về cuộc họp, ngày 5-9-1967, Văn kiện
Johnson, hồ sơ ghi chép về các cuộc họp, hộp
2.
--------------------------------------
chứng cứ như
vậy và để cho họ đưa ra những ý kiến phê phán công
khai rằng "phong trào hoà bình bị điều khiển ngay từ
Hà Nội". Cuộc chiến chống lại phong trào hoà hình
mau chóng chuyển từ giám sát sang quấy rối và chống
phá. Các cơ quan thi thành luật bắt đầu buộc tội các
nhà lãnh đạo chống chiến tranh như bác sĩ Spock về
những tội như kêu gọi chống quân dịch. FBI cho người
trà trộn vào phong trào hoà bình với mục tiêu phá hoại
hoạt động của phong trào này và lái họ đến những
hành động tự làm mất uy tín trong con mắt công chúng
(1).
Đồng thời, chính quyền Mỹ còn thực
hiện một chiến dịch tích cực xây dựng quan hệ với
quần chúng để củng cố sự ủng hộ của họ cho cuộc
chiến tranh. Từ hậu trường, các quan chức chính quyền
giúp tổ chức ủy ban vì hoà bình tự do ở Việt Nam, một
tổ chức có vẻ tư nhân do nguyên thượng nghị sĩ bang
Illinois Paul Douglas cầm đầu. Mục tiêu chính của tổ
chức này là động viên "trung tâm tĩnh lặng"
trong nền chính trị Mỹ. Các cố vấn của Johnson cung cấp
tin tức cho bạn bè là các thượng nghị sĩ, trong đó có
các nhân vật của Đảng Cộng hoà, để phản bác lại
những lời buộc tội của các nghị sĩ "bồ câu"
trong quốc hội. Một ban thông tin về Việt Nam được
thành lập ở nhà Trắng để theo dõi phản ứng của công
chúng đối với cuộc chiến tranh và xử lý ngay các vấn
đề mới phát sinh (2). Nhận ra trở ngại lớn vấp phải
là nhận thức của nhiều người cho rằng cuộc
...
------------------------------------------------------
(1)
Charles DeBenedetti, "Phân tích của CIA về Phong trào
chống chiến tranh Việt Nam: tháng l0-1967", Hoà bình và
Biến động, số 9, mùa xuân năm 1983, tr.31-35.
(2) văn
kiện Johnson, Hồ sơ Marvin Watson, hộp
32.
---------------------------
... chiến tranh đã lâm vào thế bế tắc, vì vậy
Johnson ra lệnh cho đại sứ quán và bộ chỉ huy quân sự
Mỹ tại Sài Gòn tích cực tìm kiếm cơ hội để đưa ra
"chứng cứ xác thực" về bước tiến bộ ở
Việt Nam. Các quan chức Mỹ hưởng ứng với tinh thần
trách nhiệm và đưa ra nhiều số liệu cho thấy con số
đếm xác và số làng bình định được đang tăng dần,
rồi họ còn công bố nhiều tài liệu thu được có nội
dung hỗ trợ cho những tuyên bố nói trên. Nhà Trắng thậm
chí còn giúp thực hiện những dàn xếp cho nhiều nhân
vật có ảnh hưởng sang Việt Nam quan sát những bước
tiến đang đạt được ở đó (1).
Là một phần
của chiến dịch xây dựng mối quan hệ với dân chúng,
Westmoreland được cử về nước vào tháng 11 với bề
ngoài là tham dự một cuộc trao đổi ý kiến cấp cao,
nhưng thực tế là để làm yên lòng một dân tộc đang
rối bời.
Ngay khi tới Washington, viên tướng này đã
nói với các phóng viên: "Tôi rất phấn khởi... Chúng
ta đang đạt được những bước tiến thật sự".
Trong bài diễn văn phát biểu trước quốc hội,
Westmoreland đưa ra ý kiến đánh giá lạc quan về cuộc
chiến tranh, cho rằng tuy đối phương chưa bị đánh bại
nhưng họ đã bị tổn thất nặng. Ông ta kết luận, Mỹ
đã đạt đến một điểm quan trọng nơi kết cục của
cuộc chiến tranh bắt đầu le lói", thậm chí ông ta
còn nói bóng gió rằng, Mỹ có thể bắt đầu rút quân
trong vòng 2 năm tới
(2).
------------------------------------------
(1)
Rostow gửi Bunker, ngày 27-9-1967, Văn kiện Johnson, DSDUF, hộp
4; Eugene Locke gửi Johnson, ngày 7-10-1967, Văn kiện Johnson,
Hồ sơ an ninh quốc gia, Hồ sơ đất nước: Việt Nam, hộp
99.
(2) Richard R.Stebbins: Nước Mỹ trong các vân đề thế
giới, 1967, New York, năm 1968,
tr.68.
-----------------------------------
Mặc dù chiến
dịch xây dựng quan hệ với công chúng đã bắt đầu thể
hiện kết quả ngay, nhưng vào cuối năm đó, Johnson đã
kết luận rằng, có thể cũng cần có sự thay đổi chiến
lược ở Việt Nam để giành thắng lợi trong cuộc chiến
này ở ngay từ trong lòng nước Mỹ. Trong suốt năm 1967,
nhiều người gây sức ép đòi phải bỏ các trận đánh
"tìm và diệt" của Westmoreland. Do ngày càng vỡ
mộng trước cái giá phải trả quá đắt trong khi kết
quả thu lại chẳng bao nhiêu nên các cố vấn của
McNamara thúc ép đòi chuyển sang thực hiện các cuộc tuần
tiễu của các đơn vị nhỏ có khả năng đạt hiệu quả
cao hơn, đỡ tốn kém hơn và làm giảm thương vong của
Mỹ (1). Trong bản bị vong lục chính sách quan trọng cuối
cùng của mình gửi Tổng thống Johnson, McNamara đã chấp
nhận ý kiến của các cố vấn và đề nghị nghiên cứu
các hoạt động quân sự ở miền Nam Việt Nam để tìm
cách giảm thương vong của quân đội Mỹ và buộc Việt
Nam Cộng hoà phải gánh vác trách nhiệm chiến đấu lớn
hơn. Nhận thấy rằng sự thất vọng của dân chúng Mỹ
chẳng những đe dọa thắng lợi ở Việt Nam mà còn đe
dọa cả chính sách đối ngoại theo đường lối chủ
nghĩa quốc tế mà nước Mỹ đang theo đuổi kể từ Thế
chiến thứ II, một nhóm các nhân vật hàng đầu trong
"giới quyền uy" đã họp lại dưới sự bảo trợ
của Carnegie Endowment đề nghị thực hiện chiến lược
"làm trong sạch và nắm giữ nhằm bình ổn cuộc
chiến tranh ở một mức độ có thể chấp nhận được
về mặt chính trị" và cứu Nam Việt Nam
"mà
---------------------------------------------------
(1)
Depuy gửi Westmoreland, ngày 19-10-1967, Văn kiện Depuy, Thư
mục WXYZ (67).
---------------------------------
không
phải đầu hàng cũng như không có nguy cơ mở rộng chiến
tranh"(1).
Động lực chính đòi thay đổi phát
sinh từ cái gọi là "Những nhà thông thái", tức
là một nhóm cựu quan chức chính phủ kiệt xuất mà
Johnson vẫn thỉnh thoảng tìm đến để xin ý kiến chỉ
đạo. Thừa nhận là ông ta "quá lo lắng đến chiều
hướng suy giảm trong sự ủng hộ của quần chúng",
vào đầu tháng 11, Johnson cầu cứu nhóm người này cho
lời khuyên về cách thức đoàn kết cả nước làm hậu
thuẫn cho cuộc chiến tranh. "Những nhà thông thái này
nói chung tán thành các chính sách hiện tại, nhưng họ
báo động rằng "cuộc chiến đấu triền miên không
kết thúc" là "nguyên nhân duy nhất nghiêm trọng
nhất gây sự bất mãn trong nước". Để đối phó,
họ đề nghị thực hiện một chiến lược bộ binh có
chi phí thấp hơn về sinh mạng và tiền của, đồng thời
họ khuyên Johnson cần chuyển giao cho người Việt Nam
trách nhiệm chiến đấu lớn hơn. Cựu trợ lý tổng
thống McGeorge Bundy với tư cách là phát ngôn viên của
"những nhà thông thái" đã tiến thêm một bước
nữa. Tuy thừa nhận nếu thách thức vị tư lệnh chiến
trường Westmoreland vào thời điểm này của cuộc chiến
tranh thì thực ra là một vấn đề nghiêm trọng, nhưng
Bundy khuyên tổng thống rằng vì Việt Nam lúc này đã trở
thành một vấn đề gay cấn nên ông có nghĩa vụ làm như
vậy. Bundy đòi hỏi Johnson phải "sẵn sàng nắm quyền
chỉ huy một
cuộc
---------------------------------------------
(1) "Đề
xuất của Carnegie Endowment", ngày 5-12-1967, Văn kiện
Matthew G. Ridgway, Viện Lịch sử quân sự Mỹ, Trại
Carlisle, Pa, Hộp
34A.
----------------------------------------
chiến đấu
mang tính chính trị hơn bất kỳ một cuộc chiến nào
khác trong lịch sử nước Mỹ, trừ cuộc nội chiến
trước đây, và phải tìm một chiến lược có thể chấp
nhận được, xét về cái giá mà nhân dân Mỹ phải trả
trong 5 hoặc 1 0 năm tới, đó là thời gian cần thiết để
ổn định tình hình Việt Nam (1). Cuối năm đó, Johrlson
cũng chưa bắt đầu thay đổi về chiến lược. Nhưng khi
nói chuyện này, ông cam kết "xem xét lại" việc
tiến hành các trận đánh trên bộ với mục đích làm
giảm thương vong của Mỹ và chuyển cho Việt Nam Cộng
hoà trách nhiệm lớn hơn (2). Thậm chí vào trước cuộc
tấn công Tết Mậu Thân 1968, Johnson đã chuyển sang chiều
hướng mà sau này gọi là "Việt Nam hoá chiến
tranh".
Tuy bắt đầu xem xét lại những thay đổi
chiến lược, nhưng Johnson không đánh giá lại những mục
tiêu cơ bản của mình ở Việt Nam. Việc thực hiện điều
đó có thể sẽ khó khăn cho bất kỳ ai vẫn còn hy vọng
đạt tới thắng lợi cuối cùng. Đối với Johnson, thì
công việc đó càng đặc biệt khó khăn. Do tham vọng to
lớn, ông ta đã đề ra những mục đích xa vời trong thời
gian giữ chức vụ tổng thống và ông ta không muốn từ
bỏ các mục tiêu đó ngay cả khi trong nước có tâm trạng
thất vọng và bất ổn. Đây không phải là vì thiếu
lòng dũng cảm bởi vì khi cứ tiếp tục theo đuổi chiến
tranh trong tình hình sự ủng hộ của dân chúng
giảm
-------------------------------------------------
(1)
Ghi chép của Jim Jones về cuộc họp, ngày 2-11-1967, Văn
kiện Johnson, Hồ sơ ghi chép các cuộc họp, Hộp 2, Bundy
gửi Johnson, ngày 10-11-1967, Văn kiện Johnson, Sao lưu Nhật
ký, hộp 81.
(2) Bị vong lục của Johnson, ngày
18-12-1967, trong Lyndon B.Johnson, Lợi điểm (New York, 1971),
tr. 600-601.
---------------------------------------------
sút,
Johnson đã thể hiện được lòng dũng cảm cũng như sự
ngoan cố của mình. Nhưng đây chủ yếu là vấn đề của
niềm kiêu hãnh. Trước đó, tổng thống Johnson quả thực
không muốn tiến hành cuộc chiến tranh ở Việt Nam, nhưng
khi đã nhảy vào cuộc, ông ta đã ném uy tín cá nhân vào
đó tới mức độ không thể lùi bước. Vào năm 1967,
Johnson chọn cách tiếp tục cuộc chiến tranh ở Việt Nam
vì những lý do khiến ông ta lúc đầu tham chiến, bởi vì
Johnson không thấy có giải pháp nào khác có thể cứu vãn
nước Mỹ khỏi thất bại hoặc thua trận.
Trong khi
âm thầm tính toán thay đổi chiến lược, tổng thống
Johnson công khai nêu rõ quyết tâm muốn tiến hành chiến
tranh cho đến khi giành được thắng lợi cuối cùng.
Ông
ta nhiều lần tuyên bố: "Chúng ta sẽ không nhân
nhượng. Chúng ta sẽ không lay chuyển. Chúng ta sẽ đi đến
kết thúc bằng một nền hoà bình trong danh dự mà toàn
thể người Mỹ đều mong muốn". Tại bữa tiệc
chiêu đãi thủ tướng Singapore tại nhà Trắng, Johnson thể
hiện sự cam kết của mình với những lời lẽ khác. Ông
ta nói: "Thưa Ngài thủ tướng, ở khu vực các ngài
có một câu thành ngữ rất hợp với quyết tâm của
chúng tôi. Các ngài gọi là "cưỡi lên lưng hổ".
Các ngài đã cưỡi lên lưng hổ. Chúng tôi cũng sẽ cưỡi
lên lưng hổ". Những lời lẽ đó sẽ rất mỉa mai
vào đầu năm 1968, một năm cao điểm của cuộc chiến
tranh (1).
------------------------------------------------
(1)
Stebbins, Nước Mỹ trong các vấn đề thế giới, 1967,
tr.397-398.
-------------------------------------------
Chương VI.
CUỘC
TỔNG TẤN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968
Vào 2 giờ 45 sáng ngày 30
tháng 1 năm 1968, một đơn vị đặc công Việt cộng đã
dùng mìn nổ sập một mảng lớn tường bao quanh đại sứ
quán Mỹ tại Sài Gòn và tấn công vào sân sau toà đại
sứ. Trong sáu giờ tiếp theo, một trong những biểu tượng
quan trọng nhất về sự hiện diện của người Mỹ tại
Việt Nam đã trở thành sân khấu của một trong những
màn trình diễn kịch tính nhất trong cuộc chiến tranh.
Không thể vượt qua được cánh cửa đồ sộ ở lối
vào chính của toà đại sứ, quân giải phóng đã rút trở
lại sân, nấp dưới những bồn trồng hoa lớn bằng bê
tông, nã rốc két vào toà nhà và bắn nhau với một phân
đội quân cảnh. Họ giữ vững những vị trí này đến
9 giờ 15 phút thì hoàn toàn bị áp đảo. Toàn bộ 19
chiến sỹ quân giải phóng đã hy sinh hoặc bị thương
nặng.
Trận đánh vào đại sứ quán Mỹ chỉ là
một phần nhỏ của cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân
1968, một cuộc tấn công đồng loạt có hiệp đồng của
quân giải phóng vào các khu vực đô thị quan trọng miền
Nam Việt Nam. Phía tấn ...
... công cũng phải gánh chịu
những tổn thất nặng nề. Vào cuối buổi sáng ngày
30-1-1968, Westmoreland đứng trong sân của đại sứ quán
giữa khung cảnh đổ nát và xác chết ngổn ngang, khung
cảnh mà một nhà báo đã tả lại như "lò sát sinh ở
vườn địa đàng", đã đưa ra lời nhận xét, đánh
giá của ông ta về sự kiện Tết Mậu Thân: "Các kế
hoạch được chuẩn bị cẩn thận của Bắc Việt Nam và
Việt cộng đã thất bại. Chiến lược của họ đã
khiến họ tự bộc lộ lực lượng và gánh chịu thương
vong nặng nề". Tuy các nhà báo có mặt lúc đó chưa
tin lời nhận xét của ông ta, nhưng nếu xét trên quan
điểm sách lược thì Westmoreland hoàn toàn đúng.
Tổng
tiến công Tết Mậu Thân là một tổn thất đối với
đối phương (1). Tuy nhiên như Bemard Brodie nhận xét; "Cuộc
tấn công Tết Mậu Thân đặc biệt ở chỗ, bên bị thua
về mặt sách lược đã giành được thắng lợi áp đảo
về phương diện tâm lý và chính trị" (2). cuộc tổng
tấn công Tết Mậu Thân đã có tác động to lớn đến
nước Mỹ và mở ra một giai đoạn mới của cuộc chiến
tranh dường như bất tận.
Vào khoảng mùa xuân hay
mùa hè năm 1967, Bắc Việt Nam đã quyết định thay đổi
chiến lược. Một số người Mỹ đã mô tả cuộc tấn
công Tết Mậu Thân như một sự dãy giụa hấp hối, một
hành động tuyệt vọng, có thể so sánh với trận Bulge,
tại đó Bắc Việt Nam giữa vòng vây kìm kẹp đang cố
gắng giành thắng lợi. Điều này dường như khó tin, mặc
dù quyết định từ Hà Nội tiến hành cuộc tổng tiến
công
-----------------------------------
(1) Don
Oberdorfer, Tết, NXB Garden City, New York, năm 1973, tr.34.
(2)
"Trận đánh quyết định của thế kỷ 20", Lon
don, năm 1976, tr. 321.
----------------------------------
chắc
chắn đã phản ánh mối lo ngại ngày càng tăng về những
thương vong nặng nề ở Nam Việt Nam và sự tổn thất
chi phí cho việc kéo dài cuộc chiến tranh với Mỹ. Có
nhiều khả năng là cuộc tổng tấn công đã được đề
ra với tâm trạng lạc quan quá mức khi cho rằng các khu
vực đồng bằng Nam Việt Nam đã chín muồi cho cuộc cách
mạng.
Nhưng không hề có dấu hiệu cho thấy Hà Nội
nghĩ rằng cuộc tấn công sẽ mang tính quyết định. Chắc
chắn những nhà lãnh đạo của cuộc tấn công đã hài
lòng với việc dùng sức mạnh để đánh đổ chính quyền
Nam Việt Nam và buộc Mỹ rút quân. Nhưng cũng rất có thể
họ xem cuộc tấn công là một phần cần thiết của
chiến lược "vừa đánh, vừa đàm" nhiều mặt,
phức tạp và lâu dài. Không có gì chứng tỏ Bắc Việt
Nam đã ấn định thời gian của cuộc tổng tấn công
trùng hợp thời điểm của giai đoạn đầu chiến dịch
vận động bầu cử tổng thống Mỹ, mặc dù chắc chắn
họ hy vọng khai thác được tâm trạng chán chường chiến
tranh ngày một tăng ở Mỹ.
Trong năm 1967, Hà Nội
bắt đầu triển khai các kế hoạch cụ thể để thực
hiện chiến lược mới. Nhằm nhử quân đội Mỹ ra khỏi
các trung tâm đông dân cư và tiếp tục gây thương vong
lớn cho Mỹ, quân giải phóng đã mở hàng loạt cuộc tấn
công quy mô lớn ở các vùng xa xôi, hẻo lánh. Họ còn mở
những cuộc tấn công được hiệp đồng tốt đánh vào
các thành phố chính và thị trấn lớn ở Nam Việt Nam
với mục đích làm suy yếu chính quyền Sài Gòn và nhen
nhóm ngọn lửa "tổng khởi nghĩa" trong dân chúng.
Đồng thời, nhiều nỗ lực mới để mở ra cuộc đàm
phán với Mỹ cũng được Bắc Việt Nam thúc đẩy. Bắc
Việt Nam rất có thể đã hy vọng thông qua hàng loạt
hành động hiệp đồng này buộc Mỹ chấm dứt ném bom,
làm suy yếu chế độ Sài Gòn, làm sâu sắc thêm mối bất
đồng giữa nước Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam và tăng
áp lực đối với sự thay đổi chính sách tại nước
Mỹ. Mục tiêu cuối cùng của họ là giành được một
giải pháp thương lượng có thể chấp nhận được,
trong đó những yếu tố tối thiểu cũng sẽ là một
chính phủ liên minh tạm thời và Mỹ phải rút quân.
Hà
Nội bắt đầu tiến hành kế hoạch vào cuối năm
1967.
Trong tháng 10 và tháng 11, quân chính quy Bắc
Việt Nam tấn công căn cứ hải quân lục chiến ở Cồn
Tiên gần biên giới Lào, và các thị xã Lộc Ninh, Sông
Bé gần Sài Gòn và Đắc Tô ở Tây Nguyên. Ngay sau đó,
hai sư đoàn Bắc Việt Nam bao vây căn cứ hải quân lục
chiến tại Khe Sanh gần biên giới Lào. Cùng lúc, các đơn
vị tinh nhuệ của Việt cộng tiến vào các thành phố và
thị xã, tích luỹ hàng dự trữ, chuẩn bị cho những
bước cuối cùng của kế hoạch. Nhằm làm suy yếu chính
quyền Sài Gòn, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam khuyến khích thành lập "mặt trận nhân dân"
gồm những nhân vật trung lập và cố gắng lôi kéo quan
chức chính phủ và binh lính Việt Nam Cộng hoà đào ngũ
bằng cách rộng lượng khoan hồng và cho giữ một số
chức vụ trong chính phủ liên hiệp. Nhằm khoét sâu sự
bất đồng ý kiến giữa Mỹ và Thiệu Mặt trận còn
tiến hành tiếp xúc bí mật với đại sứ Mỹ tại Sài
Gòn và tung tin về các cuộc đàm phán hoà bình. Tiếp đó
vào tháng 12- 1967, Hà Nội tuyên bố dứt khoát rằng họ
sẽ đàm phán với Mỹ nếu Jonhson ra lệnh ngừng ném
bom.
Giai đoạn đầu trong kế hoạch của Bắc Việt
Nam đã ...
... được thực hiện một cách
hoàn hảo. Việc Westmoreland nhanh chóng gửi quân chi viện
đến Cồn Tiên, Lộc Ninh, Sông Bé và Đắc Tô tuy có đẩy
lùi được quân Bắc Việt Nam ở những khu vực này nhưng
cũng phân tán lực lượng Mỹ và khiến cho các thành phố
rơi vào tình trạng dễ bị tấn công. Cuối năm 1967, tổng
thống Mỹ cùng Westmoreland và gần như cả nước Mỹ đều
dồn hết sự chú ý vào khu vực Khe Sanh, nơi mà rất
nhiều người Mỹ phỏng đoán rằng đó là nơi tướng
Giáp lựa chọn để lặp lại trận Điện Biên Phủ.
Chiến sự được báo chí và truyền hình đưa tin hàng
ngày. Johnson thường xuyên nhấn mạnh phải giữ cứ điểm
đó bằng mọi giá và thường xuyên theo dõi sát trận
chiến trên bản đồ địa hình treo trong "Phòng tác
chiến" nhà Trắng. Westmoreland điều 6.000 quân đến
bảo vệ khu đồn trú này và máy bay B-52 thực hiện các
trận không kích dữ dội nhất trong lịch sử chiến tranh
với số lượng bom ném xuống hơn 100.000 tấn trên một
bãi chiến trường rộng khoảng 13 km2 (1).
Trong khi
Mỹ tập trung chú ý vào Khe Sanh thì Bắc Việt Nam và Việt
cộng chuẩn bị giai đoạn hai của chiến dịch. Cuộc tấn
công vào các thành phố được ấn định trùng với ngày
bắt đầu Tết âm lịch, một lễ hội truyền thống của
Việt Nam. Hà Nội đã nhận định chính xác rằng trong
thời gian đó Nam Việt Nam sẽ xả hơi và vui chơi, bính
lính về thăm nhà, quan chức chính phủ nghỉ việc. Trong
khi người Mỹ và Nam Việt Nam chuẩn bị cho những ngày
nghỉ thì
------------------------------------------------
(1)
Sự kết thúc của phòng tuyến: Cuộc bao vây Khe Sanh, New
York, năm 1982.
---------------------------------
các đơn
vị Việt cộng đã chuẩn bị sẵn sàng cho một trận
đánh ác liệt nhất trong cuộc chiến tranh. Trà trộn trên
các phương tiện giao thông đông đúc nhân ngày nghỉ,
quân giải phóng cải trang thành lính Việt Nam Cộng hoà
hoặc dân thường thâm nhập vào các thành phố và thị
xã, một số người còn táo bạo đi nhờ xe Mỹ. Vũ khí
được chở bí mật trên các xe chở rau hoặc thậm chí
trong xe các đám tang giả.
Trong 24 giờ sau giao thừa,
ngày 30-1-1968, Việt cộng mở hàng loạt cuộc tấn công
mở rộng từ khu phi quân sự tới mũi Cà Mau, nơi địa
đầu phía Nam Việt Nam. Họ đánh 36 trong số 44 tỉnh lỵ,
5 trong số 6 thành phố lớn, 64 huyện lỵ và 50 ấp. Tại
Sài Gòn, ngoài trận đánh táo bạo vào đại sứ quán Mỹ,
các đơn vị Việt cộng còn tấn công sân bay Tân Sơn
Nhất, dinh tổng thống và trụ sở Bộ tổng tham mưu.
Tại
Huế, 7.500 Việt cộng và quân đội Nam Việt Nam đã đánh
như vũ bão và cuối cùng chiếm được khu thành cổ, đại
nội.
Cuộc tổng tấn công nổ ra đúng thời điểm
Mỹ và chính quyền Nam Việt Nam không có sự phòng bị.
Trước đó, tình báo Mỹ đã thu được các dấu hiệu về
hoạt động tích cực của Việt cộng trong các thành phố
và khu vực lận cận và thậm chí đã cho dịch một số
tài liệu thu được, trong đó tuy không nêu cụ thể ngày
tháng, nhưng phác hoạ khá chi tiết một kế hoạch tấn
công. Nhưng Bộ chỉ huy Mỹ vì quá bận tâm với Khe Sanh
đến mức họ coi những chứng cứ về hoạt động ở
thành phố là chiến thuật nghi binh đánh lạc hướng họ
ra khỏi chiến trường chính. Mỹ lại đánh giá thấp khả
năng của đối phương như những lần trước. Quân giải
phóng dường như bị tổn thất quá nặng nề trong các
chiến dịch năm 1967, đến mức người Mỹ không thể
tưởng tượng rằng họ có thể phục hồi và giáng một
đòn tầm cỡ như cuộc tổng tiến công này. Một sĩ quan
tình báo của Westmoreland sau này thừa nhận: "Điều
đó đã xảy ra nhưng nó vô lý đến mức tôi không thể
báo cho bất kỳ người nào" (1).
Mặc dù bị
bất ngờ nhưng Mỹ và chính quyền Nam Việt Nam đã nhanh
chóng lấy lại bình tĩnh. Thời gian của cuộc tổng tấn
công được hiệp đồng không tốt và những cuộc tấn
công vội vã ở một số thị trấn đã rung lên tiếng
chuông cảnh báo khiến Westmoreland có thể đưa quân chi
viện đến các vùng dễ bị tấn công. Bên cạnh đó,
Việt cộng chậm phát huy những thành công ban đầu khiến
Mỹ có thời gian để tổ chức phòng thủ vững vàng. ở
Sài Gòn, các lực lượng Mỹ và Việt Nam Cộng hoà đã
chặn được những cuộc tấn công đầu tiên và trong vài
ngày đã đẩy lùi đối phương ra khỏi thành phố, gây
cho đối phương thương vong lớn. ở các nơi khác, kết
quả cũng tương tự. Lính Việt Nam Cộng hoà đã chiến
đấu tốt hơn những gì Mỹ mong đợi, Mỹ và quân Việt
Nam Cộng hoà sử dụng ưu thế về sức cơ động và hoả
lực để giành lợi thế to lớn. Ngày 18-2, Việt cộng
tiếp tục mở đợt tấn công thứ hai, nhưng đó chỉ là
những trận nã rốc két và đạn cối vào các cơ sở
quân sự Mỹ và Nam Việt Nam rồi sau đó nhanh chóng giảm
cường độ.
Huế là ngoại lệ duy nhất trong khuôn
mẫu. Trận đánh
...
-------------------------------------------------
(1)
Trích từ cuốn William C.Westmoreland, "Ghi chép của thột
người lính" - NXB Garden City, New York, năm 1976,
tr.321.
----------------------------------------
... giành lại thành phố Huế kéo
dài gần 3 tuần và phải sử dụng đến những trận ném
bom dữ dội cũng như hoả lực mạnh của pháo. Đây là
một trong những trận đánh dẫm máu nhất và mang tính
huỷ diệt nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Mỹ và
Việt Nam Cộng hoà thiệt hại khoảng 500 quân. Trận đánh
dữ dội này đã gây thương vong lớn cho dân thường và
khiến cho khoảng 100.000 người lâm vào cảnh tị nạn.
Thành phố Huế thơ mộng với nhiều công trình kiến trúc
quý giá mà theo như lời một nhà quan sát "trở nên
xơ xác, các phố phường trở nên nghẹt thở bởi sự đổ
nát và những xác chết đã bốc mùi"(1).
Thậm
chí đến tận bây giờ, việc đánh giá tác động của
các trận đánh tổng tấn công Tết Mậu Thân vẫn còn
rất khó khăn.
Nếu xét dưới một góc độ nào đó
thì tổng tấn công Tết Mậu Thân là "thất bại"
của đối phương, nhưng đó lại là "thắng lợi"
đắt giá đối với Mỹ và chính quyền Nam Việt Nam. Các
lực lượng Việt Nam Cộng hoà phải rút từ nông thôn về
bảo vệ các thành phố và "Chương trình bình định"
lại chịu bước thất bại lớn nữa. Sự tàn phá ở các
thành phố đã làm nảy sinh rất nhiều vấn đề trầm
trọng mới đè nặng lên một chính quyền mà trước đó
dã tỏ ra rất hạn chế về khả năng điều hành công
việc thường ngày. Tuy thương vong của Mỹ và Nam Việt
Nam tương đối cao: trong hai tuần đầu của chiến dịch,
Mỹ thiệt hại 1.100 quân và Nam Việt Nam là 2.300. Ước
tính 12.500 dân thường bị chết và có tới 1 triệu dân
tị nạn. Cuộc chiến tranh này đã gây ra sự tàn phá
khốc liệt và thương vong nặng nề nhưng hoàn toàn không
rõ ai thắng, ai
thua.
------------------------------------------------------
(1)
Dave Richard Palmer, "Summons of Trumpet", NXB San Rafael,
Calif, năm 1978,
tr.194.
------------------------------------------
Nếu
như Bắc Việt Nam tiến hành tổng tấn công Tết Mậu
Thân để gây ảnh hưởng với Mỹ thì họ đã thành công
vì nó ngay lập tức gây ra chấn động mạnh trên toàn
nước Mỹ. Một số bản tin ban đầu đã thổi phồng
thành công của trận đánh vào toà đại sứ, thậm chí
một số bản tin còn chỉ ra rằng Việt công đã chiếm
nhiều tầng của toà đại sứ. Tuy những tin tức ban đầu
này đã được kịp thời sửa sai nhưng phản ứng trước
sự kiện này vẫn là điều không thể không tin. Người
ta nói phát thanh viên danh tiếng Walter Cronkite đã đốp
chát: "Điều quái quỷ gì đang xảy ra vậy? Vậy mà
tôi tưởng chúng ta đang thắng cuộc chiến tranh này cơ
đấy" (1).
Các bản tin tường thuật trận chiến
đẫm máu ở Sài Gòn và Huế trên truyền hình làm cho
những báo cáo cuối năm đầy lạc quan của Johnson và
Westmoreland trở thành trò cười, khoét sâu thêm khoảng
cách về lòng tin, và nhiều nhà báo đã công khai chỉ
trích những tuyên bố thắng lợi của Westmoreland. Nghệ
sĩ hài Art Buchwald đã diễu cợt những tuyên bố của vị
tướng nói trên bằng cách dùng lời nói của Custer tại
trận Little Big Horn như sau: "Bọn Sioux đang tháo chạy.
Dĩ nhiên chúng ta còn một số việc làm để thu dọn
chiến trường nhưng bọn da đỏ hiện bị thương vong
nặng và việc chúng đầu hàng chỉ còn là vấn đề thời
gian".(2) Cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân đã đặt
ra những câu hỏi nâng nhận thức của công chúng Mỹ lên
một tầm cao
-----------------------------------------------
(1)
Oberdorfer, "Tết", tr.158.
(2) Washington Post, ngày
6-2-1968
------------------------------------------
mới
về cuộc chiến tranh bị che đậy khá lâu về nhiều
điều.
Nhận xét ngoài lề của một sỹ quan quân
đội Mỹ từng tham gia trận đánh chiếm lại một làng ở
Bến Tre, "chúng ta phải phá huỷ thị xã để cứu
nó" là hình ảnh thu nhỏ về sự huỷ diệt phi nghĩa
của chiến tranh. Những bức ảnh chân thực về một trùm
cảnh sát Sài Gòn dí súng lục vào đầu một tù binh Việt
cộng rồi nổ súng là hình tượng trần trụi phơi bày
sự thật rằng bạo lực đã vượt lên trên cả đạo
đức và luật pháp (1). Cuộc tổng tấn công Tết
Mậu Thân đã đẩy Washington vào trạng thái "rối
loạn đầy khó chịu và bất ổn" (2).
Westmoreland
khăng khăng nói rằng các trận đánh đã bị đẩy lùi và
không cần thiết phải lo lắng bất cứ trở ngại nào,
nhiều quan chức chính quyền công khai nhắc lại những
tuyên bố của ông ta. Nhưng Johnson và các cố vấn của
ông ta thực sự bị sốc trước sự bất ngờ và tầm
vóc của cuộc tấn công. Những đánh giá của cơ quan
tình báo còn bi quan hơn cả Westmoreland. Nhiều quan chức
lo sợ rằng Tết chỉ là giai đoạn mở đầu của một
cuộc tấn công lớn hơn của Việt cộng. Một số người
cảm thấy Khe Sanh vẫn là mục tiêu chính, nỗi lo sợ này
dường như được xác nhận khi các lực lượng bao vây
lại tiếp tục tấn công căn cứ hải quân lục
...
----------------------------------------------
(1)
Oberdorfer, Tết, tr.164-171, 184-185; George A. Bailey và Lawrence
W. Lichty, Công lý tàn bạo trên đưòng phố Sài Gòn: Một
nghiên cứu trong phim Sự tiến hành Tổng tiến công Tết
Mậu Thân do NBC thực hiện", Tạp chí Báo chí hàng
qúy, 49, Mùa hè năm 1972, tr.221-229.
(2) Townsend Hoopes:
Giới hạn của sự can thiệp, New York, năm 1970,
tr.145.
-----------------------------------------------------
... chiến đó vào đầu tháng 2.
Một số người khác lại sợ một trận đánh lớn ở
các tỉnh phía Bắc của Nam Việt Nam hoặc đợt tấn công
thứ hai vào các thành phố. Taylor về sau nhận xét: một
"bầu không khí bi quan" bao phủ trong các cuộc bàn
luận ở nhà Trắng và tướng Wheeler ví von không khí đó
với bầu không khí sau trận đánh đầu tiên tại Bull Run
(1).
Tổng thống đáp lại bằng một quyết tâm sắt
đá là phải trụ vững bằng mọi giá. Ông ta nhấn mạnh
phải giữ bằng được Khe Sanh và yêu cầu Westmorland hãy
sẵn sàng điều bất kỳ lực lượng tiếp viện nào cần
thiết để bảo vệ cứ điểm này cũng như để đối
phó với bất kỳ mối đe dọa nào khác.
Wheeler báo
cho Sài Gòn: "Nếu các ngài cần thêm quân thì cứ yêu
cầu và Mỹ không chấp nhận thất bại ở Nam Việt Nam".
Khi Westmorland nói ông ta đánh giá cao mọi sự giúp đỡ
mà ông có thể nhận được, Johnson đã tức khắc ra lệnh
điều thêm 10.500 quân sang Việt Nam. Trong những tuần đầu
sau Tết, mối quan tâm chính của tổng thống là "tiếp
tục cuộc chiến tranh càng nhanh càng tốt", không chỉ
bằng cách điều thêm quân tiếp viện mà còn bằng cách
tăng cường các trận không kích vào Bắc Việt Nam
(2).
Theo quan điểm của giới quân sự thì tinh thần
khẩn trương mới ở Washington tạo cơ hội đúng lúc để
buộc phải có những quyết định vốn đã bị trì hoãn
quá lâu. Wheeler và các tham mưu trưởng liên quân từ năm
1965 đã thúc ép
động
-------------------------------------------------------
(1)
Phỏng vấn Earle Wheeler, Văn kiện Johnson.
(2) Herbert
Schandler, "Sự thay đổi của một tổng thống: Lyndon
Johnson và Việt Nam", NXB Princelon, N.J, 1977, tr.91; "Diễn
văn ngày 31-3" Văn kiện Johnson, Văn kiện an ninh quốc
gia, Lịch sử Hội đồng An ninh Quốc gia: Diễn văn ngày
31-3-1968, hộp
47.
----------------------------------------------------
viên
lực lượng dự bị, và vào tháng 2-1968 họ khẳng định
rằng phải làm việc này ngay tức khắc. Cuộc tổng tấn
công Tết Mậu Thân cho thấy rõ khả năng sẽ phải đưa
thêm quân tăng cường cho Nam Việt Nam. Vụ Bắc Triều
Tiên bắt giữ chiến hạm pueblo của Mỹ hồi tháng 1 và
sự cố mới ở Berlin đã làm thức dậy nỗi lo sợ rằng
Mỹ có thể phải điều thêm quân đến những điểm rắc
rối kinh niên của cuộc chiến tranh lạnh. Các lực lượng
hiện có thì gần như đã cạn kiệt và Wheeler lo rằng Mỹ
không thể đáp ứng được những cam kết toàn cầu nếu
không thực hiện động viên lực lượng dự bị
ngay.
Tin chắc có thể khai thác được thất bại
của đối phương hồi Tết và phấn khởi trước việc
tổng thống tỏ ý sẵn sàng điều thêm số lượng lớn
quân chi viện, Westmorland lại nêu lên những đề nghị mở
rộng chiến tranh mà ông ta đưa ra từ năm 1967. Ông ta nói
với Washington rằng quyết định của đối phương "ném
toàn bộ sức mạnh quân sự vào chiếu bạc và liều
thân" sẽ tạo cho Mỹ "cơ hội lớn". Việt
cộng không thể khắc phục được những tổn thất nặng
nề trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân và
Westmorland tin chắc với số quân tăng viện lớn, ông ta
có thể nắm thế thượng phong. Chiến lược "Hai nắm
đấm" với "một cú đấm móc bằng lực lượng
đổ bộ đường biển" vào các căn cứ của Bắc
Việt Nam và các khu vực xung quanh khu phi quân sự, các
trận đánh vào những vùng đất thánh ở Lào, Camphuchia
và một chiến dịch ném bom dữ dội chống Bắc Việt Nam
đã được ông ta định hình. Westmorland tin rằng nếu tấn
công đối phương vào lúc họ đang bị căng ra, ông ta có
thể nhanh chóng rút ngắn cuộc chiến tranh
(1).
-----------------------------------------------------------
(1)
Chính sách đối ngoại, tháng 2 năm 1968, số 4, mùa thu năm
1971, tr.
17.
-------------------------------------------------------
Cuối
tháng 2, Wheeler và Westmoriand họp bàn ở Sài Gòn để vạch
ra một kế hoạch buộc tổng thống phải nhúng tay vào.
Dường như Wheeler lâu nay vẫn ít lạc quan hơn Westmorland
về những triển vọng trước mắt ở Việt Nam, nhưng ông
ta nhất trí nhất rằng dù tổng tấn công Tết Mậu Thân
đã tạo nên vận hội mới hay những mối nguy hiểm lớn
hơn thì nó cũng biện minh cho đòi hỏi tăng quân chi viện
lớn. Hai nhân vật này nhất trí với con số 206.000 quân,
một con số đủ lớn để đối phó với mọi tình huống
khẩn cấp ở Việt Nam và đủ để buộc phải động
viên lực lượng dự bị. Gần nửa số này sẽ được
triển khai sang Việt Nam vào cuối năm và số còn lại
được dùng làm lực lượng dự bị chiến lược. Wheeler
không phản đối những thay đổi về chiến lược theo đề
nghị của Westmorland, nhưng ông ta thuyết phục vị tư
lệnh dã chiến tốt nhất là dừng lại đề nghị nói
trên cho đến khi tổng thống phê chuẩn mức quân
mới.
Ông ta hiểu thực chất của việc tổng thống
phản đối mở rộng chiến tranh và nếu trình bày ý kiến
xin thêm quân trên cơ sở một đánh giá lạc quan và một
chiến lược tấn công thì có thể ý kiến đó sẽ bị
bác. Quân số, chứ không phải là chiến lược, đã tạo
nên "một điểm mạnh hơn để nói chuyện"
(1).
Báo cáo của Wheeler đệ trình lên Washington rất
bi quan. Sau khi mô tả cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân
như một cái gì đó "suýt thành công", ông ta báo
động rằng những trận đánh ban đầu của đối phương
gần như đã thắng lợi ở nhiều nơi và chỉ bị đẩy
lùi khi quân Mỹ "phản ứng
...
------------------------------------------------
(1)
Sách đã dẫn, tr.21.
---------------------------------
... kịp thời". Bắc Việt
Nam và Việt cộng chịu tổn thất nặng nhưng họ đã thể
hiện khả năng khôi phục nhanh và có thể họ sẽ tìm
cách kéo dài cuộc tấn công bằng những trận đánh mới.
Rồi ông ta kết luận, nếu không được tăng thêm quân
thì Mỹ phải "sẵn sàng chấp nhận một số bước
lùi".
Đây là một suy tính khôn khéo nhằm gây
ảnh hưởng để tổng thống phải chấp nhận, bởi trước
đó, ông ta đã nêu rõ là không chấp nhận thất bại.
Wheeler nhấn mạnh cần có những đợt tăng quân lớn để
bảo vệ các thành phố, đẩy đối phương ra khỏi các
tỉnh phía Bắc của Nam Việt Nam và bình định nông thôn.
Có thể sự bi quan của ông ta là chân thật vì trước
đây ông ta chưa bao giờ có niềm tin như Westmorland. Nhưng
rõ ràng qua việc đưa ra một đánh giá bi quan, ông hy vọng
đẩy chính quyền Mỹ đến chỗ cung cấp một số quân
cần thiết để xây dựng lại lực lượng dự bị chiến
lược đã bị thui chột và để đối phó với mọi sự
cố ở Việt Nam. Đề nghị của ông đã tạo ra cuộc
tranh luận còn mạnh mẻ hơn cuộc tranh luận từng kéo
dài tại Washington trong suốt năm 1967 (1).
Báo cáo
của Wheeler gây choáng váng cho một chính phủ vốn đã
lâm vào tình trạng kinh hoàng. Xét về mặt lựa chọn
chính sách, nó đặt ra một thế tiến thoái lưỡng nan.
Vị tướng này khuyến nghị, nếu từ chối đề nghị
xin thêm 206.000 quân thì có thể dẫn đến thất bại quân
sự hoặc chí ít dẫn đến chỗ cuộc chiến tranh kéo dài
vô tận. Mặt khác,
-------------------------------------
(1)
Báo cáo của Wheeler, ngày 27-2-1968, trích trong Neil Sheehan,
Văn kiện Lầu Năm góc do Thời báo New York công bố, New
York, năm 1971,
tr.615-621.
----------------------------------------
chấp
nhận đề nghị đó thì sẽ đẩy cuộc chiến tranh leo
thang mạnh hơn và đè nặng lên nhân dân Mỹ những đòi
hỏi nặng nề mới đúng vào năm bầu cử và lúc nỗi lo
lắng của công chúng về cuộc chiến tranh Việt Nam đã
được thể hiện ra lời nói. Không muốn đề ra một
quyết định vội vã về một vấn đề có rất nhiều
khía cạnh trầm trọng, Johnson chuyển vấn đề đó sang
tay Clark Clifford, người vừa thay McNamara làm bộ trưởng
bộ quốc phòng, kèm theo một chỉ thị nghiêm khắc: "Hãy
đưa cho tôi những thứ quỷ quái ít tai hại hơn"
(1).
Cho tới nay vẫn chưa rõ Johnson đã chỉ thị
cho Clark Clifford đánh giá lại toàn diện chính sách Việt
Nam hay tự vị bộ trưởng quốc phòng này làm điều đó.
Tầm vóc của đề nghị này lớn đến mức cần phải có
sự nghiên cứu cẩn trọng, một điểm mà Johnson nhận
thức được dù ông ta không chỉ thị rõ ràng cho Clark
Clifford làm theo đường hướng đó.
Clifford trước
đây luôn bảo vệ chính sách Việt Nam của tổng thống,
nhưng vì mới lên nhậm chức và phải làm sáng tỏ nhiều
vấn đề nên ông này đã đi theo hướng đánh giá lại
toàn diện. Trong lãnh vực này ông ta được sự khích lệ
của nhiều nhân vật dân sự cấp cao trong Lầu Năm góc
như Paul Wamke, Townsend Hoopes, Paul Nitze, những người vốn
từ lâu không nhất trí với chiến lược của Mỹ và
cũng có phần chịu trách nhiệm về việc chuyển hoá
McNamara. Do đó Clifford ngay lập tức bắt đầu đệ trình
lên cấp cao nhất những câu hỏi đã bị né tránh trong
nhiều năm. Ông ta yêu cầu Wheeler và Westmorland cung cấp
những thông
tin
-----------------------------------------------------------
(1)
Lyndon B. Johnson, Lợi điểm, New York, năm 1971,
tr.392-393.
-----------------------------------------------------
chính
xác về việc triển khai số quân có thể được bổ sung
như thế nào và kết quả có thể chờ đợi. Đồng thời
ông ta chỉ thị cho các cố vấn dân sự của mình nghiên
cứu mọi khía cạnh của đề nghị này và xem xét mọi
phương án có thể xảy ra (1).
Chớp thời cơ này,
phái dân sự trong Lầu Năm góc phản ứng bằng cáo buộc
mạnh mẽ chính sách hiện tại. Alain Enthoven, chuyên gia
phân tích hệ thống đã đả kích rằng, yêu cầu xin thêm
quân là một đợt "chi tiền mới cho một cam kết vô
tận" và phủ nhận lập luận cho rằng tăng quân sẽ
rút ngắn cuộc chiến tranh (2). Bắc Việt Nam đã thể
hiện rõ khả năng tăng quân nếu Mỹ tăng quân và có thể
hạn chế tổn thất nếu họ muốn. Enthoven và những
người khác cho rằng thậm chí với 206.000 quân chi viện,
chiến lược hiện tại sẽ "không sớm kết thúc được
xung đột cũng như không thể tiêu hao được đối phương
hoặc cũng không làm cho Hà Nội giảm sút ý chí chiến
đấu". Hơn nữa cái giá phải trả sẽ đắt hơn.
Việc cung cấp thêm quân ở mức độ lớn có thể dẫn
đến việc "hoàn toàn Mỹ hoá cuộc chiến tranh",
khuyến khích xu hướng chây lười của quân đội Việt
Nam Cộng hoà và càng làm cho giới cầm quyền Nam Việt
Nam tin rằng Mỹ sẽ tiếp tục chiến đấu trong lúc họ
lao vào hoạt động chính trị ở hậu trường và để
mặc tham nhũng lan
...
--------------------------------------------------------
(1)
Những quan điểm khác nhau về một vấn đề, xem Lyndon B.
Johnson, Lợi điểm, New York, năm 1971, tr.397; Clark Clifford,
"Nhận định mới về Việt Nam", Tạp chí Các vấn
đề đối ngoại, số 47, tháng 7-1969, tr.609 và Schandler,
"Johnson và Việt Nam", tr.134-137.
(2) văn kiện
Lầu Năm góc (Gravel), Thượng viện, Quốc hội Mỹ, (4
tập) Boston, năm 1971, quyển IV,
tr.558.
--------------------------------------------------------
... tràn. Mở rộng chiến tranh sẽ
chỉ đem lại thương vong nhiều hơn cho quân Mỹ và đòi
hỏi thuế cao hơn, do đó có nguy cơ gây "khủng hoảng
trong nước ở thức độ chưa từng thấy". Vì vậy,
các cố vấn của Clifford nhất trí là chính quyền Mỹ
phải duy trì những giới hạn hiện tại đối với cuộc
chiến tranh và chỉ cho Westmorland thêm một số quân tượng
trưng (1).
Nhưng các quan chức dân sự của Lầu Năm
góc còn tiến xa hơn với đề xuất phải có những thay
đổi lớn trong chính sách của Mỹ. Trong báo cáo cuối
cùng, họ yêu cầu chuyển từ chiến lược "tìm và
diệt" với mục tiêu "tiêu hao sinh lực địch"
sang chiến lược "bảo đảm an ninh cho dân chúng".
Đa số lực lượng Mỹ sẽ được triển khai dọc theo
"ranh giới dân cư" là một ranh giới tưởng tượng
ngay phía Bắc các trung tâm dân cư lớn mà ở đó họ có
thể phòng thủ chống những trận đánh lớn của Bắc
Việt Nam và để làm cho chủ lực của đối phương mất
thăng bằng. Đồng thời Mỹ phải bắt quân đội Việt
Nam Cộng hoà gánh vác phần trách nhiệm lớn hơn trong
cuộc chiến tranh và buộc chính phủ Sài Gòn phải "chấm
dứt mâu thuẫn nội bộ, trừng trị các sĩ quan và quan
chức tham nhũng và tiến tới phát triển các lực lượng
có hiệu lực". Mục tiêu của kế hoạch mới này là
một giải pháp qua thương lượng chứ không phải là một
thắng lợi quân sự và về mặt này các quan chức dân sự
đòi hạ các mục tiêu của Mỹ xuống "một nền hoà
bình trong đó người dân Nam Việt Nam được tự do xây
dựng các thể
chế
-------------------------------------------------------
(1)
Như trên, tr.563-564.
------------------------------
chính
trị của họ". Kế hoạch này tương tự với đề
nghị của McNamara năm 1967, nhưng nó được nhấn mạnh
hơn và đi sâu hơn trong việc phác hoạ những phương án
cụ thể (1).
Giới quân sự kịch liệt phản đối
những đề nghị của Bộ Quốc phòng. Nhận thấy có sự
đe dọa đối với đề nghị xin thêm quân của mình-mà
thực chất là đe dọa toàn bộ kế hoạch của mình,
Westmorland được sự hỗ trợ của Wheeler, cảnh cáo rằng
việc bác bỏ đề nghị này sẽ làm Mỹ mất đi một
thời cơ tuyệt vời để chớp lấy những biến chuyển
thuận lợi của tình hình chiến lược. Còn Wheeler thì
vạch ra những "sai lầm tai hại" trong chiến lược
"bảo đảm an ninh cho dân chúng", cảnh báo rằng
nó sẽ dẫn đến hậu quả làm tăng cường chiến sự ở
gần các trung tâm dân cư, do đó làm tăng thương vong cho
dân thường và sẽ để mất thế chủ động vào tay đối
phương (2). Đô đốc Grant Sharp, tổng tư lệnh các lực
lượng Thái Bình Dương nói: "Nước Mỹ đang đứng
trước ngã ba đường, họ phải lựa chọn một trong hai
con đường, sử dụng sức mạnh không hạn chế để
giành chiến thắng, chấp nhận "chiến lược leo thang
từng bước" và một "cuộc đọ sức kéo dài"
hoặc "rút khỏi Đông Nam á trong thất bại, để mặc
đồng minh một mình chống chọi với chủ nghĩa cộng
sản". Cùng với Westmorland, các tham mưu trưởng liên
quân tiếp tục chủ trương phải cho phép lực lượng
quân sự truy kích đối phương sang Lào và Campuchia, "đánh
tơi bời Bắc Việt Nam" từ ngoài biển và từ trên
không và sau khi đổ quân theo kiểu nhân
xuyên
-----------------------------------------------------
(1)
Như trên, tr.564-568.
(2) Như trên, tr.
568.
-------------------------------------------------
(Triều
Tiên) sẽ chiếm đóng nhiều phần của Bắc Việt Nam tới
tận khu vực cách khu phi quân sự 48 km về phía bắc
(1).
Như vẫn thường xuyên xảy ra, Clifford đã
khuyến khích chống lại đề nghị của phái quân sự
nhưng không giải quyết cuộc tranh luận về chiến lược.
Vị bộ trưởng này có vẻ ngả về chiến lược "bảo
đảm an ninh cho dân" và hạ thấp mục tiêu của Mỹ.
Ngày 4 tháng 3, ông ta phàn nàn: "Tôi thấy chiến sự
ngày càng ác liệt và thương vong của Mỹ ngày càng tăng
mà chưa nhìn thấy kết cục cuộc chiến"(2). Có lẽ
ông ta đã cảm thấy sự thay đổi trong đề nghị bao hàm
ý ngầm chính sách của Mỹ đã thất bại, sẽ là cái gì
đó lớn hơn mức độ tổng thống có thể chấp nhận và
phải chuẩn bị cho Johnson chấp nhận thay đổi dần dần
chứ không nên đụng đầu với tổng thống ngay tức
khắc. Báo cáo chính thức của Clifford cố gắng giữ cho
vấn đề chiến lược sống động bằng cách yêu cầu
tiếp tục nghiên cứu các phương án có thể có, nhưng
báo cáo này không nói đến những vấn đề mà giới dân
sự nêu lên ở Lầu Năm góc. Bộ trưởng quốc phòng chỉ
đề nghị bổ sung ngay sang Việt Nam 22.000 quân, động
viên quân dự bị ở mức nào đó, chưa nêu cụ thể và
"tiếp cận mạnh mẽ hơn" với Thiệu-Kỳ để ép
người Việt Nam gánh vác trách nhiệm lớn hơn đối với
cuộc chiến
tranh(3).
--------------------------------------------------------------
(1)
Schandler, Johnson và Việt Nam, tr.166-167, Ghi chép của
Clifford tại cuộc họp 18-3-1968, Văn kiện Clifford, Thư
viện Lyndon Baines Johnson, Austin, Tex.
(2) Ghi chép trong
cuộc họp ngày 4-3-1968, Văn kiện Johnson, Ghi chép của Tom
Johnson tại cuộc họp.
(3) Bản thảo hồi ký của Tổng
thống, ngày 4-3-1968, Văn kiện Lầu Năm góc (Gravel), quyển
IV,
tr.575-576.
-----------------------------------------------------------
Chính quyền Mỹ chính thức chấp
nhận đề nghị của Clifford mà không tranh luận gay gắt.
Tổng thống và các cố vấn dân sự chóp bu của ông ta
từ lâu đã phản đối mở rộng chiến tranh, ngay từ
tháng 11-1967 họ dường như đã nhất trí rằng lực lượng
Mỹ không được tăng vượt mức độ hiện tại. Ngay sau
cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, Johnson đã sẵn sàng
điều thêm quân nếu thấy cần thiết để trụ vững ở
Việt Nam. Nhưng vào lúc ông ta nhận được báo cáo của
Clifford thì tình hình quân sự ở Nam Việt Nam dường như
đã yên ổn. Westmorland và đại sứ Ellsworth Bunker báo cáo
rằng các lực lượng Mỹ và Việt Nam Cộng hoà đã hoàn
toàn hồi phục sau cú sốc ban đầu khi đối phương mở
đợt tấn công và lúc đó đã sẵn sàng phản công.
Trong
tình hình như vậy, không cần phải tăng cường lực
lượng quy mô lớn ngay, dù Johnson chưa chính thức phê
chuẩn đề nghị của Clifford nhưng ông ta đã nhất trí
và chuẩn bị để hành động theo đề nghị đó.
Chính
quyền Mỹ cũng chấp nhận nguyên tắc chính quyền Việt
Nam Cộng hoà phải hành động nhiều hơn để tự bảo vệ
mình. Các cố vấn của Johnson nhất trí rằng theo quan
điểm dài hạn thì giải pháp để Mỹ đạt được các
mục tiêu là khả năng Nam Việt Nam tự đứng vững trên
đôi chân của mình. Cuối năm 1967, họ đã đi đến kết
luận phải hành động nhiều hơn để thúc đẩy tính tự
lập của chính quyền Nam Việt Nam. Khả năng quân đội
Việt Nam Cộng hoà "hồi phục nhanh" sau cơn hoảng
loạn ban đầu khi cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân nổ
ra và hiệu lực chiến đấu bất ngờ của họ trong các
trận đánh sau đó càng củng cố thêm quan điểm này vì
nó cho thấy "Việt Nam hoá chiến tranh" có thể có
hiệu quả thực tế. Thực ra trong các cuộc tranh luận
cuối tháng 2 và đầu tháng 3-1968, một số lập luận
mạnh mẽ nhất phản đối đưa thêm quân ồ ạt sang Việt
Nam cho rằng, việc làm đó sẽ khuyến khích Nam Việt Nam
giảm bớt hoạt động vào lúc họ phải hành động nhiều
hơn và sẽ tước đi những trang thiết bị mà quân đội
Việt Nam Cộng hoà sử dụng thì sẽ tốt hơn. Do vậy vào
đầu tháng 3, chính quyền Mỹ đồng ý thông báo cho Thiệu
- Kỳ biết rằng Mỹ muốn điều thêm sang Nam Việt Nam
một số quân hạn chế và một số lượng trang bị lớn,
nhưng việc Mỹ tiếp tục viện trợ như vậy còn tùy
thuộc vào khả năng Nam Việt Nam tự dàn xếp các vấn đề
của mình và sẵn sàng gánh vác gánh nặng chiến đấu
lớn hơn (1). Quyết định này là bước chuyển hướng
lớn trong chính sách của Mỹ, chí ít cũng là quay trở
lại nguyên tắc đã chi phối sự dính líu của Mỹ trước
năm 1965 và ít nhất cũng đã sơ bộ nhất trí với quan
điểm "Việt Nam hoá chiến tranh", một việc làm
mà sau đó một năm chính quyền Nixon đã rùm beng đưa
ra.
Cùng với việc nhất trí về nguyên tắc với
những đề nghị của Clifford, chính quyền Mỹ nghiêm túc
xem xét việc cắt giảm ném bom và bắt đầu một sáng
kiến hoà bình mới.
Trước đó, bộ trưởng quốc
phòng Clifford đã đề nghị không tiếp tục những bước
vận động hoà bình nữa và để xoa dịu giới quân sự,
ông ta còn đề nghị tăng cường ném bom.
Sáng kiến
hoà bình là của ngoại trưởng Rusk. Có lúc Rusk đã cảm
thấy chiến dịch ném bom chỉ đem lại kết quả không có
lợi với chi phí quá cao và ông ta đề nghị
chính
----------------------------------------------------
(1)
Johnson và Việt Nam,
tr.179.
-----------------------------------------------
quyền
Mỹ nghiêm túc xem xét khả năng hạn chế hoạt động đó,
một cách vô điều kiện, ở những vùng "hoàn toàn
liên quan đến chiến trường", tức là các đường
tiếp tế, các khu vực xuất phát ngay phía Bắc khu phi
quân sự. Ông ta nói một việc làm như vậy chẳng mất
gì của Mỹ vì thời tiết xấu trong vài tháng tới sẽ
hạn chế các trận oanh tạc trên toàn bộ phần phía bắc
của Nam Việt Nam. Bunker suy đoán mục đích của Hà Nội
tiến hành cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân là để
tạo ra một vị thế thuận lợi cho thương lượng. Cuối
tháng 2, nhiều nhân vật hoà giải trung lập đã gửi đến
Bộ Ngoại giao nhiều đề nghị thăm dò hoà bình.
Rusk
ngả sang tin rằng cơ hội cho những cuộc đàm phán có
hiệu quả vẫn còn "mờ mịt" nhưng việc nới
lỏng công thức San Antonio đầy mập mờ có thể thu hút
Hà Nội đến bàn đàm phán và ít nhất có thể dò xét
mục đích của họ.
Cho dù Bắc Việt Nam không phản
ứng tích cực thì cũng thuyết phục được các nhà phê
bình trong nước rằng chính quyền đang thực hiện những
bước quan trọng để thúc đẩy thương lượng. Vị bộ
trưởng này nêu rõ, sau này Mỹ có thể tiếp tục không
kích Hà Nội và Hải Phòng nếu cần thiết khi có sự ủng
hộ nhiều hơn của công chúng (1).
Sau "cuộc vận
động hoà bình" không thành năm 1965, Johnson kiên quyết
chống mọi đề nghị giảm ném bom nhưng ông ta lại bị
đề nghị của Rusk cuốn hút. Tổng thống Mỹ tin chắc
là Bắc Việt Nam đã chịu tổn thất nặng trong cuộc
tổng tấn công Tết Mậu Thân nên kết luận Mỹ có thể
tiến hành thương lượng trên thế mạnh áp đảo. Johnson
...
-----------------------------------------------------
(1)
Johnson và Việt Nam,
tr.181-193.
-----------------------------------------------
... nhận thấy cần thực hiện
điều gì đó để làm dịu đi sự phản đối chiến
tranh đang ngày càng tăng ở trong nước. Ông ta đáp ứng
ý kiến đó bởi nó được Rusk đề xướng, một nhân
vật có lòng trung thành, và đầu óc phán xét đầy thận
trọng mà ông ta đã kính trọng từ lâu (1). Sau này,
Johnson thừa nhận là đã chấp nhận ý kiến giảm ném
bom và thực hiện một sáng kiến hoà bình mới ngay từ
ngày 7-3. nhưng ông ta không có ý định hành động vội
vã, bề ngoài vẫn tỏ vẻ thờ ơ. Johnson chỉ yêu cầu
các cố vấn nghiên cứu vấn đề cẩn thận và đưa ra
những đề nghị cụ thể để sau đó có thể đưa vào
bài diễn văn chính sẽ đọc vào cuối tháng.
Bằng
chứng về sự bất mãn của công chúng đối với cuộc
chiến tranh ngày càng tăng đã thúc đẩy thêm chính quyền
Mỹ đi theo phương hướng mới. Cuộc thảo luận về
chiến tranh Việt Nam trong tháng 2 và 3 năm 1968 diễn ra
trong không khí bi quan và vô vọng. Báo chí tiếp tục mô
tả các sự kiện bằng những lời lẽ rất bất lợi và
đôi khi xuyên tạc.
Những tin tức ban đầu về một
thắng lợi to lớn của đối phương vẫn không được
chấn chỉnh. Việc Mỹ và Việt Nam Cộng hoà đã đẩy
lùi các cuộc tấn công và nhanh chóng ổn định thế trận
hoàn toàn bị chìm trong khung cảnh rối loạn và thất bại
(2). Đối với các bình luận viên báo chí và truyền hình
đã từ lâu phản đối chiến tranh thì cuộc tổng tấn
công Tết Mậu Thân cung cấp một bằng chứng rõ rệt về
tính ngu
------------------------------------------------------
(1)
Johnson đã từng nói về Rusk: "Ông ta có tình thương
của một nhà truyền giáo và dũng khí của người
Georgia. Ông ta là người mà chúng ta cần bên mình khi đi
trên biển." Ghi chép của Max Frankel tại cuộc nói
chuyện với Johnson ngày 8-7-1965, Văn kiện Krock, hộp
1.
(2) Câu chuyện lớn (2 tập), NXB Westview, Com, năm
1977.
-------------------------------------------------
xuẩn
của cuộc chiến. Nhà báo Joseph Kraft đưa tin: "Cuộc
chiến tranh ở Việt Nam không thể thắng và nó càng kéo
dài thì càng có thêm nhiều người Mỹ bị chết và bị
hạ nhục". Nhiều nhân vật tạo dựng dư luận trước
đây vốn ủng hộ tổng thống hoặc chỉ có ý kiến phê
bình nhẹ, thì nay kịch liệt chống chiến tranh. Tờ New
week bình luận: "Một chiến lược gần giống như cũ
là điều không thể tha thứ".
Trong một buổi
phát thanh được quảng cáo ầm ĩ ngày 27- 2, Walter
Cronkite tổng hợp lại tình hình bao trùm lúc đó một
cách hùng hồn: "Nói rằng chúng ta tiến gần đến
thắng lợi là tin một cách bất cẩn hiển nhiên những
kẻ lạc quan trước đây đã mắc sai lầm. Nếu nói rằng
chúng ta bên bờ vực thẳm thất bại tức là khuất phục
trước tư tưởng bi quan phi lý. Nhưng nói rằng chúng ta
đang sa lầy vào một thế bế tắc thì có vẻ là một
kết luận duy nhất hợp lý tuy vẫn chưa thỏa đáng
(1).
Ngày 10-3, Thời báo New York đưa tin chính quyền
đang xem xét việc điều thêm 206.000 quân sang Việt Nam
càng làm cơn giận dữ bùng lên. Lúc này Johnson đã quyết
định bác bỏ đề nghị của Westmoreland nhưng không công
khai để lộ ý định do đó bản tin nói trên đã thổi
bùng lên một làn sóng phản đối dữ dội (2). Các nhà
phê bình chất vấn tại sao cần nhiều quân đến vậy và
liệu có cần thêm quân nữa không? Những người đa nghi
thì chất vấn kết quả của bước tiếp tục leo thang
với lời cảnh cáo rằng Bắc Việt Nam sẽ có thể bám
sát mọi bước tăng quân của Mỹ. Nhà
quan
-----------------------------------------------------
(1)
Oberdorfer, Tết!, tr.251.
(2) Johnson và Việt Nam,
tr.200-205.
------------------------------------------------------------------
sát
Frank McGee của hãng NBC nhận xét, một điều duy nhất dẫn
đến thay đổi là "khả năng huỷ diệt", rồi
kết luận, "đã đến lúc chúng ta phải quyết định
có ích gì không nếu chúng ta huỷ diệt Việt Nam trong một
nỗ lực nhằm cứu họ" (l).
Khả năng có một
đợt tăng quân nữa đã gây một phản ứng mạnh mẽ
trong quốc hội. Các nghị sĩ cả Dân chủ lẫn Cộng hoà,
dù là phái "bồ câu" hay "diều hâu", đều
đòi giải thích và nhấn mạnh quốc hội phải được
tham gia ý kiến vào bất cứ quyết định mở rộng chiến
tranh nào. Uỷ ban Đối ngoại Quốc hội Mỹ đã chất vấn
Rusk trong suốt 11 giờ đồng hồ các ngày 11 và 12-3, điều
đó bộc lộ rõ rệt sự bất mãn ngày càng tăng đối
với các chính sách của chính phủ Mỹ và một quyết tâm
đòi có tiếng nói trong những quyết định tương lai. Một
tuần sau, 139 hạ nghị sĩ đưa ra nghị quyết yêu cầu
xem xét lại toàn bộ chính sách của Mỹ ở Việt Nam. Sự
phản đối ầm ĩ tại quốc hội làm cho chính quyền Mỹ
thêm tin rằng họ không thể leo thang cuộc chiến tranh mà
không gây ra một cuộc tranh cãi kéo dài và gay gắt, một
số quan chức, kể cả Clifford, tin rằng phải có những
biện pháp tối ưu nhằm giảm mức độ dính líu của Mỹ
(2).
Chỉ số về niềm tin của công chúng cũng cho
thấy tâm trạng mất ảo tưởng tăng mạnh. Tỷ lệ ủng
hộ cuộc chiến tranh trong thời gian từ tháng 11-1967 đến
tháng 3-1968 vẫn giữ nguyên một cách đáng chú ý, chỉ
dao động ở mức
...
--------------------------------------------------------
(1)
Oberdorfer, Tết!. tr.273.
(2) Johnson và Việt Nam,
tr.207-217.
----------------------------------------------
... 45% (1). Nhưng tỷ lệ tán
thành cách thức Johnson tiến hành chiến tranh (từng lên
tới 40% nhờ cuộc vận động xây dựng quan hệ với công
chúng năm l967) trong dịp Tết Mậu Thân chỉ còn 26% là
mức thấp nhất chưa xảy ra. Vào tháng 3, 78% dân chúng
Mỹ, một con số áp đảo, đã khẳng định rằng Mỹ
không đạt tiến bộ ở Việt Nam. Những cuộc bỏ phiếu
thăm dò cho thấy dư luận không nhất trí đối với cả
hai hành động leo thang và rút quân, mà chỉ có niềm tin
vững chắc rằng Mỹ đã sa lầy một cách vô vọng cùng
với nỗi hoài nghi ngày một tăng đối với khả năng
Johnson phá thế nổi bế tắc (2).
Vào giữa tháng 3,
sự bất mãn của công chúng đã mang tính chính trị.
Thượng nghị sĩ Mccarthỵ bang Minnesota, một nghị sĩ "bồ
câu" trực tính, đã táo bạo quyết định thách thức
việc tái đề cử Johnson và hoạt động mạnh mẽ đến
ngạc nhiên của ông ta trong cuộc bầu cử sơ bộ ở bang
New Hampshire ngày 12-3 đã đột nhiên biến cái mà trước
đó có vẻ như một cuộc vận động kiểu Đông-ki-sốt
trở thành một sự thách thức chính trị quan trọng. Tên
của Johnson không có trong danh sách ứng cử viên, nhưng tổ
chức đảng dã thực hiện một chiến dịch mạnh mẽ để
điền thêm tên ông ta vào và khi Mc Carthy được 42% số
phiếu thì điều đó được nhiều người coi là một
thất bại của tổng thống. Tài
liệu
---------------------------------------------
(1) Sự
tán thành hay phản đối chiến tranh được đánh giá bằng
câu nói "Bạn có nghĩ rằng Mỹ sai lầm khi đưa quân
đến Việt Nam?" - một cách thức không hoàn chỉnh
tốt nhất để xét đoán một vấn đề phức tạp.
(2)
Louis Harris, "Nỗi thống khổ của những biến đổi",
New York, năn 1973. tr.63-64 và Burns W. Roper, "Cuộc thăm
dò ý kiến công chúng nói lên điều gì" trong
Braestrup. Câu chuyện lớn, quyển 1,
tr.674-704.
-------------------------------------------------------
phân
tích sau này cho thấy, trong số người ủng hộ Mc Carthy ở
New Hampshire thì phái "diều hâu" vượt phái "bồ
câu" với đa số áp đảo. Tuy vậy một số bản đánh
giá cũ lại nhấn mạnh số phiếu nói trên phản ánh một
ý nguyện hoà bình đang lớn mạnh đã xuất hiện trên
đấu trường.
Ngày 16-3, sau nhiều tuần lưỡng lự
và tự vấn lương tâm, thượng nghị sĩ Robert Kennedy bang
New York đã tuyên bố ông ta cũng ra tranh cử tổng thống
với cương lĩnh chống chiến tranh. Cùng với danh tiếng
lẫy lừng và các mối quan hệ rộng trong Đảng, Kennedy
dường như là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với
việc tái đề cử của Johnson. Với tâm trạng lo ngại,
những người trung thành với Đảng Dân chủ buộc tổng
thống phải làm "điều gì đó náo nhiệt và giật
gân để giành giật lại cuộc vận động hoà bình"
và chuyển cách diễn đạt từ chỗ chú trọng vào "giành
thắng lợi trong cuộc chiến tranh" sang "giành hoà
bình trong danh dự" (1).
Khó mà đánh giá được
tác động của dư luận công chúng đối với quá trình
đề ra nghị quyết tháng 3-1968.
Westmoreland và một
số người khác đã buộc tội rằng một giới truyền
thông đại chúng quá thù địch và quá mạnh nhất là các
mạng truyền hình đã "cướp lấy thất bại từ nanh
vuốt của thắng lợi" bằng cách xúi giục công chúng
chống chiến tranh và hạn chế sự tự do hành động của
chính phủ vào đúng lúc Mỹ đã đánh kẻ địch sắp gục
ngã đến nơi (2).
Trên
---------------------------------------------------
(1)
James gửi Johnson, ngày l9-3~1968, Văn kiện của Johnson, Hồ
sơ Watson Marvin, hộp thứ 32.
(2) Westmoreland, Tin tức về
người lính, tr.410: Robert Elegant, "Thất bại của
chiến tranh ra sao", quyển LVII , tháng 8-1981,
tr.73-90.
----------------------------------------------------
thực
tế, từ trước cho đến khi diễn ra cuộc tổng tấn công
Tết Mậu Thân, các đài truyền hình nhìn chung vẫn đưa
tin tức về chiến tranh mang tính trung lập và có lợi cho
chính phủ.
Nhưng cách đưa tin trong và sau tổng tấn
công Tết Mậu Thân có tính phê phán hơn nhiều. Tuy nhiên,
không thể xác định được mối liên hệ trực tiếp
giữa việc đưa tin của đài truyền hình với dư luận
công chúng và có nhiều khả năng là vtiệc giới truyền
thông chuyển sang phê phán chỉ phản ứng chứ không gây
ra sự chuyển tương tự của dư luận công chúng (1). Chắc
chắn Việt Nam là cuộc chiến tranh được truyền hình
đầu tiên và có thể là việc đêm nào cũng ngồi xem
những cảnh đánh nhau đã góp phần gây tâm trạng mệt
mỏi vì chiến tranh trong công chúng. Nhưng điều khẳng
định này chưa bao giờ được chứng minh và cũng có thể
lập luận hợp lý rằng truyền hình có thể tạo nên sự
ủng hộ cũng như sự thờ ơ đối với chiến tranh
(2).
Hơn nữa, bản thân chính quyền Johnson cũng chịu
trách nhiệm trước việc công chúng và giới báo chí vỡ
mộng trong dịp tổng tấn công Tết Mậu Thân. Những lời
tuyên bố lạc quan quá đáng của họ năm 1967 đã làm cho
cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân gây cú sốc lớn hơn
bình thường và nới rộng thêm khoảng cách lòng tin vốn
đã quá lớn. Tổng thống và các cố vấn của ông ta
đáng ra phải
...
-------------------------------------------------------
(1)
Michael Mandelbaum, Việt Nam: cuộc chiến truyền hình,
Daedalus. quyển III, mùa thu năm 1982, tr.157-168, Daniel C.
Hallin, Phương tiện truyền thông cuộc chiến tại Việt
Nam, sự trợ giúp chính trị: Sự phê bình về luận điểm
phản đối phương tiện truyền thông, Tạp chí Chính trị,
số 46, năm 1984, tr.l-23.
(2) Michael J. Arlen, "The
Living Room War", New York, năm
1969.
----------------------------------------------------------
... chấn chỉnh những tin tức
trên chí, nhưng phản ứng công khai của họ đối với
cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân cũng ngập ngừng và
bối rối, phần nào vì họ cũng chưa biết rõ những gì
đang xảy ra và cách đối phó như thế nào.
Luận
điểm về hoàn cảnh bị "đâm phía sau lưng" là
không có sơ sở để tin tưởng. Việc cho rằng thắng lợi
trong tầm tay ngay cả khi Westmoreland đã dược cung cấp
toàn bộ số quân theo yêu cầu cũng là điều rất đáng
ngờ. Thậm chí ảnh hưởng của công chúng có vẻ không
lớn như Westmoreland nhận định. Không ai trong đám cố
vấn dân sự của Johnson thích mở rộng chiến tranh và
tăng thêm quân ở mức đó lớn. Hơn nữa Johnson đã bác
bỏ đề nghị của Westmoreland trước khi sự phản đối
của công chúng lên đến đỉnh điểm. Bằng chứng về
sự bất mãn tăng lên của dân chúng chỉ khẳng định
luận điểm nếu leo thang chiến tranh thì rất tai hại.
Nỗi lo sợ của công chúng đã thuyết phục một số quan
chức tin rằmg Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam. Nhưng
tổng thống không đi xa đến mức như vậy. Cuối cùng,
Johnson kết luận phải có thêm một số động tác hoà
giải nữa nhưng về căn bản không thay đổi chính sách
cũng như không từ bỏ các mục tiêu của mình.
Ngày
22-3, Johnson chính thức bác bỏ những đề nghị của
Westmoreland mở rộng cuộc chiến tranh để tìm thắng lợi.
Chắc chắn ông bị ảnh hưởng của dư luận công chúng,
nhưng tình hình được cải thiện vững chắc ở Nam Việt
Nam dường như đã có tác dụng quyết định. Chính quyền
Sài Gòn lúc này phản ứng lại sức ép của Mỹ. Các
thành phố đã lấy lại được ổn định và trật tự.
Vào cuối tháng 3, Thiệu tuyên bố tăng mức quân dịch do
đó sẽ làm tăng quân số Nam Việt Nam lên thêm 135.000
quân. Các trận rốc két của Việt cộng đã giảm dần
cường độ. Lực lượng đối phương đang rút khỏi các
vị trí đã được họ xây dựng trước Tết Mậu Thân
và tách thành các nhóm nhỏ để tránh bị thương vong.
Vào giữa tháng 3, Westmorland báo cáo với Johnson kế hoạch
về một cuộc phản công lớn ở các tỉnh phía bắc Nam
Việt Nam với mục tiêu trọng tâm là giải vây cho Khe
Sanh.
Trong hoàn cảnh này, Johnson thấy không cần gia
tăng quân Mỹ ở quy mô lớn. Thực tế ông ta thậm chí
không cho phép điều 22.000 quân mà Clifford đề nghị mà
chỉ đồng ý triển khai 13.500 quân bảo đảm để tăng
cường cho số viện quân khẩn cấp đã điều sang vào
tháng 2. Đồng thời ông ta quyết định đưa Westmorland về
Washington để giữ chức tham mưu trưởng lục quân. Vị
tướng này đã bị đả kích dữ dội vì lời tiên đoán
thắng lợi và vì không phán đoán được cuộc tổng tấn
công Tết Mậu Thân và Johnson muốn tránh cho ông ta khỏi
số phận giơ đầu chịu báng. Tổng thống cũng có thể
đã muốn giải thoát cho ông ta khỏi một cương vị khó
khăn là phải tiến hành chiến tranh trong những điều
kiện mà ông ta không tán thành. Việc triệu hồi
Westmorland thể hiện quyết tâm của chính quyền Mỹ duy
trì những giới hạn mà họ áp đặt cho cuộc chiến
tranh và ít nhất cũng ngầm ngăn chặn mọi bước leo
thang cuộc xung đột thêm nữa.
Trong tuần lễ cuối
tháng 3, cuộc tranh luận trong nước về chính sách Việt
Nam đã đi đến giai đoạn quyết định và cuộc tranh
luận này ngày càng gay gắt. Một số cố vấn của Tổng
thống vẫn khăng khăng đòi Mỹ phải thực hiện mọi
biện pháp để "bám trụ ở đó". Có lúc trong
thời điểm khủng hoảng Tết Mậu Thân, Rostow đã đề
nghị đệ trình quốc hội một nghị quyết mới về Đông
Nam Á để tập hợp cả nước hậu thuẫn cho cuộc chiến
tranh và ông ta còn đề nghị tổng thống tiếp tục đứng
vững vào thời điểm có thể gọi là bước ngoặt
gay cấn. Rusk kiên trì phấn đấu cho cuộc ngừng ném bom
từng phần mà ông ta đã nêu ra vào tháng 3. Ông ta lo lắng
về làn sóng phản đối trong nước, nhưng không tuyệt
vọng về chiến thắng ở Việt Nam mà cũng không muốn
đầu hàng các nhà phê bình đối với chính quyền. Ông
biết chắc rằng Bắc Việt Nam sẽ bác bỏ lời đề nghị
của mình nhưng một cử chỉ hoà giải sẽ thể hiện với
nhân dân Mỹ rằng chính quyền lúc này đang làm mọi việc
có thể làm để đi đến thương lượng, do vậy ông có
thể tranh thủ thời gian để ổn định trong nước và
vực Nam Việt Nam dậy (1).
Vào thời điểm này,
Clifford đã có bước dịch chuyển đáng kể vượt xa hơn
lập trường của ông ta vào cuối tháng 2. Clifford lo lắng
trước thiệt hại hiển nhiên mà cuộc chiến tranh Việt
Nam gây ra đối với vị thế tài chính quốc tế của
nước Mỹ. Ông ta kinh hoàng về tình hình bất ổn ngày
càng tăng ở trong nước, đặc biệt là tình trạng suy
giảm nhanh sự ủng hộ của giới kinh doanh và giới luật
pháp trong nước.
Ông ta cho biết các nhân vật nói
trên nhận thấy nước Mỹ đang lâm vào một "bãi lầy
vô vọng" và họ coi ý tưởng "tiếp tục lún sâu
hơn vào bãi lầy đó" là "điên rồ".
Tuy
-----------------------------------------------------
(1)
Rostow gửi Johnson, ngày 15-3-1968, Văn kiện Johnson, Nhật ký
hộp 95; Schandler, "Johnson và Việt Nam",
tr.243.
------------------------------------------------------
chưa
biết chính xác sẽ tiến bước ra sao nhưng ông đã nghĩ
đến một chiến lược sẽ đưa nước Mỹ theo một đường
hướng không thể đảo ngược là từng bước xuống
thang chiến tranh. Không được tăng quân Mỹ lên quá những
mức độ hiện tại và phải dùng chúng chủ yếu để
bảo vệ dân Nam Việt Nam chống một cuộc tấn công mới
từ phía đối phương. Phải ép Thiệu thanh lọc và mở
rộng chính phủ.
Clifford cũng đã chuẩn bị có
những nhượng bộ lớn để đạt tới một giải pháp
qua thương lượng. Ông ta thú nhận rằng Mỹ phải giải
quyết theo cách có lợi nhất trong phạm vi khả năng của
họ. Sau này ông ta viết: "Không có gì khiến chúng ta
phải ở lại đây khi đã đẩy được quân Bắc Việt
Nam ra khỏi miền Nam và khi chính quyền Sài Gòn kiểm soát
hoàn toàn được Nam Việt Nam". Tại cuộc họp ngày
28-3, ông ta đọc một bài phát biểu dài rất xúc động,
trong đó bào chữa cho việc xuống thang. Cùng hoạt động
ở hậu trường với trợ lý nhà Trắng Hary McPherson, ông
ta tiến hành một chiến dịch liên tục nhằm thắng trong
việc tranh thủ sự đồng tình của tổng thống (1).
Tuy
các cuộc tranh cãi nổi lên ầm ĩ xung quanh, nhưng Johnson
vẫn không can dự vào. Theo bản năng, tổng thống Mỹ ngả
về lập trường của Rusk. Ông ta điên đầu trước thái
độ bỏ cuộc của Clifford - người mà trước đây ông
ta vẫn tranh thủ sự ủng hộ - và trong thâm tâm ông ta
chống lại việc từ bỏ một chính sách mà ông ta đã
đầu tư rất
nhiều
-------------------------------------------
(1)
Clifford, Đánh giá mới về Việt Nam, tr.613: ghi chép về
cuộc nói chuyện với Clifford, 20-3-1968, Văn kiện Krock:
Phỏng vấn Horry McPherson, Văn kiện
Johnson.
-----------------------------------------------------------------
vào
đó. Johnson vẫn công khai đi theo một đường lối cứng
rắn khi tuyên bố rằng: "Chúng ta phải thực hiện
những cam kết của mình ở Việt Nam và trên loàn thế
giới. Chúng ta phải thắng và sẽ thắng"(1). Mặt
khác, ông ta không thể phớt lờ ý kiến phản đối đang
bùng lên quanh mình ở trong cũng như ngoài chính phủ, rồi
từng bước một ông ta đi đến kết luận là phải có
thêm một số hành động hoà giải nữa.
Các cố
vấn đáng tin cậy ngoài chính phủ đã giải quyết gần
như dứt điểm cuộc tranh cãi cho Johnson. Để đưa tổng
thống ra khỏi thế ngồi yên không hành động gì.
Clifford đề nghị Johnson triệu lập nhóm cố vấn cao cấp
về Washington để họp thêm một buổi nữa về vấn đề
Việt Nam. Ngày 26-3, sau nhiều bản thông báo của các quan
chức ngoại giao và quân sự, nhóm người này báo cáo
những phát hiện của họ với tâm trạng bi quan rõ rệt.
Nhóm thiểu số chủ trương giữ vững về mặt quân sự
và leo thang nếu cần thiết, nhưng phái đa số lại thiên
về những hành động ngay tức khắc tiến tới xuống
thang. Sau cuộc họp cuối cùng vào tháng 11, McGeorge Bundy
cho biết nhóm cố vấn này hy vọng sẽ có bước tiến bộ
chậm nhưng chắc.
Nhưng điều này không xảy ra,
theo cựu ngoại trưởng Dean Acheson tóm tắt thì quan điểm
của đa số là Mỹ "trong một thời gian còn lại
không còn có thể tiến hành công việc mà chúng ta đã
lao vào và chúng ta phải bắt đầu những bước để rút
ra". Nhóm cố vấn không nhất trí với nhau về những
vấn đề cần làm, một số người đề nghị ngừng ném
bom
---------------------------------------------
(1)
Schandler, Johnson và Việt Nam,
tr.248.
---------------------------------------------
hoàn
toàn và vô điều kiện, một số người khác đề nghị
chuyển hướng chiến lược chiến tranh trên bộ. Phần
lớn họ nhất trí mục tiêu về một nước Nam Việt Nam
phi cộng sản và độc lập có lẽ không thể đạt được
và cần phải hành động để tiến dần đến chỗ rút.
Cyrus Vance khuyến cáo: "Trừ phi chúng ta nhanh chóng làm
điều gì đó, nếu không tinh thần trên đất nước này
có thể dẫn chúng ta đến chỗ rút lui"(1).
Có
nguồn tin cho rằng sau buổi họp, tổng thống Johnson với
tâm trạng giận dữ và mất tinh thần đã nhận xét: "Lũ
khốn trong chính quyền này đều bỏ cuộc hết"(2).
Che
dấu đến cùng những ý đồ của mình, ngày 31-3 trong một
buổi nói chuyện được truyền hình trực tiếp, tổng
thống Johnson đã đột ngột tiết lộ một loạt quyết
định quan trọng. Chấp nhận đề nghị của Rusk, tổng
thống tuyên bố chiến dịch ném bom Bắc Việt Nam từ nay
trở đi sẽ giới hạn ở phía bắc khu vực phi quân sự.
Nhưng để đáp lại những lời yêu cầu khẩn thiết của
Clifford và các cố vấn, ông ta còn đi xa hơn. Johnson nhấn
mạnh, "thậm chí chiến dịch ném bom miền Bắc hạn
chế của chúng ta có thể kết thúc sớm hơn nếu sự
kiềm chế của chúng ta được đáp lại bằng bước kiềm
chế tương tự của Hà Nội". Ông ta cử nhà ngoại
giao kỳ cựu Averell Harriman làm đại diện riêng nếu như
các cuộc đàm phán hoà bình trở thành hiện thực. Ông
ta nêu rõ Mỹ sẵn sàng đàm phán hoà bình vào bất kỳ
thời điểm nào, tại bất cứ đâu. Johnson đã đưa ra
một lời tuyên
--------------------------------
(1) Tóm
tắt ghi chép, ngày 26-3-1968, Văn kiện Johnson, Hồ sơ biên
bản cuộc họp, hộp 2.
(2) Rogger Morris, "Sự bất
ổn to lớn: Henry Kissinger và chính sách ngoại giao Mỹ",
New York, năm 1977,
tr.44.
------------------------------------------------------
bố
giật gân khiến cả nước Mỹ kinh ngạc khi ông ta kết
luận với lời lẽ kiên quyết: "Tôi sẽ không tìm
kiếm và sẽ không chấp nhận việc Đảng tôi đề cử
tôi tranh cử nhiệm kỳ tổng thống thứ hai". Sau này
Tổng thống tiết lộ là đã có lúc ông ta tính đến
việc không ra tái cử. Ông ta cảm thấy kiệt quệ về
thể xác và tinh thần do những căng thẳng trong nhiệm sở.
Vị tổng thống này nhận thấy mình đã sử dụng hết
vốn liếng chính trị do đó một nhiệm kỳ nữa sẽ đầy
mâu thuẫn và rất khó hoàn thành nhiệm vụ.
Qua việc không ứng cử, Johnson
có thể nhấn mạnh tấm lòng chân thành trong ý nguyện
muốn thương lượng và góp phần vào việc phục hồi
đoàn kết dân tộc và sự hoà hợp trong nước (1).
Người
ta thường coi bài diễn văn của Johnson là bước ngoặt
quan trọng trong quá trình dính líu vào Việt Nam, ở một
khía cạnh nào đó thì đúng như vậy. Không có giới hạn
ấn định đối với các lực lượng bộ binh Mỹ và tổng
thống Mỹ cũng không nêu nghĩa vụ phải duy trì những
quy định hạn chế đối với chiến dịch ném bom. Thật
vậy, khi giải thích với đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn
về việc ngừng ném bom từng phần, Bộ Ngoại giao Mỹ
nêu rõ rằng Hà Nội có thể "lên án" việc làm
đó, và do đó "làm cho chúng ta sẽ được tự do hành
động sau một thời gian ngắn" (2). Tuy nhiên, tình
huống mà những quyết định hồi tháng 3 được đưa ra
và giọng điệu hoà giải trong bài diễn văn
của
-------------------------------------------
(1) Báo
cáo trước công luận của Lyndon B.Johnson, 1968-1969, (2
tập), Washington D.C, năm 1970, tập 1, tr.469-476; Hồi ký
Christian ngày 31-3-1968, Văn kiện Johnson, Hồ sơ Nhật ký,
hộp 96.
(2) "Bài diễn văn 31-3" của Johnson, Hồ
sơ quốc gia, Lịch sử Hội đồng An ninh quốc gia, hộp
47.
---------------------------------------------
Johnson
cho thấy ông ta rất khó (nếu không muốn nói là không
thể) thay đổi đường hướng. Ngày 31-3-1968 đã đánh
dấu sự kết thúc không mấy vinh quang của chính sách
từng bước leo thang chiến tranh.
Nhưng tổng thống
Johnson không thay đổi mục tiêu của mình. Thành công hiển
nhiên của Mỹ trong các trận đánh vào dịp Tết Mậu
Thân đã củng cố thêm niềm tin vẫn có thể bảo đảm
được một miền Nam độc lập phi cộng sản của
Johnson, Rusk và Rostow. Sau này, tổng thống Johnson thú nhận:
"Nỗi lo lớn nhất của tôi không phải là cuộc chiến
tranh Việt Nam mà là sự chia rẽ và bi quan trong nước.
Tôi hy vọng bài diễn văn sắp tới là cơ hội để lấy
lại cân bâng và tạo nên một cái nhìn khả quan hơn. Tôi
biết rõ là sự suy sụp trong lòng nước Mỹ chính là
điều Hà Nội trông đợi" (1). Bằng cách bác bỏ
những đề nghị xin tăng thêm quân với quy mô lớn, giảm
chiến dịch ném bom, chuyển cho Việt Nam Cộng hoà một số
trách nhiệm quân sự và rút khỏi cuộc tranh cử tổng
thống, Johnson hy vọng cứu vãn chính sách của mình, ít
nhất cho đến cuối nhiệm kỳ. Tổng thống Johnson tin
chắc rằng lịch sử rồi sẽ minh chứng là ông ta đã
đứng vững ngay cả trong lúc có nhiều ý kiến phê phán
dữ dội. Do vậy, bài diễn văn của Johnson không nói lên
một thay đổi trong chính sách mà nói lên một sự chuyển
hướng sách lược.
Tuy nhiên các sách lược mới
vẫn được định nghĩa mập mờ và mẫu thuẫn hơn các
sách lược cũ. Những quyết định tháng 3 đánh dấu một
chuyển hướng từ quan điểm gây
áp
-----------------------------------------
(1) Johnson,
"Lợi điểm",
tr.422.
----------------------------------------
lực tăng
dần từng bước sang quan điểm từ trước năm 1965
là cứu vãn Nam Việt Nam bằng cách không cho đối phương
giành thắng lợi. Nhưng người ta chưa công bố một cách
chính xác cách thức để đạt được điều này. Cuộc
tranh cãi về chiến tranh trên bộ chưa được giải quyết
và người kế nhiệm Westmorland là tướng Creighton Abrams
không nhận được ý kiến chỉ đạo về mặt chiến
lược. Nhìn chung các quan chức trong chính quyền Mỹ đã
nhất trí phải giảm bớt các trận đánh trên bộ để
giảm số thương vong của quân đội Mỹ, dù vậy vẫn
chưa rõ những trận đánh này sẽ đóng góp ra sao vào
thực hiện thắng lợi các mục tiên của Mỹ.
Chiến
dịch ném bom sẽ tập trung vào các khu vực xuất phát và
các đường tiếp tế của Bắc Việt Nam, nhưng trước
đây chiến dịch ném bom đã không làm giảm được lưu
lượng vận chuyển và không có lý do để tin rằng nó sẽ
có hiệu lực lớn hơn trong tương lai. Những yêu cầu cấp
bách của tình hình chính trị trong nước đòi hỏi phải
chấp nhận quan điểm "Việt Nam hoá chiến tranh"
và khả năng đối phó đáng ngạc nhiên của quân đội
Nam Việt Nam trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân
khiến người ta hy vọng quân độì này sẽ phát huy hiệu
lực. Nhưng trong các báo cáo trước đây của chính phủ
Nam Việt Nam ít có cơ sở để thấy rằng Thiệu và tay
chân của ông ta có thể hoà giải với các đối thủ
cộng sản và bình định miền Nam, đồng thời tiến hành
chiến tranh một cách có hiệu quả. Xét về tình hình
chính trị trong nước thì thương lượng vẫn là điều
nên làm, nhưng nếu không có nhượng bộ, điều mà chính
quyền Mỹ không muốn chấp nhận, thì hoạt động ngoại
giao cũng chẳng đem lại hiệu quả gì và thất bại chỉ
có thể làm gia tăng áp lực. Tóm lại, sách lược
của năm 1968 kéo dài sự mập mờ và thiếu nhất quán là
đặc điểm trong chính sách của Mỹ ngay từ đầu.
Chính
sách của Mỹ trong những tháng sau Tết Mậu Thân thể
hiện rõ ràng rằng, dù chính quyền Johnson đã sử dụng
những lời lẽ hoà giải và có điều chỉnh sách lược
nhưng họ vẫn giữ nguyên những mục tiêu ban đầu. Tổng
thống Johnson giữ lời hứa thương lượng và sau nhiều
lần trì hoãn đã chấp nhận đề nghị của Hà Nội cử
đại diện đến Paris để đàm phán lrực tiếp. Nhưng
ngay từ đầu, Johnson từ chối thỏa hiệp về những vấn
đề cơ bản. Đồng thời ông ta tìm cách tiếp tục gây
áp lực tối đa với các lực lượng đối phương ở Nam
Việl Nam và hỗ trợ cho Việt Nam Cộng hoà trong cuộc
chiến điên cuồng giành kiểm soát vùng nông thôn và có
kế hoạch dần chuyển gánh nặng quân sự cho quân đội
Việt Nam Cộng hoà. Kết quả là bế tắc càng trở nên
bế tắc hơn và một gánh nặng đã được để lại cho
chính quyền kế nhiệm.
Trong bài diễn vtăn ngày
31-3, mặc dù có những lời lẽ hoà giải, nhưng Johnson
rất thận trọng khi xem xét thực chất của các cuộc
thương lượng. Phản ứng tích cực của Hà Nội làm cho
Washington kinh ngạc và nhiều quan chức Mỹ nghi ngờ Bắc
Việt Nam có mưu mẹo khôn ngoan nhằm khai thác tình cảm
chống chiến tranh ở Mỹ. Chính quyền Mỹ không có sự
lựa chọn nào khác là phải chấp nhận đề nghị thương
lượng trực tiếp của Hà Nội, nhưng họ quyết tâm
không vội vã lao vào thương lượng. Tuy đã hứa sẽ đưa
đại diện đến "bất kỳ diễn đàn nào vào mọi
thời điểm" nhưng Johnson đã liên tiếp bác bỏ những
địa điểm mà Hà Nội đề nghị tại Phnom Penh của
Campuchia và Vacsava, những nơi mà ông ta cho rằng là "cỗ
bài có hại cho Mỹ" (1).
Hai quốc gia cuối cùng
đã đồng ý gặp nhau tại Paris và Mỹ giữ lập trường
cứng rắn ngay từ đầu. Hamman và Clifford chủ trương đưa
ra một đề nghị hào phóng ban đầu để khởi động các
cuộc thương lượng và để rút Mỹ ra khỏi Việt Nam
càng nhanh càng tốt. Tuy vậy điều này chưa thuyết phục
được các cố vấn khác của Johnson. Westmorland và Bunker
tuyên bố thế trận của Mỹ ở Nam Việt Nam đã tốt lên
nhiều và chính quyền sẽ thương lượng ở Paris trên thế
mạnh. Johnson và các cố vấn không tin là các cuộc đàm
phán sẽ dẫn đến kết quả.
Đương nhiên họ muốn
hoà bình nhưng các điều kiện mà họ quyết tâm giữ
vững chắc chắn sẽ làm cho đàm phán không đạt được
bất kỳ điều gì. Rusk nhấn mạnh rằng, Mỹ phải làm
cho Bắc Việt Nam "có nhượng bộ" hoặc "phải
chịu trách nhiệm về việc làm tan vỡ các cuộc hoà
đàm". Để hưởng ứng một cuộc ngừng ném bom hoàn
toàn, các quan chức chính quyền gần như rút khỏi công
thức San Antonio. Rusk thậm chí nói đến việc kiên quyết
buộc Bắc Việt Nam chấp hành hiệp định Geneve 1962 về
Lào và lập lại khu phi quân sự. Mỹ chống lại một
cuộc ngừng bắn mà nó sẽ trói tay họ về quân sự ở
Nam Việt Nam và xét về giải pháp chính trị, Rusk nói một
cách đầy hy vọng đến việc hồi phục lại hiện trạng
trước khi xảy ra chiến tranht
(2).
-----------------------------------------------
(1)
Johnson, "Lợi điểm", tr.505-506.
(2) Ghi chép tại
cuộc họp ngày 6-5-1968, Văn kiện Johnson; hồ sơ biên bản
cuộc họp các ngày 6,8-5-1968, hộp 3; Ghi chép của Harold
Johnson về cuộc họp ngày 6,8-5-1968: Văn kiện Harold
Johnson, hộp 127; phỏng vấn Andrew Goodpaster, Viện lịch sử
quân sự Mỹ, trại Carlisle,
Pa.
---------------------------------------------------------------------------------------
Ngày
13-5, các cuộc đàm phán hoà bình đã khai mạc tại Paris
và ngay lập tức rơi vào bế tắc. Bắc Việt Nam đã đồng
ý tham gia đàm phán như một phần của chiến lược lớn
hơn của họ "Vừa đánh vừa đàm". Có thể họ
không quan tâm đến thương lượng thực sự khi thế cân
bằng quân sự chưa thuận lợi, cũng có thể họ coi hoà
đàm Paris chủ yếu là biện pháp để chấm dứt ném bom
và khoét sâu mâu thuẫn giữa Mỹ và Việt Nam Cộng hoà,
đồng thời làm lăng sức ép chống chiến tranh ở Mỹ.
Bắc Việt Nam tỏ rõ rằng, họ đang kiến lập các cuộc
tiếp xúc với Mỹ để bảo đảm Mỹ ngừng ném bom vô
điều kiện và ngừng mọi hành động chiến tranh khác
sao cho hoà đàm có thể bắt đầu. Chính quyền Johnson sẵn
sàng ngừng ném bom, nhưng cũng như trước đây, họ khăng
khăng đòi có những bước xuống thang tương ứng. Hà Nội
tiếp tục bác bỏ yêu sách có đi có lại của Mỹ và từ
chối mọi điều kiện hạn chế khả năng của họ chi
viện cho cuộc chiến tranh ở miền Nam trong khi Mỹ được
tự do hành động.
Đoàn đại biểu Mỹ đưa ra một
đề nghị mới, thực chất là một biến tấu của kế
hoạch hai hướng trước đây nhằm phá vỡ thế bế tắc.
Mỹ sẽ ngừng ném bom "trên cơ sở nhận định"
Bắc Việt Nam sẽ tôn trọng khu phi quân sự và thôi không
tiếp tục pháo kích vào Sài Gòn và các thành phố khác
nữa, tiếp đó sẽ là "các cuộc đàm phán nhanh và
nghiêm túc". Các quan chức Mỹ phàn nàn là Bắc Việt
Nam sẵn sàng ngồi lì ở Paris và "để kéo dài những
cuộc đàm phán vô bổ". Trong lúc đó, các tharn mưu
trưởng liên quân Mỹ thúc ép không khoan nhượng việc
tiếp tục leo thang chiến tranh, kể cả việc dùng B-
52 ném bom các vùng đất thánh của Bắc Việt Nam ở
Campuchia (1).
Trưởng đoàn đám phán của Mỹ
W.Averell Harriman lo sợ các cuộc đàm phán kéo dài bất
tận sẽ kéo theo cuộc chiến tranh triền miên và làm tăng
thêm sự chia rẽ.
trong nước, vì vậy ông ta đã
yêu cầu tổng thống thỏa hiệp. Tuy Bắc Việt Nam chưa
chính thức đáp lại đề nghị của Mỹ, nhưng các trận
pháo kích của Việt Cộng giảm đi và có nhiều chứng cớ
cho thấy có một số lớn quân Bắc Việt Nam đã rút khỏi
miền Nam. Harriman lập luận rằng tình trạng lắng dịu
về quân sự có thể được xem là dấu hiệu của bước
xuống thang mà Mỹ tìm kiếm. ông ta ép Johnson ngừng ném
bom, giảm hoạt động của Mỹ đồng thời nêu rõ bước
tiếp theo mà ông ta trông đợi ở Hà Nội. Clifford ủng
hộ đề nghị của Harriman. Nhưng giới quân sự lập luận
rằng sự lắng dịu nói trên chỉ là bước tập kết cho
đợt tấn công tiếp theo và cảnh cáo rằng việc ngừng
ném bom sẽ gây nguy hiểm cho quân Mỹ. Johnson bác bỏ đề
nghị của Harriman và trong thực tế tại cuộc họp báo
ngày 31-7, ông ta đe dọa nếu không có bước đột phá
lại Paris, ông buộc phải có những biện pháp quân sự
mạnh. Một nhà ngoại giao Mỹ sau nàv than thở: "Những
cuộc thương lượng khó khăn nhất của chúng tôi là với
Washington chứ không phải với Hà Nội. Vào mùa hè đó
chúng tôi
----------------------------------------------------
(1)
Biên bản cuộc họp Hội đồng an ninh quốc gia ngày
22-5-1968, Văn kiện Johnson, Hồ sơ an ninh quốc gia, các
cuộc họp của Hội đồng an ninh quốc gia, hộp 3, Biên
bản cuộc họp ngàv 25,28 tháng 5, Văn kiện Johnson, Hồ sơ
an ninh quốc gia, hộp
3.
-----------------------------------------------------------------------------
không
thể thuyết phục được, ngay cả tổng thống"(l).
Trong
khi giữ thái độ kiên quyết ở Paris, chính quyền Mỹ đã
dùng mọi biện pháp có thể để củng cố vị thế của
họ ở Nam Việt Nam. Mùa xuân 1968, Mỹ đẩy mạnh nhịp
độ tác chiến quân sự. Cuộc không kích ở miền Nam đạt
cường độ cao khi B-52 và máy bay chiến đấu ném bom oanh
tạc dữ dội vào những con đường vận chuyển, các
tuyến giao thông và các địa điểm nghi là doanh trại của
đối phương.
Trong năm 1968, số vụ B-52 ném bom tăng
gấp 3 lần và số bom ném xuống miền Nam Việt Nam đã
lên tới hơn 1 triệu tấn. Tháng 3 và tháng 4, Mỹ và Việt
Nam Cộng hoà tiến hành các hoạt động tác chiến "tìm
vtà diệt" lớn nhất trong cuộc chiến tranh, với trên
100.000 quân được điều đi chiến đấu ở các tỉnh
quanh Sài Gòn. Một sĩ quan Mỹ tuyên bố: "Hiện nay
Việt cộng đang bị truy kích ráo riết suốt ngày đêm và
bị đánh tơi tả bất kỳ lúc nào chúng tôi tóm được”(2).
Quy mô hoạt động quân sự của Mỹ đã có phần giảm
vào mùa hè và mùa thu khi Abrams chuyển sang các cuộc “tuần
tra đơn vị nhỏ" và các trận đánh cơ động quấy
rối đối phương, song trong suốt thời gian còn lại trong
năm, Mỹ vẫn tiếp tục gây được áp lực mạnh lên đối
phương ở Nam Việt Nam.
Mỹ và Nam Việt Nam còn thực
hiện chiến dịch đẩy mạnh bình định nhằm bảo đảm
an ninh cho một vùng
nông
--------------------------------------------------------
(1)
Allan E.Goodman, "Sự bỏ lỡ cơ hội hoà bình: Cuộc
tìm kiếm cơ Hội thiết lập đàm phán chiến tranh Việt
Nam của Mỹ”, NXB Stanford, Callf, năm 1978, tr.69.
(2)
Frank Clay gửi ông bà Lucius Clay, ngày 25-5-1968, Văn kiện
Tài liệu Frank Clay, Viện lịch sử quân sự Mỹ, trại
Carlistle, Pa.
------------------------------------------
thôn rộng lớn trong trường hợp
phải bắt đầu các cuộc đàm phán nghiêm túc. Abrams đưa
một bộ phận đáng kể quân Mỹ và lính Việt Nam Cộng
hoà vào chương trình này và các lực lượng phòng thủ
địa phương được phát triển và cung cấp trang thiết
bị quân sự hiện đại. Để sử dụng các nguồn lực
một cách hiệu quả hơn. Mỹ và Nam Việt Nam đã tập
trung nỗ lực bình định một số vùng then chốt. Các
quan chức Mỹ và Việt Nam Cộng hoà tích cực vận dụng
cả "cây gậy lẫn củ cà rốt" để bẻ gãy
những lực lượng Việt cộng suy yếu. Chương trình chiêu
hồi (tức ân xá và phục hồi cho những kẻ chạy sang
hàng ngũ Việt Nam Cộng hoà) cũng như chương trình Phượng
Hoàng là những đòn đánh trực tiếp vào các cơ sở cách
mạng bằng cách bắt bớ hàng loạt. Vào cuối năm 1968,
lần đầu tiên Mỹ và Việt Nam Cộng hoà đã tập trung
phần lớn nguồn nhân lực và vật lực của họ vào việc
thực hiện nhiệm vụ kiểm soát vùng nông thôn(1).
Mỹ
cũng hối hả thực hiện chương trình "Việt Nam hoá
chiến tranh". Các quan chức Mỹ thành thật thừa nhận
rằng, Việt Nam Cộng hoà chưa sẵn sàng gánh vác gánh
nặng tự phòng thủ. Abrams thú nhận: "Nếu rút toàn
bộ quân Mỹ ra ngay bây giờ thì chính phủ Nam Việt Nam
sẽ phải cam chịu nhận trở thành một phần nhỏ của
nước Việt Nam"(2).
Các kế hoạch mới vẫn
được đề ra để phát triển và nâng cấp quân đội
Nam Víệt Nam và dần chuyển cho họ
trách
-------------------------------------------
(1)
Douglas S. Blaufarb, Kỷ nguyên phản kháng trỗi dậv: Học
thuyết và sự thực hiện của Mỹ, New York, năm 1977,
tr.264-265.
(2) A.J.Langguth, Tướng Abrallls lắng nghe những
hồi trống khác nhau, Thời báo New York ngày 5-5-1968,
tr.28.
----------------------------------------------------------------
nhiệm
chính trong các trận đánh. Mức quân số đã tăng từ
685.000 lên 850.000, các chương trình huấn luyện được
phát triển mạnh và quân đội Nam Việt Nam được cung
cấp các trang bị mới nhất. Để tăng cường khả năng
sẵn sàng chiến đấu của quân đội Việt Nam Cộng hoà
và làm cho quá trình chuyển giao dễ dàng hơn, Abrams đã
sử dụng kết hợp các đơn vị Việt Nam Cộng hoà và
quân độí Mỹ trong các trận đánh(1). Tuy nhiên
"bình định" và "Việt Nam hoá chiến tranh"
đều là những nỗ lực lâu dài của Mỹ, vì thế những
nỗ lực điên cuồng trong năm 1968 không thể bù đắp lại
cho nhiều năm lãng quên. Phải đến cuối năm 1968 "Chương
trình bình định" mới đạt trở lại mức độ trước
đó. Việc đưa lực lượng xuống các vùng nông thôn
không được sự ủng hộ tích cực của dân. Quân đội
Việt Nam Cộng hoà có quy mô lớn hơn và được trang bị
tốt hơn, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cơ bản chưa
giải quyết được. Năm 1968, nạn đào ngũ lên cao chưa
từng thấy; thêm vào đó là tình tạng thiếu trầm trọng
các sỹ quan có năng lực. Vào cuối năm đó, các cố vấn
Mỹ tiến hành đánh giá và xếp hạng hai sư đoàn Việt
Nam Cộng hoà là "cực kỳ kém", 8 sư đoàn chỉ ở
mức "tiến bộ" và chỉ có một sư đoàn là
"giỏi"(2). Mỹ nhận thấy trong lòng người Việt
Nam có một sự chống đối "Việt Nam hoá chiến
tranh" thầm lặng nhưng kiên quyết. Sau khi đi
Sài
-----------------------------------------------------
(1)
J.Lawton Collins, Sự phát triển và quá trình huấn luyện
của quân đội Việt Nam cộng hoà giai đoạn 1950-1972,
Washington D.C, năm 1975, các tr.85-88,100-101,104-105,117-118.
(2)
Robert Shaplen. Con đường dẫn tới cuộc chiến: Việt Nam
1965- 1970, New York, năm 1970,
tr.250.
--------------------------------------------------------------------------------
Gòn
về, Clifford thấy rất "bức xúc" trước mức độ
"Mỹ hoá cuộc chiến tranh". Mỹ lúc này vẫn đang
thực hiện phần chính trong cuộc chiến tranh và phải trả
mọi chi phí. Ông ta kết luận: "Điều tệ hại nhất
là các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam có vẻ hài lòng với
cách thức tiến hành chiến tranh như vậy"(1).
Mặc
dù đã thực hiện chiến dịch "Hồi sức" - một
chương trình cấp tốc khắc phục tổn thất mà các trận
đánh Tết Mậu Thân đã gây ra cho các thành phố, chính
quyền Việt Nam Cộng hoà có hoạt động tốt lên sau tổng
tấn công Tết Mậu Thân, nhưng khả năng của họ vẫn
chưa đều và chưa ổn định. Theo yêu cầu của Mỹ,
Thiệu đã thực hiện một chương trình tân kinh tế để
chống lạm phát và đề ra một chương trình chống tham
nhũng, một trong những vấn đề kinh niên và lan tràn nhất
của Nam Việt Nam. Căn cứ vào những hoạt động này, một
số nhà quan sát lạc quan vào cuối năm đó đã kết luận
rằng chính quyền Nam Việt Nam lúc đó hoạt động có
hiệu quả hơn bất kỳ lúc nào từ giữa những năm 50.
Nhưng cứ giải quyết được một vấn đề thì các vấn
đề khác vẫn giữ nguyên và lại xuất hiện nhiều vấn
đề mới. Cải cách điền địa tiến hành quá chậm.
Tổng tấn công Tết Mậu Thân đã tạo ra hàng ngàn dân
tị nạn và các quan chức Mỹ tỏ ý vô cùng lo ngại khi
thấy chính quyền có vẻ thờ ơ với hoàn cảnh khốn khó
của họ. Triển vọng của các cuộc thương lượng làm
cho Thiệu chững lại trong việc mở rộng thành phần của
chính quyền Việt
Nam
----------------------------------------------------------
(1)
Clifford, Đánh giá mới về Việt Nam, tr.614-615; Clifford gửi
Johnson các ngày 16,18-7-1968, Văn kiện Clifford, hộp
5.
--------------------------------------------------------------------------
Cộng
hoà. Ông ta cũng có một số thay đổi bề ngoài như bổ
nhiệm một quan chức dân sự (Trần Văn Hương) làm thủ
tướng và hứa tăng cường ảnh hưởng của giới dân sự
trong chính quyền. Nhưng ông này càng thu mình lại, chẳng
tin ai cả và tự đề ra phần lớn các quyết định. Một
người Mỹ phàn nàn: "Chính ông ta là một nhân vật
có khác gì Ngô Đình Nhu"(1).
Khả năng Mỹ rút
quân càng làm chia rẽ thêm chế độ chính trị vốn đã
ly tán của Nam Việt Nam. Vào cuối năm 1968, Robert Shaplen
nhận xét: "Tình trạng chia rẽ vẫn như một bệnh
dịch và nhiều cuộc ganh đua diễn ra trên khắp mọi lĩnh
vực như chính trị, quân đội và trong các tổ chức tôn
giáo". Mẫu thuẫn giữa Kỳ và Thiệu tăng lên làm
cho chính quyền chia thành nhiều phe phái. Phật tử xa lánh
hơn bao giờ hết và họ công khai đưa ra yêu sách đòi
thành lập một nội các hòa bình và đòi binh lính hạ vũ
khí. Cả phật tử cũng như các phe phái đều mong đợi
chính quyền sụp đổ để họ có thể thu hút các bộ
phận về phía mình. Sau khi các cuộc đàm phán hoà bình
bắt đầu, nhiều nhóm chính trị mới đã nảy nở, nhưng
họ bị dằng xé vì tâm trạng bất đồng và không thể
phối hợp hành động. Phần lớn đân đô thị vẫn tiếp
tục giữ thái độ nghe ngóng. Shaplen kết luận: "Người
Nam Việt Nam dường như ngày càng giống những người
biết là mình đang mắc một chứng bệnh vô phương cứu
chữa"(2).
-------------------------------------------------------
(1)
Robert Shaplen, Con đường dẫn tới cuộc chiến: Việt Nam
1965- 1970, New York, năm 1970, tr.248.
(2) Robert Shaplen, Con
đường dẫn tới cuộc chiến: Việt Nam 1965- 1970, New
York, năm 1970,
tr.208.
------------------------------------------------------------------------
Quan
hệ Việt Nam - Mỹ căng thẳng lên trong thời gian từ sau
cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân.
Những người Việt Nam trước
đây lệ thuộc vào Mỹ nay tỏ ra rất sợ bị Mỹ bỏ
rơi vào tay Việt cộng. Trong hàng ngũ lính Mỹ đã công
khai bộc lộ những thất vọng dồn nén vì phải chiến
đấu trong một cuộc chiến tranh mà họ không thể "thắng"
và sự ác liệt của các trận đánh trong cuộc tổng tấn
công Tết Mậu Thân cùng những tổn thất nặng mà họ
chịu đựng đã thổi bùng tâm trạng chống Việt Nam. Câu
chuyện tiếu lâm về một giải pháp theo kiểu "kết
tội tử hình" để giải quyết thế bế tắc đã lan
truyền khắp các cụm hoả lực và quán rượu của lính
Mỹ là một điển hình của thái độ này. Họ nói: "Việc
mà anh phải làm là chất toàn bộ những ông bạn này lên
những con tàu và đưa họ ra biển Đông, rồi ném bom san
bằng nước này sau đó đánh chìm những con tàu
đó"(1).
Cuộc thảm sát trên 200 thường dân kể
cả phụ nữ và trẻ em ở làng Mỹ Lai dưới bàn tay đao
phủ của 1 đại đội Mỹ do trung uý William Calley chỉ
huy diễn ra vào tháng 3-1968 cho thấy sự thù hận của một
số lính Mỹ đối với tất cả những người Việt
Nam.
Năm 1968, sự chia rẽ trong nước Mỹ cũng tăng
hẳn lên, mặc dù Việt Nam chỉ là một trong số rất
nhiều nguyên nhân nhưng ngày càng trở nên quan trọng.
Tình trạng rối loạn trong các trường đại học tăng
hẳn lên tới mức trong sáu tháng đầu năm đã nổ ra 200
cuộc biểu tình. Cuộc biểu tình lớn nhất diễn ra tại
đại học Columbia, New York. Tại đây 1.000 cảnh sát dùng
dùi cui để giải tán một cuộc
biểu
---------------------------------------------
(1)
Michael Hen, Thông điệp, New York, năm 1978,
tr.59.
-------------------------------------------------------------------
tình
ngồi quy mô lớn. Vụ ám sát Martin Luther King (con) vào
tháng 4 đã bộc lộ sự rối loạn bấy lâu nay vẫn âm
ỉ, do đó đã làm bùng lên bạo loạn, cướp bóc và
nhiều vụ đốt phá trên toàn quốc. Người ta phải điều
nhiều đơn vị lục quân Mỹ vào thủ đô để giữ trật
tự. Vụ ám sát ứng cử viên tổng thống Robert Kennedy
hồi tháng 6 dường như cho thấy bạo lực đã đạt tới
mức cao. Vào tháng 8, đại hội Đảng Dân chủ diễn ra
tại Chicago trở thành sự kiện nổi bật đã xé toang bức
màn về một quốc gia tự mẫu thuẫn. Trong khi các đại
biểu về tham dự đại hội tranh cãi gay gắt về cuộc
chiến tranh thì những người phản đối chống chiến
tranh đánh nhau dữ dội với cảnh sát đến đổ máu trên
đường phố Chicago. Đại hội lựa chọn ứng cử viên
mà Johnson mong muốn, đó là phó tổng thống Hubert H.
Humphrey, ủng hộ các chính sách của tổng thống, qua đó
chứng minh rõ cho nhiều nhà phê bình chiến tranh biết
rằng không thể kết thúc chiến tranh theo thông lệ. Quan
trọng hơn nữa, sự đổ máu trên các đại lộ của "đêm
thành phố dùi cui" đều diễn ra trước mắt mỗi
người dân Mỹ qua màn ảnh nhỏ hàng đêm, và nước này
"không thể quay lưng lại với thực tế là cuộc
chiến tranh ở Đông Nam á đang gây ra một cuộc nội
chiến ngay trên đất Mỹ" (1).
Vào cuối năm
1968, Johnson đã cố gắng lần cuối để phá thế bế tắc
của các cuộc hoà đàm và việc làm này chủ yếu để
đối phó với áp lực trong nước. Đại hội Đảng
Dân
----------------------------------------------------------
(1)
Nancy Zaroulis và Gerald Sullivan, Ai lớn tiếng hơn? Người
Mỹ phản đôí chiến tranh ở Việt Nam, (1963-1975), New
York, năm
1984.
----------------------------------------------------------
chủ
ở Chicago đã làm mất uy tín các đảng viên của đảng
này và sau đó một số lãnh tụ Đảng Dân chủ đã nài
xin thực hiện cuộc vận động hoà bình mạnh mẽ để
hỗ trợ cho Humphrey, lúc đó ứng cử viên này tụt hậu
rất xa so với ứng cử viên Richard M.Nixon của Đảng Cộng
hoà trong các cuộc bỏ phiếu thăm dò ban đầu. Tổng
thống Johnson đã nhiều lần nhấn mạnh rằng ông ta sẽ
không bị dao động vì những cân nhắc chính trị. Ông ta
thông cảm với những nỗi lo ngại của các đảng viên
Đảng Dân chủ. Cuối cùng mọi người thuyết phục ông
rằng ông có thể phá vỡ thế bế tắc ở Paris mà không
gây rủi ro không cần thiết. Harriman tiếp tục lý luận
rằng sự yên ắng trên mặt trận quân sự ở Nam Việt
Nam là dấu hiệu rõ ràng chứng tỏ Bắc Việt Nam muốn
những cuộc thương lượng thực sự và Abrams cam đoan với
Johnson là việc ngừng ném bom sẽ không tạo nên mối đe
dọa quân sự. Bắc Việt Nam đã bị tổn thất nặng vì
chiến dịch mùa xuân. Trong bất cứ tình huống nào thì
mùa mưa đang tới sẽ rất hạn chế hiệu quả của hoạt
động ném bom trong nhiều tháng. Để làm vừa lòng giới
quân sự và tiếp tục ép Bắc Việt Nam, Johnson đã đồng
ý trong trường hợp ngừng ném bom, sẽ tiếp tục triển
khai lực lượng không quân đánh các đường tiếp tế
của Bắc Việt Nam ở Lào.
Cuối cùng, tuy rõ ràng
có sự do dự nhưng Johnson đã tự cam kết ngừng ném bom
hoàn toàn nếu có thể tranh thủ được một số nhượng
bộ của Bắc Việt Nam (1).
Trong vài tuần tiếp
theo, Harriman kiên trì thương lượng cho một "thoả
thuận ngầm". Đáp lại ý kiến
phản
---------------------------------------------
(1)
Johnson, Lợi điểm,
tr.514-515.
---------------------------------------------
đối
của Hà Nội về quan điểm "có đi có lại", ông
ta nói sẽ chấm dứt chiến dịch ném bom đơn phương và
cuối cùng Bắc Việt Nam thôi không đòi ngừng ném bom vô
điều kiện. Nhưng đoàn đại biểu Mỹ nêu rõ họ hy
vọng Bắc Việt Nam sẽ chấm dứt nã pháo và đạn cối
vào các thành phố Nam Việt Nam và hạn chế đưa quân và
hàng tiếp tế qua khu phi quân sự. Thêm nữa, Hà Nội
chính thức đồng ý sẽ bắt đầu các cuộc đàm phán
nghiêm túc sau khi Mỹ ngừng ném bom 4 ngày. Chính quyền Mỹ
hài lòng khi Hà Nội đồng ý cho chính phủ Nam Việt Nam
tham gia hoà đàm. Để dàn xếp tình trạng Bắc Việt Nam
từ chối thương lượng với chính phủ bù nhìn Sài Gòn
còn Thiêụ từ chối tham gia các cuộc thương lượng có
Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Harriman
đã vạch ra một công thức rất khôn khéo "bên chúng
tôi, bên các ông". Các cuộc đàm phán sẽ có hai
phía, nhưng mỗi phía đều tự do tạo dựng thành phần
của chính mình và hiểu thành phần của bên khi theo cách
của mình. Do vậy Mặt trận Dân tộc giải phóng miền
Nam Việt Nam và chính quyền Sài Gòn có thể tham gia mà
không cần phải công nhận nhau là một thực thể độc
lập. Hà Nội không chịu chính thức cam kết mình vào
những "thoả hiệp ngầm này" nhưng trong những
lần tiếp xúc riêng, họ cam đoan rằng sẽ "biết
phải làm gì" một khi chiến dịch ném bom kết thúc.
Tuy do dự cho đến phút chót, nhưng cuối cùng Johnson cũng
chấp nhận sẽ đi nốt "những chặng cuối cùng"
tiến đến hoà bình, mặc dù các quan chức chính quyền
Mỹ nhất trí nếu Bắc Việt Nam lợi dụng cuộc ngừng
ném bom và tỏ ra không thương lượng nghiêm túc thì
Mỹ có thể nối lại các trận không kích (1).
Ngay
khi vừa hoàn thành những dàn xếp này thì Việt Nam Cộng
hoà lập tức gây trở ngại. Kỳ, người đã gay gắt
cảnh cáo về hành động "bán rẻ" của Mỹ, kết
luận có thể Thiệu đã làm theo các chính trị gia cánh
hữu của Nam Việt Nam. Các lãnh tụ Đảng Cộng hoà lo sợ
"mánh lới hoà bình" của phái Dân chủ trước
bầu cử sẽ gây tác hại đến chiến dịch vận động
bầu cử của Nixon nên đã khích lệ thái độ ngang ngược
của Thiệu và do đó yêu cầu Việt Nam Cộng hoà kiên trì
cho đến sau cuộc bầu cử tổng thống Mỹ(2). Là một
chính trị gia lắm mưu mẹo, giỏi tính toán, có thể là
Thiệu đã đi đến kết luận mà chẳng cần ai nhắc nhở
là ông ta sẽ làm ăn tốt với phái "Cộng hoà"
hơn phái
"Dân
-------------------------------------------------------
(1)
Johnsonm, Lợi điểm, tr.518, biên bản cuộc họp ngày
14,31-10- 1968, Văn kiện Johnson, Hồ sơ biên bản cuộc họp,
hộp 3.
(2) Những tình tiết của việc nhóm Nixon liên
hệ với Thiệu là một câu chuyện "tình báo" có
thể tạo nên cốt truyện cho một tiểu thuyết tình báo.
Cố vấn an ninh quốc gia tương lai của Nixon là Henry
Kissinger có những mối liên hệ rất tốt với chính quyền
của Johnson, từng phục vụ cho chính quyền này như là
một nhà trung gian trong một sáng kiến hoà bình trong năm
trước đó. Với tham vọng giành vị trí đứng đầu
trong việc hoạch định chính sách ngoại giao, Kissinger đã
cho phái Nixon biết được thông tin về các cuộc đàm
phán bí mật của Johnson về việc tạm ngừng ném bom.
Nixon đã sử dụng quý bà Anna Chennault, bà quả phụ của
nhà sáng lập huyền thoại của chiến tranh thế giới thứ
2 Flying Tigers, thúc giục Thiệu phá hoại chính sách của
chính quyền Johnson, khuyến nghị rằng chính quyền Việt
Nam Cộng hoà có thể được viện trợ tốt hơn bởi
chính quyền Nixon vào tháng 1 so với chính quyền của
Johnson trước đó. Xem Scymour M.Hersh, Cái giá của quyền
lực: Kissinger trong Nhà trắng của Nixon, New York, năm 1983,
tr.15-22.
-----------------------------------------------------------------
chủ"
và trì hoãn là điều có lợi. Với lời tuyên bố rằng
chính quyền của ông ta không phảỉ là "một toa xe
có thể nối với một đầu tàu và để đầu tàu muốn
kéo đi đâu thì đi". Thiệu khăng khăng rằng ông ta
sẽ không gặp gỡ Mặt trận dân tộc giải phóng miền
Nam và sự "thoả thuận ngầm" do Mỹ dàn xếp là
một sự "rõ ràng chấp nhận thất bại". Hà Nội
phải đưa ra những cam kết chính thức là họ sẽ xuống
thang chiến tranh và thương lượng với chính quyền Sài
Gòn (1).
Sự cứng đầu cửa Thiệu tạo cho Mỹ một
thế bế tắc, Johnson thừa nhận nếu nhân nhượng cho
những yêu sách của Thiệu thì sẽ "làm tan thành mây
khói toàn bộ nỗ lực hoà bình" và có thể làm mất
đi những cơ hội của Humphrey(2). Mặt khác, ông ta tính
rằng nếu thương lượng không có chính quyền Sài Gòn
tham gia như Harriman và Rusk yêu cầu, sẽ không chỉ ít có
triển vọng đi đến một giải pháp có thể chấp nhận
được, mà còn có nguy cơ bị phái "Cộng hoà"
buộc tội là bán rẻ đồng minh. Do vậy ngày 31- 10 tổng
thống Johnson tuyên bố ngừng ném bom và dù không được
Việt Nam Cộng hoà tán thành nhưng vẫn trì hoãn chưa khai
mạc các cuộc đàm phán chính thức. Đồng thời Mỹ vẫn
tiếp tục cam đoan rằng họ sẽ không công nhận Mặt
trận dân tộc giải phóng miền Nam hoặc áp đặt một
chính phủ liên hiệp ở Nam Việt Nam để gây sức ép
riêng và cuối cùng họ công khai đe dọa bắt đầu đàm
phán mà không có chính quyền Sài Gòn tham dự nếu chính
quyền Sài Gòn không chịu nhân nhượng. Sau hai tuần
trì
-----------------------------------------------
(1)
Shaplen, Con đường dẫn tới cuộc chiến, tr.243.
(2)
Johnson, Lợi điểm,
tr.517-519.
---------------------------------------------------------------------
hoãn,
trong thời gian đó Nixon đã thắng Humphrey sát nút. Cuối
cùng Thiệu đồng ý cử đại biểu đến Paris.
Đến khi ngồi tại Paris, Việt
Nam Cộng hoà lại bắt đầu đưa ra nhiều ý kiến phản
đối về thủ tục làm vriệc và điều này đã làm mất
đi hy vọng đạt một giải pháp hoà bình. Mỹ lúc đầu
đề nghị các đoàn đại biểu được bố trí ngồi ở
hai chiếc bàn dài để làm rõ tính chất hai phía của
cuộc đàm phán, nhưng Bắc Việt Nam đòi ngồi bàn vuông
mỗi bên là một đại biểu nhằm nhấn mạnh ý muốn của
họ để Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam là một
phía riêng biệt của cuộc đàm phán. Để giải quyết bế
tắc này, Harriman đề nghị một bàn tròn và Bắc Việt
Nam đồng ý, nhưng chính quyền Sài Gòn lại không chịu.
Có lẽ Thiệu đã cho rằng vấn đề này có tầm quan
trọng và ý nghĩa thực sự đủ để lên tiếng phản
đối, hoặc chỉ đơn thuần là ông ta chộp lấy cơ hội
này để trì hoãn cuộc đàm phán cho đến khi Nixon, một
nhân vật có thể đồng cảm hơn lên cầm quyền. Harriman
điên tiết về điều mà sau này ông ta gọi là "việc
làm kỳ quặc" của phía Việt Nam Cộng hoà rồi một
lần nữa ông ta yêu cầu Johnson tiến hành đàm phán không
cần chính quyền Sài Gòn, cùng lúc Clifford đưa ra khả
năng bắt đầu rút quân Mỹ(1). Tuy tổng thống Johnson bảo
lưu ý kiến phản đối của Thiệu, nhưng Liên Xô lúc này
đã thuyết phục được Hà Nội chấp nhận một sự thỏa
hiệp: Hai chiếc bàn chữ nhật được đặt tại hai đầu
đối diện của chiếc bàn tròn.
Nhưng thời điểm
giải quyết xong bất đồng về hình thức chiếc bàn ngồi
đàm phán cũng là những ngày cuối cùng
------------------------------------------
(1) Ghi chép
của Clifford tại cuộc họp với Johnson, 18-10-1968, Văn
kiện Clifford, hộp
6.
------------------------------------------
của
chính quyền Johnson và như thế một cơ hội đi đến
những cuộc thương lượng thực sự đã qua đi (1).
Cũng
chưa thể tin là thái độ ngang ngược của Nam Việt Nam
đã phá vỡ cơ hội cho một giải pháp hoà bình.
Vào
cuối năm 1968, quan điểm của Hà Nội đối với các vấn
đề thủ tục trở lên linh hoạt hơn, có thể vì Bắc
Việt Nam muốn Mỹ ngừng ném bom, cũng có thể họ tranh
thủ ở Johnson một giải pháp chấp nhận được trước
khi ông ta mãn nhiệm. Tuy vậy, Hà Nội vẫn không thay đổi
lập trường các vấn đề cơ bản. Không có gì chứng tỏ
Hà Nội có thể chấp nhận những điều thương lượng
dưới mức Mỹ rút quân và một chính phủ liên hiệp.
Còn phía Mỹ thì không chấp nhận điều này. Dù Johnson
chịu ngừng ném bom và rất bực mình với Thiệu nhưng vì
tổng thống này vẫn kiên định những mục tiêu mà ông
ta đã theo đuổi từ ngày mới nhậm chức. Johnson tỏ rõ
với Thiệu là ông ta sẽ không công nhận Mặt trận dân
tộc giải phóng miền Nam, không chấp nhận một chính phủ
liên hiệp, và cũng không chấp nhận một giải pháp hình
thức nào đó khiến Mỹ rút quân.
Dường như
Johnson cảm thấy mình vẫn có thể đạt mục tiêu ban đầu
và tin rằng mình đã dồn đối phương đến chỗ gần
thất bại(2). Vào ngày ra lệnh ngừng ném bom,
Johnson
---------------------------------------
(1) Tạp
chí Thời báo New York ngày 24-8-1969, tr.72; Phỏng vấn
Harriman, Văn kiện Johnson, Cooper, Cuộc viễn chinh thất
bại, tr.406-407.
(2) Đối phương có thể "vẫn bị
nốc ao", Johnson nhấn mạnh vào tháng 11, nhưng họ đã
thoát ra khỏi tình huống đó từ tháng 9", Henry Graff,
Nội các ngày thứ ba, NXB Englewood, N.J., năm 1970, tr.163,
Biên bản cuộc họp với Nixon, ngày 11-11-1968, Văn kiện
Johnson, Ghi chép của Tom Johnson, hộp
1.
-----------------------------------------------------
đã
chỉ thị cho Abrams "dồn mọi nguồn nhân lực và vật
lực với một nỗ lực tối đa" để bắt đối
phương phải "căng ra" và thuyết phục ông ta rằng
"ông ta không bao giờ có thể thắng trên chiến
trường"(1). Do vậy, dù Thiệu có đồng ý thương
lượng từ đầu thì cũng rất khó có khả năng đạt
được bất kỳ thỏa thuận hoà bình có ý nghĩa nào vào
năm 1968, nhất là trong một thời gian biểu hoạt động
quá ngắn. Mỗi bên có thể tuyên bố "chiến thắng"
của mình trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, nhưng
thế trận của mỗi bên đều yếu đi nhiều và không bên
nào có đủ ảnh hưởng để ép buộc bên kia đi đến
một giải pháp, do vậy phải mất thêm 4 năm "vừa
đánh vùa đàm" nữa thì mới phá vỡ được thế bế
tắc này.
----------------------
(1) Johnson, Lợi
điểm, tr.523.
-----------------------------
Chương VII.
"MỘT
CUỘC CHIẾN TRANH VÌ HÒA BÌNH": NIXON, KISSINGER Và VIỆT
NAM (1969 - 1973)
Năm 1969, Henry Kissinger tuyên
bố về Việt Nam như sau: "Chúng ta (Mỹ) sẽ không mắc
lại những sai lầm cũ. Chúng ta sẽ có những quyết định
của riêng mình"(1).
Những lời lẽ đó của
Kissinger nêu lên quyết tâm của Mỹ tìm những giải pháp
mới để giải quyết một vấn đề cũ, với cách nói
khôi hài chơi trội, một kiểu "nhãn hiệu Kissinger",
cho thấy thắng lợi là chắc chắn. Nhưng cuối cùng lời
tiên đoán này chỉ đúng một phần. Kissinger và Nixon đã
cố thử nghiệm một số cách tiếp cận mới, trong đó
một số cách tiếp cận có lúc đã gây ra những sai lầm
riêng của họ, nhưng chính sách của chính quyền mới
cũng có những khiếm khuyết như của các bậc tiền
nhiệm. Che đậy bằng những lời lẽ "hoà bình trong
danh dự", chính quyền Nixon kiên trì cuộc tìm kiếm
theo kiểu phi thực tế
------------------------------------
(1)
Roger Morris. Sự bất ổn lớn: Henry Kissinger và chính sách
đối ngoại của Mỹ, New York năm 1977,
tr.4.
------------------------------
một nước
Việt Nam độc lập, phi cộng sản. Mỹ sẽ đạt tới mục
tiêu này chủ yếu bằng con đường tăng cường sức mạnh
với quy mô lớn cho quân đội Việt Nam Cộng hoà, và gây
sức ép quân sự chống Bắc Việt Nam - những phương pháp
mà trước đây người ta đã thử nghiệm dưới nhiều
hình thức và đã được xem là cần thiết. Với thêm 4
năm chiến tranh đẫm máu ở Đông Dương, kết quả thu
lại chỉ là tình trạng chia rẽ trong lòng nước Mỹ tăng
lên rõ rệt cùng một hiệp định hoà bình cho phép Mỹ
rút ra nhưng chẳng phải là giải pháp lâu bền và trong
danh dự.
Chính sách đối ngoại của Mỹ trong "kỷ
nguyên" Nixon Kissinger mang dấu ấn của những người
tạo nên nó. Giữa một chính trị gia nhà nghề hạng
trung bình của Mỹ và một giáo sư đại học Harvard gốc
Đức không thể có sự khác biệt hơn nữa về nguồn
gốc, nhưng họ lại cùng có tình yêu quyền lực và một
tham vọng cháy bỏng là nhào nặn một thế giới sống
động theo cách thức tạo lập cho họ chỗ đứng trong
lịch sử. Là những con người cô đơn và xa lạ ngay
trong nghề nghiệp của mình, có lẽ họ bị cuốn hút vào
nhau theo bản chất, và ít nhất trong những năm đầu họ
đã chế ngự được tâm trạng nghi ngờ lẫn nhau do phải
dựa vào nhau. Kissinger xem Nixon là phương tiện để vươn
tới quyền lực và danh vọng, còn Nixon lại dựa vào
Kissinger để tạo dựng và thực hiện những ý tưởng
lớn của mình. Tuy cả hai người đều nổi tiếng là
những chính trị gia cứng rắn, nhưng họ cùng thực dụng,
linh hoạt trong cách giải quyết vấn đề. Họ cùng có xu
hướng thích bí mật và mưu đồ cũng như thích có hành
động bất ngờ. Đặc biệt là họ cùng có thái độ xem
thường bộ máy chính quyền. Tuy sử dụng các nhân
vật khác trong chính phủ nhưng không bao giờ dựa vào ai,
họ tự mình nắm chắc quyền kiểm soát chính sách đối
ngoại của Mỹ. Kết quả là một chính sách đối ngoại
đôi khi táo bạo, nhận thức giầu tưởng tượng; đôi
khi thô bạo và ứng biến; đôi khi lại tuyệt hảo trong
thực hiện; và có khi thì vụng về. Đó là một chính
sách hiến dâng cho một mục đích cao cả của một "thế
hệ hoà bình" nhưng thường tàn bạo và bi quan trong
việc sử dụng sức mạnh quân sự.
Trước khi nhậm
chức, Nixon và Kissinger đều kiên quyết bảo vệ cam kết
của Mỹ ở Việt Nam. Tại đỉnh điểm cuộc tranh cãi
nội bộ năm 1967, Nixon đã mạnh mẽ lập luận rằng, sự
hiện diện quân Mỹ ở Đông Nam á góp phần kiềm chế
một Trung Quốc bành trướng và mang lại cho các quốc gia
"tự do" ở Đông Nam á thời gian để phát triển
các thể chế ổn định. Ông ta khẳng định: "Dù ta
có thể nghĩ về thuyết Đôminô như thế nào đi nữa,
nhưng nó sẽ là câu hỏi lớn rằng nếu không có sự cam
kết của Mỹ ở Việt Nam, châu á có thể khác xa so với
lúc này"(1). Kissinger còn có thái độ nước đôi hơn,
một mặt thừa nhận là Mỹ có thể đã thổi phồng tầm
quan trọng của Việt Nam vào những giai đoạn đầu khi họ
mới dính líu; mặt khác lại nói việc ném vào đó 50 vạn
quân đã giải quyết tầm quan trọng của Việt Nam. Bởi
vì giờ đây chính niềm tin vào những lời hứa của Mỹ
lại là điều liên quan đến cuộc chiến tranh (2).
Vào
năm 1969, Nixon Kissinger nhận thấy phải
kết
---------------------------------------
(1) Richar
Nixon, Châu á phía sau Việt Nam, Tạp chí Các vấn đề đối
ngoại, số 46 tháng 10-1967, tr.111.
(2) Henry Kisinger, Những
cuộc đàm phán về Việt Nam, Tạp chí Các vấn đề đối
ngoại, số 47, tháng 1-1969,
tr.219.
-------------------------------------------------------------
thúc
cuộc chiến tranh Việt Nam. Theo lời một trợ lý chuyên
chuẩn bị diễn văn cho Nixon thì cuộc chiến tranh Việt
Nam đã trở thành "một khúc xương hóc trong họng
nước Mỹ", một lực lượng chia cắt đã xé vụn
đất nước và cản trở mọi giải pháp xây dựng nhằm
giải toả những vấn đề khó khăn trong chính sách đối
nội và đối ngoại của Mỹ(1). Hơn nữa, Nixon nhận thức
rõ ràng rằng khả năng đưa được nước Mỹ ra khỏi
chiến tranh Việt Nam sẽ ảnh hưởng một cách quyết định
đến tương lai chính trị và địa vị của ông ta trong
lịch sử. Ông ta từng nói: "Tôi sẽ không kết thúc
như Johnson cứ chui lủi trong Nhà trắng không dám ló mặt
ra phố. Tôi sẽ chấm dứt cuộc chiến tranh đó nhanh
chóng"(2).
Nhưng cả hai nhân vật này đều nhấn
mạnh phải kết thúc chiến tranh "trong danh dự".
Chỉ thuần tuý rút khỏi Việt Nam sẽ là hành động nhẫn
tâm bỏ rơi những người Nam Việt Nam vốn trước đây
đã dựa vào sự bảo vệ của Mỹ và cũng là hành động
không xứng với một cường quốc.
Khi còn trẻ,
nghị sỹ Nixon đã lãnh đạo cuộc tấn công của phái
hữu Đảng Cộng hoà đả kích Truman để "mất"
Trung Hoa dân quốc và cũng giống như Johnson trước đây,
ông ta sợ có thể xảy ra sự đảo lộn trong lòng nước
Mỹ nếu để Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản. Tháng
5-1969, ông ta nói với một nhà báo: "Phản ứng sẽ
rất khủng khiếp, chúng ta sẽ tự hủy diệt mình nếu
rút ra theo cách thức không thực
---------------------------------------
(1) William Safire,
Tnrớc lúc thất bại, New York, năm 1975, tr.121.
(2) H.R.
Haldeman, Sự kết thúc của quyền lực, New York, năm 1978,
tr.81.
-------------------------------------
sự giữ
được danh dự"(1). Quan trọng hơn cả, Nixon và
Kissinger lo sợ hậu quả quốc tế của việc rút quân vội
vã.
Thậm chí trước khi nhậm chức họ đã bắt
đầu phác thảo những nét cơ bản của một trật tự
thế giới mới trên nền tảng địa vị độc tôn của
Mỹ. Thiết kế của họ có tính đến cả việc hoà giải
có mức độ với Liên Xô và Trung Quốc. Và họ cảm thấy
mình phải đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến tranh theo
cách thức có thể biểu dương cho những đối thủ cũ
biết rõ sự kiên quyết về mục đích và sự vững vàng
về hành động, một cách thức thu hút được sự kính
trọng của cả bạn lẫn thù. Kissinger nhận định, "dù
chúng ta đã nhảy vào Việt Nam như thế nào, dù cho hành
động của chúng ta bị phán xét ra sao thì việc kết thúc
chiến tranh trong danh dự vẫn là điều thiết yếu cho nền
hòa bình thế giới. Mọi giải pháp khác đều có thể
làm nảy sinh những lực lượng mà sau này gây phức tạp
cho triển vọng của trật tự quốc tế"(2).
Nixon
hoàn toàn nhất trí và ngay sau khi lên nắm quyền ông ta
khẳng định: "Mục tiêu đích thực của cuộc chiến
tranh này là hoà bình, đó là một "cuộc chiến tranh
vì hoà bình"(3).
Một giải pháp "danh dự"
phải đáp ứng nhiều điều kiện cơ bản. Việc rút quân
Mỹ khỏi Việt Nam phải được tiến hành theo cách thức
sao cho tránh được mọi biểu hiện thất bại dù là
những biểu hiện nhỏ nhất. Kissinger bác bỏ ý tưởng
về một chính phủ liên hiệp vì theo ông ta, nó sẽ "phá
------------------------------------------
(1)
C.L.Sulzberger. Bảy lục địa và 40 năm, New York, năm 1977,
tr.505-507.
(2) Kissinger, Những cuộc đàm phán về Việt
Nam, tr.234.
(3) Sulzberger, Bảy lục địa...,
tr.507.
----------------------------------------------
hủy
cơ cấu chính trị hiện tại và sẽ dẫn đến chỗ cộng
sản chiếm quyền".
Nixon và Kissinger nêu mục tiêu
tối ưu của mình là "một giải pháp thương lượng
công bằng khả dĩ duy trì nền độc lập của Nam Việt
Nam". Nhưng họ nhấn mạnh giải pháp đó tối thiểu
phải tạo cho Nam Việt Nam một cơ hội hợp lý để tồn
tại (1).
Tuy suốt một thập kỷ Mỹ đã không thể
đạt được mục tiêu này, nhưng Nixon và Kissinger tự tin
họ có thể thành công ở nơi mà những người khác đã
thất bại. Họ nhận thức rằng chính quyền Sài Gòn
không thể trụ nổi nếu Mỹ đột ngột rút quân, nhưng
vào đầu năm 1969, chính quyền Sài Gòn có vẻ mạnh hơn
và nếu Mỹ tiếp tục hậu thuẫn thì Thiệu có thể trụ
vững lâu dài. Kissinger lập luận, người Bắc Việt Nam
phải thừa nhận rằng họ không thể dùng sức mạnh để
đẩy Mỹ ra khỏi Việt Nam, do vậy có thể thuyết phục
họ đổi việc Mỹ rút quân lấy giải pháp chính trị mà
sau đó Thiệu sẽ tiếp tục nắm quyền kiểm soát.
Hơn
nữa, Nixon và Kissinger vẫn cho rằng họ có thể buộc Hà
Nội chấp nhận các điều kiện mà trước đó họ kiên
quyết bác bỏ. Liên Xô đã thể hiện rõ Ià họ rất
quan tâm đến việc phát triển mậu dịch và một hiệp
ước hạn chế vũ khí chiến lược với Mỹ, vì vậy có
thể dùng đòn xeo này để tranh thủ Liên Xô thuyết phục
Hà Nội đồng ý với một giải pháp "công bằng".
Đường lối ngoại giao nước lớn sẽ được hỗ trợ
bằng vũ lực. Nixon cho rằng cho đến thời điểm đó áp
lực quân sự đã thất bại vì nó đã
-----------------------------------------
(1) Richard
Nixon, RN: Hồi ký của Richard Nixon, New York, năm 1978,
tr.349; Safire, Trước lúc thất bại,
tr.l34.
-----------------------------------------
được
dùng theo cách thức hạn chế và không dứt
khoát.
Kissinger nhấn mạnh, "một nước được
xếp hạng thứ tư như Bắc Việt Nam ắt phải có điểm
yếu" và ông ta cũng như Nixon đều sẵn sàng dùng sức
mạnh tối đa, đe dọa chính sự sống còn của Bắc Việt
Nam để đạt những điều họ muốn(l). Nixon so sánh tình
hình lúc này với tình hình mà Eisenhower đã vấp phải ở
Triều Tiên năm 1953 và ông ta cho rằng sự "trả đũa
ồ ạt" như đã làm đối với Bắc Triều Tiên sẽ
làm cho Bắc Việt Nam run sợ. Nixon tin chắc hình ảnh một
nhân vật chống cộng cứng rắn như ông ta sẽ buộc đối
phương phải cảm nhận rõ sự đe doạ.
Nixon nói
với một cố vấn riêng: "Họ sẽ tin vào mọi lời
đe dọa dùng v'ũ lực từ Nixon phát ra vì đó là
Nixon.
Chúng ta chỉ cần nói đến tai họ rằng, "vì
chúa, các ngài nên biết rằng Nixon luôn bị ám ảnh bởi
chủ nghĩa cộng sản và ông ta đã đặt tay lên nút bấm
hạt nhân"(2).
Với niềm tự tin thái quá thường
thấy ở những kẻ mới lên cầm quyền, Nixon và Kissinger
đã sắp đặt việc kết thúc chiến tranh. Thông qua các
nhân vật trung gian Pháp, tổng thống Nixon chuyển tín hiệu
riêng đến Bắc Việt Nam bày tỏ ý nguyện hoà bình chân
thành và đề nghị hai bên, cả quân Mỹ và quân Bắc
Việt Nam, cùng rút khỏi miền Nam Việt Nam và phục hồi
khu phi quân sự theo đường biên giới giữa Bắc và Nam
Việt Nam. Kissinger thông báo cho đại sứ Liên Xô, ngài
Anatoly Dobrynin biết chính quyền Mỹ tha thiết muốn thương
lượng với Liên Xô về nhiều
vấn
----------------------------------
(1) Morris, Sự
bất ổn lớn, tr.16., (2) Haldeman, Kết thúc của quyền
lực, tr.83.
------------------------------------
đề
khẩn cấp, nhưng lại thẳng thừng báo trước rằng đầu
tiên là phải đi đến một giải pháp hoà bình ở Việt
Nam.
Như để báo hiệu cho cả Hà Nội và Matxcơva
biết rằng Mỹ có ý định thật sự, Nixon ra lệnh ném
bom dữ dội vào các căn cứ địa của Bắc Việt Nam ở
Campuchia, một hành động mà Hội đồng tham mưu trưởng
liên quân từng nhiều lần đề xuất nhưng sau đó đã bị
chính quyền Johnson bác bỏ. Mục đích quân sự của nhiều
lần ném bom là hạn chế khả năng của Bắc Việt Nam mở
những cuộc tấn công ở miền Nam, nhưng động cơ lúc
đầu của Nixon muốn thể hiện rằng ông ta sẵn sàng
thực hiện những biện pháp mà Johnson né tránh do vậy mà
làm cho Hà Nội phải sợ và đi đến thương lương theo
điều kiện của ông ta. Trong 15 tháng sau đó, Mỹ đã
thực hiện 3.630 trận B-52 ném lrên 100.000 tấn bom xuống
Campuchia. Chiến dịch này được mang tên "Thực đơn"
(một cái tên rất không thích hợp), trong đó có từng
chiến dịch nhỏ mang tên "Điểm tâm", "Bữa
trưa", "Quà vặt", "Món tráng miệng".
Theo yêu cầu của Nixon chiến địch được giữ kín không
thông báo cho dân cũng như chính phủ biết. Số thường
dân chết trong các trận không kích được giữ kín. Lúc
này quân Bắc Việt Nam đã phải di chuyển sâu hơn vào
lãnh thổ Campuchia để tránh bom Mỹ(1).
Biết rõ
chiến lược của mình có thành công hay không còn phụ
thuộc vào khả năng duy trì được vẻ đoàn kết bề
ngoài trong nước, Nixon đã thực hiện một chiến lược
ngoại giao
----------------------------------
(1) William
Shawcross, Cuộc trình diễn: Kissinger, Nixon rà sự tàn phá
ở Campuchia, New York, năm 1979,
tr.26-35.
-----------------------------------
công khai
song song với hoạt động ngoại giao mật. Vào tháng năm
1969, ông ta tiết lộ cái mà ông ta mô tả là "một
kế hoạch hoà bình toàn diện" nêu rõ những đề
nghị đã nói riêng với Bắc Việt Nam và nói thêm rằng
ông ta hy vọng toàn bộ quân "ngoại quốc" có thể
được rút khỏi Nam Việt Nam trong một năm sau khi ký hiệp
định hoà bình. Để làm rõ ý định kết thúc sự dính
líu của Mỹ vào cuộc chiến tranh, ông ta bắt đầu vạch
kế hoạch rút quân chiến đấu Mỹ theo giai đoạn và sau
khi trao đổi với Thiệu tại đảo Midway vào tháng 6, ông
ta tuyên bố rút ngay 25.000 quân chiến đấu Mỹ. Để nhấn
mạnh cho Bắc Việt Nam và Liên Xô cũng như phái hữu
trong nước biết không phải là ông ta mềm yếu, Nixon đã
đọc nhiều bài diễn văn cứng rắn và gắn nhãn "những
kẻ biệt lập" cho các nhân vật "bồ câu"-những
người lập luận cuộc chiến tranh đã làm cho nước Mỹ
giảm sự chú ý tới nhiều vấn đề đối nội cấp bách
hơn. Ông ta còn nhấn mạnh chính quyền có ý định giữ
vững trách nhiệm quốc tế của nước Mỹ.
Hoạt động ngoại giao bí mật
cùng những lời đe dọa quân sự bóng gió của Nixon không
lay chuyển được Hà Nội. Theo quan điểm của Bắc Việt
Nam thì những đề nghị của tổng thống Nixon chẳng hơn
gì đề nghị của Johnson và nếu chấp nhận chúng sẽ là
từ bỏ những mục tiêu mà họ đã phấn đấu gần 1/4
thế kỷ. Đoàn đại biểu Bắc Việt Nam tham gia đàm phán
hoà bình đã công khai miệt thị, gọi đề nghị của Mỹ
là "một trò hề và nói nếu cần họ sẽ ngồi lại
Paris "cho đến khi gẫy ghế mới thôi"(1). Họ
tiếp tục đòi Mỹ
-------------------------------------
(1)
Robert Shaplen, Con đường từ chiến tranh: Vỉệt Nam
1965-1970, New York, năm
1970.
------------------------------------
rút quân hoàn
toàn khỏi Nam Việt Nam và kêu gọi thành lập chính phủ
liên hiệp lâm thời không có Thiệu. Năm 1969, do còn bị
tổn thất vì những thiệt hại trong cuộc tổng tiến
công Tết Mậu Thân, nhưng kiên quyết không từ bỏ cuộc
chiến đấu, Hà Nội đã chuyển sang một chiến lược
chiến tranh phòng ngự, trường kỳ, giảm hẳn hoạt động
quân sự ở miền Nam và rút một số quân trở về bên
kia khu phi quân sự. Biết chắc dư luận công chúng Mỹ
cuối cùng sẽ buộc Nixon rút quân Mỹ khỏi Việt Nam nên
Bắc Việt Nam sẵn sàng chờ đợi đến lúc đó cho dù họ
sẽ có thể phải chịu đựng nhiều gian khổ thêm
nữa.
Những bước đi hoà bình của Nixon cũng không
kiềm chế được phe đối lập trong nước. Nhận thấy
sẽ không có đột phá trong hoà đàm Paris, mức độ công
chúng tán thành cách tổng thống tiến hành cuộc chiến
tranh đã giảm hẳn.
Để bày tỏ tâm trạng thất
vọng ngày càng lớn của phái "diều hâu", thượng
nghị sỹ Richard Russell bang Georgia nhấn mạnh nếu hoà đàm
Paris không nhanh chóng đem lại kết quả thì Mỹ phải
thực hiện một "hành động đáng kể" chống Bắc
Việt Nam(1). Phong trào hoà bình có tổ chức đã yên ắng
từ sau Đại hội Đảng Dân chủ năm 1968, lại bắt đầu
trỗi dậy và nêu ra những kế hoạch biểu tình quy mô
lớn vào mùa thu. Các nghị sĩ "bồ câu" trước
đây giữ im lặng trong 100 ngày đầu của chính quyền để
tạo cơ hội cho tổng thống kết thúc cuộc chiến tranh,
nhưng tới tháng 6, họ lại bắt đầu lên tiếng. Thượng
nghị sĩ Cộng hoà
Jacob
-------------------------------------
(1) Russell gửi
L.M. Thacker, 26-7-1969, Văn kiện Russell M.Russell, Thư viện
Đại học Georgia, Athens, George, Hồ sơ tốc ký, hộp
IJ7.
-----------------------------------
Javits bang New
York buộc tội Nixon đi theo những đường lối vô hiệu
quả và không thành công" như Johnson.
Fulbright
lên án bài phát biểu về chủ nghĩa biệt lập mới là
"mị dân và thể hiện tính hung hăng cá nhân".
Các nhân vật "bồ câu" trong thượng nghị viện
không thỏa mãn với đề nghị hòa bình của Nixon cũng
như với việc rút quân và nhiều đảng viên Đảng Cộng
hoà tập hợp sau lời kêu gọi của Clifford đòi rút hoàn
toàn quân Mỹ khỏi Việt Nam vào cuối năm 1970. Vào giữa
mùa hè, tuần trăng mật ngắn ngủi giữa Nixon với Quốc
hội do Đảng Dân chủ chi phối đã chấm dứt.
Lo
sợ sự phản đối trong nước có thể làm tan vỡ hy vọng
của mình ép Bắc Việt Nam đi đến thỏa thuận, vào
tháng 7 Nixon đã nhanh chóng ứng biến một chiến lược
"mạo hiểm hoàn toàn", một ý đồ tổng lực
nhằm "chấm dứt chiến tranh bằng cách này hay cách
khác - cả việc thỏa thuận đàm phán hoặc dùng vật
lực". Lại nhờ Pháp làm trung gian, Nixon gửi cho cụ
Hồ một bức điện riêng nhắc lại ý muốn đi đến
"một nền hoà bình công bằng" nhưng lại kèm
theo một tối hậu thư: nếu không có tiến triển để đi
đến thỏa thuận vào ngày 1 tháng 11, ông ta sẽ không có
cách lựa chọn nào khác ngoài việc phải sử dụng đến
những biện pháp gây hậu quả lớn và bạo lực".
Kissinger lại nói với Dobrynin lời cảnh cáo rằng về vấn
đề Việt Nam mà nói, giống như một "con tàu vừa
rời ga và bây giờ đang trượt trên đường ray"(1).
Theo lệnh Nixon, Kissinger triệu tập nhóm nghiên cứu Hội
đồng An ninh Quốc gia tuyệt mật
để
--------------------------
(1) Nixon, RN,
tr.393-394,399.
-----------------------------------
hoạch
địinh kế hoạch cho cái mà ông ta mô tả là "những
quả đấm trừng phạt tàn bạo" chống Bắc Việt
Nam, kể cả ném bom ồ ạt vào các thành phố lớn, phong
toả các cảng biển và thậm chí có thể dùng vũ khí hạt
nhân chiến thuật trong những tình huống "kiểm soát
được". Để lời cảnh cáo có sức mạnh, Nixon tiết
lộ cho các nhà báo biết ông ta đang xem xét sự lựa chọn
này, và bằng giọng điệu có ý nhấn mạnh, ông ta nói
với một nhóm nghị sĩ là ông ta sẽ không phải là tổng
thống Mỹ đầu tiên thua trong chiến tranh (1).
Mặc
dù Hà Nội đồng ý đàm phán hoà bình ngoài khuôn khổ
Hội nghị Paris, nhưng tối hậu thư của Nixon vẫn không
có hiệu quả. Ngày 4-8 diễn ra hàng loạt cuộc họp bí
mật đầu tiên, Kissinger đã gặp riêng ông Xuân Thuỷ và
nhắc lại những đề nghị hoà bình cùng tối hậu thư
của Nixon, nhưng ông Xuân Thuỷ đáp lại bằng đường
lối chuẩn mực của Bắc Việt Nam là Mỹ sẽ phải rút
quân hoàn toàn và từ bỏ Thiệu để có thể đi đến
một thỏa thuận. Câu trả lời chính thức của cụ Hồ
(được cụ viết ra ngay trước khi qua đời) cũng truyền
đạt một tín hiệu tương tự và theo lời Nixon thì đó
là một "sự cự tuyệt lạnh lùng". Theo cách nhìn
của Nixon, Bắc Việt Nam không chỉ ương ngạnh mà còn cố
ý khiêu khích. Đài phát thanh Hà Nội, sau khi nghe những
tuyên bố của tổng thống do phái "bồ câu" trong
thượng nghị viện soạn ra, đã chỉ trích là các chính
sách của
----------------------------------
(1) Chi tiết
về kế hoạch mang mật danh DUCK HOOK xem Seymour Hersh, Giá
trị của quyền lực: Kissinger trong Nhà trắng của Nixon,
New York, năm 1983,
tr.125-130.
-----------------------------------
Nixon
đang kéo dài chiến tranh và bày tỏ với nhân dân Mỹ
niềm hy vọng "cuộc tấn công vì hoà bình vào mùa
thu của họ sẽ thành công rực rỡ"(1).
Không
thể dọa dẫm để Hà Nội có nhượng bộ dù là nhỏ
nhất, Nixon phải lựa chọn giữa hai con đường: Một là
leo thang chiến tranh quy mô lớn và hai là một cuộc rút
lui bẽ mặt. Ông ta không giữ được bình tĩnh trước
thái độ kiên quyết của Bắc Việt Nam cùng những ý
kiến chỉ trích trong nước mà ông cảm thấy như khuyến
khích thêm thái độ của đối phương. Phản ứng tự
nhiên của Nixon là đánh trả.
Nhưng bộ trưởng
Quốc phòng Melvin và bộ trưởng Ngoại giao William Rogers
khẩn cầu ông ta không nên có hành động gì làm bùng lên
sự chống đối trong nước. Sau nhiều tuần phân tích cẩn
thận, nhóm nghiên cứu của Kissinger kết luận rằng các
cuộc không kích và phong toả có thể không buộc được
Hà Nội nhượng bộ cũng như không thể hạn chế đáng
kể khả năng Bắc Việt Nam tiếp tục chiến đấu giải
phóng miền Nam. Trong suốt cuộc đời hoạt động chính
trị luôn bị săn đuổi bởi nỗi lo sợ gần như ám ảnh
về sự thất bại và nhục nhã, Nixon cực kỳ miễn cưỡng
khi phải từ bỏ kế hoạch "những cú đấm trừng
phạt tàn bạo" và chỉ sau khi bị thuyết phục là kế
hoạch này sẽ không có hiệu lực ông ta mới từ bỏ kế
hoạch này hoàn toàn. Vì chỉ dựa vào sức ép quân sự
để kết thúc chiến tranh một cách nhanh chóng, vào tháng
11-1969, Nixon giật mình khi nhận thấy trong tay mình không
có chính sách nào cả.
Không muốn nhượng bộ song
không thể dùng sức
---------------------------
(1)
Nixon, RN, tr.397-399.
--------------------------
mạnh
quân sự để kết thúc chiến tranh, một lần nữa Nixon
lại ứng biến và lần này thì quay về với chính sách
"Việl Nam hoá chiến tranh" mà ông ta được kế
thừa từ Johnson.
Trong lúc Nixon vẫn còn suy tính
v'ề cuộc leo thang vào tháng 10, thì chuyên gia chống nổi
dậy của Anh là Robert Thompson thông báo rằng Nam Việt Nam
đang mạnh lên hàng ngày, và nếu Mỹ tiếp tục vriện
trợ quân sự vrà kinh tế quy mô lớn thì trong vòng hai
năm nữa, chính quyền Sài Gòn có thể đủ mạnh để
chống lại cộng sản mà không cần sự giúp đỡ từ bên
ngoài. Không còn lối thoát nào khác, Nixon vội vã tiếp
nhận mà không hề xem xét kỹ lưỡng những kết luận
của Thompson khi sử dụng chúng làm cơ sở cho một đường
hướng mới để đưa nước Mỹ ra khỏi cuộc chiến
tranh. Có lẽ Nixon đã lý giải rằng, nếu ông ta có thể
vận động được dư luận nước Mỹ làm hậu thuẫn
thuyết phục Hà Nội là ông ta sẽ không bỏ rơi Thiệu
và đẩy mạnh xây dựng sức mạnh quân sự cho Nam Việt
Nam thì điều đó sẽ buộc Bắc Việt Nam phải đi đến
kết luận rằng nếu họ thương lượng với Mỹ bây giờ
thì sẽ tốt hơn là thương lượng v'ới Nam Việt Nam sau
này, do đó ông ta có thể tranh thủ được sự nhượng
bộ cần thiết của họ để giành được hoà bình trong
danh dự.
Trong bài diễn vãn quan trọng ngày 3-11,
Nixon bắt đầu cô lập các nhà phê bình và huy động
quần chúng ủng cho chính sách của mình. ông ta kiên quyết
bảo vệ sự cam kết của Mỹ ở Việt Nam với lời cảnh
báo, v'iệc Mỹ rút ra sẽ tạo nên một cuộc tắm máu
tại Nam Việt Nam cùng một cuộc khủng hoảng lòng tin vào
sự lãnh đạo của Mỹ cả ở trong và ngoài nước* Trình
bày tương đối chi tiết chính sách "Việt Nam
hoá chiến tranh" của mình, ông ta đưa ra một tnển
vọng đầy hấp dân là chính sách này sẽ không chỉ làm
giảm thương vong cho Mỹ mà còn có thể kết thúc sự
dính líu của Mỹ theo cách thức bảo vệ được danh dự
dù cho Bắc Việt Nam có làm gì cũng vậy. Tuy một số
thành viên trong ban tham mưu của ông ta có thận trọng đề
phòng một cuộc đối đầu với phong trào hoà bình, nhưng
Nixon đã bỏ ngoài tai lời khuyên của họ. Ông ta gọi
những người phản đối là phần tử vô trách nhiệm và
phi lý. Nixon buộc tội họ phá hoại hoạt động ngoại
giao của mình và công khai kêu gọi sự ủng hộ của cái
gọi là "đa số yên lặng". Ông kết luận bằng
một lời cảnh cáo giật gân "Bắc Việt Nam không thể
hạ nhục Mỹ, chỉ có Mỹ mới có thể làm điều
đó"(1).
Bài diễn văn của Nixon nói về "đa
số yên lãng" thật là khôn ngoan và xét trên nhiều
phương diện thì đó là một thủ đoạn chính trị thành
công. Ông ta đã buộc những kẻ chống đối phải lui về
thế phòng ngự. Bằng cách đưa ra một chính sách có thể
đạt được hoà bình trong danh dự với con số lính Mỹ
thương vong ở mức độ tối thiểu, dường như ông ta đã
điều hoà được những yếu tố đối lập trong thái độ
của công chúng đối với cuộc chiến tranh. Ông ta khá
thông minh khi kêu gọi tinh thần yêu nước trong đám thính
giả và đánh vào thái độ lừng khừng không muốn chấp
nhận bất kỳ điều gì giống như thất bại. Bằng xác
định cụ thể một "đa số yên lặng", Nixon đã
huy động được một tập thể ủng hộ ở nơi mà điều
đó đã không hề tồn
tại.
----------------------------------------
(1) Văn
kiện công khai, Richard M.Nixon, 1969, Washington D.C, năm 1971,
tr.901-909.
----------------------------------------
"Hai
cuộc cầu nguyện vì hoà bình" vào các ngày 15 tháng
10 và tháng 11 thành công và báo hiệu bước ngoặt mới
trong tiến triển của phong trào chống chiến tranh. Các
cuộc biểu tình do phái tự do tổ chức đã thu hút hàng
triệu công dân trung lưu tỉnh táo, "tạo nên sự phản
đối lớn nhất của quần chúng từ xưa đến nay ở Mỹ"
và cho thấy rõ phong trào hoà bình đang trở nên "đáng
tôn trọng"(1). Trái với cảnh rối loạn và bạo lực
của sự kiện Chicago trước đây, hai đợt đấu tranh vào
mùa thu diễn ra một cách hoà bình và đáng tôn trọng với
màu sắc tôn giáo rõ nét. Trên khắp nước Mỹ chuông nhà
thờ rung lên, tên các lính Mỹ chết trong cuộc chiến
tranh được đọc to tại các buổi lễ trong ánh nến và
những người tham gia đã âm thầm cất tiếng cầu nguyện
chống chiến tranh, tiếng họ ngân lên: "Hãy cho hoà
bình một cơ hội". Trong cuộc diễu hành tại
Washington để tưởng niệm những binh sĩ đã tử trận,
hàng ngàn người phản đối chiến tranh trong mưa lo, gió
lớn đã cầm nến diễu hành từ nghĩa trang Arlington
Cemetery đến trụ sở Quốc hội trên đồi Capitol và ở
đây họ đặt những tấm bảng viết tên lính Mỹ tử
trận ở Việt Nam trong các quan tài bằng gỗ.
Dù
vậy, các cuộc bíểu tình mùa thu cũng không đem lại sự
thay đổi về chính sách. Tuy sự phản đối này làm Nixon
kinh hoàng và tức giận, nhưng ông ta công khai tỏ vẻ thờ
ơ và bài diễn văn nói với "đa số yên lặng"
của ông ta đã tạm thời vô hiệu hoá tác động của sự
phản đối
đó.
------------------------------------------------
(1)
Charles De Benedelti, Phong trào đòi hoà bình trong lịch sử
Mỹ,NXB Bloomington, năm 1984,
tr.184-185.
------------------------------------------------
Ngay
sau các cuộc cầu nguyện vì hòa bình, phong trào chống
chiến tranh lại lắng xuống. Các cuộc bỏ phiếu thăm dò
dư luận cho thấy có sự ủng hộ vững chắc đối với
chính quyền. Vào cuối tháng 11, các cuộc tập hợp ủng
hộ tổng thống Mỹ đã được tổ chức ở một số
thành phố. Nixon phấn chấn nói: "Bây giờ chúng ta đã
làm cho bọn tạp chủng tự do này phải kiệt sức và
chúng ta sẽ tiếp tục làm cho chúng khốn khó"(1).
Làm
cho chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh" phát
huy hiệu lực là một nhiệm vụ khó khăn hơn là thao túng
dư luận công chúng Mỹ. Vào lúc Nixon chính thức tuyên bố
kế hoạch "mới" của ông ta nhằm chấm dứt
chiến tranh thì chương trình này đã được thực hiện
từ một năm rưỡi trước. Trong lúc các lực lượng
chiến đấu Mỹ làm cho Bắc Việt Nam và Việt cộng chao
đảo với những trận tấn công dữ dội vào các đường
tiếp tế và các khu căn cứ của họ, thì các cố vấn
Mỹ đang điên cuồng xây dựng và hiện đại hóa quân
đội Nam Việt Nam. Số quân Việt Nam Cộng hoà từ 850.000
khi Nixon lên nhậm chức được tăng lên hơn 1.000.000 người
và Mỹ bàn giao cho Nam Việt Nam một khối lượng lớn vũ
khí tân tiến nhất: hơn 1 triệu súng trường M-16, 12.000
súng máy M-60, 40.000 súng phóng lựu M-79 và 2.000 khẩu cối
và lựu pháo hạng nặng. Nam Việt Nam còn được cung cấp
tàu biển, máy bay, trực thăng và nhiều xe ô tô, điều
này khiến một nghị sĩ phân vân nêu lên rằng liệu mục
tiêu Việt Nam hoá chiến tranh có phải là "đặt từng
người lính Việt Nam Cộng hoà đằng sau vô
lăng
-----------------------------------
(1) Szulc, ảo
mộng hoà bình của (?),
tr.158.
------------------------------------
hay không"(1).
Các trường quân sự mở rộng đến mức có thể tiếp
nhận 100.000 học viên một năm. Để cải thiện tinh thần
và hạn chế tỷ lệ đào ngũ cho binh lính Việt Nam Cộng
hoà, Mỹ đã giúp cải tiến chế độ đề bạt, tăng
lương, tăng quyền lợi của cựu chiến binh và có nhiều
nỗ lực có hệ thống nhằm cải thiện điều kiện trong
các trại lính.
Vào năm 1969-1970, "Chương trình
bình định cấp tốc", lúc đầu được xây dựng như
một chương trình cấp tốc nhằm mở rộng quyền kiểm
soát ở vùng nông thôn trước khi có các cuộc đàm phán,
đã được thể chế hoá và mở rộng. Để nâng cao mức
độ an ninh ở các xã, do an ninh vốn là điểm rất yếu
trong các chương trình cũ, số quân chính quy phối thuộc
cho "chương trình bình định" đã lên tới 500.000
người được trang bị M-16 và có sự hỗ trợ của lực
lượng dân vệ vừa được thành lập vội vã với quân
số lên tới hàng ngàn. Mỹ và chính quyền Nam Việt Nam
đã cố gắng thổi sinh khí mới vào các chương trình
phát triển nông thôn. Các cuộc bầu cử hương xã được
tổ chức, khôi phục lại quyền tự quản đã bị tước
đoạt dưới thời Diệm. Các chức sắc dân cử được
huấn luyện về trách nhiệm công dân vụ tại Trung tâm
phát triển nông thôn Vũng Tàu và khi tốt nghiệp họ được
phát quần áo bà ba đen do CIA cung cấp.
Chính phủ
giao cho từng xã quyền kiểm soát dân vệ và kiểm soát
ngân sách sẽ dùng vào các dự án địa phương.
Nhiều nỗ lực được thực hiện
để khai thông đường xã, sửa chữa cầu cống, thiết
lập trường học, bệnh viện và phát triển
------------------------------------------------
(1) Thomas
Buckley, Quân đội Việt Nam cộng hoà sẽ lớn mạnh hơn
và tinh nhuệ hơn, nhưng..., Thời báo New York ngày
12-11-1969,
tr.132.
------------------------------------------------
sản
xuất nông nghiệp. Tháng 3-1970, chính quyền đã thực hiện
chương trình cải cách điền địa, qua đó phân phối lại
gần một triệu héc ta đất.
Vào đầu năm 1970,
chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh" đang ở
độ sung mãn nhất và đa số các nhà quan sát đều nhất
trí rằng chương trình này đã đạt được những thành
tựu đáng kể. Chỉ trong thời gian ngắn quân đội Nam
Víệt Nam đã trở thành một trong những lực lượng quân
đội lớn nhất và được trang bị tốt nhất thế giới.
Hơn nữa khi được chỉ huy tốt, các đơn vị Việt Nam
Cộng hoà đã chiến đấu giỏi và một số cố vấn Mỹ
bắt đầu thấy rằng có lẽ do tình thế bắt buộc nên
khả năng chiến đấu của họ đã tăng hẳn lên khi rút
các đơn vị chi viện của Mỹ về. ở một số vùng khả
năng chiến đấu của dân vệ còn được cải thiện rõ
rệt hơn cả quân đội Việt Nam Cộng hoà. Các chiến
thuật "phá hoại của Mỹ cùng với việc Bắc Việt
Nam quyết định rút về phòng ngự đã khiến cho vùng
nông thôn an toàn hơn bất kỳ lúc nào kể từ khi cuộc
chiến tranh bắt đầu (...). ở các cứ điểm cũ của
Việt Nam, mọi người có thể qua lại các tuyến đường
vào ban ngày và số vụ đột kích giảm hẳn.
Ngay
cả những người từ lâu vẫn đa nghi như chuyên gia bình
định John Vann đã phải kết luận "lúc này chúng ta
đã đi đúng hướng"(1).
Nhưng bước tiến thực
sự trong lĩnh vực "Việt Nam hoá" vẫn còn bấp
bênh. Các quan chức Mỹ tuyên bố đã "trung lập hoá"
được 20.000 người là cơ sở cách mạng của Việt cộng
qua chiến dịch Phượng hoàng và sau này
đối
---------------------------------------------
(1)
Vann gửi tướng Frederick Weyand ngày 22-1-1970, Văn kiện
Vann.
---------------------------------------------
phương
cũng thừa nhận chương trình này đã gây cho họ nhiều
vấn đề nghiêm trọng. Nhưng con số nêu trên đã quá
phóng đại, tuy các hệ thơng cơ sở bí mật của đối
phương bị đánh phá, nhưng nó vẫn nguyên vẹn. Các quan
chức Mỹ thừa nhận những thành công về an ninh chủ yếu
là nhờ các hoạt động quân sự của Mỹ và do đối
phương giảm hoạt động. Tuy nhiên họ không dám chắc có
thể duy trì được những thành công này hay không nếu
quân Mỹ rút quân và đối phương mở lại các cuộc tấn
công. Dấu hỏi lớn nhất vẫn là chính quyền Nam Việt
Nam. Mặc dù có hoạt động tích cực ở các làng xã,
nhưng chưa có dấu hiệu gì chứng tỏ là "chương
trình bình định" đã khơi dậy được cảm tình thực
sự đối với chính quyền Thiệu. Hơn nữa như một quan
chức Mỹ nhận xét, ở nhiều vùng đã đạt được những
thành tựu đáng kể nhưng chính quyền Việt Nam Cộng hoà
vẫn chưa động viên được ý chí và nhiệt tình của
dân chúng chống lại Việt cộng và hỗ trợ cho các
chương trình quốc gia"(1).
Mỹ cũng chưa biết
chắc chắn liệu quân đội Việt Nam cộng hoà có thể
lấp được chỗ trống mà việc rút quân Mỹ sẽ tạo ra
hay không. Trên lý thuyết thì quân đội này quả là một
lực lượng đáng gờm, nhưng thực tế vẫn còn nhiều
điểm yếu cơ bản chưa khắc phục được. Mỹ ước
đoán rằng quân số ma lên tới 20%; nạn đào ngũ vẫn là
một vấn đề kinh niên và tình trạng thiếu nghiêm trọng
các sĩ quan có trình độ, năng lực và trung thực ở tất
cả các cấp. Thậm chí
-------------------------------------------
(1) Hồi ký
của tướng Arthur S.Collins, mùa thu năm 1970, Văn kiện
Collins, Xem Báo báo của nhóm nghiên cứu đặc biệt về
Việt Nam, ngày 10-1-1979, và Charles S.Whitehouse gửi William
Colby, ngày 22-9-1970, và Văn kiện
Vann.
------------------------------------------
các đơn
vị việt Nam Cộng hoà có chất lượng tốt hơn cũng
thường xuyên tỏ ra không muốn giao chiến với đối
phương trong những trận đánh kéo dài. Điều này khiến
một sĩ quan cao cấp Mỹ phải đặt câu hỏi: Liệu bao
giờ Mỹ "có thể tạo ra được một quân đội có
tinh thần tấn công và xông xáo mà sau này sẽ rất cần
để đối phó với Việt cộng và quân đội Bắc Việt
Nam hay không?"(1). Dù muộn màng, Mỹ cũng bắt đầu
hiểu rằng Nam Việt Nam đã quá phụ thuộc vào Mỹ. Vào
những năm 1968-1969, vấn đề liệu quân đội Việt Nam
cộng hoà có thể tự bảo vệ mình khi Mỹ rút quân về
hay không luôn là một "câu hỏi khó chịu". Nhiều
cố vấn Mỹ thú nhận rằng nếu tốt đẹp ra thì cũng
mất rất nhiều thời gian để Nam Việt Nam có thể tự
đứng vững trong cuộc chiến đấu với các lực lượng
đầy kinh nghiệm và có kỷ luật của Bắc Việt
Nam(2).
vào mùa xuân năm 1970, mâu thuẫn trong chương
trình "Việt Nam hoá chiến tranh" của Nixon đã trở
nên quá rõ. Bài diễn văn về "đa số yên lặng"
đã tạm thời dẹp yên phong trào chống đối nhưng Nixon
nhận ra thành công của ông chỉ là thoảng qua. Vào tháng
3, ông ta tuyên bố rút từng bước 150.000 quân trong năm
sau nhằm "làm tan trận bão mùa xuân phản đối chiến
tranh mà lúc này đang tích tụ"(3). Tuy cần nhìn nhận
từ góc độ chính trị trong nước, Nixon đã nhận ra rằng
phong trào phản đối
chiến
-----------------------------------------
(1) Hồi
ký của Collins, ngày 25-4-1970, Văn kiện Collins.
(2) Hồi
ký của Collins mùa thu I970, Văn kiện Collins; Phỏng vấn
William Rosson, Viện lịch sử quân đội Mỹ, trại
Carlistle, Pa.
(3) Nixon, RN,
tr.448.
-----------------------------------------
tranh sẽ
làm ông ta yếu thế ở nhiều lĩnh vực khác. Abrams từng
gay gắt phản đối việc rút thêm quân về nước với
lời cảnh báo rằng việc rút quân sẽ làm cho Nam Việt
Nam dễ bị tổn thất trước sức ép quân sự của đối
phương và có thể phá hoại chương trình "Việt Nam
hoá chiến tranh". Trước đó Nixon đã ngây thơ hy vọng
rằng việc ông ta thể hiện quyết tâm ở lại Việt Nam
vô thời hạn và những biểu hiện sự ủng hộ của công
chúng sau bài diễn văn ngày 3-11 sẽ thuyết phục được
Bắc Việt Nam thương lượng. Nhưng Hội nghị Paris lúc đó
chẳng đạt được bước đột phá nào, do đó ông ta
nhận ra rằng việc tuyên bố rút thêm quân sẽ khuyến
khích Hà Nội trì hoãn thêm. Do ngày càng nôn nóng kết
quả và vẫn tin chắc có thể kết thúc chiến tranh bằng
cách thể hiện sức mạnh mãnh liệt, nên Nixon một lần
nữa bắt đầu tìm kiếm "những sáng kiến" mà
ông ta có thể thực hiện để tỏ rõ cho đối phương
biết rằng, "chúng ta (Mỹ) vẫn nghiêm chỉnh thực
hiện cam kết của mình ở Việt Nam (1).
Vào tháng
3, việc phái thân Mỹ ở Campuchia do Lon Nol cầm đầu lật
đổ hoàng thân Sihanouk, người theo đường lối trung lập,
đã gây nhiều mối nguy hiểm cho chính sách "Việt Nam
hoá chiến tranh" và tạo nhiều cơ hội hấp dẫn cho
sáng kiến mà Nixon tìm kiếm. Lúc đó Kissinger kiên quyết
phủ nhận việc Mỹ đồng loã trong cuộc đảo chính và
cũng không có bằng chứng nào chứng minh là Mỹ trực
tiếp nhúng tay vào. Tuy vậy, chính quyền Mỹ chẳng mấy
ngạc nhiên về hành động của Lon Nol.
Thái độ
của Mỹ rõ ràng từ lâu đã ghét Sihanouk, thêm
nữa
-----------------------
(1) Nixon, RN,
tr.445.
-----------------------------------
việc họ rất
muốn đánh vào các căn cứ địa của Bắc Việt Nam ở
Campuchia có thể đã khích lệ Lon Nol tin rằng nếu đảo
chính thành công thì họ sẽ được Mỹ ủng hộ (1).
Sau
này, Kissinger thừa nhận là Mỹ đã can thiệp vào
Campuchia với thái độ miễn cưỡng và muộn màng, và họ
chỉ can thiệp sau khi tin rằng Bắc Việt Nam tuyên bố
tiêu diệt chính phủ Lon Nol. Nhưng lời nói này rõ ràng
là giả dối. Không lâu sau cuộc đảo chính mà người ta
cho là được Mỹ cho phép, các đơn vị Nam Việt Nam đã
vượt biên giới tập kích vào Campuchia, sau đó Mỹ nhanh
chóng công nhận chính phủ mới ở Campuchia và bắt đầu
viện trợ lén lút. Việc Bắc Việt Nam quyết định chiếm
Campuchia sau đảo chính đến nay vẫn là điều chưa chứng
minh được và vào lúc đó cũng là điều mà nhiều người
nghiêm túc chất vấn. Mặt khác, một số quan chức Mỹ
ngay từ đầu đã muốn khai thác những diễn biến ở
Campuchia. Giới quân sự nhiều năm đã nôn nóng muốn đánh
các căn cứ địa của Bắc Việt Nam tại Campuchia. Sự
thay đổi chính phủ ở Phnom Penh đã đã giải toả nối
lo ngại vốn có từ lâu về việc vi phạm địa vị trung
lập của Campuchia và các trận đánh vào các căn cứ địa
lúc này có thể được biện bạch với lý do để duy trì
chính phủ Campuchia thân hữu cũng như để giảm mối đe
dọa quân sự đối với Nam Việt Nam. Do vậy, Nixon đã
nhanh chóng chuẩn y đề nghị của Bộ Quốc phòng cho phép
các đơn vị của Nam Việt Nam với máy bay Mỹ yểm trợ
đánh vào căn cứ địa của đối phương ở Mỏ Vẹt,
một dải
-------------------------------------
(1)
Shawcross, Cuộc trình diễn..., tr.112-127 và Henry A.
Kissinger, Những năm ở Nhà Trắng, Boston, năm 1979,
tr.457-521.
-------------------------------------
đất
của Campuchia cách Sài Gòn khoảng 55 km. Thậm chí trước
khi hoàn thành các kế hoạch cho trận đánh này, tổng
thống Nixon đã thông qua một hành động khác dữ dội
hơn và cũng mạo hiểm hơn. Sau gần một tuần nghiên cứu
cẩn thận và đấu tranh dằn vặt cũng như vượt qua sự
chống đối kịch liệt của Laird và Roger, tổng thống đã
phê chuẩn đề nghị của Abram dùng quân Mỹ đánh vào
một khu căn cứ của Bắc Việt Nam cách Sài Gòn khoảng
90 km về phía Tây Bắc. Có vẻ như Kissinger đã giấu kín
những phân vân của mình đối với việc làm này, chí ít
một phần cũng là để tạo lập địa vị cố vấn đối
ngoại hàng đầu của Nixon.
Quyết định của Nixon đưa quân
Mỹ sang Campuchia, một trong nhiều quyết định quan trọng
và gây tranh cãi trong nhiệm kỳ tổng thống đầy sóng
gió của ông ta, có thể do nhiều suy tính thúc đẩy. Ông
ta đã xiêu lòng vì lập luận của giới quân sự cho rằng
cuộc hành quân này sẽ mang lại thêm thời gian cho chương
trình "Việt Nam hoá chiến tranh" và sẽ giúp duy
trì chính phủ ở Campuchia. Mặt khác ông ta nhận thức
được quyết định của mình sẽ gây "tác động
chia rẽ" ở trong nước"(1). Việc Nixon sẵn sàng
làm công việc mạo hiểm này vì những kết quả chưa
biết ra sao phần nào nói lên cái mà ông ta gọi là "triết
lý trò chơi lớn", tức là niềm tin rằng vì chính
quyền "sẽ bị rơi xuống địa ngục hoàn toàn nếu
làm điều này" thì họ cũng rất có thể "hành
động theo lý lẽ chung"(2). Không hề lo sợ về phản
ứng trong nước mà biết chắc sẽ xảy ra, Nixon dường
như
-----------------------------------
(1) Kissinger,
Những năm ở Nhà Trắng, Boston, năm 1979, tr.449.
(2)
Safire, Trước lúc thất bại,
tr.102-103.
----------------------------------
đón
chờ nó. Mùa xuân năm 1970, Nixon phải chống đỡ với cả
trong và ngoài nước. Thượng nghị viện do Đảng Dân chủ
chi phối đã bác bỏ lần thứ hai người mà Nixon đề cử
vào một ghế trống tại Toà án tối cao và ông ta muốn
phô diễn "cho những thượng nghị sĩ... thực sự
cứng rắn đó"(1).
Quan trọng hơn, ông ta vẫn
tin rằng có thể đi đến hoà bình bằng cách đe dọa Hà
Nội. Bực tức vì bị giảm vị thế sau vụ tối hậu
thư tháng 11, một việc làm đã chính xác truyền đạt
một tín hiệu sai, Nixon đã lý giải rằng mở rộng chiến
tranh sang đất Campuchia trước đây nằm ngoài giới hạn
cho phép sẽ làm rõ ra là khác với bậc tiền nhiệm, ông
ta sẽ không để cho những hạn chế trói buộc. Nixon giải
thích cho các trợ lý của mình rằng, đến lúc đó Bắc
Việt Nam sẽ phải quyết định "liệu họ có thể
quần nhau với chúng ta mãi không" và xét về những
áp lực bắt họ thương lượng thì "việc làm đó
hoàn toàn cần thiết"(2). Trên con đường sự nghiệp
của mình, Nixon luôn bận tâm đến tầm quan trọng của
việc đối phó với các cuộc khủng hoảng, nên ông ta
rất muốn nắm lấy thời cơ để phô diễn lòng dũng cảm
dù bị công kích và để tỏ rõ cho các đối thủ ở
trong và ngoài nước biết rằng không ai dọa nạt được
ông ta.
Nixon đã giải thích quyết định của mình
trong bài diễn văn rất hung hăng và khiêu khích được
tường thuật trên truyền hình vào ngày 30-4. Ông ta biện
bạch cho việc "đột kích" vào Campuchia là để
trả đũa "hành động xâm lược" của Bắc Việt
Nam, mặc dù ý đồ của Hà Nội lúc đó
vẫn
-------------------------------------
(1) Monis, Sự
bất ổn lớn, tr.174-175.
(2) Safire, Trước lúc thất
bại, tr.190.
--------------------------------
chưa rõ
ràng, cũng như biện minh rằng làm như vậy là cần thiết
để bảo vệ các lực lượng Mỹ ở Việt Nam, tuy ông ta
không giải thích được tại sao một mối đe dọa cũ
rích như vậy bỗng nhiên lại cần một sự trả đũa
mạnh đến như thế.
Nixon còn giải thích mục tiêu
thực sự của cuộc hành quân là nhằm tiêu diệt Trung
ương cục miền Nam Việt Nam, đầu não của các hoạt
động tác chiến quân sự của Bắc Việt Nam, mặc dù Bộ
Quốc phòng đã trình bày với ông ta rằng họ không biết
rõ vị trí của Trung ương cục miền Nam Việt Nam ở đâu
và thực sự có tồn tại một tổ chức như vậy hay
không. Đoán trước cơn giận dữ trong nước, Nixon nói
rõ: Thà làm tổng thống một nhiệm kỳ còn hơn là phải
chịu trách nhiệm về thất bại đầu tiên của nước
Mỹ. Ông ta kết luận với lời lẽ có phần to tát nghe
như sự tồn vong của chính nước Mỹ phụ thuộc vào
cuộc phiêu lưu sang đất Campuchia. Nixon cảnh cáo: "Khi
đã hết các con bài, quốc gia hùng mạnh nhất thế giới
sẽ hành động như một tên khổng lồ tội nghiệp vô
dụng, các thế lực của chủ nghĩa chuyên quyền và vô
chính phủ sẽ đe dọa 3 (?) quốc gia và các thể chế tự
do trên toàn thế giới"(1).
Dưới góc độ quân
sự, cuộc phiêu lưu của Nixon sang Campuchia cùng lắm cũng
chỉ đem lại những kết quả có mức độ. Bộ chỉ huy
Mỹ tuyên bố đã tiêu diệt được 2.000 quân đối
phương, phát quang 1.600 arcres rừng, phá 8.000 công sự và
thu được nhiều kho vũ khí làm cho các căn cứ địa này
mất giá trị sử dụng trong một thời gian và gây thêm
khó khăn cho
----------------------------------------
(1)
Văn kiện công khai, Richard M. Nixon, 1970, Washington D.C, năm
1971, tr.405-410.
---------------------------------------
công
tác tiếp tế của đối phương. Do giải toả được mối
đe dọa trước mắt từ Campuchia, cuộc hành quân này thực
sự tạo thêm thời gian cho chương trình "Việt Nam hoá
chiến tranh".
Tuy nhiên, cuộc đột kích này chỉ
tạm thời làm giảm khả năng tấn công của Bắc Việt
Nam và thay vì một "Lầu năm góc" châu Á, Trung
ương cục miền Nam Việt Nam hoá ra chỉ là "những
chiếc lều không người nằm rải rác"(1). Dù cuộc
hành quân này có đem lại thuận lợi gì cho chương trình
"Việt Nam hoá chiến tranh" đi nữa thì cũng chẳng
bù lại được hậu quả của việc mở rộng một cuộc
chiến khu vực. Vào lúc Mỹ đang cố gắng giảm quy mô
cuộc chiến thì họ lại phải chuyển những nguồn lực
khan hiếm sang hỗ trợ cho một nhà nước yếu kém hơn ở
Campuchia.
Ngay ở Campuchia, hành động của Mỹ đã
góp phần tạo nên một trong những tấn thảm kịch lớn
mới xảy ra. Mỹ quả có khuyến khích chính phủ Lon Nol
tiến hành một cuộc chiến tranh mà họ có thể chiến
thắng. Cuộc xâm lược của Mỹ buộc các lực lượng
Bắc Việt Nam phải di chuyển khỏi các căn cứ địa và
chuyển đến vùng trung tâm Campuchia. Dù có phải là hậu
quả của hành động xâm lược của Mỹ hay không, Bắc
Việt Nam đã bắt đầu chi viện quy mô lớn cho Khơ me đỏ
chống Lon Nol. Trong cuộc nội chiến đặc biệt tàn khốc
sau đó, Mỹ đã hào phóng chi viện cho chính phủ Campuchia
và ném hàng ngàn tấn bom xuống đất nước này. Tấn bi
kịch cuối cùng là ở chỗ từ đầu đến cuối, chính
quyền Nixon coi đồng minh mới của họ
------------------------------------------
(1) Stanley
Kamow Việt Nam: Một thiên lịch sử, New York, năm 1983,
tr.610.
-------------------------------------------
chẳng
khác gì một quân tốt đen, được dùng để cứu vãn
tình thế của Mỹ tại Việt Nam và không quan tâm gì
nhiều đến hậu quả đối với nhân dân Campuchia.
Phản ứng trong nước đối với
sự kiện Campuchia vượt xa những gì tồi tệ nhất mà
Nixon đã dự kiến - theo những cách thức bi thảm. Việc
bất ngờ mở rộng một cuộc chiến tranh mà vị tổng
thống này đã hứa giảm bớt khiến cho những nhân vật
bất đồng quan điểm nổi giận và việc ông ta biện
minh cho hành động của mình với thái độ nóng giận,
trong đó có những lời nói bừa bãi gán cho những người
phản đối là những kẻ "vô trách nhiệm" càng
như đổ dầu vào ngọn lửa căm giận.
Nhiều cuộc
biểu tình đã nổ ra trong các trường đại học trên
toàn quốc. Tại trường đại học Tổng hợp quốc gia
Kent và trường đại học Quốc gia Jackson, 6 sinh viên đã
bị sát hại trong cuộc đụng độ hỗn loạn với lực
lượng cảnh vệ quốc gia và cảnh sát. Trên 100.000 người
biểu tình tập trung tại Washington trong tuần đầu tháng
5 để phản đối sự kiện Campuchia và sự kiện tại
bang Kent. Sinh viên hàng trăm trường đại học bãỉ khoá
và một số trường đóng cửa để tránh bạo lực leo
thang. Vụ sát hại tại bang Kent đã làm bùng nổ nhiều
hoạt động bạo lực, thậm chí khích động cả những
tổ chức thông thường mang tính bảo thủ và trầm lặng.
Tại trường đại học Tổng hợp Kentucky một ngôi nhà
cao tầng bị đốt cháy và các cuộc biểu tình của sinh
viên đã bị lực lượng cảnh vệ quốc gia dùng hơi cay
đàn áp(1).
---------------------------------------
(1)
Mitchell k. Hall, "Một sự phá cách đúng lúc: Phản ứng
của sinh viên tại trường đại học Tổng hợp Kentucky
đối với vụ sát hại tại trường Đại học Tổng hợp
Kent", Sự kiện lịch sử của trường Kentucky, mùa
đông 1985,
tr.36-63.
---------------------------------------------
Vụ
tấn công bất ngờ sang Campuchia cũng làm nảy sinh sự
thách thức nghiêm trọng nhất của quốc hội đối với
quyền lực của tổng thống Mỹ kể từ khi bắt đầu
cuộc chiến tranh. Tổng thống Nixon trước đó chỉ tham
khảo ý kiến một số nghị sĩ đã có tiếng là đồng
tình với ông ta.
Lãnh tụ phái đa số Thượng nghị
viện Hugh Scott điên tiết vì bị chính quyền che dấu
thông tin và một số người khác thì tức giận vì Nixon
mở rộng chiến tranh(1). Hành động phản kháng tiêu biểu
của họ là vào tháng 6 đã bỏ phiếu áp đảo buộc chấm
dứt hiệu lực của nghị quyết Vịnh Bẳc Bộ năm 1964.
Các thượng nghị sĩ John Sherman Cooper bang Kentucky và Frank
Church bang Idaho đã đề nghị cắt toàn bộ ngân sách cho
hoạt động quân sự Mỹ ở Campuchia sau 30-6. Sau đó các
thượng nghị sĩ McGovern bang South Dakota và Mark Hatfield
bang Oregon đề xướng yêu cầu nghiêm khắc hơn buộc
chính quyền Mỹ phải rút toàn bộ quân Mỹ khỏi Việt
Nam vào cuối năm 1971.
Điên đầu vì những ý kiến
phản đối, Nixon trả đũa. Ông ta nói với cộng sự của
mình: "Không tranh luận thêm gì với các kẻ thù trong
Quốc hội nữa. Đừng lo gì về chuyện chia rẽ. Nếu đã
tuốt kiếm ra thì đừng bỏ nó xuống mà phải giữ chặt
lấy nó"(2). Tổng thống công khai trách cứ các đối
thủ trong nước đã kéo dài chiến tranh và thô bạo cảnh
cáo các lãnh tụ Quốc hội rằng "nếu Quốc hội có
hành động
---------------------------------
(1) Scott
gửi Kissinger ngày 21-5-1970, Văn kiện Hugh Scott, Thư viện
trường đại học Tổng hơp Virginia, Charlottesville, Va, hộp
65.
(2) Safire, Trước lúc thất bại,
tr.190.
--------------------------------
hạn chế tôi
thì họ sẽ phải gánh chịu hậu quả"(1). Tổng thống
phê chuẩn Kế hoạch Huston, là một trong những đòn dánh
vào tự do và sự riêng tư cá nhân trắng trợn nhất
trong lịch sử nước Mỹ, cho phép các cơ quan tình báo mở
thư, dùng các phương pháp giám sát điện tử và thậm
chí cho phép do thám đối với công dân Mỹ. Các cơ quan
tình báo không chịu thực hiện kế hoạch này, nhưng họ
đã dùng một số biện pháp để xác minh mốt liên hệ
giữa các nhóm cực đoan ở Mỹ và các chính phủ ngoại
quốc(2).
Cuối cùng chính quyền Mỹ cũng đã thoát
khỏi cơn bão Campuchia. Vào cuối tháng 6, Nixon ra lệnh rút
quân khỏi Campuchia, tước đoạt của các đối thủ một
vũ khí đáng giá nhất, do đó những cuộc phản đối dần
dần lắng xuống. Dù có nhiều hoạt động ầm ĩ, nhưng
Quốc hội chưa sẵn sàng trực tiếp thách thức tổng
thống hoặc gánh vác trách nhiệm kết thúc chiến tranh.
Phái Thượng nghị viện "bồ câu" hơn đã thông
qua đạo luật sửa đổi Cooper-Church, nhưng Quốc hội đã
bác bỏ nó và cho phép chính quyền Mỹ tiếp tục được
tiến hành các hoạt động không kích tại Campuchia và
cung cấp tiền bạc và hàng viện trợ cho Lon Nol. Đạo
luật sửa đổi Hatfield-McGovem chưa bao giờ giành được
đa số phiếu trong Thượng nghị viện Mỹ.
Tuy Nixon
đã thoát hiểm và quyền lực của ông ta không bị sứt
mẻ, nhưng sự kiện Campuchia đã thít chặt
-----------------------------------------
(1) Henry
Brandon, Sự tái thiết quyền lực của Mỹ, New York, năm
1974, tr.146-147.
(2) Athan Theoharis, Tình báo Mỹ: Sự giám
sát chính trị từ Hooover đến Kế hoạch Huston,
Philadelphia, năm 1978,
tr.13-39.
------------------------------------
thêm cái
bẫy mà ông ta tự dăng cho mình. Phản ứng trong nước
càng thúc đẩy quyết tâm của ông ta đi đến "hoà
bình trong danh dự", đồng thời hạn chế hẳn những
sự lựa chọn để đạt tới hoà bình. Sự kiện
Campuchia đã tạo được đôi chút thời gian cho "Việt
Nam hoá chiến tranh", nhưng nó cũng đặt ra những hạn
chế rõ ràng, tuy ngấm ngầm đối với việc sử dụng
các lực lượng chiến đấu Mỹ sau này và làm tăng thêm
sức ép đòi đẩy nhanh tốc độ rút quân. Tình trạng
chia rẽ trong nước Mỹ đã tăng lên trên mức năm 1968
kèm theo nhiều ảnh hưởng sâu rộng mà lúc đó chưa dự
kiến nổi đối với tương lai của Nixon. Vào mùa hè năm
1970, vị tổng thống mang tâm trạng chua xót này đã tuyên
chiến thực sự với những người mà ông ta coi là kẻ
thù: "Lũ điên ở Quốc hội", giới báo chí tự
do, những người đi diễu hành phản đối. Một trợ lý
của Nixon sau này kể lại: "Trong cánh cổng sắt của
Nhà Trắng từ lúc nào không biết đang rơi vào một thời
kỳ tắc bế về tinh thần. Lúc này đây "chúng tôi"
chống lại "bọn họ". Dần dần khi chúng tôi kéo
vòng vây này thít gần chúng tôi hơn, thì hàng ngũ của
họ bắt đầu phình lên"(1).
Hy vọng phá vỡ
thế bế tắc ngoại giao đối với việc nhảy vào
Campuchia, những hành động của Nixon dường như chỉ
khiến cho tình hình thêm khó khăn hơn. Các phái đoàn Bắc
Việt Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt
Nam đã tẩy chay các cuộc đàm phán chính thức tại Paris
cho tới khi quân Mỹ rút khỏi Campuchia, và các cuộc
-----------------------------------
(1) Charles W.Colson,
Hồi sinh của, NXB Old Tappan H.J, năm 1976,
tr.41.
----------------------------------
đàm phán bí
mật đã ngắt quãng trong nhiều tháng. Dường như Hà Nội
đang chờ cơ hội và phản ứng trong lòng nước Mỹ có
thể đã củng cố thêm lòng tin của họ rằng những áp
lực trong lòng nước Mỹ sẽ buộc Mỹ phải rút quân.
Để
giải quyết các vấn đề đối nội và đối ngoại, vào
tháng 10-1970 Nixon đã thực hiện cái mà ông ta gọi ỉà
"một sáng kiến hoà bình quan trọng mới". Những
đề nghị mà ông ta nêu ra trong bài diễn văn truyền hình
với những ngôn từ hết sức khôn ngoan nhưng chẳng hề
chứa đựng sự nhượng bộ nào về các vấn đề cơ
bản. Hà Nội nhanh chóng bác bỏ đề nghị của Nixon về
ngừng bắn tại chỗ, vì theo Hà Nội điều đó sẽ hạn
chế quân giải phóng đi đến những khu vực mà họ hiện
đang kiểm soát mà vẫn không bảo đảm cho họ bất kỳ
một vai trò gì trong một giải pháp chính trị.
Dù
gì đi nữa, bài diễn văn này hình như đã được chuẩn
bị chủ yếu để phục vụ cho những cuộc bầu cử Quốc
hội sắp tới. Sau bài phát biểu đó, Nixon đi thăm 10
bang và giận dữ lên án những ngươi phản đối chiến
tranh, đồng thời dòi cử tri chọn những người sẽ
"đứng về phía tổng thống".
Ngay trong việc
làm này kết quả cũng đáng thất vọng.
Cũng có
một số nhân vật "bồ câu" bị đánh bại, nhưng
phái Cộng hoà chỉ giành được 2 ghế trong Thượng viện
và mất 9 ghế trong Hạ viện.
Sau hai năm chiến đấu
tiếp tục, tiến hành các hoạt động ngoại giao bí mật
căng thẳng và vận động chính trị, vị thế của Nixon
còn tồi tệ hơn cả khi ông ta mới lên nhậm chức.
Các cuộc thương lượng với Bắc
Việt Nam vẫn bế tắc và một nghiên cứu của Hội đồng
An ninh quốc gia vào cuối năm 1970 đã kết luận Mỹ không
thể thuyết phục mà cũng không thể ép được Hà Nội
rút quân khỏi Nam Việt Nam.
Ở trong nước, Nixon đã
cố "đi trước một bước", theo cách nói của
ông ta, để vật lộn xoay xở tránh những hạn chế đối
với quyền hành động của tổng thống. Nhưng ông ta vẫn
vấp phải sự chống đối đầy thù địch và quyết tâm
hơn trong Quốc hội và một phong trào chống chiến tranh
đã hồi sinh trong khi chỉ mới một năm trước đó còn
thoi thóp. Tình hình ở Nam Việt Nam vẫn ổn định, nhưng
đến cuối năm, giới tình báo cho biết có sự gia tăng
lớn về số quân và số hàng hoá thâm nhập vào Lào,
Campuchia và Nam Việt Nam, đe dọa các tỉnh phía Bắc và
Huế, nơi quân đội Mỹ đã rút một lực lượng
lớn.
Đáng lẽ phải suy tính lại một chính sách
vốn chẳng đem lại kết quả gì thì trong phần lớn năm
1971, Nixon cứ ngoan cố bám lấy quan điểm mà ông ta đã
ứng tác ra năm trước. Để xoa dịu làn sóng chỉ trích
trong nước, ông ta đẩy nhanh thời gian biểu rút quân.
Mặc cho Abrams phản đối, tổng thống Nixon đã ra lệnh
rút 100.000 quân vào cuối năm đó, để lại 175.000 quân
trong đó chỉ có 75.000 quân trực tiếp chiến đấu. Đồng
thời, ông ta vẫn quyết tâm giành một nền hoà bình
"công bằng" và để chống lại mối đe dọa đối
với chương trình "Việt Nam hoá" phát sinh từ
việc Hà Nội tăng cường thâm nhập và quân Mỹ rút về,
Nixon tăng cường áp lực quân sự chống Bắc Việt Nam.
Máy bay Mỹ tiến hành oanh tạc dữ dội các đường tiếp
tế và các khu vực xuất phát ở Lào và Campuchia. Lấy cớ
là Bắc Việt Nam bắn vào máy bay "trinh sát" của
Mỹ, chính quyền ra lệnh thực hiện các trận oanh tạc
"phản ứng phòng vệ" đánh cầu đường doanh
trại, đường mòn trên khắp khu vực phi quân sự và
ở Hà Nội và Hải Phòng. Tháng 2-1971, Nixon mở rộng
chiến tranh cho phép đánh lớn ở Lào. Mục tiêu của cuộc
hành quân này cũng giống như cuộc đột kích vào
Campuchia nhằm tạo thời gian cho chương trình "Việt
Nam hoá chiến tranh" bằng cách phá các đường tiếp
tế của đối phương, nhưng lần này quân đội Việt Nam
Cộng hoà gánh vác nhiệm vụ chiến đấu chính, còn Mỹ
chỉ chi viện bằng không quân.
Chính sách rút quân
kết hợp gây sức ép quân sự chỉ đem lại một thành
công hạn chế. Cuộc hành quân vào Lào nếu không là một
trận đấu thủ hoà tốn kém thì có thể coi đó là một
đại bại. Giới tình báo Mỹ chỉ dự đoán là đối
phương sẽ chống cự yếu ớt, nhưng rõ ràng tướng Giáp
đã bắt được cơ hội đánh một đòn chí mạng vào
chương trình "Việt Nam hoá chiến tranh" và huy
động tới 36.000 quân có xe tăng loại mới nhất của
Liên Xô yểm trợ đánh vào 2 sư đoàn Việt Nam Cộng hoà
vừa vượt biên giới. Sau 6 tuần giao tranh đẫm máu, quân
đội Việt Nam cộng hoà bị đánh tơi tả và kiệt quệ
phải rút chạy về Nam Việt Nam. Các phát ngôn viên chính
quyền tuyên bố tiêu diệt tới 15.000 quân đối phương
và phá huỷ mạng lưới tiếp tế của Bắc Việt Nam ở
Lào do vậy trì hoãn được một trận tấn công lớn
trong năm. Nhưng dù những tuyên bố này có thật đi chăng
nữa thì quân đội Việt Nam Cộng hoà cũng chịu tổn
thất lớn với số thương vong tới 50% và khoảng 2.000
quân tử trận. Khả năng chiến đấu của quân đội Việt
Nam Cộng hoà không được như mong đợi và nếu không có
không quân Mỹ đã ném tới 48.000 tấn bom yểm trợ thì
họ còn chiến đấu kém hơn nhiều. Lời khẳng định của
chính quyền Mỹ là quân Bắc Việt Nam đã rút quân có
trật tự" quả là lố bịch trong không khí hối hả
và hỗn loạn của cuộc rút chạy khỏi Lào và hình ảnh
binh lính Việt Nam Cộng hoà tuyệt vọng bám vào càng máy
bay trực thăng đang cất cánh lên đã làm nảy sinh nhiều
thắc mắc về sự thành công của chương trình "Việt
Nam hoá chiến tranh".
Tại Mỹ, các cuộc phản
đối và biểu tình vẫn tiếp tục diễn ra, thu hút nhưng
gương mặt mới và ngày càng trở nên thù hận. Vào đầu
năm 1971, Tổ chức Cựu chiến binh chống chiến tranh của
những người đã từng tham gia chiến tranh Việt Nam đã
tự tiến hành cuộc điều tra của "những người
lính mùa đông" về tội ác chiến tranh của Mỹ ở
Đông Dương. Vào tháng 4, một nhóm cựu chiến binh đã
từng chiến đấu ở Việt Nam mặc quân phục bạc màu có
đeo quân, huy chương và các biểu tượng hoà bình đã tập
hợp trước nhà Quốc hội, điều trần về tội ác chiến
tranh của chính họ là vứt hết các huân, huy chương trên
người. Vài ngày sau, 30.000 thành viên của Tổ chức ngày
Quốc tế lao động đã tới Washington với ý đồ "ngăn
cản chính phủ hoạt động" và họ tiến hành các
cuộc "biểu tình ngồi" trên những chiếc cầu,
những đường phố lớn và ở lối vào các toà nhà của
chính phủ. Đám đông tràn ngập các đường phố, gây
tắc nghẽn giao thông, phá phách các cửa hàng gây nên mội
trong những cuộc bạo loạn tồi tệ nhất trong lịch sử
nước Mỹ.
Nhiều người Mỹ mong mỏi kết thúc
chiến tranh, nhưng vào mùa hè năm 1971 câu chuyện về cuộc
xung đột trong đó Mỹ đã dính líu hơn một thập kỷ
lại bắt đầu trở lại ám ảnh cả dân tộc này. Sau
phiên xử án dài nhất và thu hút sự chú ý của công
chúng nhất, toà án binh đã buộc tội trung uý William
Calley giết hại "ít nhất 22 mạng người" ở Mỹ
Lai năm 1968 và kết án anh ta tù chung thân. Điều này một
lần nữa đã phơi bầy trước công chúng sự tàn bạo
của cuộc chiến tranh và làm bùng nổ một cuộc tranh cãi
gay gắt về trách nhiệm đối với tội ác chiến tranh.
Tâm trạng phẫn nộ về vụ Calley vừa dịu xuống thì tờ
Thời báo New York lại xuất bản cái gọi là tài liệu Bí
mật lầu Năm góc- một câu chuyện về quá trình đề ra
chính sách ở Việt Nam dựa trên các tài liệu mật của
Bộ Quốc phòng bị cựu quan chức Lầu Năm góc Daniel
Ellsberg tiết lộ. Tài liệu này xác nhận những gì mà
những người chỉ trích chiến tranh đã tranh luận từ
lâu, trong đó có việc Kennedy và Johnson liên tục lừa dối
công chúng về ý đồ của họ ở Việt Nam.
Nixon
ngày càng lâm vào thế cô lập và bị công kích dữ dội.
Ông ta phản ứng kịch liệt với những gì mà ông ta cho
là sự đe dọa quyền hành tổng thống. Bộ Tư pháp xin
được lệnh cấm cựu chiến binh ngủ ở tầng trệt và
chính phủ đã quay sang bỏ tù 12.000 người biểu tình
nhân ngày Quốc tế lao động và chẳng hề quan tâm đến
việc buộc họ phạm tội cụ thể gì. Cá nhân Nixon thì
can thiệp vào vụ Calley trong lúc đang phúc thẩm và ông
ra lệnh thả Calley khỏi nhà giam và khẳng định ông ta
sẽ xem xét vụ án. Vốn bị ám ảnh bởi vụ rò rỉ tin
từ sau tiết lộ về cuộc ném bom bí mật vào Campuchia
năm 1969 và biết chắc rằng các nhà phê bình sẽ dùng
tài liệu Bí mật lầu Năm góc để "tấn công các
mục tiêu và chính sách của mình"(1), Nixon thực hiện
một
-----------------------------------
(1) Nixon, RN,
tr.509.
------------------------------------
bước mạnh
mẽ là đề nghị toà án ra lệnh cấm xuất bản tài liệu
đó. Khi toà án tối cao bác bỏ đề nghị này, Nixon tức
điên lên và cho phép một "tổ hàn chì" bí mật
bịt kín những lỗ rò trong chính phủ và chỉ thị cho họ
dùng mọi biện pháp cần thiết để hạ uy tín Ellsberg.
Chính sách rút quân cũng như cuộc
phản công mạnh mẽ của Nixon chống phái đối lập đều
không thể giải toả được tâm trạng mệt mỏi vì chiến
tranh và mất tinh thần lan tràn toàn nước Mỹ vào mùa hè
1971. Cựu Ngoại trưởng Acheson than vãn cho hoàn cảnh khốn
khó của "nước Cộng hoà đang chao đảo" này và
nhà báo Robert Shaplen gọi Mỹ là "bệnh nhân của Tây
bán cầu"(1). Tâm trạng mất tin tưởng về cuộc
chiến tranh đã đạt đỉnh điểm hơn bao giờ hết, trong
đó tới 71% số dân đều cho rằng Mỹ đã sai lầm khi
đưa quân sang Việt Nam, và 58% số dân cho cuộc chiến
tranh là "vô đạo đức". Sự ủng hộ của công
chúng đối với việc Nixon tiến hành chiến tranh đã giảm
chỉ còn 31% và sự chống đối các chính sách của ông
ta đã tăng hẳn lên.
Hầu như đa số dân chúng đều
cảm thấy rút quân quá chậm và đại đa số nhất trí
rút hết quân về vào cuối năm cho dù điều đó dẫn đến
chỗ cộng sản giải phóng miền Nam Việt Nam cũng mặc(2).
Quốc hội cũng phản ánh tâm trạng ngày càng bất ổn
của nhân dân, dù họ vẫn tiếp tục chưa có được hành
động quyết định. Thượng nghị viện đã phê chuẩn
tới hai lần các bản nghị quyết có nêu cụ thể một
thời hạn rút
----------------------------------------------
(1)
Acheson gửi Matthew B. Ridgway ngày 5-7-1971 và Shaplen gửi
Robert Apsey, Văn kiện Ridgway, Hộp 34B.
(2) Louis Harris,
Nỗi thống khổ của sự đổi thay, New York, năm 1973,
tr.72-73.
----------------------------------------------
toàn
bộ quân Mỹ trong khi chờ Hà Nội thả hết tù binh.
Mỗi
lần như thế Hạ nghị viện nếu không gạt bỏ thời
hạn thì cũng thay đổi lời lẽ cho đỡ căng thẳng.
Căn
bệnh đang ngày càng ảnh hưởng đến đất nước này
cũng nhanh chóng lan sang các lực lượng quân đội Mỹ ở
Việt Nam. Quân Mỹ đã chiến đấu cho mãi đến 1969,
nhưng sau khi bắt đầu thực hiện chính sách rút quân của
Nixon thì mục tiêu của cuộc chiến tranh ngày càng trở
nên đen tối đối với những người đã được động
viên đi chiến đấu, vì thế nhiều lính Mỹ không muốn
vứt bỏ mạng sống của mình. Kỷ luật giảm sút ở một
số đơn vị và binh lính không chịu tuân lệnh sĩ quan.
Hiện tượng đánh các sĩ quan trong thời chiến không phải
là hiếm thấy ở Việt Nam, hiện tượng rã đám đạt
tới mức chưa từng có trong thời kỳ "Việt Nam hoá
chiến tranh", với trên 2.000 vụ đã xảy ra trong năm
1970. Tình trạng ở Đông Nam Á có ma tuý và ma tuý chất
lượng cao có nghĩa là nền văn hoá nghiện hút từng thu
hút một số lớn thanh niên Mỹ trong nước cũng dễ dàng
lây lan sang Việt Nam. Năm 1970, Bộ chỉ huy quân đội Mỹ
ước tính có tới 65.000 lính Mỹ dùng ma tuý. Các quân
chủng cũng không thoát được tình trạng căng thẳng
chủng tộc vốn đã làm tan nát nước Mỹ trong kỷ nguyên
Việt Nam và nhiều vụ xung đột chủng tộc nổ ra ở các
đơn vị đóng trên đất Việt Nam cũng như ở các nơi
khác đã thu hút sự chú ý ngày càng lớn đến tình trạng
xuống cấp về tinh thần và kỷ luật. Lão chiến binh
Matthew Ridgway người đã phục hồi tinh thần cho quân đội
Mỹ tại Triều Tiên sau trận đánh của Douglas MacArthur
than vãn về "những đòn nặng nề" mà cuộc chiến
tranh Việt Nam đã đánh vào quân đội thân yêu của ông
ta (1).
Tuy đã quyết không để bị đẩy vào tình
thế hành động vội vã, nhưng những quan ngại của Nixon
và Kissinger đủ khiến họ cố phá vỡ thế bế tắc ở
Paris một lần nữa.
Kissinger tỏ ý lo lắng chính
quyền không thể qua được năm đó nếu không được
Quốc hội ủng hộ(2). Nixon nhận thấy ông ta sẽ cần
một giải pháp hoà bình để thắng cuộc bầu cử nhưng
lại hy vọng đạt được sớm nhất để tránh biểu hiện
của một hành động tuyệt vọng hoặc một sự vận động
trắng trợn. Do vậy, vào tháng 5, Kissinger bí mật trình
bày với Bắc Việt Nam một đề nghị hoà bình toàn diện
nhất từ trước đến giờ. Để đổi lấy việc thả tù
binh chiến tranh, ông ta cam kết rút quân trong 7 tháng sau
khi ký kết một hiệp định. Mỹ cũng đành từ bỏ quan
điểm hai bên cùng rút quân, mà chỉ nhấn mạnh rằng,
Bắc Việt Nam ngừng thâm nhập thêm người vào để đổi
lấy việc Mỹ rút quân.
Đề nghị này mở màn
những cuộc đàm phán hoà bình căng thẳng nhất từ khi
chiến tranh bắt đầu. Bắc Việt Nam nhanh chóng bác bỏ
đề nghị của Kissinger vì cho rằng đề nghị này đòi
hỏi họ phải từ bỏ tù binh chiến tranh là vũ khí mặc
cả lợi hại của họ, ngừng chiến đấu và chấp nhận
chế độ Thiệu trước khi có bất kỳ một giải pháp
chính trị nào.
Nhà ngoại giao Lê Đức Thọ lập
tức đưa ra đề nghị đồng
ý
----------------------------------------
(1) Rigway gửi
Westmoreland ngày 25-4-1970, Văn kiện Ridway, hộp 34B; Karnow
Việt Nam, tr.631-632; Cincinnatus, Tư hủy hoại, New York, năm
1978.
(2) Vermon A. walters, Nhiệm vụ thầm lặng, New York,
năm 1978, tr.516.
---------------------------------------
thả
tù binh đồng thời với rút quân Mỹ, với điều kiện
Mỹ chấm dứt viện trợ cho Thiệu trước khi đi đến
giải pháp chính trị. Kissinger thấy đề nghị của Bắc
Việt Nam là không chấp nhận được, nhưng ông ta có ấn
tượng rất sâu sắc trước thái độ nghiêm túc và hoà
giải của nhà ngoại giao Lê Đức Thọ và từ hai đề
nghị này đã cảm nhận được "hình thù của một
thỏa thuận". Ông ta phấn chấn nói với bè bạn rằng
mình gần như có thể "nếm mùi vị của hoà
bình"(1).
Nhưng các cuộc đàm phán đó cuối
cùng lại tan vỡ vì vấn đề chế độ Thiệu. Ngay từ
đầu các cuộc hội đàm bí mật, Bắc Việt Nam đã nhấn
mạnh rằng việc phế bỏ Thiệu là điều kiện tiên
quyết cơ bản đối với bất kỳ một thỏa thuận hoà
bình nào và nhiều lần họ bóng gió nói rằng Mỹ cần
loại bỏ ông ta. Lúc này ở miền Nam đã có kế hoạch
tổ chức tuyển cử vào tháng 9 và ông Lê Đức Thọ đề
nghị nếu Mỹ thôi ủng hộ Thiệu và cho phép tuyển cử
công khai thì Mỹ có thể đi bước đầu tiên đến một
giải pháp mà không mất thể diện. Cảm nhận được một
thỏa thuận như vậy, Thiệu đã làm cho vấn đề phức
tạp thêm rất nhiều bằng cách buộc phải loại bỏ hai
ứng viên đối lập là Nguyễn Cao Kỳ và Dương Văn Minh.
Việc Thiệu trắng trợn can thiệp vào tiến trình chính
trị đã làm cho đại sứ quán Mỹ tức giận đến mức
đại sứ Ellsworth Bunker đòi Nixon công khai tách khỏi
Thiệu và dùng sức ép riêng để buộc Thiệu chấp nhận
một cuộc tuyển cử có tranh đua. Nhưng vào lúc gay cấn
đó, Nixon và Kissinger không dám liều lĩnh bỏ Thiệu
nên
----------------------------------
(1) Marvin và
Bemard Kalb, Kissinger, Boston, năm 1974,
tr.180.
-------------------------------------------
đã
bác bỏ cả đề nghị của Bắc Việt Nam lẫn lời khuyên
của Bunker. Chính quyền chỉ tuyên bố "thái độ
trung lập" một điều chẳng có nghĩa lý gì vì Thiệu
tranh cử mà không có đối thủ.
Sau khi Thiệu đã được bầu lại
yên ổn, Kissinger lại tìm cách duy trì các cuộc đàm phán
bí mật bằng cách đưa ra một đề nghị mới kêu gọi
tổ chức tuyển cử sau khi đình chiến 60 ngày và bảo
đảm là Thiệu sẽ rút lui trước ngày bầu cử 1 tháng.
Theo quan điểm của Hà Nội, đề nghị này rõ ràng là
tốt hơn những đề xuất trước đây nhưng nó không bảo
đảm là Thiệu sẽ không là một ứng cử viên cũng như
không ngăn được Thiệu lợi dụng bộ máy chính quyền
để tổ chức bầu cử gian lận. Do đó, Hà Nội tức
khắc bác bỏ đề nghị của Mỹ. Vào cuối tháng 11, các
cuộc đàm phán bí mật lại tan vỡ khiến cho cố vấn
Kissinger với tâm trạng tuyệt vọng và chán nản đã tính
đến việc xây một chiếc đập qua sông Mekong và "đánh
chìm toàn bộ Việt Nam"(1).
Tuy các cuộc đàm
phán vào cuối năm 1971 là nghiêm túc nhất từ trước đến
lúc đó, nhưng cuối cùng cũng tan vỡ vì nhiều lý do đã
khiến cho những nỗ lực trước đó thất bại.
Sau
khi đầu tư quá nhiều xương máu, tiền của và uy tín
chính trị vào một cuộc chiến tranh kéo dài hơn mười
năm, chẳng bên nào muốn có sự nhượng bộ cần thiết
để đi đến hoà bình. Điều quan trọng hơn, mỗi bên
vẫn cảm thấy có thể đạt được những gì mà họ
muốn bằng những biện pháp khác chứ không phải qua thỏa
hiệp. Từ năm 1968, Hà Nội vẫn giữ thế phòng ngự và
lúc này đang tập trung
nguồn
------------------------------------
(1) Marvin và
Bemard Kalb, Kisstnger, Boston, năm 1974,
tr.185.
--------------------------------
nhân lực và
vật lực cho cuộc tấn công quân sự cuối cùng mà họ
hy vọng sẽ lật nhào chế độ Thiệu và buộc Mỹ cút
khỏi Việt Nam. Năm 1971, trong lúc cố gắng tạm gác vấn
đề Việt Nam sang một bên nhưng chẳng mấy thành công,
Nixon và Kissinger đã cố gắng tập trung sức lực và sự
chú ý vào các cuộc đàm phán nhằm đi đến chỗ xoay
chuyển quan hệ giữa Mỹ với Liên Xô, Trung Quốc để
thực hiện lời hứa của họ về "một sự tạo dựng
hoà bình". Cuối năm 1971, Nixon và Kissinger đã dự
liệu những cuộc họp cấp cao với cả Bắc Kinh và
Matcơva nên rất hy vọng sẽ cứu vãn được tình hình,
bảo đảm tổng thống được bầu lại và đẩy Việt
Nam vào thế cô lập không còn con đường nào khác là
phải chấp nhận diều kiện của Mỹ. Nhưng chẳng bên
nào đạt được điều họ hy vọng qua những bước đi
quân sự và ngoại giao đầy kịch tính năm 1972, mỗi bên
đều sẽ phải trả giá đắt cho cố gắng của họ.
Chính họ đã đưa cuộc chiến tranh đến giai đoạn cuối
cùng đầy tàn phá, mà sau đó mới bước sang một giai
đoạn dẫn đến nền hoà bình thỏa hiệp.
Tháng
3-1972, Hà Nội mở chiến dịch đánh vào miền Nam vào lúc
Mỹ còn lại 95.000 quân, trong đó 6.000 là quân trực tiếp
chiến đấu. Hà Nội đã nhận định đúng đắn rằng
sức ép trong nước sẽ ngăn cản Nixon điều thêm quân
sang Việt Nam. Cuộc tấn công này được tính toán thời
gian để trùng hợp với thời gian bắt đầu chiến dịch
vận động bầu cử với hy vọng, cũng như năm 1968, chiến
sự leo thang lớn sẽ dẫn đến sức ép đòi hoà bình bất
khả kháng ở Mỹ. Đối tượng các cuộc tấn công của
Bắc Việt Nam là các đơn vị chủ lực của Việt Nam
Cộng hoà với hy vọng hạ uy tín chính sách "Việt
Nam hoá chiến tranh" và trói chân càng nhiều lực
lượng chính quy của chế độ Nam Việt Nam càng tốt,
khiến quân giải phóng có thể tiếp tục tấn công ở
các vùng nông thôn, phá "chương trình bình định"
và củng cố chỗ đứng của họ trước khi đi đến
những cuộc đàm phán hòa bình cuối cùng.
Trong giai
đoạn đầu, cuộc tiến công đã thành công. Với lực
lượng mũi nhọn là xe tăng, 120.000 quân Bắc Việt Nam đã
đánh qua khu phi quân sự xuống Tây Nguyên và qua biên giới
Campuchia phía tây bắc Sài Gòn. Tình báo Mỹ đã phán đoán
nhầm thời điểm, quy mô và vị trí của cuộc tấn công.
Do đạt yếu tố bất ngờ, quân giải phóng dễ dàng đi
qua những phòng tuyến mỏng của lực lượng Việt Nam
Cộng hoà và nhanh chóng tiến về Quảng Trị, KonTum và An
Lộc, nơi chỉ cách Sài Gòn gần 100 km về hướng Bắc.
Thiệu buộc phải đưa phần lớn lực lượng dự bị đi
bảo vệ các thành phố, do đó quân giải phóng tự do tấn
công ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và ở những vùng
đông dân quanh Sài Gòn.
Tuy choáng váng trước tốc
độ và tầm cỡ của cuộc tiến công, nhưng Washington đã
phản ứng nhanh và mạnh mẽ.
Nixon không chịu ngồi
yên để cho Việt Nam Cộng hoà sụp đổ ông ta không muốn
đưa quân Mỹ trở lại Việt Nam, nhưng quyết tâm làm cho
Bắc Việt Nam đổ máu và hình như ông ta nhìn thấy trong
cuộc tiến công của Bắc Việt Nam một cơ hội để làm
sống lại chiến lược kết thúc chiến tranh mà ông ta đã
buộc phải gạt bỏ năm 1969(1). Ông ta nhanh chóng phê
chuẩn các cuộc ném bom
B-52
---------------------------------------
(1) Elmo R.
Zumwalt, Phiên trực, New York, năm 1976,
tr.379.
----------------------------------------
trên khắp
khu phi quân sự và sau đó là những trận không kích ồ
ạt vào các kho xăng dầu ở Hà Nội và Hải Phòng của
Bắc Việt Nam. Đồng thời Kissinger bí mật gặp Leonid
Brezhnev của Liên Xô. Lần đầu tiên Kissinger tỏ ý sẵn
sàng cho phép lực lượng Bắc Việt Nam ở lại Nam Việt
Nam sau ngừng bắn. Ông ta cũng mạnh mẽ nêu rõ là Liên
Xô phải chịu trách nhiệm về cuộc tiến công và cảnh
cáo nếu chiến tranh cứ tiếp tục thì có thể gây tác
hại cho quan hệ Xô - Mỹ và gây hậu quả nghiêm trọng
cho Bắc Việt Nam. Ngày 1-5, đề nghị và những lời dọa
dẫm trên đây được nhắc lại với ông Lê Đức
Thọ.
Hoàn toàn tin tưởng vào chiến thắng, Bắc
Việt Nam dứt khoát bác bỏ đề nghị của Kissinger khiến
cho Nixon chỉ còn trong tay một loạt sự lựa chọn đầy
khó khăn. Ngày 8- 5, Abrams đòi tăng cường ném bom Bắc
Việt Nam và thả thuỷ lôi cảng Hải Phòng, sau khi báo
động rằng nếu Huế và Kom Tum thất thủ nhanh chóng thì
"sẽ mất tất cả"(1).
Mặt khác các Bộ
trưởng Laird và Rogers cảnh cáo rằng những biện pháp
đối phó quá mạnh có thể có hậu quả tai hại trong
nước, còn Kissinger thì tỏ ý lo ngại Liên Xô có thể
huỷ chuyến viếng thăm Matxcova sắp tới của Nixon.
Không
muốn liều đón nhận thất bại ở Việt Nam và tức giận
vì sự thách thức của Bắc Việt Nam, Nixon quyết định
phản công. Ông ta khẳng định "lũ khốn này chưa bao
giờ bị ăn bom như chúng sắp bị lần này"(2). Một
số quan chức
-------------------------------------------
(1)
Nixon, RN, tr.594.
(2) Bản ghi chép của Nixon ngày
29-6-1972, Thời báo New York ngày
30-6-1974.
-----------------------------------------
ở
washington đoán Liên Xô không thể huỷ bỏ cuộc gặp cấp
cao vì họ có quá nhiều lợi ích. Và kể cả Liên Xô có
làm vậy thì Nixon đã sẵn sàng đặt cược toàn bộ uy
tín của mình vào quyết định này. Ông ta nhận xét, "nếu
chúng ta thua tại Việt Nam sẽ chẳng có ai tôn trọng tổng
thống Mỹ nữa vì chúng ta có sức mạnh nhưng không dùng
nó ... chúng ta phải giữ uy tín"(1). Vì thế ngày 8-5,
tổng thống đã tuyên bố trước quốc dân một tin vô
cùng sửng sốt về bước leo thang ghê gớm nhất trong
cuộc chiến tranh kể từ năm 1968: thả thuỷ lôi cảng
Hải Phòng, phong toả Bắc Việt Nam bằng hải quân và ném
bom ồ ạt kéo dài.
Canh bạc của Nixon ít nhất cũng
đã thành công ở một điểm. Giới lãnh đạo Liên Xô
không muốn để cuộc chiến tranh Việt Nam gây ảnh hưởng
đến mối quan hệ giữa các nước, vì vậy cuộc họp
thượng đỉnh không bị huỷ bỏ. Trong chuyến đi của
Nixon sang Matxcơva vào cuối tháng 5, Brezhnev và các đồng
sự của ông ta cũng thể hiện sự phản đối qua ý kiến
phàn nàn rằng hành động của Mỹ là "một hành động
xâm lược trắng trợn" và còn so sánh những hành
động này với các chính sách của Đức quốc
xã(2).
Nhưng cuộc thương lượng cũng đạt được
những bước tiến, cuối cùng đã đi đến một thỏa
thuận. Liên Xô tiếp tục viện trợ kinh tế cho Bắc Việt
Nam nhưng cũng phải cử một nhà ngoại giao cấp cao sang
thúc giục Hà Nội tìm kiếm giải pháp hoà bình. Trung
Quốc phản đối chiếu lệ chống lại Nixon leo thang chiến
tranh, nhưng đằng sau màn kịch này
...
---------------------------------------
(1) Raymond
Price, Với Nixon, New York, năm 1977, tr.112.
(2) Kissinger,
Những năm ở Nhà Trắng,
tr.1226-1227.
----------------------------------------------
... họ cũng gây áp lực buộc Hà
Nội phải đàm phán với Mỹ.
Cả hai cường quốc
cộng sản này đều coi Việt Nam như một màn phụ không
được phép gây nguy hiểm cho trật tự của các thế lực
vốn đã được định hình trên thế giới.
Phản
ứng trong nước cũng có thể kiềm chế được. Một đợt
phản đối và biểu tình mới lại diễn ra. Theo thượng
nghị sĩ George Aiken bang Vermont thì các nghị sĩ "bồ
câu" trong thượng viện "bị choáng váng",
"điên đầu" và "phiền muộn" và một
loạt nghị quyết đòi kết thúc chiến tranh được hối
hả đưa ra Quốc hội (1). Tuy vậy, công chúng Mỹ luôn
luôn coi ném bom là một giải pháp dễ chấp nhận hơn là
dùng bộ binh và nhiều người Mỹ cảm thấy rằng cuộc
tiến công của Bắc Việt Nam biện minh cho phản ứng của
Nixon. Nhưng vào những lần trước, cả công chúng và Quốc
hội đều đã tập hợp quanh những sáng kiến của tổng
thống và thành công của cuộc họp cấp cao đã làm hẫng
hụt những ai cho rằng hành động hấp tấp của Nixon làm
hỏng thế hoà hoãn. Không muốn phó thác bất kỳ chuyện
gì cho may rủi, các thành viên trong Uỷ ban vận động bầu
cử lại tổng thống đã làm giả hàng ngàn bức thư và
bức điện gửi đến nhà Trắng bày tỏ sự tán thành
các chính sách của Nixon, nhưng dù cho không có những trò
hề này thì tổng thống vẫn được sự ủng hộ rộng
lớn. Tỷ lệ công chúng ủng hộ ông ta đã tăng hẳn
lên. Quốc hội không có ý kiến gì và Nixon ở vào thế
mạnh hơn ở trong nước so với trước khi Bắc Việt Nam
mở cuộc tấn
công(2).
---------------------------------------------
(1)
George Aiken, Nhật ký Thượng nghị viện, Brattleboro, năm
1976, tr.55-57.
(2) Louis Harris, Nỗi thống khổ của sự
đổi thay, tr.74.
-----------------------------------------
Phản
ứng dứt khoát của Nixon dường như cũng chỉ để đẩy
lùi thất bại ở Nam Việt Nam. Với mật danh LINEBACKER
(tiền vệ), chiến dịch khởi động vào tháng 5 này đã
vượt tất cả những đợt oanh tạc trước vào Bắc Việt
Nam. Chỉ riêng trong tháng 6, máy bay Mỹ đã trút 112.000
tấn bom lên Bắc Việt Nam, trong đó có loại bom "thông
minh" được điều khiển chính xác tới mục tiêu
bằng máy tính nhận tín hiệu từ Camera truyền hình và
chùm tia laze. Chiến thuật quân sự truyền thống mà Bắc
Việt Nam sử dụng vào mùa hè năm 1972 dựa nhiều vào
những khối lượng lớn nhiên liệu và đạn dược. Những
trận đánh bom cường độ cao song song với cuộc phong toả
làm cho việc tiếp tế cực kỳ khó khăn. ở Nam Việt Nam
máy bay ném bom của Mỹ thực hiện các phi vụ suốt ngày
đêm, đánh dữ dội vào các đường tiếp tế và nơi
đóng quân của Bắc Việt Nam. Với sự trợ giúp thiết
yếu của không quân Mỹ, quân đội Việt Nam Cộng hoà đã
cố sức ổn định các phòng tuyến phía trước Sài Gòn
và Huế và thậm chí còn tiến hành một cuộc phản công
nhỏ.
Nhưng phân tích cho đến cùng, các chiến dịch
trong mùa hè năm 1972 chỉ đẩy thế bế tắc lên một mức
độ bạo lực mới. Cả hai phía đều tổn thất nặng.
Bắc Việt Nam đã chứng minh rằng quân đội Việt Nam
Cộng hoà vẫn còn yếu kém và quân giải phóng giành được
một số thắng lợi ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Nhưng Thiệu vẫn cầm quyền và NiXon không nhượng bộ.
Bắc Việt Nam vẫn có lực lượng lớn ở miền Nam mặc
dù không ít thương vong vì những trận bom Mỹ- Tin tình
báo mà Washington nhận được vào cuối mùa hè đã tiên
đoán Bắc Việt Nam có đủ khả năng để tiếp tục
chiến đấu ít nhất 2 năm nữa (1).
Thất vọng vì
không phá được thế bế tắc ngoại giao bằng các biện
pháp quân sự, mùa thu năm 1972 các bên đều cảm thấy có
nhiều lý do thúc ép phải phá vỡ thế bế tắc quân sự
bằng con đường ngoại giao. Chắc chắn chính quyền Nixon
không liều đi đến giải pháp trước khi bầu cử.
Đảng
Dân chủ đã đề cử George McGovern, một nhân vật chủ
hoà hay nói thẳng nhưng quan điểm cực đoan. Nixon và
Kissinger cũng đã nhận ra nếu tiếp tục cuộc chiến trên
không vô thời hạn sẽ gây dư luận trong nước. Họ ngày
càng thất vọng khi thấy vẫn dai dẳng kéo dài một cuộc
chiến tranh mà họ coi là ngăn cản kế hoạch vĩ đại về
một "thế hệ hoà bình". Họ muốn giữ lời hứa
trước đây là kết thúc chiến tranh và mong đạt được
một giải pháp trước bầu cử nếu như có thể mà không
phải mất mặt...
Từ cuối hè trở đi, hai nước
nhích dần từng ly tới một thỏa hiệp. Sau khi tỏ ý sẵn
sàng cho phép quân đội Bắc Việt Nam ở lại miền Nam
sau đình chiến, Mỹ đã lùi một bước lớn sau cam kết
ban đầu kiên quyết ủng hộ Thiệu qua việc chấp nhận
một Uỷ ban bầu cử ba bên. Uỷ ban này (gồm chính quyền
Sài Gòn, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và phái
trung lập) sẽ chịu trách nhiệm dàn xếp một giải pháp
sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Lúc này Bắc Việt
Nam cũng chấp nhận một nguyên tắc đình chiến, cho Thiệu
tiếp tục nắm quyền kiểm soát tạm thời và cho phép
chính quyền Cách mạng lâm thời (tên chính thức
của
-----------------------------------
(1) Szulc, ảo
mộng hoà bình,
tr.618-619.
-----------------------------------
Mặt trận
dân tộc giải phóng miền Nam năm 1969) có địa vị của
một thực thể chính trị ở miền Nam.
Vào cuối
tháng 9, người ta đã bàn luận nghiêm túc về một giải
pháp theo những đường lối này, trong ba tuần thương
lượng căng thẳng Kissinger và Lê Đức Thọ đã phác hoạ
ra những nét cơ bản của một hiệp định. Trong 60 ngày
sau đình chiến, Mỹ sẽ rút số quân còn lại và Bắc
Việt Nam sẽ trả tù binh. Sau đó Hội đồng hoà hợp và
hoà giải dân tộc sẽ dàn xếp một giải pháp, điều
khiển cuộc tuyển cử và chịu trách nhiệm thi hành hiệp
định. Ngày 11-10, toàn bộ các vấn đề (chỉ trừ 2 vấn
đề trên) đã được giải quyết xong. Sốt sắng muốn
gói gọn lại công việc càng sớm càng tốt, Kissinger và
Lê Đức Thọ đồng ý để lại hai vấn đề này. Và sau
khi hỏi ý kiến Nixon và Thiệu, Kissinger sẽ xúc tiến
cùng Hà Nội ký tắt hiệp ước này vào ngày 22-10.
Do
vội vã đi đến một thỏa thuận, Kissinger đã tính toán
rất nhầm về mức độ Thiệu sẵn sàng làm những gì Mỹ
sai khiến và sự sẵn lòng ủng hộ Thiệu của Nixon.
Kissingel phải bỏ ra 5 ngày ở Sài Gòn để kiên trì giải
thích những điểm lợi của từng mục trong hiệp định
đối với Việt Nam Cộng hoà và đưa ra những lời cảnh
cáo thiếu tế nhị là nếu Thiệu từ chối hiệp định
có nghĩa là Mỹ sẽ ngừng ủng hộ. Nhưng trong các bên
hữu quan, Thiệu là người có lợi ít nhất trong một
hiệp định quy định việc Mỹ rút quân, và ông ta thấy
các điều khoản đó hoàn toàn không thể chấp nhận
được. Ông ta kịch liệt phản đối việc không được
tham khảo ý kiến trước về những cuộc thương lượng
này và kiên quyết không chịu chấp nhận một thỏa thuận
cho phép quân đội Bắc Việt Nam được phép ở lại miền
Nam và cho Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam
chủ quyền. Ông ta vạch cho Kissinger thấy trong văn bản
có một số từ ngữ cẩu thả cho phép Uỷ ban ba bên có
được vị thế một chính phủ liên hiệp. Đòi phải có
những thay đổi hoàn toàn trong bản thỏa thuận kể cả
việc thiết lập một khu quân sự làm đường biên giới
giữa hai nước chủ quyền, Thiệu hiển nhiên bất chấp
rủi ro của việc đẩy Mỹ và Bắc Việt Nam ra xa nhau và
cản trở hiệp định vô thời hạn đồng thời cho phép
cuộc chiến tranh kéo dài. ít nhất Thiệu cũng đã thành
công trong một giai đoạn ngắn.
Vô cùng tức giận
trước sự đe dọa không lường trước đối với tác
phẩm đầy kỳ công của mình, Kissinger ép buộc Nixon hành
động mà không cần chính qưyền Sài Gòn đồng ý. Do
quan tâm đến việc rút quân Mỹ ra khỏi Việt Nam, ông ta
dường như thỏa mãn với Việc đạt tới một "khoảng
thời gian vừa phải" giữa lúc Mỹ rút quân và lúc
giải quyết cuộc xung đột ở Việt Nam. Nhưng Nixon thì
không bao giờ từ bỏ cuộc tìm kiếm "hoà bình trong
danh dự". Có vẻ như ông ta cũng chia sẻ một số suy
nghĩ phân vân của Thiệu về bản dự thảo tháng 10 và
mặc dù đã tán thành thỏa thuận trên với điều kiện
Thiệu không phản đối, nhưng ông ta cảm thấy trong ý
kiến phản bác của chính quyền Sài Gòn có cơ hội để
đạt được những gì mà ông ta tìm kiếm ngay từ đầu.
Biết chắc sứ mạng to lớn trong cuộc bầu cử sắp tới
ông ta quyết định chờ đợi cho đến sau khi được bầu
lại, đến lúc đó ông ta có thể đòi hỏi Bắc Việt
Nam phải giải quyết hoặc "gánh chịu hậu quả của
những gì mà Mỹ có thể làm đối với họ"(1). Ông
ta không muốn để Thiệu ngăn cản vô thời hạn một
thỏa thuận, nhưng chỉ cần
trì
-------------------------------------
(1) Nixon, RN,
tr.701.
---------------------------------
hoãn một thời gian ngắn là
ông ta có thể viện trợ thêm cho Nam Việt Nam, và có thể
khắc phục những chỗ khiếm khuyết trong bản hiệp định
và làm suy yếu khả năng của Bắc Việt Nam đe dọa hoà
bình.
Kissinger có ý đồ giữ vững hy vọng về một
giải pháp sớm bằng cách tuyên bố công khai vào ngày
31-10 rằng "hoà bình nằm trong tầm tay", nhưng
việc Nixon ủng hộ Thiệu chắc chắn sẽ làm tan vỡ thỏa
thuận tháng 10. Khi các cuộc đàm phán bí mật nối tiếp
vào đầu tháng 11, Mỹ đã đưa ra xem xét lại khoảng 60
điểm, nhiều điểm chỉ là vụn vặt nhưng một số điểm
rất quan trọng đối với sự thỏa hiệp giữa hai bên.
Kissinger yêu cầu ít nhất rút một số quân tượng trưng
của Bắc Việt Nam ra khỏi miền Nam và đề nghị một số
thay đổi trong văn bản để làm yếu vị thế chính trị
của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, giới hạn
quyền lực của Uỷ ban ba bên và thiết lập một khu phi
quân sự như một đường ranh giới thực tế. Ông ta còn
dọa dẫm thêm rằng vì Nixon đã chiến thắng vang dội
trước đối thủ McGavon nên ông ta sẽ không ngần ngại
gì trong việc "làm bất kỳ điều gì cần thiết để
bảo vệ lợi ích của Mỹ"(1).
Biết chắc bị
phản bội và không chịu nhân nhượng trước sự đe doạ,
Hà Nội tức giận bác bỏ đề nghị của Kissinger và nêu
ra nhiều đề nghị của mình và thậm chí còn nêu lại ý
kiến trước đây là phế bỏ Thiệu. Nhiều tuần
lễ, Kissinger và Lê Đức Thọ đấu khẩu tại bàn thương
lượng trong bầu không khí căng thẳng và thường có thái
độ giận dữ. Sợ rằng nền hoà bình xem ra
đã
------------------------------------
(1) Nixon, RN,
tr.721.
------------------------------------
đến gần
nay lại sắp tuột mất, mỗi bên đều có nhượng bộ,
nên - vào giữa tháng 12 họ đã quay lại cái cơ bản của
thỏa hiệp ban đầu duy chỉ có vấn đề vị thế khu phi
quân sự là chưa giải quyết được. Lúc này Kissinger đã
hết kiên nhẫn, không hề nhớ là Mỹ cũng góp phần vào
sự lỡ dở này, Kissinger phàn nàn gay gắt rằng Hà Nội
"đã dồn chúng ta vào thế không thể chịu nổi và
họ đã báo trước với Nixon rằng họ cố tình trì hoãn
để gây chia rẽ giữa Mỹ và Thiệu" (1). Thất vọng
và nôn nóng muốn đạt kết quả, hai nhà lãnh đạo nước
Mỹ đã quyết định ngừng đàm phán và giải quyết vấn
đề bằng vũ lực.
Trong tuần tiếp theo, Nixon dùng
mọi phương tiện có thể để áp đặt cho cả Bắc lẫn
Nam Việt Nam một giải pháp.
Ông ta ra lệnh ngay lập
tức viện trợ cho Nam Việt Nam trên 1 tỷ đô la vũ khí
quân sự khiến cho Thiệu có được một lực lượng
không quân đứng hàng thứ 4 thế giới và còn nhiều thứ
khác nữa. Ông ta tuyệt đối bảo đảm với chính quyền
Sài Gòn nếu Bắc Việt Nam vi phạm hiệp định hoà bình
thì ông ta sẽ ra lệnh "có hành động trả đũa nhanh
chóng và dữ dội" và ông ta hạ lệnh cho Hội đồng
tham mưu trưởng liên quân bắt đầu lên kế hoạch ngay
nếu tình huống như vậy xảy ra(2). Đồng thời Nixon cảnh
báo cho Thiệu biết nếu Thiệu không chấp nhận một hiệp
định tốt nhất trong phạm vi khả năng có thể đạt
được thì Mỹ sẽ đi đến hoà bình mà không cần có
Thiệu. Thiệu tiếp tục chống lại không cho Nixon toàn
quyền thương lượng cho mình
và
-------------------------------------
(1) Sulzberger,
Bảy lục địa, tr.593; Nixon, RN, tr.725-726.
(2) Nixon, RN,
tr.718; Zumwalt, Phiên trực,
tr.413-414.
------------------------------------
ngang
ngược thông báo với báo chí là ông ta gạt bỏ tối hậu
thư của Mỹ. Tuy rất điên tiết trước thái độ ngoan
cố của Thiệu nhưng Nixon không hoàn toàn phật lòng vì
ông ta thấy điều đó tạo cớ để ông ta có thời gian
tạm nghỉ nếu như sau này phải đi đến thảo
thuận.
Trong lúc cố gắng thúc ép Thiệu phải khuất
phục, Nixon dùng chính sách mà Kissinger gọi là "đường
lối ngoại giao đánh vào chỗ hiểm" để chống Bắc
Việt Nam và ra lệnh một đợt ném bom ồ ạt nữa. Động
cơ là để buộc Hà Nội ký một thỏa thuận, nhưng quyết
định này phản ánh một nỗi tức giận và thất vọng
dồn nén trong suốt 4 năm và nhằm làm cho Bắc Việt Nam
suy yếu đi đến mức họ không thể đe dọa Nam Việt Nam
sau khi ký một giải pháp hoà bình. Nixon cho giới quân sự
thấy rõ quyết tâm của ông ta muốn gây thiệt hại tối
đa cho Bắc Việt Nam. Ông ta lên lớp cho đô đốc Thomas
Moorer, chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân:
"Tôi không muốn nghe các ngài nói vớ vẩn là không
thể đánh mục tiêu này hay mục tiêu kia.
Đây là
cơ hội để các ngài dùng sức mạnh quân sự nhằm chiến
thắng cuộc chiến tranh này, nếu các ngài không làm được
tôi sẽ quy kết trách nhiệm cho các ngài"(1). Trong 12
ngày sau, Mỹ đã thực hiện những trận đánh bom dữ dội
và tàn phá nhất trong cuộc chiến tranh với số lượng
bom trút xuống miền Bắc Việt Nam hơn 36.000 tấn, vượt
xa số bom trong toàn bộ thời kỳ 1969-1971.
Sau này
Nixon và Kissinger tuyên bố đợt ném bom vào lễ Giáng sinh
đã buộc Bắc Việt Nam phải chấp nhận
một
--------------------------------
(1) Sulzberger, Bảy
lục địa, tr.593; Nixon, RN,
tr.725-726.
--------------------------------
giải pháp
theo đúng ý đồ của Mỹ, nhưng sự thật không đúng như
vậy. Trận ném bom không có sức tàn phá như các trận
ném bom vào Tokyo, Hiroshima hay Dresden trong Chiến tranh thế
giới thứ 2 như lời buộc tội của các nhà phê bình.
Phần lớn dân chúng đã được di tản khỏi các thành
phố lớn. Nhưng sự tàn phá ở nhiều khu vực của Hà
Nội và Hải Phòng vẫn rất nặng nề, có tới 1.600 dân
thường vô tội bị thiệt mạng. Chắc chắn đợt ném
bom đã tạo cho Hà Nội lý do nối lại thương lượng,
đặc biệt khi họ đã cạn kiệt tên lửa đối không vào
ngày 30-12.
Đợt ném bom có thể đã tạo cho Nixon
nhiều lý do thúc ép hơn để trở lại bàn thương lượng.
Lực lượng phòng không Bắc Việt Nam đã bắn rơi 15 máy
bay B-52 và 11 máy bay khác gây tổn thất lớn cho Mỹ. Đợt
ném bom vào dịp lễ Giáng sinh đã gây ra một làn sóng
căm phẫn trên khắp thế giới. Liên Xô và Trung Quốc
không còn giữ được thái độ kiềm chế hồi tháng 5 đã
tức giận phản đối. Còn phản ứng trong nước thì cực
kỳ gay gắt. Các nhà phê bình lên án Nixon là "điên
dại" và buộc tội ông ta đã tiến hành "chiến
tranh để thỏa mãn cơn giận"(1). Nhiều người trước
đây đã từng tán thành các trận ném bom hồi tháng 5 thì
lúc đó lại đặt câu hỏi về cả sự cần thiết lẫn
độ tàn bạo khác thường của các trận ném bom tháng
12, theo lời thượng nghị sĩ Aiken thì đó là một món
quà Giáng sinh đáng buồn cho người dân Mỹ (2). Tỷ lệ
dân chúng ủng hộ cho Nixon giảm ngay xuống 39% và phái
"bồ câu" trong Quốc
hội
----------------------------------
(1) Nixon, RN,
tr.738.
(2) Aiken, Nhật ký Thượng nghị viện,
tr.136.
----------------------------------
nêu rõ khi họ
quay về Washington sau kỳ nghỉ Giáng sinh rằng họ sẵn
sàng đấu tranh với tổng thống. Sau này, một phụ tá
Nhà Trắng nhận xét: "Chúng tôi nghiêm túc đón nhận
những sự đe dọa của Quốc hội, chúng tôi biết mình
đang chạy đua với thời gian và nếu Bắc Việt Nam từ
chối thương lượng thì chúng tôi phải đối diện với
một tình hình nghiêm trọng"(1). Để giữ lối thoát
cho những sự lựa chọn của mình, Nixon đã thể hiện
cho Bắc Việt Nam thấy rằng ông ta sẽ ngừng ném bom nếu
họ đồng ý nối lại cuộc đàm phán, Hà Nội đồng ý
và Nixon đã thoát khỏi tình thế hiểm nghèo.
Quan
trọng hơn, cuộc ném bom không đem lại một giải pháp
khác hẳn mà Mỹ trông đợi. Ngày 8-1, các cuộc thương
lượng được nối lại tại Paris. Không khí căng thẳng
và lạnh lẽo, nhưng lần này cả hai bên đều nhất quyết
đi đến giải pháp, sau 6 ngày họp liên tục với sự
nhượng bộ của hai bên, Lê Đức Thọ và Kissinger đã
giải quyết những bất đồng của họ. Những thay đổi
so với thỏa thuận tháng 10 chủ yếu là hình thức, khiến
cho bên nào cũng có thể nói rằng họ không phải nhượng
bộ chút nào. Về vấn đề quan trọng-khu phi quân sự,
Bắc Việt Nam đồng ý nêu rõ trong hiệp định nhưng Mỹ
chấp nhận ý kiến của họ mô tả khu phi quân sự này
chỉ là "tạm thời và không phải đường biên giới
lãnh thổ", do vậy vẫn giữ được tính chất cơ bản
trong lập trường của Hà Nội. Vấn đề đi lại của
nhân dân qua khu phi quân sự được để lại giải quyết
sau trong các cuộc đàm phán giữa Bắc và Nam Việt
Nam.
-------------------------------------
(1) Colson, Hồi
sinh, tr.77-79.
-------------------------------------
Lần này Mỹ áp đặt thỏa
thuận này đối với Thiệu. Để cho Thiệu dễ chấp
nhận, Nixon nêu rõ nếu Thiệu đồng ý thì ông ta sẽ
tiếp tục viện trợ cho Nam Việt Nam và sẽ "phản
ứng với toàn bộ sức mạnh" nếu Bắc Việt Nam vi
phạm thỏa thuận. Đồng thời ông ta bộc lộ nếu Thiệu
tiếp tục phản đối, ông ta sẽ ngừng viện trợ và ký
hiệp định một mình, nếu cần thiết(1). Thiệu trì hoãn
nhiều ngày, nhưng khi biết là không còn cách nào khác nên
đã nhượng bộ với lời lẽ cam chịu: "Tôi đã làm
hết sức mình cho đất nước tôi". Chính quyền Sài
Gòn không bao giờ chấp nhận chính thức bản hiệp định
nhưng Thiệu bí mật thể hiện ông ta sẽ không chống lại
nó.
Chỉ bằng một khái niệm hẹp nhất có thể
nói thỏa thuận này đã tạo nên "hoà bình trong danh
dự". Hiệp định cho phép Mỹ rút ra khỏi cuộc chiến
và bảo đảm trao trả tù binh đồng thời vẫn để
nguyên chính quyền Thiệu - ít nhất vào ngay lúc này. Mặt
khác, quân đội Bắc Việt Nam vẫn tiếp tục ở miền
Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam
có được một vị thế. Vấn đề chủ chốt mà vì nó
có cuộc chiến tranh này, tức là tương lai chính trị Nam
Việt Nam, được để lại giải quyết sau. Hiệp định
ký tháng 1-1973 quy định vấn đề này sẽ được giải
quyết bằng biện pháp chính trị. Nhưng cơ chế thiết
lập để thực hiện nó rất mập mờ, và tự nó không
thể hoạt động được và tất cả các bên liên quan đều
nhận thức được là cuối cùng sẽ phải giải quyết
vấn đề bằng sức mạnh quân sự. Thực vậy, khi
Kissinger và Lê Đức Thọ từ khách sạn Majestic bước
ra,
------------------------------------------------
(1)
Nixon, RN, tr.737; Thời báo New York ngày
1-5-1975.
------------------------------------------------
miệng
cười tươi vì những thành tựu mà họ đạt được thì
các đơn vị quân đội Việt Nam Cộng hoà đang bận rộn
chuẩn bị cho vòng đấu cuối cùng. "Hòa bình trong
danh dự" chỉ là một giai điệu mới của cuộc chiến
tranh 30 năm giành giật quyền kiểm soát Việt Nam.
Đối
với tất cả những ai liên quan thì "Hòa bình trong
danh dự" rất đắt giá. Theo con số ước tính chính
thức của Mỹ thì trong thời gian từ năm 1969 đến năm
1973, số quân tử trận của Việt Nam Cộng hoà là 107.504
người và của quân giải phóng là trên 500.000 người. Sẽ
không bao giờ có con số chính xác thỏa đáng về số dân
thường bị thiệt mạng và bị thương. Số bom trút xuống
Đông Dương trong thời kỳ Nixon đã vượt quá con số
trong thời kỳ Johnson, gây ra sự tàn phá khủng khiếp, để
lại hậu quả lâu dài cho hệ sinh thái ở vùng nông thôn
và khiến cho hàng triệu dân không cửa không nhà. Mỹ
chịu tổn thất ít hơn Việt Nam rất nhiều, nhưng cái
giá phải trả cũng không kém. Thêm 20.553 tính Mỹ nữa bị
chết trong 4 năm cuối của cuộc chiến tranh, nâng tổng
số tử trận lên trên 58.000. Việc tiếp tục cuộc chiến
tranh đã làm bùng lên tình trạng lạm phát mà Nixon và
những người kế nhiệm đều không thể kiểm soát được.
Chiến tranh đã phân cực nhân dân Mỹ và đầu độc
không khí chính trị nước này ở mức độ chưa từng có
từ khi còn chế độ nô lệ của thế kỷ trước. Tuy
Nixon đã kiên quyết tìm đến một nền "hoà bình
trong danh dự" để duy trì địa vị của Mỹ trên thế
giới, nhưng Mỹ đã bước ra khỏi cuộc chiến tranh với
hình ảnh vấy bẩn trong con mắt của nhân dân thế giới
và chính người dân Mỹ vốn đã chán ghét việc dính líu
vào chiến tranh. Đối với Nixon, cái giá cũng quá
cao. Tháng 1-1973, ông ta đã kiệt quệ và bị cô lập, còn
chính quyền của ông ta chỉ còn là một "nhúm những
kẻ mệt mỏi, mất tinh thần, đôi khi còn mang tính chất
nhỏ nhen tầm thường, đấu đá, đề phòng và ghen tị
lẫn nhau" (1).
Hơn bất kỳ vấn đề nào khác,
chiến tranh Việt Nam đã làm cho nhiệm kỳ tổng thống
của Nixon kết thúc sớm. Những biện pháp cực đoan mà
ông ta thực hiện để bảo vệ chính sách Việt Nam của
mình chống các đối thủ thực sự cũng như tưởng tượng
đã trực tiếp dẫn đến vụ bê bối Watergate và cuối
cùng dẫn đến chỗ ông ta từ chức. Do vậy khi trận đấu
quyết liệt cuối cùng ở Việt Nam diễn ra trong năm 1975,
vị kiến trúc sư của nền hoà bình trong danh dự không
còn trong Nhà Trắng và nước Mỹ không còn tinh thần để
bảo vệ sự thỏa thuận mà ông ta đã xây dựng với cái
giá phải trả đắt đến như
vậy.
----------------------------------------
(1) Colson,
Hồi sinh, tr.80.
-----------------------------------------
Chương VIII
THẤT
BẠI CHIẾN TRANH Ở VIỆT NAM VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ
Những thỏa thuận "hoà
bình" tháng 1-1973 chỉ tạo dựng một khuôn khổ để
tiếp tục cuộc chiến tranh mà không có Mỹ trực tiếp
tham gia. Bắc Việt Nam vẫn tìm cách thống nhất đất
nước theo điều kiện của họ; Việt Nam Cộng hoà thì
gắng sức để tồn tại như một quốc gia độc lập và
một số quan chức Mỹ, kể cả tổng thống Nixon, tiếp
tục ủng hộ cho tham vọng của họ. Do vậy lệnh ngừng
bắn chỉ có hiệu lực trên giấy tờ. Nhưng giai đoạn
cuối cùng này của cuộc chiến tranh rất ngắn
ngủi.
Chính quyền Sài Gòn phụ thuộc Mỹ từ khi
mới ra đời, nên khi phải tự hoạt động nó đã gặp
rất nhiều khó khăn.
Hơn nữa do tác động của vụ
bê bối Watergate và tâm trạng mệt mỏi vì chiến tranh
của người Mỹ, Nixon không thể giữ những cam kết đã
hứa với Thiệu và rồi ông ta đã buộc phải từ chức
vào tháng 8-1974. Quốc hội Mỹ đã quyết định cắt giảm
hẳn viện trợ cho Nam Việt Nam, làm xói mòn thêm ý
muốn kháng cự vốn đã ngả nghiêng của chính quyền Sài
Gòn. Khi Bắc Việt Nam mở đợt tấn công lớn vào mùa
xuân năm 1975, chính quyền Sài Gòn đã sụp đổ nhanh
chóng đến kinh ngạc.
Cuộc chiến tranh 30 năm kết
thúc một cách đầy kịch tính, đẩy nước Mỹ vào tình
trạng thất vọng và hoang mang.
"Cuộc chiến
thời hậu chiến" bắt đầu ngay khi "nền hoà
bình" vừa được công bố. Mỹ gặp khó khăn khi dàn
xếp với Bắc Việt Nam và Việt cộng việc trao trả 587
tù binh chiến tranh và có lúc đã đe dọa trì hoãn việc
rút quân vì thiếu sự hợp tác. Vào cuối tháng 3, tù
binh Mỹ đã được trả tự do trở về quê hương trong
sự đón chào như thể chỉ có họ mới là những người
"anh hùng" của cuộc chiến. Toàn bộ quân Mỹ đã
được rút về nước.
Nhưng đó chỉ là những
thành tích xác thực của những tập thể được giao
nhiệm vụ thực hiện hiệp ước hoà bình.
Ngay từ
đầu những nỗ lực thực hiện ngừng bắn đã thất
bại. Cả hai phía Việt Nam tham chiến đều không từ bỏ
mục tiêu của họ và chỉ nhìn nhận hiệp định trong
phạm vi phù hợp với lợi ích của mình(1).
Thiệu
lập tức tấn công. Trước đó, quân giải phóng đã mở
nhiều trận đánh giành đất, nên Thiệu muốn chiếm lại
càng nhiều vùng đất bị mất càng tốt. Tuy đã kiểm
soát khoảng 75% lãnh thổ và 85% dân số vào thời điểm
ký ...
---------------------------------------
(1) Waller
Scott Dillard, "60 ngày hoà bình: việc thực hiện Hiệp
định hoà bình Paris, Việt Nam năm 1973", Washington,
D.C, năm 1982.
----------------------------------------
... kết hiệp định, nhưng Thiệu
vẫn muốn củng cố thêm vị thế của mình trong lúc vẫn
còn được sự ủng hộ vững chắc của Mỹ. Thiệu định
cư dân tị nạn và xây dựng đồn bốt ở vùng tranh chấp
để chiếm thêm nhiều đất. Các đơn vị Việt Nam Cộng
hoà và máy bay của Nam Việt Nam tấn công vào các căn cứ
và đường tiếp tế của Bắc Việt Nam cũng như vào các
làng do Chính phủ Cách mạng lâm thời kiểm soát. Thế
nhưng quân đội Việt Nam Cộng hoà đã chịu tổn thất
hơn 6.000 quân trong 3 tháng "hoà bình" đầu tiên,
đó là một trong những thiệt hại lớn nhất họ phải
gánh chịu trong suốt thời gian diễn ra cuộc chiến(1).
Bắc
Việt Nam thận trọng hơn và cũng có chiến lược đối
phó. Do tổn thất và kiệt quệ sau chiến dịch năm 1972
cùng với sự thiếu thốn lương thực, binh lực và khí
tài quân sự, nên họ rất cần thời gian để hồi phục.
Bắc Việt Nam cũng thiết tha muốn Mỹ rút hết quân và
quả là có lợi nếu tránh được những hành động trắng
trợn có thể thúc đẩy Mỹ can thiệp một lần nữa vào
cuộc xung đột.
Trong năm đầu tiên sau đình chiến,
chính phủ Cách mạng lâm thời chủ yếu tìm cách củng
cố lãnh thổ mà họ kiểm soát và phá vị thế của
Thiệu bằng cách vận
động
---------------------------------------
(1) Arnold
R.Isaacs, Chẳng còn danh dự: Sự thất bại ở Việt Nam và
Campuchia, New York, năm 1984; Maynard Parker, Việt Nam: Cuộc
chiến tranh không điểm dừng, Tạp chí Các vấn đề đối
ngoại, số 53, tháng 1-1975, tr.365-366; Gareth Porter, Một nền
hoà bình bị khước từ: Mỹ, Việt Nam và Hiệp định
Paris, NXB Bloomington, năm 1975,
tr.174-184,188-196.
----------------------------------------
chính
trị. Các lực lượng quân sự được lệnh chỉ đánh
các đơn vị Việt Nam Cộng hoà khi có ưu thế rõ ràng.
Trong khi đó, Bắc Việt Nam ngầm đưa bộ đội và trang
bị vào miền Nam, xây dựng một hệ thống giao thông hiện
đại nối liền các khu tập hợp lực lượng tác chiến
với các vùng chiến lược ở Nam Việt Nam và thậm chí
còn xây dựng một đường dẫn dầu để đảm bảo có
đủ xăng dầu cho các lực lượng trên chiến trường.
Mặc
dù Hiệp định Paris quy định tương lai của Nam Việt Nam
sẽ do người Việt Nam giải quyết, nhưng Mỹ vẫn kiên
trì ủng hộ Thiệu. Do quá thất vọng vì những tháng đàm
phán nặng nề và sốt ruột muốn chuyển sang những công
việc khác, Kissinger dường như chỉ tìm kiếm một "cự
ly khuôn khổ" từ lúc ký kết Hiệp định cho đến
khi giải quyết xong cuộc chiến tranh Việt Nam. Mặt khác,
vào năm 1973, Nixon không còn muốn làm vị tổng thống Mỹ
đầu tiên thua trong một cuộc chiến tranh như năm 1969.
Mặc dù Hiệp định tháng 1 tạo dựng cho chính phủ Cách
mạng lâm thời một vị thế chính trị ở miền Nam,
nhưng tổng thống Nixon đã tuyên bố: Mỹ "sẽ tiếp
tục công nhận chính phủ Việt Nam Cộng hoà là chính phủ
hợp pháp duy nhất của Nam Việt Nam"(1).
Nhận
thức đầy đủ rằng Hiệp định rất dễ đổ vỡ,
Nixon và Kissinger dùng mọi phương tiện có trong tay để
củng cố chính quyền Thiệu. Nhằm tranh thủ sự nhất
trí của Sài Gòn, Nixon đã bí mật hứa hẹn tiếp tục
"viện trợ quân
------------------------------------
(1)
Porter, "Một nền hoà bình bị khước từ,
tr.186.
------------------------------------
sự và kinh
tế đầy đủ" và "phản ứng với toàn bộ sức
mạnh nếu Bắc Việt Nam vi phạm Hiệp định"(1).
Trong cuộc gặp gỡ Thiệu tại San Clemente vào tháng 3,
Nixon khẳng định cam kết của mình và cam đoan với nhà
lãnh đạo Nam Việt Nam này rằng: "ông có thể trông
cậy vào chúng tôi"(2). Trong suốt những tháng còn lại
của năm 1973, chính quyền Mỹ dùng nhiều thủ đoạn để
tiếp tục viện trợ quân sự ở mức độ cao mà không
lộ liễu vi phạm các điều khoản của Hiệp định
Paris. Thay vì triệt thoái các căn cứ của mình, Mỹ đã
trao lại cho Nam Việt Nam trước khi Hiệp định có hiệu
lực. Trang thiết bị vũ khí viện trợ được dán nhãn
"phi quân sự" và "được coi là đủ điều
kiện" để chuyển giao. Đoàn cố vấn quân sự được
thay thế bằng tổ chức "dân sự" 9.000 người,
trong đó rất nhiều người được vội vã cho giải ngũ
và đưa vào phục vụ chính quyền Việt Nam(3).
Chính
quyền Mỹ mưu đồ tận dụng vai trò của mình để ngăn
cản Bắc Việt Nam tạo dựng một thế cân bằng mong manh
ở miền Nam. Mỹ đồng ý viện trợ cho Hà Nội 4,75 tỷ
USD, một phần trong cả gói Hiệp định Paris, để tái
thiết. Mùa xuân năm 1973, Nixon nhiều lần đã dọa giữ
lại số tiền đó nếu Bắc Việt Nam không thực hiện
triệt để Hiệp định và cuối cùng ông ta đình chỉ
đàm
------------------------------------------
(1) Nixon,
RN, tr.749-750; Thời báo New York ngày 1-5-1975.
(2) Stephen
T.Hosmer, Sự thất bại của Nam Việt Nam, NXB Santa Monica,
Calif, năm 1978, tr.11.
(3) Tad Szulc, Ảo mộng hoà bình:
Chính sách ngoại giao trong thời kỳ Nixon, New York, năm
1978, tr.672-676.
----------------------------------------
phán
về viện trợ sau chiến tranh để phản đối Bắc Việt
Nam tiếp tục thâm nhập vào miền Nam và tăng cường
chiến sự ở Campuchia. Tổng thống và Kissinger còn tìm
cách duy trì hiệu lực về mối đe dọa can thiệp của
Mỹ.
Kissinger nhận xét, "cách duy nhất để
chúng ta tiếp tục kiểm soát Nam Việt Nam là đừng nói
chúng ta sẽ rút ra mãi mãi. Chúng ta không muốn làm tiêu
tan danh tiếng về sự quyết liệt của tổng thống trước
họ"(1). Vào cuối tháng 3, người lính Mỹ cuối cùng
đã rút khỏi Việt Nam, nhưng Mỹ vẫn đuy trì một lực
lượng hải quân và không quân ở Vịnh Bắc Bộ, ở
Thái Lan và Guam. Cuộc ném bom Campuchia vẫn tiếp tục, một
phần là để hỗ trợ cho Lon Nol chống lại một cuộc
tấn công đầy quyết tâm của Khơme đỏ và một phần
cũng là để duy trì danh tiếng "quyết liệt" của
Nixon. Nhiều lần, tổng thống đã đưa ra những lời cảnh
cáo không che đậy là ông ta có thể nối lại cuộc ném
bom Bắc Việt Nam, và vào tháng 4 ông ta tiếp tục cho các
chuyến bay trinh sát ở bắc vĩ tuyến 17.
Nhưng Hà
Nội không hề lay chuyển trước những lời cảnh cáo của
Mỹ. Vào đầu mùa hè, khả năng đe dọa của Nixon đã
giảm hẳn do Quốc hội Mỹ có thái độ nổi loạn.
Sự
thách thức của Quốc hội năm 1973 phản ánh một tâm
trạng chán ghét chiến tranh và tư tưởng phổ biến trong
dân Mỹ là khi đã an toàn rút được quân Mỹ về thì
nước Mỹ phải hoàn toàn rút khỏi cuộc xung đột. Chứng
cứ ngày một tăng về việc Nhà Trắng dính líu vào
vụ
---------------------------------------
(1) William
Safire, Trước lúc thất bại, New York, năm 1975,
tr.673.
---------------------------------------
Watergate
làm cho Nixon ngày càng rơi vào thế yếu.
Quốc hội
không nhiệt tình với việc viện trợ cho Bắc Việt Nam,
phái "bồ câu" thì nói rằng làm như vậy không
bảo đảm hoà bình, còn phái "diều hâư" thì lên
án khoản viện trợ đó là "tiền bồi thường chiến
tranh". Đảng viên Đảng Cộng hoà cùng với đảng
viên Đảng dân chủ lên án cuộc ném bom Campuchia là bất
hợp pháp và vào ngày 10-5, Hạ viện đã bỏ phiếu cắt
khoản ngân sách dành cho những trận oanh tạc tiếp
theo.
Nhận thấy rằng Mỹ đang ngày càng không thể
kiểm soát nổi các sự kiện ở Đông Dương, Kissinger đã
làm một việc vô ích là đi Paris vào tháng 5 để thuyết
phục Lê Đức Thọ thực hiện ngừng bắn. Bắc Việt Nam
phản đối việc Mỹ buộc cho họ tội vi phạm Hiệp
định, rồi lên án Nam Việt Nam và Mỹ không chịu giữ
cam kết. Điều làm cho Kissinger càng thêm bực mình là họ
đã gọi những lời cáo buộc của ông ta là "ý đồ
lừa dối dư luận công chúng, như các ngài đã làm với
vụ Watergate". Các nhà ngoại giao chỉ có thể thỏa
thuận được một bản thông cáo vô thưởng vô phạt
khẳng định lại bản Hiệp định tháng 1.
Khi trở
về Washington, Kissinger lúc này đã quá mệt mỏi nên thông
báo cho báo chí là ông ta sẽ giảm dính líu vào các vấn
đề Đông Dương "để giữ được sự bình ổn trong
tình cảm"(1).
Nhận xét của Kissinger mang tính
tiên tri hơn là ông ta tưởng, vì vào tháng 6, Quốc hội
đã tước bỏ của
chính
---------------------------------------
(1) Marvin và
Bemard Kalb, Kissinger, Boston, năm 1974,
tr.432.
----------------------------------------
... quyền chút ảnh hưởng ít ỏi
cuối cùng mà họ còn giữ được.
Vào lúc này, các
cuộc điều tra về vụ Watergate đã làm lộ ra nhiều hiện
tượng lạm dụng quyền lực tổng thống. Các đảng viên
Đảng Dân chủ vốn từ lâu đã ôm hận nay càng được
khích lệ đả kích tổng thống, còn đảng viên Đảng
Cộng hoà thì ngày càng không muốn hậu thuẫn cho ông
ta.
Nixon và Kissinger quyết liệt bảo vệ hành động
ném bom Campuchia và cho đó là hành động cần thiết để
giữ vững quyền lực của Lon Nol và duy trì việc đình
chiến. Nhưng đại đa số nghị sĩ Quốc hội đồng ý
với thượng nghị sĩ George Aiken là hoạt động ném bom
đó đã "nhận được ý kiến cố vấn tồi và không
có gì đảm bảo", đồng thời nhiều người chấp
nhận ý kiến khẳng định thẳng thắn của hạ nghị sĩ
Norris Cotton: "Nếu là tôi thì tôi đã rút khỏi cái
địa ngục đó"(1). Vào cuối tháng 6, Quốc hội đã
phê duyệt một đạo luật bổ sung đòi phải ngừng ngay
lập tức mọi hoạt động quân sự ở trong và trên toàn
Đông Dương. Hạ viện bảo lưu ý kiến phủ quyết đầy
tức giận của Nixon, nhưng cuối cùng tổng thống bị
buộc phải chấp nhận một thỏa hiệp kéo dài thời hạn
đến 15-8. Lần đầu tiên Quốc hội đã có hành động
quyết định để cắt giảm sự dính líu của Mỹ vào
cuộc chiến tranh. Kissinger đã nhận xét với lời lẽ
giảm nhẹ và đầy thất vọng: "Thật vớ vẩn nếu
như nói rằng quyền hạn của ngành hành pháp không bị
làm cho suy yếu
đi"(2).
------------------------------------------------------
(1)
George Aiken, Nhật ký Thượng nghị viện, Brattleboro, Vt,
năm 1976, tr.198, Kalb and Kalb, Kissinger, tr.432.
(2) Kalb and
Kalb. Kissinger,
tr.434.
-------------------------------------------------------
vào
cuối năm 1973, Nixon thực sự không còn một chút quyền
lực nào. Vụ Watergate đã làm cho tỷ lệ dân ủng hộ
ông ta giảm sút đến mức thấp nhất chưa từng có và
đẩy vị tổng thống này vào thế phải đấu tranh đầy
tuyệt vọng ở hậu trường để cứu vãn sinh mạng chính
trị của mình. Tháng 11, Quốc hội bác bỏ một quyền
phủ quyết nữa - đó là quyền tiến hành chiến tranh,
một phản ứng trực tiếp với việc thực hiện quyền
lực của tổng thống ở Việt Nam. Đạo luật này đòi
hỏi tổng thống phải thông báo cho Quốc hội trong vròng
48 giờ trước khi đưa quân Mỹ ra nước ngoài và buộc
tổng thống phải rút quân trong 60 ngày nếu không được
Quốc hội tán thành. Một số nghị sĩ phản bác lại
rằng đạo luật đó cho tổng thống được quyền trực
tiếp điều quân Mỹ đi tham chiến hơn trước. Nhưng
trong tình huống diễn ra tranh luận lúc đó kết hợp với
vụ Watergate và cuộc bỏ phiếu chấm dứt mọi hoạt động
ở Campuchia khiến cho chắc chắn Mỹ sẽ chấm dứt dính
líu trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam.
Lúc này
Hiệp định Paris không khác gì mớ giấy lộn.
Nhiều
cuộc bàn cãi về giải pháp chính trị đã nổ ra vào đầu
năm 1973 và tiếp tục lẻ tẻ trong suốt năm, nhưng vấn
đề cơ bản - tức là tương lai của Nam Việt Nam - là
điều không thể thương lượng được. Vào đầu năm
1974, các cuộc đàm phán đã tan vỡ. Vẫn tin vào sự giúp
đỡ của Mỹ, bất chấp vụ Watergate, Thiệu chính thức
tuyên bố bắt đầu "cuộc chiến tranh Đông Dưong lần
thứ ba". Vào cuối 1973, ông ta đã tăng cường các
trận đánh trên không và trên bộ vào các căn cứ
đối phương, đồng thời mở hàng loạt chiến dịch
chiếm lãnh thổ trên vùng đất mà Chính phủ Cách mạng
lâm thời chiếm giữ dọc bờ biển phía Đông, trong vùng
tam giác sắt và ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lần
này Bắc Việt Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời phản
công và trong vài tháng sau họ liên tục giành thắng lợi,
đánh tơi bời các đơn vị quân Việt Nam Cộng hoà ở
vùng tam giác sắt, lấy lại được nhiều vùng đã mất
và chiếm thêm nhiều vùng trước đây do Nam Việt Nam kiểm
soát.
Đến mùa thu năm 1974, cán cân quân sự đã
nghiêng về phía có lợi cho Bắc Việt Nam. Hơn nửa triệu
quân Việt Nam Cộng hoà đã bị trói chân vào các vị trí
phòng thủ tĩnh tại và trên khắp các tỉnh phía Bắc của
Nam Việt Nam. Lúc này, Bắc Việt Nam và Chính phủ Cách
mạng lâm thời đã động viên lực lượng xây dựng được
những đội quân lớn ở miền Nam. Họ đã tích trữ được
nhiều hàng hoá quân nhu dự trữ và xây dựng được một
hệ thống hậu cần rất tinh vi giúp họ có thể di chuyển
quân chính quy cùng xe tăng và pháo tới bất kỳ mặt trận
nào trong vài giờ. Ít nhất ở vùng châu thổ sông Cửu
Long họ đã lấy lại được phần lớn vị trí bị mất
vào năm trước(1).
cùng lúc đó, phần nào do Mỹ
rút quân, những vấn đề kinh tế và chính trị kinh niên
của Nam Việt Nam đã trầm trọng lên nhiều: Mỗi năm mất
400 triệu USD tiền quân Mỹ chi tiêu ở Nam Việt Nam; số
viện trợ của Mỹ
----------------------------------------
(1)
Parker, Việt Nam,
tr.366-367.
----------------------------------------
giảm
từ 2,3 tỷ USD năm 1973 xuống còn 1 tỷ USD năm 1974; sự
gia tăng lạm phát hàng năm ở đây lên tới 90%; nạn thất
nghiệp trầm trọng; sự sa sút tinh thần trầm trọng
trong quân đội, trong dân đô thị và nạn tham nhũng lên
cao hơn bao giờ hết. Nhữnơ kẻ hôi của đã lột cảng
Cam Ranh chỉ còn bộ xương trần trụi và các phi công đòi
ăn hối lộ rồi mới bay các phi vụ yểm trợ cho lực
lượng mặt đất. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1974 làm
cho những khó khăn chính trị của Thiệu càng chồng chất.
Phật tử hoạt động tích cực hơn bất kỳ lúc nào kể
từ năm 1966, với mục tiêu đòi hoà bình và hoà giải
với cộng sản. Giáo dân, chỗ dựa quan trọng nhất của
chính quyền đã tổ chức một chiến địch chống tham
nhũng mà mục tiêu quan trọng của chiến dịch đó lại
chính là Thiệu. Tư tưởng chủ bại lan đến cả những
kẻ lừng chừng trung dung mà trước đây không ủng hộ,
nhưng cũng không tích cực chống chính phủ.
Việc
Mỹ từ bỏ Nam Việt Nam đã thể hiện rõ và cuối năm
1974. Nixon bị buộc từ chức vào tháng 8, như vậy người
ta đã đánh bật ra khỏi chiếc ghế quyền lực một con
người từng hứa hẹn tiếp tục ủng hộ Thiệu. Trong
suốt năm đó, Kissinger cầu xin một Quốc hội Mỹ ngang
bướng hãy tăng viện trợ quân sự của Mỹ lên 1,5 tỷ
USD.
Ông ta nhấn mạnh rằng Mỹ có nghĩa vụ đạo
đức với Nam Việt Nam và cảnh báo nếu không giữ nghĩa
vụ đó thì sẽ "phá hoaị lợi ích của ta ở bên
ngoài Đông Dương".
Những lập luận mà gần
1/4 thế kỷ qua đã được chấp nhận hầu như không có
ý kiến phản bác thì bây giờ trở nên vô nghĩa lý.
Nạn lạm phát ở Mỹ đã làm bùng lên những yêu sách
đòi giảm chi tiêu và nhiều nghị sĩ Quốc hội đồng ý
với thượng nghị sĩ William Proxmire là việc tiếp tục
viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam không cần thiết bằng
"bất cứ một mục nào" trong ngân sách nước Mỹ.
Các nhà phê bình vạch rõ, chính quyền Thiệu lúc này
không bị mối đe dọa nào cận kề và cảnh báo là phần
lớn số tiền viện trợ sẽ chui vào túi các quan chức
tham nhũng Sài Gòn. Việc Mỹ tiếp tục viện trợ quân sự
quy mô lớn sẽ khuyến khích Thiệu kéo dài chiến tranh
nhưng việc giảm viện trợ có thể giúp ông ta thấy cần
phải tìm kiếm giải pháp chính trị. Thượng nghị sĩ
Edward Kennedy nói: "Đã đến lúc chấm dứt sự viện
trợ vô tận của Mỹ cho một cuộc chiến tranh không có
kết thúc". Vào tháng 9-1974, Quốc hội đã phê chuẩn
chương trình viện trợ 700 triệu USD, trong đó một nửa
dành cho chi phí vận chuyển(1).
Việc cắt viện trợ
năm 1974 đã có tác động lớn ở Nam Việt Nam. Không có
sự hỗ trợ lớn về tài chính và trang bị từ Mỹ, quân
đội Việt Nam Cộng hoà không thể đánh theo cách Mỹ đã
huấn luyện họ. Các cuộc oanh kích đã phải giảm đi
50% do thiếu nhiên liệu và phụ tùng. Đạn dược và các
thức tiếp tế khác phải tuân theo chế độ cung cấp
chặt chẽ. Những dấu hiệu không thể che đậy về sự
giảm sút trong mức độ chi viện của Mỹ đã có tác
động đến tinh thần của một đội quân đang tan tác
dưới những
------------------------------------------------
(1)
Báo cáo của Quốc hội, 93rd Cong, phiên họp thứ 2,
tr.29176-29180.
-------------------------------------------------
... "cú đấm" của Bắc
Việt Nam. Số quân Việt Nam Cộng hoà đào ngũ tăng lên
mức cao chưa từng có với 240.000 người riêng năm 1974.
Việc giảm viện trợ làm tăng khó khăn kinh tế và chính
trị của Thiệu, khơi dậy trong nhiều người Việt Nam
tâm lý hoà giải và rút lui, một tâm lý ngày càng tăng
và đôi khi "lên đến mức tuyệt vọng"(1).
Đầu
năm 1975, Hà Nội kết luận rằng thời cơ đã ở trong
tầm tay. Tháng 12-1974, các đơn vị chủ lực của Bắc
Việt Nam và các lực lượng địa phương của Chính phủ
Cách mạng lâm thời đánh Phước Long, ở đông-bắc Sài
Gòn, và trong 3 tuần đã tiêu diệt và bắt sống 3.000
quân Việt Nam Cộng hoà, thu một số lượng lớn trang
thiết bị vũ khí và giải phóng toàn bộ tỉnh nói trên.
Thắng lợi dễ dàng này làm nổi bật thế yếu của quân
đội Việt Nam Cộng hoà trong năm trước và bộc lộ rõ
lúc này Thiệu bị buộc phải tiến hành một cuộc chiến
tranh "kiểu con nhà nghèo", điều này về sau đã
được Đại tướng Văn Tiến Dũng đề cập đến. Qua
tin tức tình báo, Hà Nội biết rằng chính quyền Sài Gòn
không dự kiến một cuộc tấn công lớn năm 1975, nên vào
tháng 1, Bắc Việt Nam đã thông qua một kế hoạch hai năm
- một loạt các cuộc tấn công quy mô lớn năm 1975 để
tạo đíều kiện cho Tổng tấn công năm 1976. Việc Mỹ
không hề phản ứng khi Phước Long thất thủ càng khẳng
định những điều mà từ lâu các nhà chiến lược Bắc
Việt Nam đã nghi ngờ, tức là sau
khi
----------------------------------------------
(1)
Guenter Lewy, Mỹ tại Việt Nam, New York, năm 1978,
tr.208.
-----------------------------------------------
rút
khỏi Việt Nam thì Mỹ sẽ không "nhảy vào nữa".
Sau nhiều ngày tranh luận sôi nổi, các nhà lãnh đạo Bắc
Việt Nam kết luận rằng, dù cho Mỹ có dùng không quân
và hải quân để đối phó thì họ cũng không thể "cứu
được chính quyền Sài Gòn khỏi sự sụp đổ thảm
hại"(1).
Sự sụp đổ này đến thật đột
ngột. Huy động các lực lượng ưu việt hơn để đánh
vào các lực lượng phòng thủ của Việt Nam Cộng hoà
lúc này đang bị kéo căng ra, Quân giải phóng đánh Buôn
Ma Thuột ngày 10-3 và chỉ sau 2 ngày đã chiếm được
tỉnh này. Để kiểm soát được Tây Nguyên trước khi
chấm dứt mùa khô, họ nhanh chóng chuyển quân theo hướng
Bắc đánh vào Plâyku và Kontum. Thiệu lúc này do kinh hoàng
nên đã sai lầm ra lệnh rút quân khỏi Tây Nguyên, nhưng
cũng không vạch ra kế hoạch rút quân và quân giải phóng
đã cắt mọi con đường quan trọng. Cuộc rút lui cuối
cùng đã biến thành một cuộc tháo chạy. Hàng trăm ngàn
dân tị nạn đã bỏ chạy cùng với binh lính làm tắc
nghẽn những con đường thoát. Phần lớn đội quân này
đã bị bắt hoặc bị tiêu diệt và hàng ngàn dân thường
đã chết do hỏa lực của hai bên hoặc do đói ăn trên
các đoàn xe mà giới báo chí gọi là "đoàn xe nước
mắt". Sau một tuần, Plâycu và Kontum đã thất thủ.
Cuộc rút bỏ Tây Nguyên đầy tai hại khiến Thiệu mất
6 tỉnh và ít nhất 2 sư đoàn bộ binh cũng như mất cả
lòng tin của cả quân đội lẫn nhân dân. Và
không
----------------------------------------
(1) Văn
Tiến Dũng, Chiến thắng mùa xuân vĩ đại của chúng ta,
New York, năm 1977,
tr.17,19-20.
-----------------------------------------
chỉ
vậy, nó còn mở đường cho những tai hoạ còn lớn hơn
ở các tỉnh ven biển của Nam Việt Nam. Lần đầu tiên
Hà Nội cảm thấy là có thể giành thắng lợi hoàn toàn
vào năm 1975 và ngay lập tức thực hiện các kế hoạch
khẩn cấp nhằm giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt
Nam.
Khi quân Bắc Việt Nam tiến đến Huế và Đà
Nẵng, cùng với hàng vạn dân, lực lượng phòng thủ đã
bỏ chạy về Sài Gòn và lặp lại thảm bại ở Tây
Nguyên nhưng với mức độ còn bi đát hơn, và lớn hơn.
Lính tráng thì cướp phá và những thị trấn khát tiền
đã bắt dân tị nạn phải trả 2 USD một cốc nước.
Mười ngày sau khi trận đánh bắt đầu, cũng là lúc gần
10 năm sau ngày hải quân lục chiến Mỹ đổ bộ xuống
bãi biển Đà Nẵng, hai thành phố ven biển đã được
giải phóng. Nam Việt Nam bị chia cắt làm đôi, khoảng
một nửa số quân bị tan rã mà chẳng đánh chác gì cả.
Nha Trang và vịnh Cam Ranh cũng bị bỏ lại trước khi quân
đối phương đe doạ. Toàn bộ lực lượng quân giải
phóng đã tập trung vào chiến dịch Hồ Chí Minh giải
phóng Sài Gòn.
Mỹ kinh sợ trước sự sụp đổ của
Nam Việt Nam nhưng đành cam chịu kết quả đó. Tình báo
Mỹ đã dự đoán đúng rằng phải đến năm 1976 Bắc
Việt Nam mới tính đến một trận đánh lớn, nhưng họ
một lần nữa lại đánh giá quá cao khả năng chống cự
của Việt Nam Cộng hoà và Washington thấy choáng váng khi
Tây Nguyên đột nhiên thất thủ. Có thể thấy rõ Mỹ
không muốn tiếp tục dính líu, nên vào ngày Buôn Ma Thuột
thất thủ, Quốc hội Mỹ đã bác bỏ đề nghị của
tổng thống Ford xin thêm 300 triệu USD viện trợ quân sự
cho Nam Việt Nam. Lá phiếu của các nhà lập pháp đã phản
ánh ý nguyện của nhân dân Mỹ. Một số kẻ ngoan cố đã
đưa ra lời thỉnh cầu lần cuối cùng đề nghị tôn
trọng sự cam kết của đất nước và bảo vệ sự
nghiệp tự do và một số người Mỹ khác còn đưa ra
bóng ma của cuộc tắm máu trong đó hàng trăm ngàn người
Nam Việt Nam sẽ bị cộng sản tàn sát sau chiến thắng.
Song những lời thỉnh cầu này dường như rơi vào tai kẻ
điếc. Đã mệt mỏi vì sự dính líu dường như vô tận
vào Việt Nam và phải chịu thiếu thốn vì suy thoái kinh
tế trong nước, nhân dân Mỹ không còn thái độ rộng
lượng nữa. Họ chất vấn: Tại sao lại ném tiền vào
một việc làm vô bổ khi chính bản thân họ "đang
trong tình cảnh vô cùng khó khăn về tài chính". Họ
thấy không có lý do gì để tiếp tục hy sinh cho một
chính quyền chẳng những tham nhũng mà còn phung phí và
bất hiệu lực". Một người dân quá ngán ngẩm đã
kêu lên: "Lạy Chúa, hết thảy chúng ta đều mệt mỏi
và ớn cuộc chiến tranh này đến tận cổ. Đã đến lúc
người Nam Việt Nam phải được tạo dựng để có thể
tự đứng vững trên đôi chân của mình". Một công
dân bang Oregon viết: "55.000 người chết và 100 tỷ
USD ném đi, nhưng để làm gì cơ chứ?" (1).
Huế,
Đà Nẵng thất thủ và mối đe dọa cận kề đối với
Sài Gòn cũng chẳng làm Mỹ thay đổi quan diểm. Dường
như
----------------------------------------------
(1) Bà
J.S. Mozzanini gửi James J. Kilpatrick ngày 6-2-1975 và rất
nhiều lá thư khác trong Văn kiện James J. Kilpatrick, Thư
viện đại học Virginia, Charlottesville, Va, hộp
5.
---------------------------------------------
tổng
thống Ford không nghĩ đến chuyện dùng hải quân và không
quân Mỹ. Để củng cố tinh thần cho chính quyền Nam Việt
Nam và giải thoát trách nhiệm cho nước Mỹ (và cho cả
chính quyền), vào đầu tháng 4 ông ta đề nghị xin Quốc
hội chi 722 triệu USD viện trợ quân sự khẩn cấp và có
nhắc lại lập luận ngày xưa rằng nếu không giúp được
Nam Việt Nam trong giai đoạn thử thách thì điều đó sẽ
làm suy giảm lòng tin vạo cam kết của Mỹ trên thế
giới.
Nhưng các nghị sĩ trả lời gay gắt rằng
quân đội Việt Nam Cộng hoà đã vứt bỏ lại ở các
tỉnh phía Bắc của Nam Việt Nam một lượng vũ khí trang
bị nhiều hơn mức có thể mua được bằng khoản viện
trợ thêm này. Họ còn nói rằng bao nhiêu tiền cũng không
thể đủ để cứu một đội quân không còn muốn chiến
đấu. Đã đến lúc Mỹ phải chấm dứt dính líu vào
"cuộc chiến tranh ghê sợ này"(1). Bóng ma
Watergate và vịnh Bắc Bộ vẫn treo lơ lửng trong cuộc
tranh luận này và việc để lộ ra những hứa hẹn bí
mật của Nixon với Thiệu đã làm cho nhiều người giận
dữ lên tiếng.
Cuối cùng, Quốc hội đã thông qua
300 triệu USD dùng vào việc di tản người Mỹ và vào
những mục đích "nhân đạo", đồng thời còn
chấp nhận đề nghị của Ford cho dùng quân Mỹ để di
tản công đân Mỹ khỏi Nam Việt Nam. Nhưng Quốc hội
không đi xa hơn nữa. Ngày 17-4, Kissinger nói lời bình luận
cuối cùng: "Cuộc tranh luận về chiến lranh Việt Nam
đã kết thúc"(2).
Do biết chắc Mỹ sẽ không
can thiệp do đó có lẽ niềm
...
-------------------------------------------
(1) Báo cáo
của Quốc hội, số 94, phiên họp thứ nhất,
tr.10101-10108.
(2) Thời báo New York ngày
18-4-1975.
-------------------------------------------
... hy vọng mỏng manh về khả
năng tồn tại của Nam Việt Nam cũng tan biến, nên quân
giải phóng tiến từ Đà Nẵng đến ngoại vi Sài Gòn
trong chưa đầy 1 tháng và chỉ vấp phải sức kháng cự
quyết liệt ở Xuân Lộc, là nơi một bộ phận nhỏ lực
lượng Việt Nam Cộng hoà tuyệt vọng chống lại một số
lực lượng áp đảo. Với sự kiện thị trấn Xuân Lộc
thất thủ ngày 21-4, cùng với việc Quốc hội Mỹ bác bỏ
đề nghị của Ford xin viện trợ, nên cuối - cùng Thiệu
dù ngoan cố cũng phải miễn cưỡng từ chức và đổ cho
Mỹ trách nhiệm gây ra cuộc tháo chạy này.
Thay vào
chỗ Thiệu là Trần Văn Hương già cả và bất lực - một
nhân vật đã cố thương lượng một giải pháp trên cơ
sở Hiệp định năm 1973, nhưng không thành. Sau Hương là
Dương Văn Minh - một kiến trúc sư của cuộc đảo chính
năm 1963, nhưng cũng là người phải nhận nhiệm vụ nặng
nề là đầu hàng vô điều kiện. Ngày 30-4-1975, quân giải
phóng đã treo cờ chiến thắng trên thành phố mới được
mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một vài ngày trước đó,
tổng thống Ford đã chính thức tuyên bố một điều đã
trở nên rõ ràng: "Cuộc chiến tranh Việt Nam đã chấm
dứt đối với Mỹ".
Sự rút lui của Mỹ đã
cho thấy mức độ ảo tưởng, thất vọng và bi thảm thể
hiện rõ trong trải nghiệm của Mỹ qua cuộc chiến tranh
Việt Nam. Các quan chức Mỹ vẫn tin tưởng rằng Nam Việt
Nam sẽ tổ chức phòng thủ có hiệu quả cho đến lúc
Bắc Việt Nam đánh vào tới cửa ngõ Sài Gòn. Đại sứ
Graham Martin ngang bướng ủng hộ Thiệu một thời gian rất
lâu sau khi đã biết là ngay cả tổng thống Mỹ cũng
không được sự ủng hộ ở trong nước nữa; Martin đã
gạt bỏ một số ý đồ đảo chính và thuyết phục
Thiệu đừng từ chức nhưng có lẽ từ chức là cơ hội
duy nhất để tránh đầu hàng vô điều kiện. Do sợ tâm
trạng kinh hoàng sẽ lan khắp Sài Gòn, Marktin đã trì hoãn
thực hiện kế hoạch di tản cho đến phút chót. Mỹ tìm
cách đưa người của mình cùng với 150.000 người Việt
Nam về nước. Nhưng hoạt động này rất rối loạn và
gây nhiều nỗi khổ đau cho con người. Nạn tham nhũng
hoành hành, việc thoát hiểm thường phải trả giá cao
nhất và đại sứ quán Mỹ đã trả những khoản lệ phí
cắt cổ để lấy thị thực xuất cảnh cho những người
tìm cách trốn chạy. Do thiếu phương tiện nên nhiều
người Việt Nam muốn ra đã mà không thể đi được.
Cảnh tượng hải quân đánh bộ Mỹ dùng báng súng để
cản những người Việt Nam tuyệt vọng gây tắc nghẽn
đường thoát và hình ảnh lính Việt Nam Cộng hoà giận
dữ nổ súng vào đám người Mỹ ra đi cũng là một cột
mốc bi đát của 25 năm Mỹ dính líu vào Việt Nam(2).
Mỹ
cũng gánh chịu trách nhiệm với các nhà lãnh đạo chính
quyền Nam Việt Nam về vụ tháo chạy tháng 4- 1975. Trong
hai năm sau khi ký Hiệp định Paris, Mỹ đã viện trợ cho
Thiệu một số lượng đủ để khuyến khích ông ta có
thái độ thách thức, nhưng số viện trợ đó vẫn chưa
đủ để bảo đảm cho sự tồn tại của Thiệu. Những
lời hứa hẹn hão huyền của Nixon đã khiến ông ta từ
chối
------------------------------------------------
(1)
Alan Dawon, 55 ngày, New York, năm
1977.
-----------------------------------------------
phương
án thương lượng mà người ta cho là rủi ro để tiến
hành một cuộc chiến tranh không thể giành thắng lợi.
Việc Mỹ giảm mức độ dính líu vào chiến tranh và cắt
giảm viện trợ đã làm suy yếu khả năng và ý chí kháng
cự của Việt Nam Cộng hoà cùng việc Mỹ từ chối can
thiệp trong cuộc khủng hoảng cuối cùng đã khiến Việt
Nam Cộng hoà cầm chắc sự sụp đổ. Mặt khác thái độ
không khoan nhượng của Thiệu, những sai lầm chiến thuật
lớn của ông ta và những cố gắng tuyệt vọng nhằm cứu
mình trong lúc chính quyền Sài Gòn đang giãy chết cho thấy
dù Mỹ có làm gì đi nữa thì kết quả cũng khó có thể
khác đi. Chế độ Việt Nam Cộng hoà đã hoàn toàn sụp
đổ.
Chính quyền Việt Nam Cộng hoà sụp đổ chỉ
sau 55 ngày kể từ khi quân giải phóng bắt đầu tấn
công. Điều này cũng chứng minh cho căn bệnh mà chính
quyền này đã bị nhiễm phải ngay từ khi thành lập: sự
manh mún về chính trị; tình trạng thiếu các nhà lãnh
đạo có tầm nhìn xa trông rộng và có năng lực; một
tầng lớp trên mệt mỏi và tham nhũng không có khả năng
điều chỉnh cho thích nghi đã tạo nên một cơ sở quốc
gia yếu kém đến mức nguy hiểm... Trước những thực tế
khắc nghiệt này, nỗ lực nhằm tạo nên một thành trì
chống chủ nghĩa cộng sản ở ngay phía nam vĩ tuyến 17
đã có mầm mống thất bại ngay từ đầu. Mỹ không thể
đem lại những thay đổi cần thiết trong xã hội Nam Việt
Nam mà không làm hại đến cái trật tự mà họ tìm kiếm,
chẳng có hy vọng tạo nên sự ổn định lâu dài -nếu
không có một sự thay đổi cách mạng. Người Mỹ có thể
cung cấp tiền và vũ khí, nhưng họ không thể cung cấp
những tố chất cần thiết cho một sự ổn định chính
trị và cho sự thành công quân sự. Do sợ Việt Nam Cộng
hoà không có khả năng tự cứu mình, Mỹ đã gánh vác
gánh nặng đó để rồi vứt trở lại cho các khách hàng
của mình khi nhân dân Mỹ chán ghét chiến tranh. Nhưng
tính phụ thuộc của những năm trước vẫn dai dẳng kéo
dài sau khi Mỹ chuyển sang "Việt Nam hoá" chiến
tranh. Để đạt tới đích cuối cùng, mặc dù nhiều
chứng cứ cho thấy điều ngược lại, Thiệu và các phụ
tá của ông ta đã tuyệt vọng bám lấy niềm tin là Mỹ
sẽ không bỏ rơi họ (1).
Sau khi Bắc Việt Nam giành
thắng lợi, những quân bài "Đôminô" ở Đông
Dương đã nhanh chóng sụp đổ.
Trong thực tế
Campuchia đã thất thủ trước cả Nam Việt Nam, chấm dứt
một cuộc chiến tranh đặc biệt tàn bạo và bắt đầu
một giai đoạn dã man chưa từng có. Từ năm 1970 đến
năm 1972, Mỹ đã chi hơn 400 triệu USD để chi viện cho
chính phủ và quân đội Lon Nol. Chiến dịch ném bom dữ
dội vẫn tiếp tục cho đến khi Quốc hội Mỹ ra đạo
luật kết thúc nó vào tháng 8 năm 1973.
Trong 6 tháng
đầu năm 1973, số bom ném xuống Campuchia đã vượt
250.000 tấn, nhiều hơn cả số bom đã ném xuống Nhật
trong chiến tranh thế giới thứ 2.
Nhưng chính quyền
và quân đội Lon Noi vẫn không có dấu hiệu khả quan.
Với sự giúp đỡ to lớn của Bắc
Việt
----------------------------------------------
(1)
Hosmer, đã dẫn, Thất bại của Nam Việt Nam,
tr.118-120.
----------------------------------------------
Nam
và Trung Quốc, Khơ me đỏ đã tiến về Phnôm Pênh, tấn
công ở một số vùng. Chính quyền Lon Nol sụp đổ giữa
tháng 4 và Khơme đỏ chiếm thủ đô ngày 17-4. Hàng ngàn
người bỏ mạng trong chiến tranh và trên 2 triệu người
trở thành dân tị nạn. Toàn đất nước Campuchia lần
đầu tiên trong lịch sử đã lâm vào nạn đói. Khơme đỏ
đã áp đặt một chế độ chuyên chế cực quyền hà
khắc nhất và bắt đầu tái định cư bắt buộc toàn bộ
dân cư.
Kết cục ở Lào tuy có gây chấn động
nhưng còn đỡ hơn. Giải pháp năm 1962 cho Lào ngay từ đầu
chỉ là văn bản vô giá trị. Một chính phủ liên hiệp
nhỏ nhoi trên danh nghĩa cố giữ một nền trung lập mong
manh (...).
Tuy ủng hộ một chính phủ trung lập,
nhưng từ năm 1962 đến năm 1972, Mỹ đã tiến hành cuộc
chiến tranh bí mật đánh các vị trí của Bắc Việt Nam
ở Lào. Khi chiến dịch ném bom Bắc Việt Nam kết thúc
vào cuối năm 1968, Lào trở thành mục tiêu chính. Vào năm
1973, Mỹ đã trút xuống đó trên 2 triệu tấn bom khiến
cho nhiều vùng đất trở thành hoang mạc. Đồng thời, Mỹ
còn đỡ đầu cho một đội quân người Mèo do tướng
phỉ Vàng Pao chỉ huy, đội quân này đã tiến hành chiến
tranh du kích theo mùa, đánh vào đường mòn Hồ Chí Minh ở
Lào với cái giá phải trả quá đắt: trên 20.000 người
đã bị chết khi chiến tranh kết thúc. Việc Mỹ rút khỏi
Nam Việt Nam làm cho chính phủ Lào không còn cơ hội tồn
tại nữa. Thỏa thuận tháng 2 - 1973 đã cho ra đời một
chính phủ liên hiệp, trong đó pathét Lào có lợi thế
hơn. Cùng với sự sụp đổ ...
... của LonNol ở Campuchia và
chính quyền Việt Nam Cộng hoà, Pa thét Lào đã lên cầm
quyền (...).
Tác động của thất bại của Mỹ tại
Việt Nam lên giới chính trị Mỹ là ít quan ngại hơn
những gì mà các nhà hoạch định chính sách dự kiến
(...). Sài Gòn thất thủ đã gây tác động sâu sắc. Một
số người Mỹ bày tỏ hy vọng nước này có thể gạt
bỏ một thời kỳ đau khổ ra khỏi quá khứ và tiếp tục
công việc của tương lai. Trong những người từng quen
với việc đón chào hoà bình với những cuộc diễu hành
tung băng giấy thì cuộc chiến tranh vẫn để lại tàn dư
sâu sắc của sự thất vọng, giận dữ và hết ảo
tưởng. Người Mỹ nhìn chung nhất trí rằng, chiến tranh
là một tấn thảm kịch vô nghĩa và một "thời kỳ
đen tối" trong lịch sử dân tộc họ. Một số người
tự an ủi bằng suy nghĩ cho rằng Mỹ lẽ ra không bao giờ
nên dính líu vào Việt Nam. Nhưng đối với những người
khác, nhất là những người đã mất người thân yêu thì
như vậy chưa đủ. Một người dân có con tử trận ở
Việt Nam đặt câu hỏi "bây giờ mọi việc đã trôi
qua và nỗi đau vẫn còn. Con tôi nó đã chết vì cái gì
đây?". Nhiều người Mỹ bộc lộ sự tức giận vì
giới dân sự không cho phép giới quân sự thắng trong
cuộc chiến tranh. Những người khác coi thất bại trong
chiến tranh là sự phản bội các lý tưởng của Mỹ và
là một biểu hiện của sự yếu kém báo điềm xấu cho
tương lai. Một người dân bang Virginia than khóc: "Đó
là một ngày đáng buồn nhất trong cuộc đời tôi khi
thấm sâu nỗi đau chúng ta đã thất bại trong chiến
tranh"(1). Thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược
ở Việt
-------------------------------------------
(1)
Jules Low, Tâm trạng của một quốc gia, Ap Newsfeature, ngày
5-5-1975.
-------------------------------------------
Nam
diễn ra đúng vào lúc nước Mỹ đang chuẩn bị 200 năm
thành lập, và nghịch cảnh này thật đau lòng. Theo nhận
xét của tờ Newsweek thì "tuy vẫn chưa tiêu tan những
niềm hi vọng cao cả và chủ nghĩa lý tưởng đầy ước
muốn mà từ khi nước Mỹ ra đời đã có, nhưng người
dân Mỹ bị dằn vặt vì nước này đã không thể thực
hiện âm mưu của họ ở Đông Dương"(1).
Ngay
sau chiến tranh Việt Nam, cả nước Mỹ đã mắc chứng lú
lẫn. Cuộc tranh cãi gay gắt về vấn đề ai đã để mất
Việt Nam trước đây mà Kissinger, John (?), Nixon vô cùng sợ
hãi thì nay họ chỉ còn nhớ là một số ý kiến trao đổi
gay gắt giữa Nhà Trắng và Quốc hội về trách nhiệm
đối với cuộc tháo chạy tháng 4-1975. Có lẽ vì cả hai
đảng đều đã dính sâu vào cuộc chiến tranh nên vấn
đề Việt Nam không còn là của riêng Đảng nào và vì
những ký ức đó quá đớn đau nên không ai muốn khơi
dậy chúng làm gì. Trái lại nhiều nhân vật nổi tiếng
đã kêu gọi kiềm chế. Mike Mansfield nói; "Lúc này
chẳng có lợi ích gì nếu ta cứ làm rối lên về những
giả thuyết lẽ ra cái này hay cái kia đã không xảy ra.
Cũng chẳng có ích gì nếu cứ ngồi mà chỉ trỏ"(2).
Vấn đề việt Nam gần như bị báo chí lãng quên. Trong
cuộc vận động bầu cử tổng thống năm 1976, cuộc
chiến tranh này ít được đề cập đến. Nhà báo nhận
xét vào cuối năm 1975: "Bây giờ dường như cuộc
chiến tranh này chưa từng xảy ra.
Dù
----------------------------------------
(1) Sự châm
biếm của lịch sử, Newsweek ngày 28-4-1975, tr.17.
(2)
Joseph Siracusa, Bài học Việt Nam và tương lai chính sách
đối ngoại của Mỹ, Australia Outlook, số 30, tháng 8-1976,
tr.236.
-----------------------------------------
sao người
Mỹ cũng đã gạt bỏ hình ảnh chiến tranh ra khỏi đầu
óc mình. Họ không nói chuyện về cuộc chiến tranh mà
cũng không nói về những hậu quả của nó"(1).
Nhưng
lòng căm thù và tan vỡ ảo mộng vẫn cứ âm ỉ bên
trong, gây ra phản ứng gay gắt trong gần ba thập kỷ của
các cuộc khủng hoảng ngoại giao và can thiệp có tầm
vóc toàn cầu của Mỹ. Thậm chí trước khi chiến tranh
kết thúc, những trải nghiệm đau thương ở Việt Nam với
sự cải thiện rõ rệt quan hệ giữa Liên Xô và Trung
Quốc và tình trạng ngày càng bận tâm với các vấn đề
nội bộ đã dẫn đến chỗ thay đổi hẳn các thứ tự
ưu tiên của quốc gia này. Từ cuối thập kỉ 40 và 60
của thế kỉ, chính sách đối ngoại vẫn luôn đứng đầu
danh sách quan tâm của quốc gia, nhưng vào giữa thập kỉ
70, đề tài này xếp hàng thấp hơn hẳn. Cuối năm 1975,
nhà phân tích dư luận Burns Roper nhận xét: "Công
chúng hầu như lãng quên những khó khăn đối ngoại và
các vấn đề ngoại giao"(2). Trải nghiệm ở Việt
Nam cũng khơi dậy sự phản đối mạnh mẽ chống can
thiệp quân sự ở nước ngoài, thậm chí để bảo vệ
những đồng minh lâu đời nhất và kiên trung nhất của
Mỹ. Cuộc bỏ phiếu thăm dò ngay trước khi Sài Gòn thất
thủ cho thấy chỉ có 36% dân Mỹ thấy việc Mỹ giữ cam
kết với các nước khác là cần
thiết
-------------------------------------------
(1)
Joseph C. Harsch, Bạn có muốn nhắc đến Việt Nam và thế
nào là các quân bài Đôminô?, Louisville Tạp chí Người
đưa thư, ngày 2-10-1975.
(2) Charles W. Yost, Tại sao người
Mỹ dường như vỡ mộng với chính sách ngoại giao?,
Louisville, tạp chí Người đưa thư, ngày
26-11-1975.
----------------------------------------------
và
chỉ có 34% tỏ ý muốn điều quân Mỹ đi chiến đấu
nếu như Liên Xô có ý đồ chiếm Tây Berlin. Đa số người
Mỹ chỉ tán thành can thiệp quân sự để bảo vệ
Canada. Nhà báo David Broder viết: "Chiến tranh Việt Nam
đã để lại dư vị khó chịu mà ta luôn luôn cảm thấy
ở mọi ý kiến đề cập đến hành động can thiệp quân
sự trực tiếp"(1).
Thuyết chu kỳ trong quan hệ
đối ngoại Mỹ dường như càng củng cố: Sau khi trải
qua thời kỳ dính líu toàn cầu đầy bão táp, Mỹ dường
như quay lại vai trò truyền thống hơn, tức là không có
hành động gì cả.
Những người Mỹ đã tham gia
cuộc chiến là nạn nhân chính của ý muốn lãng quên
này. Tuổi trung bình của họ trẻ hơn lớp người tham
gia chiến tranh thế giới lần thứ 2 là bảy tuổi, nhưng
đã trải qua một cuộc chiến tranh phức tạp và rối
loạn hơn nhiều. Những cựu chiến binh tham gia chiến
tranh ở Việt Nam đã được đưa về nước chỉ trong
chớp nhoáng nhờ sự thần kì của kỷ nguyên máy bay phản
lực, nhưng họ trở về trong lúc đất nước thù hận
chiến tranh hoặc thờ ơ với nỗi đau khổ mà họ phải
gánh chịu. Một số người bỗng cảm thấy mình có tội
trước hiện tượng sa đoạ về đạo đức của đất
nước, còn một số người khác thì cảm thấy mình có
trách nhiệm về sự chiến bại này: Phần lớn họ vấp
phải một sự yên lặng.
Buộc phải quay về với
nội tâm, nhiều cựu chiến binh rất mất tin tưởng vào
một chính phủ mà trước đó đã đưa
họ
-------------------------------------------------
(1)
David Broder, Quan điểm chủ nghĩa biệt lập không mù quáng
với thực tại, Bưu điện Washinglon, ngày
22-3-1975.
------------------------------------------------
vào
cuộc chiến và rất căm ghét thái độ của một nước
Mỹ thiếu tôn trọng những hi sinh của họ. Đại đa số
đã tự điều chỉnh cho thích nghi với hoàn cảnh mới mà
họ thường gặp nhiều khó khăn và cũng có nhiều cựu
chiến binh tìm đến ma tuý và rượu để lãng quên những
khó khăn vì thất nghiệp và gia đình chia lìa. Nhiều
người cũng phải chịu đựng những rối loạn căng thẳng
hậu chấn thương từ trận chiến, một thuật ngữ hiện
đại chỉ những gì trước đó đã trải qua nay được
hồi tưởng gây sốc hoặc những mệt mỏi do cuộc chiến.
Hình ảnh phổ biến về các cựu chiến binh trở về từ
Việt Nam trong những năm đầu sau chiến tranh là những
người nát rượu, mang súng và hay sử dụng bạo lực
không thể điều chỉnh theo xã hội văn minh. Khi mà nước
Mỹ vào năm 1982 đã chào đón quá mức những con tin trở
về từ một vụ bắt cóc tại Iran được đưa tin rộng
rãi, các cựu chiến binh của chiến tranh Việt Nam đã
trút cơn thịnh nộ dồn ép trong gần một nửa thập kỷ.
Chính họ đã xây dựng tại Washington một bức tường
tưởng niệm hơn 58.000 người lính chết trận tại Việt
Nam.
Trong một thời gian ngắn sau chiến tranh, chỗ
đứng của Việt Nam trong nhận thức của từng người
dân Mỹ đã thay đổi hẳn. Chứng lũ lẫn của những năm
ngay sau chiến tranh chỉ là một hiện tượng thoảng qua,
vào giữa thập kỉ 80, cuộc chiến tranh được bàn luận
đến ở mức độ và theo cách thức mà đã có thời
không thể có được. Đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng
về đề tài Việt Nam và phần lớn đó là thành quả của
các cựu chiến binh. Trong khi ...
... cuộc chiến tranh diễn ra,
kinh đô điện ảnh Hollywood dường như lãng quên nó,
nhưng sau chiến tranh nhiều nhà làm phim lại chộp lấy đề
tài này để làm nên nhiều bộ phim, từ phim "Thợ
săn hươu" đầy ám ảnh, phim "Ngày tận thế"
siêu thực và ngoạn mục, đến những phim không đáng giá
trong đó các nhân vật siêu anh hùng trở lại Việt Nam để
tiếp tục công việc còn dang dở. Không có vị lãnh tụ
nào trên màn ảnh nhỏ đáng mặt anh hùng nếu anh ta không
trở về từ cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Trong
thập kỉ 60 người cựu chiến binh trong chiến tranh Việt
Nam bị quy chụp là tội phạm chiến tranh, nhưng vào thập
kỉ 80 đã trở thành vị anh hùng của nền văn hoá đại
chúng, đó là hình ảnh một chiến binh kiên cường và tự
lập đã vươn lên mặc dù bị chính phủ và đất nước
bỏ mặc. Mỗi năm có 2 triệu người Mỹ đến thăm đài
tưởng niệm hình chữ V ở Washington, làm cho nơi này trở
thành điểm du lịch thu hút nhiều khách ở thủ đô. Sự
vớ vẩn đi kèm lần kỷ niệm 10 năm ngày sụp đổ của
chế độ Sài Gòn đã cho thấy Việt Nam để lại dấu ấn
sâu sắc nhường nào trong tinh thần của nước Mỹ.
Dù
người Mỹ muốn nói chuyện về Việt Nam hơn trước thì
họ vẫn còn chưa rõ hoặc chưa nhất trí về ý nghĩa của
việc làm đó, đặc biệt về ý nghĩa của cuộc chiến
tranh đối với chính sách đối ngoại của Mỹ. Sự thờ
ơ và xu hướng muốn rút lui thể hiện quá rõ ràng vào
năm 1975, nhưng sau đó 10 năm xu hướng này giảm đi hẳn.
Những ký ức cay đắng về Việt Nam cộng với tâm trạng
thất vọng của vụ khủng hoảng con tin ở Iran đã tạo
nên một tâm trạng ngày càng kiên quyết, một xung lực
mang bản sắc dân tộc cao muốn bảo vệ những lợi ích
mà người dân cảm nhận được, thậm chí có cả niềm
khao khát muốn đưa Mỹ trở lại địa vị cũ trên thế
giới. Thế hoà hoãn tan vỡ, sự gia tăng vững chắc trong
sức mạnh quân sự của Liên Xô, việc sử dụng sức
mạnh đó ở Apganistan tạo nên mối lo ngại rất lớn đối
với nền an ninh nước Mỹ.
Vào đầu những năm 80,
ngân sách quốc phòng tăng vọt tới mức kỷ lục với
mức chi viện cho hành động can thiệp quân sự để bảo
vệ các đồng minh truyền thống cao hẳn lên(1).
Tuy
nhiên, những ký ức dai dẳng về chiến tranh Việt Nam đã
làm dịu đi chủ nghĩa dân tộc mới. Nhiều người Mỹ
vẫn rất hoài nghi thứ chủ nghĩa toàn cầu kiểu thập
kỷ 60 và không tin vào các thiết chế của chủ nghĩa
quốc tế như ngoại viện hoặc Liên hiệp quốc. Mười
năm sau khi chiến tranh kết thúc, đa số áp đảo vẫn tin
rằng hành động can thiệp vào Việt Nam là sai lầm. Tâm
trạng hoài niệm về Việt Nam đã mang lại sự chống đối
mạnh mẽ chống can thiệp vào những cuộc khủng hoảng ở
thế giới thứ ba như Li Băng và Trung Mỹ. Do vậy, sau
thất bại Việt Nam, thái độ của công chúng Mỹ được
cấu thành bởi một sự hoà trộn kỳ lạ giữa lòng hoài
cổ và chủ nghĩa hiện thực, giữa tính kiên quyết và
thận trọng.
Giới lãnh đạo chóp bu trong việc
hoạch định chính
--------------------------------
(1)
Adam Clymer, Hiện nay Người Mỹ nghĩ gì, Thời báo New York
ngày 31-3-1985, tr.34.
---------------------------------
sách
đối ngoại của nước Mỹ cũng không còn dám chắc trong
những đánh giá về Việt Nam hơn quần chúng.
Thực
vậy, nhiều cuộc bỏ phiếu có hệ thống trong nhóm lãnh
đạo làm rõ ra rằng, Việt Nam chính là một "sự
kiện đánh dấu bước ngoặt" đã để lại những
mối chia rẽ sâu sắc và toàn diện. Người dân Mỹ nhận
thấy nếu muốn xây dựng một chính sách ngoại giao có
sức sống thì phải rút ra bài học từ chiến tranh Việt
Nam. Nhưng họ vẫn không nhất trí với nhau về những gì
mà họ phải rút ra bài học (1).
Vấn đề cơ bản
vẫn là tính đạo đức và khôn ngoan của hành động can
thiệp vào Việt Nam. Theo như những hành động thời hậu
chiến của Hà Nội, người Mỹ dường như ít muốn quy
kết sự can thiệp vào quốc gia này là một sự vô đạo
đức, một dấu hiệu quan trọng về sự thay đổi trong
tâm trạng của quốc gia này. Những người vẫn tiếp tục
cảm thấy hành động can thiệp này là một tranh cãi vô
bổ, rằng là không cần thiết hoặc không thực tế, còn
những người phái tự do vẫn cho rằng điều đó nếu
không thể hiện cho sự cam kết quá mức trong một vấn
đề lợi ích ngoại biên của quốc gia này, thì cũng là
một hành động đáng ngờ về đạo đức.
Quan điểm
của những người theo phái bảo thủ đã có tiếng nói
hơn trong những năm gần đây và có hai
loại.
-----------------------------------------------
(1)
Ole R. Holsti và James N.Rosenau, Vai trò lãnh đạo của Mỹ
trong vấn đề quốc tế: Việt Nam và sự đổ vỡ của
sự nhất trí, Winchester, năm
1984.
-----------------------------------------------
Một
số người, kể cả tổng thống Ronald Reagan, đã tìm thấy
trong những sự kiện hậu chiến tại Đông Dương lý do
để nói ra một lần nữa điều họ cảm thấy về một
thực tế cơ bản là, như Reagan đã liên tục tuyên bố,
Việt Nam "thực sự là một cuộc chiến huy hoàng",
một "sự cố gắng vì mọi người" của nước
Mỹ để cứu nguy cho một "quốc gia tự do" khỏi
nạn "ngoại xâm". Những người khác thì thừa
nhận rằng Mỹ có thể đã mắc phải sự dính líu ngày
một nhiều vào Việt Nam trong giai đoạn đầu, nhưng họ
tiếp tục cho rằng thời gian qua đi lợi ích quan trọng
đã được thiết lập, đó là đã bảo vệ được uy tín
của Mỹ trên toàn thế giới.
Vấn đề lớn thứ
hai mà người Mỹ rất bất đồng ý kiến là lý do Mỹ
thất bại ở Việt Nam. Nhiều nhà lãnh đạo từng tham
chiến đã kết luận thất bại của Mỹ chủ yếu là do
biện pháp, một kết quả của việc sử dụng không thỏa
đáng những công cụ mà họ có trong tay. Tướng
Westmoreland và nhiều người khác cho rằng sai lầm chính
là ở chính sách "leo thang dần từng bước" do
các nhà lãnh đạo dân sự đề ra và còn lập luận rằng
giá như Mỹ đã dùng sức mạnh quân sự nhanh chóng, quyết
định và không hạn chế thì đã có thể thắng trong cuộc
chiến tranh(1). Một số nhà phê bình khác lại coi sai lầm
cơ bản là sự lựa chọn phương tiện chứ không phải
là cách sử dụng chúng. Họ lập luận, thay vì rập khuôn
theo
cách
----------------------------------------------------------
(1)
William C. Westmoreland, Ghi chép người lính, Garden City, N.Y,
năm 1976,
tr.410.
------------------------------------------------------------
đánh
trong chiến tranh thế giới thứ 2 và Triều Tiên vào Việt
Nam, lẽ ra giới quân sự đã phải điều chỉnh cho phù
hợp với một cuộc chiến tranh không quy ước mà họ
dính vào và phải hình thành một chỉến lược chống
nổi dậy thích hợp để đối phó(1). Rồi còn có nhiều
người, kể cả các nhà lý luận quân sự nói rằng các
nhà lãnh đạo quân sự và dân sự cùng có trách nhiệm
như nhau đối với thất bại của cuộc chiến tranh. Còn
đại tá Harry G. Summers (con) lại lập luận rằng thay vì
tiến hành những cuộc hành quân "tìm và diệt"
phản tác dụng và tốn kém, Mỹ lẽ ra phải dùng lực
lượng của mình chống lại quân chính quy Bắc Việt Nam
dọc vĩ tuyến 17 để cô lập Bắc và Nam. Nhiều nhà lãnh
đạo quân sự chắc chắn đã khăng khăng đòi tuyên chiến
để bảo đảm rằng cuộc chiến tranh không được tiến
hành một cách tàn bạo và có thể duy trì sự ủng hộ
của dân(2).
Những bài học rút ra rất đa dạng do
các lập luận lý giải ngày một phong phú. Những người
cảm thấy Mỹ thua vì họ không hành động một cách
quyết liệt thì kết luận rằng nếu nước này lại dính
vào chiến tranh thì họ phải dùng sức mạnh quân sự để
thắng nhanh hơn trước khi sự ủng hộ của công chúng
giảm đi. Những người cảm thấy vấn dề cơ bản là ở
chỗ hình thành chứ không phải là thực hiện chiến lược
thì nhấn mạnh rằng các nhà
...
-----------------------------------------------
(1) Bình
luận của Robert Komer trong W.Scott Thompson và Donaldson
Frizzell, Bài học Việt Nam, New York, năm 1977, tr.223.
(2)
Hany G. Summers, Khía cạnh chiến lược: Chiến tranh Việt
Nam trong khuôn khổ, Carlisle Barracks, Pa, năm
1981.
-----------------------------------------------
lãnh đạo quân sự và dân sự
phải suy nghĩ theo tầm chiến lược họ phải xem xét cẩn
thận hơn nữa bản chất cuộc chiến tranh và đề ra một
cách chính xác hơn những biện pháp có thể sử dụng tốt
nhất sức mạnh của Mỹ để đạt tới những mục tiêu
đã xác định cụ thể.
Tất nhiên, những bài học
như vậy phụ thuộc vào các chuẩn mực và lòng tin của
những người nêu ra chúng, còn những người chống chiến
tranh thì lại có những kết luận hoàn toàn khác. Đối
với những nhân vật chủ hoà trước đây thì bài học
cơ bản là không bao giờ nên dính vào một cuộc chiến
tranh mặt đất ở châu Á. Một số người khác lại cho
rằng nên tránh can thiệp vào các điểm nóng quốc tế
trừ phi lợi ích sinh tử của quốc gia rõ ràng bị lâm
nguy. Một số nhà bình luận cảnh báo những nhà hoạch
định chính sách cần phải cảnh giác với những kiểu
lý giải giản đơn từng tạo nên thuyết Đôminô và phép
loại suy như trường hợp Munich. Một số người khác nêu
lên những yếu kém của Việt Nam Cộng hoà và khuyên
rằng: "Ngay cả một cường quốc cũng không thể cứu
được các đồng minh nếu họ không thể và không muốn
tự cứu mình"(1). Đối với những hạn chế rõ rệt
và để có hiệu lực thì chính sách đối ngoại của Mỹ
phải trung thành với những lý tưởng lịch sử của dân
tộc.
Bóng ma Việt Nam ám ảnh một cuộc tranh cãi
ngày càng gây chia rẽ về một phản ứng thỏa đáng của
Mỹ với các cuộc cách mạng ở Trung Mỹ. Ngay sau khi lên
cầm
-----------------------------------------
(1)
Louisville, Tạp chí người đưa tin, ngày
28-4-1985.
------------------------------------------
quyền,
năm 1981, tổng thống Reagan đã ném uy tín của nước Mỹ
vào việc bảo vệ chính phủ El Salvador chống lại một
cuộc nổi dậy do phái tả lãnh đạo, với hy vọng phần
nào thắng lợi ở đó có thể xua đi cái gọi là hội
chứng Việt Nam - tức là thái độ thờ ơ của dân Mỹ
không muốn gánh vác trách nhiệm ở các nước thuộc thế
giới thứ ba. Khi thấy không giành được một thắng lợi
nhanh chóng, chính quyền Mỹ đã tăng cường viện trợ
cho El Salvador, xây dựng nên một căn cứ quân sự lớn ở
Honduras và tiến hành lộ liễu một cuộc chiến tranh để
lật đổ chính phủ Sandinista ở Nicaragua. Chính quyền
Reagan nhấn mạnh rằng, Mỹ phải ủng hộ các lực lượng
phi cộng sản để tránh một cuộc đổ máu và thống khổ
đã diễn ra sau chiến tranh Việt Nam. Đồng thời, giới
quân sự và Bộ quốc phòng đã nêu rõ họ sẽ không tham
gia chiến tranh trong những điều kiện giống như Việt
Nam.
Mặt khác, các nhà phê bình theo phái "bồ
câu" đã khuyến cáo hành động can thiệp của Mỹ
vào Trung Mỹ sẽ dẫn nước này đến một vũng lầy
tương tự như ở Việt Nam(1).
Cuộc tranh luận về
việc Mỹ dính líu vào Việt Nam để lại nhiều câu hỏi
chưa giải đáp được. Phải chăng nếu dùng sức mạnh
quân sự một cách quyết liệt hơn thì có thể đưa chiến
tranh đến một kết cục thỏa mãn? Đây
vẫn
---------------------------------------------
(1)
George C.Herring, Việt Nam, El Salvador và tiền lệ lịch sử
trong Kenneth M.Coleman và George C.Herring, Sự khủng hoảng
Trung Mỹ, Wilmington, Del, năm 1985,
tr.97-110.
---------------------------------------------
là
một câu hỏi đáng ngờ. Cũng không bao giờ có thể biết
được rằng nếu thực hiện sớm một chương trình chống
nổi dậy mạnh hơn và giàu tưởng tượng hơn thì liệu
có thể giành được quyền kiểm soát nông thôn từ tay
Việt cộng hay không và cũng chưa rõ liệu Mỹ có khả
năng triển khai một chương trình như vậy ở một nơi xa
lạ hay không? Theo như ý kiến của phái tự do, có vẻ
như Mỹ đã phóng đại tầm quan trọng của Việt Nam.
Nhưng lập luận của họ làm nảy sinh câu hỏi: Làm sao
có thể sớm xác định tầm quan trọng của một khu vực
nhất định và quan trọng hơn là làm sao có thể đánh
giá sớm được những cái giá cuối cùng của hành động
can thiệp.
Nhiều bài học rút ra cho rằng vẫn cần
và vẫn có khả năng thực hiện chính sách kiềm chế, ít
nhất là dưới dạng điều chỉnh nào đó, và do đó né
tránh hoặc lờ đi toàn bộ những câu hỏi quan trọng nảy
sinh từ cuộc chiến. Mỹ đã can thiệp vào Việt Nam để
chặn cuộc hành tiến của chủ nghĩa cộng sản do Liên
Xô "chỉ đạo" trên toàn khu vực châu Á, mở
rộng cam kết của mình để chặn đứng một nước Trung
Hoa cộng sản có thể theo chủ nghĩa bành trướng và cuối
cùng biến Việt Nam thành nơi thử nghiệm quyết tâm của
Mỹ giữ vững trật tự thế giới. Do sai lầm quy chụp
cuộc xung đột Việt Nam là do nguồn gốc bên ngoài, Mỹ
đã đánh giá quá sai về những động lực nội tại của
mình. Bằng việc can thiệp vào vấn đề mà về cơ bản
là một cuộc xung đột cục bộ nên nước Mỹ đã đẩy
mình vào thế chịu sự chi phối của các lực lượng địa
phương, một khách hàng yếu kém và một đối thủ đầy
quyết tâm. Mỹ đã nâng một cuộc đấu tranh đáng
ra vẫn ở quy mô cục bộ lên thành một xung đột quốc
tế lớn. Do nâng những mối rủi ro lên thành một cuộc
thử thách uy tín của mình nên nước Mỹ đã thu hẹp
những sự lựa chọn của họ tới mức nguy hiểm. Một
chính sách đã khiếm khuyết ngay từ cách đặt vấn đề
thì không thể không thất bại và trong trường hợp như
vậy thì kết quả thật tai hại.
Qua cuộc chiến
tranh Việt Nam, chúng ta thấy rõ chính sách kiềm chế toàn
cầu vốn tự nó không thể phát huy được hiệu lực.
Trong những năm 40, thế giới có vẻ đầy rẫy nguy hiểm
nhưng vẫn kiểm soát được. Mỹ đã có được một vị
thế chưa từng có về sức mạnh cũng như mức độ gây
ảnh hưởng, đã sớm đạt được những thành công lớn
ngay từ những giai đoạn đầu tiên ở châu Âu. Nhưng sức
mạnh của Mỹ có được chủ yếu do sự yếu kém của
các nước khác chứ không phải là bắt nguồn từ sức
mạnh nội tại thực sự, cuộc chiến tranh Việt Nam đã
làm sáng tỏ rằng dù Mỹ có mạnh đến đâu thì sức
mạnh đó cũng có hạn chế. Việc Liên Xô và Trung Quốc
đã phát triển được những khả năng quân sự to lớn
càng làm tăng rủi ro cho Mỹ nếu họ chi viện quân sự ở
Việt Nam trên quy mô cần thiết để đạt những kết quả
mong muốn. Những điều kiện thực tế ở Việt Nam và
những hạn chế do dư luận công chúng tạo nên đã khiến
cho Mỹ không thể hoàn thành những mục tiêu này nếu chỉ
dùng những biện pháp hạn chế. Chiến tranh Việt Nam có
thể đã thể hiện rõ là Mỹ không thể giữ vững quan
điểm của mình về trật tự thế giới khi vấp phải
một đối thủ cứng đầu và quyết tâm mặc
dù họ yếu hơn. Cuộc chiến tranh không làm suy giảm sức
mạnh của Mỹ như ý kiến đề xuất của một số người,
nhưng cuộc chiến tranh đó lại báo hiệu nhiều hạn chế
trong sức mạnh quốc gia của quốc gia này ở một thời
đại có xu thế đa dạng hoá trên trường quốc tế và
có vũ khí hạt nhân.
Do đó, nếu cho rằng Mỹ có
thể dễ dàng hồi tỉnh sau cơn ác mộng Việt Nam và lấy
lại vai trò ngày xưa của mình trong một thế giới đang
thay đổi nhanh chóng thì chẳng khác nào mở đường cho
một thảm hoạ lớn hơn.
Thế giới của thập kỷ
80 thậm chí nguy hiểm hơn và khó kiểm soát hơn thế giới
của những năm 40 và 50. Việc phổ biến vũ khí hạt nhân
và sự xuất hiện một số lớn quốc gia mới, sự tồn
tại nhiều cuộc xung đột khu vực và nội bộ đầy sai
lệch đã kết hợp lại, tạo ra một thế giới hỗn loạn
hơn và mất trật tự hơn bất kỳ lúc nào trong thời
gian trước đó. Quan hệ tam giác đầy mập mờ giữa Mỹ,
Liên Xô và Trung Quốc còn có tác động gây mất ổn định
hơn nữa đồng thời tạo nên tâm trạng vô cùng bất an
cũng như tạo cho các nước yếu kém có cơ hội và nhiều
khả năng hành động. Nếu Mỹ điều chỉnh thành công
cho thích ứng với những điều kiện mới thì cần phải
bỏ những quan điểm cũ, nhất là phải từ bỏ thái độ
dao động truyền thống giữa hai thái cực, một là lao
vào cuộc thập tự chinh để cải tạo thế giới, hai là
rút lui khỏi thế giới trong tâm trạng giận dữ. Việc
chấm dứt một cách logic hội chứng "không bao gìờ
lặp lại" và quay lưng lại một "thế giới thù
địch và vô ơn" có thể là điều tai hại. Nhưng
nếu coi việt Nam như một sự lầm lỗi và một kinh
nghiệm độc đáo mà từ đó không rút ra được bài học
gì thì càng dễ dẫn đến thất bại lớn hơn. Để thích
nghi với thời đại mới, Mỹ phải nhận rõ chỗ yếu
của mình, chấp nhận những hạn chế trong sức mạnh của
mình và tự điều chỉnh mình cho thích nghi với nhiều
hoàn cảnh không mong muốn. Người Mỹ phải hiểu rằng
họ sẽ không thể định đoạt những giải pháp cho các
vấn đề thế giới hoặc đạt tất cả các mục tiêu
mong muốn. Dù muốn hay không, cuộc chiến tranh Việt Nam
đã kết thúc một kỷ nguyên trong lịch sử thế giới và
trong đường lối ngoại giao của Mỹ, một kỷ nguyên
được đánh dấu bằng những thành quả đầy tính xây
dựng nhưng cũng bị ô nhục vì một thất bại cuối
cùng, dù đó không phải là thất bại không thể cứu
chữa.
HẾT